Thư viện

Chuyện 1 liệt sĩ Thành cổ từng được chụp ảnh với Bác

– Quay sang Lâm, Bác nói: “Vì hành động dũng cảm của cháu, Bác đã tặng cháu huy hiệu. Chúc cháu luôn học giỏi, tiến bộ và bơi giỏi hơn nữa! Bây giờ, Bác thưởng cho cháu được ngồi với Bác trên hàng ghế chủ tịch đoàn”. Câu chuyện về liệt sĩ Thành cổ từng được chụp ảnh với Bác, được kể lại 37 năm sau ngày mất của anh.

… Học kì  2 năm học 1964- 1965, do giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc mà Lâm cùng 2 em được theo trại nội trú của Bộ Công an sơ tán về Thuận Thành, Hà Bắc (bố Lâm là Cục trưởng Cục Cảnh vệ nên con được sơ tán theo trại). Vùng quê nghèo ven bờ sông Đuống năm học này ríu rít tiếng học trò Hà Nội về.

Chiều  ấy, Lâm theo chúng bạn ra sông tắm. Vừa tới bờ sông thì thấy một bạn gái đang chới với dưới nước. Cô giáo từ trên bờ vội nhảy xuống cứu. Nhưng cả 2 cô, trò không biết bơi. Cố vùng vẫy rồi chìm dần, chìm dần.

Anh Nguyễn Lâm khi đó được ngồi ghế đoàn Chủ tịch với Bác Hồ. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp.Anh Nguyễn Lâm khi đó được ngồi ghế đoàn Chủ tịch với Bác Hồ. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp.

Theo phản xạ, Lâm lao như mũi tên xuống dòng. Nhớ anh trai dặn khi cứu người chết đuối phải vòng ra phía sau lưng, túm lấy tóc hoặc ôm lấy cổ rồi bơi ngửa, dìu họ vào bờ. (Người bị nạn cuống quýt mà ôm chặt lấy mình thì chết cả). Như con rái cá, Lâm lặn sâu rồi quàng tay vào cổ bạn, bơi ngửa, dìu vào bờ. Sau đó quay ra đón cô. Chuyện chỉ đơn giản có vậy.

Biết tin có cháu nhỏ dũng cảm cứu bạn, Bác Hồ gửi huy hiệu tặng Lâm, biểu dương “người tốt, việc tốt”.

Tháng 8/1965, tổ chức Đoàn các cơ quan Trung ương tổ chức “Đại hội “3 sẵn sàng” chống Mỹ cứu nước”. Các tấm gương lao động, chiến đấu điển hình được mời về dự. Trong đại hội, hầu hết đại biểu là thanh niên, riêng thấy có 2 gương mặt thiếu niên – Nguyễn Lâm cùng Lưu Kim Oanh (diễn viên nhí của Đoàn Xiếc TW).

Bác Hồ  đã đến dự. Từ trên Chủ tịch đoàn, thấy có cháu bé ngồi hàng ghế đại biểu, Bác hỏi: “Cháu bé có thành tích gì mà được mời dự?”. “Dạ, đó là cháu Nguyễn Lâm có thành tích dũng cảm cứu bạn đấy ạ!”, chú thư kí trả lời.  “Vậy mời cháu lên đây!”.

Nguyễn Lâm  được các chú gọi lên, đứng trước mặt Bác. Xoa đầu Lâm, Bác âu yếm hỏi:

 –   Cháu tên là gì?

–   Dạ, Nguyễn Lâm ạ!

–   Thế cháu bao nhiêu tuổi?

–   Dạ, 12 ạ!

–   Cháu con ai?

–   Dạ, con bố Hoàng Hữu Kháng ạ!

–   A, thế ra cháu là con bố Kháng trong tổ bảo vệ cho Bác thời kì kháng chiến chống Pháp? Nghe các chú báo cáo, cháu dũng cảm, lao xuống sông cứu bạn. Thế cháu học bơi ở đâu?

–   Dạ, khi chưa đi sơ tán, cháu hay được theo bố vào CLB Ba Đình. Tại đây có bể bơi nên bố cháu và anh Sơn dạy cho biết bơi.

   –   Cháu biết bơi gì?

–   Cả bơi ếch, bơi sải ạ.

–   Các cô các chú có thấy không – Bác quay sang bên – cháu Lâm nhỏ tuổi mà đã có hành động dũng cảm. Qua đây chúng ta rút ra bài học: không chỉ dạy cho các cháu học văn hóa giỏi mà còn phải dạy cả thể thao, bơi lội, phải xây dựng cho các cháu tình yêu thương con người và lòng dũng cảm, dám hy sinh bản thân cứu người. Cháu Lâm là tấm gương sáng cho thanh, thiếu niên ta học tập…

Quay sang Lâm, Bác nói: “Vì hành động dũng cảm của cháu, Bác  đã tặng cháu huy hiệu. Chúc cháu luôn học giỏi, tiến bộ và bơi giỏi hơn nữa! Bây giờ Bác thưởng cho cháu được ngồi với Bác trên hàng ghế chủ tịch đoàn”.

Tháng 10 năm ấy, Lâm nhập trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, đóng quân ở An Mỹ, Đại Từ, Thái Nguyên. Và chuyện này Lâm chưa kể với ai. Phải 37 năm sau ngày bạn hy sinh, chúng tôi mới biết. Xin cảm ơn gia đình đã cung cấp bức ảnh tư liệu vô giá cùng câu chuyện cảm động này! Xin ghi lại như 1 nén tâm nhang tưởng nhớ đến Nguyễn Lâm – LS Thành cổ!

  • Trần Kiến Quốc

bee.net.vn

Về bên Bác

Đại tá Trần Ngọc Bích (người đứng giữa hàng thứ nhất) hội ngộ cùng các cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916

Đã công tác ở Ban Đón tiếp nhiều năm, đã chứng kiến không ít những câu chuyện cảm động về tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với Bác kính yêu, nhưng cuộc hội ngộ của ba người phi công già, ở tuổi thất thập cổ lai hy, đã từng lái trực thăng chuyên cơ phục vụ Bác Hồ giữa Quảng trường Ba Đình ngày 17/3/2012 đã thực sự gây xúc động cho những người phục vụ tại Lăng Bác ngày hôm đó, trong đó có tôi.

Trong đoàn người vào xem phim, nghe giới thiệu tại Khu tập kết số 8 Hùng Vương của Đoàn Cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916 hôm ấy có ba người phi công già cứ đứng lặng ôm nhau hồi lâu. Đó là Đại tá Trần Ngọc Bích – người lái trực thăng chuyên cơ của Bác Hồ, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 916; ông Hoàng Cần, nguyên Trưởng phòng Dẫn đường Quân chủng Phòng không – Không quân, người dẫn đường trong đội chuyên cơ của Bác Hồ; Anh hùng lực lượng vũ trang, Đại tá Nguyễn Đình Khoa, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 916, ông cũng là học trò của thầy giáo Trần Ngọc Bích. Họ có một điểm chung là cùng được phục vụ Bác Hồ lúc sinh thời. Gặp nhau tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người trong số họ đều nhớ lại những kỷ niệm riêng của mình đối với vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại tá Trần Ngọc Bích đã có hơn 32 năm với số lượng giờ bay kỉ lục là hơn 8.000 giờ ngồi sau cần lái trực thăng. Ông được đồng đội gọi với cái tên trìu mến “Anh cả của làng trực thăng Việt Nam”. Hạnh phúc nhất của đời ông là khoảng thời gian đặc biệt 9 năm thực hiện các chuyến bay phục vụ Bác Hồ. Năm 1958, Liên Xô tặng Việt Nam một chiếc máy bay Mi-4 và cử ba chuyên gia phụ trách. Năm 1960, tổ lái của Trần Ngọc Bích, Hoàng Trọng Khai đã tiếp nhận nhiệm vụ thay chuyên gia nước bạn, đảm nhận việc chuyên chở lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các chuyến công vụ ngoại giao trong nước.

Khi tôi hỏi về những kỷ niệm trong 9 năm (1960-1969) được chở Bác Hồ đi công tác, Đại tá Trần Ngọc Bích đang sôi nổi trở nên sâu lắng: Học Cụ Hồ khó lắm. Vì cụ quá giản dị trong cương vị của một bậc lãnh tụ. Trí tuệ cụ cao siêu, tài giỏi, song lại gần gũi, chân tình như một người thân của mỗi người. Tôi đã rất cố gắng, song chỉ học được ở Cụ vài phần. Hình ảnh Bác Hồ luôn nằm trong sâu thẳm trái tim những người lính bay.

Đại tá Trần Ngọc Bích nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác. Người ân cần hỏi thăm quê quán, hoàn cảnh gia đình và dặn dò cố gắng công tác cho tốt. Một số lần, thường là vào sáng Chủ Nhật, tốp bay của ông Trần Ngọc Bích nhận nhiệm vụ chở Bác Hồ đến khu vực Đá Chông thuộc huyện Ba Vì, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội), được đặt biệt danh là K9 làm việc. Ông kể: Bác thường ăn cơm với mọi người. Bác ăn chậm rãi, rất ít và Bác thường ăn xong trước. Đồng chí Vũ Kỳ nháy mắt: Nào anh em, ta “chiến đấu tiếp”. Có lần ông Trần Ngọc Bích nói vui với đồng chí Vũ Kỳ: Cho phi công ăn riêng, chứ ăn với Bác, hôm nào cũng ngồi lại sau, xấu hổ lắm, ăn không no. Tưởng nói cho vui, ai ngờ trong bữa ăn, đồng chí Vũ Kỳ thưa lại với Bác, Trần Ngọc Bích “chết đứng như Từ Hải”. Bác cười: “Đúng rồi. Các cháu phi công phải ăn cho no mới có sức khoẻ để làm việc”. Rồi Người bảo mang thêm một đĩa cơm to đến cho anh em.

Ngoài nhiều lần được ăn cơm cùng Bác khi đi công tác, trong thời gian phục vụ Bác, ông Trần Ngọc Bích cùng tổ bay được Bác mời đến nơi ở và làm việc của Người ở Hà Nội dùng cơm hai lần. Một lần, Bác mời riêng tổ bay của Trần Ngọc Bích và một lần khác, trong buổi chia tay ba chuyên gia Liên Xô hoàn thành nhiệm vụ trở về nước. Sau bữa cơm, ông Trần Ngọc Bích và tốp bay được Bác mời xem bộ phim tài liệu “Đoàn cán bộ miền Nam ra thăm miền Bắc”.

