Thư viện

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – Thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam

Kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Đoàn người biểu tình ngày 19-8-1945 trước cửa Bắc Bộ phủ, Hà Nội

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng ta đã có chủ trương, đường lối đúng đắn, vạch ra con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam là làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1). Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam giành thắng lợi từng bước trong hai cuộc tổng diễn tập đầu tiên 1930-1931, 1936-1939. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã tạo ra cơ sở, tiền đề vững chắc để nhân dân tin tưởng, đi theo tiếng gọi của Đảng.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi này là kết quả của 15 năm đấu tranh kiên cường, bền bỉ, anh dũng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, trong đó đặc biệt là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, giành chính quyền về tay nhân dân.

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng ta đã có chủ trương, đường lối đúng đắn, vạch ra con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam là làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1). Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam giành thắng lợi từng bước trong hai cuộc tổng diễn tập đầu tiên 1930-1931, 1936-1939. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã tạo ra cơ sở, tiền đề vững chắc để nhân dân tin tưởng, đi theo tiếng gọi của Đảng.

Đầu năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ. Theo dõi sát diễn biến của chiến tranh, Đảng ta nhận định: “Nếu cuộc chiến tranh thế giới lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”(2).

Nhận định của Đảng dựa trên cơ sở phân tích khoa học và lý luận cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin một cách biện chứng, khách quan, toàn diện, thể hiện tư duy nhạy bén của Đảng về quy luật vận động tất yếu: Có áp bức, có đấu tranh. Nhận định này chứng minh tầm vóc, tư duy chiến lược của Đảng và Bác Hồ sớm nhận thấy quy luật vận động cách mạng, dự báo thời cơ cách mạng, nhanh chóng triển khai, thực hiện nhiệm vụ để thúc đẩy cách mạng từng bước phát triển. Tức là, không thụ động chờ thời cơ, mà sáng tạo, tích cực, chủ động tiến hành đấu tranh cách mạng, từng bước tạo thế, lực và thời, thúc đẩy thời cơ nhanh chóng chín muồi.

Nắm vững thực tế và yêu cầu đòi hỏi bức thiết của lịch sử, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã liên tiếp họp Hội nghị Trung ương 6 (11-1939), 7 (11-1940), 8 (5-1941). Nội dung của 3 Hội nghị đã đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xác định kẻ thù trước mắt của cách mạng Việt Nam là đế quốc và tay sai. Giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Đặt và giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi mỗi nước Đông Dương. Chuyển đổi hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh từ công khai hợp pháp, nửa hợp pháp sang bí mật bất hợp pháp.

Nghị quyết Trung ương 8 khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(4); nhân dân Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động đứng lên “đem sức ta mà giải phóng cho ta”(5). Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết thành: Cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người với khẩu hiệu: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.

Đầu năm 1945, phát xít Đức đang bên bờ diệt vong, phát xít Nhật lâm vào tình thế khốn quẫn. Đúng như dự báo của Đảng, mâu thuẫn Nhật – Pháp ở Đông Dương đã lên tới đỉnh điểm giống như “cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ”. Ngay đêm mồng 9-3, khi Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị và đưa ra Văn kiện lịch sử vô cùng quan trọng, đó là Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Nội dung Chỉ thị xác định: Kẻ thù chính của cách mạng lúc này là phát xít Nhật, Việt gian tay sai và chủ trương thay khẩu hiệu “đánh đuổi Nhật, Pháp” bằng khẩu hiệu“đánh đuổi phát xít Nhật”. Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước và làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thực hiện khởi nghĩa từng phần ở những địa phương có điều kiện.

Với quyết tâm phải giành cho được độc lập, tự do, Đảng ta chỉ đạo tích cực xây dựng lực lượng cách mạng, chủ động đón thời cơ, nổi dậy giành chính quyền, khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Một cao trào cách mạng phát triển rộng rãi, sôi nổi, phong phú về hình thức và nội dung như: Phong trào phá kho thóc của Nhật cứu đói cho dân, phong trào khởi nghĩa từng phần diễn ra ở nhiều nơi và giải phóng hàng loạt các thị xã, châu, huyện ở các tỉnh phía Bắc… Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về việc tổ chức Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Tiếp đó, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) ra nhiệm vụ phát triển chiến tranh du kích, thống nhất các lực lượng quân sự thành Việt Nam giải phóng quân. Như vậy, những chủ trương đấu tranh của Đảng trong cao trào kháng Nhật, cứu nước là bước chuẩn bị quan trọng để cả nước sẵn sàng tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi.

Ngày 9-5-1945, Đức đầu hàng đồng minh. Trong nước, phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Thời cơ thắng lợi đã tới! Bác Hồ đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Ngày 14-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) nhận định thời cơ đã đến, quyết định tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, giành chính quyền trước khi quân đồng minh vào Đông Dương, đêm 13-8-1945, khi Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 – hiệu triệu toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền,

Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng đồng minh. Ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong thư kêu gọi đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(6).

Không khí Tổng khởi nghĩa diễn ra sôi nổi khắp cả nước. Cả dân tộc muôn người như một, vùng lên. Hành động vùng dậy, lay trời chuyển đất của hàng triệu quần chúng đã tạo nên một ưu thế áp đảo, giáng một đòn quyết định vào các cơ quan đầu não của bọn Việt gian, làm tê liệt mọi sự kháng cự của phát xít Nhật và các thế lực thù địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám giành chính quyền đã thành công rực rỡ trong cả nước vào ngày 28-8-1945.

Như vậy, chỉ trong vòng 15 ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công. Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình – Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và khẳng định toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh dấu bước ngoặc lịch sử vĩ đại, là thắng lợi vô cùng to lớn trên con đường cứu nước và giải phóng dân tộc mà Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn khi bắt gặp Chủ nghĩa Mác – Lênin. Thắng lợi này đã chứng tỏ nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(7).

Trong quá trình đấu tranh giành lại chủ quyền dân tộc, non sông gấm vóc, Cách mạng Tháng Tám với những bài học quý về nghệ thuật tạo thế và lực, về tập hợp lực lượng, nhất là nghệ thuật chớp thời cơ đã trở thành biểu tượng sáng ngời của ý chí quật cường của dân tộc ta, thôi thúc cả dân tộc đồng lòng, chung sức, anh dũng, bền bỉ đấu tranh, thu non sông về một mối, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mốc son chói lọi ấy đã, đang và luôn luôn tỏa sáng, thôi thúc toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tạo ra thế và lực mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

______

(1). Văn kiện Đảng, toàn tập, NXB CTQG, H.2000, tập 2, tr.2.
(2). Sách đã dẫn, tập 7, tr.100.
(3). Sđd, tập 7, tr.113.
(4). Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2002, tập 1, tr.466.
(5), (6). Sđd, tập 3, tr.554.
(7). Sđd, tập 6, tr.159.

Phạm Thị Nhung, Trần Trung Nhàn
Trường Sỹ quan Lục quân II

xaydungdang.org.vn

Tuyên ngôn độc lập trở thành một văn kiện chính trị – pháp lý và thấm nhuần sâu sắc các giá trị nhân văn của thời đại mới

Kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9

1-Cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả một dân tộc

Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta đã vùng dậy, lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi cùng với bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc đã khai sinh ra chế độ dân chủ cộng hòa của Việt Nam.

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, chế độ thực dân phong kiến bị xóa bỏ, từ đây, Tổ quốc được độc lập, dân tộc và nhân dân ta được hưởng quyền tự do, hạnh phúc. Ngót một thế kỷ với ách thống trị tàn bạo của đế quốc thực dân, nhân dân ta sống trong cảnh bị đọa đầy, đau khổ, bị chìm đắm trong những đêm dài tăm tối… đã chấm dứt.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vĩ đại làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ tới tự do và làm chủ . Giải phóng để phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, mở ra những tiền đề và điều kiện để dân tộc ta chẳng những hồi sinh mà còn vững bước đi tới tương lai, trên con đường lớn của lịch sử Độc lập – Tự do và Hạnh phúc.

Là một cuộc cách mạng kiểu mới và điển hình trong một xã hội thuộc địa thực dân nửa phong kiến, cách mạng Tháng Tám, năm 1945 của Việt Nam được cổ vũ và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga, năm 1917 và thời đại mới do chính cuộc cách mạng đó sinh thành. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng chống đế quốc thực dân và phong kiến, đập tan mọi xích xiềng nô lệ, khẳng định những quyền cơ bản thiêng liêng của con người – quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Cách mạng đã thực hiện những quyền đó trên nền tảng của quyền tự quyết dân tộc, độc lập chủ quyền của dân tộc là cơ sở để thực hiện các quyền tự do, dân sinh và dân chủ của con người.

Tuyên ngôn độc lập trở thành một văn kiện chính trị – pháp lý và thấm nhuần sâu sắc các giá trị nhân văn của thời đại mới đề cao dân chủ và tự do, công bằng và bình đẳng xã hội. Với con người – đó là quyền được tồn tại thực sự xứng đáng với những con người tự do, quyền được phát triển như một chủ thể nhân cách sáng tạo, ở đó, phẩm giá làm người được tôn trọng và những đè nén, áp bức, bất công làm nhục con người, thống trị dân tộc trong tình cảnh nô lệ bị xóa bỏ. Đi vào lịch sử và sống mãi với thời gian, Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, với ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Bản Tuyên ngôn ấy thực sự là Tuyên ngôn lập quốc, tuyên ngôn dựng nước của dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại. Nó kế thừa truyền thống anh hùng, bất khuất của ông cha ta qua mọi triều đại, nó tiếp nối và phát triển sức sống mãnh liệt, giá trị và bản sắc văn hóa cũng như bản lĩnh chính trị của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước để làm thăng hoa trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, chân lý và đạo lý Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự do, trong thời đại mới mang tên thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tuyên ngôn độc lập mang tinh thần Cách mạng triệt để, thấm đượm một triết lý phát triển đồng thời là thông điệp phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Đó là một áng thiên cổ hùng văn tiếp nối liền mạch với các áng thiên cổ hùng văn trước đó của ông cha ta với những âm hưởng hào sảng của Lý Thường Kiệt, dũng khí mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, trí tuệ và nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, trù tính định liệu việc lớn để an dân trị quốc của Nguyễn Huệ – Quang Trung.

Cách mạng Tháng Tám đã dẫn tới Tuyên ngôn độc lập và Tuyên ngôn độc lập đã tổng kết và nâng cao tầm vóc của cuộc Cách mạng vĩ đại này, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn có vị trí và ý nghĩa xứng đáng trong lịch sử chính trị thế giới hiện đại. Lịch sử càng lùi xa, những tư tưởng, giá trị và những bài học kinh nghiệm của các cuộc cách mạng chân chính do sức mạnh đoàn kết và sáng tạo của nhân dân làm nên càng trở nên sâu sắc và sống động.

Nhớ lại hơn 80 năm về trước, khi Đảng còn chưa ra đời, cách mạng còn đang ấp ủ những mầm mống sinh thành, trong tác phẩm nổi tiếng “Đường Cách Mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết: Cách mệnh là phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Người còn nói rõ, muốn làm cách mệnh xã hội, trước hết phải cách mệnh chính bản thân mình đã. Bởi thế, muốn cho cách mệnh thắng lợi và đến nơi (tức là triệt để) thì Đảng cách mệnh, người cách mệnh phải có chủ nghĩa làm cốt, phải giữ chủ nghĩa cho vững và phải ít lòng tham muốn (ham muốn) về vật chất. Trong hình thức dung dị của ngôn từ, đây thực sự là những quan niệm, những định nghĩa kinh điển về cách mạng và nhân cách của người cách mạng.

Với tư cách là tư tưởng, đây thực sự là những tư tưởng lớn, những dự cảm sâu sắc, ở tầm chiến lược, được vạch ra bởi một thiên tài – kết tinh sâu sắc và tốt đẹp nhất những tinh hoa của dân tộc và thời đại. Thiên tài ấy là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Thế kỷ XX – một thế kỷ anh hùng và bi tráng, thế kỷ đã sản sinh ra những cuộc cách mạng điển hình, mở đầu bằng cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, tiếp nối bởi cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, cách mạng 1949 của Trung Quốc cũng như cách mạng Cuba những năm 60 và những cuộc cách mạng khác.

2- Cuộc cách mạng hướng đích tới các giá trị và mục tiêu phát triển

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta không chỉ là một cuộc cách mạng giải phóng mà còn là một cuộc cách mạng phát triển.

Lập nên chính quyền cách mạng, làm lọt lòng chính thể dân chủ cộng hòa và nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đó mới chỉ là bước khởi đầu của sự nghiệp dựng xây sáng tạo. Cách mạng Tháng Tám còn tiếp tục biết bao những việc lớn lao khác ngay sau ngày độc lập, tập trung mọi nỗ lực của quốc dân đồng bào trên tư cách những người chủ của xã hội mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quản lý của nhà nước, bắt tay ngay vào việc giải quyết những công việc cấp bách. Đó là chống giặc đói, chống giặc dốt, xây dựng chính thể, soạn thảo Hiến pháp, tổng tuyển cử tự do bầu ra quốc hội, gây dựng đời sống văn hóa mới, cải tạo gột rửa những tàn tích thực dân phong kiến, đoàn kết lương giáo, thực hiện tự do tôn giáo và tín ngưỡng, thi hành chính sách ngoại giao hòa bình, hữu nghị, hợp tác, là bạn của tất cả các nước dân chủ. Chương trình hành động ấy của Chính phủ và nhân dân ta dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ rệt tính thiết thực, hữu ích, chủ động và sáng tạo của một sự nghiệp xây dựng xã hội dân chủ vì dân . Điều ấy càng cho thấy tính chất phát triển của cuộc cách mạng với sức mạnh và nền tảng dân là gốc của nước, cách mạng là sự nghiệp sáng tạo của quần chúng nhân dân .

Trong những ngày đầu dựng nước, Hồ Chí Minh đã đặc biệt nhấn mạnh: chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, được học hành, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng những quyền tự do dân chủ mà họ xứng đáng được hưởng. Hơn nữa, dân đã có quyền làm chủ thì dân cũng có nghĩa vụ của người chủ.

