Thư viện

“Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ…”

Thăm Khu di tích lịch sử ATK ở Định Hoá Thái Nguyên vào đúng ngày diễn ra Lễ kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về ATK Định Hoá lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (20-5-1947 – 20-5-2012) và kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Người (19-5-1890 – 19-5-2012). Không khí thật rộn ràng, đặc biệt.

Cho dù Nhà trưng bày – Bảo tàng ATK Định Hoá đã được khánh thành cách đây 5 năm, to lớn bề thế trên Đào De, nhưng trong lòng chúng tôi lại về đây với một tình cảm đặc biệt – Trở về quê hương Việt Bắc của những ngày đầu kháng chiến, cùng với những câu thơ thân thương của nhà thơ Tố Hữu viết về Bác Hồ:

“Vui sao một sáng tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn…”

Mặt trời vừa nhô lên đỉnh núi Hồng, mọi vạn vật nơi đây bừng sáng. Chim muông ríu rít reo ca. Những luống hoa còn rớt lại ánh xuân thắm đỏ, qua những bông râm bụt, trên hàng cây mà Bác trồng ngày nào bên lán Tỉn Keo. Giờ đây chúng vẫn xanh tốt đâm chồi nảy lộc. Màu sắc ấy lại gợi nhớ cho chúng ta rằng, tại nơi đây, ngày 6-12-1953, Bác đã cùng các nhà lãnh đạo có một quyết định lịch sử mở Mặt trận Điện Biên. Về đến đây biết bao hình ảnh thân thương của Bác lại hiện lên trong từng mảnh đất, bờ suối, cánh rừng, mái lá.

Tại cái lán trên đồi Khau Tý này, Bác Hồ đã sáng tác nhiều thơ ca, trong đó có bài “Cảnh khuya” với tâm hồn của một thi nhân đang đau đáu nỗi lo cho đất nước:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

Rồi cũng tại nơi đây, vào ngày xuân năm 1947, Bác còn viết bài thơ “Cảnh rừng Việt Bắc” rất đáng yêu. Đây là bài thơ xuân đầu tiên, trong cuộc kháng chiến trường kỳ này, có những câu ta không thể quên:

“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh nước biếc tha hồ dạo
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”

Đến lán Khuôn Tát, chúng tôi phải đi qua một bãi cỏ rộng và cây đa cổ, cỡ khoảng trăm năm tuổi. Trên bãi cỏ này, trước kia là nơi Bác đã cùng các chiến sĩ và cán bộ tập thể thao, chơi bóng chuyền, hay ngồi nghỉ dưới cây đa. Trước kia người ta gọi là cây đa Khuôn Tát, sau này còn đặt tên là “Cây đa Bác Hồ”, để ghi dấu một di tích minh chứng cho hình ảnh của Bác vẫn còn hiển hiện với bà con thôn bản nơi đây, tại cái xóm Khuôn Tát, xã Phú Đình hẻo lánh này. Đáng chú ý trước khi lên lán mọi người đều phải lội qua một con suối cắt ngang. Đó cũng gọi là suối Khuôn Tát, cùng với những bãi đá rất đẹp. Đồng thời cũng là nơi Bác hay tắm giặt, hoặc thường ngồi câu cá mỗi khi nghỉ ngơi hoặc cần phải suy nghĩ điều gì đó trong công việc. Cách đấy không xa còn có thác Khuôn Tát, một thắng cảnh đẹp, với 7 tầng chảy ào ạt quanh năm.

Thế mới hay ông Già Ké này có con mắt thật tinh tế, khi chọn những địa điểm làm việc, ngoài những nguyên tắc của mình nhưng vẫn gắn liền với non nước hữu tình đúng như ông đã đề ra: Trên có núi, dưới có sông – Có đất ta trồng có bãi ta vui. Hay kèm theo đó còn phải đạt yêu cầu: Tiện đường sang Bộ Tổng – Thuận lối tới Trung ương. Nhà thoáng ráo kín mát – Gần dân không gần đường. Lấy dân làm gốc, Bác Hồ đã sống ở Việt Bắc trong suốt chín năm trường kỳ kháng chiến với ý tưởng nhất quán phải dựa vào sức dân. Chính vì vậy, nếu hỏi bất kể ai, những người lớn tuổi đều thuộc một bài thơ vô danh vẽ nên chân dung Người, rất giản dị thân thương với những câu:

“Quần sắn cao, chân đi đôi dép
Chiếc áo chàm vá hai miếng ở vai
Trán cao lắm. mắt sáng, râu hơi dài
Khi nói chuyện hay ví câu hát lượn…”

Hình ảnh dung dị này đã được nhà thơ Tố Hữu cũng đã mô tả trong bài thơ Việt Bắc:

“Nhớ ông cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo…”

Đúng là đến những di tích và khu tưởng niệm này, những câu thơ xưa của Bác luôn vang lên, thể hiện một sự lạc quan và tin tưởng ở con đường mà Bác đã vạch ra để đi tới cùng của công cuộc kháng chiến. Ở nơi đây, Bác còn viết cuốn sách “Sửa đổi lề lối làm việc” nổi tiếng, mà tính thời sự của những vấn đề Người đặt ra vẫn còn có giá trị đến ngày nay.

Đó cũng là cảm xúc của chúng tôi đang đứng nơi đây – Nhà Tưởng niệm Bác Hồ, giữa đồi cao thoáng mát. Chúng tôi bước lên 79 bậc tượng trưng cho 79 mùa xuân của Người. Và nữa, đi dưới tán của 79 cây vạn tuế, cùng với hàng hoa râm bụt quanh Hòn non bộ Tam Sơn cầu mong anh linh của Bác luôn trở về với con cháu, về với đất nước, về với miền Nam thân thương mà Bác vẫn hằng mong ngày đêm khi còn sinh thời. Đôi mắt của Bác trên bức tượng đồng như nhắn nhủ với chúng tôi nhiều điều trong mỗi bước chân.

Vương Tâm
daidoanket.vn

Chiếc áo Bác mặc ngày Quốc khánh

Trong số những hiện vật liên quan đến thời điểm lịch sử 2/9/1945, Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đặc biệt trân trọng bộ quần áo Bác Hồ đã mặc trong ngày lễ khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bộ quần áo bạc màu, cổ sờn, ve áo hơi tù.

Ngày 23/8/1945 Hồ Chủ Tịch về đến thôn Gạ (Phú Thượng, Hà Nội), nghỉ ở đây một ngày. Hôm sau Người được trung ương và Thành uỷ bố trí đến ở tại gác hai số nhà 48 Hàng Ngang (nhà của ông Trịnh Văn Bô, một thương gia yêu nước, cơ sở tin cậy của Cách mạng). Về đến Hà Nội, Bác gầy và yếu (sau trận ốm và phải đi xa), nhưng những người xung quanh vẫn thấy đôi mắt của Người luôn sáng rực.

Bà Trịnh Văn Bô, nữ chủ nhân của ngôi nhà 48 Hàng Ngang lịch sử, kể: “Bác từ chiến khu về chỉ có một đôi dép cao su nhãn hiệu con hổ trắng, chiếc quần soóc nâu, chiếc áo sơ mi ngắn tay, một chiếc can và chiếc mũ phớt bạc màu. Hàng ngày lúc 7h, ông Vũ Đình Huỳnh đón Bác ra Bắc Bộ phủ làm việc đến chiều mới về 48 Hàng Ngang. Buổi tối, Bác thường xuyên bận vì phải hội kiến làm việc với các ông Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… Đêm đêm, Bác thức rất khuya đánh máy chữ. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn bàn của ông cụ mới tắt, nhưng 5h hôm sau đã thấy ông cụ tập thể dục ngoài ban công”.

Sau này bà Bô mới biết, khi tiếng đánh máy chữ vang lên trong đêm khuya ấy chính là lúc Bác Hồ thảo Bản hùng văn vô giá – Bản tuyên ngôn lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam.

Thời gian này Hà Nội đang chuẩn bị cờ hoa và cả vũ khí cho ngày trọng đại sắp tới. Bước vào tuổi 91, nhưng bà Bô vẫn còn nhớ rõ những năm tháng hào hùng đó. Vào khoảng những ngày 26 – 27/8 tức là khi đã ấn định Lễ tuyên ngôn vào 2/9/1945, anh em cán bộ mới sực nhớ ra cần phải trang bị mỗi người một bộ quần áo thật tươm lúc ra mắt trên lễ đài, đặc biệt là Hồ Chủ tịch. Đa số anh em từ chiến khu trở về và kể cả Bác cũng đều ăn mặc những đồ đã cũ sờn hoặc chắp vá tạm.

Bà Bô bồi hồi nhớ lại: “Lúc bấy giờ trong tủ nhà chúng tôi có rất nhiều vải (bà Bô là nhà buôn vải), tôi lấy ra mấy súc ka ki để may cho anh em. Trong tủ có vài chục bộ quần áo khá sang trọng may sẵn mà ông Bô chưa dùng nên tôi lấy ra cho các anh mặc tạm trước. Ông Phạm Văn Đồng, rồi ông Võ Nguyên Giáp… ai mặc vừa bộ nào thì dùng bộ nấy. Nhưng tầm người như Bác Hồ không bộ nào hợp cả”.

Gần sát ngày lễ ông bà Trịnh Văn Bô đã chọn riêng loại vải kaki cốt lê của Anh và ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên là thư ký lễ tân mang đến xin ý kiến Bác. Bác nói: “Tôi mặc xuềnh xoàng thôi. Không len, dạ đắt tiền làm gì, cốt tươm tất giản dị, không phải cà vạt cổ cồn là tốt”.

Lúc đó, ông Vũ Đình Huỳnh chợt nhớ tới một bức ảnh của Xtalin nên ướm thử với Bác may theo kiểu áo đó, cũng không có cà vạt mà oai vệ. Bác mỉm cười nói: “Nhưng mình có phải là Xtalin đâu”. Bác luôn học hỏi tinh hoa nhưng không chấp nhận bắt chước khuôn mẫu sẵn.

Cuối cùng ông Vũ Đình Huỳnh mời ông Phú Thịnh chủ hiệu may có tiếng ở phố Hàng Quạt tới và trình bày: “Tôi có người nhà là cụ lý ở quê ra thăm thủ đô, tôi muốn cắt vài bộ đồ cho cụ, nhờ anh cắt may kiểu áo bốn túi, mặc kín cổ khi có việc quan trọng, lúc thường nhật thì mở khuya áo thoải mái, đi giày đi dép đều hợp với cụ lý nhà tôi”.

Ông Phú Thịnh ngẫm nghĩ một lúc dè dặt nói: “Tôi đã mường tượng ra kiểu áo ấy rồi. Chỉ cần tính toán cái ve áo nhọn hay tù?”. Ông Phú Thịnh ngắm nghía tấm ảnh Xtalin rồi nói: “Kiểu tướng soái này oách lắm nhưng không hợp với các cụ người nhà mình. Thôi được tôi sẽ lo liệu để có bộ áo hợp ý với cụ lý”.

Hai hôm sau, ông Phú Thịnh đem hai bộ quần áo đến, cười ý nhị nói: “Tôi trộm nghĩ cụ lý này không phải là lý trưởng mà có lẽ là một cụ lý… khác thường”, ông Vũ Đình Huỳnh cười đáp lại tình cảm tinh tế của ông thợ may.

Hôm sau, lựa lúc Bác tập thể dục, tắm sáng xong, ông Vũ Đình Huỳnh đem bộ quần áo mới vào. Bác ướm thử, ngắm kỹ cổ áo và mỉm cười: “Được, thế này là hợp với mình”. Ông Vũ Đình Huỳnh lúc đó đã rất vui và thầm mỉm cười nghĩ, chỉ trong vài ngày nữa, ông Phú Thịnh sẽ vô cùng sung sướng và ngạc nhiên vinh dự khi “cụ lý” mà mình may quần áo cho lại chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đọc Tuyên ngôn độc lập tại Vườn hoa Ba Đình để khai sinh ra một quốc gia mới – Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Theo Báo Đất Việt

dantri.com.vn

Chiếc chuyên cơ từng chở Bác Hồ sẽ được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

QĐND Online – Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với Quân chủng PKKQ đã thành lập đoàn công tác tiến hành khảo sát và xác minh lý lịch khoa học cho chiếc máy bay IL-14 mang số hiệu VN-C 516 hiện đang lưu giữ tại Trung đoàn Không quân 918-Quân chủng PKKQ. Chiếc IL-14 số hiệu VN-C 516 là một trong số những máy bay do chính phủ Liên Xô tặng nhân dân Việt Nam từ năm 1958, được Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Chiếc IL-14 này có ý nghĩa đặc biệt vì nó là một trong những chiếc chuyên cơ Bác Hồ từng sử dụng lúc sinh thời.

Chiếc chuyên cơ IL-14 mang số hiệu VN-C 516 khi mới được phát hiện

Thượng tá Lê Tôn Văn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo đảm kỹ thuật hàng không Trung đoàn Không quân 918 cho biết: “Chúng tôi đã kiểm tra toàn bộ các thông số kĩ thuật của chiếc IL-14. Hiện nay, công tác phục hồi nguyên trạng đang được thực hiện và dự kiến đến hết quý 1 năm 2012 sẽ hoàn thành”.

Theo kết quả làm việc gần đây nhất giữa Bảo tàng Lịch sử Quân sự với Quân chủng PKKQ, sau khi kết thúc quá trình phục hồi trạng thái ban đầu cho chiếc chuyên cơ này, hai bên sẽ tiến hành bàn giao và di dời về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Đây là một hiện vật có giá trị sẽ được Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trưng bày đúng vào dịp kỷ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890/19-5-2012).

Tin, ảnh: Bích Trang
qdnd.vn

Về chiếc khay nhỏ bằng đồng ở di tích H67

Trên chiếc bàn to Bác Hồ thường làm việc và chủ trì các cuộc họp với Bộ Chính trị được kê trong Nhà Di tích H67 ở Khu Di tích Phủ Chủ tịch có trưng bày một chiếc khay nhỏ làm bằng đồng. Chiếc khay được đặt cạnh những cuốn sách, những tờ báo Bác Hồ đang xem trước lúc đi xa…

Chiếc khay có số kiểm kê BT HCM 1043/KL-37 và đã được nghiên cứu, xác định, xây dựng hồ sơ khoa học.

Theo hồ sơ khoa học, chiếc khay nhỏ làm bằng đồng ấy là quà tặng của chị Mácta Rôhát Rôđrigết – phóng viên, Chủ nhiệm báo Granma – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cu Ba biếu Bác Hồ nhân dịp chị sang thăm Việt Nam, được Bác Hồ tiếp và trả lời phỏng vấn ngày 14-7-1969.

Sau ngày Bác Hồ qua đời, cùng với các di vật của Bác trong Khu Phủ Chủ tịch, chiếc khay đã được ghi chép vào Sổ kiểm kê bước đầu ngày 23 tháng 12 năm 1970 và có Bản ghi chép về chiếc khay này (xem bản ghi chép của ông Phạm Hồng Thăng).

Chiếc khay có hình tam giác cân, góc đỉnh hơi uốn cong, ở giữa lõm có hình con cá, xung quanh hình con cá là những chấm nổi nhỏ. Chiếc khay có cạnh đáy 8,7cm, cạnh bên 17cm.

Qua nghiên cứu các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Phu Chủ tịch, đã có nhiều đoàn đại biểu và các nhà báo Cu Ba được Bác Hồ tiếp tại nơi ở và làm việc của Người. Người còn gửi nhiều điện mừng tới các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cu Ba nhân dịp các ngày lễ lớn như:

– Ngày 30-12-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chúc mừng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cu Ba nhân kỷ niệm 5 năm cách mạng Cu Ba thành công.

– Ngày 28-1-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo Cu Ba “Niticias dehoy” (Tin tức hôm nay) nhân kỷ niệm lần thứ 34 Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Ngày 30-9-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đồng chí Ramôngxôlô Mayô, cán bộ Viện Hữu nghị các dân tộc của nước Cộng hoà nhân dân Cu Ba làm trưởng đoàn sang thăm Cu Ba. Đoàn có thư và quà của Chủ tịch Phiđen Cátxtơrô gửi tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Ngày 19-7-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và trả lời phỏng vấn nhà báo Cu Ba: Gabơrien (báo Hôm nay), Luitxơ và Baetxơ (báo Cách mạng) đang ở thăm và làm việc tại Việt Nam.

– Chiều 29-10-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đón Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản và Chính phủ Cu Ba do Tổng thống ÔĐoócticốt dẫn đầu.

– Ngày 31-10-1966, Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Cu Ba vào thăm nhà sàn gỗ và được Chủ tịch Hồ Chí Minh mở tiệc chiêu đãi trước khi về nước.
– Ngày 22-1-1967, Đoàn quay phim Cu Ba quay phim tại nơi ở và làm việc của Người.

– Ngày 13-2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp bà Menba Hécmanđê, Chủ tịch Uỷ ban Cu Ba đoàn kết với Việt Nam và đoàn đại biểu Viện Hữu nghị các dân tộc của nước Cộng hoà nhân dân Cu Ba sang thăm Việt Nam.

Theo lời kể của ông Cù Văn Chước – nguyên Trưởng phòng Hành chính – Tổng hợp, Văn phòng Phủ Chủ tịch, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, trong thời gian đến thăm Việt Nam, ngày 14-7-1969 chị M.Rôhát được Bác Hồ tiếp ở phòng giải lao Bộ Chính trị sau này làm buồng hội đồng bác sĩ chữa bệnh cho Bác. Trong buổi tiếp chị hỏi Người: “Nhân dân Việt Nam lấy sức mạnh thần kỳ của mình ở đâu để chống những kẻ thù cực mạnh như bọn Mỹ? Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: Trước hết đó là sự đoàn kết. Nhưng sự đoàn kết nhất chí đó dựa trên niềm tin sắt đá rằng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Chính vì nhân dân Việt Nam từ Nam chí Bắc đều tin tưởng sâu sắc họ có thể đoàn kết với cố gắng to lớn nhất và vượt qua mọi trở ngại (như các vấn đề phức tạp nhất, sự đàn áp tàn bạo nhất) mà kẻ thù hiện nay là đế quốc Mỹ dựng lên trước mặt họ. Cũng chính vì thế, trong từng giây phút chiến đấu họ vẫn giữ được tinh thần hết sức trong sáng và niềm lạc quan đôi khi làm ngạc nhiên những ai từng giá trị của tư tưởng nói trên mà Bác Hồ đã khắc sâu vào trái tim, khối óc của mỗi người Việt Nam”. Cuối buổi nói chuyện chị tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh chiếc khay này và Người tặng lại chị một bông hoa hồng được hái trong vườn Phủ Chủ tịch.

Cũng theo các nhân chứng lịch sử, chiếc khay được Bác Hồ trân trọng đặt luôn trên chiếc bàn làm việc của mình ở nhà H67 (trên khay, Bác đặt những chiếc ghim sắt để ghim giấy và ghim các bài báo cắt dán), vì ngôi nhà được xây xong khoảng cuối tháng 6-1967 nên có tên gọi là nhà H67. Thời gian từ 7-1969 sức khỏe của Bác yếu nhiều. Theo yêu cầu của các bác sỹ chăm sóc sức khỏe cho Người, Bác Hồ đã không còn lên xuống cầu thang Nhà sàn được nữa mà ở hẳn Nhà H67 từ ngày 17-8-1969.