Phi công Trần Ngọc Bích còn nhớ mãi chuyến bay vào tháng 3 năm 1969, nhận nhiệm vụ chở Bác từ sân bay Nội Bài về Bạch Mai. Ông có ngờ đâu đó là chuyến bay cuối cùng được phục vụ Bác Hồ. Trong nhà, Đại tá Trần Ngọc Bích dành một nơi trang trọng nhất để thờ Bác Hồ. Phía dưới chân dung Bác là một bức ảnh đặc biệt do đồng đội tặng: 5 chiếc máy bay trực thăng Mi-8 mang theo cờ Tổ quốc diễu hành trên Lăng Bác. Trần Ngọc Bích là một trong 5 phi công lái chính của tốp bay đặc biệt đó.

Đoàn Cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916 vào Lăng viếng Bác

Cùng hội tụ về bên Bác hôm nay, các cựu chiến binh anh dũng năm xưa đều không nén nổi xúc động khi được gắn Huy hiệu của Người, phần thưởng dành riêng cho các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động. Thay mặt đoàn, Đại tá Trần Ngọc Bích đã viết trong sổ cảm tưởng của Lăng: Hôm nay, chúng cháu là phi công của Trung đoàn Không quân 916 được về viếng Bác. Trước đây chúng cháu được phục vụ Bác lúc sinh thời, chúng cháu vô cùng tự hào. Nay trở về viếng Bác chúng cháu vô cùng cảm kích, vô cùng xúc động. Chúng cháu xin hứa với Bác sẽ tiếp tục phát huy truyền thống người chiến sỹ không quân và các thế hệ phi công nguyện suốt đời phục vụ Đảng, Nhà nước, rèn luyện học tập theo tấm gương của Người. Chúng cháu sẽ làm mọi nhiệm vụ cho Tổ quốc Việt Nam./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Người đúc tượng Bác Hồ nhiều nhất Việt Nam

(Dân trí) – Dân trong làng Ngũ Xã, Ba Đình (Hà Nội), nói nhiều đến ông Nguyễn Văn Ứng vì cái tài đúc tượng danh nhân bằng đồng, đặc biệt là tượng Bác Hồ. Ông đã táo bạo giữ lửa cho làng nghề ấy bằng cách thế chấp nhà để lấy tiền đầu tư vào việc đúc các sản phẩm bằng đồng.

Vực dậy một làng nghề

Nghề đúc đồng làng Ngũ Xã đã có từ hơn bốn trăm năm về trước (ngày 1/11 âm lịch hàng năm là ngày giỗ tổ của làng). Ông tổ nghề đúc đồng là Quốc sư Nguyễn Minh Không, do tài cao đức trọng, giỏi về đúc đồng và tinh thông nghề thuốc để cứu dân độ thế nên đã được vua Lý Thái Tổ phong là Lý Triều Quốc Sư.

Thời gian qua đi cùng với bao thăng trầm biến cố, làng Ngũ Xã đã ít dần đi những người đúc đồng. Ngày nay, chỉ còn lại vài hộ giữ nghề bằng cách đúc những đồ thờ cúng như tượng phật, chuông, lư hương, đỉnh, nến, lọ… sự mai một ấy như một tổn thất lớn của làng những năm gần đây. Ông Ứng lớn lên đã nghe ông bà cha mẹ kể về nghề. Thời gian qua đi cùng với bao binh biến loạn lạc nhưng cái nghề ấy đã thấm vào ông lúc nào không hay và ông chỉ biết đón nhận nó như một cơ duyên vậy.

Còn nhớ năm 1968 khi trận Mậu Thân đang diễn ra ác liệt, những lúc tạm ngưng tiếng súng, anh bộ đội Nguyễn Văn Ứng lại nhớ về Hà Nội, nhớ về cái nghề đúc đồng truyền thống của làng mình. Anh mang chuyện ấy kể cho các bạn cùng nghe một cách rành rọt, có đồng đội thấy thú vị liền nói vui rằng bao giờ đất nước thống nhất cho mình về Hà Nội học nghề này nhé. Sau khi rời quân ngũ ông trở về làng với mong muốn bằng chính đôi tay của mình sẽ tạo ra những sản phẩm có giá trị đích thực.

Ông vào nghề với hai bàn tay trắng, khó khăn cứ thế nối tiếp nhau, ông phải quay sang đúc nhôm để lấy vài chục ngàn nuôi gia đình sống qua ngày. Mặt bằng nhà xưởng chỉ có 40m2. Nhưng rồi trong cái khó ló cái khôn, ông đã tính chuyện “giật gấu vá vai” bằng cách nhận những hợp đồng nhỏ như đúc lư hương, tiền đồng, đỉnh đồng, tượng Phật cỡ nhỏ… lấy tiền trang trải trước mắt, bên cạnh đó ông có thời gian đào tạo đội ngũ thợ trở thành những đôi tay tài hoa sau này. Đó là công tác chuẩn bị cho một kế hoạch lâu dài.

Ông mạnh dạn tham gia các triển lãm, hội thảo… để giới thiệu các tác phẩm của mình. Minh chứng cho thành công đó là việc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tặng giải thưởng “kỹ năng thủ công tinh xảo” với tác phẩm lọ củ tỏi đúc đồng khảm tam khí do cơ sở đúc đồng Hoa Mai của ông làm. Như được tiếp thêm sức mạnh, lần lượt những tác phẩm quy mô ra đời tại xưởng của ông. Số tiền vay được do thế chấp nhà, ông đầu tư thêm vào việc thuê 1000m2 đất ở Yên Phụ, Tây Hồ, đầu tư máy mài, máy tiện, xây lò nung, mua vật liệu… và bắt đầu nhận những hợp đồng lớn với trị giá hàng trăm triệu đồng.

Cái thần, cái hồn ở mỗi chi tiết

Ông lẳng lặng bước về phía những người thợ đang hoàn thiện những pho tượng Bác Hồ với vẻ mặt không hài lòng khi thấy thợ hơi mạnh tay ở chi tiết chòm râu. Đối với những bức tượng danh nhân mà đặc biệt là tượng Bác Hồ thì không được cẩu thả, phân tán tư tưởng. Cần phải tập trung cao độ, sao cho phải toát lên vẻ uy nghi, phong thái mà lại gần gũi từ chòm râu, ánh mắt. Mẫu mang đến mà xấu thì ông không làm dẫu công có cao đến mấy. Cẩu thả, ẩu là mang tiếng cả đời.

Nghề này làm hết đời cũng không thấy mình giỏi, có thợ theo nhà ông làm nghề gần 20 năm vậy mà cũng đành giải nghệ. Còn Long, người con nuôi của ông thì từng nghiện ma tuý, đến với ông đã cai nghiện thành công, giờ đây Long trở thành thợ giỏi.

Khi nhận được yêu cầu đúc tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh cao 1,7m lần đầu tiên dát vàng để Đảng bộ và nhân dân Thủ đô kính dâng lên kỳ đại hội Đảng ông vừa thấy vinh dự vừa lo lắng nhiều, đêm nhưng cuối cùng đã hoàn thành tốt đẹp. Năm 2003, tiếp tục hoàn thành và kính dâng tượng Bác tại Khu di tích lịch sử Ba Đình. Năm 2004, Ban Giám đốc khu di tích tiếp tục đặt hàng 200 pho tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh để kính biếu các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các vị khách quốc tế nhân dịp 35 năm ngày Bác đi xa… Ông không nhớ nổi mình đã đúc bao nhiêu tượng Bác Hồ nữa, chỉ biết rằng nhiều lắm nhưng lần nào đúc ông cũng thấy niềm vinh dự và cứ hồi hộp như mình đúc pho tượng đầu tiên.

Cơ sở của ông vừa hoàn thiện 2 đơn hàng của chùa Đông và chùa Phố tỉnh Hưng Yên, tác phẩm tượng Phật có khối lượng 2 tấn với giá 300 triệu đồng. Trong năm nay, ông đã mang hai quả chuông nặng 30kg/quả sang Australia để trưng bày, mọi người kể cả người Việt định cư tại đây cũng lấy làm thích thú gửi thư về khen ông và mong muốn được mua những chiếc chuông đó làm quà tặng cho các nhà chùa. “Tôi mong sản phẩm của mình ra nước ngoài, sẽ tạo đà cho làng nghề vươn vai sau kỳ nghỉ dài” – Đó là mong muốn của ông.

Tiến tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội đã cấp cho gia đình ông 82,4m2 đất để xây dựng phòng trưng bày các sản phẩm làng nghề. Dự kiến đầu xuân này sẽ trưng bày những sản phẩm làng nghề để giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước. Tiền thế chấp nhà ông chủ yếu dồn vào việc xây dựng phòng trưng bày. Khó khăn cũng đã qua, 15 thợ luôn có việc làm ổn định với mức lương từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng một tháng, tay nghề họ ngày càng vững chắc.

Nguyễn Đông Hà
dantri.com.vn

Mong ước cuối đời của người được Bác Hồ đặt tên

(Dân trí) – 25 tuổi, ông rời xứ Nghệ hành quân ra Tây Bắc. May mắn là, trong khoảng thời gian bám núi, bám rừng Việt Bắc ông đã được gần gũi với Bác Hồ. Cuộc đời ông thay đổi từ đó với cái tên mới do chính Cụ Hồ đặt – chú Kiệm. Bây giờ, ở cái tuổi xấp xỉ 90, ông chỉ có một ước vọng trước lúc nhắm mắt: được ra thăm Lăng Bác!

Cậu bé mồ côi ra Tây Bắc gặp Bác

Tên thật của ông là Lê Nhạ, sinh năm 1920 tại làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. 12 tuổi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Gánh nặng đặt trên vai cậu bé Nhạ là mấy đứa em thơ dại. Thế rồi anh em rau cháo nuôi nhau, khi không đủ sức, có đứa được cho đi làm con nuôi của người khác.

Cha Nhạ vốn là thợ mộc, trước lúc mất đã kịp truyền cho cậu nghề cầm cưa đục. Nhạ rất khéo tay trong việc nối nghiệp cha theo nghề. Dẫu vậy, cuộc sống đói khổ vẫn đeo đẳng anh em Nhạ suốt nhiều năm trời. 20 tuổi, Nhạ kết hôn với một cô gái cùng làng. Cưới nhau mãi nhưng đôi vợ chồng trẻ vẫn chưa có con. Mãi tới năm 1947, họ mới sinh được đứa con đầu lòng.

Những năm đó, gia đình Nhạ cùng chung cảnh ngộ của người nông dân cả nước, nghèo đói, xác xơ. Giữa lúc ấy, thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nuớc ta. Một buổi trưa năm 1949, ông bất ngờ nhận được lệnh lên đường ra Bắc. Nhiệm vụ của ông là lên Tây Bắc lập lán trại, nhà ở tạm cho cán bộ cách mạng.

Sáng sớm hôm sau tiễn biệt vợ và đứa con nhỏ không hẹn ngày về, hành lý mang theo là đôi dép cao su và mấy bộ quần áo cũ. Từ Hà Tĩnh ra đến căn cứ kháng chiến Tây Bắc mất ròng rã hơn một tháng trời đi bộ. Cơm không có ăn, áo không đủ mặc, đến đâu mỏi là nhà. Chặng đường hành quân gian nan là thế nhưng ông và anh em trong đoàn cùng ra Tây Bắc đều bấm chí quyết tâm vì thắng lợi của cách mạng.

Cuối cùng thì đoàn bộ đội hành quân từ Miền Trung cũng lên đến Tây Bắc. Một cuộc sống hoàn toàn khác biệt, anh em phải vào tận rừng sâu dựng trại để tránh bọn Pháp truy quét. Vốn là người giỏi nghề mộc ông Nhạ được đưa ngay vào kiến thiết, lập trại cho chiến khu kháng chiến.

“87 tuổi, tui không nhớ rõ nữa, chỉ biết ra ngoài nớ bám núi bám rừng được một thời gian thì có anh Chiến sang lấy người (ông Tạ Quang Chiến – Nguyên Bí thư Trung ương đoàn, Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục thể dục thể thao – PV) về kiếm gỗ lập nhà. Khi đó có tui và 3 người khác nữa. Ấn tượng đầu tiên khi tui gặp Cụ Hồ là người Cụ gầy, giọng nói ấm áp. Cụ từ trong nhà bước ra, bắt tay từng người một rồi trò chuyện với anh em. Trong cuộc gặp ấy, Cụ đã đặt tên cho chúng tôi là Cần, Kiệm, Liêm, Chính… một trong những khẩu hiệu của Bác đề ra trong kháng cuộc chiến chống Pháp. Tôi được mang tên chú Kiệm từ đấy” – ông Nhạ bồi hồi nhớ lại.

Với nhiệm vụ lập trại, sửa nhà, ông Nhạ đã có quãng thời gian gần 3 năm sống bên Bác Hồ. Ông được gặp Bác, được Bác dạy bảo thường xuyên cho đến ngày Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi.

Sau thắng lợi lịch sử ấy, số anh em được Bác Hồ đặt tên đi làm nhiệm vụ mới. Họ mất liên lạc với nhau. Chiến sỹ cách mạng Lê Nhạ – Chú Kiệm được chuyển về công tác trong một nhà máy sản xuất tổng hợp ở giữa thủ đô Hà Nội. Ở đấy, ngoài công việc của nhà máy, ông vẫn tiếp tục nghiệp mộc của mình khi tham gia thi công nhiều ngôi nhà phục vụ cho cách mạng. Sau đấy, ông chuyển về công tác tại Công ty xây dựng Hà Tĩnh.

Chiến tranh lại tiếp tục buộc những người công nhân như ông lên tận Phú Thọ, Cao Bằng vừa tránh bom đạn của đế quốc Mỹ, vừa bảo đảm nhiệm vụ của đơn vị. Năm 1975, đất nước thống nhất cũng là thời gian ông nghỉ hưu trở về quê hương. Ông sinh được 4 người con, sống một cuộc sống đầy khó khăn ở làng Đức Trung, huyện Đức Thọ suốt nhiều năm nay.

Bức thư bất ngờ và ước vọng cuối cùng của “chú Kiệm”

Ngày 19/8/2006, mưa như trút nước, từ quê nhà ở Đức Trung (Đức Thọ), chú Kiệm nhận được một lá thư của một đồng chí, đồng đội mà hơn 60 năm trước họ cùng có những giây phút khó quên trên núi rừng Việt Bắc – ông Tạ Quang Chiến, người đã trực tiếp đưa anh thanh niên Lê Nhạ vào gặp Cụ Hồ năm xưa.

Bức thư viết: “Vừa qua, bác Lê Đức Thỉnh – Nguyên Phó bí thư tỉnh uỷ Hà Tĩnh hồi trước 1975 nay đã 91 tuổi – là bạn già ở gần nhà tôi cho tôi xem báo Hà Tĩnh ngày 12/4/2006 có đăng bài về bác Kiệm. Tôi rất mừng bác đã 87 tuổi mà vẫn còn tương đối khoẻ, chụp ảnh cùng bác gái. Lâu nay tôi không có tin tức cụ thể về bác Kiệm.

Trước hết xin gửi biếu hai bác tấm ảnh chụp cách đây 55 năm ở căn cứ Việt Bắc – nơi Bác Hồ đã ở, nơi tập thể chúng ta được phục vụ Bác.

Chú Kiệm – Lê Nhạ, người đứng ngoài cùng bên phải chụp ảnh chung với đồng đội ở Việt Bắc năm 1951. (Ảnh tư liệu do cụ Lê Nhạ cung cấp).

Nhận được thư này đề nghị bác Kiệm cho biết thêm về gia cảnh hiện nay ra sao? Nếu có dịp ra Hà Nội Bác ghé qua nhà tôi ở 149 phố Nguyễn Thái Học và đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh, vào Lăng viếng Bác Hồ…”

Đọc được những dòng trong lá thư của người bạn một thời, chú Kiệm đã không cầm nổi nước mắt, nước mắt của vui sướng vì đã bắt được liên lạc với người bạn cách đó hàng chục năm trời ông không hề có thông tin. Ông cầm tấm ảnh ngắm nghía, hồi tưởng lại năm tháng ở núi rừng Việt Bắc. Tấm ảnh đen trắng đã nhoè nhưng ông vẫn chỉ đủ tên của các đồng đội của mình. Dẫu bức ảnh chụp cách đây hơn nửa thế kỷ, nhưng nhìn tấm ảnh vẫn dễ dàng nhận ra “chú Kiệm” với mái tóc cắt ngắn, dựng đứng, khuôn mặt nhỏ.

Chợt nhớ đến lời mời trong lá thư của ông Chiến, ông Nhạ bật khóc vì nhớ lại cái thời gian khổ gắn bó với nhau ở Chiến khu. Ông đáp thư trả lời cho ông Tạ Quang Chiến, bày tỏ mong muốn được ra Hà Nội thăm Lăng Bác một lần và mong được gặp lại người bạn xưa.

Trò chuyện với Dân trí trong những ngày cả nước chuẩn bị kỷ niệm 117 năm ngày sinh nhật Bác, chú Kiệm rưng rưng tâm sự: “Đã mấy chục năm rồi không được ra thăm Lăng Bác, cũng chưa được về quê Bác để thắp cho Người một nén nhang. Như rứa lòng tui thấy có lỗi lắm. Để thỏa lòng, tui có ý định dịp sinh nhật Bác năm nay sẽ ra thăm Người nhưng rồi mong muốn ấy không thể thực hiện được. Căn bệnh zôna thần kinh quái ác lại hành hạ, nên không đủ sức khỏe để đi”…

Chia tay ông Nhạ với những thông tin ít ỏi, chúng tôi mang theo ước vọng cao đẹp của ông – được một lần ra thăm Lăng Bác.

Văn Dũng – Minh San
dantri.com.vn

Gặp người 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

(Dân trí) – Một ngày tháng 6, ông Nguyễn Đình Ngọc, người lái chiếc xe Com-măng-ca BKS BAA400 nhận lệnh của cấp trên: Chở một cán bộ cấp cao từ Hà Nội về thăm quê. Khi vị khách bước lên xe, ông mới ngỡ ngàng nhận ra: Bác Hồ.

Giờ đã ở cái tuổi xấp xỉ 100 nhưng cứ nhớ lại lần được chở Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê, cụ Ngọc vẫn thấy tự hào lắm.

Nhà cụ Ngọc ở phía sau Bến xe Vinh thuộc khối 4, phường Lê Lợi, TP Vinh, Nghệ An. Để vào được nhà cụ phải đi qua một đoạn đường đất, cỏ cây mọc lút hai bên. Tiếp chúng tôi là anh con trai út của cụ, Nguyễn Đình Hằng (sinh năm 1953). “Hơn 10 năm ni cha tui chẳng tự đi lại được vì bị tai nạn bể đôi đầu gối chân phải. Muốn đi mô lại phải đỡ thôi nhưng ông còn minh mẫn lắm”, anh Hằng mở đầu câu chuyện.

Cụ Ngọc ngồi bên cạnh, mái tóc đã bạc trắng, đôi mắt trõm sâu chỉ còn nhìn thấy mờ mờ nhưng đôi tai còn rất tinh tường. Cụ tiếp lời: “Lúc đó xe cộ đông lắm. Xe tui làm nhiệm vụ bảo vệ, còn xe chở Bác là xe khác. Nhưng Bác nỏ đi mà lại lên chiếc xe cọc cạch tui ngồi. Bác vận đồ rất giản dị. Cả hai lần Bác về thăm quê đều thế. Tui run và bất ngờ lắm vì trước đó nỏ ai thông báo là Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê mô”.

“Thế Bác có nói chuyện chi với cụ không?”. “Tui chỉ biết cầm chắc tay lái vì nghĩ có răng Bác mới lên xe mình. Lỡ có chuyện chi thì dở. Bác ngồi phía sau xe chẳng nói chi cả. Mà có hỏi tui mô mà nói”.

