Thư viện

Mỗi tấc đất, một cuộc đời có thật

QĐND – “Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi/Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ/Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió/Dẫu ồn ào đừng lay mạnh hàng cây”– Thiếu tướng Giang Văn Thành bất chợt khẽ ngâm đoạn thơ trên khi tôi hỏi anh về hành trình đi tìm hài cốt liệt sĩ, giúp các gia đình đồng đội thỏa nỗi mong ngóng nhiều năm. 40 năm đã trôi qua nhưng ký ức về chiến trường Quảng Trị vẫn nguyên vẹn trong anh.

Người lập bàn thờ liệt sĩ

Tôi gặp Thiếu tướng Giang Văn Thành lần đầu vào tháng 9-2010, đúng ngày Sư đoàn 390 (Quân đoàn 1) tổ chức lễ trao danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của Chủ tịch nước tặng anh. Lúc đó, Giang Văn Thành đang là Đại tá, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Chính trị. Tại buổi lễ, tôi được nghe nhiều cựu chiến binh là đồng đội của anh chia sẻ:

– Giang Văn Thành được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân là rất xứng đáng, chứng tỏ công tác thi đua-khen thưởng của Đảng, Nhà nước ta đã không bỏ sót những người có công với Tổ quốc, với nhân dân.

Nhà báo Duy Mười (Báo Hànộimới), người từng một thời “súng bên súng, đầu sát bên đầu” với anh Thành, ghé tai tôi, thủ thỉ:

– Giang Văn Thành đã chỉ huy đại đội tả xung, hữu đột trong những trận đánh giải phóng Cửa Việt trước ngày thực hiện Hiệp định Pa-ri (28-1-1973). Không chỉ anh hùng trong chiến đấu, anh ấy còn là người chí nghĩa, chí tình với đồng chí, anh em. Đã gần 20 năm nay, bên cạnh việc hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, anh Thành còn thực hiện hàng chục chuyến trở về chiến trường xưa Quảng Trị, tìm kiếm hài cốt đồng đội rồi báo tin cho gia đình của họ; giúp đỡ các gia đình liệt sĩ trong việc cất bốc, đưa liệt sĩ trở về quê hương nếu gia đình yêu cầu.

Vợ chồng Đại tá (nay là Thiếu tướng) Giang Văn Thành trong ngày đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Nhân lúc vui vẻ, nhiều cựu chiến binh Trung đoàn 64 (Sư đoàn 390)-đơn vị của Giang Văn Thành trước đây cùng nói với tôi:

– Báo Quân đội nhân dân cần có bài viết về tấm gương Giang Văn Thành đi tìm hài cốt liệt sĩ. Việc này không phải để tuyên truyền thành tích cá nhân, mà là việc nghĩa cần phải nói để nhân dân, bộ đội hiện nay hiểu thêm về tình đồng đội của những người đã “một thời Quảng Trị”.

Trước “sức ép” của các cựu chiến binh, anh Thành đồng ý sẽ dành thời gian kể với tôi về hành trình đi tìm đồng đội của mình. Sau hôm đó, tôi đến nhà thấy anh đang đứng trước bàn thờ những đồng đội đã hy sinh (trong phòng thờ của gia đình, anh Thành lập một bát hương riêng để thờ đồng đội đã hy sinh ở Quảng Trị). Anh ngước nhìn tôi mà mắt đỏ hoe. Mấy lần tôi định hỏi nhưng thấy tâm trạng anh khó có thể trả lời. Đợi sự xúc động qua đi, anh nói nhỏ:

– Có lẽ mình phải hẹn cậu dịp khác. Bây giờ, mỗi lần nhớ về chúng nó (anh gọi những đồng đội đã hy sinh thân mật như vậy), mình không thể nào tĩnh tâm được. Những trận đánh cứ như vừa diễn ra hôm qua. Mỗi tên đất, tên làng ở Quảng Trị hiện nay đều gắn liền với những trận đánh bi hùng, những góc ruộng, bờ mương đều hiện lên hình ảnh đồng đội hy sinh mà mình đã trực tiếp chôn cất. Cho nên, cứ nhắc đến, mình lại thấy đó là một số phận, một mảnh đời, một tiếng kêu, một lời nhắn nhủ… Đành vậy nhé!

Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ

Từ tháng 9-2010 đến nay, tôi đã có dịp đến gặp anh Thành nhiều lần nhưng ý định tìm hiểu về hành trình đi tìm hài cốt đồng đội của anh vẫn chưa thành; vì anh không muốn kể chuyện này trên báo. Nhưng mỗi lần cóp nhặt vài mẩu chuyện, cũng giúp tôi hiểu được nhiều phẩm chất đáng quý trong anh.

Giang Văn Thành, sinh năm 1954, quê ở Thái Thụy, Thái Bình. Ngày 3-1-1972, cùng với hàng trăm trai làng trong huyện, Thành hăm hở nhập ngũ. Chiến trường miền Nam vẫy gọi, huấn luyện chưa xong, Thành cùng đồng đội đã được bổ sung vào Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320B cũ, nay là Sư đoàn 390), chiến đấu ở Mặt trận Cánh Đông Quảng Trị. Ngày 28-6-1972, chưa đầy nửa tuổi quân, Binh nhất Giang Văn Thành đã có trận “giáp lá cà” đầu tiên với giặc. Mỹ-ngụy lúc đó mất Quảng Trị, điên cuồng tung quân tái chiếm. Tiểu đoàn của Giang Văn Thành quần nhau với một tiểu đoàn địch tại Phương Lang – Linh Chiểu suốt một ngày. Trận đánh khốc liệt đầu tiên đó, ta giành thắng lợi lớn nhưng đại đội của Thành hy sinh gần một nửa. Một sự thật khốc liệt, một mất mát ngoài sức tưởng tượng đã đến với người lính trẻ Giang Văn Thành. Nhưng anh không khóc. Đêm đó, Thành tham gia an táng những đồng đội hy sinh, những người bạn cùng quê mới tối hôm trước còn rúc rích trêu đùa cùng anh…

Chiến đấu mưu trí, dũng cảm, táo bạo nên Giang Văn Thành trưởng thành rất nhanh. Sau 22 ngày quần nhau với địch, Thành đã lần lượt được cấp trên tin tưởng bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng rồi trung đội trưởng. Đến đầu năm 1973, anh đã là đại đội trưởng ở tuổi 19, chỉ huy đại đội tham gia giải phóng Cửa Việt. Những trận đánh của anh, được sách sử Trung đoàn 64 ghi lại khá rõ nhưng anh không nhớ nhiều về chuyện đó, anh chỉ nhớ những lần băng bó vết thương cho đồng đội, hàng trăm lần tham gia chôn cất liệt sĩ. Có lần, đang trò chuyện với tôi, bất chợt anh kể:

– Trí nhớ của mình không phải tốt, nhưng không hiểu sao gần đây, mình nhớ lại rõ mồn một từng hình ảnh trong ngày 28-6-1972, cái ngày mình giáp trận đầu tiên. Nhớ nhất là Phạm Quang Vinh, bạn mình, người xã Thái Giang (Thái Thụy), bị dính một mảnh cối của địch văng vào cổ. Vinh cứ cố gọi mình: Thành ơi, băng đi, băng đi… Lúc đó, mình đang mải băng cho một đồng đội khác, khi quay lại thì Vinh… đã hy sinh rồi. Và kỳ lạ lắm, trong hàng chục trận đánh mình trải qua, trận nào cũng có đồng đội bị thương gọi mình: Thành ơi, băng đi. Mỗi lần về Quảng Trị, nhất là đến các nghĩa trang, mình lại nghe như nó đang vọng về bên tai…

Bén chuyện, anh mới chịu hé lộ chút ít về lần đầu tiên đi tìm hài cốt đồng đội. Kể từ sau năm 1973, Thành được cử ra Bắc đi học, trở thành sĩ quan, mải miết với nhiệm vụ, đến năm 1996, lần đầu tiên anh mới có điều kiện quay lại Quảng Trị. Mất rất nhiều chuyến tìm lại chiến trường xưa, xác minh xem những địa điểm mình đã chôn cất đồng đội khi xưa còn dấu vết hay không. Thật may, nhờ việc lưu trữ hồ sơ của đơn vị khá tốt nên phần nhiều hài cốt được quy tập về các nghĩa trang. Anh Thành đã dày công ghi lại địa chỉ từng ngôi mộ, tìm cách liên hệ với thân nhân liệt sĩ để gia đình biết tin. Liệt sĩ đầu tiên mà anh giúp gia đình đưa hài cốt về quê là Trần Vinh Phong, Tiểu đội trưởng của anh. Cuối năm 1996, sau mấy lần vào Quảng Trị thắp hương cho đồng đội, trên đường trở ra, đi ngang qua huyện Ý Yên (Nam Định), Thành bỗng nhớ lại trong một đêm tâm sự trước giờ xuất trận, Tiểu đội trưởng Phong có dặn: “Quê anh ở Ý Yên, Nam Định, gần Quốc lộ 1. Sau này có điều kiện, các em nhớ về nhà anh nhé”. Nhớ đến đây, anh Thành thấy thảng thốt trong người. Anh quyết định về huyện Ý Yên tìm địa chỉ nhà liệt sĩ Phong. Điều này tưởng chừng mơ hồ, vì cả một huyện rộng lớn như thế, biết đâu mà tìm. Thế nhưng, khá may mắn là người đầu tiên mà anh hỏi thăm, lại là người cháu của liệt sĩ Phong. Gặp được anh, mẹ liệt sĩ Phong mừng mừng, tủi tủi. Bà nói, bao năm qua, bà đã dò dẫm đi tìm hài cốt của con trai. Cứ nghe người ta mách ở đâu là vào đó tìm. Đi cả vào Gia Lai, Đắc Lắc… tìm mà vẫn biệt vô âm tín. Nay gặp anh Thành, mới biết hài cốt anh Phong đang nằm ở Nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Thượng (Hải Lăng, Quảng Trị).

Hành trình báo tin và đưa hài cốt đồng đội đã hy sinh về với người thân của Thiếu tướng Giang Văn Thành còn nhiều câu chuyện ly kỳ, cảm động. Anh bảo, trong mấy chục đồng đội mà anh đã “đưa về quê”, mỗi người là một câu chuyện. Nhưng cũng có gia đình, anh Thành khuyên chỉ nên đến nghĩa trang thắp hương chứ không đề nghị đưa hài cốt liệt sĩ về quê. Tôi mấy lần hỏi vì sao? Anh chậm rãi:

– Đó là những đồng chí mình trực tiếp mai táng. Họ hy sinh anh dũng lắm, và nói thật là sau trận đánh, thi thể có còn nguyên vẹn đâu. Có người trúng mấy lần đạn pháo địch, thịt xương hòa lẫn với đất, chúng mình bốc đất đó để mai táng. Nên tiếng là mộ còn, nhưng các anh thực sự tan vào Đất Mẹ cả rồi.

Tôi thẫn thờ. Và tôi chợt hiểu vì sao, anh Thành lại thích câu thơ: “Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi/Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ…” đến thế.

Bài và ảnh: Hồng Hải
qdnd.vn

Chuyện kể của người chiến sĩ quyết tử năm xưa

QĐND Online – Năm nay đã 91 tuổi, song ông Nguyễn Trọng Hàm-người chiến sĩ quyết tử của Thủ đô năm xưa vẫn còn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Gần đến ngày kỷ niệm 65 năm Ngày toàn quốc kháng chiến, chúng tôi có may mắn được gặp ông, nghe ông kể về những ngày Hà Nội sục sôi khí thế “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” của 65 năm về trước…

Ông Nguyễn Trọng Hàm

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm nhiều năm nay là Trưởng ban liên lạc truyền thống quyết tử Liên khu 1 anh hùng. Trước khi về hưu (năm 1983), ông là Phó tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô (nay là Bộ tư lệnh Thủ đô). Ông Nguyễn Trọng Hàm bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1944, với nhiệm vụ tuyên truyền, rải truyền đơn. Tháng 5-1945, ông đã làm cho quân Nhật thất điên bát đảo, khiếp sợ khi trực tiếp giết chết một tên quan năm Nhật ngay giữa Thủ đô. Với “vốn liếng” kinh nghiệm ấy, khi toàn quốc kháng chiến, ông đã là Trung đội trưởng Trung đội 2 (Tiểu đoàn 102, Trung đoàn Thủ đô).