Nội dung cuộc trò chuyện giữa chị và Bác Hồ hôm ấy đã đề cập đến nhiều vấn đề. Khi chị M.Rôhát hỏi Bác về khả năng vượt qua khó khăn, thử thách của cuộc chiến chống kẻ thù hung bạo, Bác đã trả lời: “Sức mạnh của nhân dân Việt Nam là ở chỗ nào? Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và ở sự ủng hộ của nhân dân thế giới”; Sau khi trả lời những câu hỏi về ý nghĩa của sự đoàn kết quốc tế, đặc biệt là của nhân dân Cu Ba, về những tiến bộ của nhân dân Việt Nam trên các lĩnh vực trong điều kiện chiến tranh ác liệt…”. Sau đó, Người nói: “Tôi muốn đồng chí chuyển về Cu Ba những lời sau đây: Tôi vô cùng yêu mến nhân dân Cu Ba. Tôi xin gửi lời chào đến toàn thể nhân dân Cu Ba, từ các đồng chí lãnh đạo đến các cháu thiếu nhi. Chúc các bạn thu được nhiều thành tựu trong mùa mía mười triệu tấn. Cho tôi gửi những cái hôn nồng nhiệt đến các cháu thiếu nhi và thanh niên. Đồng thời, tôi cũng chúc nhân dân các nước khác ở Châu Mỹ La tinh tự giải phóng khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc Yăngki. Về phần mình, chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh và sẽ chiến thắng. Chúng tôi đã nói như vậy và chúng tôi khẳng định lại như vậy”. Trả lời chị về tình cảm của mình đối với nhân dân hai miền Nam – Bắc Việt Nam, Bác nói: “Đồng chí muốn biết tình cảm của tôi đối với miền Bắc và đối với miền Nam phải không? Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như yêu đồng bào ở miền Nam. Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi. Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng, gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Những câu chuyện trả lời phỏng vấn của Bác Hồ ngày 14-7-1969 được chị viết thành bài với tiêu đề: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” bằng tiếng Tây Ban Nha đăng ngày 29-7-1969, tiếng Phápđăng ngày 3-8-1969, trên báo Granmatrước lúc Bác mất một tháng. Ngày 27-9-1969 Báo Nhân dân đã đăng bản dịch bài trả lời phỏng vấn ấy. Những ai lúc đó được đọc bài trả lời phỏng vấn này đều không cầm nổi nước mắt trước tấm lòng yêu nước thương dân, tin tưởng vào nhân dân của Bác Hồ.

Cuộc trò chuyện thân tình, cởi mở ngày 14-7-1969 ấy đã để lại trong lòng nữ nhà báo Cu Ba những cảm xúc mãnh liệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chị viết: “Người rất khiêm tốn, Người là một nhà Lêninnit trong thái độ đối với cuộc sống, đối với chính mình và trong đời sống riêng tư. Người nghĩ về cuộc đời riêng mình ít nhất. Tất cả cuộc đời của Người và tất cả những ý nghĩ của Người đều cống hiến cho cuộc đấu tranh vì tự do và hạnh phúc của nhân dân. Cùng với nhân dân, Người đã tham gia chống thực dân Pháp và được nhân dân giao phó cho Người, vị Chủ tịch đầu tiên của mình, đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc đấu tranh anh hùng, bất khuất chống bọn xâm lược Mỹ”. Chị tâm sự, bông hồng tự tay Người hái trong vườn tặng chị ngày ấy, được chị trân trọng và gìn giữ như vật báu của đời mình. Mỗi khi gặp khó khăn trong cuộc sống, chị lại mở cuốn sổ tay có ép bông hoa đó để động viên mình cố gắng vượt qua.

Có những thông tin cho rằng, sinh thời Bác đã sử dụng chiếc khay này làm gạt tàn thuốc lá là hoàn toàn không đúng. Bởi vì Người đã bỏ thuốc lá từ năm 1967 (về vấn đề này xin xem hồ sơ khoa học chiếc gạt tàn thuốc lá và tư liệu của phòng Sưu tầm – Kiểm kê – Tư liệu của Khu Di tích Phủ Chủ tịch).

Qua Hồ sơ khoa học và qua những tư liệu chúng tôi thu thập được, có thể nói chiếc khay này là món quà quốc tế tặng Bác cuối cùng và Chị M.Rôhát là một trong hai nhà báo nước ngoài cuối cùng được gặp Bác Hồ để phỏng vấn (ngày 14-7-1969 Bác Hồ tiếp chị M.Rôhát, ngày 15-7-1969 Bác Hồ tiếp và trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nhân đạo của ĐCS Pháp Sáclơ Phuốcniô, chỉ sau đó 17 ngày Bác Hồ đã vĩnh biệt chúng ta để đi vào cõi vĩnh hằng, để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân niềm tiếc thương vô hạn). Cho đến nay chiếc khay vẫn được đặt ở vị trí vốn có của nó (Di tích H67). Cùng với sự tồn tại của di tích, chiếc khay là một vật chứng, minh chứng cho những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày tháng cuối đời của mình tại khu Phủ Chủ tịch. Qua đó thể hiện được tình cảm tốt đẹp của Người đối với nhân dân Cu Ba và của nhân dân Cu Ba đối với Người.

Hồ sơ khoa học của chiếc khay hiện đang lưu giữ trong kho tư liệu của Khu di tích Phủ Chủ tịch./

Trần Thị Thuấn
Theo ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tới Pác Bó ngẫm tầm vóc tư duy chiến lược của Người

Tác giả: VƯƠNG QUÂN HOÀNG

Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công.

Sáng 28-1-2011 (tức ngày 25 tháng Chạp) chúng tôi tiếp tục hành trình trên mảnh đất Cao Bằng, nơi biên cương tổ quốc để được đến với địa danh Pác Bó, khu di tích lịch sử ghi mốc những ngày đầu lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam, tổ chức và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

…Càng đi trên con đường dẫn tới khu di tích Pác Bó, ta có cảm giác núi cao hơn, rừng bao phủ dày đặc hơn. Con đường có vẻ như hẹp lại – mặc dù rõ ràng là không phải như vậy. Tôi có cảm giác như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn để lại ở đây – hoặc tiếp tục trao cho nơi đây – rất nhiều năng lượng của Người, như thể Người chưa bao giờ nằm xuống vậy. Đó là cảm giác rất thực, thực đến mức càng cố gắng sử dụng ngôn ngữ để miêu tả, có lẽ càng làm cho điều ấy ít thực hơn đi.

Phiến đá bên đường ghi lại rằng, vào năm 1961 Hồ Chủ tịch đã trở lại thăm Pác Bó sau khi lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng 8 và Kháng chiến 1946-54 lẫy lừng bốn bể. Cờ hoa dọc hai bên con đường dẫn vào khu di tích – nơi nhiều hộ dân sinh sống làm sáng lên và ấm hơn cho vùng núi non hiểm trở nơi địa đầu tổ quốc.

Từ nơi này vào tới trung tâm của khu di tích không còn bao xa. Phía trong, đường bê tông đã trải tới tận sát những phiến đá đầu tiên dẫn vào lối nơi Người sống và làm việc từ cuối tháng 1 năm 1941, cái nơi mà Người tả rằng “cuộc đời cách mạng thật là sang,” mà đa số học sinh phổ thông đều thuộc, nhưng khó mà mường tượng ra sự sang trọng của “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.”

Hang Pác Bó, nơi Bác Hồ đã từng làm việc.

Và đây cũng là lần đầu tiên tôi được tận mắt ngắm nhìn và sờ tay vào dòng suối Bác Hồ đặt tên Suối Lê Nin, chạy uốn quanh núi đá thấy ngay từ khi bước vào sân khu di tích – Núi Các-Mác (Karl Marx). Nhìn thấy “phong thủy” của sự lựa chọn sáng suốt của Già Thu thời ấy, tôi càng khẳng định đó là sự lựa chọn cho một năng lượng chiến đấu với những thách thức lớn của cả một dân tộc, cầu sự an bình, độc lập, hạnh phúc cho cả 3 miền đất nước. Có lẽ cảm nhận năng lượng ấy không khó.

Tôi có biết một giả thiết – cứ xem như được mật truyền – của nhà khoa học Nga tên là Ernest Muldashev, người được rất nhiều người Việt gần đây biết đến qua bản dịch tiếng Việt các cuốn sách “Chúng ta thoát thai từ đâu,” và “Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân,” và “Trong vòng tay Sambala.” Ông ấy có biện luận cho sự tồn tại và lý giải năng lượng của các ngọn núi lớn nơi Phật giáo Tây tạng phát triển là nhằm tiêu diệt cái ác, đem đến năng lượng thiện, sự cải hóa tâm tính con người… Nếu Muldashev có lý, thì lựa chọn 70 năm trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đối với vùng núi biên cương này chứa đựng sự thấu hiểu cao độ những nguyên lý năng lượng vũ trụ, sự hòa hợp năng lượng tự nhiên với tâm năng của ý chí Người nuôi dưỡng vượt mọi thách thức thời cuộc… Nói ngắn gọn, chúng ta bắt gặp tiên cảnh ở nơi đây.

Trộm nghĩ, với một tầm vóc tư duy lớn lao, những khao khát theo đuổi sự nghiệp giải phóng cả một dân tộc, thống nhất một đất nước chia cắt làm 3 miền kể từ 1884 bởi những các thế lực chính trị Pháp lần lượt cai trị An Nam, Già Thu không thể câu cá nơi đây để có sự thư thái, ung dung. Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công. Sử sách vẫn còn ghi đó, ngay khi vừa tới Pác Bó, Hồ Chủ tịch đã sớm phác họa con đường chiến lược lấy Cao Bằng với địa hình thuận lợi và phong trào cách mạng có chiều sâu trong nhân dân làm điểm bắt đầu, và huấn thị phải nhanh chóng chuyển biến được thuận lợi ban đầu này thành căn cứ để lan tỏa sức mạnh tới Bắc Kạn, Thái Nguyên, từ đó tiếp cận đồng bằng và triển khai sự liên kết lực lượng các mạng các vùng miền của Việt Nam.

Thẳng thắn mà nói, đời sống vật chất tiện nghi, văn hóa nghe nhìn, bấm nút rầm rộ đã phần nhiều cản trở chúng ta thoát khỏi sự hời hợt của những khái niệm không đầu không cuối. Trong khi đó, để thấu hiểu những phát biểu chiến lược này, cần phải quay ngược lại không thời gian của giai đoạn lịch sử ấy. Một người sâu sắc như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã biết rõ rằng, mỗi một bước đi chiến lược đều liên quan đến sinh mệnh đồng chí, đồng bào, đến sự tồn vong của một lực lượng non trẻ… và phép tính ấy còn phải vượt qua rất nhiều thử thách để đi từ một chốn tiên cảnh nơi hoang sơ trở thành phong trào cách mạng rộng khắp toàn quốc chỉ hơn 4 năm sau đó. Những bất trắc như thời kỳ ngục tù 1943 dưới tay quân Tưởng là một phần của những khó khăn Người đã dự liệu.

Không có cách nào để hiều điều ấy nếu chúng ta không chịu rời chăn ấm và phòng kín điều hòa, những bữa tiệc ngon để biết trong hang đá lạnh lẽo chừng hơn 10 mét vuông ở Hang Cốc Bó, Người và 5 đồng chí thuở ban đầu chỉ có ý chí và ngọn lửa sự nghiệp dân tộc làm hơi ấm tiếp sức. Rõ ràng cháo bẹ, rau măng ấy là những món sang nhất trên đời, một khi đó là nguồn năng lượng đem đến những kỳ tích dân tộc

Nơi nghỉ của lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam cũng chỉ đơn sơ với một tấm phản bằng gỗ như thế này mà thôi. Một nhân cách vĩ đại là thế, một tài năng lỗi lạc là thế, một sự nghiệp lớn lao bao trùm là thế, nhưng nhu cầu vật chất nào có là bao.

Nhũ đá trong hang Cốc Bó được Người đặt tên “tượng Các Mác” như một minh chứng của trí tuệ phong phú, khởi nguồn cho những tư duy chiến lược, viễn kiến quốc gia mãi mãi sau này vẫn là bài học sống động của lịch sử Việt Nam.

Tôi chợt nhớ những vần thơ của Tố Hữu – không phải viết về Hồ Chủ tịch, mà trong bài thơ về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi – nhưng lại hợp lý vô cùng khi suy ngẫm về tầm vóc và sự nghiệp của Người:

Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người như chân lý sinh ra

Con người “như chân lý sinh ra” ấy có một cuộc đời giản dị tới mức những người bình thường sống trong xã hội chúng ta ngày hôm nay không sao hình dung được đó là cuộc sống của một lãnh tụ vĩ đại, một cuộc sống được đánh đổi bằng những năm tháng tuổi trẻ bôn ba, và sự đau đáu cả đời, hy sinh mọi thú vui cá nhân… Chỉ để thế này thôi sao?

Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước, Người đã chọn bản Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) làm nơi khởi sự cho công cuộc cách mạng. Vào thời kỳ đó, lương thực có lẽ chỉ là ngô. Cảnh thiếu đói triền miên phổ biến với vùng cao đất nước này. Người về sống trong hang Cốc Bó, trước đó là kho trữ lương thực của ông Lý Quốc Sùng, người ban đầu chăm lo cuộc sống cho Người. Bác sống đạm bạc, với cháo ngô, măng và rau rừng như những người dân quanh đây. Bác sống ở Cốc Bó khoảng 2 tháng. Đến đầu tháng 4-1941, chuyển sang sống ở lán Khuổi Nặm. Chuyện kể rằng, có người cán bộ bẫy được con gà lôi đẹp, muốn giữ nuôi cảnh. Bác bảo: “- Nuôi gà lôi giải trí cũng thích, nhưng hiện nay lương thực rất thiếu thốn, cơm gạo chúng ta còn chưa đủ ăn thì các chú lấy gì để nuôi gà cảnh?”

Anh em có ý kiến rằng sẽ bắt sâu bọ để nuôi gà, Bác đồng ý, nhưng chỉ được vài bữa con gà gầy rộc. Cuối cùng, anh em đành xin phép thịt con gà ấy đi. Khi Bác nhất trí, mọi người nghĩ sẽ được bữa ngon, nhưng sau khi thịt lại chỉ được phép lấy bộ lòng để nấu một bữa tươi. Còn lại thì phải băm nhỏ toàn bộ để trộn muối và rang mặn, cất trữ trong ống tre ăn dần…

Năm 1942, Bác sang Trung Quốc để gặp gỡ với chính quyền Trung ương Tưởng Giới Thạch bàn về mối quan hệ giữa hai nước trong công cuộc chống Nhật. Không may, đi đến phố Túc Vinh, huyện Đức Bảo, Quảng Tây, Trung Quốc, Bác đã bị chính quyền địa phương Tưởng Giới Thạch bắt giữ. Chúng giải Bác đi qua hơn 30 nhà lao của 13 huyện thị Quảng Tây, Trung Quốc. Tháng 10-1943, mới được trả tự do. Tháng 10-1944, Bác quay trở lại Pác Bó. Khi này, sức khỏe đã giảm sút đi nhiều. Tuy vậy, Người vẫn kiên quyết từ chối những chế độ chăm sóc đặc biệt. Trong chữ “đặc biệt” ở đây chỉ là những bữa ăn có thêm chất mà thôi, chứ tuyệt nhiên chẳng có gì để so với những bữa tiệc hoành tráng, lãng phí, trang điểm bằng âm thanh “dzô dzô…” mà dân chớm có tiền của ở đô thị VN hiện đại ngày nay đãi nhau mỗi khi có cớ và cả không cớ.

Lại nói tới điều kiện, tôi vốn không tin rằng điều kiện vật chất là thứ phải có để cho con người có đủ năng lượng chinh phục khát khao. Giống như khi tôi lấy ví dụ rằng,(*) Louis Pasteur đã phát minh ra những thứ vĩ đại cho y học hiện đại (trong đó có vắc-xin chống bệnh dại) trong điều kiện nửa não đã teo, và nửa kia ngập trong bệnh tật, có nguy cơ dừng làm việc bất cứ lúc nào. Nhưng Pasteur xa quá, còn Hồ Chủ tịch thì ngay nơi đây, trong lịch sử đương đại của chính đất nước này.

Tôi đã thỉnh xin vị Thánh dân tộc để được ngồi thử vào chiếc “bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,” trong bộ dạng trang bị ấm áp của kẻ từ dưới xuôi lên, đã sẵn sàng chống chọi với cái rét vùng cao. Tuy thế, cái lạnh thấu xương vẫn cứ xuyên qua những lớp vải bảo vệ, như ngầm nhắc nhở rằng, ngủ quên trong sự ấm áp, hưởng thụ, có sức công phá và gây xói mòn nhanh chóng nghị lực, ý chí và cả đạo đức con người.

… Nhìn xuống dòng Suối Lê-Nin, vẫn thấy những đàn cá đang bơi trong nước lạnh. Những người ở đây nói, thường là cá chép. Nước suối Cao Bằng thật lạnh, tê buốt tay, và ta có thể mường tượng chỉ có những vĩ nhân với năng lượng mãnh liệt mới vừa chinh phục sự khắc nghiệt thời tiết để tạo dựng những viễn kiến lớn của tương lai một đất nước đang chìm trong kiếp nô lệ. Lại tự hỏi, không biết có bao nhiêu người được gọi là quan đầu tỉnh này, bộ kia… có thể tự mình rời bỏ những nơi ấm áp, để thấu hiểu nỗi khổ của thiên hạ, để chia sẻ nỗi đau của muôn dân, để thoát khỏi sự mụ mị của mâm cao, cỗ đầy, say đắm tửu sắc nơi phồn hoa đô thị (cho dù chỉ là sự phồn hoa giả tạo, cục bộ).

Khi cha tôi còn sống, tôi biết ông nhiều lần đã gặp Cụ Hồ, vì ông cũng là thiếu sinh quân từ khi còn nhỏ ở Liên Xô (chừng 10 tuổi hay hơn chút), mà Cụ Hồ có lịch sử quan hệ rất đặc biệt với Liên Xô, lãnh đạo Quốc tế Cộng sản, cũng như đặc biệt quan tâm đến thiếu nhi. Tôi có hỏi cha tôi về sự kiện Bác mất năm 1969, và hỏi cụ thể rằng: “Thế bố có khóc không?” Câu trả lời rất ngắn gọn: “Người Việt Nam, ai cũng khóc.” Và hàng triệu bạn bè khắp năm châu bốn bể cũng thương nhớ chia sẻ mất mát này. Giờ tôi lại tự hỏi, liệu nay còn được bao nhiêu người ở bậc sang trọng, quyền chức có thể khiến cho hàng chục triệu người Việt, và bạn bè khắp năm châu rơi lệ tiếc thương được nữa?

Trước khi rời khu di tích, chúng tôi tới thắp hương tưởng nhớ Hồ Chủ tịch ở khu tưởng niệm người, cách hang Cốc Bó không xa. Nơi đây, những cây trồng kính dâng người của lớp học trò xuất sắc như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vượt lên trời cao, vững vàng trước nắng mưa, gió rét. Một cây lát hoa đã cao vài chục mét của ông Hồ Tế đã có vòng thân lớn khỏe… Dọc đường chúng tôi mới để ý, vùng này người dân trồng thật nhiều cây lát, dọc cả hai bên quốc lộ.

Hơn bao giờ hết, tôi ý thức được sự bé nhỏ của mình, khi đứng trước tầm vóc lớn lao của một nhân cách vĩ đại, một tư duy chiến lược xuyên không-thời gian mà Hồ Chủ tịch đã mang đến cho đất nước. Chỉ nguyên giao thông thôi, ta cũng nên hiểu rằng ngồi trên những chiếc xe hơi đời mới, tiện nghi không thiếu gì, bánh ngọt nước uống đủ cả, mà chúng ta vượt đèo tới nơi cũng ê ẩm cả người. Hãy nghĩ tới khi Người vượt núi rừng về đây, ở trong hang đá lạnh hơn 10 mét vuông, xung quanh rừng rậm chỉ có chồn sóc, rắn rết… mà nghĩ tới một tương lai độc lập dân tộc, để thấy chúng ta bé nhỏ nhường nào.

Vào lúc này đây, xin được dành phút giây này nhớ đến vị anh hùng dân tộc, Người đã mang lại sự toàn vẹn của tổ quốc Việt Nam hình chữ S thân thương, người cho tôi được nói mình là “người Việt Nam”.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

3 bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai cháu Lê Thị Thanh, Nguyễn Thị Bình và cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh

Những bức thư này hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III- Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chưa được bao lâu thì Thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Để bảo vệ những thành quả của cách mạng, giữ gìn độc lập tự do của dân tộc vừa giành được, quân và dân ta đã anh dũng bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ và ác liệt. Trong cuộc kháng chiến ấy, nhiều chiến sĩ, đồng bào ta đã bị thương và hi sinh. Đảng, Bác Hồ và nhân dân luôn biết ơn và dành tình cảm yêu thương cũng như ủng hộ về vật chất để chăm sóc các gia đình liệt sĩ, anh em thương binh, bệnh binh tận tình chu đáo. Nhiều hoạt động giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ đã được thực hiện, được nhiều người, nhiều tầng lớp tham gia, đặc biệt là các em nhỏ.

Tháng 2/1948, Bác Hồ đã phát động phong trào Trần Quốc Toản để các cháu thiếu nhi tham gia giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ, bộ đội. Thực hiện lời dạy của Bác, nhiều em đã tham gia phong trào này bằng nhiều cách khác nhau như quét nhà, gánh nước, lấy củi, giữ em, dạy chữ quốc ngữ, tiết kiệm tiền gửi tặng các chú thương binh, bộ đội…

Năm 1953, có hai em học sinh là Lê Thị Thanh và Nguyễn Thị Bình ở huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã tiết kiệm được một số tiền và gửi lên Bác để làm quà tặng anh em bộ đội và thương binh.

Với sự quan tâm đặc biệt tới các cháu thiếu niên nhi đồng và anh em bộ đội, thương binh, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian gửi thư khen ngợi và động viên hai cháu.

Thư gửi cháu Thanh, Bác viết:

Thân ái gởi cháu Thanh,

Bác cảm ơn cháu đã gởi lên Bác 10 vạn đồng để làm giải thưởng và làm quà tặng anh em bộ đội và thương binh.

Bác giữ lại 5 vạn của cháu, và Bác thêm vào 5 vạn để làm quà và làm giải thưởng. Bác gởi lại cháu 5 vạn để cháu làm vốn mà tăng gia.

Bác mong cháu thương yêu và nghe lời cha mẹ, cố gắng học để đọc thông viết tốt, và cố gắng tăng gia.

Bác hôn cháu.

Bác gởi biếu cháu 1 cái huy chương”.

                                                     Tháng 1 năm 1953

                                                          BÁC HỒ

Thư Bác Hồ gửi cháu Lê Thị Thanh (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ), tháng 1.1953. (1).

Thư gửi cháu Bình, Bác viết:

Thân ái gửi cháu Bình,

Bác cảm ơn cháu đã gửi lên Bác 2 vạn đồng để làm quà tặng anh em thương binh.

Bác giữ 1 vạn của cháu, và thêm vào 1 vạn của bác để làm quà cho các anh thương binh. Còn 1 vạn, Bác gởi lại cho cháu, để cháu làm vốn mà tăng gia.

 Bác mong cháu luôn luôn ngoan, và cố gắng học viết chữ cho tốt hơn.

Bác gửi biếu cháu 1 cái huy chương.

Bác hôn cháu”.

                                                                               Tháng 1 năm 1953

BÁC HỒ

Thư Bác Hồ gửi cháu Nguyễn Thị Bình (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ), tháng 1.1953. (2)

Hai thư Bác viết ngắn gọn, lời lẽ giản dị, gần gũi. Bác đề xuất cách sử dụng số tiền tiết kiệm của các cháu thật ý nghĩa. Với mỗi cháu Bác đều dặn dò khuyên nhủ làm những việc thiết thực, có ích.

Số tiền của hai cháu cùng với số tiền của đồng bào các nơi gửi đến Bác đã gửi cho Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh làm quà tết cho anh em thương binh cùng với thư như sau:

“ Thân ái gởi Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh.

Tôi xin gởi sang Cụ 50 vạn đồng (năm mươi vạn), do đồng bào các nơi gửi đến tôi, trong đó có 12 vạn đồng do các cháu nhi đồng gởi.

Nhờ cụ chuyển số tiền đó làm quà Tết ta cho anh em thương binh, với lời chào thân ái của tôi, của đồng bào và các cháu nhi đồng”.

                                              Chào thân ái và quyết thắng,

                                                     HỒ CHÍ MINH  

                     1/53

Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh, tháng 1.1953. (3).

Trên đây là toàn văn nội dung 3 bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai cháu Thanh, Bình và Cụ Bộ trưởng Bộ thương binh Cựu binh, tháng 1/1953. Những bức thư này hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 1494. Cả 3 bức thư đều chưa được công bố trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 1995.

Nhân dịp kỉ niệm 64 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2011), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn 3 bức thư cùng bạn đọc. Qua những bức thư này, một lần nữa chúng ta lại thấy được sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới các cháu thiếu niên nhi đồng, tới anh em thương binh bệnh binh, cũng như thấy được truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”- một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta.

Phạm Hải Yến – Trung tâm lưu trữ quốc gia III

Tài liệu tham khảo:
(1)(2)(3) Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 1494.

archives.gov.vn

Các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nước

Theo thống kê, ở Việt Nam hiện có hơn 300 công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh, với 6 loại hình chủ yếu: Đền thờ; Nhà tưởng niệm; Đài kỷ niệm và bia biển lưu niệm; Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Các công trình mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh; Ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại các đình, chùa, đền, miếu, và gia đình.

* Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Đền thờ xây dựng năm 1970 tại xã Long Đức, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
2. Đền thờ Bác Hồ xây dựng năm 1973 tại Trí Phải Tây, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
3. Đền thờ Bác Hồ tại Lương Tâm, huyện Long Mỹ, Cần Thơ.
4. Đền thờ Bác Hồ tại Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
5. Đền thờ Bác Hồ tại Thôn Cái Tắt, xã An Đồng, huyện An Hải, Hải Phòng, khánh thành ngày 2/9/1993.
6. Đền thờ Bác Hồ tại xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, Hà Nội, khánh thành ngày 19/5/1995.

* Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng năm 1970 ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ an.
2. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng năm 1983 ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
3. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng năm 1990 ở phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
4. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ATK Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên (Công trình của Thành phố Hà Nội tặng nhân dân tỉnh Thái Nguyên tháng 5/2005).

* Đài kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Bến Đò (cũ) thôn Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bước chân đầu tiên về Hà Nội ngày 24/8/1945. (Xây dựng năm 1990).
2. Khu rừng thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với cán bộ chủ chốt, thân hào, thân sĩ trong tỉnh, ngày 22/2/1947. (Xây dựng năm 1990).
3. Phủ đường Quốc Oai (cụ) nay là Trụ sở UBND huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì các phiên họp Hội đồng Chính phủ đêm 20 và 21/1/1947 (Xây dựng năm 1990).
4. Đồi Tỉnh Keo, thôn Nà Lọm, xã Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Bắc Thái – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc các năm 1948, 1952, 1953.
5. Đình Thượng Đồng, xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà có phong trào thi đua sản xuất khá nhất tỉnh, được Bác Hồ về thăm ngày 13/6/1958.
6. Xã Yên Trường, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá – Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với đại biểu cán bộ và nhân dân tỉnh, ngày 11/12/1961.
7. Thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội, nhiều năm liền hoàn thành vượt mức nghĩa vụ đóng thuế lương thực đã được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và chúc tết Quý Mão(1963).
8. Xã Đình Dù, huyện Văn Lâm (nay là Mỹ Văn), tỉnh Hải Hưng, có phòng trào chống hạn khá, được Bác về thăm ngày 16/10/1958.
9. Xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động, tỉnh Hải Hưng, có phong trào khá về nhiều mặt, nhất là nhà trẻ và mẫu giáo, được Bác về thăm ngày 16/9/1961.
10. Xã Hiệp Lực, huyện Ninh Quang, tỉnh Hải Hưng, có phong trào thuỷ lợi xuất sắc được bác về thăm ngày 26/7/1962.

* Bia biển lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Các điểm trong khu di tích Pác Bó:
– Hang Cống Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng – Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc năm 1941.
– Bộ bàn ghế đá – Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi làm việc trong những ngày nắng ráo trong thời gian Người ở hang Cốc Bó năm 1941.
– Bếp ở khu vực đầu nguồn Pác Bó trong thời gian Người ở hang Cốc Bó.
– Nơi Bác ngồi câu cá tại khu vực đầu nguồn Pác Bó trong thời gian Người ở hang Cốc Bó.
– Khóm trúc Bác trồng năm 1961 khi Người về thăm lại Pác Bó.
– Nơi Bác ngồi làm thơ ở khu vực đầu nguồn Pác Bó trong chuyến Người thăm lại Cao Bằng, năm 1961.
– Nhà Cụ Dương Vân Đình, nơi Bác thường lui tới thăm hỏi gia đình và tuyên truyền cách mạng cho quần chúng.
– Lán Khuổi Nậm – Chủ tịch Hồ Chí Minh ở, làm việc và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, tháng 5/1941.
– Bếp nấu ăn cho đại biểu dự Hội nghị Trung ương Đảng lầy thứ 8 tại Khuổi Nậm, tháng 5/1941.
-Nơi Bác thường tập thể dục buổi sáng trong thời gian Người ở Khuổi Nậm năm 1942 và một thời gian của năm 1945.
– Biển chỉ dẫn đường Bác đi lại ở khu vực đầu nguồn Pác Bó.
– Núi Các Mác, suối Lênin, ngọn núi và dòng suối ở Pác Bó được Bác đặt tên.
– Hang Diêm Tiêu, nơi Bác cất giấu tài liệu khi ở Pác Bó.
– Hang Sĩ Điếng – Bác dùng làm hòm thư lưu trong thời gian ở Pác Bó.
– Khu ruộng Nà Chang, năm 1961, Bác nói chuyện với đồng bào các dân tộc Pác bó.
2. Khuôn Tát, Phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Bắc Thái, Bác ở và làm việc từ 20 đến 28/11/1947; từ 11/1 đến 7/3/1948; từ 5/4 đến 1/5/1948.
3. Thôn Cầu Thành, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, Thái Nguyên, nơi Bác đến thăm nông dân hợp tác xã.
4. Xóm Thượng Hải, xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Hưng, Bác về thăm ngày 31/5/1957.
5. Nhà máy công cụ số 1, thuộc Khu công nghiệp Thượng Đình, quận Đống Đa, Hà Nội, nơi Bác đến thăm nhiều lần vào các năm 1958, 1960,1963.
6. Nhà A2, phòng 23, Trường Nguyễn Ái Quốc, nay là Học viện Chính trị Quốc gia, huyện Từ Liêm, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong thời gian Đại hội Đảng lần thứ III, từ 22/8 đến 10/9/1960.
7. Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Xuân Dương, Hà Tây, nơi Bác ở và làm việc từ 19/12/1946 đến 13/1/1947.
8. Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Vạn Phúc, thị xã Hà Đông, Bác ở và làm việc từ 7 đến 19/12/1946 và viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
9. Ngôi nhà 48 Hàng Ngang, Hà Nội, nơi Bác Hồ ở, làm việc cuối tháng 8/1945 và viết Tuyên ngôn độc lập.
10. Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, Hà Tây, Bác ở và làm việc từ 31/1 đến 2/2/1947.
11. Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, Bác ở và làm việc từ 3/2 đến 2/3/1847 và về thăm 19/5/1957.
12. Chùa Một Mái, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, Bác đã lên thăm trong thời gian Người ở và làm việc tại Nhà tổ, tháng 2/1947.
13. Khu lưu niệm Bác Hồ tại thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà tĩnh (cơ quan Tỉnh uỷ cũ), Bác về thăm ngày 15/6/1957.
14. Nhà số 5 Châu Văn Liêm, phường 3, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh, nới Bác ở một thời gian trước khi ra đi tìm đường cứu nước.
15. Ngôi nhà ở thôn Dương Nỗ, huyện phú Vang (nay là xã Phú Dương), huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên Huế, Bác cùng cha và anh sống trong khoảng thời gian 1898-1901.
16. Địa điểm Nguyễn Tất Thành tham gia phong trào chống thuế ở Huế.
17. Lớp học ở trường Dục Thanh, phường Đức nghĩa, thị xã Phan Thiết, thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học năm 1910.
18. Nhà số 8 phố Vua Lê – Hà Nội, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946

* Một số tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ngoài trời *

1. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Ninh Kiều, thành phố Cần thơ, tỉnh Cần Thơ.
2. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thị xã Sa Đéc, tỉnh đồng Tháp.
3. Nhóm tượng Bác Hồ với các cháu thiếu nhi ở Quảng trường UBND thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nhóm tượng Bác Hồ với thiếu nhi ở trước Bảo tàng Hồ Chí Minh- Chi nhánh Bình Thuận.
5. Nhóm tượng Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tại thị xã Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc.
6. Tượng đứng toàn thân Nguyễn Tất Thành tại trường Quốc học Huế, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
7. Nhóm tượng đứng Bác Hồ với thanh thiếu niên ở Công viên Nguyễn Tất Thành, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
8. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Vinh, Nghệ An.
9. Tượng đứng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh.
10. Nhóm tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang tại thị xã Hà Giang.

* Các công trình, công việc, địa danh mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Đường Trường Sơn- Đường Hồ Chí Minh.
2. Đường Hồ Chí Minh trên biển.
3. Thành phố Hồ Chí Minh
4. Chiến dịch Hồ Chí Minh
5. Đường Nguyễn Tất Thành, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.
7. Trung tâm thanh thiếu nhi Nguyễn Tất Thành, thành phố Vinh, Nghệ An.
8. Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (ở chiến khu Việt Bắc và Hà Nội), nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
9. Trường Nguyễn Tất Thành, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
10. Đồi cây Bác Hồ ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Tây.
11. Đồng bào dân tộc Vân Kiều, Thừa Thiên Huế mang họ Hồ.
12.Danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”.
13. Liên đoàn “tiếng hát từ Làng Sen” được tổ chức định kỳ hàng năm.
14. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
15. Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

* Một số chùa có thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Chùa Hà Vi, còn gọi là Hồng Phúc Tự ở phường Trần Nguyên Hãn, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
2. Chùa làng Thành ở xã Thọ Xương, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
3. Chùa Phương Lan ở xã Phương Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
4. Chùa Xuân Hội ở xã Lạc Vệ, tỉnh Bắc Giang.
5. Chùa Phật Tích ở xã Phật Tích, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
6. Chùa Vĩnh Nghiêm ở xã Trí Vân, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh.
7. Chùa làng Đông ở xã Dĩnh Trí, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
8. Chùa Nhã Nam còn gọi là Nam Thiên Tự ở xã Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
9. Chùa Thái Đào ở xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
10. Chùa Yên Mẫu ở xã Kinh Bắc, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
11. Chùa Phố ở thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
12. Chùa Vân Cốc ở xã Vân Chung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh.
13. Chùa Bà Đá ở phố Nhà thờ lớn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

* Một số đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh *

1. Đền Thiên Hậu ở thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
2. Đền thờ Đức Thánh Trần ở thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
3. Đền Làng Trung ở xã Cao Viên, huyện Thanh Oai, Hà Tây.
4. Đền thờ Đức Thánh Trần ở 13 Đào Duy Từ, Hà Nội.
5. Đền thờ Mẫu (Láng Hạ) Ứng Thiên, Đống Đa, Hà Nội

Bảo tàng Hồ Chí Minh

Kỷ vật và kỷ niệm với Bác Hồ

QĐND – Câu chuyện đã qua tròn nửa thế kỷ nhưng ông vẫn nhớ rành rọt lắm. Nhất là mỗi lần ngắm nhìn chiếc phù hiệu, thẻ ra vào và giấy giới thiệu là ông lại rưng rưng nhớ tới kỷ niệm với Bác Hồ kính yêu…

Vào cuối năm 1961, Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ hai từ ngày 8 đến ngày 10-12-1961. Để phục vụ cho chuyến đi của Bác Hồ về Nghệ An và sau đó thăm tỉnh Thanh Hóa bảo đảm an toàn, Cục Không quân đã cử Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh, lúc ấy đang là Trợ lý Điều phái chỉ huy sở – Ban Tác chiến – Cục Không quân đi trước đến hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa để liên hệ công tác làm nhiệm vụ xác định vị trí, chọn địa điểm để máy bay trực thăng chở Bác có thể cất cánh và hạ cánh an toàn. Trước khi đi công tác, Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh được Cục Không quân cấp giấy giới thiệu số 845 ngày 6-12-1961 (hạn đến ngày 16-12-1961). Khi đến tỉnh Nghệ An đồng chí được công an tỉnh Nghệ An cấp phù hiệu ngày 7-12-1961 có dòng chữ “Lam – Trà nổi sóng”. Nghĩa của dòng chữ này xuất phát từ năm 1960, tại Nghệ An có phát động phong trào An – Ngãi quật khởi, “Lam – Trà nổi sóng” vừa là phong trào, vừa thể hiện tấm lòng của Nghệ An đối với miền Nam tiền tuyến lớn anh hùng mà cụ thể là với tỉnh Quảng Ngãi kết nghĩa. Phù hiệu chỉ cấp trong nội bộ và được ra vào bí mật. Ngày 11-12-1961 khi ra tới Thanh Hóa, Hoàng Ngọc Mạnh còn được công an tỉnh Thanh Hóa cấp tiếp một thẻ ra vào. Ông đã sử dụng giấy giới thiệu, phù hiệu, thẻ để ra vào Tỉnh ủy, Tỉnh đội, Công an tỉnh, Ủy ban hành chính của hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An thực hiện nhiệm vụ trong suốt quá trình công tác của mình từ ngày 7 đến ngày 12-12-1961.

Giấy giới thiệu, phù hiệu của CCB Hoàng Ngọc Mạnh.

Trong chuyến công tác này, có một kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ mà Hoàng Ngọc Mạnh không bao giờ quên. Ông nhớ lại: “Vào lúc 23 giờ đêm 10-12-1961, sau khi liên hoan, xem biểu diễn văn nghệ chia tay quê hương Nghệ An để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh ủy Nghệ An đã tổ chức cuộc họp đột xuất thống nhất kế hoạch để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm Thanh Hóa. Cuộc họp có sự tham gia của đồng chí Phạm Kiệt, Thứ trưởng Bộ Công an cùng các cán bộ chủ chốt của tỉnh Nghệ An và đại diện một số ban ngành liên quan. Đang họp thì Bác trở về, đi qua phòng họp của Tỉnh ủy. Bác vào phòng và hỏi:

– Các đồng chí đang làm gì ở đây?

Đồng chí Phạm Kiệt đứng lên trả lời Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu đang họp chuẩn bị kế hoạch để sáng mai Bác ra thăm Thanh Hóa.

– Tình hình máy bay ngày mai thế nào? Xăng dầu có đủ không? Bác hỏi.

Đồng chí Phạm Kiệt bảo tôi trả lời Bác. Tôi nói:

– Thưa Bác! Máy bay tốt, xăng dầu đủ và còn thừa ạ.

– Thế các anh em phi công ăn, ngủ ở đâu?

– Dạ thưa Bác, anh em phi công ăn ngủ ở giao tế ạ (giao tế là nơi đón tiếp, nghỉ ngơi của nhiều đoàn khách cán bộ cao cấp trong nước và bạn bè quốc tế).

Bác lại hỏi:

– Giao tế ở đâu? Cách đây bao xa? Bác muốn qua thăm anh em.

Vì đã khuya, ngoài trời rất lạnh và muốn Bác về ngủ giữ sức khỏe để mai còn lên đường nên tôi đã trả lời:

– Dạ thưa Bác xa lắm, cách đây khoảng hơn 400m ạ.

Bác cười:

– Cách đây có hơn 400m mà đồng chí bảo xa.

Tôi suy nghĩ rất nhanh rồi trả lời:

– Thưa Bác, bây giờ đã là 11 giờ, để bảo đảm sức khỏe các đồng chí trong tổ bay đã đi ngủ từ lúc 8-9 giờ tối.

Khi nghe xong câu trả lời của tôi, Bác nói:

– Đồng chí nói thế thì mới đúng, chứ cách đây có hơn 400m mà bảo xa thì không xa.

Bác mỉm cười rồi nói tiếp:

– Các đồng chí tiếp tục làm việc đi, Bác về phòng đi ngủ.

Câu chuyện và kỷ niệm gắn với chuyến công tác phục vụ Bác Hồ về thăm hai tỉnh Nghệ An – Thanh Hóa 50 năm trước vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức người lính không quân năm xưa. Cựu chiến binh Hoàng Ngọc Mạnh đã cất giữ cẩn thận giấy giới thiệu, phù hiệu và thẻ ra vào như một kỷ vật quý của mình và gia đình. Ngày 8-8-2011 vừa qua, ông đã trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam…

Bài và ảnh: Thiên Vương – Thu Hương

qdnd.vn

Dựng tượng Bác nơi biển đảo

 – Tàu chạm cầu cảng dài xây dựng từ thủa xa xưa, mọi người reo lên rằng đã tới Cô Tô (huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh). Gạt lại heo hút, sóng gió người đến bước vào thế giới yên bình nơi phố đảo.

Huyện Đảo Cô Tô xa đất liền, sinh thời Bác Hồ đã đến thăm đảo và trò chuyện, người bảo trồng khoai, làm muối. Lúc ấy có cán bộ địa phương xin dựng tượng Bác để người dân trên đảo luôn gần với Bác và đất liền”.

Cuộc sống yên bình tại huyện đảo Cô Tô

Mãi sau này tái hiện lại quá trình Bác ở đảo, hình thành nên Khu di tích Bác Hồ. Người Cô Tô có một sự tự hào đặc biệt với nơi đây. Ai đến, đi đều một lẽ dặn dò: Nhớ ra thắp hương ở Khu di tích Bác Hồ. Có bác mới có Cô Tô ngày hôm nay…

Ở khu di tích ngày nay còn lưu giữ những dòng chữ: “Nơi đây 8 giờ ngày 9/5/1961, chiếc trực thăng đưa bác Hồ đến thăm đảo Cô Tô, hạ cánh. Bác Hồ bước xuống, tươi cười vẫy tay chào cán bộ, bộ đội, nhân dân trên đảo vui mừng đón bác”.

Lịch sử của Cô Tô cũng được ghi thêm bằng sự biến động của các cư dân sống tại nơi này. Trước năm 1978, quần đảo Cô Tô – Thanh Lân là vùng đảo sầm uất, dân số đông. Thế nhưng sau đó đảo thưa dần người…

Đảng và nhà nước kêu gọi kêu gọi nhân dân ở Thái Bình, Nam Định ra xây dựng vùng kinh tế mới ở đây.

Ông Nghĩa cho biết: Cuộc sống nơi đây đã tốt hơn rất nhiều

“Tàu của nhà nước đưa chúng tôi đến đảo, khi tất cả mọi người xuống khỏi tàu thì ai cũng mệt nhoài. Có nhiều người gục ngã vì mỏi mệt… lúc ấy trên đảo chỉ toàn cỏ tranh, không có đường đi, nước mắt của một số chị em phụ nữ lăn dài vì nghĩ đến những ngày bắt đầu lập nghiệp nhọc nhằn ở đảo”, bà Nguyễn Thị Mơ (67 tuổi) một trong những người đến đảo sớm chia sẻ về những ngày đầu tiên ở đây.

Để có can đảm, ông Nghĩa, bà Mơ đã tự nhủ rằng “Không sinh ra ở đây nhưng có lẽ sẽ chết ở nơi này”, họ cần cù nhẫn nại: “Ban đầu chúng tôi phải cấu từng ngọn rau dại, mò cua, bắt ngao để lấy thức ăn theo bữa”.

Thế nhưng những ngày sống khổ đã qua từ lâu, đàn bà cần cù vỡ hoang từng thước đất, đàn ông chăm chỉ đi biển… Sức người biến thành cơm ăn, áo mặc và cuộc sống dần đổi thay ở huyện đảo này. Huyện đảo có nhà tầng, người trong nhà dùng máy giặt, tủ lạnh… đời sống sung túc dần lên.

Xa cách đất liền nhưng nhờ có truyền hình cáp, đời sống tinh thần của người ở Cô Tô đã khác.

Cách trở về mặt giao thông được kéo lại gần, vài năm về trước hàng tuần mới có 1 chuyến tàu ra đảo, nay thì đã khác 1 ngày có ít nhất 2 chuyến tàu. Những người quê xa, ra vùng đất mới lập nghiệp trở về thăm quê cũng tiện lợi hơn nhiều. Đời cha mẹ, đến đời con cái tiếp tục sinh sống ở nơi đây.

Cùng với sự đổi thay về cuộc sống, những câu chuyện bi hài, khốn khổ về nghèo đói, bệnh tật cũng khuất dần: “Ngày xưa khi phụ nữ trên đảo đi đẻ, vì điều kiện đường xá và bệnh viện khó khăn nên đẻ rơi cả ở đường, con đẻ ra dính toàn đất cát… Thế nhưng nay đã khác, bệnh viện khang trang, đường xá thuận tiện, đi đẻ đỡ khổ đi nhiều”, bà Mơ vui vẻ chia sẻ.

Nhân kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ ra thăm đảo Cô Tô đoàn công tác của Tổng công ty VTC, trao tặng 6 tháng thuê bao truyền hình số vệ tinh VTC SD cho 1.400 hộ dân tại huyện đảo Cô Tô với trị giá 560.000.000đ.

Đây là một phần của chính sách quan tâm đưa thông tin đến vùng sâu, vùng xa để kịp thời trong việc tuyên truyền pháp luật, chủ chương của Đảng và nhà nước của Tổng công ty VTC.

Có dịch vụ này, người dân ở huyện đảo Cô Tô được xem 32 kênh truyền hình mới với chất lượng tốt như VTV4, VTC1, HBO, Movistar…

T. Phan

vietnamnet.vn

Xây khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan

(VOV) – Khu tưởng niệm sẽ được xây dựng trên khu đất rộng trên 10.000 m2 tại làng Ban May, thị xã của tỉnh Nakhon Phanom.

Từ ngày 21 – 26/9, đoàn công tác liên ngành của Việt Nam gồm đại diện Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, Bộ Ngoại giao đã sang thăm và làm việc với chính quyền tỉnh và Ban chấp hành Hội người Việt Nam tỉnh Nakhon Phanom về quy hoạch chi tiết bố trí không gian trong khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tỉnh Nakhon Phanom.

Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ được xây dựng trên khu đất rộng trên 10.000m2 tại làng Ban May, thị xã của tỉnh Nakhon Phanom. Khu đất này được  chính quyền tỉnh Nakhon Phanom cấp.

Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thúy Đức, cho biết: “Khu tưởng niệm cơ bản nhất là Gian tưởng niệm để bà con Việt kiều dâng hương lên Bác trong dịp lễ, Tết.  Nhà di tích mô phỏng khắc họa thời kỳ Bác đến Thái Lan hoạt động và sống ở đó năm 1928 – 1929, và đầu năm 1930 Bác cũng quay lại khu vực này. Bên cạnh đó, phục dựng khung cảnh thiên nhiên như cây khế, cây dừa Bác đã trồng. Tạo không gian để nhớ lại hình ảnh ngôi nhà Bác từng sống và làm việc”.

Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh được nối với làng hữu nghị Thái – Việt bằng một con đường ngắn, tạo thành một quần thể du lịch văn hóa, lịch sử. Sau khi dâng hưởng tưởng niệm Bác Hồ, thăm quan nhà di tích mô phỏng, khách du lịch sẽ theo con đường này thăm quan làng hữu nghị Thái – Việt, trong đó trưng bày tiểu sử của Bác Hồ bằng mối quan hệ Việt –  Thái.

Bà Đức cho biết thêm, sau khi Khu tưởng niệm được xây xong, Bảo tàng Hồ Chí Minh cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, Bộ Ngoại giao sẽ giúp trưng bày, bổ sung thông tin, đặc tả hiện vật trong ngôi nhà di tích của Bác được mô phỏng lại, cung cấp thêm thông tin trong lĩnh vực văn hóa và hoạt động trong các lĩnh vực để trưng bày giới thiệu mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trước đây, hiện nay và xu hướng phát triển trong tương lai.

Trước tiên, chính quyền tỉnh Nakhon Phanom đã quyết định xây dựng ngay Nhà mô phỏng di tích của Bác để kịp khai trương vào dịp khánh thành cây cầu thứ 3 bắc qua sông Mekong nối tỉnh Nakhon Phanom và tỉnh Khammuon của Lào. Dự kiến lễ khánh thành cây cầu này sẽ tổ chức vào tháng 11 tới.

Khi cây cầu thứ ba được đưa vào sử dụng sẽ rút ngắn con đường  từ các tỉnh đông Bắc sang Việt Nam, đặc biệt sang Hà Nội chỉ có 800km, xa hơn từ các tỉnh này vào Bangkok có 100 km. Nó sẽ mở ra một tuyến du lịch theo chân Bác từ quê Bác làng Sen sang khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bản Xiêng Vang, tỉnh Khammuon của Lào đến Nakhon Phanom thăm khu tưởng niệm, và thăm Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỉnh Udon Thani của Thái Lan và ngược lại.

Việc xây dựng khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tỉnh Nakhon Phanom đáp ứng nguyện vọng của  bà con Việt kiều tại Thái Lan, mong ước có được một không gian thắp hương tưởng nhớ Bác trong những dịp lễ quan trọng của đất nước, ngày sinh nhật và ngày giỗ của Bác cũng như mong muốn của người dân Thái Lan, du khách nước ngoài muốn tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam, đặc biệt là quãng thời gian hoạt động của Người tại Thái Lan 1928 – 1929./.

Thanh Huyền  từ Thái Lan

vov.vn

Về làng Sen thăm mái nhà tranh

(VOV) – Dẫu đã qua cả thế kỷ, vạn vật đổi thay nhưng những hình ảnh xưa cũ của làng Sen gắn liền với tuổi thơ Bác vẫn được lưu giữ đến bây giờ

Có một ngôi làng mà những hình ảnh thân thương gần gũi đã đã in sâu vào tâm thức người Việt. Nơi ấy có những mái nhà tranh dưới những lũy tre xanh, có nhịp võng trưa hè cùng tiếng ru ầu ơ của mẹ, có câu dân ca mênh mang cùng đồng ruộng núi sông… Ngôi làng mang tên làng Sen vì luôn ngát hương sen; là quê hương của Bác Hồ kính yêu, người con ưu tú của dân tộc!

Làng Sen thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An- mảnh đất miền Trung đầy nắng gió. Từ thành phố Vinh đi theo Quốc lộ 46 khoảng 15km là tới làng Sen, quê Bác.

Dẫu đã qua cả thế kỷ, vạn vật đổi thay nhưng những hình ảnh xưa cũ của làng Sen gắn liền với tuổi thơ Bác vẫn được lưu giữ đến bây giờ như một miền ký ức đẹp và là tấm gương sáng cho mọi những thế hệ.

Đó là giếng Cốc, cây đa, đền làng Sen, nhà thờ họ Nguyễn Sinh… và đặc biệt là ngôi nhà tranh của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc- thân phụ Bác, nơi gắn bó với tuổi thơ của Bác Hồ, cũng là khởi nguồn cho một tinh thần yêu nước và ý chí lớn lao của người anh hùng dân tộc sau này.

Ngôi nhà tranh đơn sơ

Năm 1901, thân phụ Bác Hồ là Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng, là một niềm vinh dự với gia đình, họ tộc và cả làng Sen. Dân làng Sen đã dựng một ngôi nhà gỗ mái tranh 5 gian để đón vị Phó bảng vinh quy bái tổ.

Cả gia đình đã từ làng Hoàng Trù (quê ngoại Bác Hồ) trở về sống tại Làng Sen. Ngôi nhà này đã gắn với tuổi thơ Bác Hồ từ năm 1901 đến năm 1906 (trước khi theo cha vào Huế)

Đó là một ngôi nhà gỗ 5 gian, lợp mái tranh, nhỏ bé, mộc mạc, giản dị dưới màu xanh của vườn cây và những bóng tre. Đây là nơi ở chính của cả gia đình, kế bên là nhà ngang sử dụng làm nhà bếp.

Cả hai nếp nhà đều thấp, khiêm nhường, và điển hình cho những nếp nhà ở làng quê nông thôn Việt Nam, với vì kèo gỗ, với mái hiên cùng những tấm giại- liếp; với cổng ngõ khoảng sân phía trước – gắn liền với không gian khoáng đạt của thiên nhiên.

Hai gian nhà phía ngoài là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và là nơi tiếp khách- đàm đạo chuyện thế sự của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.

Gian thứ ba là nơi ở của bà Nguyễn Thị Thanh- chị cả của Bác Hồ. Hai gian còn lại là nơi nghỉ và sinh hoạt của cả gia đình.

Ở gian thứ tư có kê bộ phản gần cửa sổ là nơi cụ Phó bảng thường nằm đọc sách.

Gian thứ năm kê bộ phản là nơi nghỉ của hai anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung (tức Bác Hồ).

Dù đã đỗ đạt song gia đình cụ Phó bảng vẫn sống thanh đạm. Phần lớn các đồ đạc trong nhà đều do dân làng tặng, những kỷ vật tới giờ được gìn giữ gần như nguyên vẹn.

Ngôi nhà của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã gắn bó với một giai đoạn quan trọng đầy ý nghĩa thời niên thiếu của cuộc đời Bác Hồ từ năm 11- 16 tuổi.

Ngôi nhà là những ân tình làng xóm quê hương, là nơi chứng kiến quá trình học tập, trưởng thành; là nơi ghi dấu cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước và những nhận thức thời cuộc- bước tiền đề cho con đường cứu nước sau này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngôi nhà tranh lịch sử là cụm di tích quan trọng bậc nhất của Khu di tích lịch sử Kim Liên – được xây dựng từ những năm 60 thế kỷ trước, cùng nhiều hạng mục kiến trúc khác, được nâng cấp và tôn tạo nhiều lần.

Khu di tích lịch sử Kim Liên còn bao gồm các kiến trúc mới như khu hành lễ, nhà lưu trữ và trưng bày các tài liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa– chính trị liên quan. Khu di tích lịch sử Kim Liên là một trong bốn khu di tích quan trọng nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia từ năm 1979./.

Một số hình ảnh về làng Sen:

Quang cảnh quần thể khu di tích Kim Liên ở Làng Sen

Những chi tiết kiến trúc, điêu khắc ở đây được lấy từ hình tượng hoa sen

Thành kính dâng hương trước nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Con đường Làng Sen bây giờ. Bên trái là cây đa và sân vận động, nơi Bác Hồ đã gặp gỡ và trò chuyện với dân làng trong những lần về thăm quê, năm 1957 và 1961

Di tích giếng Cốc ở làng Sen – giếng cổ từ thế kỷ 18, nơi gắn với tuổi thơ của Bác Hồ

Cổng và hàng rào dâm bụt giản dị

Mái nhà tranh đơn sơ, cùng vườn cây xanh và lũy tre – một hình ảnh đẹp điển hình của làng quê Việt Nam

Gian nhà ngoài có bộ phản cụ Nguyễn Sinh Sắc dùng để tiếp khách. Ở đây, Bác Hồ đã cảm nhận và lĩnh hội tình yêu nước từ người cha và các nhân sỹ xứ Nghệ

Tấm biển do vua Thành Thái ban cho cụ Nguyễn Sinh Sắc năm
1901 khi đỗ phó bảng; đề 4 chữ: “Ân tứ ninh gia” (ơn vua ban cho gia đình)

Những góc nhà đơn sơ

Hà Thành

vov.vn

Triển lãm những tác phẩm độc đáo về Bác Hồ

Nhiều tác phẩm thêu tay, ghép từ dây điện, miếng thép, giấy báo tạo nên chân dung Bác Hồ sinh động tại triển lãm Một số tài liệu, hiện vật về chủ tịch Hồ Chí Minh mới sưu tầm.

Với gần 200 tài liệu, phim ảnh và hiện vật được sưu tầm từ năm 2000 đến 2009, trong đó có nhiều tác phẩm, tặng phẩm, sách báo, đĩa phim, ảnh, tranh, tượng … của các tác giả trong nước và nước ngoài sáng tác thể hiện tình cảm sâu nặng đối với chủ tịch Hồ Chí Minh.

Các tác phẩm chủ yếu thể hiện chân dung Bác ở nhiều góc độ khác nhau. Trong đó, có tác phẩm được kết bằng giấy báo do hoạ sĩ Trịnh Văn Vỹ, kiều bào Pháp sáng tác năm 1970; miếng thép Chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh do hoạ sĩ Siri Derkert sáng tác; sáng tạo tượng đồng  do nhà điêu khắc Vũ Cao Đàm, kiều bào Pháp sáng tác năm 1946…

Cũng có những tác phẩm của Bác như tập Nhật ký trong tù, bản di chúc của bác được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau, đặc biệt là bản tuyên ngôn độc lập đựơc thể hiện ấn tượng bằng thư pháp của tác giả Trịnh Văn Tuấn, công ty cổ phần quốc tế và nhiều tác phẩm khác cũng được trưng bày trong triển lãm.

Triển lãm được Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Đảng uỷ ngoài nước, Vụ Văn hoá đối ngoại và UNESCO, Bộ Ngoại giao tổ chức nhằm tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất và hưởng ứng cuộc vận động sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Triển lãm diễn ra từ giữa tháng 12 đến hết tháng 1 năm 2010.

Đất việt ghi lại một số hình ảnh về các tác phẩm độc đáo tại triển lãm:

“Chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh” do họa sĩ người Pháp Claude Bouvier sáng tác.

“Chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh” do hoạ sĩ Nhật Siri Derkert sáng tác.

 

Triển lãm là địa chỉ để mọi người thể hiện tình cảm của mình đối với Bác Hồ.

 

Tượng đồng do nhà điêu khắc Vũ Cao Đàm, kiều bào Pháp, sáng tác năm 1946.

 

Bản tuyên ngôn độc lập đựơc thể hiện ấn tượng bằng thư pháp của tác giả Trịnh Văn Tuấn, công ty cổ phần quốc tế.

 

Hai quyển album về Chủ tịch Hồ Chí Minh được bạn bè quốc tế tặng bảo tàng.

 

Tranh về Bác Hồ của các em thiếu nhi.

 

Chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh được ghép từ dây điện của họa sĩ Đỗ Năm, sáng tác năm 1945.

Tác phẩm được kết bằng giấy báo do hoạ sĩ Trịnh Văn Vỹ, kiều bào Pháp, sáng tác năm 1970.

 

Những bạn trẻ người Nhật thích thú tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Anh Trần

baodatviet.vn