Cụ Nguyễn Đình Ngọc sinh năm 1909, quê gốc Thọ Hạc, Đông Sơn (nay là TP Thanh Hoá). Năm 1946 cụ vào Nghĩa Đàn (Nghệ An) tham gia kháng chiến. Năm 1954 làm lính lái xe chở hàng tiếp viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau đó lại được nhận nhiệm vụ chở đoàn Ấn Độ về thực hiện hiệp định Giơnevơ ở Việt Nam. Năm 1955, làm lái xe cho Tỉnh uỷ Nghệ An chuyên chở công văn, tài liệu hoả tốc đi khắp nơi.

Cụ Ngọc có 5 người con 3 trai, 2 gái. Năm 1980 một người con đã hy sinh. Hiện cụ đang ở với người con út.

Hồi tưởng lại ngày đáng nhớ, đó là ngày 12/6/1957. Trước đó, anh lính lái xe Nguyễn Đình Ngọc chỉ nghe về Bác Hồ qua những câu chuyện người khác kể, qua đài báo. Mong ước được gặp vĩ nhân ngỡ chẳng bao giờ thành hiện thực. Hôm đó lãnh đạo Tỉnh uỷ Nghệ An họp đột xuất và giao nhiệm vụ chuẩn bị đón Đoàn khách trung ương về, ngoài ra không tiết lộ thêm thông tin gì.

Sáng hôm sau, mọi người tập trung đông đủ tại sân bay Vinh đón khách. Bác Hồ giản dị trong bộ trang phục kaki cũ, bước xuống từ chiếc trực thăng trong sự ngỡ ngàng của mọi người. Vinh dự hơn, tự hào hơn cho ông Ngọc là chiếc xe Com-măng-ca ông lái lại được Bác chọn ngồi. Bỗng nhiên ông Ngọc thấy mình thật hãnh diện, xen lẫn cảm giác căng thẳng vì đảm trách một nhiệm vụ lớn lao.

Chiếc xe của ông Ngọc đưa Bác đi một số địa điểm trong TP Vinh rồi chở Bác Hồ về thăm quê nhà Kim Liên. “Cả đoạn đường về quê, muốn được nói chuyện với Bác, hỏi thăm sức khoẻ Bác nhưng sao chẳng nhích môi được, chỉ còn biết chăm chăm vào tay lái” – cụ Ngọc tiếc nuối.

Lần thứ hai, hạnh phúc lại đến với ông Ngọc khi lại được là người chở Bác về thăm quê ngày 8/12/1961. Nhớ lại lần đó, cụ Ngọc còn rưng rưng: “Lần đó Bác đã không còn khoẻ, tóc đã bạc nhiều. Bác căn dặn nhiều lắm… Không ngờ đó lại lần cuối cùng Bác về thăm nơi chôn rau cắt rốn”.

Sau những năm dài triền miên trên các nẻo đường, năm 1971 cụ Ngọc nghỉ hưu. Nhưng suốt gần 15 năm sau đó cụ vẫn không hề ngơi nghỉ vì UBND TP Vinh mời cụ tham gia làm Hội thẩm nhân dân. Nay đã ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng hàng ngày cụ Ngọc vẫn luôn nhắc nhở con cháu gìn giữ hàng chục giấy khen, bằng khen từ Uỷ ban kháng chiến, UBND tỉnh Nghệ An… như những báu vật.

Và có một ký ức cụ mãi mãi không bao giờ quên, đó là 2 lần cụ vinh dự được chở Bác Hồ kính yêu về thăm quê hương.

Đặng Nguyên Nghĩa
dantri.com.vn

Chuyện “bé Vách” hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ

22 tuổi được phong Anh hùng lao động, và hai năm sau trở thành đại biểu Quốc hội liên tiếp ba khóa III, IV, V. Tự hào hơn, “nữ Sơn Tinh” Phạm Thị Vách đã vinh dự hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ.

17 tuổi, cô đoàn viên Phạm Thị Vách (sinh năm 1940, tại xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên) đã nổi tiếng trong các phong trào thủy lợi “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, “nghiêng đồng đổ nước ra sông”.

Tuổi đôi mươi, Vách là kiện tướng thủy lợi. 22 tuổi được phong Anh hùng lao động, và hai năm sau trở thành đại biểu Quốc hội liên tiếp ba khóa III, IV, V. Tự hào hơn, “nữ Sơn Tinh” Phạm Thị Vách đã vinh dự hai lần được nhận Huy hiệu Bác Hồ.

Tuổi gần thất thập nhưng nữ anh hùng Phạm Thị Vách vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh, vẫn tinh anh phụ giúp con dâu bán hàng ngay tại nhà ở thị trấn Lương Bằng (huyện Kim Động). Nhớ lại chuyện 50 năm trước, người đàn bà nhỏ nhắn đưa tay vuốt hai khóe miệng thắm đỏ quết trầu, khoe hàm răng hạt na đen nhánh, chậm rãi kể…

Cuối năm 1958, khi về thăm đại công trường Bắc Hưng Hải, Bác Hồ nghe chuyện cô kiện tướng thủy lợi, đã gửi huy hiệu nhờ bí thư tỉnh ủy Hưng Yên tặng lại cho Vách…

Chỉ hơn một năm sau, năm 1960, Bác lại về thăm Hưng Yên và đích thân Người trao huy hiệu lần hai của mình cho Vách. “Tôi không thể nào quên được ngày hôm đó. Bác về Hưng Yên (khi đó luôn dẫn đầu miền Bắc về làm thủy lợi) dự Hội nghị tổng kết công tác thủy lợi toàn miền Bắc. Sau khi nghe báo cáo thành tích làm thủy lợi, Bác hỏi bí thư tỉnh ủy Lê Quí Quỳnh về những điển hình nữ có nhiều không.

Bí thư Quỳnh dẫn tôi lên, Bác cười tươi lắm, gọi tôi là “bé Vách”. Rồi Bác hỏi hội nghị: “Mọi người thấy thành tích của bé Vách có tốt không? Mọi người có đồng ý để Bác tặng bé Vách huy hiệu lần thứ hai không?”. Cả hội trường đều hô to “đồng ý ạ”. Không chỉ trực tiếp gắn huy hiệu trước hội nghị, lời dặn của Bác khi tặng huy hiệu cho bà làm bà nhớ mãi: “Cháu làm tốt rồi, học tập tốt rồi thì phải làm tốt hơn nữa, học tốt hơn nữa. Phải gần gũi lắng nghe quần chúng, học tập quần chúng để mà làm”.

Tuổi gần “thất thập” nhưng AHLĐ Phạm Thị Vách vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn và tinh anh.

Theo lời Bác, cô thôn nữ Phạm Thị Vách quyết đi học thêm. Học bổ túc cấp III xong, cô được bầu giữ chức chủ nhiệm HTX, rồi chủ tịch xã, bí thư đảng ủy xã khi tuổi mới chỉ ngoài đôi mươi. Vinh dự hơn, tháng 5/1962, Vách được bầu đi dự Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần 3 tại Hà Nội. Tại đây, một lần nữa “bé Vách” lại được gặp Bác Hồ. Đêm trước đại hội, Bác mời các đại biểu trẻ, đại biểu nữ đến Phủ Chủ tịch, “đãi” kẹo.

Thấy Vách rụt rè, Bác cười tươi: “Bé thế mà là anh hùng đấy, giỏi quá. Nhưng sao bé Vách không ăn kẹo đi, các cháu trai khác ăn mất phần bây giờ”. Rồi Bác ân cần hỏi chuyện chồng con của Vách. Vách trả lời: “Cháu đợi nước nhà thống nhất mới tính”. Bác cười bảo: “Cháu là con trai như mấy anh kia đâu mà đợi. Con gái có thì, lo làm, lo cho dân thì cũng phải lấy chồng chứ”.

Tại đại hội, với những thành tích đóng góp trong công tác thủy lợi, nhất là những sáng kiến và liên tục là “kiện tướng”, chiến sĩ thi đua bốn năm liền, Phạm Thị Vách đã được phong Anh hùng lao động – và chị là người duy nhất (lại là nữ) trong số hàng vạn người tham gia “đại công trường” thủy nông Bắc Hưng Hải được đón nhận vinh dự ấy khi mới tròn 22 tuổi. Cũng năm ấy, Vách được đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản.

Theo Đức Bình, Đình Tú
Tuổi Trẻ
dantri.com.vn

Người nữ anh hùng 5 lần được gặp Bác

“Cuộc đời tôi có 5 điều may mắn nhất, cũng là 5 niềm vinh dự lớn lao nhất, đó là 5 lần được gặp Bác Hồ. Bác đã hỏi han, dạy bảo những điều rất giản dị, đời thường nhưng tôi thấy chứa đựng tình thương bao la… Gần 50 năm trôi qua nhưng những lời Bác dạy vẫn còn in mãi trong trái tim tôi…”.

Trong ngôi nhà nhỏ bên con đường 12A huyền thoại, thuộc địa phận xã Cảnh Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, nữ Anh hùng Nguyễn Thị Kim Huế kể cho chúng tôi nghe những hồi ức đẹp và thiêng liêng về 5 lần được gặp Bác Hồ.

Thời máu lửa

Cô gái Thanh niên xung phong (TNXP) quả cảm trên con đường 12A huyền thoại năm ấy giờ đã bước sang tuổi 68, nhưng trong bài viết này, tôi xin mạn phép gọi bà là chị như thuở bà còn là cô gái đôi mươi trên tuyến đường máu lửa.

Sinh năm 1940, tuổi thơ của chị không biết được khuôn mặt cha mẹ. Nhà nghèo, chị phải làm thuê từ nhỏ để mưu sinh. Tháng 6/1965, giặc Mỹ leo thang bắn phá ác liệt miền Bắc, 19 tuổi, chị đã có chồng nhưng vẫn làm đơn xin nhập ngũ vào lực lượng TNXP trên tuyến đường 12A máu lửa.

182 người của huyện Tuyên Hóa lúc bấy giờ lập nên đơn vị 759, đội 75, công trường 12. Chị là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 6, có 16 chị em. Đơn vị được giao phụ trách tuyến đường 12A từ Nam cầu La Trọng đến Bãi Dinh. Giặc Mỹ điên cuồng thả bom nhằm làm tê liệt tuyến đường. Năm 1965, Trung đội quyết tử được thành lập, chị giữ chức Trung đội trưởng. Với tinh thần quyết tử cho tuyến đường luôn thông suốt, chị và đồng đội mỗi lần vào trận đánh đều được “làm lễ truy điệu sống”.

Ngày 3/7/1966, máy bay B52 của Mỹ đã điên cuồng đánh phá tuyến đường. 45 ngày đêm chiến đấu, 24 đồng đội của chị đã hy sinh, vừa thông đường các chị vừa tìm xác đồng đội. Bản thân chị cũng đã bị bom vùi nhiều lần, tỉnh lại chị lại lao vào trận tuyến…

Vinh dự đã đến với chị ngày 1/1/1967, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Đại đội 759 cũng được tặng danh hiệu Anh hùng lao động mà Tiểu đội 6 của chị là con chim đầu đàn.

Tại các địa danh ác liệt như Ba Trại, nam Sông Gianh, bến phà Gianh… giặc điên cuồng bắn phá, thả bom nổ chậm, bom từ trường. Không một chút sợ hãi, các chị lao vào đối đầu với cái chết, phá bom từ trường chỉ với đoạn dây gần 100m, gắn với một đoạn sắt, kéo đoạn dây này đi qua các quả bom, bom từ trường bị kích nổ chỉ cách người 5 mét.

5 lần gặp Bác Hồ

Từ những chiến công trên đường Trường Sơn anh hùng, tháng 11/1966, chị được cử ra tỉnh Hưng Yên tập huấn quân sự. Chính nơi đây chị đã bất ngờ được gặp Bác Hồ.

Chị xúc động kể: “Vào một ngày cuối buổi kiểm tra môn bắn súng, kết quả 3 lần bắn tôi đều đạt ưu tú. Lúc ấy có một ông già tóc bạc phơ, mặc quần áo bà ba, chân đi dép cao su đến gần tôi và hỏi: “Cháu có bí quyết gì bắn súng mà giỏi như vậy, cháu bày cho Bác với?”. Tôi thật thà trả lời: “Cháu chỉ bình tĩnh, tự tin, nín thở và bóp cò thôi ạ”.

Buổi chiều tổng kết lớp học, ông già ấy khoác bộ Kaki sờn cũ khen tôi: “Con gái Quảng Bình sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, làm gì cũng giỏi”. Lúc ấy tôi mới biết đó là Bác Hồ.

Cũng trong năm 1966, chị lại được vinh dự có mặt trong Đoàn đại biểu của ngành Giao thông vận tải Quảng Bình ra báo cáo thành tích với Bác. Bác hỏi: “Các cô chú Quảng Bình ra thăm Bác có chuyện chi?”. Lúc ấy, chị là đại biểu trẻ nhất nên được Bác hỏi chuyện. Bác hỏi thăm tình hình anh em, hỏi chuyện gia đình chị. Bác hỏi bao giờ có con, chị trả lời: “Thưa Bác khi nào cách mạng thành công, hết giặc Mỹ cháu mới sinh con”. Bác bảo: “Sự nghiệp đánh giặc Mỹ còn dài lâu, cháu phải sinh con để sau này còn đi đánh giặc nữa chứ. Cháu đánh giặc giỏi nhưng phải làm tốt việc gia đình”.

Lần gặp Bác Hồ thứ ba là tại Đại hội Anh hùng toàn quốc tháng 1 năm 1967. Đoàn Quảng Bình có 11 đại biểu, trong đó người cao tuổi nhất là mẹ Suốt, trẻ nhất là chị Trần Thị Lý. Sau khi được gắn danh hiệu Anh hùng, chị được Bác quàng khăn và tặng chiếc đồng hồ đeo tay Liên Xô. Cả 3 người được vinh dự chụp ảnh với Bác. Bác và đồng chí Tố Hữu đã khóc khi nghe chị kể chuyện 45 ngày dưới mưa bom bão đạn để san lấp đường, phá bom tìm xác đồng đội.

Lần gặp thứ tư có thể nói là lần gặp xúc động nhất trong cuộc đời chị. Đó là vào dịp Đại hội TNXP toàn quốc lần thứ 4 (tháng 7/1967). Lúc đó chị được vinh dự tặng hoa cho Bác. Khi Bác xuất hiện, chị ào tới tặng hoa cho Người. Đúng khoảnh khắc này bức ảnh 2 Bác cháu ra đời, sau này được Nhà in Tiến Bộ in ra hàng vạn bức ảnh phát hành trên toàn quốc và bây giờ bức ảnh này vẫn được chị giữ gìn, treo cẩn thận nơi trang trọng nhất trong nhà.

Lần gặp Bác cuối cùng của chị vào dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng 10 Nga. Trước khi sang thăm Liên Xô, chị và các đại biểu đã được gặp Bác và nghe Bác dặn dò. Chị nhớ, trong buổi họp báo quốc tế, có nhà báo hỏi: “Dũng sĩ diệt Mỹ sao bé nhỏ thế?”, “Việt Nam nhỏ bé nghèo nàn sao thắng được Mỹ?”. Chị khẳng khái nói: “Tôi tuy nhỏ bé nhưng tinh thần không nhỏ. Chúng tôi không sợ kẻ thù, lớp này hy sinh có lớp khác lên thay…”. Sau này Bác khen chị trả lời thông minh, đanh thép.

Lúc Bác mất, chị được cử đi viếng Người, được phép để tang Người 3 tháng 10 ngày. Trong thời gian này, chị cùng với 5 đồng chí khác đi Nhật Bản và Trung Quốc để tuyên truyền về bộ phim “Đời hoạt động của Bác Hồ với thanh niên Việt Nam”, trong bộ phim đó, chị và chị Trần Thị Lý đóng vai chính.

Năm 1995 chị về nghỉ hưu với thương tật vĩnh viễn 25%. Một mình chị phải tần tảo nuôi 3 người con, do chồng chị mất sớm. Hai người con đầu của chị giờ đã lập gia đình, nối nghiệp theo ngành giao thông của chị, đặc biệt người con cả hiện giờ đang thi công con đường 12A công nghiệp hóa, con đường lịch sử mà xưa kia chị và những đồng đội đã ghi nên những chiến công anh hùng.

Hiện chị sống cùng hai đứa cháu trong ngôi nhà nhỏ nằm trên đường 12A, con đường đã gắn chặt cuộc đời oanh liệt của chị. Tiền lương hưu cộng với tiền trợ cấp thương tật mỗi tháng chỉ được lĩnh hơn 1 triệu đồng, số tiền đó dành nuôi hai đứa cháu.

Thấy tôi ái ngại, chị bảo: “Ngày trước Bác Hồ sống giản dị, bữa cơm rau muống đạm bạc, cuộc sống của Bác thanh liêm như thế mà vẫn hoạt động cách mạng thắng lợi. Bây chừ mình có lĩnh lương mỗi tháng những một triệu là bữa cơm có cá rồi đấy. Thế là sống tốt rồi, tấm gương của Bác mình luôn làm theo. Cuộc sống như thế này là tốt rồi. Mình không đòi hỏi gì thêm, Nhà nước còn phải sẻ chia với muôn vàn đồng bào khó khăn nữa mà”.

Theo M.Phong – Ph.Phương
Sài Gòn Giải Phóng
dantri.com.vn

Cụ ông 94 tuổi thi kể chuyện Bác Hồ

(Dân trí) – Tại hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của đảng bộ phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, có một thí sinh thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều người. Đó là cụ Nguyễn Chín, một đảng viên, lão thành cách mạng, năm nay đã 94 tuổi.

Mặc dù tuổi đã cao, nhưng cụ Chín vẫn tích cực tham gia sinh hoạt Đảng, Hội người cao tuổi ở nơi cư trú; thường xuyên đọc sách, báo, xem chương trình thời sự…

Theo quy định, cụ được miễn sinh hoạt Đảng, nhưng không một buổi sinh hoạt nào của Chi bộ vắng mặt cụ. Ở đó, cụ luôn đóng góp những ý kiến sâu sắc và đầy tâm huyết cho sự phát triển của Chi bộ, thẳng thắn phê bình những hạn chế, khuyết điểm mà đảng viên trong Chi bộ mắc phải.

Đặc biệt, sau mỗi buổi sinh hoạt Chi bộ, cụ thường đọc thơ ca ngợi Đảng, Bác Hồ, sự đổi mới quê hương, đất nước cho mọi người cùng nghe; trong đó có nhiều bài thơ do chính cụ sáng tác.

Trong gia đình, cụ là tấm gương sáng về sự mẫu mực cho con, cháu nói theo. Người con dâu út của cụ cho biết: Cụ luôn giữ nếp sinh hoạt điều độ, sáng nào cũng dậy sớm tập thể dục và dành nhiều thời gian đọc sách, báo, thăm nom hàng xóm. Cụ luôn lấy những câu chuyện kể về Bác Hồ để răn dạy, nhắc nhở con cháu rèn luyện, tu dưỡng trong học tập, công tác.

Nói về hội thi kể chuyện Bác Hồ, ông Nguyễn Trường Giang, Bí thư Chi bộ 26, phường Phú Xá, cho biết: “Cụ Chín là người xung phong đầu tiên tại cuộc họp Chi bộ, thấy cụ tuổi cao, e không đủ sức khỏe nên các thành viên trong Chi bộ cũng như con cháu trong gia đình đều rất băn khoăn. Song cụ đã thuyết phục được cả Chi bộ và gia đình bằng sự quyết tâm và tấm lòng của dành cho Đảng, Bác Hồ”.

Theo TTXVN, để chuẩn bị cho hội thi, cụ ông 94 tuổi này đã cẩn thận xây dựng từ đề cương trả lời câu hỏi, chuyện kể về Bác Hồ đến sáng tác thơ rồi đem ra thảo luận, trao đổi trước tại Chi bộ. Câu chuyện của cụ kể về 3 lần Bác Hồ về thăm khu công nghiệp Gang Thép – nơi cụ từng làm việc.