– Trước đó, Tiểu đoàn 102 còn được gọi là Khu Đông Thành; Tiểu đoàn 101 là Khu Đồng Xuân và Tiểu đoàn 103 là Khu Đông kinh nghĩa thục, đều trực thuộc Liên khu 1, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm tâm sự.

Trung đội 2 do ông Nguyễn Trọng Hàm chỉ huy còn được gọi là Trung đội Hàng Thiếc. Sở dĩ gọi như vậy bởi lực lượng gia nhập Trung đội 2 khi ấy chủ yếu là công nhân ở phố Hàng Thiếc, gia đình ông Hàm cũng sinh sống tại khu phố này.

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm bộc bạch:

– Về mặt chiến lược của chúng ta lúc đó vẫn là mềm dẻo, linh hoạt nhằm cứu vãn hòa bình, đúng như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta muốn hòa bình”. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải gấp rút chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Công tác chuẩn bị chiến đấu tại các đơn vị của Trung đoàn Thủ đô khi đó diễn ra rất khẩn trương. Mỗi buổi tối, ông Hàm đều tổ chức cho Trung đội 2 luyện tập đội ngũ, với mục đích tạo ý thức tập thể cho anh em chiến sĩ. Đồng thời tăng cường huấn luyện phương pháp sử dụng các loại vũ khí có trong biên chế.

– Súng ống khi đó rất ít, chủ yếu được bà con mua, tặng chúng tôi. Còn lại chủ yếu là mã tấu, dao găm. Song khi ấy, mọi người đều nhận thức rằng, vũ khí không phải là tất cả, ta chiến đấu trên những con phố ta sinh sống, với lòng yêu nước và ý chí quyết tâm cao, chúng ta sẽ chiến thắng- ông Hàm nhớ lại.

Tối nào cũng vậy, phố Hàng Thiếc luôn sôi động bởi không khí luyện tập của các chiến sĩ quyết tử. Bà con dân phố mang đèn ra treo trước cửa, xem và động viên các chiến sĩ luyện tập.

Khi nói đến chuyện những quả bom ba càng, ánh mắt ông Nguyễn Trọng Hàm vụt sáng. Ông bồi hồi kể: “Khi đó, Trung đội 2 có 36 cán bộ, chiến sĩ. Ai cũng muốn được chọn vào đội hình luyện tập, sử dụng loại vũ khí đặc biệt này, dẫu biết sẽ hy sinh khi ôm bom ba càng xung trận. Tuy nhiên, qua kiểm tra thể lực và sự nhanh nhẹn, khéo léo, chỉ có 10 chiến sĩ được lựa chọn để huấn luyện sử dụng bom ba càng”…

Cột điện, gốc cây thành nơi … diệt địch

Chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến, ta đã vận động nhân dân mua tích trữ gạo. Theo Đại tá Nguyễn Trọng Hàm, nhờ tích cực chuẩn bị lương thực như vậy nên quân và dân Thủ đô Hà Nội đã chiến đấu liên tục, hiệu quả trong 2 tháng trời ròng rã.

Trên những phố được xác định địch sẽ tiến quân ra, ta đều triển khai chướng ngại vật, nhằm cản bước tiến của chúng. Nhiều phố đã khoan thân cây, gài mìn vào đó, sẵn sàng cho nổ khi địch tới. Tương tự, nhiều cột đèn cũng được ta cài mìn. Các cột điện cũng được ta lợi dụng triệt để nhằm bố trí các ụ súng bắn qua lỗ trên thân cột điện; đồng thời cột điện cũng trở thành “lá chắn” bảo vệ quân ta trước làn đạn của kẻ thù.

– Chuyện đục tường, nối thông các nhà ở nội đô Hà Nội trong những ngày toàn quốc kháng chiến đã trở thành nét sáng tạo của phương thức chiến đấu- ông Nguyễn Trọng Hàm kể tiếp- vì đặc điểm kiến trúc của mỗi nhà khác nhau, nên những bức tường đục đã tạo nên “ma trận” với quân Pháp, khi chúng cơ động qua đó.

Các chiến sĩ Trung đội 2, Tiểu đoàn 102, Trung đoàn Thủ đô. Ông Nguyễn Trọng Hàm đứng thứ 4, từ trái qua. Ảnh chụp lại

Chiều 19-12-1946, ông Nguyễn Trọng Hàm đã nhận được thông tin đêm đó sẽ diễn ra những trận đánh ác liệt, mở đầu cho toàn quốc kháng chiến.

Tối 19-12, ông cùng một số chiến sĩ của Trung đội 2 đi nhận vũ khí ở cơ sở của ta, gồm 50 quả lựu đạn, 2 quả bom ba càng và một số giáo mác, mã tấu.

Cầm vũ khí trong tay, tất cả đều hồi hộp đón chờ thời khắc vùng lên tiêu diệt kẻ thù…

“Lấy thô sơ thắng hiện đại”

Người lính già Nguyễn Trọng Hàm rưng rưng xúc động khi nhớ lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, ghi trong “Thư Bác Hồ gửi các chiến sĩ yêu quý của Trung đoàn Thủ đô”, ngày 27-1-1947. Ông bảo: Còn gì sung sướng hơn khi vị lãnh tụ cao nhất gọi các chiến sĩ quyết tử của Liên khu 1 anh hùng bằng cái tên chung – “các em”- trìu mến, ấm áp như thế. Và thực tế là từ những thời khắc đầu tiên cho đến suốt 2 tháng sau đó, các chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô nói chung, Trung đội 2 của ông Nguyễn Trọng Hàm nói riêng, đã anh dũng chiến đấu, lập nên những chiến công vang dội giữa lòng Thủ đô.

Dừng lời kể, nhấp thêm ngụm trà, Đại tá Hàm hào hứng nhớ lại: “Đúng 20 giờ 03 phút ngày 19-12-1946, ánh đèn trên các đường phố Hà Nội vụt tắt. Từ pháo đài Láng, Xuân Canh… tiếng nổ vang dậy khắp thành phố, báo hiệu cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu”.

Mặc dù đã được chuẩn bị rất kỹ càng cho trận đối đầu được dự đoán sẽ rất quyết liệt trong đêm 19-12, song những giờ đầu tiên, quân Pháp tập trung đánh vào Bắc Bộ Phủ…mà chưa qua phố Hàng Thiếc. Khi đó, lực lượng của Trung đội 2 đã được phân tán nhỏ lẻ, sẵn sàng chặn chân địch tại các phố Hàng Thiếc, Thuốc Bắc, Lãn Ông, Hàng Ngang, Hàng Đào…

Những ngày sau đó, chiến sự diễn ra ác liệt. Đến ngày 7-2-1947, Trung đội 2 của Đại tá Hàm đã thực sự trải qua một cuộc “thử lửa” khốc liệt với quân Pháp.

Tượng đài Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh trên vườn hoa Vạn Xuân nhắc nhở mọi người nhớ về một Hà Nội máu lửa của mùa Đông 1946

Ông Hàm bồi hồi kể lại: “Hôm đó, địch từ phố Hàng Bông, qua Hàng Nón, có ý địch “thọc sườn” phố Hàng Thiếc. Lực lượng của chúng có khoảng một đại đội, với sự yểm trợ của xe bọc thép”.

Vào phố Hàng Thiếc, “ma trận” được tạo nên từ những bức tường đục đã đưa quân Pháp vào…bước đường cùng. Do tường chỉ được đục vừa với thân hình của chiến sĩ ta, nên những tên địch có hình thể “kềnh càng” chui qua rất khó khăn. Chúng luôn phải đưa súng qua lỗ trước, sau đó mới “nhồi” người qua. Khi chúng chui đến nhà thứ 12, tên đi đầu bị quân ta bất ngờ dùng đòn gánh đập trúng đầu, khi hắn vừa thò đầu qua lỗ. Khi tên đi trước bị “nhét” trong lỗ, bọn đi sau hoảng loạn, ú ớ. Quân ta mai phục trên gác các căn nhà gần đó ném lựu đạn xuống, tiêu diệt khoảng chục tên, số còn lại bỏ chạy tán loạn.

– Đó là một trong những trận đánh khá tiêu biểu của Trung đội 2 trong 2 tháng chiến đấu giữa Thủ đô. “lấy thô sơ thắng hiện đại”, “lấy ít thắng nhiều”, “lấy yếu thắng mạnh”, đó là phương thức tác chiến chủ yếu của ta trong những ngày đáng nhớ ấy, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm tâm đắc.

Với tinh thần ngoan cường, dũng cảm của quân và dân Thủ đô, suốt 60 ngày đêm khói lửa, ta không những đã giam chân địch trong nội thành, ngăn chặn chúng mở rộng đánh ra các vùng lân cận, mà còn phá vòng vây của địch, bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân Thủ đô sơ tán trở lại vùng tự do, căn cứ địa cách mạng an toàn.

Khi chúng tôi nói lời chia tay với người chiến sĩ quyết tử của Thủ đô 65 năm trước, cũng là lúc ông nhận được điện thoại của bà Vũ Thị Nhàn, năm nay đã 80 tuổi, chiến sĩ nữ của Tiểu đoàn 103 năm xưa. Nghe xong điện thoại, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm chia sẻ: “Ngày mai chúng tôi lên đài PT-TT Hà Nội, làm chương trình kỷ niệm 65 năm Ngày toàn quốc kháng chiến. Ở cái tuổi gần đất xa trời, sức khỏe giảm sút, nhưng chúng tôi vẫn có thể giúp lớp trẻ hôm nay hiểu hơn về một thế hệ quyết tử của Thủ đô huyết lệ, để các cháu thêm hiểu và trân trọng lịch sử, từ đó sống có ích hơn cho xã hội”…

Bài, ảnh: Phạm Hoàng Hà
qdnd.vn

Lặng thầm cho những chuyến đi

QĐND Online – Trong nhà riêng ở xã Quang Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, Đại tá-CCB Nguyễn Hữu Tuần, nguyên Trưởng ban Tác chiến- Huấn luyện Lữ đoàn 125, người trực tiếp làm kế hoạch cho các đội Tàu không số, kể với chúng tôi về những kỷ niệm của một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên trong ông…

Chuẩn bị cho những chuyến đi-vài câu chuyện nhỏ

Về Đoàn 125, tôi được giao nhiệm vụ biên soạn và bổ sung các phương án chiến đấu, phương thức đi biển, giao thả hàng, để các đội tàu đi dài ngày trên biển độc lập tác chiến và xử trí mọi tình huống. Trước đó, các tàu của ta không có hải đồ tỷ lệ nhỏ ven biển miền Nam để tham khảo vào bến chính xác, mà chỉ có loại hải đồ 1/1.000.000 dùng ở miền Bắc. Chúng tôi có sáng kiến và được thủ trưởng Đoàn đồng ý mở lớp huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ hàng hải cách đo xác định vị trí tàu bằng thiên văn. Có lẽ đây là phương pháp định vị tàu độc nhất vô nhị trên thế giới: chỉ với máy 1/6, chân trời-góc biển tưởng tượng, các sao cố định.

Cùng thời gian đó, nước bạn nhận cải dạng một số tàu theo mẫu thiết kế của ta và đóng mới cho ta hai tàu vận tải tốc độ cao, có trang bị ra-đa phát hiện mục tiêu, dẫn đường, để né tránh địch và vào bến.

