VOV.VN-Bài học quý giá đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho công tác xây dựng Nhà nước là khả năng thu phục nhân tâm.
Thư viện
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám được chuẩn bị và lãnh đạo của đảng tiên phong cách mạng
Sống mãi tinh thần Ngày Quốc khánh 2/9
Khi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, lịch sử dân tộc Việt Nam đã bước sang trang mới.
Cách đây 67 năm, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã sang trang mới, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Đó là thành quả cách mạng vĩ đại của tinh thần đoàn kết triệu người như một của dân tộc Việt Nam.
Với những người dân Thủ đô có mặt tại Quảng trường Ba Đình trong Ngày Quốc khánh 2/9/1945, niềm vui ngày đầu được làm người dân tự do không thể nào quên.
Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 (Ảnh tư liệu)
Ông Lê Đức Vân, ở phố Hồng Mai, quận Hai Bà Trưng người được chứng kiến giây phút lịch sử ngày ấy xúc động nhớ lại: “Không khí 2/9 đón mừng độc lập, mọi người hân hoan, đón mừng Chính phủ và tuyên bố độc lập. Đó là lần đầu tiên người dân được nhìn thấy Cụ Hồ. Ngày 2/9, cả Hà Nội tưng bừng, mọi người làm cổng chào, may cờ, có nhà may 3 cái cờ, rồi học hát Tiến quân ca, học hát Diệt phát xít, toàn dân phấn khởi vì đất nước được giải phóng”.
Bà Ngô Thị Kim Hảo (xã Chí Linh, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) giờ tuổi đã 90. Nhưng cứ đến dịp 2/9, bà lại kể cho con cháu nghe về những ngày tham gia cách đây 67 năm về trước: “Không thể tưởng tượng được, khí thế hừng hực khi đó. Suốt ngày chúng tôi ở đình làng, tập hát, tập bắn súng. Thanh niên tập trung múa hát những bài cách mạng mới, tập quân sự”.
Ngày 2/9/1945 trở thành mốc son trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc. Đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đây, một kỷ nguyên mới đã mở ra cho dân tộc Việt Nam. Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
67 năm qua, ý Đảng, lòng dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, con tàu cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn để vượt trùng khơi. 67 năm ấy, tình đoàn kết muôn người như một đã giúp Việt Nam làm nên chiến thắng hai đế quốc hùng mạnh và đang khẳng định vị thế Việt Nam ngày càng cao trên trường quốc tế. Bài học đoàn kết ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng đất nước hôm nay. Đặc biệt, khi toàn Đảng, toàn dân đang quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định: “Sự kiện 2/9 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập, xác lập nền Dân chủ cộng hòa, không chỉ chấm dứt chế độ đô hộ của phát xít, thực dân pháp mà còn chấm dứt chế độ phong kiến, đưa đất nước Việt Nam sang thời kỳ lịch sử mới – đó là nền Dân chủ cộng hòa – để từ sức mạnh của một quốc gia độc lập ấy mà chúng ta tiếp tục cuộc kháng chiến giữ nước để bảo vệ thành quả cách mạng”.
Cũng theo nhà sử học Dương Trung Quốc, với bài học to lớn về ý chí của toàn dân, tầm sáng suốt của người lãnh đạo cũng nhắc nhở tới sự kiện mà chúng ta tiến hành đó triển khai Nghị quyết Trung ương 4, trong đó, lấy con người là yếu tố quan trọng nhất.
Tổ quốc Việt Nam đã độc lập, tự do. Khát vọng hòa bình và tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 mãi mãi khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi con người Việt Nam và đây là nguồn động viên lớn để khơi dậy lòng nhiệt huyết của thế hệ hôm nay quyết giữ vững nền độc lập tự do./.
Theo Thu Hằng/VOV
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn
Kỷ niệm Bác trong nhà lao Phú Quốc
Ở Trại giam đến ngày 5/9/1969, chúng tôi được tin Bác qua đời, do một sĩ quan quân cảnh Phú Quốc cho biết. Hôm ấy nó bảo chúng tôi:
– Này anh có gặp Cụ Hồ chưa?
– Chưa! Tôi trả lời nó vậy, vì tưởng nó giở trò.
– Cụ Hồ có còn đâu để mà gặp, Cụ chết rồi!
– Ông nói giỡn đấy chớ?
Thiệt chớ giỡn gì các anh. Thôi cứ đi làm đi rồi sau sẽ biết.
Hôm ấy chúng tôi cũng không tin, cho rằng bọn này hay xuyên tạc. Nhưng hôm sau, hình như bọn chúng cố ý đánh rơi một mẩu báo “Tiền tuyến” của Quân đội Sài Gòn. Trong bài báo đó có đưa tin Bác mất. Cả mấy chục nước trên thế giới trong đó có: Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Campuchia, Lào… đến dự Lễ tang. Tuy đã cụ thể như vậy, nhưng chúng tôi vẫn chưa tin. Mãi đến ngày 26/9/1969, anh em ở ngoài chẳng may bị bắt vào kể lại, chúng tôi mới tin là thật. Lâu nay, bọn giặc vẫn thường xuyên phao những tin thất thiệt để làm nao núng tinh thần tù nhân.
Lần này biết Bác “trǎm tuổi” rồi, chúng tôi báo cho nhau, bằng cách truyền đi các trại và chuẩn bị tư tưởng, xây dựng tinh thần. Vì nhiều anh em nghe Bác mất buồn lo, khóc cả ngày. Khóc thì tất cả anh em đều khóc Bác, thương Bác vô vàn. Nhưng chúng tôi phải nén lòng, giải thích cho anh em: Bác như cây đại thọ. Cây đá còn phải héo mòn, con người ở trên đời phải qua quy luật “sinh lão, bệnh tử”. Bác thân yêu của chúng ta đã già, đời Bác gian nan nhiều, vào tù ra tội, Bác sống đến 79 mùa xuân đã vĩ đại lắm rồi! Bác mất đi nhưng còn Đảng, còn những người bạn chiến đấu của Người như Bác Tôn, các đồng chí: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Vǎn Đồng.., do Bác đào tạo sẽ kế tục Bác… Chúng tôi phải làm một buổi học tập như vậy, rồi lo tổ chức tang lễ Bác… Nói là tang lễ, nhưng thật ra trong tù chỉ hai bàn tay trắng, có khi còn bị xích, bị gông làm gì có điều kiện, có phương tiện tổ chức.
Sáng hôm 30 tháng 9 không như thường lệ, bọn cai ngục gọi ra điểm danh. Mọi bận chúng tôi vẫn ǎn mặc tả tơi, rách nát nhưng hôm đó, chúng tôi cǎn dặn nhau tìm cách khâu vá quần áo lại cho tương đối lành lặn. Chúng tôi dậy sớm lắm, tập hợp đông đủ cả Đ6 có đến hơn 900 đồng chí, mà không thiếu một ai. Tất cả đều để đầu trần. Thường ngày anh em có khǎn thì bịt đầu, có cái nón rách thì đội. Một phần che nắng, nhưng cũng chính là để đỡ đòn. Có nhiều khi roi đòn chúng bổ từ đầu bổ xuống. Nǎm 1969 là nǎm Phú Quốc đổ máu nhiều nhất, cho nên chúng tôi phải tổ chức rất âm thầm, nhưng phải trang nghiêm chu đáo. Từng hàng, từng dãy ngồi im phǎng phắc. Chúng tôi đưa ám hiệu, lập tức 917 người trừ vài đồng chí ốm nặng không lê chân đi được, còn tất thảy đều có mặt ở sân, đều ngồi im. Mọi bận giờ điểm danh, chúng tôi phá bằng cách giả vờ cãi cọ ồn ào, chửi bới ồn ào, chửi mắng lung tung. Nhưng hôm nay im ắng lạ thường. Tên Trung sĩ quân cảnh thấy vậy, nó hí hửng cho là chúng tôi “tiến bộ” bị đòn roi nhiều không còn “bất trị” nữa, nên cũng chẳng để ý gì. Sau ba phút yên lặng mặc niệm Bác như vậy, chúng tôi lần lượt giải tán có trật tự và về trại. Chúng tôi có tổ chức treo cờ. Cờ làm bằng vải áo chắp lại. Màu đỏ bằng đá son mài ra, màu xanh bằng lá cây, còn sao vàng bằng thuốc ký ninh chữa sốt rét. Đồng chí K nói về tiểu sử Hồ Chủ tịch, về quê quán, về gia đình. Cụ Phó bảng Sắc, thân sinh ra Bác. Bác sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, một gia đình có truyền thống đấu tranh ở một địa phương mà nhân dân đã anh dũng chống ngoại xâm… Rồi những gian nan của người khi người rời bến cảng Sài Gòn đi tìm con đường cứu nước… Tiểu sử Bác thì ai ai cũng có biết ít nhiều. Nhưng hôm ấy, không khí thiêng liêng kính cẩn nên anh em đều rơm rớm nước mắt…
Nhiều anh em đọc thơ Bác, thơ trong “Ngục trung nhật ký”. Có đồng chí biết chữ Hán còn ngâm:
Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại
Dục thành đại sự nghiệp
Tinh thần cánh yếu đại.
(Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao)
Những anh em nào biết chuyện gì về quá trình đấu tranh làm cách mạng của Bác thì cứ nǎm, ba người kể cho nhau nghe.
Có anh em đọc những bài thơ về Bác của nhà thơ Tố Hữu.
Bác Hồ, cha của chúng con
Hồn của muôn hồn
Cho con được ôm hôn má Bác
Hôn chòm râu mát rượi hòa bình!
Ôi cái tên kính yêu Hồ Chí Minh!
Trong sáng lòng anh xung kích…
Anh em trong Trại lại nhắc nhở nhau học tập và làm theo lời Bác. Dù cho bị tra tấn tàn nhẫn, dù cho thịt nát, xương mềm, lòng anh em chiến sĩ trong tù vẫn sắt son cùng Mặt trận, cùng Cách mạng. Chúng tôi nói chuyện về Bác, kể cuộc đời đấu tranh của Bác gần như công khai, bọn cảnh binh nghe cũng làm lơ đi. Có viên Trung sĩ P, có cảm tình với cách mạng, gặp chúng tôi, nó nói thiệt:
– Khi nào thống nhất, nhất định tôi sẽ về quê (quê anh ta đâu ở Hải Hưng thì phải). Và trước tiên, tôi sẽ xin đến thǎm Lǎng cụ Hồ, thắp hương dâng cụ.
Và từ sau khi “đánh hơi” biết chúng tôi có cuộc vận động làm theo “Di chúc của Bác” viênTrung sĩ P thường giúp đỡ anh em tù binh thực hiện chương trình. Cai ngục sắp lục soát anh ta tin cho biết trước để cất giấu tài liệu. Hoặc bọn quân cảnh đánh anh em tù binh, thì anh ta can ngǎn và dọa bọn nó:
– Này chúng mày phải nhìn hậu quả chứ! Nay mai Mỹ rút thì liệu thân đó?
Lòng yêu thương kính trọng Bác Hồ của anh em trong tù Phú Quốc cũng cảm hóa phần nào kẻ địch. Ngay những tên ác ôn, cũng ít thằng nào dám nói động đến Bác Hồ. Còn đối với những anh chị em tù chúng tôi, hình ảnh Bác Hồ là chỗ dựa tinh thần vững chãi cho mình, những lúc yếu mềm, đấu tranh gian nan. Vì như nhà thơ Tố Hữu viết:
Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn
Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi
Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.
(Ghi theo lời Bác Tám Cẩn)
Theo bacho.camau.gov.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn
“Tri nhân, tri kỷ” trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước, ông cha ta đã nhiều lần đánh bại quân xâm lược phong kiến phương Bắc, giành lại độc lập dân tộc, giữ yên bờ cõi. Đó là thắng lợi của tinh thần đoàn kết, của nền văn hoá nhân văn cao cả “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” mà tư tưởng xuyên suốt là “tri nhân, tri kỷ” – “biết người, biết ta trăm trận trăm thắng”. Cùng với chiến thắng ấy là sự ra đời của những áng “thiên cổ hùng văn” tuyên bố về nền độc lập dân tộc, khẳng định chủ quyền quốc gia. Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự tiếp nối tinh thần cốt lõi của các bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc và phát huy truyền thống “tri nhân, tri kỷ” lên tầm cao thời đại Hồ Chí Minh, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi là kết quả của 15 năm chiến đấu kiên cường và bền bỉ của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Kết quả ấy được thể hiện bằng hình ảnh cả dân tộc Việt Nam muôn người như một dâng lên như nước thuỷ triều để “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, đã làm nên thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả ba miền Tổ quốc. Sáng ngày 26-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, tại số nhà 48 phố Hàng Ngang trong gia đình ông Nguyễn Văn Bô, Người đã triệu tập và chủ trì cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng. Trong số các quyết định quan trọng, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh để Chính phủ Lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào và tuyên bố với thế giới về một nước Việt Nam chính thức ra đời.
Đây là thời điểm vô cùng khó khăn. Bọn đế quốc đã cấu kết với nhau, chuẩn bị chiếm lại nước ta. Quân đội quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch tiến vào từ phía Bắc, đằng sau là đế quốc Mỹ. Quân đội Anh tiến vào từ phía Nam, đằng sau là lính viễn chinh Pháp. Lúc này thực dân Pháp tuyên bố: Đông Dương là đất “bảo hộ” của người Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, Đông Dương đương nhiên thuộc về người Pháp. Trước tình hình đó, hơn ai hết, người viết bản “Tuyên ngôn Độc lập” thừa hiểu rằng “mâu thuẫn giữa Anh – Mỹ – Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương như nhận định của Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 15-8-1945. Vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào Việt Nam và thế giới về sự ra đời của một quốc gia dân chủ cộng hoà đầu tiên ở Châu Á mà còn thể hiện độc lập chủ quyền, cơ sở pháp lý của đất nước độc lập, tự do để “hiên ngang” đón quân Tưởng và quân Anh vào giải giáp quân Nhật.
Mở đầu Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam, Bác Hồ đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp năm 1789: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng và quyền lợi. Sự khác biệt xã hội chỉ có thể được thiết lập trên cơ sở lợi ích chung. Mục đích của mọi tổ chức chính trị là việc bảo toàn các nguồn lợi thiên nhiên và bảo toàn các quyền con người không thể bị tước bỏ. Các quyền đó là tự do, tài sản, sự an toàn, và quyền được chống lại mọi sự áp bức”.
Việc trích dẫn này của tác giả “Tuyên ngôn Độc lập” một mặt đề cao tư tưởng chính trị chứa đựng trong những lời trích dẫn “bất hủ” và “là những lẽ phải không ai chối cãi được” ấy đã phải đánh đổi bao xương máu, nước mắt của nhân dân Mỹ, nhân dân Pháp. Mặt khác, Người thừa nhận “chân lý cao cả” này không chỉ trường tồn trong lịch sử hai nước như những trang vàng mà còn được toàn nhân loại biết đến. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án hành động xâm phạm, áp bức các dân tộc, chà đạp nhân quyền Việt Nam gần một thế kỷ là hành động phi pháp, phi đạo lý và phi văn hóa của “nước mẹ”. Cách sử dụng thủ thuật “gậy ông đập lưng ông” không chỉ thể hiện sự khéo léo, tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mỹ mà là còn kiên quyết, nhắc nhở họ đừng phản bội lại tổ tiên mình, đừng “vấy bùn” lên lá cờ nhân đạo, tự do, bình đẳng, bác ái mà các cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mỹ phải đánh đổi biết bao hy sinh mới giành được! Đây cũng chính là luận cứ, lý lẽ quan trọng để Bác đi đến kết luận: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, là “những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Cụm từ “suy rộng ra” của Bác được rút ra từ luận cứ và lí lẽ “bằng vàng” trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, nhưng đó lại là “sự bổ sung rất trí tuệ của Bác: Với cuộc đời của dân tộc mình và cuộc đời của biết bao dân tộc bị đoạ đày khác, Bác đã đưa ra một sự bổ sung vĩ đại, góp phần xoá bỏ một vết nhơ nhục nhã trong lịch sử loài người”. Để từ đó, hồn thiêng sông núi Việt Nam một lần nữa “vút cao” vang dậy trong Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố đanh thép với thế giới về nền độc lập dân tộc, đồng thời tố cáo chủ nghĩa thực dân Pháp đã trắng trợn chà đạp lên những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc Việt Nam bằng khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”, với chiêu bài “khai hóa văn minh” để xâm lược Việt Nam, áp bức đồng bào ta, đầu độc nhân dân ta, kìm hãm dân tộc ta trong sự bần cùng, suy nhược, đẩy nòi giống ta vào thảm họa diệt vong. Đó là hành động “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.
Bằng thực tiễn xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ vạch trần sự áp bức tàn bạo của bọn thực dân, phát xít về mọi mặt. “Về Chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta…”. Về văn hóa, chúng “thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược…”. Về kinh tế, “chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy…”… mà còn ca ngợi sự gan góc, dũng cảm của nhân dân Việt Nam đứng về phe Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít, giành lại quyền độc lập dân tộc. Trong cuộc chiến đấu ấy, thực dân Pháp đã không những không cùng với Việt Minh đứng về phe Đồng minh chống lại chủ nghĩa phát xít, không những “không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng. Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Chính vì những lẽ đó, dân tộc Việt Nam “phải được tự do”, “phải được độc lập!”. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”. Dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng quyền tự do và độc lập, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời là hợp với công lý và lẽ phải!
Từ những chứng cứ về tội ác của kẻ thù, Tuyên ngôn độc lập ra đời giữa sự khao khát độc lập, tự do của 25 triệu đồng bào và lòng yêu nước cháy bỏng, lý tưởng cao cả của Hồ Chí Minh. Mặt khác, Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vang lên trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945 đã đánh một đòn phủ đầu mạnh mẽ vào âm mưu trắng trợn của các kẻ thù đang có mặt trên đất nước ta, hòng cướp chính quyền cách mạng còn non trẻ, trong số đó, đặc biệt phải kể đến âm mưu của thực dân Pháp, chúng đã chuẩn bị mọi mặt để quay lại xâm lược nước ta lần nữa. Tuyên ngôn còn thể hiện tầm nhìn xa, sự nhạy cảm về chính trị và thông hiểu về thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn ai hết, Người hiểu rằng giành được nền độc lập, quyền tự do, tự quyết cho dân tộc đã khó, nhưng để nền độc lập đó được tất cả các nước thừa nhận, tôn trọng còn khó hơn. Vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập một lần nữa khẳng định giá trị nhân quyền của người dân Việt Nam, đồng thời nêu lên giá trị nhân văn của Nhà nước đối với bè lũ cướp nước và bán nước, vạch trần tội ác của phát xít Nhật, tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp”, tố cáo ý định quay trở lại Việt Nam của chúng và những kẻ thù chưa lộ mặt. Điều này chứng tỏ, Hồ Chủ tịch là con người của lịch sử, của những quyết sách lịch sử, là người lãnh đạo luôn “biết người, biết mình” trong mọi quyết sách lịch sử của dân tộc.
Tuyên ngôn độc lập không chỉ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà mà còn là văn bản pháp lý đặt cơ sở cho việc thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, ban hành Hiến pháp – đạo luật gốc, giữ vai trò như “thần linh pháp quyền” trong việc chi phối và điều hành mọi quan hệ xã hội. Vì vậy, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh đã đề nghị với Chính phủ 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong đó nhiệm vụ cấp bách thứ ba là soạn thảo và ban hành Hiến pháp. Hình ảnh lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử dân tộc “tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống” đều có quyền sử dụng lá phiếu của mình để bầu ra bộ máy nhà nước “của dân, do dân và vì dân” trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội diễn ra vào ngày 6-1-1946, là cơ sở pháp lý nền tảng cho việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp năm 1946. Hiến pháp năm 1946 trịnh trọng tuyên bố: “Với tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân loại”. Hiếp pháp năm 1946 thể hiện đầy đủ tư cách Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, để tiếp tục đấu tranh giữ vững nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
Việc nhân dân bầu ra được bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở, được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật không chỉ là cơ sở quan trọng để Đảng ta vạch ra đường lối chiến lược, sách lược hoà hoãn với kẻ thù, từng bước chuẩn bị mọi mặt, đưa cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà dân tộc ta không thể tránh khỏi mà còn tạo ra một bộ máy nhà nước vững mạnh đủ sức tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thu non sông về một mối, đưa đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Ngày nay, trước mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù đã và đang ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới ở nước ta, chúng ta cần phải nhận thức đầy đủ hơn về đối tượng và đối tác trong quá trình hợp tác và phát triển; phải biết tận dụng triệt để đối tác để đấu tranh với đối tượng và có sách lược mềm dẻo để biến đối tượng thành đối tác. Đặc biệt, vấn đề tranh chấp trên biển Đông ngày càng nóng lên, trong đó có liên quan đến chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải tiếp tục kế thừa và phát huy tư tưởng “tri nhân, tri kỷ” trong Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tầm cao mới. Một mặt, Việt Nam sẵn sàng hợp tác cùng phát triển với Trung Quốc và các đối tác ở những khu vực thực sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế quy định, mặt khác, kiên quyết phản đối các hoạt động sai trái của Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam ở hai quần đảo này, đi ngược lại tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông ký năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc và Công ước Luật biển năm 1982, làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp. Ngày 21-6-2012, trong kỳ họp thứ ba (khóa XIII), Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Biển Việt Nam. Đây không chỉ thể hiện cách ứng xử khôn khéo của Đảng và Nhà nước ta mà còn là cơ sở pháp lý, chứng cứ xác thực để Việt Nam tuyên bố với thế giới về độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. Các đảo này là một phần “máu thịt” không thể tách rời của dân tộc Việt Nam đã được Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Công ước Luật Biển năm 1982 thừa nhận./.
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn
Để tang Bác trong tù
Ông Hoàng Thanh Thụy và tập hồi ký “Những ngày tù ngục”.
Chuyện đã xảy ra hơn bốn thập kỷ, nhưng cứ mỗi khi thu về, Hoàng Thanh Thụy, Phó chủ tịch Hội Tù yêu nước thành phố Đà Nẵng lại bần thần nhớ đến buổi sáng Truy điệu Bác trong Nhà tù Hố Nai (Biên Hòa, Đồng Nai).
Biên Hòa những ngày đầu thu năm 1969, mưa triền miên, rả rích. Bầu trời như ang nước khổng lồ, sẵn sàng chụp xuống “Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam” Hố Nai, nơi có phòng “Biệt giam số 7” nổi tiếng vào bậc nhất nhì về đối xử hà khắc, tàn bạo với người tù của chính quyền Sài Gòn. Màn đêm buông xuống căn phòng khi ngoài trời vừa mới nửa chiều. Ngọn đèn điện mắc ở giữa phòng bám đầy bụi và mạng nhện, ánh sáng tỏa ra le lói như đom đóm càng tăng thêm sự ướt át, nhớp nháp và lạnh lẽo.
Gần một tuần lễ trôi qua, vết thương ở chân sưng tấy, đau nhức tận óc, người ngây ngấy sốt, Hoàng Thanh Thụy không ăn uống gì được. Địch cũng không cho ra ngoài khám bệnh, xin thuốc. Tên Thượng sĩ Giám thị trưởng và lũ đàn em, mỗi lần bước vào Trại là mặt đằng đằng sát khí, mắt láo liên soi mói. Hôm ấy, Thụy đang ngồi bên cửa sổ, nép mình để tránh những luồng gió lâu lâu lại hắt vào, nhìn ra ngoài trời suy nghĩ mông lung. Bất chợt, tù nhân tên Thái từ đầu phòng kia tới, vừa đi vừa nói đủ cho anh nghe: “Ra phía sau nhà bếp, chú Hai gặp có việc gấp”. Thụy vội cắp đôi nạng gỗ đi ra. Tên Giám thị chặn lại trước cửa phòng hỏi: “Đi đâu?”. “Đi cầu”, anh trả lời điềm tĩnh. Hắn nói như ra lệnh: “Lẹ lên!”.
Anh bước ra khỏi phòng, mắt kín đáo quan sát xem có tên nào bám theo không và nhanh chóng nhảy lò cò đến điểm hẹn. Lúc ấy, ở nhà bếp rất đông người, kẻ lấy nước, người khiêng cơm. Anh Hai, tên thật là Lê Phước Hải – nguyên Bí thư Chi bộ thôn Châu Sơn, xã Điện Tiến (Điện Bàn, Quảng Nam), đang lui cui nướng cơm cháy trước cửa lò. Bấy giờ, anh em trong tù hay lấy cơm cháy đốt thành than để pha nước uống, chữa đau bụng. Biết ý, Thụy bước nhanh lại chỗ anh Hai và lắng nghe: “Bình tĩnh! Bác Hồ mất rồi”. Anh sững sờ, choáng váng, tay chân rã rời, tưởng như đang trong cơn ác mộng. Hiểu tâm trạng của người đồng chí, Lê Phước Hải nhắc lại: “Bình tĩnh” và dặn thêm: “Thông báo cho tất cả đảng viên được biết, còn đối với anh em quần chúng thì để chậm lại một vài hôm. Nhưng phải chủ động làm công tác tư tưởng, đừng để xảy ra hoang mang, địch lợi dụng. Có gì sẽ gặp lại”. Anh Hai kín đáo bắt tay Thụy. Anh hiểu ý nghĩa của cái bắt tay ấy. Sau đó, Lê Phước Hải cầm mấy miếng cơm cháy trở về phòng “biệt giam số 5”. Hoàng Thanh Thụy cắp đôi nạng gỗ nhảy lò cò trở về phòng, lòng nặng trĩu âu lo. Tuy nhiên, anh vẫn cố gắng giữ cho được nét mặt bình thường vì ý thức rõ trách nhiệm của mình lúc này.
Tin Bác mất đã làm cho không khí trong Nhà lao như chùng hẳn. Nhiều người đau đớn quá bỏ cả ăn. Đêm đêm, tiếng trở mình kèm theo hơi thở nặng nhọc gieo vào không gian tĩnh lặng càng làm cho không khí thêm não nề. Nếu kéo dài tình trạng này thì không ổn, dễ ảnh hưởng đến tinh thần đấu tranh chung, Hoàng Thanh Thụy nhanh chóng bàn bạc với các đảng viên khẩn trương vận động anh em sớm ổn định tư tưởng, đưa mọi hoạt động trở lại bình thường. Sáng 5-9-1969, Hoàng Thanh Thụy nhận được chỉ thị từ đồng chí Sáu – Bí thư chi đoàn, ra giếng nước có việc gấp. Anh xúc động khi nhìn thấy đồng chí Tứ – Bí thư chi bộ, quê ở Điện Nam (Điện Bàn, Quảng Nam) đang múc nước để rửa chân. Thụy hiểu ý, đến gần hỏi mượn cái gầu, Tứ tranh thủ nói luôn: “Sáng mai, khi nghe kẻng điểm danh, anh em ta nhanh chóng ra hết ngoài sân sớm hơn mọi hôm mươi phút. Khi có tiếng hô “Đứng”, anh em ta lập tức đứng dậy nghiêm trang cúi đầu quay mặt về hướng Bắc. Ta làm Lễ Truy điệu Bác trước khi chúng điểm danh. Nhớ thường xuyên củng cố tinh thần anh em”.
Hôm sau, tức ngày 6-9-1969, mọi việc đã diễn ra đúng như dự kiến của ta. Khi bọn Giám thị, quân cảnh còn đứng lố nhố ngoài cổng Trại giam thì hơn một nghìn người tù trong sân đã làm cái chuyện mà chúng không tài nào biết được, nghĩ tới được. Chúng trố mắt nhìn nhau ngơ ngác, bất lực. Tên H., Giám thị trưởng như đỉa phải vôi, cứ đi đi lại lại, miệng lẩm bẩm chửi thề, nhưng không dám bước vào sân. Tên Thiếu tá Chỉ huy trưởng Trại giam lúc đó cũng vừa tới, thấy hiện tượng lạ, y dừng lại hỏi. Không biết tên Trung sĩ Giám thị nói gì mà y lắc lắc cái đầu có vẻ thất vọng và bước thật nhanh về chỗ làm việc.
Câu chuyện để tang Bác trong tù đã khắc ghi trong tâm khảm những người tù yêu nước tại Nhà lao Biên Hòa năm ấy. Đối với ông Hoàng Thanh Thụy, đó là những trang viết ông dành nhiều tâm huyết nhất khi ông tham gia tuyển tập hồi ký “Những ngày tù ngục”.
Nguyễn Sỹ Long
Theo Qdnd.com.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn
Bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Sainteny
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, chính quyền nhân dân được thành lập, đảm nhiệm sứ mạng lãnh đạo toàn dân đấu tranh bảo vệ nền độc lập vừa giành được và từng bước kiến thiết đất nước. Nhưng, ta vừa giành được chính quyền lại đứng trước nguy cơ mất chính quyền, vận mệnh dân tộc chẳng khác nào: “Ngàn cân treo sợi tóc”. Nguy cơ chính của chúng ta chính là chủ nghĩa thực dân Pháp đang lăm le quay trở lại tái lập chế độ thuộc địa trên bán đảo Đông Dương.
Chỉ vài ngày sau cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội thành công, Jean Sainteny đáp nhờ máy bay của người Mỹ đã hạ cánh xuống Hà Nội với nhiệm vụ khôi phục quyền lực của nước Pháp. Sainteny vốn là một Thiếu tá tình báo cầm đầu mạng lưới tình báo, gián điệp chống phát xít Nhật hoạt động ở Côn Minh (Trung Quốc) năm 1945, rồi được Chính phủ Pháp cử làm đại diện chính thức ở Bắc bộ vào đầu năm 1946. Trên cương vị này, Sainteny có nhiều cuộc gặp gỡ và trao đổi với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian tiến hành cuộc đàm phán Pháp – Việt và ngày 6/3/1945 đã cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên vào bản Hiệp định sơ bộ, mở đầu cho quan hệ giữa 2 nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Cộng hòa Pháp. Ông cũng tháp tùng Phái đoàn Việt Nam sang đàm phán tại Hội nghị Fontainebleau và chuyến viếng thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pháp từ ngày 24 tháng 4 đến ngày 19 tháng 9 năm 1946.
Trước sự lấn tới của thực dân Pháp, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, mở đầu cho cuộc kháng chiến trường kỳ, oai hùng chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Trong tình hình vô cùng khẩn trương buổi đầu kháng chiến, vượt qua những khó khăn về thông tin liên lạc quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà, bằng mọi con đường và phương tiện có thể được, đã kiên trì đấu tranh ngoại giao nhằm tố cáo bọn thực dân hiếu chiến, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, vu cáo của chúng, đề cao chính nghĩa và thiện chí của ta, tranh thủ dư luận, trước hết là dư luận ở Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng bày tỏ với Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Pháp nguyện vọng của Việt Nam, mong muốn vãn hồi hoà bình. Khả năng này rất mong manh, nhưng tinh thần của chúng ta là “còn nước còn tát”. Với tinh thần đó, từ ngày 19/12/1946 đến đầu tháng 3 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 8 lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp, phân tích nguyên nhân nổ ra xung đột và đề ra những biện pháp chấm dứt chiến sự, nối lại đàm phán Việt – Pháp.
Bức thư mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết gửi cho Sainteny ngày 24/2/1947 cũng nằm trong những nỗ lực đề cao chính nghĩa và thiện chí của ta, bày tỏ nguyện vọng hoà bình của dân tộc ta, tranh thủ sự đồng tình của dư luận, trước hết là dư luận Pháp đối với cuộc chiến tranh chính nghĩa của chúng ta.
Tài liệu này chưa được đăng trong Hồ Chí Minh toàn tập, bộ 12 tập do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1995-1996 và các lần tái bản năm 2000, 2002. Tuy nhiên tài liệu này đã được in trong cuốn sách của Jean Saiteny có nhan đề là Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ do Nhà xuất bản Công an Nhân dân xuất bản năm 2004.
Xin trân trọng giới thiệu tư liệu này với bạn đọc.
Thư gửi ông Sainteny
Bạn thân mến,
Tôi vừa nhận được tin ông sắp trở về Pháp. Tôi gửi tới ông và bà Sainteny những lời chúc lên đường bình an và sức khoẻ tốt.
Tôi tin chắc rằng, cũng như tôi, ông rất tiếc công việc chung vì hoà bình của chúng ta đã bị phá huỷ bởi cuộc chiến tranh này. Tôi đã hiểu ông khá rõ để nói với ông; là ông không phải chịu trách nhiệm về chính sách vũ lực và tái chinh phục này.
Vì vậy, tôi muốn được nhắc lại với ông, mặc dù mọi việc đã xảy ra, giữa ông và tôi, chúng ta vẫn còn là bạn. Và tôi cũng có thể khẳng định với ông, nhân dân hai nước chúng ta cũng vẫn là bạn của nhau.
Đã xảy ra khá nhiều chết chóc và tàn phá! Ông và tôi, chúng ta phải làm gì bây giờ? Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, lập tức những cuộc xung đột sẽ ngừng, hoà bình và niềm tin cậy lẫn nhau sẽ trở lại, chúng ta sẽ lại có thể bắt tay vào công việc xây dựng lại vì lợi ích chung của hai nước chúng ta.
Về phần tôi, tôi sẵn sàng cộng tác vì hoà bình, một nền hoà bình chính đáng và danh dự cho hai nước chúng ta. Tôi mong rằng, về phía ông, ông cũng sẽ làm việc theo hướng đó.
Chúng ta hãy cùng cầu mong Thượng đế ban cho chúng ta sự thành công.
24/2/1947
Người bạn tận tụy của ông
HỒ CHÍ MINH
Theo ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn
Thư Bác Hồ gửi quê hương sau Cách mạng Tháng Tám
Đúng ngày 19/5/1945, Ngày sinh Bác Hồ, Ban Vận động Việt Minh liên tỉnh Nghệ – Tĩnh ra đời tại Thành phố Vinh. Và đến ngày 8/8/1945, Việt Minh liên tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu tại làng Châu Sơn, xã Phúc Mỹ (nay là xã Hưng Châu, huyện Hưng Nguyên), chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, bầu ra Ban Chấp hành Chính phủ Việt Minh liên tỉnh.
Ngày 16 tháng 8, nhân dân xã Thanh Thủy của huyện Nam Đàn giành chính quyền. Tiếp theo là các làng xung quanh Vinh vào ngày 17 tháng 8 như Yên Dũng, Lộc Đa… Quỳnh Lưu là huyện đầu tiên của Nghệ An giành chính quyền cấp huyện thắng lợi vào ngày 18 tháng 8. Đúng 12 giờ trưa ngày 21 tháng 8, các lực lượng cách mạng kéo đến bao vây Dinh tỉnh trưởng. Tỉnh trưởng là Đặng Văn Hướng ra hàng. Đại diện Ủy ban cách mạng lâm thời Nghệ An, tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, thiết lập chính quyền mới và cổ vũ quần chúng giúp đỡ giữ gìn an ninh thành phố, góp phần bảo vệ chính quyền còn non trẻ. Cuộc khởi nghĩa ở Vinh thắng lợi tạo đà thúc đẩy nhanh chóng việc giành chính quyền các huyện còn lại…Như vậy, chỉ trong vòng 9 ngày, từ ngày 18 đến ngày 26 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa ở Nghệ An đã đi tới thắng lợi hoàn toàn.
Ở Nghệ An, ngay sau cao trào cách mạng mùa Thu năm ấy, có một sự kiện không phải ai cũng biết tới: Với bút danh Hồ Chí Minh, Bác có “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”. Bức thư chưa đầy 900 chữ, đề ngày 17/9/1945, viết tại Hà Nội, lấy danh nghĩa của một đồng chí già, mục đích là để san sẻ ít kinh nghiệm với các đồng chí quê mình. Thư gồm 4 mục nhỏ, đánh số rõ ràng nhằm chuyển tải 4 nội dung của người viết:
– Ý nghĩa rất to lớn của cuộc cách mạng dân tộc;
– Lý giải vì sao cuộc cách mạng thắng lợi;
– Sự nghiệp kiến thiết xây dựng xã hội mới sau khi giành chính quyền;
– Cuối thư, lại là phần dài nhất, đậm nhất Bác nêu những khó khăn cần giải quyết, phải “vừa làm vừa học, cái chính là theo cho đúng chính sách của Chính phủ ban hành. Được như thế thì khó khăn gì cũng sẽ vượt qua!”.
Chính sách của Chính phủ ngay sau giành chính quyền, theo Bác rút lại chỉ trong có 2 công việc: Củng cố đoàn kết và sửa chữa khuyết điểm. Sức mạnh đoàn kết dân tộc, ai cũng rõ rồi. Nhưng nêu rõ ra và yêu cầu sửa chữa những khuyết điểm trên nhiều phương diện của cán bộ, đảng viên, nhân dân lúc bấy giờ thì không phải ai cũng đều quán triệt. Những khuyết điểm đó, cụ thể ra là thói bao biện, hẹp hòi; lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; một số việc làm xấu xa như lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán, dùng phép công để báo thù tư…
Tất cả khiến dân chúng hoang mang, nền đoàn kết bị lung lay, uy tín của Chính phủ và đoàn thể bị ảnh hưởng xấu. Giành được chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều. Nhận thức sâu sắc quy luật này, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào đồng chí ở tỉnh nhà phải lập tức sửa đổi ngay. Bác chỉ rõ, không sợ có khuyết điểm, chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi khuyết điểm, sợ không có tấm lòng chí công vô tư với dân với nước!
Như vậy, chỉ nửa tháng sau ngày 2/9/1945 Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, nhân dân và cán bộ tỉnh Nghệ An quê Bác nhận được bức thư vừa giàu tình cảm, vừa chứa đựng những lời chỉ bảo thiết thực mà vô cùng hệ trọng của Người. Hơn 6 thập kỷ trôi qua, những ngày mùa Thu này, thông điệp trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” vẫn còn giữ nguyên sức thuyết phục và tươi mới. Nên nhớ, ở cuối bức thư, Bác Hồ viết thêm một dòng này: “Trong công tác, có vấn đề gì khó giải quyết, các đồng chí cứ viết thư thảo luận với tôi, tôi rất sẵn sàng giúp ý kiến”. Bác như luôn chờ đón những hồi âm từ phía nỗ lực của chúng ta vậy?!
Theo Baonghean.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn
Những hồi ức về một mùa thu
Cụ Vi Văn Định với con cháu và các con rể (GS Hồ Đắc Di – hàng đầu, bên phải và GS Nguyễn Văn Huyên – hàng sau, bên trái) ở vùng Ngòi Quẵng, Chiêm Hóa, Tuyên Quang
TTCT – Chính ngọn cờ đại nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lôi cuốn được trăm ngàn nhân sĩ, trí thức dấn thân, bền chí đi theo con đường cách mạng gian khó, hiểm nguy.
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, cụ Phan Kế Toại giữ chức khâm sai đại thần, làm việc tại Bắc Bộ phủ. Người con trai cụ Toại là anh Phan Kế An, sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tham gia phong trào sinh viên cứu quốc, thường bí mật tìm mua vũ khí cho Việt Minh rồi cất giấu trong nhà cụ ở làng Mông Phụ, xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây).
Nghe phong thanh vậy, nhưng bọn Nhật chưa vội “động thủ” mà gửi công văn cho quan khâm sai, khuyến cáo về một “trào lưu nguy hiểm”, rồi nhắc nhở: “Rất tiếc, trong số đó có cả quí công tử!”
Cụ Toại xem xong bức công văn, cười, rồi đưa cho anh Phan Kế An xem để đề phòng. Bọn Nhật đâu có ngờ chính quan khâm sai cũng đã lặng lẽ mua ủng hộ Việt Minh 500 đồng tín phiếu!
Gần đây, trong cuốn Hồi ký Thanh Nghị, luật sư Vũ Đình Hòe kể lại: Theo gợi ý của ông Dương Đức Hiền – một lãnh đạo phong trào sinh viên cứu quốc, ông Vũ Đình Hòe tìm gặp ông Nguyễn Văn Huyên, em vợ cụ Toại, nhờ ông Huyên “tháp tùng” để vào Bắc Bộ phủ “thăm” cụ. Ông Hòe nói:
– Anh em trí thức Hà Nội rất hoan nghênh cụ “cáo ốm”, không chịu đi hiểu dụ nhân dân “bán” thóc cho Nhật. Nhưng anh em muốn cụ làm mạnh hơn!…
Cụ Toại liền vặn lại ông Hòe:
– Thế ông là Việt Minh à?
Ông Hòe bèn lảng sang chuyện khác.
Cụ Toại mỉm cười, nói nhỏ:
– Thôi, ông đừng giấu tôi nữa! Con cháu tôi cũng vào Việt Minh rồi mà!
Phó thủ tướng Chính phủ kháng chiến Phan Kế Toại cùng con trai là họa sĩ Phan Kế An ở Tân Trào, Tuyên Quang
Việt Minh chủ trương giúp cụ Toại, không để cụ bị bọn Nhật lợi dụng đàn áp cách mạng, và để khi thời cơ tới thì việc tiếp quản chính quyền tránh được đổ máu. Nhưng sau bị Nhật o ép quá, cụ Toại đành từ chức, trao lại quyền cho ông Nguyễn Văn Chữ vào ngày 17-8-1945, chỉ hai ngày trước khi nổ ra cuộc biểu tình bao vây Bắc Bộ phủ.
Trong một thiên hồi ký, giáo sư Nguyễn Xiển cho biết: tình hình biến chuyển mau lẹ, đang giữ chức giám đốc Đài Thiên văn Phủ Liễn ở Kiến An, Hải Phòng, ông đạp xe một mạch về Hà Nội, đúng vào lúc quần chúng đang bao vây Bắc Bộ phủ, bọn bảo an binh bên trong đang chờ lệnh của quan khâm sai Nguyễn Văn Chữ (mới được Nhật đưa lên thay cụ Toại).
“Tôi liền dựng xe đạp – giáo sư Nguyễn Xiển kể – vượt hàng rào sắt vào gặp ông Chữ, nói với ông ta: “Nhật đầu hàng rồi, quần chúng đang bao vây tòa nhà này, các ông chống thế nào được? Để tránh đổ máu, ông nên ra gặp họ đi!”.
Đầu năm 1947, cụ Phan Kế Toại nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời lên Việt Bắc tham gia Chính phủ kháng chiến. Cùng lên Đinh Hóa vào ngày đầu nổ súng chống Pháp còn có các cụ Bùi Bằng Đoàn, Vi Văn Định, linh mục Phạm Bá Trực…
***
…Mùa hè nóng bỏng năm 1946.
Mặc dù phải lo toan biết bao công việc, trước khi lên đường sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không quên giao nhiệm vụ cho ông Hoàng Hữu Nam, thứ trưởng Bộ Nội vụ, phải đón cho kỳ được cụ Vi Văn Định – nguyên tổng đốc Thái Bình – về sống ở Hà Nội, kẻo “hữu sự thì không kịp”!
Phát xít Đức chiếm Paris, quân Nhật tiến vào Đông Dương. Năm 1942, cụ Vi xin hưu, về ở ẩn tại bản quê dưới chân núi Mẫu Sơn. Cụ Vi có ba chàng rể sống ở Hà Nội, đều được cách mạng tin cậy giao trọng trách: Nguyễn Văn Huyên – bộ trưởng Bộ Giáo dục; Hồ Đắc Di – hiệu trưởng Trường đại học Y kiêm giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Trung ương quân đội); Tôn Thất Tùng – giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức).
Bác nói: “Con cháu cụ Vi đều đi với cách mạng cả. Hãy mời cụ về Hà Nội!” và dặn phải cho những cán bộ cách mạng trước đây từng bị cụ Vi bắt giam (khi cụ còn là tổng đốc) cầm giấy mời của Chính phủ trân trọng trao tận tay cụ, để cụ thấy ta không giữ hận thù mà thật lòng đoàn kết. Ông Ba Ngọ, một cựu chính trị phạm, được giao việc đó, cùng đoàn cán bộ Chính phủ đến Bản Chu, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Ông Ba Ngọ tha thiết mời cụ quay trở lại Hà Nội (cụ có một tòa biệt thự ở góc hồ Thiền Quang). Nhưng cụ từ chối:
– Tôi nay già yếu rồi! Chắc chẳng đóng góp được gì. Xin để cho “lão giả an chi”!
Ông Ba Ngọ cùng đoàn cán bộ đành lui ra nghỉ tạm tại thị xã Lạng Sơn. Hai hôm sau, ông lại quay trở vào Bản Chu. Lần này, cụ Vi không nỡ từ chối. Cụ cho mời tất cả bà con trong làng và các trại vùng quanh, tất cả khoảng vài nghìn người (cụ vốn thuộc dòng họ “thiên hộ hầu”) đến dự bữa cỗ tiễn biệt. Nhà nước ta đã giữ trọn lời hứa, chăm sóc cụ Vi cho đến lúc cụ qua đời tại Hà Nội, ngày 20-12-1975, thọ 96 tuổi.
HÀM CHÂU
cpv.org.vn
Nhớ lại không khí Ngày Độc lập 2/9/1945 ở Sài Gòn
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Cùng lúc đó, Lễ độc lập cũng được tổ chức tại Sài Gòn…
Tấm ảnh ghi lại quang cảnh nhân dân Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) mít tinh chào mừng Ngày Độc lập tại Quảng trường Nam Bộ Phủ ngày 2/9/1945
Tuy lúc đó, đồng bào Nam Bộ không nghe được trực tiếp Bản Tuyên ngôn Độc lập của Bác Hồ do điều kiện kỹ thuật thô sơ, nhưng từ bài diễn văn ứng khẩu của đồng chí Trần Văn Giàu, khi ấy là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, hàng triệu đồng bào Nam bộ đã thể hiện lòng quyết tâm ủng hộ cách mạng, ủng hộ mặt trận Việt Minh, bảo vệ nền độc lập non trẻ của nước nhà.
Đặt ở vị trí trung tâm Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh là bức ảnh nguyên gốc chụp không khí mít tinh mừng Ngày Độc lập 2/9/1945 ở Sài Gòn. Từ bức ảnh quý giá này, Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh đã phục dựng lại không khí tưng bừng, nô nức và hừng hực quyết tâm của hàng triệu đồng bào Nam Bộ dự mít tinh ở Quảng trường Nô rô đôm sau lưng Nhà thờ Đức Bà ngày ấy.
Bà Đỗ Thị Lan Hương, Phó Trưởng phòng, Phòng Tuyên truyền – Giáo dục, Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “Ban Tổ chức Ủy ban Hành chính lâm thời lúc đó đã dựng nên kỳ đài với nguyện ước cùng với đông đảo quần chúng nhân dân được nghe tiếp âm lời Tuyên ngôn Độc lập của Bác. Tuy nhiên, do điều kiện phương tiện kỹ thuật còn thô sơ, lúc đó không thể nghe được lời Tuyên ngôn Độc lập của Bác, Ban Tổ chức đã cử Giáo sư Sử học Trần Văn Giàu thay mặt toàn thể đồng bào dự mít tinh cũng như đồng bào yêu nước Nam Bộ lúc đó thể hiện lòng quyết tâm ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, kiên quyết ủng hộ nền độc lập”.
Năm nay tuổi đã ngoài 80, nhưng ông Nguyễn Trọng Xuất, nguyên Phó ban Ban Tuyên huấn Khu ủy Sài Gòn – Gia Định vẫn nhớ như in không khí ngày 2/9/1945 ở Sài Gòn. Lúc ấy, cậu thiếu niên Nguyễn Trọng Xuất chỉ mới 15 tuổi, nhưng đã cảm nhận được sự đặc biệt của lần đầu tiên chính quyền về tay nhân dân, khi mỗi người được làm chủ vận mệnh của mình. Ông cũng rất tâm đắc với bài diễn văn ứng khẩu của đồng chí Trần Văn Giàu đọc trước hàng triệu đồng bào Nam Bộ.
Ông Nguyễn Trọng Xuất, Nguyên Phó ban Ban Tuyên huấn Khu ủy Sài Gòn – Gia Định kể lại: “Khi bác Giàu đứng lên phát biểu chỉ có 3 ý thôi. Một, chúng ta từ một nước nô lệ bị trị trở thành một nước độc lập. Từ một nước quân chủ trở thành chế độ dân chủ cộng hòa. Chúng ta đang đứng trước một thử thách rất lớn là họa xâm lăng bên ngoài đang đe dọa. Như vậy, tất cả chúng ta phải đem tất cả tinh thần và lực lượng để bảo vệ nền độc lập đó. Bài phát biểu của đồng chí Trần Văn Giàu gây một xúc động rất lớn”.
Cũng theo ông Trần Trọng Xuất, ý nghĩa của Ngày Độc lập 2/9/1945 ở Sài Gòn không chỉ là sự chuyển đổi về chất của một dân tộc bị phân tán, trở thành một khối thống nhất chính trị mà quan trọng hơn là trong ngày này, đồng bào Nam Bộ đã đưa ra được lời thề son sắt: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Ông Nguyễn Trọng Xuất cho biết thêm: “Giành được chính quyền, chúng ta phải bảo vệ chính quyền đó suốt 30 năm kháng chiến. 30 năm đó, nhiều thế hệ thanh niên nối tiếp nhau nhưng vẫn chung 1 ngọn cờ. Điều lớn lao của ngày độc lập chính là ở chỗ ngày độc lập nêu được lời thề và toàn dân giữ lời thề đó suốt nhiều năm và nhiều thế hệ nối tiếp nhau”.
Lời thề và khí thế ấy của hàng triệu người dân Nam Bộ trong ngày 2/9/1945 đã thể hiện niềm tin sắt son của họ với Đảng Cộng sản do Bác Hồ lãnh đạo. Chính vì vậy, Ngày Độc lập đầu tiên ở Sài Gòn đã trở thành một dấu mốc quan trọng giúp đoàn kết nhân dân miền Nam xung quanh mặt trận Việt Minh, liên tiếp dành thắng lợi trong những cao trào đấu tranh cách mạng sau này.
Theo Thùy Trang/www.vtv.vn
Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn
Dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mãi mãi đi xa, hình ảnh giản dị, cao cả của Người sẽ sống mãi trong trái tim mỗi con người Việt Nam
Dưới đây là một số bức ảnh chân dung tiêu biểu của Người, trích từ ấn bản Hồ Chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, xuất bản tháng 11 năm 1970.
Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc năm 30 tuổi, khi ở Pháp.
Tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua (nước Pháp), tháng 12 năm 1920, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Giữa năm 1923, Người sang Liên Xô.
Sau Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu tham gia cách mạng Trung Quốc, đồng thời lo xây dựng phong trào cách mạng Việt Nam và Đông Dương.
Hồ Chủ tịch năm 1945.
Tháng 2 năm 1946, Người nói chuyện với hơn 10 vạn nhân dân Thủ đô Hà Nội sau cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.
Ngày 31/5/1945, Người dẫn đầu Đoàn đại biểu Chính phủ ta sang đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp.
Người làm việc trong hang đá ở Việt Bắc năm 1951.
Người đang theo dõi mặt trận Đông Khê (Cao Bằng).
Hồ Chủ tịch trong phòng làm việc của Người ở căn cứ Việt Bắc.
Hồ Chủ tịch sau ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi (năm 1954).

“Người ngồi đó với cây chì đỏ
Vạch đường đi từng bước, từng giờ” (Tố Hữu).
Bác Hồ trong trang phục của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Hồ Chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp chúng ta.
Theo Đất Việt
Kim Yến(st)
bqllang.gov.vn
Độc lập, Tự do: Sợi chỉ hồng trong thơ Bác

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: internet
Những năm tháng Bác Hồ hoạt động ở nước ngoài, tìm đường cứu nước, những chữ Độc lập, Tự do xuất hiện trong nhiều bài thơ, bài ca của Bác đã thể hiện một khát vọng thật lớn lao, một ước mơ thật cháy bỏng của Người…
Độc lập, Tự do đối với Bác là cả một quá trình nhận thức, một quá trình thực hiện. Tại hội nghị Đảng Xã hội Pháp, sau khi bỏ phiếu tán thành Đệ tam Quốc tế, ông Nguyễn đã nói với người đảng viên, nữ chiến sĩ Rônơ, chuyên ghi tốc ký trong các hội nghị của Đảng: Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật và nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều Đệ tam Quốc tế rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Đệ tam Quốc tế sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành tự do và độc lập. Còn Đệ nhị Quốc tế không hề nhắc đến vận mạng các thuộc địa. Vì vậy tôi đã bỏ phiếu tán thành Đệ tam Quốc tế. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu.
Khi đã có hướng đi, Bác tìm cách sang Liên Xô, rồi về Quảng Châu (Trung Quốc) và lần về Tổ quốc. Trước khi rời Paris đi Mátcơva, Bác để lại một bức thư dài cho các đồng chí làm việc với Bác trong tòa báo Người cùng khổ, cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp thuộc địa tại Pháp: Mặc dù chúng ta là những người khác giống, khác nước, khác tôn giáo, chúng ta đã thân yêu nhau như anh em, chúng ta chung một nỗi đau khổ: Sự bạo ngược của chế độ thực dân, chúng ta tranh đấu cho lý tưởng chung: Giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta. Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập.
Về nước, Bác đã làm đúng như đã nói. Ngoài những Lời hiệu triệu, Thư gửi đồng bào, Bác viết một loạt bài ca: Khuyên thanh niên học quân sự, Ca dân cày, Ca phụ nữ, Kêu gọi thiếu nhi, Ca công nhân, Ca binh lính, Ca tự vệ, Ca sợi chỉ, Mười chính sách của Việt Minh, Bài ca du kích nhằm giải thích, cắt nghĩa nguyên nhân vì sao nô lệ, lầm than; động viên, cổ vũ mọi người, mọi tầng lớp quyết tâm thực hiện mục đích cao cả đã được xác định. Bài Thơ đề tranh báo Việt Nam độc lập vang lên lời kêu gọi khẩn thiết Việt Nam độc lập thổi kèn loa / Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già / Đoàn kết vững bền như khối sắt / Để cùng nhau cứu nước Nam ta. Nghĩa là không còn dừng ở khát vọng mà thực sự bắt tay thực hiện khát vọng. Độc lập, Tự do đang đứng trước vận hội lớn gắn liền với Tổ quốc hiện tại, với mỗi nhà, với mọi người, trở thành lý tưởng chung của thời đại Lửa cách mạng sáng choang bờ cõi, Chiếu lên cờ độc lập, tự do (Nhóm lửa). Toàn dân tộc ta đã vùng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Khát vọng đã thành hiện thực, một kỷ nguyên mới của nước ta đã mở ra – kỷ nguyên độc lập, tự do. Bác mừng, cả dân tộc vui mừng nhưng không chủ quan. Bởi thế, những bài thơ Bác viết ở thời điểm này lời mừng rất kín đáo, Bác dùng Lời chúc vừa truyền thống, vừa có ý nhắc nhở mà lại rất tự nhiên: Độc lập đầy vơi ba chén rượu,/ Tự do vàng đỏ một rừng hoa./ Muôn nhà chúc tết xuân dân chủ,/ Cả nước hoan nghênh phúc cộng hòa./ Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc,/ Những người chiến sĩ ở phương xa./ (Tặng Báo Quốc gia).
Chẳng bao lâu, chỉ sau khi Nam bộ giành chính quyền chưa đầy 30 ngày, toàn dân tộc ta buộc phải tiến hành cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, rồi tiếp đến kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đằng đẵng suốt 30 năm. Trong những năm kháng chiến, xây dựng và đấu tranh thống nhất đất nước, cứ mỗi năm mới đến, Bác đều có thơ chúc Tết đồng bào cả nước. Tinh thần chủ đạo của những bài thơ chúc Tết là kêu gọi: Toàn dân đại đoàn kết,/ Cả nước dốc một lòng;/ Thống nhất chắc chắn được,/ Độc lập quyết thành công./ (Thơ chúc Tết Mậu Tý – 1948).
Những năm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vào giai đoạn quyết định, thơ Bác như lời hịch thiêng liêng cổ vũ quân và dân ta xốc tới giành thắng lợi hoàn toàn: Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào./ Tiến lên! chiến sĩ, đồng bào!/ Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn.
Thơ Bác là biểu hiện sinh động tư tưởng độc lập, tự do. Tự do trong thơ Bác có nhiều hàm nghĩa, Tổ quốc tự do, dân tộc tự do và tự do của mỗi người. Đằng sau hai chữ tự do là cả một quá trình, ẩn tàng một sức nặng, một sự nhạy cảm và thiêng liêng. Mất tự do là mất tất cả. Từ những trải nghiệm, chứng kiến nỗi đau của những người cùng khổ ở khắp các châu lục đến nỗi đau riêng của bản thân, Bác tự rút ra, tự đúc kết như châm ngôn trong những câu thơ: Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,/ Cay đắng chi bằng mất tự do./ (Cảnh binh khiêng lợn cùng đi). Đau khổ chi bằng mất tự do. (Bị hạn chế).
Muốn độc lập, tự do chỉ có con đường đấu tranh và chiến thắng các lực lượng bạo tàn. Bác là người tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh quyết liệt vì mục tiêu đó với cái nhìn biện chứng. Trong Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, Bác gói gọn trong một câu giản dị Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Câu nói đó đã trở thành chân lý, cổ vũ cho mọi hành động cách mạng của mỗi người, của toàn dân tộc, của những lực lượng, của các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do.
Rõ ràng, Vì độc lập, vì tự do – từ khát vọng, đến lý tưởng đã trở thành chân lý phổ biến. Đó cũng là sợi chỉ hồng xuyên suốt trong toàn bộ thơ ca của Bác.
Theo HNMO
qdnd.vn

Bạn phải đăng nhập để bình luận.