Nói về tình cảm của mình với Bác, cụ tâm sự: “Chuyện kể về tấm gương đạo đức của Bác Hồ thì nhiều lắm, nhưng học tập và làm theo Bác quả là không dễ. Tôi già rồi, không làm được việc gì to tát, chỉ mong muốn được kể lại một câu chuyện về Bác Hồ để gửi gắm tấm lòng kính trọng của mình đối với tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và để con, cháu học tập, noi theo”.

Đức Phương
dantri.com.vn

Gặp người 2.555 ngày đêm bảo vệ Hồ Chủ tịch

(Dân trí) – Cho đến bây giờ, nhớ lại 7 năm vinh dự được cận kề bên Bác, cụ Nguyễn Tùng vẫn không khỏi bồi hồi xúc động: “Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước thời bấy giờ. Vinh dự ấy tôi không thể nào quên…”.

Cụ Nguyễn Tùng sinh năm 1926 ở Quỳnh Hậu, Quỳnh Lưu (Nghệ An). Năm nay đã bước qua tuổi 82, trí đã mỏi, thân đã mệt nhưng trong cụ vẫn sáng những kỷ niệm không thể phôi phai về khoảng thời gian 7 năm làm lính bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi đến thăm cụ khi cả gia đình cụ đang quây quần quanh bàn thờ Bác, kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Người.

“Cầu thang có mấy bậc?”

Cụ nhớ lại: “Đối với tôi, thời niên thiếu được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác là một vinh dự lớn nhất đời người. Tôi xem đó là một công việc hết sức phải cẩn trọng, lớn lao”. Năm 1958 ấy, Bộ Công an được giao nhiệm vụ tuyển lựa hàng trăm thanh niên trên cả nước về làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Trong số ấy, cụ Tùng đã xuất sắc lọp vào tốp 19 người được lựa chọn để bảo vệ Bác.

Cụ kể, bảo vệ Bác phải hết sức cẩn trọng, chú ý từng hành động, lời ăn tiếng nói, giờ giấc làm việc… của Bác. Khi Bác làm việc, tuyệt đối không gây một tiếng động, không thốt một câu nói.

“Lo lắm chứ, Bác là lãnh tụ mà”, cụ Tùng chia sẻ. Cụ vẫn nhớ những buổi sáng theo sát bước chân Bác khi Người đi tập thể dục. Thời tiết khô ráo thì đi ngay sau Bác, trời mưa thì đi song song bên Bác, kịp đỡ khi Bác trượt chân. Khi Bác làm việc, cụ ngồi ngay dưới chân cầu thang, để Bác cần là có mặt.

Người bảo vệ Bác năm xưa vẫn nhớ một mẩu đối thoại cùng Bác, giản dị thôi nhưng nhắc cụ phải luôn quan sát, chú ý đến sự vật xung quanh. Bác hỏi: “Chú Tùng, chú ngồi ở cầu thang đây đã lâu chưa?”. “Cũng lâu rồi ạ”. “Thế chú có biết chiếc cầu thang này có mấy bậc không?”. Cụ Tùng ấp úng: “Dạ thưa Bác… cháu… không biết ạ”. “.

Bác về thăm làng gốm Bát Tràng. (Ảnh do cụ Nguyễn Tùng cung cấp)

“Dân còn rét Bác không thể ấm một mình”

Một câu chuyện cảm động khác mà cụ Tùng vẫn nhớ. “Đó là hồi cuối năm 1959, rét cắt da cắt thịt. Trong giờ nghỉ giải lao cuộc họp Bộ Chính trị, anh Ba (đồng chí Lê Duẩn) vẫy tôi lại nói nhỏ “Tùng về mua một bếp sưởi điện đặt vào nơi làm việc để Bác Hồ đỡ rét”.

Lúc vào phòng làm việc, thấy cái bếp sưởi điện, bác gọi tôi hỏi. Khi biết đó là quyết định của Bộ Chính trị, bác im lặng không nói gì, nhưng khi tôi định mở lò thì Bác bảo: “Quyết định của tập thể Bác phải phục tùng, nhưng tập thể quyết đặt bếp chứ không quyết mở giờ nào nên mở hay không là quyền Bác”.

Hôm sau tôi báo cáo với anh Ba, anh phàn nàn: “Thế Tùng không có cách gì mở à?”. Tôi nghĩ được một mẹo. Tối đó, Bác đang làm việc thì tôi lên: “Thưa Bác, cháu rét lắm ạ”. Bác mỉm cười độ lượng: “Rét thì mở lò mà sưởi”. Tôi thích chí vì mẹo của mình đã đạt. 30 phút sau, Bác hỏi: “Chú Tùng thấy ấm đủ chưa?”. Tôi lúng túng: “Thưa Bác đủ rồi ạ”. “Đủ thì đi làm nhiệm vụ”. Tôi vội đi xuống, Bác cũng tắt luôn lò sưởi.

Sáng hôm sau, giờ tập thể dục, Bác bảo: “Cái bếp lò vướng lắm, Bác đi lại không thoải mái”. Tôi báo cáo anh Ba, anh đành trực tiếp gặp Bác đề đạt nguyện vọng đặt lò sưởi vì lo cho sức khoẻ cuả Bác. Bác ôn tồn: “Bác cảm ơn Bộ Chính trị, cảm ơn sự quan tâm của dân của Đảng, Bác biết mở ra thì ấm, nhưng hiện nay toàn dân đang rét, Bác không thể ấm một mình. Hơn nữa, điện đang rất cần cho nông nghiệp, công nghiệp, các cơ sở sản xuất đều thiếu điện nhiều lắm, mình phải biết tiết kiệm. Bao giờ Bắc Nam thống nhất, nhân dân cả nước đều ấm, lúc đó Bác sẽ sưởi”.

Cụ Tùng dừng câu chuyện, toàn bộ những người có mặt cùng rưng rưng nước mắt trước tình thương bao la, “hy sinh tất cả chỉ quên mình” của Bác.

Bác mừng sinh nhật bằng buổi kéo lưới cùng ngư dân

Gần đến ngày 19/5, biết trước chính quyền có ý định sẽ tổ chức sinh nhật cho mình, để tránh sự lãng phí khi đất nước còn chiến tranh, Bác bí mật dặn cụ Tùng chuẩn bị sẵn gạo cùng thức ăn để đi công tác. Nhưng Bác không nói cụ thể đi đâu, đi việc gì.

Sáng 18/5/1960, trước ngày sinh nhật Bác một ngày, mọi thứ đã chuẩn bị xong, Bác và chú Tùng cùng lên xe. Xe đưa 2 bác cháu đến Sầm Sơn (Thanh Hoá) nhưng lãnh đạo nơi đây không biết. Tại đây, Bác và người cận vệ vào nghỉ trong ngôi đền Độc Cước cạnh bãi biển; tự nấu cơm cùng ăn. Sau bữa cơm, Bác lại rủ chú Tùng vào một tiệm cơm gần bãi biển để xem bà con ở đây ăn uống thế nào.

Cụ Nguyễn Tùng sinh năm 1926, quê quán xóm 12, xã Quỳnh Hậu, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An).

Năm 1944, cụ tham gia kháng chiến, tham gia Việt Minh bí mật. Năm 1945, cụ tham gia cướp chính quyền… Ngày 20/8/1958, cụ Tùng được lựa chọn trong số 19 người về làm cận vệ cho Hồ Chủ tịch.

Hôm đó nhà hàng nấu cơm bị khê, mặc dù vậy, Bác vẫn bình thản ăn và còn dặn chú Tùng ăn cố để tránh lãng phí. Sáng 20/5, 2 bác cháu đi tắm biển, gặp nhóm ngư dân đang kéo lưới trên biển, 2 bác cháu cũng tích cực tham gia. Buổi hôm đó, không người ngư dân nào được biết mình vừa có vinh hạnh kéo lưới cùng vị Cha già của dân tộc.

Tối hôm đó, Bác nói cùng chú Tùng: Ở Sầm Sơn cơm nấu khê quá, ăn không được thì người dân lấy sức đâu mà chiến đấu. Sáng 21/5, Bác cho gọi đồng chí Ngô Thuyên – Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hoá lúc bấy giờ, xuống gặp.

Bác hỏi: “Cơm ở đây có ngon không?”. Đồng chí Ngô Thuyền trả lời: “Ngon lắm Bác ạ”. Bác hỏi tiếp: “Đồng chí đã ăn cơm ở đây lần nào chưa?”. “Chưa ăn lần nào Bác ạ”. “Tại sao chưa ăn mà đồng chí lại bảo là ngon?”. Lúc này đồng chí Ngô Thuyên im lặng.

Cụ Tùng trầm ngâm, 7 năm bên Bác, nhìn, xem, nghe, cảm nhận… những lời Bác nói, những việc Bác làm, mới thấu hiểu hết cái tâm của Người. “Mong rằng những người cầm bút như các anh, nghe những điều tôi tâm sự về gương Bác Hồ thì hãy viết lại, để mọi người cùng soi vào học tập…”, cụ nói, nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo.

Ước mơ cuối đời người cận vệ

Sau những năm tháng bên Bác, năm 1982, cụ Tùng về nghỉ hưu; những kỷ niệm của 2.555 ngày bảo vệ Bác được cụ xem như những báu vật vô giá. Nay đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, hàng ngày cụ vẫn luôn nhắc nhở con cháu học tập gương đạo đức Bác Hồ, coi đó là cái kim chỉ nam trong cuộc sống này.

Cụ Tùng mong được về thăm quê Bác lúc cuối đời. (Ảnh: Nguyễn Duy)

Hỏi về ước mơ cuối đời, cụ tâm sự: “Bao năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, 7 năm bảo vệ Bác là một niềm vinh hạnh lớn cho tôi. Nhưng chiến tranh đi qua để lại trong tôi biết bao đau thương. Đứa con gái út của tôi bị chất độc da cam nay đã hơn 40 tuổi vẫn phải sống một mình. Giờ chỉ mong chính quyền xã giải quyết để con tôi có chỗ nương tựa khi tôi đã qua đời”.

Chúng tôi nhìn xung quanh, thấy cận vệ năm xưa của Bác, giờ sống trong một căn nhà xập xệ, dột nát, trống hoác huơ. Bao năm nay, cụ vẫn nuôi dưỡng tinh thần bằng những vinh quang của quá khứ. Một ước mơ khác của cụ là trước khi nhắm mắt xuôi tay, được một lần về lại làng Sen quê Bác, thăm lại ngôi nhà, nơi đã sinh ra người con ưu tú của dân tộc.

Nguyễn Duy – Đình Lộc
dantri.com.vn

Mỗi ngày viết một câu chuyện về Người

(Dân trí) – Ở thôn Nhan Biều 3 (Triệu Thượng, TriệuPhong, Quảng Trị) có một ông đại tá già ngày nào cũng đọc một câu chuyện, viết một bài viết về Bác Hồ. Tài sản vô giá của ông hiện là cuốn sách dày 200 trang dày đặc những câu chuyện về vị Cha già của dân tộc.

Ông đại tá già đó là ông Nguyễn Đức Vũ, 85 tuổi, người được người dân Nhan Biều coi là “cuốn sách sống về Bác Hồ”.

Ban thờ Bác được ông Vũ lập trang trọng trong một căn phòng riêng.

Bốn mươi năm khôn nguôi nhớ Bác

Bốn mươi năm trước, ngày Bác mất, triệu triệu người Việt Nam đã khóc, đã đau nỗi đau của dân tộc. Ngày đó, có một người lính đặc công cũng òa khóc nức nở như mất đi một người thân ruột thịt. Người lính đặc công ấy là ông Nguyễn Đức Vũ, người ôm nỗi nhớ khôn nguôi về Bác từ đó đến nay.

Vốn là bộ đội trinh sát, rồi được chọn vào đội ngũ của binh chủng đặc công, ông Vũ đã đi qua hai cuộc chiến ác liệt nhất của đất nước, dân tộc. Quãng đời lính xem cái chết nhẹ tựa lông hồng của ông Vũ đầy những chiến tích hào hùng, oai lẫm. Nhưng niềm tự hào lớn nhất của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Đức Vũ chính là hai lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Kỷ niệm quý giá ấy đã ăn sâu vào máu thịt, tuôn chảy trong từng mạch máu luân chuyển khắp cơ thể, chảy tràn qua tim ông Vũ.

“Đời lính của tôi vào sống ra chết, trở về với hai bàn tay trắng và một khối tài sản vô hình, vô giá. Đó chính là hai lần tôi vinh dự được cùng anh em đồng chí trong đơn vị gặp mặt Bác Hồ, nghe Bác kể chuyện, nhìn tận mắt gương mặt, đôi mắt sáng và nụ cười hiền từ ấm áp của Bác. Tôi vẫn nhớ mãi những kỷ niệm đó” – ông Vũ xúc động kể.

Đau đáu một nỗi nhớ Bác, khắc ghi hình ảnh của Người trong tim, khi đối mặt với quân thù, người lính Nguyễn Đức Vũ luôn tự nhủ “phải chiến đấu hết mình để giữ mảnh đất mà Bác Hồ và cả dân tộc đã đổ máu để gìn giữ”. Ông đã đi qua chiến tranh với niềm tin, nhiệt huyết ấy.

Cho đến lúc về nghỉ hưu, ông Vũ vẫn không ngừng học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, giữ mãi hình ảnh Bác trong tim.

Lập bàn thờ, xây phòng thờ Bác

Lòng kính yêu đối với Bác Hồ của ông đại tá già “đặc biệt” hơn rất nhiều người. Ông dành hẳn một gian phòng để làm nơi thờ Bác Hồ, đó cũng là nơi ông đọc truyện, viết sách về Bác.

Năm 1990, ông Vũ về nghỉ hưu với quân hàm đại tá, cái biệt danh thân mật “Vũ đại tá” bắt đầu được người dân Nhan Biều tặng cho ông từ đó. Ngay sau khi về hưu, việc đầu tiên ông Vũ nghĩ đến là lập bàn thờ và xây phòng thờ Bác Hồ.

“Hồi đó, tôi mới về phải sửa sang lại căn nhà cũ nên tạm thời tôi thờ Bác chung với bàn thờ tổ tiên, cha mẹ tôi. Năm 2006, tôi mới ổn định ổn định cuộc sống và cho xây phòng thờ Bác ngay. Sau đó, tôi chuyển tấm ảnh Bác đem về từ chiến trường, phóng to lên và đặt lên bàn thờ Bác để ngày ngày tôi thắp hương riêng cho Người” – ông Vũ kể lại.

Xây xong phòng, lập xong bàn thờ Bác, ông Vũ bắt đầu đọc những câu chuyện về Bác và viết lại thành sách. Tài sản mà ông Vũ gom góp đến bây giờ là đống sách vở, tài liệu, tranh ảnh về Bác mà ông đặt mua, sưu tầm. Đặc biệt là tập sách dày 200 trang do ông viết ra. Tập sách do chính tay ông Vũ viết với những dòng chữ rất rõ ràng, rất đẹp được ông đóng bìa rất cẩn thận mà ông đang có ý định đặt tựa đề “Bốn mươi năm nhớ Bác”.

Cuốn sách vô giá của vị đại tá già.

“Tôi viết tập tài liệu này mới có mấy năm nhưng bốn mươi năm nay tôi luôn nhớ đến Người nên tôi muốn đặt tựa đề như vậy”, vị đại tá kể. Giở tập tài liệu ấy ra đọc, bất kỳ một người đọc khó tính nào cũng không khỏi ngạc nhiên, hết lời khen ngợi bởi những câu chuyện, những bài học do ông Vũ viết đều rất hay và hấp dẫn lòng người. Tập sách là tâm huyết, tình cảm quý giá của một người lính luôn hướng lòng mình theo tư tưởng của Bác, nhớ về Bác.

Căn phòng ông Vũ cho xây làm phòng thờ, đặt bàn thờ Bác rộng chừng hơn 15 mét vuông đặt một bộ bàn ghế để ông làm việc, đọc viết sách và để tiếp những ai muốn nghe ông kể chuyện về Bác. Căn phòng chỉ rộng chừng hơn 15 mét vuông. Ngay chính giữa gian nhà, ông Vũ trịnh trọng đặt tượng Bác Hồ (thay cho bức ảnh đã cũ nát), bên trên là lá cờ Tổ quốc có sao vàng năm cánh và hình ảnh búa liền cùng dòng chữ Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm. Hai bên phải trái là hai câu đối “Suốt đời hy sinh cho lý tưởng cộng sản” và “Ra sức học tâp, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chiếc lư hương luôn đầy ắp những đuôi nhang bởi ngày nào ông cung thắp hương khấn nguyện cho Bác và được ông thay cát mỗi tháng một lần. Trong căn phòng này, rất nhiều người đã được ông Vũ kể cho nghe hàng trăm, hàng ngàn câu chuyện hấp dẫn và cảm động về Bác Hồ. Nhiều Đảng viên ở Nhan Biều đã được kết nạp tại đây, đứng đọc lời tuyên thệ dưới bàn thờ nghi ngút khói hương của Bác. Cả những cô cậu sinh viên ở Nhan Biều trước khi nhập học cũng đến đây đọc lời thề, thắp hương trước bàn thờ Bác.

Mỗi lần kỷ niệm ngày sinh hay ngày mất của Bác là ngôi nhà của ông Vũ luôn có rất đông người do ông mời đến hoặc tự đến để cùng ông tổ chức hát những bài hát, kể những câu chuyện về Bác Hồ. “Những dịp ấy, ông Vũ kể chuyện suốt ngày. Cứ nhắc đến chuyện về Bác, nói về Đảng là ông ấy nói cả ngày cũng không hết. Những lúc ấy ông vui vẻ, phấn khởi lắm chẳng thiết ăn, thiết uống gì cả chỉ nói chuyện đó cũng đủ… no rồi” -bà Lan, em gái ông Vũ kể.

Ông Vũ sẽ còn viết, còn kể mãi những câu chuyện, bài học về Bác Hồ đến khi nào không còn đủ sức nữa mới thôi. Nhưng có một điều mà ông luôn chắc chắn “Bác luôn sống mãi trong tôi, trong trái tim tôi”.

Văn Được
dantri.com.vn

Những lão nông say mê vẽ Bác Hồ

(Dân trí) – Vẽ với các ông là cái duyên, cái nghiệp; nhưng vẽ về Bác lại là nghĩa vụ, là niềm say mê, là sự thôi thúc phải làm gì đó để tỏ lòng tôn kính Bác, để thế hệ mai sau hiểu về cuộc đời cách mạng cao quý của Người…

“Vẽ về Bác là nghĩa vụ đối với tôi”

Năm nay vừa tròn 70 tuổi, ông sống “ẩn dật” trong một ngôi nhà nhỏ trên lưng chừng đồi ở xóm vắng thôn Thạch Nham Đông (xã Hòa Nhơn, Hòa Vang, TP Đà Nẵng). Ngoài những lúc làm vườn, thời gian còn lại ông chỉ chuyên tâm vẽ tranh. Tranh của ông mang nhiều nội dung, thể loại, từ tranh cổ động, tranh về hai cuộc chiến tranh, tranh về cuộc sống… nhưng nhiều nhất và đẹp nhất là tranh về đề tài Bác Hồ. Ông lý giải đơn giản: “Vẽ về Bác là một nghĩa vụ đối với tôi”.

Ông Hạnh giới thiệu tập tranh và ký họa “Uống nước nhớ nguồn” tập hợp hàng trăm bức tranh mà ông đã vẽ trong cuộc đời sáng tác của mình. (Ảnh: Công Bính)

Đó là lão nông-họa sĩ Nguyễn Đức Hạnh. Trong căn nhà cấp 4 tuềnh toàng, ông dành riêng một phòng để làm “phòng triển lãm” khoảng 200 tác phẩm của mình, trong đó những bức tranh về Bác được ông trân trọng nhất. Những bức tranh ấy ông không bao giờ bán.

Ông từng tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội năm 1967, sau đó ông vào Nam vẽ tranh ghi lại các hoạt động, công tác chiến đấu của bộ đội, dân quân du kích… ở chiến trường khu V thuộc đơn vị đặc khu tuyên huấn Quảng Đà.

Nhìn những bức tranh về Bác bày khắp nơi trong phòng triển lãm, tôi hỏi: “Ông đã gặp Bác mấy lần rồi?”. Ông bảo: “Hồi nhỏ làm gì được gặp Bác, chỉ đọc tài liệu rồi tưởng tượng ra vẽ thôi. Nhưng vẽ rất chuẩn đấy nhé”.

Để vẽ được tranh về cuộc đời cách mạng của Bác, ông nói mình đã phải đọc rất nhiều tài liệu, bài báo và chiêm nghiệm con người Bác rồi từ đó phóng tác ra tranh. Và cuộc đời Bác đã ngấm vào máu của ông, sau ông cứ thế mà vẽ ra.

Trong “không gian tranh” của mình, ông trưng bày nhiều bức về Bác như “Lòng Bác”, “Đêm nay Bác không ngủ”, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “Bác Hồ với đất Quảng”, “Bác Hồ với Thủ tướng Phạm Văn Đồng”, “Bác Hồ hoạt động cách mạng ở Thái Lan”, “Cho Bác thêm hai quả cà muối”…

Hiện trong “phòng trưng bày” tại gia của ông có 15 bức tranh rất đẹp về của Bác Hồ trong hai cuộc kháng chiến được đưa vào khung và treo trang trọng. Khi có khách đến chơi, điều đầu tiên ông khoe với khách chính là 15 bức tranh đó; đồng thời thuyết minh tường tận ý nghĩa của từng bức.

Một số bức tranh về Bác Hồ trong phòng trưng bày tại gia của ông Hạnh. (Ảnh: Công Bính)

Đối với ông, vẽ là để thư giãn nhưng vẽ về Bác Hồ là nghĩa vụ, là việc phải làm. “Nếu tôi không vẽ có nghĩa là tôi đã chết”, ông khẳng khái. Càng về sau này đề tài về Bác Hồ được ông quan tâm, do đó trí lực của ông dồn hết vào những bức tranh về Bác.

Trong tập tranh và ký họa với chủ đề “Uống nước nhớ nguồn” tập hợp hàng trăm bức tranh của ông sáng tác từ xưa đến nay, ngay trang đầu tiên có ghi lời nói của Bác Hồ về Mỹ thuật trong một cuộc triển lãm tranh năm 1958 mà ông đã chép lại cẩn thận. Và ông lấy đó làm kim chỉ nam cho hoạt động sáng tác nghệ thuật của mình.

Ông tâm sự: “Bây giờ có mạnh thường quân nào tài trợ là tôi mở một cuộc triển lãm hoành tráng về Bác Hồ tại Quảng Nam hoặc Đà Nẵng”. Ông bảo đó là giấc mơ cuối đời của mình và “nếu thực hiện xong ý nguyện này có nhắm mắt tôi cũng yên lòng”.

Hơn 40 năm miệt mài vẽ Bác

Ông là Võ Đức Thuận (SN 1948), quê xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hơn 40 năm qua ông miệt mài đi đó đây để sưu tập tranh ảnh của Bác Hồ để phác thảo nên chân dung Người theo cách rất riêng của mình. Giờ đây phòng tranh vẽ chân dung Bác Hồ của ông đã trở thành nơi tham quan lý tưởng và miễn phí cho các em học sinh khắp nơi mỗi khi muốn hiểu về Bác Hồ.

Khi chúng tôi đến nhà thăm, ông Thuận đang vẽ dở bức “Bác Hồ với lá cờ quyết thắng”. Ông “hòa hoãn”: “Các chú chờ tôi chút. Tôi đang thổi hồn vào bức tranh này, có gì lát nữa nói chuyện”. Nói đoạn ông như nhập hồn vào bức tranh, quên bẵng có chúng tôi bên cạnh.

Ông Thuận đang phác họa bức chân dung Bác Hồ với lá cờ quyết thắng. (Ảnh: Duy Thái)

Ông bảo: “Việc làm của tôi chỉ là để mai này con cháu biết để tôn thờ vị cha chung của dân tộc thôi. Tôi vẽ chân dung Bác Hồ mấy hơn 40 năm nay rồi. Tôi làm việc này cho các thế hệ học sinh noi gương Bác Hồ kính yêu…”.

Ông Thuận sinh ra ở cố đô Huế, năm lên 4 tuổi ông theo gia đình ra Nghệ An và sinh sống tại Nam Đàn – quê hương của Bác Hồ. Năm 1957, khi mới tròn 9 tuổi, trong một lần Bác Hồ về thăm quê, ông Thuận được mẹ dẫn đi cùng với nhân dân Nam Đàn đón Bác. Vì còn quá nhỏ, ông không chen lên để nhìn Bác được, ông tiếc lắm, quyết tâm sẽ học tập thật tốt, đạt nhiều thành tích để sau này được gặp Bác Hồ.

Một tác phẩm xúc động về phút lâm chung của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Duy Thái)

“Đề tài về Bác Hồ được rất nhiều văn nghệ sĩ sáng tác nhưng với tôi vẽ chân dung của Bác là một niềm hạnh phúc nhất cuộc đời này. Thứ đến, là tuổi già như tôi phải làm một cái gì đó để truyền dạy cho con cháu sau này hiểu hơn về Bác Hồ”, ông Thuận tâm sự.

Thầy Nguyễn Văn Sơn, phụ trách đoàn đội trường THCS Quỳnh Lập tâm sự: “Hàng năm, vào các dịp lễ lớn như Quốc khánh 2/9, hay như sinh nhật Bác 19/5… nhà trường thường hay tổ chức các em học sinh vào nhà bác Thuận để chiêm ngưỡng những bức chân dung về Bác Hồ. Chính từ phòng tranh về Bác Hồ của bác Thuận đã cho thầy và trò nhà trường chúng tôi nhiều tư liệu quý báu. Đặc biệt, là để các em học sinh rõ hơn về cuộc đời của Bác”.

Bác Hồ về thăm quê (Ảnh: Duy Thái)

Đến nay, trong phòng trưng bày tranh về đề tài Hồ Chí của ông Thuận đã lên đến hàng trăm bức. Mỗi tác phẩm là một nét chấm phá thể hiện phong cách sống của Hồ Chủ Tịch.

Công Bính – Duy Thái

dantri.com.vn

Gặp người đầu tiên được mang họ Bác Hồ

(Dân trí) – “Bốn lần được gặp Bác Hồ, cùng ăn cơm, cùng nói chuyện với Bác cũng là lúc tôi vinh dự được Bác đặt cho họ Hồ” – anh hùng Hồ Đức Vai, người dân tộc Pa Kô, không giấu niềm tự hào.

Anh hùng Hồ Vai chụp ảnh với Bác Hồ năm 1965, Hồ Vai đứng bên phải Bác.

Anh hùng Hồ Đức Vai sinh năm 1940, đến nay vẫn được người dân vẫn âu yếm gọi là người thành lập ra họ Hồ ở thôn Lê Lộc, xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, Thừa Thiên – Huế.

Những năm 1961, 1962, ở mảnh đất Trị Thiên khói lửa, giặc Mỹ tàn phá dã man. Hồ Vai lúc ấy đang là anh du kích của xã, nghe trên đài về những chiến công của Bác, ngưỡng mộ Bác, ơn Đảng, ơn Bác Hồ như suối nguồn chảy mãi không bao giờ cạn. Cũng vì lẽ đó Hồ Vai đã tự nguyện lấy họ Bác Hồ làm họ của mình để thể hiện một long son sắc theo cách mạng.

Năm 1964, anh du kích Hồ Vai (24 tuổi) vinh dự được đi dự Đại hội chiến sĩ Anh hùng thi đua toàn miền Nam tổ chức tại Tây Ninh. Trong số 32 cán bộ chiến sĩ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực Lượng vũ trang có 2 du kích người dân tộc (A Vai, dân tộc Pa Kô tỉnh Thừa Thiên-Huế và Pi Năng Tak, dân tộc Răglai tỉnh Ninh Thuận).

Sau năm 1965 anh hùng Hồ Vai được ra Hà Nội thăm quan, học văn hóa, học sĩ quan lục quân… Anh tự hào là người bốn lần được gặp Bác Hồ, cùng ăn cơm nói chuyện với Bác.

40 năm trôi qua rồi, giờ nghĩ lại, anh hùng Hồ Vai vẫn rơi những giọt nước mắt hạnh phúc. “Điều mà Bác hỏi tôi nhiều nhất là về vấn đề người dân tộc ít người. Thấy tui nói rành mạch, Bác khen”, ông nhớ lại.

Cũng từ lần đầu tiên đó, Bác chính thức đặt tên họ Hồ cho chàng du kích người dân tộc Pa kô là Hồ Đức Vai.

Năm 1968 khi chuẩn bị cho tết Mậu Thân, Hồ Vai trở lại Miền Nam chiến đấu. Ông vận động tuyên truyền cho lực lượng vũ trang tất cả đều bỏ họ mình lấy họ Bác Hồ. “Tất cả có đồng ý không? Đồng ý, đồng ý”. Rồi từ đó họ Hồ đi sâu vào lòng quần chúng nhân dân, cho đến ngày nay chủ yếu là ở các dân tộc thiểu số như: Pa Cô, Tà Ôi, Cà Tu, Pa Hy…

“Ngày xưa chưa có họ Bác Hồ, người dân nơi đây nghèo lắm. Thời đó, đồng bào miền núi sống du canh du cư, săn bắn, hái măng và củ rừng, thiếu cơm lạt muối, dẫn đến đau ốm, bệnh tật, chết dần chết mòn. Ngay cái tên, cái họ của mình cũng được đặt theo tên các loài cây rừng như Ra pát, Pơ loong, Pi siêh, A relơ… Từ ngày có cán bộ, bộ đội lên giúp bà con xây dựng bản làng, đánh đuổi giặc Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dạy cái chữ Bác Hồ, cuộc sống đồng bào mới thoát khỏi cảnh đói nghèo, tăm tối” – Anh hùng Hồ Vai kể lại.

Năm 1969, khi Bác mất, để nhớ ơn Bác, đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Thừa Thiên- Huế đồng loạt mang họ Bác Hồ để tỏ lòng thương kính đối với Bác.

Núi Phấn

dantri.com.vn