Tháng 8-1965, Tàu 68 do đồng chí Đỗ Văn Bé làm thuyền trưởng, Trần Ngọc Ẩn làm Chính trị viên cải dạng, đi trinh sát toàn khu vực biển Đông và khu vực quần đảo Trường Sa, đồng thời kiểm tra kết quả lớp học xác định vị trí tàu bằng thiên văn. Kết quả chuyến trinh sát được đưa về Đoàn, làm cơ sở để nghiên cứu những yếu tố sơ hở của địch và lựa chọn phương pháp đưa tàu của ta về bến giao hàng hoặc quay về an toàn. Trong chuyến đi này có chuyện rất vui mà anh em Đoàn còn nhớ mãi. Khi giao nhiệm vụ cho cán bộ chiến sĩ tàu, tôi quán triệt quy định “tuyệt đối không được lên đảo”. Đến khi về, tôi cũng là người đầu tiên xuống gặp anh em để nắm tình hình để viết bản tổng kết. Khi xuống tàu thì nghe tiếng kêu “chiếp chiếp” trong khoang hàng. Tôi hỏi: “Ai cho các đồng chí nuôi gà trên tàu?”. Đồng chí Trần Ngọc Ẩn báo cáo, khi tàu qua khu vực quần đảo Trường Sa, một số cán bộ, chiến sĩ lên đảo nắm tình hình và lấy hàng tạ trứng chim xuống tàu. Trứng ăn không hết, để dưới hầm hàng có hơi ẩm nên khi về đến Hải Phòng nhiều trứng đã nở ra chim…

Đại diện Ban liên lạc Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, báo cáo hoạt động với nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Đại tá Nguyễn Hữu Tuần ngoài cùng bên phải. Ảnh chụp lại

Kỷ niệm không phai về đồng đội

Có nhiều năm gắn bó với cán bộ, chiến sĩ của các đội tàu, tôi hiểu rõ tính từng người. Anh em “trên bến dưới thuyền” gắn bó với nhau như ruột thịt. Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm (Tàu 165) trước lúc lên đường đã mở túi áo lấy chiếc ví bên trong có một ít tiền và tấm ảnh kỷ niệm của gia đình chụp trước ngày anh lên đường tập kết ra Bắc, nhờ tôi giữ để sau chuyến đi về nhận lại. Nhưng chuyến đi ấy anh đã không về. 18 giờ ngày 29-2-1968, Đoàn nhận được điện Tàu 165 báo về “Tàu cách bờ 20 hải lý thì gặp nhiều tàu địch”. Sở chỉ huy liên lạc với bến thì nhận được trả lời: “Đêm 29-2 bến tổ chức đón. Quan sát ra ngoài biển có nhiều vết lửa đạn bắn lên, sau đó nghe một tiếng nổ và cột lửa bốc lên cao”. Mọi người lúc này mới biết Tàu 165 đã dũng cảm chiến đấu với địch và điểm hỏa phá hủy tàu để giữ bí mật. Chiếc ví của Nguyễn Chánh Tâm đã được tôi gửi lại cho đồng chí cán bộ chính sách của Đoàn, chờ ngày chiến thắng đưa về cho gia đình đồng chí Tâm.

Có lẽ với tôi, cuộc chia tay Nguyễn Phan Vinh sẽ là kỷ niệm không bao giờ quên. Phan Vinh quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, là một thuyền trưởng được đào tạo chính quy, có trình độ chỉ huy và chuyên môn nghiệp vụ rất giỏi. Tháng 12-1968, Phan Vinh trên cương vị là Thuyền trưởng Tàu 235, nhận nhiệm vụ chuyển hàng vào bến Ninh Vân, cách Nha Trang 15km về phía Bắc. Trước đó, Vinh đã đi trên 10 chuyến thành công vào các tỉnh Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh…. Đêm 26-12-1968, tiễn chân Vinh ở Vịnh Hạ Long có tôi và đồng chí Trần Phong. Biết chuyến đi này sẽ vô cùng cam go, chúng tôi trao đổi với nhau cách đối phó với địch trong những tình huống có thể xảy ra. Trao đổi xong công việc, Phan Vinh tâm sự: “Em sắp đến tuổi tứ tuần, chưa vợ con. Trong cuộc sống đời thường, có nhiều người rất thương yêu em nhưng em không muốn ngỏ lời yêu vì biết nhiệm vụ của mình rất nặng nề, có thể hy sinh bất cứ lúc nào. Em biết chuyến đi này thực sự khó khăn. Các thủ trưởng đã tin tưởng giao cho em con tàu vận tải mới, hiện đại, em sẽ quyết tâm đưa hàng vào đến bến”.

1 giờ sáng ngày 27-2-1968, chúng tôi chia tay. Tàu Phan Vinh xuất phát sang đảo Hải Nam tìm đường vào bến, tàu chúng tôi trở về Hải Phòng và dõi theo chuyến đi của Vinh. Đến 19 giờ ngày 29-2, chúng tôi nhận được điện Phan Vinh báo về: “Tàu địch đã phát hiện tàu ta còn cách bờ 50 hải lý. Trời rất tối, tôi quyết tâm tránh né địch đưa tàu vào bãi”. 22 giờ, bức điện thứ 2 gửi về có nội dung: “Có nhiều tàu địch từ bờ ra bám theo chúng tôi, chúng càng ra nhiều tôi càng dễ tránh để tiếp tục vào bờ”. Đến 1 giờ ngày 1-3-1968, bức điện thứ 3 và cũng là bức điện cuối cùng được gửi về từ tàu 235. Trên vùng biển Hòn Hèo lúc đó đã diễn ra trận đánh không cân sức. Phan Vinh và một số đồng chí khác hy sinh, 5 đồng chí sống sót là Vũ Long An, Nguyễn Văn Phong, Hà Minh Thật, Lê Duy Mai, Lâm Quang Tuyến, sau 6 tháng đi bộ vượt đường Trường Sơn đã về đến Đoàn và tổ chức viết bản tổng kết trận đánh, làm tài liệu học tập cho cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn.

Suốt 14 năm chi viện cho miền Nam (1961-1975), Đoàn 125 đã thực hiện khẩu hiệu “Quân lệnh như sơn, có lệnh là đi”, thiết lập một con đường huyền thoại không hoa tiêu, không cầu cảng, chỉ có trái tim và niềm tin tất thắng của những con người quả cảm. Những đồng đội của tôi, nay người còn, người mất, nhưng những kỷ niệm về họ, về con đường mà chúng tôi đã cùng gây dựng vẫn còn mãi với thời gian.

Bích Trang (Ghi theo lời kể của Đại tá Nguyễn Hữu Tuần)
qdnd.vn

Đánh máy bay địch bằng mọi quy mô, từ mọi hướng

QĐND Online – Tháng 10, khi cả nước sôi nổi tổ chức kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển, chúng tôi đến thăm những cán bộ của Đội thuyền 128 (Đội giao thông tình báo trên biển) anh hùng năm xưa. Họ là những người tiên phong mở ra một cung đường biển vận chuyển cán bộ, tài liệu, vũ khí giữa hai miền Bắc-Nam. Tuy nhiên, những chiến công thầm lặng ấy chưa được nói tới nhiều…

Khởi đầu bí mật

Trong gian nhà nhỏ trên đường Trần Tấn Mới (tên Anh hùng LLVTND của Đội thuyền 128), thành phố Đà Nẵng, Thiếu tướng, Trần Tiến Cung (năm nay 82 tuổi), nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục II, người trực tiếp chỉ huy Đội thuyền 128 năm xưa bồi hồi kể lại câu chuyện cách đây hơn nửa thế kỷ…

Năm 1954, sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, tình hình miền Nam thay đổi, chính quyền ngụy được dựng lên và thi hành nhiều chính sách thâm độc, đánh phá ác liệt và kiểm soát gắt gao vùng giới tuyến. Trước bối cảnh đó, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã xác định yêu cầu giao thông phải mở đường đi trước. Khi nhiệm vụ cách mạng thôi thúc, ngành tình báo đã khẩn trương, tích cực đẩy mạnh hoạt động giao thông. Đến đầu năm 1956, lãnh đạo, chỉ huy Nha Liên lạc-Cục Quân báo-Bộ Tổng tham mưu (nay là Tổng cục II-Bộ Quốc phòng) đã xác định nhiệm vụ tập trung lực lượng giải quyết về tổ chức giao thông và duy trì thông suốt. Theo Thiếu tướng Trần Tiến Cung, khi đó Trung ương Đảng, Bác Hồ và Quân ủy trung ương đã triệu tập đồng chí Nguyễn Đôn, Phó tư lệnh Liên khu V và đồng chí Lê Câu, Trưởng ban tình báo Khu vực phi quân sự ra miền Bắc để giao nhiệm vụ. Sau khi về, hai đồng chí đã phổ biến lại nhiệm vụ cấp trên giao là đưa một lực lượng ra Bắc tập kết trong 2 năm, đồng thời chuẩn bị lực lượng tại chỗ để quản lý khu vực tập kết quân 300 ngày và cả cho lâu dài. Vào thời điểm đó, việc di chuyển từ Nam ra Bắc và ngược lại vô cùng khó khăn, phải mất hàng tháng trời.

Vượt qua nhiều cản trở, ngành tình báo quyết định tổ chức lực lượng giao thông thủy gồm nhiều tổ thuyền, mỗi tổ thuyền thành lập một chi bộ. Tháng 3-1956, 2 tổ thuyền đầu tiên được thành lập lấy tên là Thống Nhất và Trung Hòa. Đây chính là thời điểm đánh dấu sự ra đời Đội thuyền 128 anh hùng của ngành tình báo. Ngay từ khi thành lập, các chi bộ đã nhận định, cho dù địch đánh phá, có thể bị bắt, có thể hy sinh, nhưng nhiệm vụ Đảng, tổ chức giao bằng mọi giá phải hoàn thành. Đầu năm 1956, Nha Liên lạc đã cử một đồng chí Trưởng phòng Giao thông vào trạm đầu cầu Vĩnh Linh để nắm tình hình, tiếp cận địa bàn, nghiên cứu, tổ chức thăm dò, xác định thời gian, cự ly vào cửa Tư Hiền (Thừa Thiên-Huế), Nam Ô (Đà Nẵng)…

Đại tá Trần Xuân Tự (80 tuổi), nguyên Cục trưởng Cục 11 đã từng tham gia chỉ huy Đội thuyền 128 kể rằng, với những chiếc thuyền nan thô sơ của buổi ban đầu, các chiến sĩ giao liên tình báo đã dũng cảm vượt qua giới tuyến vào Huế, Đà Nẵng…trước sự kiểm soát gắt gao của địch, để nối thông đường giao thông thủy. Cũng trong tháng 3-1956, trạm Vĩnh Linh tổ chức thuyền đi khảo sát địa bàn vùng Thanh Khê, Xuân Hà (Đà Nẵng) đồng thời thu thập các loại mẫu giấy tờ, con dấu cần thiết để hợp thức hóa cho đội thuyền Vĩnh Linh. Vào tới Đà Nẵng, đoàn đã móc nối được với cấp ủy địa phương để nắm tình hình và khi trở ra đã đưa một cán bộ Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng ra Bắc hoạt động do đã bị lộ…Đó là những chuyến đi khai phá mở đường trên biển đầu tiên của lực lượng tình báo, bảo đảm thắng lợi, an toàn tuyệt đối. Thêm vào đó, đã để lại những kinh nghiệm hình thành phương thức giao thông thủy trên biển Đông một cách đồng bộ, vững chắc, góp phần mở ra ý tưởng táo bạo cho Đoàn tàu không số vượt đại dương tiếp tế cho chiến trường miền Nam.

Đại tá Trần Xuân Tự trò chuyện với thế hệ cán bộ tình báo hôm nay

Hoạt động trong thầm lặng

Ông Nguyễn Xuân Đích (83 tuổi), nguyên là thợ máy của Đội thuyền 128 và Đoàn tàu không số kể lại, ông đã vinh dự được phục vụ Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Anh hùng Liên Xô Giéc man-Ti tốp… cùng rất nhiều cán bộ cao cấp của Đảng và quân đội Việt Nam. Tuy nhiên, do đặc thù nhiệm vụ của ngành tình báo nên ông Đích cùng với các đồng đội khác đều tuyệt đối bí mật, giữ im lặng về công việc của mình. Ông nói rằng: “Suốt một thời gian dài phục vụ Đội thuyền 128 cũng như sau này phục vụ Đoàn tàu không số, những cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đều nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình. Vì vậy chúng tôi chỉ làm mà không nói ra những việc mình đang làm”. Một trong những kỷ niệm ông Đích nhớ nhất là được nói chuyện với Bác Hồ trên chuyến tàu ông phục vụ Bác.

Từ 2 tổ thuyền ban đầu, ngành tình báo đã phát triển thành đội thuyền mang phiên hiệu 128 gồm 26 tổ thuyền với 183 đồng chí, có nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc tình báo Bắc-Nam; tổ chức thực hiện kế hoạch phái khiển cán bộ, giao thông viên, nhân viên kỹ thuật cơ động theo chỉ thị của cấp trên. Ngoài ra, còn tổ chức nắm tình hình địa bàn, thu thập giấy tờ hợp pháp của người, tàu, mua máy, đóng mới thuyền, trang bị hàng hóa, ngư cụ theo yêu cầu, chuyên chở vũ khí, phương tiện tiếp tế cho các trạm tình báo…Đội thuyền 128 khi đó hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giao thông thủy, nằm trong tổ chức Phòng 73 của ngành tình báo. Mỗi thuyền thành lập một chi bộ, chi ủy lãnh đạo trực tiếp, thuyền trưởng kiêm bí thư chi bộ, thuyền phó phụ trách hậu cần và đời sống, còn lại là 4-5 thuyền viên…Sự khác biệt của Đội thuyền 128 với Đoàn tàu không số chính là ở chỗ chủ yếu hoạt động trên các thuyền nhỏ, gần bờ theo nguyên tắc bí mật, cự ly, đơn tuyến. Mỗi thuyền được hợp thức hóa về người, phương tiện, giấy tờ tùy theo từng địa phương như thẻ ngư phủ, thẻ căn cước, do chính quyền ngụy cấp, có câu chuyện ngụy trang phù hợp để đi từ vùng này sang vùng khác, làm ăn theo mùa…Đội thuyền 128 của ngành tình báo đã áp dụng hình thức đột kích qua ranh giới, hướng thẳng biển Đông, xuôi dần vào Nam, nhằm thẳng điểm đến, sẵn sàng đột nhập vào bờ ban đêm rồi nhanh chóng rút lui tới địa điểm khác, tránh sự theo dõi của kẻ địch. Khi thấy tình hình giới tuyến có biến động, các thuyền sẽ chủ động tiến thẳng ra hải phận quốc tế, sau đó cập bến ở điểm khác…

Thiếu tướng Trần Tiến Cung nhớ lại, do yêu cầu công tác nắm địch ngày càng khẩn trương nên các chuyến liên lạc tăng, đội thuyền phát triển lên nhiều tổ thuyền, đường đi dài hơn từ cửa biển phía Bắc tới tận Nha Trang, Phan Thiết…thuộc vùng địch kiểm soát. Từ năm 1965, Mỹ-Ngụy kiểm soát gắt gao trên biển, trong khi đó mỗi thuyền chỉ có một chiếc la bàn, nhiều khi cán bộ, giao liên phải nhìn trăng, sao để xác định hướng đi. Mỗi chuyến đi là một lần đối mặt với muôn vàn hiểm nguy. Có lần để bảo đảm bí mật đường dây liên lạc, cán bộ của tổ phải hủy thuyền rồi bơi vào bờ hay khi gặp bão biển, thuyền phải neo cả tuần ngoài đảo vắng hoặc kẹt ở bến cảng của địch hàng tháng trời. Nhưng với tinh thần mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, các chiến sĩ giao thông tình báo đã bình tĩnh đối phó, xử lý các tình huống bảo đảm an toàn cho tài liệu, con người và phương tiện.

Chiến công không lời

Kể từ khi thành lập (tháng 3-1956) đến tháng 4-1975, Đội thuyền 128 đã tổ chức thực hiện 263 chuyến đưa đón cán bộ, vận chuyển tài liệu, vũ khí…vào Nam ra Bắc. Có những thuyền đã phục vụ hàng trăm lượt cán bộ, nhân viên giao thông, tổ chức cụm trạm tình báo ở địa bàn ven biển. Đội cũng đã tiến hành 6 chuyến tiếp tế cho các cụm, 9 chuyến nắm tình hình, thu thập con dấu, giấy tờ, tài liệu ở địa bàn cực Nam. Đặc biệt có những chuyến đưa đón đột xuất cán bộ cao cấp của trên vào địa bàn. Điển hình như tổ thuyền Tiền Phong thành lập tháng 10-1956, với 22 đồng chí, đã thực hiện 46 chuyến đưa cán bộ vào chiến trường và về Bắc; liên lạc với cán bộ địch hậu, giao nhận tài liệu và đưa cán bộ, tiếp tế tài chính xây dựng các căn cứ. Tổ thuyền đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công Hạng nhất, Nhì, Ba và đạt danh hiệu Quyết thắng 6 năm liền (1969-1975). Đồng chí Trần Tấn Mới, phụ trách tổ Tiền Phong đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1973. Anh hùng Trần Tấn Mới không chỉ là một thuyền trưởng giỏi mà còn là một giao thông viên dày dặn kinh nghiệm với nhiều năm hoạt động trong vùng địch. Ngày nay, một con đường tại thành phố Đà Nẵng đã được đặt Tên ông: Trần Tấn Mới. Trước đó, ngày 28-5-1970, Đội Giao thông tình báo trên biển 128 cũng đã được nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Ông Trần Xuân Đích giới thiệu tấm ảnh chụp chung với Bác Hồ

Đồng chí Trần Việt Tám (81 tuổi), nguyên Thượng tá tình báo, phục vụ Đội thuyền 128 đã khóc khi nói với chúng tôi về đơn vị của ông. Trong suốt 19 năm đội giao thông tình báo trên biển đã lập nhiều chiến công, trải qua mọi khó khăn thử thách, giữ vững khí tiết người cách mạng nhưng cũng có những mất mát và hy sinh. Đã có 43 đồng chí bị địch bắt và tù đày, 10 đồng chí hy sinh để con đường giao thông trên biển thông suốt và hiệu quả. Sau ngày giải phóng, Đội thuyền 128 được giải tán, có người trở về quê hương, có người ly tán trên nhiều vùng miền của Tổ quốc, nên việc giữ liên lạc, ghi nhận chiến công, tri ân đồng đội còn nhiều hạn chế…Sau này khi tổ chức công nhận, thực hiện chế độ chính sách thì nhiều đồng chí đã không còn nữa hoặc mất liên lạc. Nhiều đồng chí còn sống nhưng mang trên mình thương tật hoặc có cuộc sống khó khăn, nhưng tất cả đều giữ trọn phẩm chất, đạo đức trong sáng, bản lĩnh vững vàng của người chiến sĩ đội thuyền anh hùng. Họ là những tấm gương sáng để cán bộ, chiến sĩ tình báo quốc phòng hôm nay học tập, noi theo.

Bài và ảnh: Hoàng Trường Giang
qdnd.vn

Mở đường vào Tây Bắc (Kỳ 1)

Kỷ niệm 60 năm trận Mộc Châu (11-1952 / 11-2012)

QĐND – Tháng 11-2012 là tròn 60 năm ngày quân đội ta đánh thắng trận Mộc Châu (Sơn La), mở đường lên chiến trường Điện Biên Phủ và vùng Thượng Lào. Mộc Châu hôm nay đã trở thành vùng đất trù phú, dân cư đông đúc và là vùng có nhiều tiềm năng du lịch của miền Tây nhưng chắc ít người biết tới trận đánh năm ấy. Tôi đã đi tìm gặp ông Đặng Văn Việt, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) năm xưa được giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị đánh trận Mộc Châu để nghe ông kể về chiến công cách đây hơn nửa thế kỷ…

Kỳ 1: Trọng điểm trên cao nguyên

Tôi đã từng viết câu chuyện về Sư đoàn 335 hành quân lên bảo vệ Mộc Châu và thành lập Nông trường Quân đội Cờ Đỏ năm 1955 để xây dựng miền đất này. Và hôm nay tôi gặp ông, để nghe ông kể về trận đánh phá tan khu vực phòng thủ Mộc Châu của thực dân Pháp, mở đường cho bộ đội và dân công tiến lên chiến trường Điện Biên Phủ, tiếp tế lương thực và chuẩn bị cho trận đánh quyết định 2 năm sau đó. Trong căn phòng tập thể chưa đầy 15m2, người lính già đã 93 tuổi vẫn hào sảng kể lại trận chiến năm ấy…

Khi đó phân khu Mộc Châu có một vị trí rất đặc biệt, nằm giữa Quân khu Tây Bắc, dưới Sơn La, trên Hòa Bình, án ngữ trục Quốc lộ 6 và ngã ba Pa Háng để sang Lào. Ông Việt nhấn mạnh, đồn Mộc Châu là hệ thống phòng thủ của Pháp với sự bố phòng đặc biệt khi nằm trên một núi đá tai mèo, có chiều dài gần 500m, vách đứng thành vại và được bố trí tới gần 100 hỏa điểm cố định thay cho lô cốt, 2 vạn quả mìn, 2.000 tấn dây thép gai rào thành nhiều tầng lớp… Ban ngày leo lên được núi còn khó, chưa nói gì tới ban đêm. Đồn Mộc Châu khi đó như một con nhím khổng lồ, húc vào là chỉ có chết. Đồn có một tiểu đoàn lính Thái, một đại đội biệt kích, quân số chừng 450 tên, được trang bị 2 đại bác 94mm, 2 cối 81mm, trọng liên 20mm, 2 đại liên, 27 trung liên… Trong số gần 100 hỏa điểm, mỗi hỏa điểm bố trí 2-3 người, có dự trữ đủ đạn dược, lương thực để chiến đấu lâu dài. Ngoài ra, địch chất dây thép gai thành 4 lớp bùng nhùng để không thể phá bằng bộc phá. Mìn được gài gắp nơi, trên các nẻo đường, trong vườn rau và cả trên lớp dây thép gai… Trên đỉnh núi, địa hình được san phẳng để làm đài quan sát, đặt trung tâm hỏa lực, thông tin và chỉ huy. Ngoài đồn chính, địch còn bố trí hai trạm tiền tiêu, mỗi trạm một tiểu đội là Pom Lót và Pom Thơm.

Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn 174 Đặng Văn Việt.

Đã 60 năm trôi qua, nhưng Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt vẫn nhớ rõ. Đời binh nghiệp của ông chỉ có 15 năm, ông đã chỉ huy đánh hơn 100 trận lớn nhỏ nhưng trận Mộc Châu với ông là một ký ức đặc biệt. Ông gọi đó là một trận đánh tuyệt đẹp. Khi ấy, người Trung đoàn trưởng mới 32 tuổi đã có biệt danh Hùm xám đường số 4. Trong chiến đấu, yếu tố bí mật, bất ngờ là vô cùng quan trọng, tuy nhiên ở trận Mộc Châu này không có nhiều điều bất ngờ. Chiến dịch mở ra từ ngày 13-10-1952 mà đêm 19-11-1952 ta mới công đồn, vì vậy trinh sát của địch đã theo dõi khá kỹ mọi động thái của quân ta. Điều bất ngờ ở đây, có chăng chỉ có thể là cách đánh sáng tạo mà thôi. Theo nhận định lúc bấy giờ của chúng ta, nếu không đánh được đồn Mộc Châu trong đêm 19-11-1952 thì những đêm sau khó mà đánh vì Pháp sẽ cho máy bay B26 ném bom làm tan tác cả núi rừng xung quanh, ta không còn chỗ trú ẩn mà tiếp tục công đồn…

Diệt đồn Ca Vịnh, Ba Khe, Thượng Bằng La

Người lính già đã sống gần trọn thế kỷ, nheo mắt nhìn ra ô cửa nhỏ của căn phòng tập thể đầy nắng thu. Có lẽ lúc này mọi ký ức của trận đánh cách đây hơn nửa thế kỷ đang ùa về với ông… Khi ấy Bộ Tổng tư lệnh chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc với mục đích tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng vùng Tây Bắc rộng lớn. Trận Mộc Châu là một trận then chốt của chiến dịch. Nếu đồn Mộc Châu không bị tiêu diệt thì coi như chiến dịch bế tắc, ta không thể khống chế đường số 6. Thế trận của địch vẫn vững chắc và chưa biết khi nào chúng ta mới giải phóng được Tây Bắc. Nếu ta không làm chủ được Mộc Châu thì hàng trăm xe vận tải chở đầy ắp gạo đang chờ ở Hòa Bình để lên tiếp tế cho cả vạn quân dân sẽ bị chặn lại. Và 15 ngày lương trên vai từng cán bộ, chiến sĩ, dân công sẽ cạn kiệt… Tư tưởng quân sự được xác định khi đó là “cưỡi lên đầu hổ – đánh từ nóc nhà đánh xuống”.

Trung đoàn 174 trước giờ xuất trận.

Trung đoàn 174 (E174) là một cánh quân chủ lực mạnh, nằm trong đội hình của Sư đoàn 316, được giao nhiệm vụ làm một mũi tiến công vào Tây Bắc từ hướng Yên Bái, đặc biệt là đánh đồn Mộc Châu. Thời điểm nhận nhiệm vụ, E174 đang đóng quân trên vùng Đông Bắc trung du (Mẹt – Bắc Giang) được lệnh hành quân qua Thái Nguyên, tập kết ở bến Âu Lâu (tả ngạn sông Thao, thuộc tỉnh Yên Bái). Việc chỉ huy hành quân của đơn vị được giao cho Chính ủy Chu Huy Mân (sau này là Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước), còn Trung đoàn trưởng tổ chức đi khảo sát thực địa và lo kế hoạch tác chiến. Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt khi ấy đã không ít lo nghĩ, suy tư bởi E174 từ khi thành lập (năm 1949) đến nay chỉ hoạt động trên chiến trường Đông Bắc, dọc đường số 4 theo biên giới Việt – Trung, nay lại được giao tác chiến trên một địa bàn hoàn toàn mới. Chính vì vậy đoàn trưởng đã tổ chức một đội trinh sát và đích thân dẫn đầu để thăm dò tình hình cũng như địa thế khu vực này. Sau đợt thực địa hơn chục ngày, Trung đoàn trưởng Việt xác định rõ, muốn tiếp cận Mộc Châu, trước tiên phải diệt các đồn tiền tiêu Ca Vịnh, Ba Khe và Thượng Bằng La. Oái oăm thay, đúng ngày định ra lệnh tiến công đồn Ca Vịnh đầu tiên thì hầu hết cán bộ chủ chốt của trung đoàn lăn ra sốt rét. Ngay cả Trung đoàn trưởng cũng nằm bẹp không dậy nổi. Vào thời điểm gấp rút, cam go ấy, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt đã quyết định vẫn phải đánh, ông yêu cầu quân y tăng liều thuốc cao chạy chữa cho cán bộ, còn riêng mình sử dụng lượng thuốc gấp đôi để đẩy lùi cơn sốt, cùng trung đoàn ra trận. Ngay sau đó, một số tiểu đoàn trưởng và chỉ huy đại đội chủ chốt gượng dậy được và bám lấy đơn vị. Trung đoàn trưởng vẫn chưa khỏe nhưng đã ngồi trên cáng để anh em khiêng tới vị trí chỉ huy trận đánh. Nhưng trên đường cáng ra trận địa, có những dân công nhìn thấy xì xào: “Thương binh mà lại cáng ra trận à?”. Sợ việc ngồi cáng sẽ ảnh hưởng đến tinh thần của bộ đội trước khi bước vào trận đánh nên Trung đoàn trưởng Việt đã cương quyết rời khỏi cáng, nhờ đồng chí cần vụ buộc mình vào lưng ngựa để đi… Nhưng ông chỉ trụ được trên lưng ngựa tới chân đồi thì phải xuống vì quá mệt. Quyết phải đi tới đích, ông tiếp tục yêu cầu hai chiến sĩ buộc dây vào thân người kéo lên dốc, hai chiến sĩ đẩy lưng đằng sau để tiến lên đỉnh đồi… Bằng cách ấy, người chỉ huy đã tiếp cận được trận địa để chỉ huy bộ đội tác chiến. Sau thắng lợi diệt đồn Ca Vịnh, bộ đội ta thu toàn bộ vũ khí quân dụng, bắt sống tên quan hai và 20 tù binh. Thắng lợi đó tạo đà cho Trung đoàn 174 tiêu diệt tiếp đồn Ba Khe và Thượng Bằng La, là những đồn tiền tiêu bảo vệ phía đông của Tây Bắc bị quét sạch. Niềm vui chiến thắng diệt 3 đồn địch liên tiếp đã thổi thêm sức mạnh cho bộ đội E174 đẩy lùi sốt rét, hành quân 3 ngày đêm để tiếp cận đồn Mộc Châu.

Người lính già Đặng Văn Việt cho biết: “Với cán bộ, chiến sĩ E174 chúng tôi khi đó, niềm vui và sự tự tin đầy ắp. Lần đầu tác chiến ở một địa bàn mới mà đã hoàn thành nhiệm vụ, diệt 3 đồn tiền tiêu của Tây Bắc. Đó là động lực lớn lao thúc giục chúng tôi hành quân nhằm đồn Mộc Châu thẳng tiến”. Sau khi hành quân tới Mộc Châu, Trung đoàn 174 đóng quân cách đồn địch khoảng 12km, trong khu rừng chuối ven Quốc lộ 6. Giữa núi rừng Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ, tại một lòng suối cạn trong khe núi, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt cùng các chỉ huy đơn vị Nguyễn Hữu An (sau này Thượng tướng, Giám đốc Học viện Quốc phòng), Lê Hoàn, Thanh Tâm, Lê Vũ, Đình Giang, Hùng Quốc… đã họp bàn để thống nhất phương án tác chiến…

———–

Kỳ 2: Công đồn Mộc Châu

Ghi chép của Hoàng Trường Giang
qdnd.vn

Ba mũi giáp công phá sập” ấp chiến lược”

QĐND – Bến Tượng (Bến Cát – Bình Dương) là ấp chiến lược “kiểu mẫu” trong quốc sách ấp chiến lược của Mỹ – Diệm có chu vi 8km, hệ thống hàng rào kẽm gai dày đặc. Địch quyết tâm xây dựng nơi đây thành nơi thí điểm kiểu mẫu cho cả miền Đông Nam Bộ nhằm kìm kẹp, kiểm soát chặt chẽ nhân dân, thực hiện “tát nước bắt cá”. Bảo vệ ấp là một trung đoàn chủ lực ngụy và 6 đại đội bảo an, dân vệ, công dân vụ và 70 liên gia trưởng. Tính trung bình một người dân thì có một tên địch kìm kẹp ngày, đêm, với cách đó chúng hy vọng tách dân ra khỏi cách mạng…

Phá ấp chiến lược ở Mỹ Xuyên (Sóc Trăng). Ảnh tư liệu.

Thực hiện nghị quyết của Khu ủy về việc phá ấp chiến lược Bến Tượng, Huyện ủy Bến Cát kiên quyết chỉ đạo thực hiện ba mũi giáp công, cán bộ cơ sở tích cực nắm dân, đẩy mạnh vận động quần chúng, nội công ngoại kích, sử dụng vợ con tề đánh tề, sử dụng gia đình binh sĩ vận động ra đào ngũ, đánh vào tâm lý, tình cảm binh lính địch ở cơ sở. Bộ đội, du kích đánh tiêu hao, kìm giữ quân chủ lực ngụy, trừng trị bọn ác ôn, đầu sỏ… Trong trận đánh phá đầu tiên ngày 9-8-1964, hơn 1000 người dân trong ấp đồng loạt biểu tình chống dồn dân lập ấp, đốt phá, đòi về quê cũ làm ăn… Giữa tháng 9-1964, ta tiếp tục đánh phá đợt 2, quần chúng sôi sục đấu tranh, đốt phá cả ấp cháy rừng rực… Sau 92 ngày đêm kiên cường đấu tranh với kẻ thù, 3000 dân được giải phóng.

Thắng lợi này đã khẳng định đường lối lãnh đạo sáng tạo, đúng đắn của Huyện ủy Bến Cát, phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân, nhất tề nổi dậy phá sập âm mưu thâm độc của địch, mở màn cho sự phá sản kế hoạch “ấp chiến lược” của Mỹ-Diệm.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Mở đường vào Tây Bắc (Tiếp theo và hết)

Kỷ niệm 60 năm trận Mộc Châu (11-1952 / 11-2012)

Kỳ 2: Công đồn Mộc Châu

QĐND – Sau khi diệt xong các đồn Ca Vịnh, Ba Khe, Thượng Bằng La, Trung đoàn 174 hành quân ròng 3 ngày đêm tiếp cận Mộc Châu với nhiệm vụ công đồn trọng điểm mở đường vào Tây Bắc. Núi rừng cao nguyên những ngày cuối năm 1952, sương mù, gió bấc, rét cắt da thịt nhưng không hề làm giảm đi chút nào khí thế tiến công của những người lính Cụ Hồ. Giữa rừng già hoang sơ, hùng vĩ, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt lại tập hợp các chỉ huy đơn vị nòng cốt để bàn kế hoạch tác chiến…

Đòn tấn công lúc nửa đêm

Người lính già nhớ lại, phía Việt Minh lúc đó lực lượng gồm Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) được phối thuộc thêm Tiểu đoàn 215, 439 của Trung đoàn 98 và Tiểu đoàn 888 của Trung đoàn 176. Ngoài ra có thêm một đại đội pháo 75mm, một đại đội cối 120mm… Tất cả nằm dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt. Quyết tâm đặt ra là phải nhổ kỳ được đồn Mộc Châu. Trong cuộc họp bàn giữa rừng ấy, người thì nêu ý kiến đánh 2 mũi, người đề xuất đánh 3 mũi… Sau khi để cán bộ phát biểu hết ý kiến, ông Việt mới đưa ra quyết định: “Chúng ta đã đi vòng quanh 4 phía của đồn Mộc Châu và thấy rằng khó đánh hơn cả Đông Khê. Với địa hình thành vại, nhiều hỏa điểm xung quanh, nếu đánh theo cách thông thường thì trung đoàn sẽ nướng hết quân. Nhưng đồn Mộc Châu có hình thù như một cây quần vợt, ta phải lợi dụng cái cán vợt mới xoay chuyển được tình thế. Tôi quyết định chỉ đánh một mũi, tất cả tập trung đánh từ cán quần vợt chọc thẳng lên đỉnh núi, chiếm trung tâm hỏa lực, thông tin, chỉ huy. Ta dùng chiến thuật từ nóc đánh xuống, gõ lên đầu các lô cốt gọi hàng, nếu địch không hàng thì dùng lựu đạn tiêu diệt. Các hướng đông, tây, nam ta chỉ dùng hỏa lực kiềm chế, nghi binh, không dùng bộ binh đột phá, xung phong. Nếu đồng chí nào không đồng ý, tôi cho bảo lưu ý kiến sau trận đánh sẽ phân giải”. Ngay sau đó, các đơn vị được phân công vào vị trí, Tiểu đoàn 249 đột phá ở hướng chính tiến lên chiếm lĩnh đỉnh đồi. Tiểu đoàn 255 và 251 ở hướng phụ, phòng bị và Tiểu đoàn 215, 439 tổng dự bị. Tiểu đoàn 888 chặn viện binh, chống nhảy dù.

Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt và Chính ủy Chu Huy Mân. Ảnh tư liệu.

23 giờ ngày 19-11-1952, từ trung tâm chỉ huy, Trung đoàn trưởng Việt hạ lệnh nổ súng bắt đầu trận đánh. Một đại đội của Tiểu đoàn 215 nhận nhiệm vụ sơ tán bà con dân bản ở khu tập trung ra xa đồn để tránh tên bay, đạn lạc và đề phòng địch sử dụng máy bay oanh tạc sau đó… Tất cả hỏa lực của trung đoàn dồn dập bắn theo hướng chính lên đỉnh đồi, hàng rào dây thép gai và mìn nổ tung trời… Các bộc phá viên tranh thủ thời cơ xông lên mở đường cho bộ binh xung phong. Ngay từ những phút đầu Tiểu đoàn 215 đã tiêu diệt được 2 trạm Pom Lót và Pom Thơm, lợi dụng vị trí cao, bố trí hỏa lực bắn vào đồn lớn. Ngay sau đó, Đại đội 1, Tiểu đoàn 249 xông thẳng lên chiếm đỉnh núi, đại đội trưởng cầm đèn pin quay mấy vòng báo hiệu cho sở chỉ huy. Trung đoàn trưởng Việt ra lệnh cho Đại đội 2, 3 xung phong lên thẳng vị trí đồn, bao vây trọng điểm này. Quan ba đồn trưởng Vincent bị bắt sống, nhưng địch vẫn chống cự quyết liệt. Từ các hỏa điểm đạn bắn ra như mưa, con nhím Mộc Châu đang xù lông tua tủa với hàng trăm ngàn mũi gai nhọn… Vào thời điểm này, Tiểu đoàn 249 đã cưỡi lên lưng cọp, không thể nào xuống nên lần theo các khe núi, tuột xuống từng lô cốt gọi hàng… Một số tên địch hoảng sợ, định vượt rào thoát ra khỏi đồn thì dính vào chính bẫy mìn của chúng, nhiều tên phơi xác trên hàng rào thép gai. Về phía ta cũng có một số đồng chí hy sinh, trong đó có Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 249 Khái Tâm. Anh đang nấp dưới bờ ruộng, vừa nhô đầu lên quan sát thì đã hứng trọn một băng liên thanh của địch…

Đến khoảng 2 giờ 30 phút sáng 20-11-1952, trận đánh kết thúc, quân ta đã toàn thắng, 450 tên địch của đồn Mộc Châu bị tiêu diệt và bắt sống không sót một tên. Ta thu toàn bộ trang bị, vũ khí của địch. 6 giờ sáng, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt lên đồn trực tiếp nghiên cứu cách bố phòng của địch, giữa làn sương mù ban mai Tây Bắc, quang cảnh núi rừng hiện ra hoang sơ, hùng vĩ.

Đúng như dự đoán của ta, 9 giờ sáng, 3 chiếc máy bay B26 của địch đã bay đến giội bom rải thảm làm kho thóc và nhà cửa trong đồn cháy ngùn ngụt. Do đã lường trước tình huống, nên bộ đội ta đã cơ động khỏi trận địa, đến nơi trú ẩn an toàn. Trận đánh đồn Mộc Châu phía ta thương vong 53 cán bộ, chiến sĩ. Cũng vào buổi sáng ấy, trong khi đang quan sát trận địa, Trung đoàn trưởng Việt bỗng nghe mấy tiếng mìn nổ dữ dội, nhìn về phía sau đã thấy mấy tên địch tìm cách chạy trốn bị vướng mìn chết ngay tại chỗ…

Đối thoại với Vincent

Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt xuất thân từ một gia đình có truyền thống hiếu học, lại được đào tạo tại Đại học Y Hà Nội (thuộc Đại học Đông Dương) nên ông có thể sử dụng thông thạo tiếng Anh và tiếng Pháp. Ngay từ ngày chỉ huy các trận đánh trên đường số 4, mỗi khi bắt được tù binh địch, ông đều trực tiếp thẩm vấn bằng tiếng Pháp. Sau trận Mộc Châu, ông đưa đơn vị về nơi trú quân và gọi quan ba Vincent (chỉ huy đồn Mộc Châu) đến để hỏi chuyện…

Mở cửa sổ căn phòng tập thể trên tầng 4, châm một điếu thuốc hút, người lính già nheo mắt nhớ lại buổi đối thoại cách đây 60 năm cũng bắt đầu như thế… “Tôi hỏi tỉ mỉ về quân số, vũ khí, cách bố phòng của đồn Mộc Châu. Vincent trả lời rất đầy đủ và lễ phép, có lẽ hắn cũng biết người đang ngồi trước mặt là ai. Tôi hỏi, ông có biết vì sao với cách bố phòng chắc chắn, với 2 vạn quả mìn, 2000 tấn dây thép gai, lại thêm một đại đội biệt kích, đồng thời biết trước Việt Minh sẽ tấn công mà các ông vẫn mất đồn? Vincent cúi gầm mặt một lúc rồi mới ngẩng lên nói: “Thưa ông, thám báo và biệt kích của tôi từ trên núi đã đếm được từng người của các ông. Tôi biết trước 100% Mộc Châu sẽ bị tấn công, chúng tôi đã bố trí phòng ngự chu đáo nên tin tưởng tuyệt đối là các ông không thể nào chiếm nổi Mộc Châu. Tôi hơn các ông về vũ khí trang bị, lợi thế, nhưng tôi thua các ông về chiến thuật và cách đánh. Ngay từ những phút đầu giao chiến, đỉnh núi đã bị chiếm, pháo đài tê liệt, tôi bị bắt sống thì làm sao chống cự nổi. Binh lính mất tinh thần hết cả rồi. Quá bất ngờ, quá bất ngờ”. Vincent ôm lấy đầu rồi gục xuống bàn như muốn khóc…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp gỡ cựu chiến binh Trung đoàn 174. Ảnh tư liệu.

Trung đoàn trưởng tiếp tục hỏi: “Anh có luôn giữ liên lạc với Hà Nội không? Bộ Tổng hành dinh đã có lệnh gì khi các anh bị tấn công?”. Vincent: “Tất nhiên là tôi phải giữ liên lạc thường xuyên với Hà Nội, ngay từ chiều hôm kia tôi đã nhận được điện báo rằng, Việt Minh chuẩn bị tấn công Mộc Châu. Bằng mọi giá phải giữ được đồn qua đêm, nếu qua một đêm Việt Minh không chiếm được Mộc Châu thì sẽ không thể nào chiếm được. Bộ Tổng hành dinh sẽ cho máy bay B26 ném bom oanh tạc, đẩy Việt Minh lui về sông Thao… Tôi đã không giữ được Mộc Châu, thật đáng buồn”. Sau cuộc gặp gỡ tôi cho Vincent một bao thuốc lá rồi bảo: “Bây giờ anh là tù binh chiến tranh, chúng tôi sẽ thi hành luật tù binh quốc tế. Anh phải chấp hành mọi luật lệ của trại. Không được trốn, Anh có nhiệm vụ vẽ lại sơ đồ trận địa mìn và giúp công binh Việt Nam tháo gỡ”. Vincent gật gật cái đầu rồi trả lời một cách ngổ ngáo: “Thưa ông, việc giữ tù binh là của các ông, còn việc tìm cách trốn là của chúng tôi”. Tuy nhiên hắn đã không kịp thực hiện lời nói đó, mấy hôm sau tôi được tin Vincent đã chết vì giẫm phải mìn trong khi đang đi hướng dẫn bộ đội ta dò gỡ mìn do chính hắn chỉ huy đặt…

Ngay sau trận đánh, hàng trăm xe vận tải chở đầy ắp gạo từ rừng Hòa Bình đã ngược lên Tây Bắc, tiếp tế kịp thời cho hàng vạn dân công và bộ đội đang áp sát đường số 6. Mộc Châu, một vị trí kiên cố vùng Tây Bắc thất thủ, các đồn bốt khác nghe tin hốt hoảng bỏ chạy như Yên Châu, Hát Lót, Cò Nòi… Lợi dụng tình thế, các đơn vị chủ lực của ta thừa thắng xông lên giải phóng Sơn La, Thuận Châu, Chiềng Đông… và sau này là Điện Biên Phủ. 60 năm đã trôi qua, bằng thời gian cả một đời người. Trung đoàn trưởng 174 năm ấy 32 tuổi nay đã sắp bước sang tuổi 93 những ông vẫn nhớ lắm. Ông nhớ trận đánh hào hùng, nhớ trung đoàn của mình, nhớ những đồng đội đã hy sinh, và cả những người đồng đội nay còn hay mất…

———-

Kỳ 1: Trọng điểm trên cao nguyên

Ghi chép của Hoàng Trường Giang
qdnd.vn

Hà Nội không khuất phục

QĐND – Để thoát khỏi tình thế bất lợi, cuối năm 1972, đế quốc Mỹ huy động đến mức cao nhất máy bay chiến lược B-52 đánh phá Hà Nội. Âm mưu của chúng là dùng sức mạnh B-52 đánh phá, hủy diệt để “răn đe”, gây sự khủng khiếp trong nhân dân, làm cho Hà Nội choáng váng, phải chịu khuất phục và nhượng bộ Mỹ trong thương lượng.

Để thực hiện mưu đồ đó, đế quốc Mỹ sử dụng đồng thời lực lượng lớn không quân chiến lược và toàn bộ lực lượng không quân chiến thuật, không quân hải quân triển khai ở khu vực Đông Nam châu Á. Trong 12 ngày đêm, từ ngày 18 đến 30 tháng 12 năm 1972, 663 lần/chiếc B-52 và 3.920 lần/chiếc máy bay chiến thuật của Mỹ đánh phá thủ đô Hà Nội – trung tâm lãnh đạo và trái tim của cả nước, không phân biệt mục tiêu quân sự hay dân sự, đánh phá bừa bãi vào vùng đông dân cư.

Xác máy bay B52 tại Bảo tàng Chiến thắng B52 (Hà Nội ). Ảnh: Internet

Theo số liệu thống kê, mỗi ki-lô-mét vuông ở Hà Nội đã có 68,5 tấn bom Mỹ đánh vào 830 điểm, hơn 1000 lần đánh vào các điểm dân cư, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội ở khắp 4 khu phố và 4 huyện, trong đó có 39 khối phố nội thành, 3 thị trấn và 78 trong số 102 xã ngoại thành. Nhiều nơi trên địa bàn Thủ đô bị địch đánh đi đánh lại nhiều lần đến mức san phẳng. Nhiều cơ sở kinh tế, công trình lợi ích công cộng bị đánh phá nặng nề. Trên địa bàn thành phố có 7 trong số 9 ga xe lửa bị phá hỏng, 4 trong 5 chiếc cầu và 4 trong 5 bến phà bị phá sập và hỏng nặng. Cảng sông Hồng, cảng duy nhất của Hà Nội không còn hoạt động được. Một phần ba trong số gần 200 nhà máy, xí nghiệp bị đánh, sản xuất ngừng trệ; 5 bệnh viện, 45 trường học từ mẫu giáo đến đại học, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam cùng nhiều cơ sở văn hóa, khoa học kỹ thuật bị phá hủy. Toàn thành phố có hơn 13.000 ngôi nhà, gần 50 đình chùa, nhà thờ cùng nhiều di tích lịch sử bị địch đánh phá. Có gần 15.000ha đồng ruộng bị bom cày xới. Mỹ hy vọng chiến dịch này sẽ “làm tê liệt đời sống hàng ngày của Hà Nội”.

Trong 12 ngày đêm ấy, sự tàn bạo hiểm độc gia tăng. Hàng đêm, hàng trăm máy bay B-52 và máy bay ném bom chiến đấu đã giội bom xuống những thôn xóm, chi chít như mắt lưới tại các vùng của thủ đô Hà Nội. Người ta khó có thể hình dung được hết tất cả những nỗi khủng khiếp, những cảnh tàn sát mù quáng nhưng cố ý, những cảnh làm con người bị tàn phế, đau đớn về thể xác và tinh thần mà những hành động này gây nên.

Tại khu vực Gia Lâm, trong 12 ngày bị đánh phá hủy diệt, 2.610 ngôi nhà bị phá hủy, hàng trăm người chết và bị thương, hơn 500ha ruộng bị cày xới do bom đạn, hàng chục ki-lô-mét đê, mương, máng bị bom Mỹ phá hủy… nhưng người Gia Lâm vẫn kiên cường bất khuất. Lực lượng cứu sập, cứu hỏa lao động quên mình dưới làn bom đạn địch. Cán bộ, công nhân viên các ngành thương nghiệp, ăn uống, giao thông vận tải… không quản ngày đêm phục vụ bộ đội, dân quân tự vệ và bà con khắc phục hậu quả.

Khu tập thể An Dương, nơi cư trú của những người lao động cũng bị máy bay Mỹ tấn công. Vệt bom B-52 kéo dài gần hai ki-lô-mét, rộng hàng trăm mét làm cho 47 dãy nhà ở cùng với hệ thống trường mẫu giáo mầm non, trường cấp 1, cấp 2, trạm y tế bị đổ sập. Bom Mỹ cướp đi sinh mạng của 174 người, trong đó có 5 phụ nữ mang thai, 5 gia đình bị chết cả nhà, 154 người bị thương.

Khu vực Yên Viên cũng bị đánh phá nặng nề, gần 5.500 quả bom các loại đánh thẳng vào 73 điểm dân cư, kinh tế, ga, cầu, đê điều… phá hủy 886 ngôi nhà, làm chết và bị thương 56 người. Ga Yên Viên và thôn Yên Viên bị phá hủy hoàn toàn. Tại xã Uy Nỗ, B-52 đã ném bom từ trận đầu tiên đến trận cuối cùng. Đây là một trong những nơi bị đánh phá nặng nề nhất, làm gần 1000 ngôi nhà bị bom phá hủy. Chỉ tính riêng thôn Cường Nỗ, kẻ thù tàn bạo đã trút xuống 2000 quả bom lớn. Trong 12 ngày đêm, chúng đã cho 22 đợt B-52 đánh 11 trận vào thôn, xóm, đồng ruộng, 80% số nhà cửa bị phá, phần lớn diện tích canh tác bị cày xới.

Ngay sau khi máy bay địch ngừng đánh phá, các lực lượng tại chỗ của quận cùng với các lực lượng của thành phố, của Bộ tư lệnh Thủ đô đã mang hết khả năng của mình tham gia cứu sập, cứu thương, đem lại cuộc sống cho rất nhiều người dân Khâm Thiên.

Theo các nhà sử học quân sự Mỹ, trong 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội, Mỹ đã tiến hành một cuộc ném bom rải thảm mà sự tàn phá lớn hơn sự tàn phá của các cuộc ném bom trong suốt cả cuộc chiến tranh từ trước cho đến lúc bấy giờ; khối lượng bom đạn ném xuống trong cuộc tập kích này tương đương với 5 quả bom nguyên tử Mỹ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945. Ních – xơn và các nhà chiến lược quân sự Mỹ tin chắc rằng, với sức mạnh tàn phá ấy, Hà Nội nhất định phải khuất phục.

Nhưng ngược lại, Hà Nội vẫn hiên ngang và bình tĩnh đánh trả từng đợt bom B-52 của kẻ thù. Bên cạnh đó, đế quốc Mỹ bị phản đối trong nước, bị cô lập trên trường quốc tế, gặp phải sự chống trả hiệu quả gây thiệt hại lớn cho lực lượng không quân chiến lược mà không thể buộc đối phương thay đổi lập trường. Vào ngày 30 tháng 12 năm 1972, Tổng thống Ních-xơn đã phải ra lệnh chấm dứt chiến dịch, đề nghị nối lại đàm phán tại Paris và cuối cùng nhanh chóng ký kết Hiệp định Paris trên cơ sở dự thảo mà phía Mỹ trước đó đã từ chối ký kết.

Bốn mươi năm đã trôi qua nhưng người dân sống ở Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai, ở Gia Lâm, Yên Viên hay Đông Anh… không quên những hình ảnh tang thương mà bom đạn của kẻ thù đã trút xuống. Bom B-52 rải thảm Hà Nội, máu rơi, nhà đổ, phố phường tan hoang… nhưng ở đó luôn hằn lên ý chí của người dân Thủ đô “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”./.

Tiến sĩ TRƯƠNG MAI HƯƠNG
qdnd.vn

Những liệt sĩ anh hùng trên mảnh đất Trà Vinh

QĐND Online – Những ngày mùa mưa (2012), nhận lời mời của Đại tá Di Thiện Tích, nguyên Quyền Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9 (Quân đoàn 4), chúng tôi về thăm quê anh tại xã Tân Hòa, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Vùng quê được bao bọc bởi sông nước bao la và những cánh đồng lúa xanh mơn mởn. Cuộc sống nơi đây thật thanh bình êm ả, không ô nhiễm khói bụi đô thành.

Từ UBND xã Tân Hòa, đoàn xe máy do con cháu anh Năm Tích chở chúng tôi dọc theo con đường làng quanh co nhưng đã được bê tông hóa. Vượt qua những cây cầu nhỏ bắc qua kênh rạch đến nhà cậu ruột anh Năm Tích. Đó là căn nhà tình nghĩa của ông Lâm Văn Huệ, cha của hai liệt sĩ. Ông Huệ đã trên 90 tuổi, vóc dáng cao gầy nhưng còn nhanh nhẹn và sáng suốt. Việc đầu tiên chúng tôi xin đốt nhang trên các bàn thờ, cầu xin ông bà và các liệt sĩ phù hộ cho chuyến thăm quê được bình an.

Đại tá Di Thiện Tích (áo xanh) cùng bạn bè và cán bộ xã, huyện

Được tin anh Năm Tích và bạn bè về thăm quê, ngoài tình thâm giao, cán bộ địa phương hết sức kính trọng và tự hào vì quá khứ tham gia cách mạng lập được nhiều kỳ tích của anh Năm Tích cùng những sự đóng góp vô cùng to lớn của anh cho quê hương nghèo hôm nay.

Chủ tịch UBND huyện, anh Nguyễn Minh Trung, lật đật đi xe gắn máy xuống ngay. Trước đó, chủ tịch, bí thư xã cùng bà con lối xóm đã có mặt đông đủ. Trong không khí ấm áp của gia đình, không phân biệt cấp bậc, chức vụ cùng chung ly trà, chén rượu. Câu chuyện quá khứ về những năm tháng chiến đấu ác liệt lại dần dần tái hiện. Tôi đã đi nhiều nơi nhưng chưa nơi nào Đảng với quần chúng, Chính quyền với dân thân thiết, chân thành như ở nơi đây.

Những năm 1930 vùng đất hoang hóa này được người dân tứ xứ đến lập nghiệp, khai hoang phục hóa tạo ra được những mảnh vườn, thửa ruộng. Từ cuộc sống nay đây mai đó dưới ghe, họ đến vùng đất này lập các xóm ấp và lao động miệt mài xây dựng quê hương. Khi đã có dân, có ruộng, có vườn là giặc Pháp nhòm ngó.

Không để mất không thành quả bằng mồ hôi, xương máu của mình, dân nghèo trong vùng một lòng theo Đảng. Ngọn cờ đỏ sao vàng tung bay nơi xa xôi hẻo lánh năm 1945 là niềm tự hào lớn nhất và cũng từ đây toàn dân tham gia kháng chiến chống Pháp trở lại xâm lược, thề quyết tử để bảo vệ xóm làng.

Anh Năm Tích là người được giác ngộ sớm, đảm nhiệm 2 chức vụ Xã đội kiêm công an xã. Tại vùng đệm này giặc Pháp mở nhiều đợt càn quyét nhưng không thể lập được Tề, Ấp, Đồn bốt. 9 năm gian khổ kháng Pháp thành công, theo lệnh trên anh Năm Tích lên đường ra Bắc.

Chính quyền Ngô Đình Diệm, tay sai Đế quốc Mỹ lại dày xéo quê hương, hàng loạt cuộc càn quyét, gom dân và trả thù khốc liệt nhữ người kháng chiến cũ. Trước âm mưu đen tối của Mỹ Ngụy, Đảng vẫn sống trong dân và chỉ huy những cuộc đấu tranh từ chính trị đến vũ trang.

Là địa phương không có đường giao thông trên bộ nên giang thuyền, tàu chiến giặc luồn lách bắn phá vô tội vạ. Với mấy chục nóc nhà và vài trăm con người vẫn kiên quyết bám trụ, một tấc không đi, một ly không rời. Càng đánh giặc, du kích và bộ đội địa phương càng trưởng thành. Lính Ngụy no đòn, giặc Mỹ trực tiếp nhảy vào tham chiến.

Ngoài sông là tàu chiến lớn nhỏ của địch đan xen, máy bay thả bom từ làng mạc đến ven sông. Ban ngày trực thăng thả quân Mỹ càn quyét, ban đêm trực thăng soi đèn suốt dọc bờ sông, kênh rạch bắn đạn như xạ lúa.

Đoàn đến thắp hương tại nghĩa trang liệt sĩ huyện Tiểu Cần

Ác liệt nhất là trận càn của Mỹ vào đầu tháng 10 năm 1966, với lực lượng hùng hậu, nhưng dân quân du kích Tân Hòa vẫn nổ súng ròn rã, thoắt ẩn thoắt hiện. Trực thăng đổ quân liên tục và cũng liên tục chở xác đồng bọn về tỉnh Trà Vinh. Cay cú vì tổn thất quá lớn, chúng đổ thêm nhiều lính Mỹ.

Sau nhiều ngày đêm kiên cường bám thắt lưng địch mà đánh, lực lượng du kích cũng bị thương vong nhiều. Tổ du kích Tân Hòa có 5 đồng chí : Lâm Văn Đặng (sinh năm 1944, đảng viên, du kích xã), Ngô Văn Chín (sinh năm 1937, phó ban binh vận xã), Phan Văn Kiểng (sinh năm 1943, Ấp đội trưởng ấp Chẻm, xã Tân Hòa), Lâm Văn Ven (sinh năm 1945, đảng viên, cán bộ tuyên huấn xã) và Trịnh Văn Oai (sinh năm 1942, du kích xã).

Sau khi quần thảo với địch nhiều ngày đêm, đến ngày 8/10/1966 thì 5 đồng chí tiếp cận căn chòi giữa cánh đồng giáp ranh 2 xã Tân Hòa và An Quảng Hữu để chờ thời cơ đánh địch. Trực thăng Mỹ đổ quân sát nách căn chòi, lính Mỹ hùng hổ tiến vào. Đồng chí Lâm Văn Đặng tung 2 trái lựu đạn tiêu diệt một số tên Mỹ.

Lính Mỹ sau phút hoảng loạn lại tổ chức tiến đánh vào tận bên trong căn chòi và trận đánh sáp lá cà không cân sức đã diễn ra. Vì sức lực gần cạn kiệt do bị thương tích kéo dài trong nhiều ngày nên 4 đồng chí đã bị quỵ ngã và tụi lính Mỹ đã chặt đầu, mổ bụng ngay cả 4 người : Đặng, Chín, Kiểng, Oai.

Trước tình thế không còn gì để mất, đồng chí Lâm Văn Ven tung 2 trái lựu đạn cuối cùng vào đội hình lính Mỹ. Nhiều tên Mỹ bị bắn tung lên trên trời và chết ngay tại chỗ, một số khác bị thương kêu khóc rầm trời. Những tên lính Mỹ còn lại xông vào bắn chết đồng chí Lâm Văn Ven. Những người dân đang làm ruộng núp gần đó, phần lớn là người Khmer, cũng bị lính Mỹ càn quét xả súng bắn chết, chỉ còn vài người may mắn trốn thoát.

Bọn lính Mỹ rút đi mang theo 4 cái đầu của Đặng, Kiểng, Chín, Oai và thả ra sông Cái (sông Hậu). Địa phương tổ chức cho ghe nhỏ ra vớt được đem về và gắn với thi thể của 4 liệt sĩ, sau đó làm lễ chôn cất cả 5 liệt sĩ.

Giờ đây 5 liệt sĩ đã ở trong nghĩa trang huyện Tiểu Cần bên tấm bia “Tổ Quốc ghi công” đứng sừng sững giữa nghĩa trang. Nhưng cha, mẹ, anh chị em và người dân Tân Hòa vẫn chưa thể quên nỗi đau này. Bác Lâm Văn Huệ vừa kể vừa lau nước mắt nhớ thương con. Đây là lần đầu tiên bác bình tâm kể lại và đưa ra một số kỷ vật của các con trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Tôi thoáng nhìn thấy mắt đồng chí Chủ tịch huyện đỏ hoe và đồng chí lặng lẽ, tay run run thắp nén nhang trước tấm ảnh vẽ lại của 2 liệt sĩ Lâm Văn Đặng, Lâm Văn Ven.

Câu chuyện của gần 60 năm trước được kể lại trong sự tĩnh mịch của làng quê anh hùng, của người cha anh hùng có hai con là liệt sĩ trong sự cảm phục và biết ơn của thế hệ sau.

Đoàn Hồng Cẩm (Trà Vinh, tháng 11/2012)
qdnd.vn

Chuẩn bị khẩn trương, bất ngờ công kích địch

QĐND – Chấp hành nghiêm Mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh và quán triệt sâu sắc tư tưởng “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, ngày 28-4-1975, Quân chủng Phòng không-Không quân đã sử dụng Phi đội máy bay A-37 (gồm 5 chiếc lấy được của địch), tổ chức trận đánh vào Sân bay Tân Sơn Nhất. Trận đánh đúng vào thời điểm quyết định nhất của cuộc chiến tranh, phá hủy 25 máy bay, cắt đứt cầu hàng không di tản của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, tạo nên tâm lý hoảng loạn, suy sụp trong nội bộ quân địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Thành công của trận đánh đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị cả lý luận và thực tiễn về nghệ thuật sử dụng lực lượng không quân trong chiến tranh nói chung, chiến dịch tiến công nói riêng. Đó là nghệ thuật lựa chọn đánh đúng mục tiêu hiểm yếu, đúng thời cơ; tinh thần tích cực chuẩn bị, chủ động, táo bạo, quyết thắng của Quân chủng Phòng không-Không quân và Bộ tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Bộ đội Sư đoàn 10 đánh chiếm Sân bay Tân Sơn Nhất trong Chiến dịch Hồ Chí Minh 4-1975. Ảnh tư liệu.

Để thực hiện thành công trận ném bom vào Sân bay Tân Sơn Nhất bằng chính máy bay thu được của địch, Quân chủng PK-KQ đã xác định quyết tâm chính xác, chọn mục tiêu là khu để máy bay chiến đấu trong Sân bay Tân Sơn Nhất. Đây là mục tiêu diện, dễ phát hiện và dễ đánh trúng, rất “nhạy cảm”; mục tiêu lại nằm gần khu vực tổ chức cầu hàng không di tản của Mỹ, quân đội Sài Gòn. Tiến công, đánh trúng mục tiêu này, ta đã trực tiếp đánh vào sức chiến đấu, vào khả năng và tinh thần chiến đấu của địch. Đánh vào đó không chỉ có tác dụng phá hủy máy bay, sát thương sinh lực, hạn chế, tiến tới cắt đứt khả năng chi viện hỏa lực đường không cho lực lượng phòng thủ trên các cửa ngõ tiến vào Sài Gòn, mà còn cắt đứt cầu hàng không di tản và tạo nên sự hoảng loạn về tổ chức chỉ huy, tinh thần quân địch, thúc đẩy nhanh tốc độ suy sụp, tan rã và tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển của Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Bằng sự chuẩn bị khẩn trương, tiến công bất ngờ, ta giành được thế chủ động công kích địch ngay từ đầu, làm cho chúng không có khả năng chống đỡ, phản kháng, mặc dù lực lượng bảo vệ, chiến đấu trong Sân bay Tân Sơn Nhất của địch đang còn nhiều. Phi đội Quyết thắng đã lựa chọn đường bay ven theo biển từ Phan Rang đến Hàm Tân, qua sông Nhà Bè để vào đánh Sân bay Tân Sơn Nhất, vừa tránh được lưới lửa phòng không, vừa tạo yếu tố tiến công bất ngờ, đạt hiệu quả cao. Khi máy bay của ta đã bổ nhào cắt bom, đánh phá vào mục tiêu, địch vẫn tưởng là máy bay của chúng, nên không kịp có hành động nào để đối phó.

Sử dụng lực lượng hợp lý, linh hoạt, sáng tạo, táo bạo “lấy vũ khí địch đánh địch” là bước phát triển rất lớn của nghệ thuật sử dụng lực lượng không quân trong chiến dịch. Bài học kinh nghiệm lịch sử của trận ném bom đánh phá Sân bay Tân Sơn Nhất của Phi đội Quyết thắng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị; đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu và vận dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với điều kiện mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện đại.

TS HOÀNG VĂN QUÝ
qdnd.vn

Hồi ức Việt Nam của một cựu chính khách Mỹ

QĐND – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973/27-1-2013), Việt Nam vui mừng được chào đón những người bạn quốc tế đã từng hết lòng ủng hộ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta, cùng nhau chia vui, ôn lại kỷ niệm về một thời hào hùng. Trong đó, hình ảnh một người đàn ông ngoại quốc lớn tuổi, dáng người cao, gầy, mỗi bước đi luôn phải có người dìu đỡ, đặc biệt gây ấn tượng cho những người từng gặp mặt.

Mối duyên gắn bó với Việt Nam

Nhân cuộc giao lưu “Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn” hồi cuối tháng 1 vừa rồi, cựu Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Rem-xi Clác, giờ ở tuổi 86, đã kể cho tôi nghe về “mối duyên” gắn bó của ông với Việt Nam.

Ông Rem-xi Clác (bên phải) và các bạn bè quốc tế tham dự lễ trồng cây ngày 25-1. Ảnh: Mạnh Lâm

Rem-xi Clác (Ramsey Clark) từng làm Bộ trưởng Tư pháp Mỹ từ năm 1967 đến năm 1969 dưới thời Tổng thống Giôn-xơn (L.B. Johnson). Sau khi rời bỏ chính quyền, Rem-xi Clác quyết định tham gia vào phong trào phản chiến, yêu cầu chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Năm 1970, ông đã cùng vợ sang Pa-ri, gặp phái đoàn đàm phán của Việt Nam để tìm hiểu về thực tế Việt Nam. Vì nhiều lý do, đến tháng 8-1972 ông mới có cơ hội sang thăm Việt Nam lần đầu tiên với mục đích tìm hiểu tình hình thực tế của cuộc chiến nhằm kêu gọi sự ủng hộ đối với nhân dân Việt Nam. Mặc dù trước đó chưa từng một lần đặt chân đến Việt Nam, nhưng bản thân ông Rem-xi Clác lại “phải lòng” dải đất hình chữ S qua những cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường chống Pháp, chống Nhật trước đó, để rồi từ đây, ông đã lên tiếng chống lại cuộc chiến tranh do Chính phủ Mỹ phát động. “Người dân Việt Nam đã chịu đau thương, mất mát quá nhiều trong kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật. Cuộc chiến mà chính quyền Mỹ phát động lại gieo rắc thêm nỗi đau cho dân tộc này, tôi không muốn điều đó tiếp tục xảy ra”, ông Rem-xi Clác chia sẻ.

Rem-xi nhớ lại, khi ấy, cảnh tượng đập vào mắt ông là nhà cửa, trường học, bệnh viện đổ nát do bị Mỹ ném bom. Ông cũng có cơ hội ghi lại nhiều hình ảnh rất đỗi giản dị về Việt Nam như đê sông Hồng hay cảnh người dân đang lao động. Để rồi, trở về Mỹ, bài báo và những bức ảnh của ông đã giúp đông đảo người Mỹ hiểu rằng hệ thống đê của Việt Nam không phải là những cơ sở quân sự như chính quyền Mỹ vẫn rêu rao. Bài báo đã thức tỉnh dư luận Mỹ và cuối cùng kế hoạch ném bom đê sông Hồng của quân đội Mỹ buộc phải hủy bỏ.

Trong chuyến đi này, hình ảnh một em bé gái ở một làng chài vẫn mãi in sâu trong trí nhớ của ông. Chuyện là khi được ông hỏi về ước muốn tương lai của mình, em bé ấy đã trả lời một cách mau lẹ, không đắn đo rằng muốn làm bộ đội. Câu nói của em khiến người cựu chính khách ấy phải day dứt. “Tôi tự hỏi chiến tranh đã gây ra những gì cho bọn trẻ? Cô bé không có ước mơ làm bác sĩ, giáo viên, kỹ sư như bao bạn bè cùng tuổi khác, bởi chúng còn phải bảo vệ quê hương”, Rem-xi nhớ lại.

Bức tranh ẩn ý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Có lẽ một dấu ấn khó phai nữa đối với ông Rem-xi Clác trong chuyến đi tháng 8 năm ấy chính là món quà do Thủ tướng Phạm Văn Đồng trao tặng. Món quà được ông xem như báu vật ấy là một bức tranh sơn mài, với hình ảnh cây xanh trên nền màu đỏ mà theo ông, mang đầy dụng ý nhân văn của Thủ tướng. “Cuộc chiến tranh của chính quyền Mỹ đã tàn phá nghiêm trọng cả con người lẫn cỏ cây vùng đất này, thế nhưng từng cây xanh non, từng thế hệ người dân Việt Nam vẫn tiếp tục hồi sinh mãnh liệt trên “vũng máu màu đỏ”, kiên cường chiến đấu vì nền độc lập, tự do”, ông cắt nghĩa hàm ý ẩn chứa bên trong bức tranh.

Việc được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đón tiếp và tặng tranh đã xua tan nỗi lo trước đó trong ông. Trước khi đến Việt Nam, ông vẫn mang trong mình một nỗi băn khoăn liệu rằng chính quyền Mỹ đang gây tội ác tày trời như thế ở Việt Nam thì chính phủ và nhân dân nơi đây có chào đón sự hiện diện của ông hay không? “Người Việt Nam đấu tranh vì công lý và họ luôn chào đón những ai đứng về lẽ phải. Tôi cảm phục và hết sức vui mừng vì điều đó”, ông kể với đôi mắt ngấn lệ.

Giờ đây khi đã ở vào cái tuổi xưa nay hiếm, sức khỏe không còn được tốt như xưa, thế nhưng người cựu chính khách ấy vẫn không quản ngại đường xa nửa vòng trái đất, quay trở lại Việt Nam để cùng nhớ lại thắng lợi 40 năm về trước của nhân dân Việt Nam. Ông tích cực tham gia nhiều hoạt động kỷ niệm, trong đó có lễ trồng cây ở Công viên Hòa Bình, Hà Nội. Có vẻ như hàm ý trong bức tranh sơn mài ấy vẫn luôn thường trực trong trí nhớ của ông. Vì vậy mà tại buổi lễ này, đích thân ông đã bổ từng nhát cuốc, xới đất vun trồng một cây xanh. Với ông, cây xanh không chỉ là biểu tượng của sự sống, phát triển và hòa bình. “Hàng triệu cây xanh đã bị tàn phá trong chiến tranh Việt Nam. Tôi trồng một cây xanh hôm nay là vì muốn mọi người nhớ đến sự tàn khốc của chiến tranh, từ đó hãy cùng nhau chung sống hòa bình”, ông Rem-xi Clác nói. Một hành động nhỏ nhưng lại chất chứa một ý nghĩa nhân văn sâu sắc và lớn lao.

LÂM TOÀN
qdnd.vn

Đấu tranh vũ trang kết hợp nổi dậy của quần chúng

QĐND – Trước âm mưu mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh “chiến tranh cục bộ”, đưa quân Mỹ vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường, đầu năm 1964, Tỉnh ủy Phú Yên chủ trương lãnh đạo đẩy mạnh phong trào cách mạng ở các địa phương. Huyện ủy huyện Tuy Hòa củng cố vững chắc cấp ủy các cấp, làm nòng cốt để xây dựng lực lượng vũ trang, đoàn thể quần chúng; đẩy mạnh chiến tranh du kích; đấu tranh chính trị, binh vận, địch vận với phương châm “tiến công bằng 2 chân, 3 mũi giáp công”, mở rộng vùng giải phóng ven biển Tuy Hòa, tạo căn cứ “lõm” nhận vũ khí, chi viện từ miền Bắc vào Vũng Rô…

Du kích xã Hòa Hiệp (Tuy Hòa) phá ấp chiến lược của địch. Ảnh tư liệu.

Tháng 9-1964, Huyện ủy Tuy Hòa chọn xã Hòa Bình làm điểm đẩy mạnh phong trào cách mạng để rút kinh nghiệm và phát triển ra các địa phương khác. Sau khi nghiên cứu nắm chắc tình hình và quy luật hoạt động của địch, ta chủ trương sử dụng một trung đội bộ đội địa phương phối hợp với du kích luồn sâu vào cầu Bá Nhún (thôn Phước Nông, Hòa Bình) phục kích diệt gọn trung đội dân vệ của địch, kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng, giành chính quyền…

Công tác chuẩn bị cho trận đánh chu đáo. Ta bố trí lực lượng bí mật chờ địch. Đến 16 giờ ngày 17-9-1964, trung đội dân vệ địch đi tuần tra từ Mỹ Lệ, Phước Mỹ xuống; đến cầu Bá Nhún lọt vào trận địa phục sẵn của ta. Bị đánh bất ngờ, địch chống trả yếu ớt, ta tiêu diệt gọn 20 tên địch, thu 12 súng… Chớp thời cơ, chi bộ Đảng lãnh đạo các đoàn thể và quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ cùng với bộ đội và du kích truy tróc tề, ngụy, ác ôn. Thắng lợi ở xã Hòa Bình thúc đẩy các địa phương ở Tuy Hòa đẩy mạnh chiến tranh du kích, bám đánh khắp nơi, kết hợp đấu tranh chính trị, làm chủ địa bàn. Địch cho quân xuống càn quét, đánh phá, Đại đội 83 bộ đội địa phương và du kích đã bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch. Du kích các xã Hòa Hiệp, Hòa Xuân cùng với công binh của huyện đội đặt mìn ngăn chặn, phá hủy đường giao thông, đường sắt, buộc địch phải bỏ ga Hảo Sơn, Đèo Cả. Phát huy đà thắng lợi, Huyện ủy lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị trực tiếp với địch, phá tan hệ thống ấp chiến lược, giải phóng hoàn toàn 7 xã: Sơn Thành, Hòa Phong, Hòa Thịnh, Hòa Mĩ, Hòa Đồng, Hòa Tân, Hòa Bình…

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn