Thư viện

Hội thảo khoa học “Xác lập Khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9”

Bia sach di tichKhu Di tích K9 là địa danh có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, nơi gắn liền với các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời (1957-1969); nơi giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng chiến tranh (1969-1975); hiện nay là nơi các tập thể, cá nhân đến tham quan, tổ chức sinh hoạt chính trị, giáo dục truyền thống…

Di tích lịch sử K9 còn là khu rừng có nhiều nét đặc biệt về cảnh quan thiên nhiên, trong rừng có những phiến đá mọc lên như mũi chông nên còn có tên gọi là khu Đá Chông. Với diện tích 234 ha, Khu Di tích K9 bao gồm một số hệ sinh thái đặc trưng của hồ nước ngọt, sông và rừng trồng trên cạn. Đây là kho tài nguyên vô giá chứa đựng nguồn gen của nhiều loài và hệ sinh thái, có vai trò và ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế – xã hội và môi trường. Rừng K9 được các nhà khoa học đánh giá là có đa dạng sinh học rất cao. Về thực vật: Đã ghi nhận được 711 loài thuộc 159 họ 5 ngành thực vật bậc cao có mạch; có tới 24 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 17 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và 13 loài được ghi trong Sách đỏ Thế giới (IUCN, 2007). Về động vật: Có 131 loài động vật có xương sống trên cạn thuộc 20 bộ (21 loài thú, 73 loài chim, 37 loài bò sát và ếch nhái). Trong đó có 18 loài động vật quý hiếm (11 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007 và 13 loài nằm trong danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm).

Hoi thao K9.1Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng chủ trì Hội thảo

Trong những năm qua, Ban Quản lý Lăng đã cố gắng chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng, làm cho Khu Di tích có môi trường, cảnh quan xanh đẹp. Song, hiện nay, rừng thông già đã nhiều tuổi, thân rỗng, bị gãy đổ nhiều trong mùa mưa bão, rừng keo, bạch đàn trồng đã quá tuổinhưng chưa được thu hoạch và thay thế; một số loài cây trồng mới sinh trưởng kém do không phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng khu vực. Để thực hiện Đề án “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới” theo Kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 328-TB/TM ngày 19/4/2010 và Quyết định số 2341/QĐ-TTg ngày 22/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Việc xáclập khu rừng K9 là Khu rừng Di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh để có điều kiện duy trì, chăm sóc, tu bổ, bảo vệ và phát triển bền vững các giá trị của khu rừng K9, xứng tầm với Di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo điều kiện phục vụ tốt nhất nhiệm vụ mở rộng tham quan, học tập cho đồng bào trong nước và khách quốc tế (dự kiến thực hiện vào năm 2014) là rất cấp thiết.

 anh k9TS. Trần Ngọc Hải – Trưởng bộ môn Thực vật rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp báo cáo tham luận

Chính vì vậy, trong thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ban Quản lý Lăng đã có sự hợp tác, trao đổi thông tin, chuẩn bị cho dự thảo đề án ”Xác lập Khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9” để trình Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 11/7/2012, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội thảo khoa học “Xác lập Khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9”. Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo có lãnh đạo Ban Quản lý Lăng; Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng và các cơ quan thuộc Ban Quản lý Lăng. Đại biểu tham dự có đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp, Viện Điều tra Quy hoạch rừng.

Hội thảo tập trung vào các nội dung chính như sau: Đánh giá đặc điểm, hiện trạng của rừng K9; tính cấp thiết cần phải xác lập Khu rừng bảo vệ cảnh quan Di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9; hoàn chỉnh dự thảo Đề án “Xác lập Khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9” trình Thủ tướng Chính phủ. Dự thảo Đề án đã đề xuất thiết lập 4 phân khu chức năng phù hợp với tiêu chí của khu rừng bảo vệ cảnh quan.Đồng thời, dự thảo cũng đưa ra 7 chương trình hoạt động nhằm bảo tồn, phát triển khu rừng K9 theo hướng bền vững: Chương trình bảo vệ; chương trình phát triển rừng và cây xanh; chương trình bảo tồn và phát triển động vật khu rừng K9; chương trình tuyên truyền giáo dục; chương trình nghiên cứu khoa học và đào tạo; chương trình tham quan học tập và du lịch sinh thái và chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị.

Về tiến độ thực hiện: Trong giai đoạn đầu, 2013 – 2015, sẽ ưu tiên thực hiện các nội dung: Xây dựng vườn ươm, thực hiện các chương trình phát triển rừng và cây xanh; bước đầu thực hiện các chương trình tuyên truyền giáo dục, nghiên cứu và đào tạo; phục hồi thử nghiệm một số loài động vật. Giai đoạn 2016 – 2020 sẽ tiếp tục thực hiện các chương trình còn lại.

Kết luận Hội thảo, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng chân thành cảm ơn các báo cáo, tham luận và những ý kiến phát biểu tâm huyết của các đại biểu, các nhà khoa học đối với dự thảo Đề án. Đồng chí đánh giá cao sự đồng thuận của các đại biểu, các nhà khoa học về tính cấp thiết phải xác lập khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9. Trên cơ sở ý kiến đóng góp của các đại biểu đại diện cho các Bộ, ngành, các nhà khoa học trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với Viện Điều tra Quy hoạch rừng tiếp thu, hoàn chỉnh Đề án để sớm trình Thủ tướng Chính phủ quyết định, để Đề án có thể sơm được triển khai từ năm 2013./.

Thu Hiền
bqllang.gov.vn

Ao cá Bác Hồ

            Khi vào thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, khách thăm quan trong nước và quốc tế không chỉ mong muốn tìm hiểu về ngôi nhà 54, nhà sàn, vườn cây mà còn đặc biệt thích thú mỗi khi được ngắm nhìn những đàn cá nhiều màu sắc đang ngoi lên mặt nước đớp mồi và nghe hướng dẫn viên giới thiệu về ao cá Bác Hồ.

            Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, hoà bình lập lại, từ chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Thủ đô Hà Nội tháng 10 năm 1954. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước mời Người ở ngôi nhà to đẹp của Phủ Toàn quyền Đông Dương trước đây, nhưng Người đã từ chối. Người chọn cho mình một ngôi nhà cạnh bờ ao của người thợ điện đã từng phục vụ Toàn quyền để ở, từ đó nhà này có tên là Nhà 54.

nha54
Di tích nhà 54

            Đến năm 1958, Đảng và Nhà nước ta đã làm ngôi nhà sàn gỗ phía bên kia ao mời Người sang ở. Ao nước tù này trước kia vốn bỏ hoang, cỏ dại và hoa súng mọc lan trên mặt nước, đáy hồ ngập rác bùn, là nơi hươu nai của vườn Bách Thảo xuống uống nước. Sau khi về sống và làm việc ở nhà sàn, Người đã gợi ý anh em phục vụ cải tạo nơi này thành ao nuôi cá để cải thiện đời sống và làm cho môi trường thêm trong lành. Vâng lời Bác, anh em trong đơn vị bảo vệ đã tổ chức dọn hồ. Sau một tuần, công việc nạo vét hồ đã xong. Bác vui vẻ khen ngợi tinh thần lao động tích cực, khẩn trương của mọi người, sau đó Bác bảo cần làm thêm con đường quanh hồ nữa. Khi đường làm xong, Bác nói vì phiên hiệu của đơn vị là E600, nên đặt tên đường là đường sáu trăm. Và từ đó con đường được mang tên này để kỷ niệm những ngày lao động phục vụ Bác.

            Sau khi ao đã được dọn sạch, nạo vét và kè lại bờ thành ao nuôi cá với diện tích 3.320m2, độ sâu trung bình là 2m, xung quanh bờ phía Đông Bắc xây tường, ở dưới tường xây đá. Bờ phía Tây Nam xây xi măng thấp ngang với mặt đất, có nhịp cầu cong cong bắc qua eo nước hẹp, xung quanh hồ có nhiều cây bụt mọc (thuộc họ bách xanh) chạy men theo bờ nước, rễ cây mọc nổi lô nhô như hàng trăm pho tượng Phật. Cá được thả ở đây là cá rô phi, chép, mè, trôi, trắm cỏ,… Trong hồ còn phát triển khá nhiều loại trai, nhiều con đã kết ngọc. Riêng cá trắm phát triển rất nhanh và to, có lần anh em đánh được con cá trắm nặng 24kg. Vì Bác nói rằng nuôi cá phải chọn loại dễ nuôi, mau lớn và sinh sản nhiều. Đó là những loại cá có giá trị kinh tế của nước ta. Phương châm đó của Người là một bài học lớn cho cán bộ ngành thuỷ sản suy nghĩ trong công tác nghiên cứu của ngành mình gắn với quan điểm kinh tế, đem lại lợi ích thiết thực cho phong trào sản xuất của quần chúng.

bac ho bên ao ca
Bác Hồ bên ao cá (Ảnh: Tư liệu)

            Bác chăm đàn cá rất chu đáo. Hàng ngày, sau giờ làm việc buổi chiều là lúc Bác cho cá ăn.Trong không gian yên tĩnh của khu vườn, Bác thanh thản ngồi bên cầu ao vỗ tay mấy lần gọi cá, đàn cá nghe được tín hiệu bơi về tập trung tại cầu ao đớp mồi ăn. Thức ăn chủ yếu cho cá thường là cám, ngoài ra buổi sáng lúc ăn điểm tâm, Bác để lại một lát bánh mỳ, cơm được anh em phục vụ phơi khô đựng vào chiếc hộp để cạnh cầu ao. Bác nhớ đặc điểm của từng con cá chép đỏ nên có lần sau khi đi công tác về, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ – Thư ký riêng của Bác – xem tại sao không thấy con cá gáy đỏ của Bác về ăn như mọi khi? Mấy hôm sau Bác rất vui kể rằng con cá gáy đỏ lại đã trở về rồi. Bác còn chú ý bảo vệ đàn cá, những năm trời rét đậm Bác nhắc anh em kiếm bèo tây về ngăn vào một góc ở hướng Bắc để che gió lùa và cho cá có nơi trú ẩn. Cá Bác nuôi rất mau lớn, đàn cá rô phi sản lượng mỗi năm một tăng nên đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện bữa ăn. Cứ mỗi khi có khách trong nước hay nước ngoài được Bác mời cơm thì món ăn “cây nhà lá vườn” là cá Bác tự tăng gia. Hàng năm cứ vào những ngày lễ hoặc Tết cổ truyền, Bác lại nhắc anh em phục vụ bắt một số cá lên làm quà biếu các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng thời tặng anh em trong đơn vị bảo vệ cùng các gia đình trong cơ quan. Từ ngày Bác đi xa, các đồng chí lãnh đạo của Bảo tàng Hồ Chí Minh và Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch cùng với ngành thuỷ sản trực tiếp trông nom ao cá, vẫn giữ nguyên truyền thống tốt đẹp và cảm động này vào ngày sinh nhật Bác 19 tháng 5 hàng năm.

du khách tham ao ca
Thăm ao cá Bác Hồ

            Có thể nói Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch là điểm thăm quan du lịch thu hút đông khách nhất nước ta. Mỗi năm có hàng triệu lượt người trong và ngoài nước đến thăm quan nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đông nhất là vào các ngày lễ lớn trong năm. Mỗi khi có đoàn khách xuống cầu ao cho cá ăn vỗ tay gọi là đàn cá đủ loại màu sắc nổi lên đớp mồi. Ao cá Bác Hồ là một phần di sản quý báu nằm trong quần thể Khu di tích Phủ Chủ tịch. Cá từ ao cá Bác Hồ còn được đưa đi các địa phương để phát triển phong trào. Năm 1959, hợp tác xã Tiền Phong – Yên Sở, Thanh Trì, Hà Nội là đơn vị đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng gần 100 con cá rô phi để nuôi. Địa phương thứ hai được nhận cá rô phi của Bác Hồ là tỉnh Quảng Bình. Đầu năm 1969, một đồng chí trong Thường vụ Tỉnh ủy ra Trung ương họp được vào báo cáo với Bác về thành tích của tỉnh. Bác hỏi thăm về tình hình sản xuất và đời sống của tỉnh, đồng chí cán bộ báo cáo đời sống của nhân dân khó khăn vì thu nhập chính là nghề cá thì bị địch phong tỏa bờ biển, cá giống không đủ để nuôi, Bác chỉ tay ra phía ao cá trước nhà nói: “Nếu thiếu giống thì Bác sẽ cho cá giống. Trong lúc cá biển gặp nhiều khó khăn các chú cần đẩy mạnh nuôi cá để có thêm thức ăn bồi dưỡng sức dân“. Mùa thu năm ấy Bác đột ngột qua đời, nhưng theo lời Bác, dịp 19-5-1970 đại diện tỉnh Quảng Bình đã đến Văn phòng Phủ Chủ tịch để nhận 1.200 con cá rô phi giống trong ao cá Bác Hồ. Đoàn xe chở cá đã vượt 500km liên tục trong 3 ngày vào đến địa phương… Năm 1979, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Bộ Thuỷ sản, Bộ Nông nghiệp và Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Ao cá Bác Hồ”. Sau cuộc phát động, cá giống từ ao cá trong khu Phủ Chủ tịch được gửi cho nhiều địa phương: Thái Bình, Hải Hưng, Thanh Hoá, Hà Nội. Từ miền Bắc vào miền Nam, từ miền núi đến vùng đồng bằng, nhiều hợp tác xã đã đầu tư hàng vạn ngày công để cải tạo những ao tù, đồng cớm thành khu “Ruộng cả ao liền”, có nơi thâm canh nuôi cá như Kiến Xương, Thái Bình. Những ao cá này như những chuồng trại tự nhiên chăn nuôi loài “gia cầm” dưới nước, là cái “kho thực phẩm” ở nông thôn để giải quyết hậu cần tại chỗ ở nước ta. Riêng miền Bắc đã có khoảng 4,5 vạn héc ta diện tích ao nhỏ là mặt nước nuôi cá và cho năng suất cao. Phong trào “Ao cá Bác Hồ” được phát triển rầm rộ trong cả nước, nhằm phát huy tiềm năng của loại mặt nước phong phú này.

            Việc giữ gìn và phát triển đàn cá Bác Hồ vừa có ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền với cuộc sống đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, vừa là cảnh quan, môi trường sinh thái hấp dẫn khách thăm quan, vì vậy ao cá đã được tu sửa hàng năm. Ngoài ra, với sự giúp đỡ về kỹ thuật của Trung tâm nghiên cứu Thuỷ sản Đình Bảng nên sản lượng cá mỗi năm một tăng. Năm 1987 đã nạo bùn, rắc vôi bột xuống lòng ao. Năm 1993 vét bùn, sửa hệ thống cống thoát nước, độ sâu bùn lấy đi trung bình 0,60m, phơi hong ao rồi đóng cọc tre đáy ao, xây bờ rãnh thoát nước ở đuôi ao, kè đá đáy ao và kè bãi bê tông. Năm 1998 dùng máy để hút hết bùn ở đáy ao. Năm 2003 xây lại kè xung quanh bờ, thay lại hệ thống thoát nước, lắp thêm 2 máy sục khí đáy ao.

            Bác Hồ đã đi xa, nhưng mỗi khi vào thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ngắm nhìn ao cá của Bác, chúng ta càng thấy ý nghĩa hơn bài học về giá trị của đất đai và công sức lao động như lời Bác đã từng nói: “Nuôi cá cũng dễ, có nước và có công người thì cá phát triển”. Ngắm nhìn ao cá xinh xinh và những đàn cá đang quây quần đớp mồi, chúng ta càng bồi hồi nhớ Bác qua những vần thơ cảm động của Tố Hữu:

             Con cá rô ơi chớ có buồn

            Chiều chiều Bác vẫn gọi rô luôn

            Dừa ơi cứ nở hoa đơm trái

            Bác vẫn chăm tay tưới ướt bồn.

Nguyễn Thị Bình
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Theo Tuyeengiao.vn
Kim Yến
(st)

Kỷ vật kể chuyện

Mấy tấm hình đã ngả màu vàng ố, cuốn sổ tay bằng giấy loại xấu ra đời từ những năm còn chiến tranh… – mỗi đồ vật trong Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh cất giữ một mẩu chuyện về Bác Hồ để chờ kể cho du khách, ấp ủ cả những câu chuyện chưa được kể bao giờ.

ky vat ke chuyenNghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết và tập thơ về Bác Hồ – Ảnh: Mai Lâm

Giữa dòng xe tấp nập ở Sài Gòn, một chiếc môtô bấm còi bí bo. Xe đặc biệt: Sơn màu xanh kiểu xe nhà binh, có ba bánh, bốn chỗ, trước xe phấp phới lá cờ đỏ sao vàng. Lái xe cũng đặc biệt: Đội nón bảo hiểm kiểu nón cối bộ đội, trên nón gắn ngôi sao vàng, chỉ có một chân, một tay rưỡi, một nụ cười tươi và đôi mắt vui. Trên những con đường mà chiếc xe đi qua, người đi đường vẫy tay chào.

Áo ấm ngày đông

Cũng với chiếc môtô đó, cách đây ít ngày, ông Lê Thống Nhứt, 81 tuổi, thương binh đặc biệt với tỉ lệ thương tật 91%, đã tìm tới Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minhđể làm một chuyện hệ trọng. Dựng xe cẩn thận, tự tay ông chống nạng đi vào, trao tặng một bọc đồ được gói ghém cẩn thận. Bên trong là chiếc áo trấn thủ cũ sờn được Bác Hồ tặng vào mùa đông năm 1955. Tổng cộng, chiếc áo đã ở với ông 57 năm.

Nhắc tới kỷ niệm về Bác Hồ, giọng ông bỗng rưng rưng: “Năm 1953, tôi bị thương trong một trận càn, chân phải bị cắt bỏ, chân trái bị gãy, tay phải bị giập nặng. Đang trong thời gian điều trị thì Ty Thương binh cấp cho một chiếc áo ấm, dạng áo trấn thủ, nói là của Bác Hồ gửi tặng cho thương binh nặng. Cầm cái áo mà tôi xúc động, biết ơn Bác Hồ. Phần lớn anh em trong Nam ra Bắc không chịu được cái lạnh mùa đông. Đằng này lại đang bị thương nặng thì càng khốn khổ với giá rét”. Nhận áo rồi, ông Nhứt không mặc, sợ áo cũ nên ông lồng áo trong bao áo gối để gối đầu hằng đêm.

Thời gian sống tại miền Bắc, có một lần ông Nhứt sang thăm người anh điều trị tại trại thương binh hỏng mắt. Buổi sáng hôm ấy, ông dậy sớm tản bộ ra cổng trại thì thấy có nhiều công an mặc sắc phục. Hỏi ra mới biết hôm ấy có Đoàn đại biểu đến thăm. Ông nhớ lại: “Qua khe cửa sổ, tôi nhìn mãi, nhìn mãi mà không thấy Bác đâu. Chỉ thấy một ông bác sĩ cùng đi với vài người nữa. Phái đoàn tỏa ra nhiều hướng. Tốp của ông bác sĩ đi thẳng xuống nhà bếp, vào xem cả phòng vệ sinh. Đi qua bậc thềm, ông bác sĩ chỉ xuống, có ý như bảo phải cọ rửa cẩn thận kẻo thương binh té ngã. Tiếp đó, bác sĩ vào phòng thương binh.

Anh em thương binh thì thầm với nhau: “Đoàn đến vậy mà không biết có Bác Hồ không?”. Lúc này vị bác sĩ mới cởi nón, tháo khẩu trang rồi lên tiếng: “Thế này không biết có phải là Bác Hồ không nhỉ?”. Nghe giọng nói trầm ấm thân thương, anh em thương binh hô to: “Bác Hồ, Bác Hồ” rồi chạy tới ôm Bác. Buồn cười ở chỗ thương binh toàn là người hỏng mắt nên chỉ vài anh ôm trúng Bác Hồ, còn lại toàn là anh em ôm nhau. Thấy vậy, Bác bảo mỗi anh trở về giường của mình rồi Bác lần lượt đến từng giường nắm tay từng người một”. Anh thương binh cụt chân, cụt tay Lê Thống Nhứt đứng nhìn, rớt nước mắt vì xúc động.

Tặng đi báu vật

Gần đến ngày 19 tháng 5, tận tay mang kỷ vật đến Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánhThành phố Hồ Chí Minh, khi biên bản giao nhận đã được làm xong cũng là lúc nghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết bật khóc. Khóc rồi, bà lại cầm lên, đặt xuống từng món đồ: Quyển sổ tay có lời đề tặng được Bác Hồ tặng năm 1969, quyển Truyện Kiều, quyển Chinh phụ ngâm được Bác tặng, mấy tấm ảnh gốc bà được chụp với Bác, một tập thơ chép tay những bài thơ viết về Bác mà bà đã cặm cụi chép sau ngày Bác mất.

“Ở nhà đã quyết đem tặng mà khi tặng rồi lại buồn. Chắc thấy tôi khóc lóc thương quá, mấy cô ở bảo tàng hứa sẽ chụp lại cho tôi bản sao của mấy tấm hình, photo lại quyển sổ chép thơ. Các cô ấy bảo làm xong hết rồi, chắc mấy hôm nữa là được nhận. Nhận lại dù là bản sao cũng thấy ấm lòng”, bà Tuyết thổ lộ.

Là nghệ sĩ ngâm thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam, nhiều lần bà Trần Thị Tuyết được vào Phủ Chủ tịch ngâm thơ cho Bác nghe. Mỗi lần được gặp Bác, ấn tượng lớn nhất của bà về Bác là tình thương bao la. Bà kể: “Biết đứa con trai đầu của tôi bị bại liệt, Bác vẫn luôn hỏi thăm, động viên rồi khuyên: “Dù thế nào cháu cũng phải cho bé đi học để sau này còn làm người có ích, tàn nhưng không phế!”. Nghe lời Bác, tôi đã cho cháu học đến hết lớp 10. Mấy năm tôi đi học bổ túc văn hóa ở Hưng Yên, biết tôi học xa nhà, ăn uống thiếu thốn nên mỗi lần vào ngâm thơ cho Bác nghe, Bác bảo tôi ở lại ăn cơm. Một lần, bữa cơm có cá rất ngon. Thấy tôi không dám ăn vì đó là tiêu chuẩn dành riêng cho Bác, Bác nói: “Cháu ăn đi, hôm nay Bác tiếp khách, phải nhịn miệng đãi khách chứ!”. Lúc ấy tôi thấy Bác Hồ giống như một người cha, người ông của mình”.

Đầu năm 1969, bà Tuyết được Bác tặng quyển sổ tay, trang đầu có lời đề tặng viết tay: “Học tập tốt, phấn đấu tốt. Chú ý nên luyện thanh. Góp sức đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”. Bà bồi hồi: “Năm đó cũng là năm tôi ít được gặp Bác nhất vì sức khỏe Bác đã yếu. Khi bác Vũ Kỳ đưa tôi vào thăm thì Bác đã yếu, nằm trên giường, không còn bảo tôi đọc báo hay ngâm thơ như mọi lần. Tuy rất mệt nhưng Bác vẫn hỏi thăm, dặn tôi phải giữ sức khỏe, chăm chỉ luyện thanh”. Đó cũng là lần cuối cùng bà được gặp Bác.

Báu vật thiêng liêng

Là người trực tiếp tham gia những chuyến sưu tầm kỷ vật về Bác Hồ, chị Nguyễn Thị Hoa Xinh, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh , tâm sự: “Mỗi lần tiếp nhận một kỷ vật, chúng tôi vừa mừng lại vừa thấy như mình có lỗi vì đã lấy đi một báu vật thiêng liêng, thân thương mà chủ nhân của nó vô cùng yêu quý. Có bác tặng xong thì buồn quá, bị bệnh phải nhập viện. Có người tặng rồi, về nhà nhớ quá, lại lên năn nỉ Bảo tàng cho xin lại. Nghe các cô, các bác nói tha thiết quá, dù đã nhập vào hồ sơ lưu, có trường hợp chúng tôi vẫn phải trả lại. Để rồi đến khi cô, bác ấy mất, họ vẫn không quên nhắc con cháu mang trở lại giao cho Bảo tàng. Có gia đình có nhiều kỷ vật nhưng lại tặng làm nhiều lần, mỗi lần tặng là một lần đắn đo, lưu luyến”.

Theo Mai Lâm/ tuoitre.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở xã Cần Kiệm

Bác Hồ là niềm tự hào của dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Bác đã nhiều lần về thăm, về ở và làm việc tại nhiều địa điểm thuộc tỉnh Hà Tây cũ, trong đó có 19 ngày đêm Bác ở và làm việc tại xóm Lài Cài, xã Cần Kiệm, Thạch Thất, Hà Nội.

nha luu niem Bac Ho o xa Can kiem
           Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xóm Lài Cài, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, Hà Nội

Xã Cần Kiệm (huyện Thạch Thất, Hà Nội) là một xã có truyền thống yêu nước và sớm có phong trào cách mạng. Tháng 3-1945, nơi đây đã hình thành tổ chức Việt Minh và hoạt động mạnh mẽ. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Cần Kiệm đã giành được chính quyền vào ngày 18-8 (trước Thủ đô Hà Nội 1 ngày). Là xã có nhiều phong trào hoạt động cách mạng, tinh thần cách mạng đã ăn sâu, bám rễ trong quần chúng từ lâu. Địa hình của xã được cấu thành bởi 36 quả đồi, âm u và có khả năng giữ được bí mật, đặc biệt xóm Lài Cài có đặc điểm là những quả đồi gắn liền nhau, rất lý tưởng cho những hoạt động cách mạng. Nhà lưu niệm Bác Hồ – nơi Bác ở khi đó, đường đi chỉ như đường bờ ruộng và đặc biệt là không có đường vào, nếu địch có phát hiện thì cũng khó bị tấn công.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc tại xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất từ ngày 13-1 đến ngày 2-2-1947 trong một lần rời Thủ đô Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc. Bác ở và làm việc trong ngôi nhà lá của cụ Nguyễn Đình Khuê (hay còn gọi là cụ Qụy Khuể) ở xóm Lài Cài, thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm. Toàn bộ căn nhà được làm bằng tường tre, lợp mái cọ. Ngôi nhà khi đó đang được làm dở, nền đất cũng chưa được đập kỹ và chưa có người ở. Đây là ngôi nhà được cụ Khuê dựng để cho các con của mình và cũng không có đồ dùng gì đặc biệt.

 nha luu niem 2Khách tham quan nghe giới thiệu về Nhà lưu niệm Bác Hồ

Trong 19 ngày đêm Bác ở lại đây, Bác đã sửa, viết lại một số bản thảo tài liệu như “Phép dùng binh của ông Tôn Tử”, “Chiến thuật du kích”, bốn chữ đại từ bằng chữ Hán: “Cung chúc Tân Xuân”… do Bác viết tặng cụ chủ nhà nhân Tết Nguyên đán Đinh Hợi, Thư Bác gửi đồng chí Hoàng Hữu Nam về việc chuẩn bị họp Hội đồng Chính phủ vào ngày 26-1-2947. Ban ngày Bác làm vườn, ban đêm Bác ngồi viết bài, viết lại các cuốn sách cho dễ hiểu nên gia đình cụ Khuê và người dân nơi đây không hề biết đó là Bác Hồ vĩ đại. Dù địa điểm thay đổi nhưng thói quen làm việc đúng giờ của Bác vẫn không hề thay đổi. Ở đâu Bác cũng kê bàn làm việc sát giường và để dùng làm ghế ngồi luôn. Khi Bác ở Cần Kiệm là vào dịp Tết Đinh Hợi, nhưng bữa ăn của Bác vẫn chỉ có cơm độn sắn là chủ yếu. Tối 30 Tết, Bác đi họp Hội đồng Chính phủ ở Quốc Oai và chúc mừng năm mới các thành viên trong Chính phủ. Sau đó Bác rời Quốc Oai đến chùa Trầm (Chương Mỹ) để chúc Tết đồng bào cả nước qua Đài Tiếng nói Việt Nam. Bài thơ chúc Tết của Bác trong đêm 30Tết:

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng
Tiến lên chiến sĩ, tiến lên đồng bào
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập, nhất định thành công”.

Chiến tranh đã lùi xa, ngôi Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Cần Kiệm hiện nay vẫn được giữ nguyên trạng so với trước kia, gian giữa là nơi đặt tượng Bác, đỉnh trầm, bát hương để người dân trong vùng và khách tham quan có thể thắp hương tưởng niệm Người. Các gian còn lại được dùng để trưng bày các tài liệu, kỷ vật lúc Bác đã từng ở, những bức ảnh chụp… Ngày 13-5-1993, Bộ Văn hoá – Thông tin đã cấp bằng công nhận Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Cần Kiệm là di tích lịch sử cách mạng. Hiện Nhà lưu niệm Bác Hồ vẫn được bảo tồn để phục vụ nhân dân đến viếng thăm mỗi khi Tết đến hoặc kỷ niệm Ngày sinh của Bác.

Theo Nguyễn Minh – Văn Hinh/Báo Đại Đoàn kết
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Thăm nơi lưu giữ dấu chân Bác Hồ ở Thái Lan

Từ lâu, Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Udon Thani đã trở thành niềm tự hào của các thế hệ người Việt Nam đang sinh sống tại Thái Lan. Khu tưởng niệm nằm ở làng Nọng Ôn, xã Xiêng Phin, tỉnh Udon Thani, cách Băng-cốc khoảng 600 km về phía đông bắc.

ban tho bac ho o thai lan Bàn thờ Bác tại khu tưởng niệm. Ảnh: Ngọc Hải

Lưu giữ dấu chân Người

Tháng 7/1928, để phát triển phong trào yêu nước chống thực dân, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc từ Châu Âu về Thái Lan hoạt động. Thời gian ở đây, Bác có nhiều tên gọi khác nhau như ông Thọ, Nam Sơn, Chín. Mọi người gọi thân mật là Thầu Chín (tức là Ông già Chín).

Những ngày tháng ở làng Nọng Ôn, Thầu Chín đã được bà con Việt Kiều và nhân dân Thái Lan đùm bọc. Thầu Chín sống và sinh hoạt như mọi người, cùng đào giếng, vỡ đất làm vườn trồng rau, chăn nuôi lợn gà. Tác phong giản dị trong cuộc sống và sinh hoạt của Người đã cổ vũ tinh thần yêu nước trong kiều bào và gây dựng tình cảm thân thiết hơn của nhân dân Thái Lan đối với Bác và cách mạng Việt Nam.

Năm 2002, chính quyền Thái Lan và Hội người Việt tỉnh Udon Thani đã thống nhất phục hồi, xây dựng và phát triển nơi đây thành Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là Trung tâm nghiên cứu, học tập lịch sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ban xây dựng đã phối hợp, vận động bà con Việt kiều ở Udon cùng các địa phương khác quyên góp được 20.000 USD để mua khu đất gần 1 héc-ta chuyển giao cho xã Xiêng Phin để tiến hành phục dựng lại. Khu di tích theo lời kể của một số nhân chứng Việt kiều và giới chức trách Thái Lan. Công trình nhanh chóng nhận được sự đồng thuận của các cơ quan địa phương, thu hút sự ủng hộ mạnh mẽ của các nhà khoa học và đông đảo nhân dân tỉnh Udon Thani và các tỉnh đông – bắc Thái Lan. Việc xây dựng Khu tưởng niệm đáp ứng mong mỏi của bà con người Việt, những tình cảm, sự ngưỡng mộ của cộng đồng người Thái Lan đối với Bác Hồ kính yêu và với dân tộc Việt Nam.

Nổi bật trong Khu di tích là phần mô phỏng ngôi nhà Bác đã ở và làm việc trong thời gian hoạt động cách mạng. Trong nhà có khá nhiều hiện vật mà bà con Việt kiều đã lưu giữ, sưu tầm phỏng theo những đồ dùng mà Bác Hồ đã sử dụng năm xưa. Khu nhà có gian bếp, giếng nước, vườn rau, hàng rào râm bụt, có kho thóc, chuồng lợn, chuồng gà. Tất cả đều mang dáng dấp, hình bóng quê hương Việt Nam…

Tòa nhà đa năng trong Khu di tích được xây dựng khang trang, rộng rãi. Đây là nơi nơi tụ họp của bà con Việt kiều trong những dịp lễ, Tết hay sinh nhật Bác, Ngày Quốc khánh 2/9.

du-khach tham khu luu niem BH o thai lan .JPGDu khách tham quan Khu tưởng niệm. Ảnh: Tuấn Long

Khu nhà đa năng có bàn thờ tưởng niệm Bác, có phòng trưng bày các hình ảnh về cuộc đời hoạt động của Bác tại Thái Lan, về cuộc sống sinh hoạt của bà con Việt kiều và mối quan hệ Việt – Thái. Phòng trưng bày hiện đang lưu giữ rất nhiều hình ảnh, tư liệu quý: Những câu chuyện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan; bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người ở Thái Lan; bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với kiều bào Thái Lan về nước ngày 10/1/1960; mô hình nhà sàn Bác Hồ…

Sâu nặng nghĩa tình

Đến Udon Thani thăm khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi người được chứng kiến tình cảm sâu đậm, lòng yêu nước, tình yêu thương đùm bọc nhau, một lòng đi theo Bác của cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.

Năm nay 68 tuổi, ông Trần Trọng Tài (tên Thái Lan gọi là Chun) đã rời gia đình ở Băngcốc để về đây tình nguyện tham gia Ban Quản lý Khu di tích, ngày ngày đón những đoàn du khách đến thăm, thắp những nén nhang tưởng nhớ Người.

Mỗi lần được tin có đoàn du khách từ Việt Nam sang thăm, bà Đào Thị Son, 79 tuổi, lại chọn mặc những bộ quần áo đẹp nhất và có mặt ở Khu di tích từ rất sớm để đón những người thân của mình.

Trong không khí đầm ấm, bà Trần Thị Bạch Vân, 63 tuổi, lại hát những bài dân ca, các ca khúc về Bác Hồ, về quê hương đất nước như “Trông cây lại nhớ đến Người”, “Người ơi người ở đừng về”…

Bà Vũ Thị Tin, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Việt kiều tỉnh Udon Thani, thành viên Ban Quản lý Khu di tích hồ hởi cho biết: Khu di tích đã đón trên 100.000 lượt khách đến thăm. Đây là một trong những địa điểm du lịch lịch sử đông nhất tại Thái Lan.

Chia tay Udon Thani, ấn tượng tốt đẹp về những việc làm son sắt, tình nghĩa của người dân Thái Lan dành cho Bác Hồ kính yêu còn đọng mãi trong lòng mỗi du khách đến Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài ý nghĩa văn hóa và lịch sử, Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Udon Thani còn là biểu tượng sinh động của tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Thái Lan, là tấm lòng thành kính của người dân Thái Lan, của kiều bào với Bác Hồ kính yêu và với dân tộc Việt Nam./.

Theo http://www.xaluan.com
Kim Yến(st)
cpv.org.vn

Bài 1: Cô Tô (Quảng Ninh) nơi duy nhất được dựng tượng Bác khi Người còn sống

Huyện đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí chiến lược trong vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc…

Tượng đài Bác Hồ ở đảo Cô Tô

“Ôi Bác Hồ ơi nhớ Bác nhiều, nước non ơn Bác biết bao nhiêu/ Tháng năm ngày hạ mùa sen nở nhắc nhở cháu con những sớm chiều”. Nhiều năm trở lại đây, mỗi dịp hè về vùng đảo Cô Tô lại tấp nập khách ghé thăm. Khi đến với hòn đảo nằm ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc này, không ai không ghé thăm tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi đây là tượng đài đầu tiên và duy nhất được Bác Hồ đồng ý cho phép dựng lúc Người còn sống.

Huyện đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí chiến lược trong vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Ngày 9-5-1961, Bác đã tới thăm nhân dân các dân tộc trên đảo Cô Tô. Yêu kính Bác, người dân nơi đây đã xin dựng tượng Người để ngày ngày được ở bên Bác. Và đầu năm 1968, tượng đài Bác Hồ đã được nhà điêu khắc Nguyễn Văn Quế cùng các đồng nghiệp bắt tay vào thực hiện. Tượng được làm bằng chất liệu thạch cao, Lúc đầu, tượng Bác được dựng bán thân, tay phải giơ lên cao vẫy chào như hình ảnh Người đang tươi cười vẫy chào nhân dân khi tới thăm Cô Tô. Tượng cao 1,8m (cả bệ là 4 m). Công trình được khánh thành ngày 22-5-1968, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 78 của Bác. Tháng 6-1976 bức tượng bán thân được thay bằng bức tượng toàn thân với chất liệu bê tông cốt thép. Tượng có chiều cao 4,5m, cả bệ cao 9m nằm cách bờ biển 100m. Tượng đài Bác đứng uy nghiêm, lưng tựa vào núi, tay phải giơ cao vẫy chào, mặt nhìn hướng ra Biển Đông bao la như che chở cho đất và người nơi đây. Năm 1996, kỷ niệm ngày sinh lần thứ 106 của Bác, bức tượng Bác bằng bê tông đã được thay thế bằng chất liệu đá Granit. Giờ đây, tượng Hồ Chủ Tịch ở Cô Tô vẫn được đánh giá là tượng Bác đẹp nhất vùng Đông Bắc. Đến thăm Khu di tích lưu niệm Hồ Chủ Tịch trên đảo Cô Tô ngoài tượng đài Bác Hồ, du khách còn có thể tham quan nhiều địa danh ghi dấu chân Người như: Khu nhà lưu niệm – nơi Bác Hồ đã gặp gỡ cán bộ, nhân dân Cô Tô. Cánh đồng muối nơi Bác đến thăm. Bờ ruộng khoai nơi Bác đến xem bới khoai và dừng lại trò chuyện cùng bà con. Khu Di tích lưu niệm Bác Hồ trên đảo Cô Tô là một trong những di tích đặc biệt quan trọng đã được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp Bằng công nhận là di tích lịch sử số 985 QĐ/VH, ngày 7-5-1997.

Năm 2005, cán bộ chiến sĩ và nhân dân các dân tộc huyện Cô Tô đã xây dựng ngôi đền thờ Bác. Năm 2010, khu di tích Bác Hồ trên đảo Cô Tô đã được đầu tư tôn tạo, mở rộng với tổng diện tích được mở rộng từ 6.500m2 lên trên 62.500m2 gồm các hạng mục: Khu khuôn viên tượng đài và đền thờ Bác Hồ, ao cá Bác Hồ, hệ thống hồ điều hoà cùng nhiều hạng mục khác… Công trình có tổng kinh phí trên 39 tỷ đồng được trích từ ngân sách Trung ương, ngân sách của tỉnh Quảng Ninh, huyện Cô Tô và từ các nguồn huy động khác.

Ngày nay, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng luôn nhắc nhiều đến vấn đề chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Đảo Cô Tô nằm vững chắc nơi tiền tiêu trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Ngược dòng thời gian trở lại thời điểm những năm 1965, khi ấy, miền Bắc còn ngổn ngang trong công cuộc tái thiết đất nước, miền Nam vẫn đang trong những ngày gian khổ để giành độc lập hoàn toàn, nhưng với tầm nhìn xa trông rộng của một nhà lãnh đạo thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gác lại nhiều công việc để đến với bà con ở vùng Biển đảo Cô Tô. Phải chăng đó như một lời nhắc nhở cháu con hướng tầm nhìn ra Biển Đông để bảo vệ chủ quyền biên giới của Tổ quốc.

Ngày nay, những người con đất Việt khi đến với Cô Tô, đứng giữa bốn bề sóng nước mênh mông, có thể cảm nhận được chiều cao, bề rộng của các tượng đài không phải bằng những con số mà bằng tình yêu Tổ quốc và lòng tự hào dân tộc… Còn với những người sống trên đảo Cô Tô, khi ngắm nhìn tượng Bác, đồng bào và chiến sĩ nơi đây như được tiếp thêm sức mạnh để sống, học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sẵn sàng bảo vệ, giữ gìn từng tấc đất quê hương. Vì vậy có thể khẳng định, tượng đài Bác Hồ trên đảo Cô Tô có một vị trí rất đặc biệt trong hệ thống tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong và ngoài nước.

Trong lần tới thăm Cô Tô, Bác Hồ đã căn dặn bà con trên đảo: “Thủ đô Hà Nội tuy xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết, cố gắng và tiến bộ”. Ngày nay, khoảng cách về địa lý giữa Thủ đô và vùng đảo Cô Tô đang dần được nối liền nhờ những chuyến tàu tấp nập suốt ngày đêm, nhờ điện thoại di động và cả internet. Và không phải ai cũng biết, Cô Tô là hòn đảo phủ sóng wifi đầu tiên của tỉnh Quảng Ninh và cả nước.

TS. ĐINH CÔNG VỸ
daidoanket.vn

Bài 2: Tượng Bác Hồ ở nước Nga

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Nga là mối quan hệ đặc biệt và sâu đậm. Nước Nga – quê hương của Cách mạng Tháng Mười – quê hương của lãnh tụ Lê Nin đã tác động to lớn đến tư tưởng của Bác Hồ và góp phần làm nên Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường
mang tên Người ở thủ đô Matxcơva – Liên bang Nga

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường mang tên Người tại Matxcơva là một công trình điêu khắc đẹp, giàu ý tưởng, ý nghĩa. Cuối năm 1969, sau khi Bác từ trần, khu Công viên Akademichexki rộng hơn 1 ha được đổi tên thành Quảng trường Hồ Chí Minh và một hòn đá đầu tiên được đặt tại vị trí để chuẩn bị cho việc dựng tượng. Quảng trường Hồ Chí Minh ở thủ đô nước Nga có vị trí đắc địa, giao điểm của đại lộ Đmitria Ulianôpva và đại lộ 60 năm Tháng Mười, xung quanh là những ngôi nhà cổ và nhà bằng gạch cao từ 8 đến 10 tầng, không che khuất tầm nhìn.

Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô (Liên bang Nga) Vladimir Efimovich Tsigal, người được vinh dự nhận giải thưởng Lênin và nhiều giải thưởng quốc gia, viện sĩ Viện Hàn lâm mỹ thuật Liên Xô (sinh năm 1917) được chọn là tác giả thể hiện tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau một thời gian, ông đã tạo ra bản phác thảo đầu tiên: Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tư thế đứng, tay đặt trên quyển sách, tượng trưng cho những tác phẩm của Mác và Lênin. Nhưng ông vẫn còn băn khoăn nhiều vì cảm thấy pho tượng hao hao giống như nhiều pho tượng danh nhân khác. Năm 1985, ông quyết định sang Việt Nam để tìm hiểu. Sau hành trình xuyên Việt, Vladimir Efimovich Tsigal đã tìm ra “đáp án”.

Năm 1990, đúng vào năm UNESCO vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hóa kiệt xuất thì tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường mang tên Người ở thủ đô Matxcơva – Liên bang Nga khánh thành. Tượng – nhưng thực ra là một bức phù điêu đồng lớn hình khối, cao 5m, nổi bật hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phù điêu được đặt trên bệ cũng bằng đồng khối có chiều dài 6m, dày nửa mét; diện tích khuôn viên là 676m2, có 3 chiếu nghỉ và 8 bậc thang rộng được khánh thành. Hàng chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” bằng tiếng Nga, khắc sâu vào mặt trước của tượng đài, cách vài ba trăm mét vẫn có thể đọc được. Trước nhà số 1/24 và số 2/22 của hai phố Đmitria Ulianôpva và phố Công đoàn đều có hai tấm bảng bằng đá khổ 1m x 1m20 ghi rõ “Quảng trường Hồ Chí Minh” và tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Người.

Nhà điêu khắc tài danh Vladimir Efimovich Tsigal nói: “Tôi muốn bức phù điêu Hồ Chí Minh sẽ thu hút được sự chú ý và để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai từng một lần đứng trước tác phẩm này”. Quả vậy, bức phù điêu hình tròn biểu thị cho mặt trời – biểu thị một ngày mai tươi sáng. Giữa phù điêu, hình tượng Bác Hồ đang tươi cười, mắt trìu mến nhìn vào người xem. Bên dưới, hình tượng chàng trai Việt Nam ở thế chuẩn bị bật dậy, tượng trưng cho sức sống của một dân tộc. Phía sau là hình tượng cây tre Việt Nam – loài cây đã mang trong mình sức sống dẻo dai chống chọi với kẻ thù, với bão tố và giúp người Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày.

Và không chỉ bức phù điêu bằng đồng khổng lồ mang ý nghĩa sâu xa, mà cả bệ đá hoa cương mà bức phù điêu trụ trên đó cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa. Bệ đá gồm 8 bậc. Theo cách giải thích của nhà điêu khắc Vladimir Efimovich Tsigal: Con số 8 mang ý nghĩa tượng trưng, bởi tôi nhận thấy bông sen – loài hoa được người Việt Nam coi là biểu tượng của sự thanh tao, thường có 8 cánh.

Trong quá trình thực hiện, có một sự kiện kỳ lạ đã diễn ra. Nhà điêu khắc kể: Ông biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mơ ước được gặp V.I.Lênin. Khi ông đúc bức phù điêu Hồ Chí Minh trong một xưởng điêu khắc rất lớn ở Matxcơva thì cùng thời điểm đó, một nhà điêu khắc khác cũng đang đúc tượng V.I.Lênin. “Và đôi lúc tôi cảm thấy rất vui vì dường như mình đã góp phần tạo điều kiện để hai con người vĩ đại đó gặp gỡ nhau trong lĩnh vực điêu khắc”.

Đã thành một truyền thống, kể từ khi bức phù điêu Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quảng trường mang tên Người này khánh thành, thì nơi đây đã trở thành một địa chỉ cho các Đoàn đại biểu cấp cao từ trong nước sang thăm hữu nghị chính thức nước bạn đều đến thành kính đặt hoa trước tượng đài Hồ Chủ tịch. Và cũng thành thông lệ hàng năm, vào ngày 19-5 và ngày 2-9, đúng mười giờ sáng, cán bộ Đại Sứ quán, đại biểu Cộng đồng người Việt làm ăn và sinh sống ở Matxcơva và những người bạn Nga làm lễ dâng hoa trước tượng Người. Nhiều đôi nam nữ người Việt khi tổ chức đám cưới cũng mang hoa đến đặt trước tượng Bác và Đài Liệt sĩ vô danh tại điện Kremli như là một sự biết ơn và một nếp sống văn hóa.

Vũ Đình Thành
daidoanket.vn

Bài 3: Tượng đài Bác Hồ ở Pháp

Từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, Việt Nam bị Pháp đô hộ. Từ hai chiến tuyến, sau này, mối quan hệ của hai quốc gia được cải thiện và tốt đẹp lên. Các di tích trên nước Pháp gắn với những tháng năm hoạt động của Hồ Chủ tịch được người Pháp gìn giữ, tôn tạo. Tại Bảo tàng Lịch sử Sống thuộc thành phố Montreuil, tượng đài Hồ Chủ tịch cũng đã được dựng năm 2005.

Tượng Hồ Chủ tịch tại bảo tàng sống Montreuil

Ngày 19-5-2005, chính quyền thành phố Montreuil (Pháp) đã dựng tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở “Không gian Hồ Chí Minh” nằm trong Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil. Vị trí đặt tượng Bác Hồ là khu vực mà khách tham quan khi tới công viên đều dễ dàng nhận thấy.

Tượng Hồ Chủ tịch dựa theo mẫu của nhà điêu khắc nổi tiếng Trần Văn Lắm. Đây cũng là pho tượng Hồ Chủ tịch duy nhất đặt trên nước Pháp. Khuôn viên đặt tượng đài bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh được bố trí rất hài hoà với nhiều cây xanh, những khóm tre, trúc, tạo nên một không gian bình dị nhưng mang đậm nét văn hóa Việt Nam.

“Không gian Hồ Chí Minh” nằm bên trái tầng 1 của Bảo tàng Lịch sử Sống, du khách dễ dàng nhận thấy ngay khi bước vào cửa. Đây là nơi lưu giữ những hình ảnh, hiện vật quý về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng Người ở Pháp: Cánh cửa bằng gỗ và tấm biển căn nhà số 9 – ngõ Compoint (nơi Bác ở từ tháng 7-1921 – 6-1923), chiếc bồn lavabo Bác dùng trước đây… Rồi có cả những hình ảnh, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác như: tấm thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, những tấm thẻ hành nghề, ảnh, bài báo, những bức thư mà Bác viết cho các đảng viên Đảng Cộng sản Pháp…

Ngoài ra còn có nhiều tài liệu, sách báo, tranh ảnh giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh… Tất cả các hiện vật, tư liệu quý giá ấy luôn được nâng niu, gìn giữ với sự trân trọng của các bạn Pháp.

Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil là bảo tàng ca ngợi các vĩ nhân đã để lại những dấu ấn lịch sử sâu đậm, tác động và có sức ảnh hưởng to lớn đến thế giới. Việc dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bảo tàng sống Montreuil vì thế mang một thông điệp rõ ràng về sự nhìn nhận đánh giá, tôn vinh Hồ Chủ tịch một cách đúng đắn, xứng với tầm vóc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất mà UNESCO đã tôn vinh năm 1990.

Trong những năm tháng hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc (tên dùng khi đó của Hồ Chủ tịch), đã để lại những dấu ấn, những sự kiện vang dội. Ngày nay, nước Pháp đã gìn giữ những gì liên quan đến Hồ Chí Minh như một báu vật vô giá. Đó là di tích nhà số 9, ngõ Compoint, quận 17 (Paris). Bác đã ở đây khoảng 2 năm (từ 1921-1923). Tại đây, Người tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” và được bầu làm ủy viên thường trực của Hội. Người đã khởi thảo Tuyên ngôn, Điều lệ và Lời kêu gọi. Đây là một tổ chức yêu nước và cách mạng có tổ chức và quy mô đầu tiên hoạt động hợp pháp ở Paris.

Người thành lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), cơ quan ngôn luận của Hội, vừa là người sáng lập kiêm chủ bút, biên tập và phát hành báo. Nhờ công lao của Nguyễn Ái Quốc, tờ báo đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin ở các nước thuộc địa. Trong thời gian này, Người còn viết nhiều bài báo có tác động lớn, đả kích thực dân Pháp xâm lược và bóc lột nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.

Tại nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã kết giao với nhiều trí thức, nghệ sĩ nổi tiếng của Pháp và thế giới như: diễn viên Charles Chaplin, nhà văn Hăng-ri Bác-buýt, họa sĩ Picátxô…

Nước Pháp cũng là nơi Nguyễn Ái Quốc viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” nổi tiếng, gây chấn động nước Pháp và cả chính quyền Pháp tại Việt Nam. Cũng tại nước Pháp này, Nguyễn Ái Quốc đã viết vở kịch “Con rồng tre” giễu cợt ông vua Khải Định bù nhìn…

Ngày 14-3-1923, Nguyễn Ái Quốc dời nhà số 9, ngõ ComPoint, dọn đến số nhà 3 phố Mácsơ Đê Patơriacsơ, quận 5, Paris. Đây chính là nơi đặt trụ sở “Hội liên hiệp thuộc địa” và là tòa soạn báo Le Paria… Năm 1983, Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã gắn biển di tích. Cho đến năm 1986, chủ sở hữu ngôi nhà phá bỏ nhà cũ để xây nhà mới 9 tầng. Những kỷ niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính quyền thành phố Montreuil đưa về trưng bày và dựng thành “Không gian Hồ Chí Minh” trong Bảo tàng Montreuil. Năm 2001, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và chính quyền thành phố Paris đã gắn lại biển di tích tại ngôi nhà số 9.

Trên nước Pháp cũng chứng kiến sự trở lại của Bác khi Người ở cương vị Chủ tịch nước. Đó là năm 1946, Người là thượng khách của nước Pháp. Cũng trong dịp này, phái đoàn ngoại giao Việt Nam sang đàm phán tại hội nghị Phông ten nơ blô. Tình hình khi đó rất căng thẳng, bằng tài ngoại giao và tranh thủ sự giúp đỡ của Việt kiều, nhân dân Pháp, Hồ Chủ tịch đã bày tỏ ước nguyện yêu chuộng hòa bình của nhân dân Việt Nam và quyết tâm đánh Pháp nếu tiếp tục bị xâm lược. Sau đó, Người và đại diện Pháp ký Tạm ước 14-9. Và cũng tại thủ đô Paris ngày 1-7-1946, hoạ sĩ Vũ Cao Đàm (Việt kiều) đến chào Hồ Chủ tịch, xin phép được vẽ và nặn tượng Người. Cùng ngày hôm đó, một số văn nghệ sĩ Pháp tên tuổi như Richard Bloch, Aragon, Triolet, Moussinac, Borne, Masson cũng đến diện kiến Người. Pho tượng sau đó được đúc đồng và tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh năm 1998.

Phiên bản bức tượng Hồ Chủ tịch của nhà điêu khắc Trần Văn Lắm có chiều cao 1,1m, đặt trên bệ cao 3m, sau đó cũng được chọn để dựng tượng Bác tại Mông Cổ.

NGUYỄN LONG
daidoanket.vn

Bài 4: Tượng Bác Hồ ở Cuba

Việt Nam – Cuba có mối quan hệ đặc biệt. Mối quan hệ tốt đẹp giàu truyền thống cách mạng đó như được nhân thêm khi tại trung tâm Thủ đô La Habana của Cuba, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên trang trọng.

Tượng đài Hồ Chủ tịch ở Thủ đô La Habana Cuba.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt ở vườn hoa trung tâm Thủ đô La Habana. Tượng đài Bác được dựng bán thân như chúng ta vẫn thường thấy ở các hội trường cơ quan của Đảng và Chính phủ Việt Nam: Tượng Bác mặc áo ka ki có hai túi ngực. Mỗi khi có sự kiện gắn với quan hệ hai nước Việt Nam – Cuba thì nơi đây đều được chọn là địa chỉ của các đoàn tới thăm viếng.

Thuở đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ từng bôn ba sang châu Mỹ. Cho đến nay, cũng chưa thấy tài liệu nào công bố Bác Hồ đã từng đến Cuba. Nhưng trái tim người chiến sĩ cộng sản quốc tế yêu nước Nguyễn Ái Quốc luôn chan chứa tình yêu thương đồng loại. Bác từng viết: “Vàng, đen, trắng, đỏ đều là anh em” khi nói về tình hữu nghị và bình đẳng quốc tế.

Tại Nhà Di tích H67 ở Khu di tích Phủ Chủ tịch đến nay còn trưng bày một chiếc khay nhỏ làm bằng đồng trên bàn làm việc của Bác. Chiếc khay được đặt cạnh những cuốn sách, những tờ báo Bác Hồ đang xem trước lúc đi xa… Chiếc khay này là kỷ vật của nhà báo nước ngoài cuối cùng đã phỏng vấn Hồ Chủ tịch. Đó là nữ nhà báo Cuba Mácta Rôhát Rôđrigết – phóng viên, Chủ nhiệm báo Granma – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cuba biếu Bác Hồ nhân dịp chị sang thăm Việt Nam, được Bác Hồ tiếp và trả lời phỏng vấn ngày 14-7-1969. Và câu nói: “Việt Nam và Cuba là hai người anh em ở hai nửa địa cầu. Khi Cuba ngủ thì Việt Nam thức để canh gác và khi Việt Nam ngủ thì Cuba thức để bảo vệ” là câu nói của Bác với nhà báo Mácta Rôhát Rôđrigết. Bài phỏng vấn Hồ Chủ tịch của nhà báo Mácta Rôhát Rôđrigết đã được đăng trên báo Granma ngày 29-7-1969 với tiêu đề: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” bằng tiếng Tây Ban Nha. Bài phỏng vấn sau đó được in lại bằng tiếng Pháp ngày 3-8-1969. Ngày 27-9-1969, báo Nhân dân đã đăng bản dịch bài trả lời phỏng vấn này.

Còn đối với Cuba, Việt Nam là một biểu tượng cách mạng để bạn noi theo. Chủ tịch Cuba Fidel Castro – linh hồn của cách mạng Cuba luôn coi dành cho Việt Nam những tình cảm đặc biệt. Từ tháng 1-1959 đến tháng 12-2007, lãnh tụ Fidel Castro đã sang thăm Việt Nam 3 lần, đặc biệt in đậm là chuyến thăm Quảng Trị năm 1973. Đây là vị nguyên thủ đầu tiên và duy nhất trên thế giới đến thăm vùng giải phóng Quảng Trị của Việt Nam khi chiến tranh còn đang ác liệt. Với vai trò “chủ nhà” trong chuyến thăm này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cùng đi với Chủ tịch Fidel Castro. Trong chuyến đi, với dáng vóc to lớn, oai phong, Chủ tịch Fidel đội mũ lưỡi trai, mặc bộ quân phục màu xanh ôliu, đi giày cao cổ đã để lại hình ảnh gần gũi với bộ đội, nhân dân Việt Nam. Tại Đồng Hới, chứng kiến cảnh tang thương của chiến tranh, Chủ tịch Fidel Castro đã chỉ đạo cho ngài đại sứ Cuba kế hoạch ủng hộ Việt Nam một bệnh viện. Một tháng sau, Bệnh viện Việt Nam – Cuba tại Đồng Hới được khởi công xây dựng. Khi thăm sư đoàn Vinh Quang, Chủ tịch Fidel Castro đã phất cao lá cờ truyền thống của sư đoàn và nói: “Các đồng chí hãy mang lá cờ bách chiến bách thắng này cắm tại Sài Gòn”. Vào tháng 4 năm 1975 lịch sử, lá cờ của sư đoàn Vinh Quang đã tung bay trên nóc dinh Độc Lập. Cũng trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, để ủng hộ Việt Nam, Đài Tiếng nói Cuba hằng ngày dành 6 giờ phát tiếng Anh để nhân dân Mỹ hiểu rõ cuộc chiến tranh phi nghĩa do Mỹ gây ra ở Việt Nam.

Chất keo kết dính mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Cuba ngoài nét tương đồng về lịch sử đấu tranh giành độc lập, về lý tưởng, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ nghĩa quốc tế, còn là sự tin cậy, đồng cảm, là tình nghĩa thuỷ chung giữa những người cùng cảnh ngộ. Ngày nay, ngoài những món hàng truyền thống như gạo, than đá, cà phê, giày dép, nay Việt Nam còn xuất khẩu sang Cuba máy tính, linh kiện máy tính, đồ điện gia dụng, bóng đèn tiết kiệm điện và nhiều hàng hoá khác. Chưa kể đến các dự án hợp tác trong ngành dầu khí, du lịch.

Huy Văn
daidoanket.vn

Bài 5: Tượng Bác Hồ ở Madagascar

Với quan hệ ngoại giao thân thiết, năm 2003, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên trang nghiêm giữa quảng trường mang tên Người tại Thủ đô Antananarivô của Madagascar.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Madagasca

Madagascar – quốc gia ở châu Phi này trước đây cũng từng là thuộc địa của Pháp như Việt Nam. Thế nên tình bạn giữa lãnh tụ cách mạng Madagascar Jean Ralaimongo và Bác Hồ thêm phần đặc biệt của những người chiến sĩ cách mạng trong những năm tháng hoạt động tại Pháp

Bức tượng Bác Hồ ở Madagascar bằng đồng đặt trên bệ đá hoa cương, với tổng chiều cao 3,4m. Bên dưới có tấm biển đồng khắc câu nói nổi tiếng của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tượng được nhà điêu khắc Lê Đình Bảo thiết kế năm 2001. Cùng với tượng đài Lênin, tượng đài Bác Hồ và tượng đài lãnh tụ Jean Ralaimongo trở thành biểu tượng cách mạng của Madagascar.

Làm phụ bếp trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville năm 1911, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đi qua các cảng châu Phi. Hình ảnh người dân nô lệ quốc đảo Madagascar làm việc dưới đòn roi của những tên thực dân Pháp đã khiến người thanh niên Việt Nam rơi nước mắt khi anh nghĩ đến số phận những người dân mất nước nơi quê hương mình. Từ hình ảnh người nô lệ Madagascar, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra chân lý: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai loại người: loại người bóc lột và người bị bóc lột”.

Khi hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã cùng các bạn châu Phi, trong đó có hai bạn người Madagascar là Jean Ralaimongo và Samuel Stephanie tích cực tổ chức và tham gia lãnh đạo Hội liên hiệp thuộc địa, tập hợp những người dân thuộc địa của Pháp (cuối tháng 11-1921). Nhóm ra báo Le Paria (Người cùng khổ) để mở rộng tuyên truyền đến các thuộc địa (tháng 4-1922). Ngay số đầu phát hành, báo Le Paria đã khẳng định: Báo “ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Madagascar, ở Đông Dương, ở quần đảo Ăngti và Guyan”. Rồi trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản tại Paris năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo hành động man rợ của đội quân viễn chinh Pháp ở Madagascar năm 1895. Người nhắc lại cuộc tàn sát đẫm máu mà thực dân Pháp đã gây ra cho nhân dân Madagascar: “Chúng đã thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, tàn sát một lúc 5.000 người của bộ lạc Sacavala trên bờ biển phía Tây của Madagascar”. Trong buổi trò chuyện với nhà thơ Xôviết Osip Emilyevich Mandelstam, Nguyễn Ái Quốc cũng nhắc lại “những người anh em Madagascar”.

Sau khi công trình tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng tại Thủ đô Antananarivô, nơi đây đã trở thành điểm tổ chức các sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở Madagasca.

Mạnh Thắng
daidoanket.vn

Bài cuối: Tượng Bác Hồ ở một số nước châu Á

LTS: Tại các bài báo trước, chúng tôi đã nêu những tượng đài Bác tiêu biểu ở một số quốc gia thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Kết thúc loạt bài này, chúng tôi xin đề cập tượng đài về Bác ở một số nước châu Á – nơi cùng máu đỏ, da vàng, cùng nét tương đồng văn hoá với Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng
đoàn đại biểu dự lễ khánh thành tượng
Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Công viên Asean (Philippin)

Trung Quốc là quốc gia láng giềng và từ xưa đến nay luôn có mối quan hệ đặc biệt với Việt Nam. Thời gian Bác Hồ hoạt động ở Trung Quốc khá dài. Di tích Nhà số 248 và 250 (trước là nhà số 13a và 13b) đường Văn Minh ngày nay còn lưu giữ nhiều hiện vật thời kỳ Bác tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước trong thời gian từ đầu 1926 đến tháng 4-1927. Một di tích quan trọng khác nữa gắn với sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác được Trung Quốc gìn giữ là Khách sạn Nam Dương ở Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây). Bác Hồ đã ở đây từ cuối năm 1943 đến tháng 9-1944, sau khi ra khỏi nhà tù Quốc dân Đảng. Tại đây, Người đã triển khai nhiều hoạt động cách mạng Việt Nam, như mở lớp học đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, tham dự Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (3-1944). Hiện nay, khách sạn đã dành cả tầng 1 và 2 phòng trên tầng 2 để trưng bày tái hiện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Liễu Châu và một số mốc chính trong quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh… Căn phòng Người đã ở và làm việc được trưng bày như nguyên gốc.

Sinh thời, Hồ Chủ tịch và Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru đã đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam – Ấn Độ, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, nuôi dưỡng và ngày càng đơm hoa kết trái. Ngày nay, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt tại công viên nằm giữa giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Jawaharlal Nehru, ở thành phố Cancútta. Và tại Thủ đô Niu Đêli có một đại lộ mang tên Hồ Chí Minh.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Ấn Độ

Thái Lan cũng là một trong những quốc châu Á mà Bác Hồ dừng chân hoạt động nhiều năm. Hiện nay, di tích Nhà Hợp tác tại bản Mạy, huyện Mương, tỉnh Nakhonphanom vẫn còn lưu giữ những hiện vật về thời kỳ hoạt động của Bác từ tháng 7-1928. Nhà Hợp tác ở bản Mạy là trạm liên lạc, đưa đón những người Việt Nam yêu nước. Tháng 1-2004, Thủ tướng hai nước Việt Nam – Thái Lan và các đại biểu dự Hội nghị liên Chính phủ Việt – Thái đã khai trương Làng Hữu nghị Việt – Thái ở bản Mạy, trong đó hạt nhân là di tích Nhà Hợp tác, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc. Tại đây có tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cao 1,1cm do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam trao tặng ngày 12-10-2011.

Tại Philippin có một công viên mang tên ASEAN. Ngày 27-10-2011, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến đặt vòng hoa tại tượng đài Anh hùng dân tộc Jose Rizal và dự lễ khánh thành tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại công viên ASEAN. Việt Nam và Philippin đã thành lập Hội Hữu nghị Quốc tế giáo dục văn hóa Jose Rizal – Hồ Chí Minh. Đây là sáng kiến của Đại sứ quán Việt Nam tại Philippin và Đại học Bách khoa Laguna nhằm đưa phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ra nước ngoài và nhằm góp phần tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Philipin. Mục đích của hội là để giáo dục và thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay và mai sau bằng trí tuệ kiệt xuất, ý chí kiên cường thể hiện lòng yêu đất nước, nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Jose Rizal – hai vị anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại của Việt Nam và Philipin. Tại Philippin, có 4 tượng đài Hồ Chủ tịch được đặt cạnh tượng anh hùng dân tộc Philippin Jose Rizal.

Trong tương lai, khi đất nước ta ngày một phát triển, quan hệ với các nước ngày một rộng khắp, và nhất là tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một lan toả thì chắc chắn tượng đài Bác ở nhiều quốc gia khác sẽ nhiều thêm. Đó cũng là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam chúng ta.

Huy Văn
daidoanket.vn

Về Bạc Liêu viếng đền thờ Bác

Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới (huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu), cách trung tâm TP. Bạc Liêu hơn 8 km về hướng đông bắc, ban đầu được xây dựng với vật liệu đơn sơ (tre, lá). Việc hình thành, giữ gìn Đền thờ là một câu chuyện ly kỳ của Đảng bộ và nhân dân xã Châu Thới anh hùng.

Các chú Hội CCB tỉnh Bạc Liêu viếng đền thờ Bác ở Châu Thới

Cách đây gần 43 năm, ngày 5-9-1969, khi nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát tin buồn Bác Hồ vĩnh viễn đi xa, quân dân xã Châu Thới bàng hoàng, đau đớn. Nghĩ đến tình yêu thương của Bác đối với nhân dân miền Nam ruột thịt, Đảng bộ và nhân dân Châu Thới có tâm nguyện chung là xây dựng Đền thờ Bác ngay tại quê hương để ngày đêm hương khói cho Người, củng cố thêm niềm tin vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn. Sáng ngày 19-5-1972, Lễ khánh thành Đền thờ Bác được tiến hành trong niềm hân hoan và trang nghiêm của trên một ngàn người trong xã Châu Thới và các chiến sĩ huyện Vĩnh Lợi. Khu di tích này được công nhận là di tích lịch sử cách mạng quốc gia 1998. Đây cũng là niềm tự hào của Châu Thới nói riêng và Bạc Liêu nói chung.

Cổng vào Đền

Từ ngày thống nhất đất nước, sau nhiều lần tôn tạo, trùng tu, ngôi đền nhỏ đơn sơ ngày nào đã trở thành khu di tích lịch sử quy mô lớn. Nhớ lại những ngày chiến đấu, xây dựng Đền thờ Bác Hồ ngay trong lòng địch đã khó, còn bảo vệ nơi hương khói cho Người còn khó hơn trăm lần, vì bọn Mỹ – Nguỵ luôn tìm cách phá hoại, các nhân chứng lịch sử luôn xúc động xen lẫn tự hào. Dù đã hơn 41 mùa xuân Bác ngủ say trong cõi vĩnh hằng, nhưng chú Nguyễn Đăng Khoa – nguyên là Đội trưởng Đội bảo vệ Đền thờ Bác, từng quyết tử để bảo vệ Đền, vẫn luôn nhớ mãi những ngày cùng đồng đội đi nhặt những trái pháo lép của địch mang về chế tạo lại, lấy trộm những trái lựu đạn để dùng làm “chướng ngại vật” ngăn chặn giặc phá Đền thờ Bác. Sau ngày giải phóng, chú Khoa tiếp tục làm công việc bảo vệ, chăm sóc Đền thờ Bác đến nay. Với tình cảm sâu nặng đối với Bác, chú Khoa đã tìm thấy được niềm vui và hạnh phúc trong công việc.

Còn với cô Lê Thị Đầm (74 tuổi) – nguyên Bí thư xã Châu Thới, hễ đến ngày sinh nhật hay giỗ Bác là cô làm một mâm cơm giản dị cúng Bác vì biết rằng “nếu làm sang trọng, lãng phí quá Bác sẽ không vui”. Đó là ngày gia đình quây quần bên nhau, mỗi lần như thế là một câu chuyện về Bác Hồ sẽ được cô Đầm kể cho các cháu nghe. Mỗi lần một ít thôi để các cháu thấm dần, cô vui sướng rơi cả nước mắt khi đứa cháu nội đang học tiểu học trầm ngâm như người lớn nhận định về Bác: “Trên đời này chỉ có một mà không có hai phải không bà nội?”. Mâm cơm cúng Bác bao giờ cũng có chén mắm nêm và đĩa cà pháo vì đó là món ăn dân dã mà Bác thích.

Cô Đầm hằng ngày vẫn thắp hương Bác tại gia đình

Những câu chuyện về tấm lòng quân dân Châu Thới đối với Bác Hồ như việc xây cất đền thờ, vừa là di sản văn hóa của địa phương, vừa là di tích lịch sử văn hóa mãi mãi trường tồn cùng non nước Việt Nam; việc thờ Bác ở gia đình, việc chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ đền thờ, trông nom và chăm sóc đền luôn được các thế hệ đi trước truyền lại cho các thế hệ sau. Có về viếng Đền thờ Bác Hồ, nhìn những hiện vật đơn sơ nhưng chan chứa tình cảm, rồi nghe người dân nơi đây kể chuyện mới thấm thía hết ý nghĩa của câu: “Bác Hồ sống mãi trong trái tim miền Nam”. Dù cho Người chưa có dịp vào thăm, dù cho niềm mong mỏi của cán bộ, nhân dân miền Nam, trong đó có người dân Bạc Liêu sẽ không bao giờ thành hiện thực, nhưng trong mỗi trái tim người dân vẫn luôn khắc ghi hình bóng và lời dạy của Người, nhất là trong giai đoạn hiện nay “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Đến với khu di tích này, bạn sẽ gặp được những chiến sĩ đã từng chiến đấu kiên cường để bảo vệ Đền thờ, bạn sẽ thấy được tinh thần anh dũng và sự mưu trí của quân dân Bạc Liêu thông qua những hiện vật được trưng bày tại đây. Một hiện vật rất nhỏ, nhưng là một câu chuyện đầy xúc động. Đó chính là hai mảnh vải đen và đỏ của cô Lê Thị Đầm và ông Nguyễn Văn Phấn trong buổi lễ truy điệu Bác tại đền thờ, được 2 người cất giữ từ năm 1969 đến nay. Sau ngày giải phóng đến nay, Đền thờ thường xuyên là địa điểm để tổ chức những hoạt động xã hội, là nơi họp mặt những ngày truyền thống, nhất là dịp 19-5, Quốc khánh 2-9 và giỗ Bác quân dân Bạc Liêu viếng, dâng hương tưởng nhớ đến Người và tổ chức mâm cơm cúng Bác.

Chú Khoa hằng ngày thắp hương cho Bác

Đến với Đền thờ Bác ở Châu Thới, thắp nén nhang trước tượng Bác uy nghiêm, nhân từ, chắc chắn ai cũng tưởng nhớ đến vị lãnh tụ của đất nước và nhìn lại bản thân mình, để nỗ lực phấn đấu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Phương Nghi
daidoanket.vn