Cách mạng Tháng Tám đã nêu cao chủ nghĩa yêu nước chân chính của dân tộc, đã cố kết và phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc để giành độc lập tự do, nhất là ở những thời điểm bước ngoặt hệ trọng khi toàn dân, toàn quốc phải đứng lên, đánh bại dã tâm xâm lược, cướp nước của đế quốc thực dân.

Vừa kháng chiến vừa kiến quốc, đánh bại chủ nghĩa thực dân, cả cũ lẫn mới, hoàn thành sứ mệnh giải phóng đồng thời từng bước xây dựng kiến thiết đất nước trong suốt cuộc hành trình hơn 6 thập kỷ qua – Đó là sự vận động không ngừng không nghỉ của Cách mạng Tháng Tám, của dân tộc Việt Nam trong tiến trình phát triển cách mạng.

Giải phóng để phát triển, đổi mới để phát triển, và giờ đây Việt Nam đang nỗ lực hướng tới phát triển bền vững, vượt qua những điểm nghẽn của phát triển bằng những đột phá, đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiện đại, đẩy mạnh cải cách hành chính và tư pháp, xây dựng xã hội dân chủ với Nhà nước pháp quyền, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng như văn kiện Đại hội XI đã chỉ ra – đó là sự phát triển hợp lôgíc của tinh thần Cách mạng Tháng Tám từ lịch sử đến hiện tại.

3- Sứ mệnh và trọng trách của Đảng, sức mạnh tự bảo vệ của cách mạng

Cách mạng Tháng Tám, năm 1945 do Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Một Đảng mới 15 tuổi, với số lượng đảng viên chưa đầy 5.000 người đã có thể lãnh đạo thành công cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân trong cả nước. Điều đó nói lên sự trưởng thành mau chóng của Đảng, uy tín và ảnh hưởng rộng lớn của một Đảng cách mạng chân chính với đường lối chính trị đúng đắn, vận dụng sáng tạo khoa học và nghệ thuật của đấu tranh cách mạng để nắm bắt đúng thời cơ, hành động mau lẹ và sáng suốt, nhất là biết phát huy cao độ sức mạnh của truyền thống yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc. Hồ Chí Minh đã từng tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công. Quy luật ấy của đấu tranh cách mạng cũng là quy luật của muôn đời, được Đảng ta và Hồ Chí Minh vận dụng và phát huy trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới khi tình thế và thời cơ cách mạng đã xuất hiện, đã chín muồi trong những tháng năm lịch sử bên thềm của cách mạng 1941-1945. Nhớ lại lịch sử 70 năm về trước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Pắc bó (Cao Bằng) trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở trong nước, đưa ra quyết định đúng lúc về chuyển hướng cách mạng, tập trung cao độ, toàn lực cho mục tiêu giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do.

Nắm vững thời cơ, nhận rõ xu thế, chủ động xây dựng lực lượng, kết hợp tuyên truyền vận động chính trị với đấu tranh vũ trang, bằng sức mạnh của toàn dân, sức đoàn kết của muôn dân để tạo nên sức mạnh và sự bền vững của cách mạng, đó là bí quyết đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Đảng lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám bởi trước hết ở phương hướng chính trị sáng suốt, đúng đắn, kết hợp được trí tuệ, mưu lược, lòng dũng cảm, đức hy sinh, quyết giành độc lập tự do cho Tổ quốc ở thời điểm bước ngoặt quyết định số phận của cả dân tộc.

Chính ở những năm tháng đang vần vụ cơn giông bão sắp tới gần của cách mạng, giữa núi rừng Việt Bắc, Hồ Chí Minh căn dặn: “Bây giờ thời cơ cần kíp lắm rồi, dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải quyết tâm giành cho được độc lập”. Và tại căn cứ địa cách mạng, Hội nghị quốc dân Tân Trào đã vang lên lời hiệu triệu toàn dân, toàn quốc đồng bào vùng dậy, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước. Đó là lúc giờ cứu nước thiêng liêng đã điểm, là lúc lời hịch cứu nước ban ra, kết tinh hồn thiêng sông núi, vang vọng truyền thống tự ngàn xưa của ông cha cổ vũ toàn thể quốc dân đồng bào tiến lên dưới lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh, vì độc lập tự do của Tổ quốc. Thời – Thế và Lực đã hội đủ. Đảng ta, trong sức mạnh của dân tộc, của nhân dân làm nên ngọn nguồn sức mạnh của Đảng, với tinh thần Thời đại, có nguồn sáng dẫn dắt bởi Mác-Lênin – Hồ Chí Minh cùng với đức quả cảm hy sinh vì dân, vì nước đã đảm trách xuất sắc sứ mệnh lịch sử mà dân tộc giao phó, ủy thác trong cuộc cách mạng này.

Mười lăm năm chuẩn bị, trải qua bao thử thách, hy sinh, bao anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã ngã xuống, lấy máu đào mà nhuộm thắm lá cờ Tổ quốc để có chiến thắng huy hoàng trong cách mạng, một cuộc cách mạng nổ ra đồng loạt, từ miền ngược đến miền xuôi, từ nông thôn đồng bằng đến đô thị trong khắp mọi vùng miền của Tổ quốc. 15 năm chuẩn bị để khởi sự thắng lợi trong 15 ngày, ít đổ máu nhất, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong toàn dân, toàn quân, chính trị trọng hơn quân sự, bởi đây là chiến tranh nhân dân, là cách mạng thấm nhuần tính chất dân tộc – nhân dân và dân chủ . Đảng làm tròn trọng trách lịch sử trong lãnh đạo cuộc khởi nghĩa toàn dân, cung cấp một mẫu mực kinh điển trong lịch sử đấu tranh cách mạng với mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân và dân tộc.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta đã ở vào vị thế của một Đảng cầm quyền khi mới 15 tuổi. 81 năm đã trôi qua trong lịch sử quang vinh của Đảng gắn liền với những bước phát triển rực rỡ nhất của truyền thống dân tộc trong Thời đại Hồ Chí Minh. Đảng đã cầm quyền 66 năm nay, cũng là 66 năm lịch sử Cách mạng Tháng Tám. Đội ngũ Đảng ta giờ đây với hơn 3,7 triệu đảng viên, đông gấp 760 lần so với hồi Cách mạng Tháng Tám. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Bác Hồ đã đánh thắng hai đế quốc to, đã hoàn thành vẻ vang cách mạng giải phóng, đưa dân tộc ta vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong trong thế giới nhân loại. Đất nước ta đã từng bước đổi thay, trong lao động hòa bình và sáng tạo, nhân dân ta đã xây dựng đất nước ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như khát vọng, tâm nguyện của Bác Hồ. Đổi mới đã diễn ra vừa đúng 25 năm, 1/4 thế kỷ, đã đưa nước ta vượt thoát ra khỏi khủng hoảng và ra khỏi tình trạng kém phát triển, đã có mặt trong danh mục các nước có thu nhập trung bình. Đại hội XI của Đảng vừa qua đã đưa ra những quyết sách chiến lược, phấn đấu tạo nền tảng để đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu trên con đường phát triển nhanh và bền vững với ba đột phá lớn về thể chế, hạ tầng kỹ thuật và chất lượng nguồn nhân lực, quyết tâm xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ – đó là một trong những mối quan hệ tổng quát, cơ bản và chiến lược, thể hiện sâu sắc vai trò, trách nhiệm của Đảng, chức năng của Nhà nước và địa vị người chủ của nhân dân. Thực hiện thắng lợi các mục tiêu của đổi mới, của sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đó cũng là thực hiện những mục tiêu, lý tưởng và giá trị mà cuộc Cách mạng Tháng Tám 66 năm về trước đã sinh thành, đã tạo ra hiệu ứng xã hội rộng lớn, lâu dài trong đời sống của đất nước – dân tộc – con người Việt Nam hôm nay và mai sau, với tầm vóc của một cuộc cách mạng phát triển, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội .

Thành tựu to lớn đã đạt được, cơ hội ngàn vàng cho phát triển đã mở ra và chúng ta đã đón kịp. Song khuyết điểm, hạn chế, yếu kém cũng không ít, thách thức nguy cơ trên con đường phát triển cũng không kém phần nghiệt ngã. Âm hưởng lịch sử của Cách mạng Tháng Tám vẫn đang thúc giục chúng ta trong mọi việc lớn, nhỏ hàng ngày. Ý thức rõ trọng trách đối với dân tộc, Đảng ta xác định xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh là then chốt, đặt xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền đủ năng lực, trí tuệ, bản lĩnh và đạo đức để dẫn dắt toàn dân tộc vững bước đi tới tương lai là nhiệm vụ hàng đầu trong những nhiệm vụ trọng yếu của nhiệm kỳ Đại hội XI. Di huấn của Lênin, cách mạng phải có sức mạnh tự bảo vệ và Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng chân chính cách mạng, là đạo đức, là văn minh, ra sức tu dưỡng đạo đức cách mạng, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân đang tiếp tục nhắc nhở, hối thúc chúng ta, thường trực trong suy nghĩ và hành động của Đảng, của dân. Sinh thời Bác căn dặn chúng ta, làm cách mạng để đem lại độc lập tự do hạnh phúc cho dân. Phải làm cho dân tin tưởng, dân yêu mến, dân ủng hộ, dân giúp đỡ và dân bảo vệ. Đó là sức mạnh tự bảo vệ tốt nhất của cách mạng, của chế độ và của Đảng cầm quyền vào lúc này. Phấn đấu làm được như vậy là cách tốt nhất, thiết thực nhất và cũng hệ trọng nhất đối với Đảng và nhân dân ta trong mỗi dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 trên Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta.

GS.TS Hoàng Chí Bảo

xaydungdang.org.vn

Hồn Việt, bản sắc Việt trong “Tuyên ngôn Độc lập”

Một sự kiện cách đây 66 năm, không những đi vào lịch sử nước ta mà còn hiện diện vinh danh trong lịch sử thế giới. Đó là ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập(TNĐL), khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Bản Tuyên ngôn Độc lập là áng văn bất hủ, sánh vai cùng nhiều áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, sau “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”: Nam quốc sơn hà Nam đế cư… gắn với cuộc kháng chiến chống giắc Tống xâm lược của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ của  Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi “Tuyên cáo” về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân ta, từ địa vị nô lệ đứng lên giành độc lập, tự tổ chức ra nhà nước của mình. Áng hùng văn bất hủ này thực sự là một Di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc. Đọc TNĐL của Bác Hồ, chúng ta nhận ra qua từng lời văn với ngôn ngữ rất chắt lọc của Bác, không những mang tính pháp lý hiện đại, có tầm quốc tế về nội dung, mà còn mang đậm hồn Việt, bản sắc văn hóa dân tộc Việt.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thô-mat Giê-phe-son soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Thô-mat Giê-phe-son. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngắn gọn, dễ hiểu hơn:“Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt theo văn phong Việt, phong cách Việt, tính quần chúng hóa rất cao.

Từ chỗ mọi người, Bác đã đưa ra khái niệm lớn hơn, bao quát hơn: Mọi dân tộc, mang đầy đủ ý nghĩa quốc tế vô sản. Đó là một sự suy rộng mang đậm nét Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nguyên văn trong TNĐL, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ vì mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng sự suy rộng ra thành chân lý mang tầm thời đại. Cũng theo quan điểm, tư tưởng quốc tế vô sản, từ cách nhìn “toàn cầu hóa”, tháng 5-1969, trong Di chúc để lại cho muôn đời con cháu mai sau, Người đã viết: “… Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc đã dẫn biện: Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà La-dy Bo-rơ-ton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Thô-mat Giê-phe-son vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho TNĐL năm 1776 của nuớc Mỹ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Giá trị rất quan trọng của TNĐL là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với sự phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của tất cả các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch trên thế giới. Nó khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thế giới, nhất là cộng đồng các quốc gia, các dân tộc đang vươn tới giành tự do, độc lập. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản TNĐL, một sĩ quan tình báo Hoa Kỳ, ông A-Pat-ti, phụ trách đơn vị OSS cộng tác với Việt Minh trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cho rằng: Ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Để nâng cao giá trị của bản TNĐL vừa mang tính hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng, sau khi soạn thảo, Bác đã đem bản thảo trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc.“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”… Riêng câu nói đó trước khi chính thức đọc bản TNĐL tại Quảng trường Ba Đình đã toát lên tính dân tộc, tính đại chúng trong cách nói và viết của Người. Nó thực sự gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo mục tiêu của một thể chế ưu việt: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Trích dẫn những câu chữ rất chọn lọc trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp, Bác Hồ muốn mọi công dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới hiểu rằng: Hai nước thực dân, đế quốc to trên thế giới “tuyên bố” như thế, nhưng lại đi xâm lược, tước đoạt quyền tự do, độc lập của các dân tộc khác. Từ đó, lên án thực dân Pháp, đứng sau là quan thầy Mỹ, đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta trong 80 năm, trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp trên con đường phát triển tất yếu của nhân loại. Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã minh chứng một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các nước nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn.

Để chứng minh cái quyền tất yếu của dân tộc ta: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Đó là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây là một Tuyên bố Nhà nước, một văn bản Quốc gia chính thức. Vì thế, theo thông lệ của các chuẩn mực, người viết đã chọn dùng ngôn ngữ luật pháp chứ  không phải ngôn ngữ hành chính để thể hiện. Theo đó, tác giả đã không xuất phát từ  cái ý chủ quan của riêng mình mà bắt đầu văn bản bằng việc nêu lên một chân lý khách quan, vốn  đã thấy trên chính trường quốc tế.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã khai sinh ra một nước Việt Nam độc lập. Nước Việt Nam độc lập thì tiếng Việt cũng được độc lập. Độc lập là tiếng nói và chữ viết trở thành chính danh. Mệnh đề ấy rất đơn giản nhưng lại hoàn toàn không đơn giản chút nào trong sự nghiệp đấu tranh cho văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Tiếng Việt “là thứ của cải vô cùng lâu đời, vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh, 1962), là công cụ hữu hiệu trong phát triển và giữ gìn văn hoá Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Nhưng tiếng Việt, cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám, mới thật sự là thứ ngôn ngữ chính danh. Bản Tuyên ngôn Độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc ngày 2 -9-1945 là một minh chứng cho điều tiếng ta đã thật sự trở thành một tiếng độc lập.

Theo GS.TS. Đinh Văn Đức: Các văn kiện nổi tiếng về nền độc lập dân tộc như bài thơ “Nam quốc sơn hà”, hay “Bình Ngô Đại cáo”… đều được viết bằng chữ Hán.  Phải đến “Tuyên ngôn Độc lập” (1945) của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới có một văn kiện chính thức đầu tiên về nền Độc lập dân tộc được viết bằng tiếng Việt, chữ Việt một cách chính danh. Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là một tuyệt phẩm của tiếng Việt chuẩn mực và hiện đại – Một hòn ngọc văn hoá có giá trị rất quý báu và trường tồn lâu dài, như chính hồn Việt, dân tộc Việt, con người Việt.

Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là ngôn ngữ chính luận của một áng hùng văn đầy cảm xúc và của một ý chí sắt đá. Thành công của ngôn ngữ trong văn bản này có thể nhận thấy trên nhiều phương diện. Bản TNĐL có ba nội dung quan trọng, vừa mang tính khẳng định, vừa là lời hiệu triệu hùng hồn, với những tu từ học và ngắt câu, chốt câu rất độc đáo:

“… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

      Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.

      Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

   … Nhật tước khí giới của quân đội Pháp.

      Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng.

      Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.

Đã là tuyên ngôn thì phải nói ngay được cái chân lý, cái cốt lõi. Các phân tích ngôn từ triển khai tiếp theo sẽ bám vào đó mà thể hiện các lập luận. Ngôn ngữ văn bản này được viết rất giản dị nhưng tổ chức  cực kỳ chặt chẽ. Các liên kết lô gích và liên kết mạch lạc làm nòng cốt cho việc triển khai các lập luận cơ bản. Đó liên tục là một chuỗi của các lập luận: Lập luận về quyền dân tộc, lập luận về việc thực dân Pháp vi phạm các quyền đó, lập luận về thời cơ của vận nước, lập luận về quyền và trách nhiệm của dân tộc Việt Nam, lập luận về quyết tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc giữ gìn quyền độc lập và tự do. Một đặc trưng khác là cùng với lập luận chặt chẽ, lời văn của Tuyên ngôn hết sức trang trọng.

Ngôn ngữ của Tuyên ngôn Độc lập là ngôn ngữ của một văn kiện chính trị lớn, hướng đến một công chúng lớn mà đối tượng đích là “Quốc dân và Thế giới”. Nội dung truyền thông trong bản bố cáo rất lớn lao, có ý nghĩa vận mệnh của Quốc gia và Dân tộc. Dễ dàng nhận ra là tác giả đã viết văn bản trong một sự hào sảng cao độ, các cảm xúc như trào lên ngọn bút quanh hai từ Độc lập và Tự do. Ngôn ngữ luật pháp được vận dụng triệt để, các phát ngôn đầy tính nhân văn và lịch lãm, nhưng không màu mè và giả tạo, không lên gân mà rất tự nhiên, trung thực. Quan điểm của người nói khi phát ngôn rất chân thành và tha thiết nhưng cũng rất kiên định và cương quyết.

Sự súc tích của câu văn và từ ngữ cũng là một nét nổi trội. Có những nội dung rất lớn nhưng tác giả chỉ cần gói gọn trong một dòng với những ngắt đoạn cực ngắn, như khi nói về tình thế của cách mạng ta lúc đó, Tuyên ngôn đã viết: “Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị… Chúng ta lấy lại đất nước ta từ trong tay Nhật chứ không phải trong tay Pháp”. Thế là rõ: Đối ngoại thì Pháp không có lý do gì để trở lại Việt Nam, đối nội thì chính quyền cũ đã hạ cờ. Lịch sử đã sang trang. Mấy ngày sau, khi Quân đồng minh vào nước Việt thì họ chỉ là khách đến làm nhiệm vụ trong một đất nước có chủ quyền.

Chúng ta thấy lời văn ở đây là kết tinh một thứ tiếng Việt rất mới mẻ và hiện đại. Tính dân tộc và tính đại chúng trong TNĐL thể hiện rõ nét ở những câu, từ vừa mang tính chính luận sắc bén, vừa dễ hiểu để mọi tầng lớp trí-công-nông-binh đều hiểu rõ. Các từ như “thẳng tay”, “tắm”, “nòi giống ta”, “tận xương tủy”, “giết nốt”, “gan góc” hoàn toàn là Việt ngữ, không hề vay mượn, pha tạp chút nào. Ví dụ như: “Chúng đã thẳng tay chém giết”… “tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu… Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược… Chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ… Chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng…”

Đã 66 năm, từ Bản “Tuyên ngôn Độc lập” do Bác Hồ kính yêu của chúng ta soạn thảo và đã đọc tại Quảng trường Ba Đình, dân tộc ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với biết bao hy sinh mất mát, nhưng đã “đánh thắng  hai để quốc to là Pháp và Mỹ”, mọi người dân Việt Nam đều thấm nhuần sâu sắc và luôn luôn mang bên mình như một thứ hành trang không thể thiếu được. Đó là lời hiệu triệu của Bác: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Giá trị của Tuyên ngôn Độc lập cùng lời hiệu triệu đanh thép và trường tồn ấy vẫn luôn luôn tươi rói trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bùi Văn Bồng

xaydungdang.org.vn

Tuyên ngôn Độc lập – Cơ sở pháp lý nền tảng cho sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và đọc, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 2-9-1945. Tuyên ngôn Độc lập là văn bản pháp lý đặt cơ sở nền tảng cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là kim chỉ nam cho quá trình đấu tranh bảo vệ và giữ vững nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia của Nhà nước ta.

1. Tuyên ngôn Độc lập khẳng định dân tộc Việt Nam có quyền và xứng đáng được hưởng quyền tự do và độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là hợp với lẽ phải.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh nêu một sự thật hiển nhiên đã được ghi trong Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(1). Đó là những quyền thiêng liêng, không ai được xâm phạm. Hơn thế nữa, Hồ Chí Minh đã nâng quyền cá nhân của con người lên thành quyền của cả dân tộc, một sự suy rộng hợp lý, sắc sảo. Người viết: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(2). Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, là “những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Từ đó, Tuyên ngôn Độc lập đã đanh thép tố cáo chủ nghĩa thực dân Pháp, chủ nghĩa phát xít Nhật đã trắng trợn chà đạp lên những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc Việt Nam. Núp dưới khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”, với chiêu bài “khai hóa văn minh”, chủ nghĩa thực dân Pháp đã xâm lược Việt Nam, áp bức đồng bào ta, đầu độc nhân dân ta, kìm hãm dân tộc ta trong sự bần cùng, suy nhược, đẩy nòi giống ta vào thảm họa diệt vong. Đó là hành động “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”(3). Bằng thực tiễn xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Tuyên ngôn Độc lập đã vạch trần sự áp bức tàn bạo của bọn thực dân, phát xít về mọi mặt. “Về Chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man…

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta…”(4).

Về văn hóa, chúng “thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược…”(5).

Về kinh tế, “chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy…”(6).

Mặt khác, Tuyên ngôn Độc lập đã ca ngợi sự gan góc của nhân dân Việt Nam, dũng cảm đứng về phe Đồng minh chống lại nạn hủy diệt loài người của chủ nghĩa phát xít, giành lại quyền độc lập dân tộc. Trong cuộc chiến đấu ấy, thực dân Pháp đã không những không cùng với Việt Minh đứng về phe Đồng minh chống lại chủ nghĩa phát xít, không những “không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”(7), cấu kết với Nhật ra sức chém giết đồng bào ta. Dưới hai tầng áp bức Nhật – Pháp, đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ, nhất là công nhân và nông dân ngày càng bị bần cùng hóa cao độ, khốc liệt nhất là hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói vào cuối năm 1944 đầu năm 1945. Đó là tội ác trời không tha, đất không dung của chúng. Với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã dũng cảm đứng lên làm cuộc Tổng khởi nghĩa, đem sức ta giải phóng cho ta, giành lại quyền độc lập dân tộc.

Những lý lẽ ấy khẳng định: Cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam là bộ phận khăng khít, là sự tiếp nối tiến trình đấu tranh vì “lẽ phải”, vì sự tiến bộ của loài người, là cuộc đấu tranh giành lại quyền thiêng liêng nhất của các dân tộc. Chính vì những lẽ đó, dân tộc Việt Nam “phải được tự do”, “phải được độc lập!”. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”(8). Đó chính là nhân đạo và chính nghĩa! Dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng quyền tự do và độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là hợp với công lý và lẽ phải.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận con người dưới hai phương diện: cá nhân và cộng đồng. Cho nên, quyền độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết là một nội dung cơ bản và quan trọng của quyền con người. Đây là một sự đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh cho nhân loại về mặt nhận thức cũng như thực tiễn về vấn đề quyền con người. Tuyên ngôn về quyền dân tộc của Hồ Chí Minh đánh dấu một mốc son trong lịch sử đấu tranh vì sự tiến bộ của nhân loại và vẫn còn nguyên giá trị thời sự trong giai đoạn hiện nay. Trong thời đại mới, đấu tranh cho quyền con người không chỉ có đấu tranh cho quyền cá nhân con người mà còn đấu tranh cho quyền dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền cơ bản của cá nhân con người thống nhất hoàn toàn với quyền cơ bản của dân tộc, cho nên đấu tranh cho quyền cá nhân con người phải đảm bảo bảo vệ quyền độc lập, quyền tự quyết của dân tộc. Quyền cá nhân con người chỉ thật sự được bảo vệ, khi quyền dân tộc được đảm bảo, dân tộc có độc lập thì dân quyền mới tự do và dân sinh mới hạnh phúc. Đấu tranh cho quyền con người là nhân đạo và chính nghĩa khi sự đấu tranh ấy vừa đảm bảo những quyền cơ bản của cá nhân con người trong một cộng đồng dân tộc, đồng thời cũng đảm bảo những quyền cơ bản cho dân tộc ấy; đấu tranh bảo vệ quyền cá nhân con người thì đồng thời không được xâm phạm vào quyền độc lập, quyền tự quyết của dân tộc. Hiện nay, nhân danh đấu tranh cho quyền cá nhân con người, một số kẻ đã xâm phạm trắng trợn vào quyền cơ bản của dân tộc. Sự xâm phạm thô bạo quyền dân tộc ắt sẽ dẫn đến xâm phạm quyền cá nhân con người.

Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là ngọn cờ cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của cả hệ thống thuộc địa trên toàn thế giới. Nó thức tỉnh các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đứng lên “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, giành lại những quyền cơ bản cho dân tộc mình.

Nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã hy sinh không biết bao nhiêu xương máu để giành lại quyền tự do và độc lập, vì vậy, nhân dân Việt Nam nguyện đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập.

2. Tuyên ngôn Độc lập đặt cơ sở pháp lý cho cuộc Tổng tuyển cử và sự ra đời của bản Hiến Pháp 1946

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta đã nhiều lần đánh thắng quân xâm lược phong kiến phương Bắc, giành lại nền độc lập dân tộc, giữ vững bờ cõi nước nhà. Chúng ta đã có những áng “thiên cổ hùng văn” được coi như các bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, khẳng định nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, bờ cõi đất nước. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là sự tiếp nối tinh thần cốt lõi của các bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, đồng thời phát triển các giá trị cốt lõi ấy theo đà phát triển hợp quy luật của nhân loại. Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định việc giành lại quyền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam mà còn tuyên bố thoát ly khỏi chế độ thực dân, từ bỏ chế độ quân chủ phong kiến, lập nên một chế độ xã hội mới mang lại tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân. Đó là chế độ Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn Độc lập ghi rõ: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”(9). Đây chính là cơ sở pháp lý nền tảng cho việc chấm dứt hoàn toàn chế độ quân chủ phong kiến, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc – kỷ nguyên độc lập, dân chủ, cộng hòa. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức cuộc Tổng tuyển cử diễn ra vào ngày mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Trong cuộc Tổng tuyển cử đó, “Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”(10). Đây là thành quả to lớn về mặt chính trị mà Cách mạng tháng Tám đã mang lại cho nhân dân ta. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân được sử dụng lá phiếu của mình để bầu ra bộ máy nhà nước phục vụ cho lợi ích của nhân dân, của dân tộc.

Tuyên ngôn Độc lập là văn bản pháp lý đầu tiên tạo cơ sở cho việc thiết lập Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là quản lý xã hội bằng pháp luật. Việc xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện để quản lý xã hội là điều quan trọng nhất, mà trước hết là phải ban hành Hiến pháp – đạo luật gốc, giữ vai trò như “thần linh pháp quyền”, nói như ngôn ngữ hiện nay là giữ vai trò tối thượng trong việc chi phối và điều hành mọi quan hệ xã hội. Từ nhận thức sâu sắc đó, khi nước nhà vừa giành được độc lập, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định ngay việc thoát ly hẳn chế độ quân chủ, thiết lập chế độ Dân chủ Cộng hòa. Đây là cơ sở pháp lý nền tảng cho việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp 1946. Bởi lẽ, nói đến dân chủ là nói đến pháp luật. Trong chế độ Dân chủ Cộng hòa, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau; mọi quyền dân chủ của nhân dân phải được thể chế hóa bằng pháp luật, phải được pháp luật bảo vệ, ngược lại, hệ thống pháp luật là công cụ quan trọng nhất đảm bảo và phát huy quyền dân chủ của nhân dân, là hành lang vận động của dân chủ, là giới hạn phạm vi của dân chủ, đảm bảo cho dân chủ nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Do đó, sau khi tuyên bố nền độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sáng ngày mồng 2-9-1945, ngay ngày sau đó, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã đề nghị với Chính phủ 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó nhiệm vụ cấp bách thứ ba là soạn thảo và ban hành hiến pháp. Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”(11). Rõ ràng, khẳng định việc thiết lập chế độ Dân chủ Cộng hòa, Tuyên ngôn Độc lập đã tạo ra cơ sở pháp lý cho sự ra đời của Hiến pháp 1946. Đây là những viên gạch đặt nền móng cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tuyên ngôn Độc lập, Tổng tuyển cử, và Hiến pháp 1946 có quan hệ hữu cơ với nhau. Tuyên ngôn Độc lập đã tạo cơ sở pháp lý nền tảng cho việc tổ chức cuộc Tổng tuyển cử và sự ra đời của bản Hiến pháp 1946. Đến lượt mình, Hiến pháp 1946 ra đời đã thể chế hóa thành hiến pháp tất cả những nội dung cốt lõi của Bản Tuyên ngôn Độc lập, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho những điều mà Tuyên ngôn đã tuyên bố – những thành quả vĩ đại mà Cách mạng Tháng Tám đã mang lại cho nhân dân Việt Nam. Hiến pháp 1946 cũng tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do chính nhân dân bầu ra từ Chính phủ đến cơ sở. Đây là những nhân tố quan trọng nhất tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Việc nhanh chóng tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn về thực tiễn. Đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược với tư cách là một nước độc lập, có chủ quyền đấu tranh để giữ vững nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Việc nhân dân bầu ra được bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở, được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật đã tạo ra một bộ máy nhà nước mạnh đủ sức tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược, đưa đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

———-

(1, 2, 3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG. H.2002, tập 4, tr.1.
(4, 5, 6, 7) Sđd, tr.2.
(8) Sđd, tr.4.
(9) Sđd, tập 4, tr.3.
(10, 11) Sđd, tr.8.

Ths. Nguyễn Thị Thu Trang
Giảng viên chính, Khoa Tư tưởng HCM, Học viện CT-HC Khu vực III

xaydungdang.org.vn

Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Công việc đầu tiên của chính phủ đầu tiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời sau phiên họp chính phủ đầu tiên 3-9-1945 (ông Vũ Đình Hòe đứng cạnh Bác Hồ bên trái) – Ảnh tư liệu

TT – Bất ngờ, chúng tôi được biết ông Vũ Đình Hòe – người từng giữ chức vụ bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục trong Chính phủ lâm thời đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – vẫn còn sống và hiện ở một căn nhà nhỏ tại phường Hiệp Phú, quận 9, TP.HCM.

Đã bước vào tuổi 93 nhưng ông Hòe vẫn còn minh mẫn và rất xúc động khi kể về những ngày đầu lập quốc 60 năm trước mà ông được vinh dự tham gia trực tiếp với tư cách là một bộ trưởng.

Nhiệm vụ đè nặng trên vai bộ trưởng

Ngay sau ngày lịch sử 2-9-1945, ngày 3-9 Bác triệu tập cuộc họp phiên đầu tiên của Chính phủ.

Trong tình hình đất nước vừa thoát ra khỏi kiếp nô lệ, nạn đói lịch sử còn hoành hành khắp nông thôn miền Bắc, quân xâm lược vẫn còn uy hiếp, Bác đã đưa ra sáu vấn đề cấp bách mà Chính phủ cần thảo luận và thực thi khẩn cấp.

Nhiệm vụ đầu tiên là mở ngay những cuộc lạc quyên, tăng gia sản xuất để cứu đồng bào khỏi nạn đói và nhiệm vụ thứ hai ngay sau cứu đói là mở chiến dịch chống mù chữ trong toàn quốc…

“Tôi biết trách nhiệm đang đè nặng trên vai bộ trưởng giáo dục khi Bác nhắc tới vấn đề quan trọng thứ hai và nhìn về phía tôi…” – ông Vũ Đình Hòe nhớ lại. Trong suốt quá trình Pháp thuộc, hơn 90% dân Việt bị mù chữ, chính nạn thất học là một quốc nạn ngày ấy.

Ngày 8-9, Bác Hồ ký ngay sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ để phụ trách việc chống mù chữ trong cả nước – một trong những sắc lệnh đầu tiên của nhà nước non trẻ.

Ông Vũ Đình Hòe kể: “Ngay những ngày đầu Chính phủ hoạt động, Hồ Chủ tịch dành hẳn một giờ để tiếp đoàn cán bộ cao cấp của Bộ Giáo dục sang Phủ chủ tịch làm việc. Biết rõ tác phong ngắn gọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi đi ngay vào vấn đề: “Thưa Cụ chủ tịch, chúng tôi xin phép trình bày ba việc để xin Cụ chỉ giáo”.

Ông Vũ Đình Hòe tại nhà riêng ở phường Hiệp Phú, Q.9, TP.HCM – Ảnh: Vũ Bình – “Ông Vũ Đình Hòe sinh năm 1912, tốt nghiệp Đại học Luật khoa Đông Dương của Pháp mở tại Hà Nội, phó chủ tịch Hội truyền bá quốc ngữ (do cụ Nguyễn Văn Tố làm chủ tịch). Ông gia nhập Đảng Xã hội Pháp (SFIO). Năm 1941, ông cùng những trí thức trẻ ra tờ báo Thanh Nghị trước ngày tổng khởi nghĩa. Ông hoạt động trong Đảng Dân chủ VN với tư cách ủy viên Trung ương Đảng Dân chủ, tham gia Mặt trận Việt Minh và được cử đi dự đại hội Tân Trào…”

Bác nói ngắn gọn và hỏi: “Tôi nghe. Việc thứ nhất?”. “Xin trình Cụ hai dự thảo sắc lệnh, một là thanh toán nạn mù chữ trong vòng một năm và hai là sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ”.

Hồ Chủ tịch sau khi hỏi thăm về cơ sở vật chất cho nha bình dân học vụ đã nhanh chóng tán thành. Chúng tôi đề nghị cho Bộ Giáo dục chỉ thị ngay trong niên học tới đây, tất cả các trường, kể cả đại học, chỉ được dùng tiếng Việt khi học, khi dạy và trong mọi kỳ thi… Hồ Chủ tịch bảo: “Hay đấy nhưng có vội quá không? Các ông đã chuẩn bị đủ chưa?”.

Theo sự phân công trong đoàn, hai anh Nguyễn Văn Huyên và Ngụy Như Kontum, tổng giám đốc các nha đại học vụ và trung học vụ, trả lời Cụ Hồ: “Thưa Cụ chủ tịch, ông Hoàng Xuân Hãn – bộ trưởng trong chính phủ cũ trước đây – đã bắt đầu làm thử ở Trung bộ, xem ra khá trơn tru…

Hồ Chủ tịch nghe xong thì nói ngay: “Ông Hoàng Xuân Hãn tôi có biết hồi còn ở bên Pháp, người này có tâm, thế thì bộ quyết định đi…”.

Sau đó, Bộ Quốc gia giáo dục đã tổ chức hội nghị toàn quốc bình dân học vụ để bàn kế hoạch triển khai sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xóa nạn mù chữ trong một năm.

Đi liền với hội nghị là khai mạc lớp đào tạo giáo viên bình dân học vụ đầu tiên cho toàn quốc, mang tên “Khóa Hồ Chí Minh” được vinh dự đón Hồ Chủ tịch đích thân đến dự”.

“Xã hội hóa giáo dục” từ ngày lập quốc

Ông Vũ Đình Hòe nhớ lại: Thật ra lúc đó không ai tin rằng chỉ một năm là có thể làm được việc xóa mù chữ, vì nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì phải ít nhất 30, 40 năm nữa mới kết thúc được phong trào.

Sao không biết dựa vào sức dân? Có sức dân thì mọi việc sẽ được hoàn thành. Ông Hòe lên diễn đàn và đưa ra bài toán của mình: “Cứ dạy cho một người biết đọc, biết viết trong ba tháng phải tốn ít ra là 6 đồng. Dạy cho 10 triệu người trong một năm phải tiêu hơn 60 triệu đồng tiền sách vở, giấy bút. Nếu trả lương giáo viên thì phải thêm 10 triệu đồng nữa vì phải cần đến 10 vạn giáo viên, mỗi giáo viên có thể dạy 100 học sinh trong một năm”.

Cả hội nghị cùng bàn bạc, góp ý và đi đến thống nhất: về khoản chi cho giáo viên thì không phải tốn vì phong trào sẽ không ai nhận tiền lương. Còn về con số 10 vạn giáo viên thì tính ra cả nước có 57 tỉnh, mỗi tỉnh phải tự tổ chức 2.000 giáo viên, mỗi tỉnh có khoảng 800 làng, mỗi làng phải tự túc lo bảy giáo viên…

Một lớp bình dân học vụ xóa mù chữ sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân – Ảnh tư liệu – “Chiến dịch diệt “giặc dốt”, chống nạn mù chữ từ ấy bừng lên. Khắp mọi nơi hừng hừng khí thế thi đua học văn hóa cùng với việc gia tăng sản xuất diệt “giặc đói”. Người chưa biết chữ thì cố gắng học nhanh cho đỡ phí tổn, người biết chữ thì chồng dạy vợ, con dạy cha, anh dạy em. Học mọi lúc, mọi nơi, trẻ chăn trâu thì ra đồng tranh thủ học trên lưng trâu, các chiến sĩ đi hành quân thì người đi sau kề lên lưng người đi trước mà học.”

Căng nhất vẫn là khoản chi 60 triệu đồng để mua sách vở, ông Hòe đề nghị: “Trong lúc ngân sách còn eo hẹp, các lớp bình dân học vụ có thể dùng phấn hay gạch để viết xuống đất, chi phí sẽ rút xuống còn 2 đồng chứ không phải 6 đồng như trước đây, vậy Chính phủ có thể trả 5 triệu đồng cho khoản đó không?”.

Bộ trưởng Tài chính Phạm Văn Đồng đang ngồi bên dưới trả lời ngay: “được!”. Cả hội trường vỗ tay hoan nghênh. Ông Hòe thừa thắng xông lên: “Còn 15 triệu nữa, chi phí này ta không nhờ Chính phủ mà sẽ trông vào nhân dân, mỗi làng tự lo 1.000 đồng một năm có được không?”.

Các đại biểu từ khắp nơi về dự đều hô to: được… được và vang rền tiếng vỗ tay. Cô huấn luyện viên lớp đào tạo giáo viên Trương Thị Giáo mang sổ vàng lên xin chữ ký Bác Hồ và các bộ trưởng.

Bác Hồ nói: “Tôi khen sáng kiến của ông bộ trưởng. Ông khéo thu xếp để ta làm được việc lớn mà không phải tiêu pha lớn…”.

Tính đến cuối năm 1945, sau hơn ba tháng phát động, theo báo cáo chưa đầy đủ của các tỉnh Bắc bộ gửi về Bộ Quốc gia giáo dục thì đã mở được 22.156 lớp học với 29.960 giáo viên và đã dạy biết chữ cho 519.250 học viên mà tổng chi phí xuất từ ngân sách trung ương là 815,68 đồng, còn lại đều do các địa phương và tư nhân chi trả.

Trung bộ, Nam bộ cũng có những con số tương tự. Không chỉ xóa nạn mù chữ, Bộ Quốc gia giáo dục bấy giờ cũng đã xây dựng được 14 trường trung học, trường kỹ nghệ cao cấp và sơ cấp với tổng số gần 6.000 học sinh trung học.

Ngày 15-11-1945, mặc dù tình thế rất khó khăn nhưng Trường đại học Việt Nam cũng đã khai giảng. Trong tờ trình Quốc dân đại hội (Quốc hội) của Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng sau do ông Vũ Đình Hòe đọc: “Thành công lớn nhất của chính quyền lâm thời trong việc xây dựng nền giáo dục cho đất nước chính là đặt nền tảng cho một nền giáo dục có tính cách duy nhất, chung cho tất cả các giai cấp xã hội, lấy tôn chỉ bình đẳng làm căn bản, là nền giáo dục cách mạng, khác với nền giáo dục Pháp thuộc trước đây”.

Ông Vũ Đình Hòe nói: “Tôi chỉ làm việc ở Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng, sau đó thì chuyển sang làm bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nhưng đó là sáu tháng đầy kỷ niệm và ấn tượng không thể nào quên được trong cả cuộc đời”.

VŨ BÌNH

tuoitre.vn

Quyền lựa chọn của dân tộc

Kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2-9

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập tại Hà Nội, 1945

TT – Quyền thứ nhất được Bác Hồ long trọng tuyên bố 60 năm về trước là quyền độc lập. Với ý nghĩa này, ngày 2-9 đã trở thành Tết Độc lập của đất nước ta. Thế nhưng độc lập là gì?

Trong rất nhiều ngôn ngữ, không có từ độc lập đứng riêng mà chỉ tồn tại từ không phụ thuộc. Độc lập chính là sự không phụ thuộc. Chúng ta đã giành lại giang sơn này chính là để tự quyết định lấy vận mệnh của mình mà không bị phụ thuộc vào kẻ khác. Chúng ta đã và đang làm được điều này ngày càng nhiều hơn.

Đặc biệt là khi chúng ta đang giành được quyền độc lập ngày càng nhiều hơn trong tư duy, trong việc lý giải định mệnh và hoạch định tương lai của dân tộc. Độc lập chỉ thật sự được bảo đảm khi chúng ta không bị phụ thuộc về tinh thần.

Quyền thứ hai được Bác Hồ long trọng tuyên bố 60 năm về trước là quyền tự do. Tự do của một dân tộc được hợp thành từ tự do của mỗi công dân. Không thể có một dân tộc tự do mà những công dân của dân tộc đó lại không có được quyền tự do như vậy. Tự do chính là quyền lựa chọn.

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

HỒ CHÍ MINH
(Trích Tuyên ngôn độc lập)

Và hàng triệu Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc đã lựa chọn sự hi sinh. Sự lựa chọn này mang đầy định mệnh, nhưng lại là một sự lựa chọn tự nguyện, một sự thực thi quyền tự do. Những người con ưu tú của đất nước đã lựa chọn sự hi sinh chính là để bảo đảm rằng quyền lựa chọn của dân tộc ta là không thể bị tước bỏ.

60 năm qua, độc lập, tự do là những giá trị mà dân tộc ta đã không ngừng theo đuổi và vươn tới. Hàng triệu người con ưu tú của đất nước ta đã hi sinh tuổi trẻ, hạnh phúc và sinh mệnh của mình cho những giá trị nói trên.

Những lá cờ của chúng ta vì vậy không phải ngẫu nhiên mà đỏ cháy lên như sự hiệu triệu của đức hi sinh và sự dâng hiến!

TS NGUYỄN SĨ DŨNG

tuoitre.vn

Bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao

Trong những ngày này, những ngày kỷ niệm mùa thu cách mạng – Tháng Tám 1945, nghĩ về tất cả những gì mà cuộc cách mạng mang lại, chúng ta càng nhớ Bác nhiều hơn. Nhớ những ngày đất nước ngàn cân treo sợi tóc khi thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai, khi những thành quả to lớn vừa giành được sau Cách mạng Tháng Tám bị đe dọa, toàn dân theo lời kêu gọi của Người: Phải vùng lên, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có súng, gươm thì dùng giáo, mác, gậy gộc, cuốc, thuổng. Ai cũng ra sức đánh thực dân. Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ.

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) của Hồ Chủ tịch thôi thúc cả nước đứng lên đánh đuổi ngoại xâm. Biết bao thanh niên các làng quê Bắc Bộ rời mái ấm gia đình lên đường Nam tiến, biết bao chiến sĩ đã kiên cường chiến đấu bám trụ đánh địch trong từng góc phố, con hẻm. Không ít chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch để ngăn chặn bước tiến của chúng, tạo thời gian chiến lược cho cơ quan Đảng, Nhà nước và nhân dân sơ tán, chuẩn bị cho một giai đoạn chiến đấu mới. Họ hóa thân vào đất nước để sống mãi cùng Tổ quốc bất tử.

Trong những ngày tháng ấy, vận mệnh của dân tộc đè nặng lên đôi vai gầy yếu của Người. Bộ óc thiên tài ấy đang phải căng ra để giải quyết khối lượng công việc khổng lồ cho cuộc kháng chiến trường kỳ: Chúng ta sẽ đánh địch như thế nào? Xây dựng lực lượng ra sao? Làm sao để giảm bớt tổn thất về tính mạng và tài sản cho nhân dân? Hàng loạt những bài toán được đặt ra đòi hỏi Người phải nhanh chóng giải quyết. Bận trăm công nghìn việc là thế mà Bác vẫn nghĩ đến và chia sẻ sự hy sinh mất con của Bác sĩ Vũ Đình Tụng.

Đó là bức thư huyết lệ cho thấy tình thương của Bác lúc nào cũng “đong đầy” cho tất cả được ghi theo lời kể của Bác sĩ Vũ Đình Tụng (1).

“Bác sĩ Vũ Ðình Tụng (1895-1973) là một trí thức công giáo yêu nước, có cảm tình với cách mạng và giàu lòng nhân ái. Ông là một trong những bác sĩ đầu ngành về ngoại khoa của y học Việt Nam. Hồi ức lại những ngày đầu sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát lệnh toàn quốc kháng chiến vài hôm, ông kể:
Cả ngày hôm ấy, tháng Chạp năm 1946, tôi đã phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ nhưng đến trường hợp con tôi, thần kinh tôi căng lên một cách kinh khủng.

Mấy y tá giúp việc khuyên tôi nên nghỉ tay, nhưng tôi vẫn cố kìm mình để giữ bình tĩnh, gắp mảnh đạn cuối cùng trong thân thể con. Xong việc, tôi loạng choạng rời khỏi bàn mổ.

Các bác sĩ và những người giúp việc đã cố gắng hết sức nhưng vết thương do quân thù gây ra quá nặng đã cướp mất Thành, con trai út của tôi, một chiến sĩ “sao vuông” còn rất trẻ. Anh của Thành, Vũ Đình Tín, tự vệ chiến đấu cũng vừa bị mất sau ngày Tổng khởi nghĩa, tôi đau đớn đến bàng hoàng.

Một buổi chiều trời rét cắt da, sau đêm Nô-en, vào lúc tôi vừa mổ xong một ca thương binh nhẹ thì Bác sĩ Trần Duy Hưng (lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ) trân trọng trao cho tôi một bức thiếp của Hồ Chủ tịch. Tôi cảm động lắm.

Mới đầu, tôi cứ ngỡ là một mệnh lệnh của Người. Nhưng thật không ngờ, đó lại là một bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao của Bác chia sẻ với mất mát của gia đình tôi. Khi đó, Bác gọi tôi là “Ngài”.

Người viết:
“Thưa Ngài, tôi được báo cáo rằng: Con giai Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.
Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước – Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam. Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây, chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài và gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.
Tháng 1-1947
Hồ Chí Minh”

Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình đang có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác.

Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở nên nhỏ bé trong tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với cả dân tộc.

Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh Xã hội của nước Việt Nam mới”.

Bác vĩ đại đến nhường nào thì cũng bình dị nhường ấy. Tình thương của Người bao la, gần gũi, thân thương đối với mỗi gia đình Việt Nam. Cả cuộc đời Bác vì nước, vì dân không có điều kiện dành cho hạnh phúc riêng. Không có gia đình riêng, nhưng Bác có “Nước Việt Nam là gia đình” chung, có “tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu”. Cuộc chiến tranh mà bọn xâm lược gây ra đã cướp đi biết bao đứa con thân yêu của những người cha, người mẹ, triệu triệu con cháu của Bác Hồ. Máu của các anh hòa vào dòng sông, con suối, di hài các anh hoá vào đất nước, quê hương. Đằng sau nụ cười ngày chiến thắng là những dòng nước mắt chảy vào trong, là nỗi “đau đớn đến bàng hoàng” của những người cha, người mẹ mất con như Bác sĩ Vũ Đình Tụng, là nỗi đau như “đứt một đoạn ruột” của người cha già kính yêu.

Bác luôn là biểu tượng mẫu mực biến đau thương thành hành động cách mạng. Người khuyên bác sĩ Vũ Đình Tụng “thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà”. Đó là cách tri ân, sự đền đáp xứng đáng nhất của những người đang sống, đang chiến đấu với những người đã mất để linh hồn các anh “trên trời cũng bằng lòng và sung sướng”. Với Người, nước mắt là “lò luyện” cho “thép cách mạng” vững vàng hơn, mạnh mẽ hơn.

Bác không những là người đại diện cho ý chí kiên cường sắt thép của một dân tộc quật cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước mà còn là một người cha gần gũi với mỗi gia đình Việt Nam. Người không chỉ là chủ nhân của những “mệnh lệnh”, những quyết định lịch sử mà còn là tác giả của những “bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao… chia sẻ với mất mát của gia đình” các thương binh, liệt sĩ. Những lá thư chứa đầy “tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả” của người đứng đầu Chính phủ làm vơi đi nỗi đau của những gia đình như gia đình Bác sĩ Vũ Đình Tụng. Bác đã để lại cho chúng ta bài học quý về ý nghĩa, giá trị to lớn của tình thương yêu.

Với chúng tôi, những người cán bộ đoàn luôn mang trong mình niềm tự hào được làm “đội hậu bị” của Đảng, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là sống “quên mình cho tất cả”. Học theo Bác, học tình thương yêu vô vàn và sự hy sinh cao cả, học sự quan tâm đến mọi người của Bác, chúng tôi nhận thấy phải thật sự quan tâm đến tâm tư tình cảm, đến đời sống vật chất và tinh thần của đoàn viên thanh niên, dùng tấm lòng mà đối xử với tấm lòng. Chúng tôi luôn quan niệm phải hết mình, hết sức cho công việc, luôn “thân thiện – trách nhiệm” trong quan hệ với đồng chí, đồng nghiệp và quần chúng nhân dân, nguyện lấy đó làm phương châm sống, học tập, công tác. Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là hành trang quý báu cho mỗi chúng ta trong quá trình rèn đức, luyện tài, góp phần xứng đáng đưa đất nước thành công trong hội nhập, vươn đến đỉnh vinh quang.
—–
(1) Trích trong cuốn “Tuổi trẻ Việt Nam làm theo lời Bác” do NXB Thanh Niên, 5-2007.

Nguyễn Thị Hưng Giang, Nguyễn Phương An
Đảng ủy khối Doanh nghiệp tỉnh An Giang

xaydungdang.org.vn

Bác Hồ với vấn đề thời cơ trong cách mạng Tháng Tám

(ĐCSVN) – Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đã nêu một tấm gương sáng và một hình mẫu đáng tự hào về tổng khởi nghĩa giành chính quyền cho các dân tộc bị đế quốc, thực dân nô dịch trên thế giới noi theo.

Là người Mác xít chân chính, giàu trí tuệ, nung nấu lý tưởng giải phóng đất nước, Bác hiểu con đường phải đi, những việc phải làm và hướng nỗ lực chuẩn bị vào đó để giành quyền chủ động bùng nổ cách mạng khi có thời cơ: ngày 19/9/1924 Bác trả lời họa sĩ Thụy Điển Erich Giôhanxơn: con đường giải phóng Việt Nam là: “… khởi nghĩa vũ trang trong cả nước”; “phải tổ chức càng nhiều càng tốt những nhóm vũ trang của người nông dân và công nhân tại Việt Nam. Đó là những tế bào có thể hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa” (1). Năm 1927, Bác viết tác phẩm “Đường Kách Mệnh”. Đó là những nét lớn làm cơ sở cho cương lĩnh của Đảng ta sau này. Tháng 6/1925 Bác sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 2/10/1929 Bác viết bài “Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương”, vạch trần những thủ đoạn bóc lột, bắt phu, bắt lính của thực dân Pháp ở Đông Dương, chỉ cho nhân dân ta bộ mặt và bản chất của quân thù. Từ ngày 3-7/2/1930 Bác chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, thông qua “chính cương vắn tắt”, “sách lược vắn tắt” và “điều lệ vắn tắt” của Đảng do Người khởi thảo. Từ đây cách mạng Việt Nam có bộ tham mưu tối cao thống nhất lãnh đạo – đó là điều kiện tiên quyết để cách mạng thành công. Sau Hội nghị Trung ương I (tháng 10/1930) Bác viết: “Để chống lại đàn áp cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân”, “cần làm cho nông dân nhận thức rõ lực lượng và vai trò của mình” (2). Đó là những ý tưởng đầu tiên cho sự ra đời của quân đội. Tháng 1/1935 Bác viết thư gửi Bộ phương Đông (thuộc Quốc tế cộng sản) đề nghị một số biện pháp nhằm bồi dưỡng lý luận Mác – Lênin cho các cán bộ đảng viên ở các nước thuộc địa… đưa họ vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Tháng 7/1939 từ Trung Quốc Bác gửi thư về cho Trung ương Đảng: “… phải tổ chức Mặt trận Dân chủ rộng rãi… Mặt trận Dân chủ Đông Dương phải liên hệ với Mặt trận Nhân dân Pháp” (3). Tháng 10/1941 Việt Nam độc lập đồng minh (Việt minh) thành lập. Đây là điều kiện tiên quyết thứ hai bảo đảm sự thành công cho cách mạng. Tháng 2/1941 Bác về nước chỉ đạo lập các hội cứu quốc tại căn cứ địa Cao Bằng và chỉ thị phải tuyên truyền vận động quần chúng, có như vậy cách mạng mới thành công.

Là người nhuần nhuyễn học thuyết Mác – Lênin, lại am hiểu sâu sắc trước tác của những nhà chính trị, quân sự tầm cỡ thế giới ở phương Đông (Khổng Tử, Tôn Tử, Ngô Khởi, Gia Cát Lượng…), Bác thấy rất rõ ý nghĩa to lớn của vấn đề thời cơ. Cách mạng Việt Nam luôn phải đối mặt với các kẻ thù lớn, hung bạo (Nhật, Pháp), vấn đề thời cơ càng là mối quan tâm đặc biệt của Bác, Bác tìm mọi biện pháp nắm tình hình, phân tích kết luận chính xác, đánh giá đúng tương quan so sánh lực lượng để phát động tổng khởi nghĩa đúng lúc, bảo đảm chắc thắng, ít tổn thất, thương vong. Quá trình vận động, chuẩn bị cách mạng, Bác còn thường xuyên uốn nắn những chủ trương, hành vi manh động, không hợp thời. Tháng 11/1940 được tin Nam kỳ khởi nghĩa, Bác nhận định: “Tình hình… có lợi cho ta”, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”. Tháng 3/1945 sau khi Nhật đảo chính Pháp, Bác nhắc nhở: chuẩn bị tổng khởi nghĩa lúc này cũng chính là sẵn sàng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngày 15/8/1945 Bác phát biểu ở Hội nghị toàn quốc của Đảng: tích cực thì nắm được thời cơ, không tích cực thì thời cơ không chờ mình. Theo Người thời cơ tổng khởi nghĩa chỉ tồn tại trong thời đoạn từ Nhật đầu hàng Đồng minh (13/8/1945) đến trước khi quân Đồng minh vào nước ta giải giáp quân Nhật (28/8/1945). Chính vì biết chủ động chuẩn bị, nắm được thời cơ và hành động đúng thời cơ mà chỉ với năm ngàn đảng viên, Đảng cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo tổng khởi nghĩa thành công trong cả nước.

Thành công ấy trước hết thuộc về Thường vụ, Trung ương và Đảng cộng sản Đông Dương, trong đó có vai trò đặc biệt của Bác Hồ – người giữ vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng – người có khả năng hội tụ sức mạnh của Đảng, của dân tộc và của thời đại. Bác đã đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bão tố đến bến bờ vinh quang. Cống hiến lớn lao, xuất sắc của Bác về nghệ thuật tạo, nắm và chớp thời cơ, sử dụng lực lượng áp đảo của quần chúng nhân dân giành thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu… trong tổng khởi nghĩa vẫn là bài học nóng hổi và luôn có giá trị cho chúng ta và cho các dân tộc bị nô dịch trên thế giới.

Ghi chú:

1 – Báo Nhân dân ngày 16/3/1980.
2 – Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, trang 38.
3 – Sách đã dẫn, trang 114,115.
4– Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, trang 77.

Đỗ Lai Tiệp (CTV)

cpv.org.vn

Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn của một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam. Trước tình hình đó, sau một thời gian ở lại Liên Xô để nghiên cứu chế độ Xô Viết và kinh nghiệm xây dựng đảng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã về gần Việt Nam để xúc tiến việc chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 11/11/1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc).

Về mặt công khai, Người lấy tên là Lý Thụy, làm cán bộ phiên dịch cho phái đoàn cố vấn của Chính phủ Liên Xô đến giúp Chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc. Việc đầu tiên của Người là bắt mối liên lạc với Tâm tâm xã và tổ chức yêu nước của cụ Phan Bội Châu đang hoạt động ở Quảng Châu.

Lúc này cụ Phan bội Châu đã cải tổ Việt Nam quang phục Hội thành Việt Nam quốc dân đảng. Nguyễn Ái Quốc viết thư góp ý kiến với cụ Phan Bội Châu về đường lối và phương pháp cách mạng. Cụ Phan tiếp thu những ý kiến đó, nhưng chưa kịp sửa chữa sai lầm của mình thì cụ đã bị đế quốc Pháp bắt đưa về nước (1925).

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc chọn số thanh niên yêu nước trong các tổ chức cách mạng ở trong nước ra, mở Trường huấn luyện chính trị để đào tạo họ trở thành những cán bộ cách mạng và đưa họ trở về nước hoạt động trong giai cấp công nhân và nhân dân. Trường mở được 10 khóa, mỗi khóa từ một tháng rưỡi đến ba tháng, tổng số học viên có khoảng 200 người. Đó là đội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên cho cách mạng Việt Nam, với những người tiêu biểu như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự…

Nguyễn Ái Quốc là người phụ trách trường, vừa là giảng viên chính, có khi kiêm cả cán bộ phiên dịch. Ngoài học tập lý luận và chính trị, các học viên còn được học thêm vǎn hóa và ngoại ngữ. Người còn lựa chọn một số cán bộ gửi sang Matxcơva học tập lý luận ở Trường đại học Phương Đông và một số khác vào học Trường quân sự Hoàng Phố có cố vấn Liên Xô giảng dạy ở Quảng Châu.

Trên cơ sở giác ngộ về tinh thần yêu nước, các học viên nhận rõ đường lối và phương pháp đúng đắn của cách mạng Việt Nam và có xu hướng cộng sản chủ nghĩa. Họ lần lượt được cử về nước xây dựng cơ sở, tuyên truyền, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng.

Để làm tài liệu giảng dạy tại Trường huấn luyện chính trị, đầu nǎm 1925, Nguyễn Ái Quốc biên soạn tập đề cương bài giảng mà đầu nǎm 1927 được xuất bản thành cuốn sách “Đường kách mệnh”. Trong đó, Người nêu lên tư tưởng cách mạng triệt để, chỉ rõ rằng: muốn sống thì phải làm cách mạng. Làm cách mạng phải có quyết tâm, hy sinh, bền gan, đoàn kết nhau lại. Muốn được như vậy thì trước hết mọi người phải hiểu rõ vì sao phải làm cách mạng. Trong cuốn Đường cách mệnh Người nói về tư cách người cách mạng, tức là đạo đức cách mạng: tự mình phải cần kiệm, chí công vô tư, quả quyết sửa lỗi mình, không hiếu danh, không kiêu ngạo ; nói thì phải làm, phải giữ chủ nghĩa cho vững, hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất… Người coi việc giác ngộ cách mạng và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ là một trong những yêu cầu hàng đầu để chuẩn bị về tư tưởng và chính trị, tiến tới xây dựng một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam.
Muốn làm cách mạng thành công, người cán bộ còn phải hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng.

Nhân dân Việt Nam đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh anh dũng chống đế quốc Pháp, nhưng đều bị thất bại, vì chưa có lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, không hiểu tình hình thế giới, không biết so sánh lực lượng ta và lực lượng địch, không có “mưu chước” không hiểu “sách lược”, không biết nắm thời cơ, “chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại không làm”. Vì vậy, những người cách mạng phải giảng giải cho nhân dân hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tình hình và kinh nghiệm cách mạng thế giới.

Nắm vững tính chất và đặc điểm xã hội Việt Nam, đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, thấm nhuần học thuyết của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga vào điều kiện cụ thể của nước ta, Người đề ra đường lối cách mạng Việt Nam là phải đi từ giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giại đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Người đề ra cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới (nay gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân).

Nhiệm vụ trước mắt của Cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Người nhấn mạnh: công nhân và nông dân là lực lượng chủ yếu của cách mạng vì công nông bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất và họ là lực lượng đông nhất.

Người chỉ rõ cách mạng là việc chung của quần chúng nhân dân. Vì đế quốc Pháp dùng chính sách chia rẽ người Việt Nam thành người Trung, Nam, Bắc; lấy tôn giáo và vǎn hóa nô dịch để mê hoặc nhân dân; lấy sức mạnh để đàn áp nhân dân, cho nên muốn làm cách mạng, trước hết chúng ta phải giác ngộ, tổ chức, đoàn kết và lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh. Những người cách mạng phải tổ chức các hội quần chúng như công hội, nông hội, phụ nữ, thanh niên.

Người còn nêu rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, theo đường lối của Quốc tế cộng sản, quan hệ mật thiết với cách mạng Pháp và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa khác.

Về kinh nghiệm cách mạng thế giới, Người nhận định cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là những cuộc cách mạng tư sản không triệt để. Chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để nhất, vì nó đem lại tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho nhân dân lao động và còn giúp đỡ cho các dân tộc bị áp bức làm cách mạng để tự giải phóng.

Muốn tổ chức và đoàn kết được các lực lượng cách mạng, muốn có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, trước hết phải có đảng cách mạng, để trong thì vận động và tổ chức nhân dân, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản các nước, Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mời chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa Mác – Lênin làm cốt. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có kim chỉ nam. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Cuốn Đường kách mệnh chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua, mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới.

Để làm cơ sở cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 6 nǎm 1925, tại Quảng Châu, Người đã sáng lập “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội”, một tổ chức tiền thân của Đảng. Tôn chỉ và mục đích của Hội được thể hiện trong cuốn Đường cách mệnh.
“Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” là một tổ chức rất chặt chẽ, gần như một đảng cộng sản, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, dùng tự phê bình và phê bình để xây dựng hội.

Dưới sự lãnh đạo của “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội”, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đã kết hợp chặt chẽ với nhau, tạo thành một làn sóng dân tộc và dân chủ mạnh mẽ khắp cả nước. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là tổ chức cách mạng đầu tiên ở nước ta có xu hướng chủ nghĩa cộng sản, đi vào quần chúng vận động công nhân và nông dân theo quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Để tuyên truyền tôn chỉ và mục đích của Hội, Nguyễn Ái Quốc đã xuất bản tuần báo Thanh niên. Báo này vạch trần những tội ác dã man của đế quốc Pháp, khơi sâu lòng cǎm thù đối với chúng; đồng thời giải thích rõ đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến tay sai, giành độc lập và tự do, tiến lên cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Từ cuối nǎm 1924 đến đầu nǎm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc vừa đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, xúc tiến việc chuẩn bị và thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, vừa góp phần rất quan trọng vào việc đào tạo cán bộ và xây dựng phong trào cách mạng ở một số nước châu Á.

Dưới sự chỉ đạo của Ban phương Đông trực thuộc Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, Người đã truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng.

Tháng 4 nǎm 1927, sau vụ phản biến của bọn Tưởng Giới Thạch ở Quảng Châu, Người đi Hồng Kông, Thượng Hải, rồi rời Trung Quốc đi Liên Xô. Người làm việc ở Quốc tế cộng sản góp phần tổng kết kinh nghiệm của phong trào cách mạng châu Á.

Được sự giúp đỡ của Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, cuối nǎm 1927, Người bí mật trở lại nước Pháp để gặp gỡ và trao đổi ý kiến với ban lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp về tình hình hoạt động của Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng. Sau đó, người trở lại Đức và đi dự Hội nghị Quốc tế chống chiến tranh đế quốc họp ở thủ đô nước Bỉ.

Mùa hè nǎm 1928, Người bí mật rời khỏi Đức đi Thụy Sĩ, Italia rồi từ đó đáp tàu biển đi Thái Lan vào mùa thu nǎm 1928. Thời gian này Người chú trọng giáo dục Việt kiều tinh thần đoàn kết và yêu nước.

Trong những nǎm 1928 – 1929, phong trào cách mạng ở nước ta dâng lên mạnh mẽ. Thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, một số cán bộ của “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” đã vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để tuyên truyền và tổ chức công nhân. Phong trào công nhân dần dần đã vượt qua giai đoạn tự phát, cục bộ, lẻ tẻ tiến đến giai đoạn tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, có sự phối hợp giữa các ngành và các địa phương. Từ cuối nǎm 1929, phong trào công nhân Việt Nam đã có tính chất độc lập rõ rệt, trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta.

Phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đang đòi hỏi sự lãnh đạo của một đảng của giai cấp công nhân. Những điều kiện để thành lập một đảng như thế đã chín muồi. Nhưng khi vấn đề ấy được đặt ra, thì trong nội bộ “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”, nhất là ở cơ quan lãnh đạo của nó không nhất trí. Đó là cuộc đấu tranh giữa quan điểm vô sản và quan điểm tiểu tư sản trong “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” để thành lập đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam. Cuộc đấu tranh ấy đã dẫn đến thắng lợi của tư tưởng vô sản và sự ra đời của “Đông Dương cộng sản đảng” và “An Nam cộng sản đảng”. Trong tình hình ấy Tân Việt cách mạng Đảng cũng không thể duy trì tổ chức cũ, cho nên đã được cải tổ thành “Đông Dương cộng sản liên đoàn”.

Trong vòng nửa nǎm, ba tổ chức cộng sản đã liên tiếp ra đời. Nhưng lợi ích của cách mạng, và nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Như thế chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, làm giảm sức mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Thành lập một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam là yêu cầu bức thiết của phong trào công nhân và phong trào yêu nước lúc bấy giờ.

Lịch sử đòi hỏi phải có một lãnh tụ có đầy đủ uy tín và nǎng lực để thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người đã đáp ứng yêu cầu đó.

Vào cuối mùa thu nǎm 1929, đang hoạt động ở Thái Lan, được nghe báo cáo về tình hình mâu thuẫn giữa các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Người đã trở lại Hồng Kông, triệu tập Hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất tổ chức, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

Dưới sự chủ tọa của Người, Hội nghị đã họp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 nǎm 1930, trong cǎn phòng nhỏ của một người công nhân ở Cửu Long, gần Hồng Kông. Sau nǎm ngày làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, Hội nghị đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một đảng cộng sản chân chính duy nhất ở Việt Nam lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị đã thông qua các vǎn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng và của một số tổ chức quần chúng và Lời kêu gọi… do Nguyễn Ái Quốc thảo ra.

Điều lệ tóm tắt của Đảng đã nêu rõ mục đích của Đảng: “Đảng cộng sản
Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo cho quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu, để tiêu diệt tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”.

Hội nghị cũng đã thảo luận về phương pháp và kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước…

Sau này, đánh giá việc thành lập Đảng, Người đã viết:

“Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

BTS -(Trích Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp, NXB Sự thật, 1987)

cpv.org.vn

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước

Thời đại Hồ Chí Minh - thời đại mới của dân tộc Việt Nam

Lợi dụng thời cơ ngàn năm có một, nuôi dưỡng và phát động tinh thần dân tộc, Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo nhân dân trên cả nước làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi.

Chiều 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, thay mặt Chính phủ Lâm thời, Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do. Thời đại mới mở ra từ đây. Thời đại đó được gọi theo tên người khai sinh ra nó – thời đại Hồ Chí Minh.

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ tinh thần dân tộc Việt Nam, được nuôi dưỡng và thăng hoa bằng tinh thần dân tộc hay như chính Hồ Chí Minh đã từng ý thức: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”.

Nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”. Nhân dân Việt Nam sung sướng hưởng sự độc lập và tự do chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23-9-1945, nhân dân Sài Gòn, thay mặt nhân dân cả nước, đứng dậy chiến đấu bảo về nền độc lập dân tộc vừa mới giành được. Hành trình dân tộc đến với độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất Tổ quốc bắt đầu từ đây, vắt qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại, hết chống Pháp đến chống Mỹ, ròng rã trong ngót 30 năm mới tới đích.

Cả nước vừa chống giặc đói, giặc dốt vừa dốc sức bằng phong trào “Nam tiến” chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam chống ngoại xâm. Thế và lực chúng ta lúc đó còn chênh vênh và mỏng nên không thể ngăn chặn được quân thù, song cũng đã kịp làm một số việc lớn chưa từng có trong lịch sử: Tổng tuyển cử bầu những người đại diện của mình vào Quốc hội, thành lập Chính phủ mới và thông qua Hiến pháp năm 1946. Hào khí Cách mạng Tháng Tám được phả vào đây một cách sống động và tự nhiên mà sau đó các thế lực chống đối muốn chối bỏ cũng không thể nào làm được bởi tính hợp pháp, hợp hiến của nó.

Rồi giặc Pháp trở lại Hà Nội hợp sức với các thế lực thù địch khác và dùng mọi thủ đoạn, quyết tâm tiêu diệt Chính phủ Hồ Chí Minh, cũng tức là muốn đánh sập ý chí độc lập tự do của dân tộc ta. Đại diện cho ý chí của toàn dân tộc, Hồ Chủ tịch dõng dạc tuyên bố lời thề chém đá “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Quân dân Hà Nội chiến đấu cầm chân giặc cho cuộc rút lui chiến lược của Chính phủ Hồ Chí Minh lên Việt Bắc tổ chức kháng chiến không cân sức tựa như “châu chấu đá voi”. Cả nước theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh, bỏ lại phía sau những cánh đồng xanh ngát, kinh thành bốc cháy, ra bưng biền, lên rừng núi đánh giặc trường kỳ. Người Hà Nội hào hoa dứt khoát “ra đi, đầu không ngoảnh lại”. Công nhân nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo “xẻ” nhà máy thành những bộ phận nhỏ, gồng gánh, mang vác đưa lên chiến khu dựng lại tiếp tục sản xuất, phục vụ kháng chiến. Những chí sĩ như Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại…, những trí thức như Nguyễn Văn Tố, Hoàng Đạo Thúy… cả những trí thức lớn từ Pháp mới về như Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng… các văn nghệ sĩ như Văn Cao, Nguyễn Huy Tưởng… lên chiến khu, tham gia dựng lại cơ đồ, mở mang sự nghiệp. Thủ đô kháng chiến Tân Trào, Thái Nguyên, Tuyên Quang thắp sáng niềm tin cho toàn dân tộc: “Ở đâu đau đớn giống nòi/ Trông lên Việt Bắc mà nuôi chí bền”. Một lần nữa, sự cố kết dân tộc, tinh thần dân tộc được đẩy lên cung bậc cao nhất: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công!”.

Sau hơn bốn năm xây dựng, tích trữ lực lượng, Thu – Đông 1950, quân đội ta xông trận. Thắng lớn, cánh cửa biên giới thông thương với các nước trong phe dân chủ, với thế giới mở toang. Cuộc phá vây ngoạn mục đã hoàn thành trên thực tế (Trên bình diện ngoại giao, từ tháng 1-1950 bởi sự công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam của Trung Quốc, Liên Xô…). Thế và lực chúng ta vững hơn, mạnh lên. Từ đó, chúng ta chủ động trên chiến trường, khiến quân Pháp điều binh khiển tướng chạy theo như đèn cù, hết Tây Bắc đến Thượng Lào… và cuối cùng gom quân Pháp tại lòng chảo Mường Thanh và giáng trận Điện Biên “chấn động địa cầu”, buộc Pháp ngồi vào bàn Hội nghị Giơnevơ. Ta chưa được toàn vẹn lãnh thổ, nhưng ta đã có được nửa nước, đặc biệt Hà Nội – mảnh đất nghìn năm văn hiến, Thủ đô muôn đời – đã về với ta. Cũng trên Quảng trường Ba Đình sang sảng tiếng Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày nào, giờ đây, ngày 1-1-1955, Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh ra mắt và chào nhân dân Thủ đô sau hơn tám năm kháng chiến ở rừng núi. Hào khí Thăng Long – Hà Nội hội tụ với hào khí thắng giặc Pháp trở thành âm hưởng chủ đạo của thời đại. Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh luôn vang mãi một cụm từ bất tử: “Việt Nam – Điện Biên Phủ – Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp”.

Ở miền Nam, Pháp đi, Mỹ tới. Chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước chúng ta. Chúng tàn sát những người yêu nước, những người kháng chiến cũ bằng Luật 10/59 tàn bạo, bằng máy chém, bằng cực hình, bằng lao tù. Những vụ tàn sát Vĩnh Trinh, Phú Lợi thức tỉnh lương tri, kêu gọi hành động khẩn cấp. Cả nước một lần nữa “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” và cùng với phong trào “Đồng Khởi” miền Nam tạo thành khúc dạo đầu của bản giao hưởng chống Mỹ, cứu nước, không chỉ lay động trái tim, khối óc toàn dân tộc ta, mà còn thức tỉnh lương tri nhân loại. Hai con đường huyền thoại trên bộ, trên biển (Đường Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn với những con đường nhánh có độ dài trên 7 nghìn km, Đường Hồ Chí Minh trên biển khởi đầu từ bến Vạn Hoa, Đồ Sơn, Hải Phòng) hình thành, chi viện sức người sức của cho chiến trường miền Nam. Quân và dân miền Nam lần lượt đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bằng trận Ấp Bắc, Bình Giã, đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bằng cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 và buộc Chính quyền Washington ngồi vào bàn Hội nghị Pari tháng 5-1968. Cục diện chiến tranh xoay chuyển, vừa đánh vừa đàm, có lợi cho ta. Nếu như Hội nghị Giơnevơ năm 1954, chúng ta bị sức ép từ nhiều phía nên thắng lợi không như ta mong muốn thì tại Hội nghị Pari này, ta chủ động và tự quyết định hoàn toàn vận mệnh của Tổ quốc ta bằng sự kết hợp khéo léo sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Các quyết định ở bàn Hội nghị Pari, lúc hai bên, lúc bốn bên, đều tùy thuộc ở chiến trường. Những nhà ngoại giao Xuân Thủy, Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Bình dựa vào nền tảng tựa như bàn thạch từ những chiến thắng quân sự trên cả hai chiến trường Nam, Bắc mà ung dung ngồi vào bàn đàm phán. Trên chiến trường miền Nam, quân dân ta đã thắng lớn trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, chiến dịch Trị – Thiên Xuân – Hè 1972. Ở miền Bắc, quân dân ta với trí thông minh và lòng quả cảm đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá họai bằng không quân và hải quân tàn bạo của đế quốc Mỹ với tham vọng ngông cuồng của tướng Curtis Emerson Le May “đưa người Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Và cuối cùng, bằng sức mạnh của tinh thần Việt Nam, quân dân ta đã giăng lưới thép tầng thấp, tầng trung, tầng cao “vít cổ” pháo đài bay B52 mà chính quyền Mỹ đem ra hù dọa những kẻ yếu bóng vía trên thế giới vào những ngày tháng Chạp năm 1972 trên đất Hà Nội mà thế giới biết tới là “Trận Điện Biên Phủ trên không”. Hoa Kỳ đã hết “vở”, buộc phải trở lại Hội nghị Pari và ngày 27-1-1973, Kítsinggơ, Cố vấn an ninh, sau trở thành Ngoại trưởng Hoa Kỳ, phải cầm bút ký vào bản Hiệp định Pari, công nhận nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta và rút hết quân đội Mỹ và chư hầu về nước.

Chính sách đối ngoại hai bước của Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn Quân, toàn Dân thực hiện trọn vẹn. Bước 1: “Đánh cho Mỹ cút”. Bước hai: “Đánh cho ngụy nhào”, được khởi động thận trọng, nhưng khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc vùng dậy cuối cùng. Chiến dịch Phước Long cuối năm 1974 như chiến dịch trinh sát chiến lược, chúng ta toàn thắng. Thắng lợi Phước Long trùng vào lúc Hội nghị Bộ Chính trị đang họp nên Bộ Chính trị coi cả năm 1975 là thời cơ, nhưng chín muồi lúc nào là cơ hội lúc đó để tiến hành bước hai – đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất Tổ Quốc như khát vọng của toàn dân tộc, của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Bước hai được ấn nút vào tháng Ba, “mùa con ong đi lấy mật” ở Tây Nguyên bằng cuộc tấn công vào Buôn Mê Thuột. Buôn Mê Thuột thất thủ, Tây Nguyên “nóc nhà của Đông Dương” bị bỏ ngỏ. Thừa thắng xốc tới, ta mở chiến dịch Huế – Đà Nẵng với khí thế “thần tốc, thần tốc… một ngày bằng hai mươi năm” của Quân ủy Trung ương. Thế và lực của ta mạnh hơn bao giờ hết. Các đoàn quân chiến thắng với năm mũi tiến công, đang túc trực trước cửa ngõ Sài Gòn, chờ lệnh. Thời cơ chín muồi cho cuộc xung trận cuối cùng đã xuất hiện. Chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh tiến công vào dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, bắt đầu. Trưa ngày 30-4-1975, lá cờ Giải phóng của ta đã phấp phới bay trên nóc Dinh Độc lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng. Năm 1976 hai miền Nam Bắc thống nhất, non sông về trong một mối sau 21 năm chia cắt.

Như Hồ Chí Minh, người khai sinh nền cộng hòa dân chủ, đã từng nói (đại ý): Nước độc lập mà dân không được ăn no, mặc ấm, không được học hành thì độc lập không có nghĩa lý gì. Và trong những ngày gồng mình đánh giặc, Hồ Chí Minh đã nói tới viễn cảnh: Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Sau hơn 13 năm thử nghiệm, tìm tòi, cuối cùng, năm 1986, Đảng ta đã tìm thấy con đường ấm no, hạnh phúc và giàu mạnh của dân tộc bằng công cuộc “Đổi mới”, bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết trong lĩnh vực kinh tế, sau đó sang lĩnh vực chính trị và văn hóa rồi đến hội nhập quốc tế mà thực chất là mở cửa “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Hào khí trong kháng chiến chống ngoại xâm bây giờ biến thành hào khí trong dựng xây đất nước giàu mạnh. Cả nước thành một đại công trường xây dựng. Đất nước thay da, đổi thịt mỗi ngày. Mức sống của nhân dân được cải thiện và nâng lên từng năm, từng năm. Ta đã vượt qua dưới hạn của nước nghèo và vững tin gia nhập vào các nước đang phát triển. Hào khí thời đại Hồ Chí Minh đang cộng hưởng nâng ta tiếp bước trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.

Hào khí thời đại Hồ Chí Minh có một cội nguồn từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ tinh thần dân tộc Việt Nam. Hào khí đó sẽ tiếp tục nâng bước ta đi tới tương lai – xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải nước ta như vua Lê Thánh Tông từng răn đe quần thần thuở trước: “Kẻ nào dám lấy một thước đất, một tấc đất của Thái Tổ để lại, để làm mồi cho giặc sẽ bị tru di tam tộc”./.

Theo PGS.TS. Phạm Xanh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Ngày Toàn quốc kháng chiến

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử Thứ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám đến gặp, trao tận tay cho Xanhtơni một bức thư ngắn, nội dung tỏ ý rất đáng tiếc về tình hình đã trở nên quá xấu và đề nghị: Trong khi chờ đợi quyết định của Pa-ri, tôi mong rằng ông sẽ cùng ông Hoàng Minh Giám tìm một giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại,(1).Nhưng Xanhtơni đã từ chối không tiếp và hẹn đến hôm sau mới nhận thư. Như vậy, mọi nỗ lực của ta nhằm duy trì hoà bình đã bị kẻ thù bác bỏ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ toạ Phiên họp bất thường của Thường vụ Trung ương Đảng được bắt đầu từ ngày 18/12/1946. Hội nghị đã quyết định phát dộng cuộc kháng chiến toàn quốc vào lúc 20 giờ ngày 19/12/1946.

Sau khi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp trao mật lệnh cho các mặt trận về ngày giờ cuộc giao chiến trong toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lời Kêu gọi toàn quốc kháng chiến tại gác 2, ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Dương làng Vạn Phúc (Hà Đông).

Đúng 20 giờ ngày 19/12/1946, tiếng súng kháng chiến toàn quốc vang rền, bắt đầu từ mặt trận Hà Nội, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền thanh khắp cả nước. Đây là một lời hịch cứu nước kết tinh ý chí sắt đá và trí tuệ sáng suốt của Hồ Chí Minh và của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc ta quyết tâm đứng lên chiến đấu vì độc lập của dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Văn kiện lịch sử quan trọng này chỉ có 205 chữ, song nó đã phác thảo ra những nét cơ bản về đường lối của kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta là: Toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến và dựa vào sức mình là chính.

Ngày Toàn quốc kháng chiến là một ngày lịch sử, đánh dấu mốc son chói lọi trên con đường đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc ta trên 2 phương diện:

Một là, quyết định toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh và Đảng ta, một quyết định đúng đắn vốn là kết quả của một thời kỳ Người và Đảng ta sáng suốt chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua những thử thách ghê gớm nhất.

Hai là, quyết định lịch sử này mở ra một thời kỳ kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài đánh bại đế quốc Pháp, mở ra thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời là chính quyền cách mạng đầu tiên của khu vực Đông nam Châu Á. Nhưng chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức. Về kinh tế, trận đói năm Ất Dậu (1945) đã giết hại hơn 2 triệu người, nền tài chính đất nước kiệt quệ. Về mặt văn hoá, đa số nhân dân ta rơi vào tình trạng mù chữ do hậu quả của chính sách ngu đần của thực dân Pháp đã duy trì trong suốt quá trình thống trị đất nước ta, làm giảm sức mạnh của một dân tộc.

Sự tồn tại của chính quyền cách mạng và nền độc lập của dân tộc bị đe doạ do sự trỗi dạy mạnh mẽ của nhiều lực lượng phản động trong nước và sự bao vây của các lực lượng quân đội nước ngoài. Từ vĩ tuyến 16 ra Bắc, với danh nghĩa và quân đồng minh đến giải giáp quân đội Nhật, 20 quân Tưởng ô hợp đã tràn vào nước ta với mục tiêu: diệt Cộng, cầm Hồ. Từ vĩ tuyến 16 vào Nam, quân Anh tràn vào, đi theo quân Anh là một đại đội lính Pháp và ngay trong ngày 23/9/1945, quân Pháp đã nổ súng tấn công và xâm lược miền Nam nước ta. Đằng sau những hành động lấn tới đó của các lực lượng nước ngoài vào nước ta đều có sự yểm trợ của Mỹ. Các lực lượng phản động trong và ngoài nước xuất hiện và đến nước ta với nhiều danh nghĩa khác nhau nhưng chúng có cùng chung một mục đích là tiêu diệt chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nền độc lập dân tộc mà ta mới giành được.

Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đã sáng suốt, chủ động lựa chọn những đối sách đúng đắn nhằm giải quyết kịp thời, có hiệu quả những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nhất trong tình thế vận nước đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc. Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc đã được coi là nhiệm vụ có tính chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn này.

Một là: Về kiến quốc, củng cố và xây dựng chế độ mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo Đảng ta xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng. Tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Một cuộc Tổng tuyển cử thành công sớm nhất trong các cuộc cách mạng trên thế giới. Xây dựng và thông qua Hiến pháp, xác lập cơ sở pháp lý và những nguyên tắc dân chủ của chính quyền nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, ký hơn 200 Sắc lệnh về tổ chức bộ máy Nhà nước, các Bộ và Uỷ ban hành chính các cấp về tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 2/3/1946, thành lập Chính phủ liên hiệp Kháng chiến. Để diệt giặc đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào hũ gạo cứu đói, kêu gọi đồng bào ta sẻ cơm, nhường áo để giúp đỡ lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(2). Hưởng ứng lời kêu gọi mang đầy nhiệt huyết cách mạng và thấm đậm chất nhân văn dó, cán bộ, nhân dân cả nước dã đồng lòng thực hiện, lá lánh đùm lá rách và tầng bước khắc phục những khó khăn trong đời sống nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Do đó, Người khẳng định, dốt cũng là một loại giặc và nhiệm vụ diệt giặc đến đã được đẩy mạnh thông qua phong trào bình dân học vụ triển khai trên phạm vi toàn quốc.

Hai là: Lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam. Thực hiện sách lược hòa hoãn, nhân nhượng với Tưởng ở miền Bắc từ tháng 9-1945 đến tháng 3-1946.

Mặc dù luôn xác định kẻ thù chính của dân tộc ta là thực dân Pháp nhưng trong tình thế đầy khó khăn thử thách, để tránh tình trạng cùng một lúc dân tộc ta phải đối phó với nhiều kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra nhiều đối sách phù hợp và sáng tạo. Trước tiên là hoà Tưởng đánh Pháp. Từ tháng 9/1945 đến tháng 3/1946, ta thi hành sách lược hoà hoãn với Tưởng và đẩy mạnh kháng chiến chống Pháp ở miền Nam. Đối sách ngoại giao hoà Tưởng được thực hiện trong giai đoạn này là: triệt để khai thác, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ quân Tưởng, giữa Tưởng với Pháp, mặt khác nhân nhượng cho chúng một số yêu sách cục bộ, nhất là về kinh tế.

Để mở rộng Mặt trận đoàn kết thống nhất dân tộc, cô lập bọn phản động và tay sai, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phải quyết đoán mau chóng, phải dùng mọi phương pháp, dù là những phương pháp đau đớn nhất để cứu vãn tình thế. Đảng phải tuyên bố tự giải tán, rút vào hoạt động bí mật.

Nhờ sách lược hoà hoãn đó, chúng ta đã làm thất bại âm mưu đen tối của bọn quân phiệt Tưởng và bè lũ tay sai, giữ vững được chính quyền cách mạng non trẻ. Tạm thời biến quân đội Tưởng thành hàng rào ngăn cách quân Pháp đang tìm cách tiến ra Bắc.

Ba là: Tạm thời hoà hoãn với thực dân Pháp, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, từ tháng 3/1946 đến tháng 12/1946.

Sau khi chiếm được Sài Gòn và đánh ra Nam Trung bộ, thực dân Pháp nóng lòng đánh ra miền Bắc. Theo dõi quan hệ Pháp – Hoa, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ cả Pháp và Tưởng sẽ đi đến chấm dứt xung đột, chúng sẽ dàn xếp để quân Pháp đổ bộ ra Bắc, nên đã đưa ra giải pháp nước Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do trong Khối liên hiệp Pháp với việc Ký Hiệp định Sơ bộ Pháp – Việt ngày 6/3/1946.

Việc này đạt được mục tiêu loại bớt kẻ thù. Thúc đẩy quân Tưởng sớm rời khỏi Việt Nam cùng lũ tay sai của chúng. Phía ta có thêm thời gian ngừng chiến và hoà bình mỏng manh để củng cố, xây dựng, phát triển lực lượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm chính thức nước Pháp nhân dịp Hội nghị Phôngtennơbơlô, nhằm giương cao ngọn cờ độc lập và thiện chí hoà bình của Việt Nam. Tiếp tục thực hiện chủ trương “Hoà để tiếng”, Người đã ký Bản Tạm ước Việt – Pháp, ngày 14/9/1946.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa chỉ đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ vừa chỉ đạo việc chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc kháng chọn toàn quốc lâu dài. Phát triển lực lượng vũ trang. Xây dựng căn cứ địa Việt bắc. Công bố các bài viết, bài nói tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới, phổ biến chiến lược chiến thuật quân sự, xác định tư tưởng, phương hướng của cuộc kháng chiến. Củng cố chính quyền cách mạng.

Từ ngày 2/9/1945 đến 19/12/2006 bắt đầu Ngày Toàn quốc kháng chiến, chỉ có 16 tháng với gần 500 ngày đêm. Theo “Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử”, tập 3 ghi lại, Hồ Chí Minh đã có trên 1300 hoạt động quan trọng chuẩn bị cho Ngày Toàn quốc kháng chiến.

Phát động toàn quốc kháng chiến vào ngày 19/12/1946, đó là kết quả của sự lãnh đạo hết sức sáng suốt và tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá:Có quyết định đó là do Hồ Chí Minh và Đảng taĐã bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện giam chân quân địch hai tháng, để cả nước chuyển vào kháng chiến trường kỳ. Nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa Thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng thật đúng đắn, quả cảm, sáng tạo(3).

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, là kết tinh trực tiếp của quyết định đúng đắn, sáng suốt đó. Trong lời kêu gọi lịch sử này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ nguyên nhân của cuộc kháng chiến. Chỉ ra dã tâm xâm lược muốn đặt ách nô lệ lên dân ta một lần nữa của thực dân Pháp. Người nêu rõ lập trường của dân tộc trước sự lấn tới và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp: Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa(4).

Người đã nêu cao tinh thần yêu nước, quật khởi của dân tộc ta, quyết liệt hành cuộc kháng chiến chính nghĩa để dành độc lập tự đo: Không chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước(1).

Người đã phát động cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và chỉ rõ phải đánh địch bằng mọi lực lượng, mọi quy mô, mọi cách đánh bằng mọi thứ vũ khí, trang bị.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc.

Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(6).

Với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân, sức mạnh của một dân tộc có truyền thống chống xâm lăng anh hùng, bất khuất, lại có đường lối kháng chiến đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ:

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”(3).

Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, Lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cổ vũ cả dân tộc ta quyết tâm một lòng một dạ đứng lên đánh quân xâm lược. Tinh thần quyết chiến quyết thắng của ngày Toàn quốc kháng chiến đã liên tục được phát huy trong hơn ba ngàn ngày kháng chiến, chính là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thắng lợi Điện biên lịch sử huy hoàng.

Bài học và ý nghĩa lịch sử của Ngày Toàn quốc kháng chiến với hôm nay.

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã quyết định thời điểm phát động cuộc kháng chiến toàn quốc đúng lúc, đúng thời cơ.

Khi không còn đường nào khác. Khi đã không còn một chút hy vọng nào cứu vãn hoà bình do dã tâm xâm lược và sự ngoan cố của kẻ thù đế quốc thì phải chủ động vùng lên chống lại chúng. Muốn vậy, phải luôn luôn tranh thủ thời gian, chủ động chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, luôn luôn sẵn sàng và khi đã hạ quyết tâm kháng chiến thì phải chủ động và kiên quyết không ngừng thế tấn công kẻ thù xâm lược.

Hai là, khẳng định quyết tâm sắt đá bảo vệ độc lập, tự do, giải phóng dân tộc và những mục tiêu cơ bản của cách mạng nước ta, “Dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Kiên trì kháng chiến không nao núng trước sức mạnh và mọi sự uy hiếp của kẻ thù. Nêu cao ngọn cờ chủ nghĩa yêu nước, tiếp nói và phát huy truyền thống kiên cường chống ngoại xâm của dân tộc. Phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc và tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

Ba là, sớm hoạch định đường lối kháng chiến và kiến quốc đứng đắn, sáng tạo.

Để có quyết định kháng chiến toàn quốc kịp thời đúng lúc, thì trước đó, từ ngày 5/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ” nêu rõ chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc và đường lối trường kỳ kháng chiến. Ngày 12/12/1946, một tuần trước Ngày Toàn quốc kháng chiến, Thường vụ Trung ương Đảng ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến”. Trong đó, đã nêu ra mục đích cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta: Tính chất, chính sách, cách đánh, chương trình kháng chiến, cơ quan chỉ đạo kháng chiến, những điều răn trong khi kháng chiến, các khẩu hiệu chỉ đạo hành động trong kháng chiến…

Đường lối kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khơi dậy và phát huy đầy đủ sức mạnh của dân tộc, khai thác động viên được sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của dân tộc ta.

Bốn là, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sáng tạo một phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng – chiến tranh toàn dân.

Với khoa học, nghệ thuật quân sự độc đáo tổ chức được toàn dân kháng chiến, cả nước đánh giặc, làm giảm hiệu lực hoặc vô hiệu hoá mặt mạnh và sở trường tác chiến của đối phương là thực dân Pháp. Chúng có một đội quân xâm lược nhà nghề với các phương tiện chiến tranh hiện đại hơn hẳn lực lượng võ trang của chúng ta, chúng muốn đánh nhanh thắng nhanh nhưng cuối cùng đã bị thất bại thảm hại.

Hôm nay, nghiên cứu, học tập, ôn lại những hoạt động quan trọng, đúng đắn, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí minh với Ngày Toàn quốc kháng chiến, thật sự là một việc làm cần thiết và có nhiều ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.

Chúng ta thêm tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng ta.

Theo thuviendongnai.gov.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm 65 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946-19/12/2011)

Tượng đài Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh ở Thủ đô Hà Nội (TL - TNN st)

Tạm ước 14/9 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp chưa ráo mực thì quân xâm lược Pháp liên tiếp gây ra những vụ xung đột vũ trang đẫm máu ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam nước ta.

Tại Hà Nội, chỉ trong hai ngày 18 và 19/12/1946, thực dân Pháp đã ba lần gửi tối hậu thư láo xược đòi quân ta để cho chúng chiếm thêm một số vị trí quan trọng trong thành phố, đòi ta phải giải tán các lực lượng tự vệ, đòi đình chỉ các hoạt động chuẩn bị kháng chiến, đòi trao cho quân đội Pháp duy trì an ninh trong thành phố. Chúng đòi ta phải thực hiện các yêu sách trên chậm nhất là vào sáng ngày 20/12/1946.

Nguy cơ về một cuộc chiến tranh Pháp – Việt với quy mô lớn trên phạm vi toàn quốc đang trở thành hiện thực. Song mọi thiện chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện vọng thiết tha của dân tộc Việt Nam muốn sống trong hòa bình, độc lập, tự do và quan hệ hữu nghị với nước Pháp không được đáp ứng từ phía đối phương.

Vào đêm giữa tháng 12/1946, trong căn phòng nhỏ trên tầng hai nhà ông Nguyễn Văn Dương, ở làng Vạn Phúc, một làng quê ven thị xã Hà Đông, vốn nổi tiếng lâu đời về nghề dệt lụa cổ truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh bên ngọn đèn dầu leo lét, viết bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” trên hai trang giấy cỡ 13,5 x 20,5 cm.

Ngày 18 và 19/12/1946, Người chủ tọa cuộc họp mở rộng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng cũng tại Vạn Phúc để quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước. Hội nghị đã vạch ra đường lối cơ bản cho cuộc kháng chiến và thông qua “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo.

Lời kêu gọi hết sức cô đọng, chỉ có 198 từ mà sức mạnh truyền cảm, động viên rất lớn, gắn liền lịch sử oanh liệt của dân tộc Việt Nam ta.

Sáng ngày 20/12/1946, Lời kêu gọi lập tức được truyền trên làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam lúc bấy giờ vừa sơ tán ra núi Trầm đi khắp nơi trong nước và thế giới, đến mỗi lòng người, lắng đọng mãi đến ngày nay như một lời hịch cứu nước, một quyết tâm sắt đá, một đường lối quân sự độc đáo, một ngọn cờ hòa bình đầy tinh thần nhân đạo cách mạng, một lòng tin sắt đá không gì lay chuyển nổi ở thắng lợi cuối cùng.

Lời hịch cứu nước ấy tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân ta, mang theo hào khí non sông, hồn thiêng đất nước, thật sự đã cùng đồng bào và chiến sỹ cả nước, tham gia mở đầu trang sử mới của dân tộc.

Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là quân lệnh số 1 của cuộc kháng chiến toàn quốc được phát đi sau 16 tháng chuẩn bị kỹ càng cho cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi, đã trở thành một trong những Cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng ta. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, quyền chủ động về chiến lược bao giờ cũng là nhân tố quyết định thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chủ động tạo thế, tạo lực, loại trừ bất ngờ về chiến lược, chủ động đưa cả nước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Điều đó nói lên nghệ thuật quân sự tài giỏi, biết khởi đầu chiến tranh và sau này, biết thắng địch từng bước, biết kết thúc chiến tranh, một nét nổi bật trong tư tưởng quân sự vĩ đại của Người.

Câu hỏi được đặt ra: Ai đánh giặc, đánh như thế nào, lấy gì mà đánh ? Những băn khoăn đó đã được Người giải đáp chỉ với 67 từ: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp, cứu nước”.

Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu đoạn viết về cách đánh bằng ba từ “Hỡi đồng bào”. Đây chính là biểu hiện sâu sắc quan điểm nhân dân và tư tưởng chiến tranh nhân dân sáng tạo của Người, động viên, tổ chức nhân dân một nước thuộc địa “đánh thắng những đế quốc to” chưa hề có tiền lệ trong lịch sử.

Lời Người kết tinh khoa học tạo ra sức mạnh, sử dụng và phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm đánh bại kẻ thù xâm lược có tiềm lực quân sự mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Đó là tư tưởng đoàn kết toàn dân, tổ chức, động viên toàn dân đánh giặc, phát huy sức mạnh tiềm tàng của đất nước và của dân tộc, quy tụ cả sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại, nét độc đáo trong tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là bí quyết thành công của cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta.

Đánh giặc “phải có tín tâm và quyết tâm”, Người nhấn mạnh quyết tâm bằng những lời đanh thép: “Không!Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Kêu gọi binh sĩ, tự vệ, dân quân, Người viết: “Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước”.

Quyết tâm ấy của Người đã hun đúc nhiệt tình cách mạng, sáng tạo ra cách đánh độc đáo và có hiệu quả. Tín tâm và quyết tâm của Người đã chuyển thành ngọn cờ quyết thắng của quân và dân ta. Ngọn cờ đó ngay từ đầu đã được giương cao bên ngọn cờ hòa bình, khi Người mở đầu “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” vang dội núi sông không phải bằng một lời hô đánh, mà bằng một nguyện vọng hòa bình: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”.

Hòa bình là nguyện vọng của nhân dân ta, của cả loài người. Nhưng do âm mưu xâm lược ngoan cố của kẻ thù, không có con đường nào khác là phải đứng lên kháng chiến. Và kháng chiến là để mang lại hòa bình thật sự, hòa bình trong độc lập, tự do.

Hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Người, toàn thể dân tộc Việt Nam anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng anh dũng để giữ vững nền độc lập, tự do vừa giành được của mình. Lời hịch bất tử của Người đã trở thành lời thề bất tử của dân tộc ta./.

Nguyễn Xuyến
Theo http://www.hochiminhcity.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn