Thư viện

Lời cảm ơn đồng bào

Nhân dịp Tết, đồng bào từ Nam chí Bắc, cá nhân và đoàn thể, các cụ già và các trẻ em, các đồng bào dân tộc thiểu số, các kiều bào ở Lào, ở Xiêm và ở Trung Quốc, đã gửi cho hơn hai nghìn bức điện và thư để chúc tôi nǎm mới.

Lại có người gửi cho cam, mứt, bánh chưng, dưa cải, mùi soa, v.v..

Tiếc vì bận việc không thể cảm ơn từng người, tôi xin tất cả đồng bào nhận lời cảm ơn chung với lòng thân ái của tôi.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 163, ngày 14-2-1946.
cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXX)

Đi dạo rừng montmorency – đi thǎm Giáo sư Rivet, Bộ trưởng Moutet.

Ngày 30 tháng 7

Sáng 6 giờ, Cụ Chủ tịch cùng anh em đi dạo rừng Montmorency. Mặt giời đỏ chói như một mâm bồng lửa chiếu vào các đám mây đỏ đỏ, hồng hồng. Paris còn đương ngủ. Đứng trên rừng trông xuống, thấy kinh đô Pháp như một bức tranh khổng lồ. Trong cuộc chiến tranh vừa qua, kinh đô các nước Âu châu như Luân Đôn của Anh, Bá Linh của Đức, Vácxôvi của Ban Lan, v.v. đều bị tàn phá nhiều. Chỉ có Paris may mà không bị tổn hại. Nghe nói trước khi Đức sắp kéo đi khỏi Paris, họ đã đặt địa lôi các nơi dự bị làm nổ tung cả thành phố. Sau hình như quân đội Pháp và Đồng minh kéo đến chóng quá (18-8-44), người Đức không kịp phá thành phố. Đó là một việc may mắn cho dân Pháp. Mà cũng là may mắn cho thế giới, vì Paris chứa nhiều vật báu của vǎn hoá loài người.

Trong rừng này có một cây gỗ dẻ rất to, đẹp nhất nước Pháp. Thân cây tròn, bốn nǎm người ôm mới xuể. Quá mặt đất một chút có cành xoè ra như gọng ô khổng lồ. Lá xanh và rậm sum suê, đứng xa trông như một mâm xôi. Ai đi đến đấy, cũng muốn trèo lên cành ngồi một chút mới bằng lòng.

12 giờ, ông Bernard mời Cụ Chủ tịch ǎn cơm. Nhân dịp đó có ông chủ bút báo “Le Combat” (Chiến đấu) đến thǎm Hồ Chủ tịch. Ông Bernard chỉ có một người con giai đi đánh Đức bị tử trận. Người con dâu bị Đức bắt cầm tù 3, 4 nǎm.

3 giờ, Cụ Chủ tịch đi thǎm giáo sư Rivet. Giáo sư có hẹn với Chủ tịch Cộng hoà Tây Ban Nha, hai ba vị vǎn sĩ Pháp và hai ba nhà chính trị Mỹ đến chào Hồ Chủ tịch.

5 giờ, Tổng thư ký Hội Thanh niên Cộng hoà Pháp và vợ đến chào và tặng hoa Cụ Chủ tịch.

6 giờ chiều, Cụ Chủ tịch đi thǎm Bộ trưởng Moutet.

Chiều tối, Cụ mới trở về nhà.

Hôm nay, vì đi nhiều mỏi mệt, đêm ngủ Cụ Chủ tịch nói mê. Mấy anh em công nhân gác trong nhà mang máng nghe thấy tiếng, tưởng có chuyện gì, lặng lẽ cầm đòn vác súng đi lùng khắp nơi. Sau biết là Cụ nói mê anh em mới yên lòng.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (VII)

Cụ chủ tịch tiếp các nhà báo, các nhà nhiếp ảnh và các nhà chiếu bóng –
những vị trọng yếu trong 3 chính đảng lớn nhất ở Pháp đến thǎm Hồ Chủ Tịch.

Ngày 25 tháng 6

6 giờ sáng, Cụ Chủ tịch và anh em tuỳ tùng đi thǎm mộ ông Khánh Ký.

Ông Khánh Ký là một người chụp ảnh có tiếng, trước có quen Cụ Phan Chu Trinh và nhiều nhà cách mạng Việt Nam ở Pháp. Tháng trước, ông Khánh Ký có gửi thơ tỏ ý muốn về nước và Cụ Chủ tịch cũng định giúp cho ông về. Chẳng may, trước mấy hôm phái bộ ta đến Pháp thì ông mất.

5 giờ chiều, Cụ Chủ tịch tiếp các nhà báo. Hơn 100 đại biểu các báo Pháp và báo ngoại quốc, nam có, nữ có, lại có nhiều nhà chụp ảnh và chiếu bóng. Có những người viết báo nổi tiếng như bà Tabouie Genevière, bà Simone Téry, ông Baillet, v.v..

Sau khi mời các nhà báo ǎn bánh và uống trà, Cụ Chủ tịch nói đại ý cảm ơn Chính phủ và nhân dân Pháp đã đón tiếp Cụ long trọng, thân mật; cảm ơn các báo tỏ tình thân thiện. Trước khi chưa chính thức gặp Chính phủ Pháp thì Cụ chưa tiện nói nhiều về chính trị. Chỉ có thể nói chung một câu là dân Việt Nam đòi thống nhất và độc lập.

Các nhà báo chuyện trò vui vẻ trong một tiếng đồng hồ.

Chiều 7 giờ, Cụ Chủ tịch tiếp các nhà lãnh tụ Đảng M.R.P (Đảng Cộng hoà bình dân, tức là Đảng của Thủ tướng Bidault): ông Francis Gay, Bộ trưởng, ông Michelet, Bộ trưởng, ông Schumann, Chủ tịch đảng và những uỷ viên Trung ương như: ông Collie, ông Gortès, ông Debay, ông Amaury, ông Terrenoire, ông Max André v.v..

Các báo đǎng tin rằng giấy bạc nước Hongrie mất giá đến nỗi người ta lấy giấy bạc 1000 làm đóm hút thuốc!

Vua Cao Mên là Sihanouk qua Pháp tháng trước, hôm nay từ giã Paris, trở về nước.

Ngày 26 tháng 6

7 giờ sáng, Cụ Chủ tịch đi thǎm anh em phái bộ ở lữ quán Sainte Anne và Louvre.

10 giờ, các đại biểu Liên đoàn ái hữu người Việt ở Marseille, Bordeaux, Toulouse và các tỉnh khác đến chào Hồ Chủ tịch và báo cáo tình hình của kiều bào ở Pháp.

5 giờ chiều, luật sư Bloncourt đến thǎm Cụ Chủ tịch. Ông Bloncourt là người da đen ở xứ Martinique. Tuy ông là dân Tây, có vợ Pháp, làm ǎn rất phát đạt, nhưng ông vẫn ra sức tranh đấu bênh vực cho các thuộc địa. Ông thường viết báo ủng hộ nước ta.

8 giờ, các vị lãnh tụ Xã hội Pháp đến thǎm Cụ Chủ tịch. Có bà Marty Capgras, Bộ trưởng Philip và Bộ trưởng Moutet, nghị viên Lussy, bác sĩ Boutbien, vǎn sĩ Rosenfeld, và những Trung ương uỷ viên Dechezelles, Roux, Stible, v.v.. Chuyện trò vui vẻ, 11 giờ khuya khách mới ra về.

Ngày 27 tháng 6

6 giờ sáng, đi dạo rừng Boulogne, quay về Trocadéro. Trocadéro xây đắp rất nguy nga. Một bên là Viện khảo cổ về loài người, một bên là Viện khảo cổ hải quân. Giữa là vườn rộng, có hồ nước. Đứng ở giữa sân trông thẳng ra thì thấy tháp sắt Eiffel và cả vùng chung quanh đó. Phong cảnh rất đẹp.

Trở về lữ quán, có mấy nhà báo đến xin chụp ảnh Hồ Chủ tịch.

1 giờ trưa, ông Sainteny mời Cụ Chủ tịch đến ǎn cơm ở nhà riêng ông ấy. Có 4-5 người Pháp chuyên môn về kinh tế ở nước ta, cũng đến ǎn cơm và nói chuyện. Họ đều tán thành hai bên Việt Pháp cộng tác một cách thật thà thì có ích cho cả đôi bên.

8 giờ chiều. Những vị trọng yếu trong Đảng cộng sản Pháp đại biểu cho 50 vạn đảng viên đến thǎm Hồ Chủ tịch.

Có các bà: Braun, Phó Chủ tịch Quốc hội, Jeannette, nghị viên, Vaillant Couturier, nghị viên, vợ chồng cụ Cachin.

Các ông: Thorez, Phó Chủ tịch Chính phủ Pháp, Duclos, Phó Chủ tịch Quốc hội, Marty, Trung ương uỷ viên, Mauvais, Trung ương uỷ viên, Billoux, Bộ trưởng Bộ Kiến thiết, Tillon, Bộ trưởng Bộ Quân khí.

Thế là trong mấy hôm nay, những người trọng yếu trong 3 đảng to nhất ở Pháp: Đảng Cộng hoà (M.R.P), Đảng Xã hội (S.F.I.O) và Đảng Cộng sản (P.C) đều có đến thǎm Hồ Chủ tịch.

Đ.H

cpv.org.vn

Công việc khẩn cấp bây giờ

KHÁNG CHIẾN VÀ KIẾN QUỐC

Một mặt phá hoại

Một mặt kiến thiết

Phá hoại để ngǎn địch

Kiến thiết để đánh địch

Hai việc đều phải có người, có nhiều người.

Người về quân sự: – Tổ chức bộ đội (tự vệ, dân quân)

– Chỉ huy bộ đội (tự vệ, dân quân)

– Làm khí giới

– Cung cấp lương thực.

Người về kinh tế: – Tǎng gia sản xuất (gạo, muối)

– Mua bán

– Thủ công nghệ (vải, giấy, v.v.)

– Vận tải.

Người về chính trị: – Tuyên truyền

– Tổ chức

– Huấn luyện

– Động viên dân chúng.

Người về giao thông: Mục này nói riêng, phải đặc biệt chú ý. Vì giao thông là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì các việc đều dễ dàng. Giao thông xấu thì các việc đình trễ.

Người ở đâu ra?

1. Là các đảng viên nam nữ hiện có.

2. Trong lúc này tỏ ra nhiều phần tử hǎng hái, hoặc trong lúc chiến đấu, hoặc trong công việc khác. Phải ra sức kéo họ. (Phải làm khéo, vì có người hǎng hái, nhưng không tán thành Đỏ).

3. Phải chọn một số khá đông thanh niên, để huấn luyện họ, đào tạo họ.

Đảng viên – Cần phải rửa sạch những thói hẹp hòi, phu diễn 1 , tự đại, ỷ lại, lười biếng, nhút nhát, hủ hoá.

Cần phải kỷ luật, hoạt bát, siêng nǎng, dũng cảm, có sáng kiến, làm kiểu mẫu.

Trước hết phải ǎn ở làm sao cho dân phục, dân yêu, dân nghe.

Đó là các bảo đảm cho thắng lợi.

TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN

Ta phải hiểu và phải cho dân hiểu rằng: Cuộc kháng chiến sẽ rất gay go cực khổ.

Dù địch thua đến 99%, nó cũng rán sức cắn lại. Vì nó thất bại ở Việt Nam, thì toàn bộ cơ nghiệp đế quốc nó sẽ tan hoang.

Vì vậy, nó sẽ đem rất nhiều viện binh (cũng không quá số 10 vạn) tàu bay xe tǎng. Nó sẽ tàn phá khủng bố rất dữ dội. Mục đích là mong làm cho dân ta hoảng sợ, do hoảng sợ đến đầu hàng.

Nhưng ta phải hiểu: Lực lượng địch chỉ có chừng ấy thôi. Ta kiên quyết chống chọi cho qua giai đoạn “chớp nhoáng” đó, thì địch sẽ xẹp, ta sẽ thắng.

Vì vậy, ta phải có, và phải làm cho dân ta có Tín tâm và Quyết tâm. Dùng lời lẽ giản đơn, rõ rệt mà giải thích cho quần chúng. Cố rán sức qua khỏi mùa đông lạnh lẽo, thì ta sẽ gặp mùa xuân. Qua khỏi trận khủng bố ráo riết của địch, thì ta sẽ thắng lợi.

*

*      *

Tổ chức du kích khắp nơi.

Tǎng gia sản xuất khắp nơi.

Dù phải rút khỏi các thành phố, ta cũng không cần.

Ta sẽ giữ tất cả thôn quê.

Khi chỉ có hai bàn tay trắng, với một số đồng chí bí mật, leo lói trong rừng, ta còn gây nên cơ sở kháng Nhật, kháng Pháp. Huống gì bây giờ, ta có quân đội, có nhân dân. Nam Bộ, địa thế khó, chuẩn bị kém, mà kháng chiến đã hơn một nǎm. Ta địa thế tốt, lực lượng nhiều hơn, nhất định kháng chiến được mấy nǎm, đến thắng lợi.

Viết ngày 5-11-1946.
Bút tích lưu tại Bảo tàng
Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Trả lời thư phản kháng của Thượng sứ Pháp

Uỷ ban hành chính lâm thời Nam Bộ thành lập từ tháng 8 nǎm 1945, dưới quyền chỉ huy của Chính phủ trung ương và vẫn tiếp tục làm việc tới ngày nay. Uỷ ban đó lại đã từng giao thiệp chính thức với các nhà cầm quyền quân sự Đồng minh và Pháp hồi tháng 10 nǎm ngoái.

Việc ở Nam Bộ vừa có một quân đội chiếm đóng, vừa có các cơ quan hành chính và quân sự Việt Nam đã được bản Hiệp định sơ bộ 6-3 và bản Tạm ước 14-9 công nhận. Theo các bản thoả hiệp đó thì tình hình Nam Bộ phải để nguyên cho đến ngày trưng cầu dân ý.

Chính phủ Việt Nam có thể nói chắc với Ngài rằng những sự hoạt động của Uỷ ban hành chính lâm thời Nam Bộ cũng như các cơ quan quân sự Việt Nam, chỉ là để đi đến sự thi hành triệt để các điều khoản về chính trị và quân sự của khoản 9 trong bản Tạm ước nói về Nam Bộ và chỉ có thể giúp cho chính sách hợp tác thân thiện mà cả hai Chính phủ ta đều mong muốn có thể thực hiện dễ dàng.

Hồ Chí Minh

Viết ngày 9-11-1946.
Báo Cứu quốc, số 401,
ngày 10-11-1946.
cpv.org.vn

Gửi nhi đồng Xã Ba, Lao Cai

Các cháu yêu quý,

Bác đã nhận được thư và hai cái gậy roi. Cảm ơn các cháu.

Tuy Bác ở xa, nhưng lòng Bác nhớ đến các cháu luôn luôn.

Bác khuyên các cháu giữ gìn kỷ luật, và ra sức học hành.

Cháu nào chưa biết chữ quốc ngữ, phải học cho biết.

Cháu nào biết rồi, thì gắng giúp anh em chị em học cho biết.

Làm sao cho đồng bào ở Xã Ba ai cũng biết chữ quốc ngữ, thì Bác sẽ vui lòng và khen các cháu ngoan.

Bác thay mặt cho anh chị em nhi đồng Hà Nội, gửi lời thân ái thǎm các cháu.

Hà Nội, ngày 19 tháng 11 nǎm 1946
Bác Hồ

Báo Cứu quốc, số 411,
ngày 20-11-1946.
cpv.org.vn

Tìm người tài đức

Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức.

E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận.

Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền nǎng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết.

Báo cáo phải nói rõ: tên tuổi, nghề nghiệp, tài nǎng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó.

Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ.

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 411,
ngày 20-11-1946.
cpv.org.vn

Gửi đồng bào Việt Nam, người Pháp và người thế giới

Cùng đồng bào Việt Nam,

Cùng người Pháp và người thế giới,

Vì vâng lệnh Chính phủ, mà nhân dân Việt Nam sẵn sàng cộng tác thật thà với nhân dân Pháp.

Vì hiểu rõ đại nghĩa, mà nhân dân Pháp mong muốn cộng tác thật thà với nhân dân Việt Nam.

Vì tôn trọng chữ ký, mà Chính phủ Việt Nam ra sức thực hành một không khí thân thiện. Tiếc vì một đôi nơi, như ở miền Nam nước Việt, ở Hải Phòng và Lạng Sơn, một số người Pháp không hiểu tâm lý dân Việt Nam, không làm theo ý nguyện dân Pháp, đã gây nên những cuộc xung đột đổ máu giữa hai bên.

Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh.

Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong.

Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người.

Trong hai cuộc đại chiến, Pháp hy sinh hàng triệu người, để chống bọn xâm lǎng, để tranh lại quyền thống nhất, độc lập.

Nước Pháp cách Việt Nam muôn dặm, Việt Nam thống nhất độc lập có động chạm gì đến người Pháp mà người Pháp lại muốn cản trở Việt Nam. Người Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh và cộng tác với những người sĩ nông công thương Pháp qua đây làm ǎn. Những lợi ích hợp lý về tiền tệ và vǎn hoá của người Pháp ở đây sẽ được Việt Nam bảo vệ. Những người Pháp không muốn ai phạm đến chủ quyền mình thì phải tôn trọng chủ quyền Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam đã ký Tạm ước với Chính phủ Pháp thì Chính phủ và nhân dân Việt Nam quyết làm đúng theo Tạm ước đó.

Đồng thời Chính phủ và người Pháp cũng phải làm theo Tạm ước đó. Đó là lợi ích cho cả hai bên.

Chính phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết cộng tác thật thà với người Pháp. Song khi phải giữ chủ quyền của Tổ quốc, cần hy sinh thì cũng phải kiên quyết hy sinh.

Tôi thay mặt Chính phủ mà kêu gọi đồng bào toàn quốc sẵn sàng theo mệnh lệnh của Chính phủ.

Tôi cũng kêu gọi người Pháp ở đây thôi những hành động khiêu khích và thành thật cộng tác với Việt Nam một cách bình đẳng thân thiện. Máu Việt Nam và máu Pháp đổ đã nhiều rồi. Không nên đổ nữa. Vì lý lẽ gì, vì lợi của ai, mà đem máu quý báu của thanh niên Pháp (một thanh niên đầy những tương lai vẻ vang) đổ trên non nước Việt Nam. Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức:

Tự do, Bình đẳng, Bác ái, Độc lập.

Người Việt và người Pháp có thể và cần phải bắt tay nhau trong một sự nghiệp cộng tác bình đẳng, thật thà, để gây dựng hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc.

Đó là ý nguyện rõ rệt của Việt Nam, mong người Pháp và toàn thế giới biết cho.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 414,
ngày 23-11-1946.
cpv.org.vn

Gửi dân chúng Việt Nam, dân chúng Pháp, dân chúng các nước Đồng minh

Chúng tôi, Chính phủ và dân chúng Việt Nam nhất định đấu tranh giành độc lập và thống nhất toàn quốc, nhưng sẵn sàng hợp tác thân thiện với dân chúng Pháp. Vì vậy mà chúng tôi đã ký bản Hiệp định 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946.

Song bọn phản động thực dân Pháp đã thiếu thành thực, coi những bản ký kết đó như những mớ giấy lộn.

ở Nam Bộ, họ tiếp tục bắt bớ, tàn sát và gây hấn với các nhà ái quốc Việt Nam. Họ ức hiếp những người Pháp lương thiện chủ trương sự thành thực, và tổ chức chính phủ bù nhìn để chia rẽ dân tộc chúng tôi.

ở Nam Trung Bộ, họ tiếp tục khủng bố đồng bào chúng tôi, tấn công quân đội Việt Nam và xâm lược lãnh thổ của chúng tôi.

ở Bắc Bộ, họ gây những cuộc xung đột để đánh chiếm Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn và nhiều nơi khác. Họ bao vây cửa bể Hải Phòng, làm cho người Trung Hoa, người Việt Nam, người ngoại quốc khác và cả người Pháp nữa, không thể buôn bán được.

Họ tìm cách bóp nghẹt cổ dân tộc Việt Nam và phá hoại chủ quyền quốc gia của chúng tôi. Hiện nay họ đem xe tǎng, tàu bay, trọng pháo và chiến hạm để tàn sát đồng bào chúng tôi, và chiếm lấy cửa bể Hải Phòng cùng các tỉnh khác ven sông.

Thế chưa hết, họ còn huy động thuỷ, lục, không quân và gửi cho chúng tôi nhiều tối hậu thư. Họ lạnh lùng tàn sát những đồng bào già cả, trẻ con và đàn bà ở cả Thủ đô Hà Nội.

Ngày 19-12-1946, hồi 20 giờ, họ tấn công Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam.

Những hành động của thực dân Pháp định chiếm lấy nước chúng tôi thực rõ rệt, không thể chối cãi được.

Dân tộc Việt Nam nay bị đặt trước hai đường: một là khoanh tay, cúi đầu trở lại nô lệ; hai là đấu tranh đến cùng để giành lấy tự do và độc lập.

Không! Dân tộc Việt Nam không để cho người ta trở lại thống trị nữa.

Không! Dân tộc Việt Nam không bao giờ muốn trở lại nô lệ nữa. Dân tộc Việt Nam thà chết chứ không chịu mất độc lập và tự do.

Dân chúng Pháp!

Chúng tôi yêu chuộng các bạn, và muốn hợp tác thành thực với các bạn trong khối Liên hiệp Pháp, vì chúng ta có một lý tưởng chung: tự do, bình đẳng và độc lập.

Chính bọn thực dân phản động Pháp đã làm ô danh nước Pháp, và tìm cách chia rẽ chúng ta bằng cách khiêu chiến. Chừng nào nước Pháp hiểu rõ nền độc lập và thống nhất của chúng tôi, và gọi trở lại những kẻ thực dân hiếu chiến Pháp về, thì tình giao hảo và sự hợp tác giữa hai dân tộc Pháp – Việt sẽ trở lại ngay.

Binh lính Pháp!

Giữa các bạn và chúng tôi, không có thù ghét gì cả, chỉ vì quyền lợi ích kỷ mà bọn thực dân phản động khơi ra những xung đột. Lợi lộc chỉ họ hưởng, chết chóc thì các bạn cam chịu, những huy chương thắng trận thì về phần bọn quân phiệt. Nhưng đối với các bạn và gia đình các bạn, chỉ là sự đau khổ khốn cùng. Các bạn nên nghĩ kỹ đi. Các bạn có thể bằng lòng hy sinh máu các bạn và đời các bạn cho phản động không? Trở lại với chúng tôi, các bạn sẽ được tiếp đãi như bạn của chúng tôi.

Dân chúng các nước Đồng minh!

Sau hồi đại chiến vừa qua, các nước dân chủ đang tổ chức hoà bình, thế mà bọn phản động Pháp lại giày xéo lên những bản Hiến chương Đại Tây Dương và Cựu Kim Sơn. Họ đang gây chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Dân chúng Việt Nam yêu cầu các bạn can thiệp.

Các đồng bào!

Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ. Dù phải hy sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định chiến đấu đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và thống nhất. Chúng ta 20 triệu chống lại 10 vạn thực dân. Cuộc thắng lợi của chúng ta rất được bảo đảm.

Thay mặt cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tôi ra lệnh cho quân đội, anh em tự vệ, dân quân và tất cả đồng bào ba kỳ những lệnh sau này:

1. Nếu quân Pháp tấn công chúng ta, chúng ta phải hǎng hái phản công lại với tất cả khí giới mà chúng ta có. Tất cả quốc dân Việt Nam phải đứng dậy bảo vệ Tổ quốc.

2. Phải bảo vệ sinh mệnh và tài sản các ngoại kiều, và đối đãi tử tế với tù binh.

3. Kẻ nào giúp đỡ quân địch phải nghiêm trị.

Ai giúp đỡ, bảo vệ đất nước sẽ được ghi công.

Đồng bào Việt Nam!

Tổ quốc lâm nguy, chúng ta phải đứng cả dậy.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn nǎm!

Kháng chiến thành công muôn nǎm!

Ngày 21 tháng 12 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha thông tin Việt Nam,
1948, tr.6-8.
cpv.org.vn

Gửi các tù binh Pháp

Các bạn,

Tôi rất lấy làm phiền lòng vì thấy các người đang ở trong tình thế này. Tôi coi các người như là bạn của tôi.

Tôi biết rằng đó không phải là bởi các bạn, nhưng các bạn cũng như chúng tôi, đều là nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Bọn này vì quyền lợi ích kỷ riêng của họ, chỉ muốn đi chinh phục nước người khác.

Tôi mong một ngày rất gần đây, hai dân tộc Pháp – Việt có thể cùng cộng tác trong vòng hoà bình và thân ái để mưu hạnh phúc chung cho hai dân tộc.

Trong khi chờ đợi, các bạn hãy yên lòng và sống dưới sự che chở của chúng tôi, cho đến khi hết chiến tranh, khi đó các bạn sẽ được tự do.

Tôi chúc các bạn một ngày Nôen vui vẻ và một nǎm tốt đẹp.

Ngày 24 tháng 12 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, tr.14.
cpv.org.vn

Phụ lục: Những Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký trong thời gian từ 2-9-1945 đến 31-12-1946

NǍM 1945

1- Sắc lệnh số 23, ký ngày 10-9-1945, cử ông Vĩnh Thuỵ làm Cố vấn Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

2- Sắc lệnh số 29B, ký ngày 10-9-1945, về việc lưu dụng và cho nghỉ việc một số quan chức cũ ngành toà án ở Hà Nội.

3- Sắc lệnh số 31, ký ngày 13-9-1945, quy định về thể thức tổ chức các cuộc biểu tình.

4- Sắc lệnh số 33A, ký ngày 13-9-1945, quy định về quyền hạn của Ty Liêm phóng.

5- Sắc lệnh số 33B, ký ngày 13-9-1945, về trình tự thủ tục khi bắt người của Sở Liêm phóng và Sở Cảnh sát.

6- Sắc lệnh số 33C, ký ngày 13-9-1945, về việc lập Toà án Quân sự ở Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và quy định quyền hạn xét xử của các Toà án đó.

7- Sắc lệnh số 33D, ký ngày 19-9-1945, về việc phóng thích tội nhân bị kết án trước ngày 19-8-1945.

8- Sắc lệnh số 34, ký ngày 20-9-1945, lập một Uỷ ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (gồm 7 người).

9- Sắc lệnh số 36, ký ngày 22-9-1945, về việc bãi bỏ các nghiệp đoàn Nông sản, Lâm sản, Kỹ nghệ, Khoáng sản, Thương mại (Nội thương, Ngoại thương), Vận tải, Ngân hàng.

10- Sắc lệnh số 37, ký ngày 26-9-1945, quy định các địa phương thuộc thẩm quyền xét xử của các Toà án Quân sự theo Sắc lệnh số 33C ngày 13-9-1945.

11- Sắc lệnh số 38, ký ngày 27-9-1945, về việc bỏ thuế môn bài và giảm phụ thu ngân sách.

12- Sắc lệnh số 39, ký ngày 26-9-1945, lập một Uỷ ban dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử (gồm 9 người).

13- Sắc lệnh số 40, ký ngày 29-9-1945, về việc lập thêm một Toà án Quân sự ở Nha Trang và quy định các địa phương thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Quân sự này.

14- Sắc lệnh số 41, ký ngày 3-10-1945, về việc bãi bỏ các công sở và các cơ quan thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương trước đây.

15- Sắc lệnh số 42, ký ngày 4-10-1945, quy định cách tính thuế suất tiền lãi thương mại, kỹ nghệ, canh nông, lương bổng…

16 – Sắc lệnh số 48, ký ngày 9-10-1945, quy định về việc tạm thời áp dụng đạo luật cũ đối với các công ty, các hãng kỹ nghệ, thương mại ngoại quốc ở Việt Nam.

17- Sắc lệnh số 50, ký ngày 9-10-1945, về việc cấm xuất cảng thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc.

18- Sắc lệnh số 43, ký ngày 10-10-1945, về việc thiết lập một Quỹ tự trị cho Trường Đại học Việt Nam.

19- Sắc lệnh số 44, ký ngày 10-10-1945, về việc thành lập Hội đồng cố vấn học chính.

20- Sắc lệnh số 45, ký ngày 10-10-1945, về việc thiết lập một Ban đại học Vǎn khoa tại Hà Nội.

21- Sắc lệnh số 46, ký ngày 10-10-1945, quy định thể thức tổ chức đoàn thể luật sư, những tiêu chuẩn của luật sư trong Toà thượng thẩm Hà Nội và Sài Gòn.

22- Sắc lệnh số 47, ký ngày 10-10-1945, về việc tạm thời sử dụng bộ luật cũ, trừ một số điểm thay đổi được ấn định trong sắc luật này.

23- Sắc lệnh số 49, ký ngày 12-10-1945 về việc ghi tiêu đề Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nǎm thứ nhấttrên các công vǎn, điện vǎn, công điện, trát, đơn từ, báo chí, chúc từ, v.v..

24- Sắc lệnh số 51B, ký ngày 12-10-1945 cho phép Giám đốc Ngân khố Trung ương Việt Nam trích một khoản ngân quỹ giao Bộ trưởng Bộ Cứu tế mua gạo dự trữ.

25- Sắc lệnh số 51, ký ngày 17-10-1945, quy định thể lệ Tổng tuyển cử, ấn định ngày 23-12-1945 sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử trong toàn quốc.

26- Sắc lệnh số 52, ký ngày 20-10-1945, về việc xá tội cho các tội phạm bị kết án trước ngày 19-8-1945.

27- Sắc lệnh số 53, ký ngày 20-10-1945, quy định tạm thời những người thuộc quốc tịch Việt Nam.

28- Sắc lệnh số 54, ký ngày 3-11-1945, quy định điều kiện về hưu cho công chức các ngạch.

29- Sắc lệnh số 55, ký ngày 3-11-1945, về việc tổ chức Hội đồng kỷ luật các viên chức ở các cơ quan và địa phương.

30- Sắc lệnh số 56, ký ngày 7-11-1945, uỷ nhiệm cho Bộ Quốc dân kinh tế (Nha kỹ nghệ) và Bộ Tuyên truyền kiểm soát việc sản xuất, nhập cảng và phân phối giấy, bìa trong cả nước.

31- Sắc lệnh số 57, ký ngày 10-11-1945, nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, tiêu thụ, mua bán rượu được chế từ ngũ cốc và mức phạt khi phạm các tội trên.

32- Sắc lệnh số 58, ký ngày 10-11-1945, về việc nghỉ gia hạn không lương cho công chức tất cả các ngạch.

33- Sắc lệnh số 59, ký ngày 15-11-1945, quy định về quyền thị thực và mức lệ phí đối với các loại khế ước.

34- Sắc lệnh số 60, ký ngày 16-11-1945, quy định về trình tự tiến hành trước Toà tại Hà Nội, Hải Phòng, Nam Bộ, Đà Nẵng.

35- Sắc lệnh số 61, ký ngày 21-11-1945, chuyển Sở Vô tuyến điện Việt Nam về Bộ Quốc phòng.

36 – Sắc lệnh số 62, ký ngày 20-11-1945, bãi bỏ Sở thương binh, chiến binh, nạn nhân chiến tranh và trẻ mồ côi thuộc địa.

37- Sắc lệnh số 63, ký ngày 22-11-1945, về tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp (xã, huyện, tỉnh, kỳ).

38- Sắc lệnh số 64, ký ngày 23-11-1945, về việc thành lập và quy định quyền hạn Ban thanh tra đặc biệt và Toà án đặc biệt.

39- Sắc lệnh số 65, ký ngày 23-11-1945, quy định nhiệm vụ và quyền lợi của Đông Phương Bác Cổ học viện.

40- Sắc lệnh số 66, ký ngày 24-11-1945, về việc trưng dụng các y sĩ, dược sĩ của Chính phủ, Bộ Y tế và Quân đội.

41- Sắc lệnh số 67, ký ngày 28-11-1945, về việc thành lập và quy định nhiệm vụ của Uỷ ban tối cao tiếp tế và cứu tế.

42- Sắc lệnh số 68, ký ngày 30-11-1945, về việc trưng dụng, bồi thường bất động sản và việc trưng tập người.

43- Sắc lệnh số 69, ký ngày 1-12-1945, quy định các cơ quan thuộc Bộ Canh nông.

44- Sắc lệnh số 70, ký ngày 1-12-1945, cử Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Vǎn Hiến làm đặc phái viên của Chính phủ ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

45- Sắc lệnh số 71 và 72, ký ngày 2-12-1945, về việc bổ sung thể lệ Tổng tuyển cử.

46- Sắc lệnh số 73, ký ngày 7-12-1945, quy định điều kiện và thể thức đối với người ngoại quốc muốn nhập quốc tịch Việt Nam.

47- Sắc lệnh số 74NV/CC, ký ngày 17-12-1945, quy định chế độ lương bổng cho các nhân viên công chức mắc bệnh lao hay phong phải nghỉ việc dài hạn.

48- Sắc lệnh số 75NV/CC, ký ngày 17-12-1945, về việc trưng tập viên chức tòng sự tại các công sở.

49- Sắc lệnh số 76, ký ngày 18-12-1945, hoãn ngày Tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946 và gia hạn nộp đơn ứng cử đến hết ngày 27-12-1945.

50- Sắc lệnh số 77, ký ngày 21-12-1945, về việc thành lập thành phố trực thuộc Chính phủ Trung ương, hoặc Kỳ; thị xã thuộc Kỳ hoặc tỉnh.

51- Sắc lệnh số 77B, ký ngày 24-12-1945, uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân Nam Bộ xét ân giảm cho tội nhân.

52- Sắc lệnh số 77C, ký ngày 28-12-1945, về việc thiết lập Toà án quân sự tại Phan Thiết.

53- Sắc lệnh số 78, ký ngày 31-12-1945, về việc lập một Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết của Chính phủ.

54- Sắc lệnh số 79, ký ngày 31-12-1945, về việc tổ chức lại Bình dân Ngân quỹ tổng cục.

55- Sắc lệnh số 80, ký ngày 31-12-1945, về việc cử người vào Ban thanh tra đặc biệt.

56- Sắc lệnh số 81, ký ngày 31-12-1945, cho phép các Bộ, các địa phương thực hiện các khoản dự chi nǎm 1946 trong khi chờ đợi ngân sách nǎm 1946 được duyệt y.

NǍM 1946

57- Sắc lệnh số 1-NV, ký ngày 8-1-1946, ân xá cho một phạm nhân người Hoa.

58- Sắc lệnh số 2-NV, ký ngày 8-1-1946, ân xá cho một phạm nhân người Hoa.

59- Sắc lệnh số 3, ký ngày 9-1-1946, về việc triệu tập Quốc hội.

60- Sắc lệnh số 4, ký ngày 14-1-1946, về việc cử người vào Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết.

61- Sắc lệnh số 5, ký ngày 15-1-1946, huỷ bỏ quyền quản lý và sử dụng đường sắt Hải Phòng – Vân Nam của Công ty hoả xa Vân Nam.

62- Sắc lệnh số 6, ký ngày 15-1-1946, định hình phạt đối với các tội trộm cắp, phá huỷ, cắt dây điện thoại và điện tín.

63- Sắc lệnh số 7, ký ngày 15-1-1946, bổ sung chức nǎng và nhiệm vụ của Toà án quân sự.

64- Sắc lệnh số 8, ký ngày 18-1-1946, về việc giải tán “Tổ chức Giuylơ Brêvin” (Fondation Jules Brévil).

65- Sắc lệnh số 9, ký ngày 18-1-1946, về việc giải tán “Hội bảo trợ phụ nữ và nhi đồng Annam” (Ligue pour la protection de la Femme et de L’ Enfant Annamites).

66- Sắc lệnh số 10, ký ngày 23-1-1946, sửa một số điều khoản của Sắc lệnh số 63 (22-11-1945) về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp.

67- Sắc lệnh số 11, ký ngày 24-1-1946, về việc chia khu đối với những thị xã lớn.

68- Sắc lệnh số 12, ký ngày 24-1-1946, quy định quyền hạn của ông Bộ trưởng Bộ Kinh tế.

69- Sắc lệnh số 13, ký ngày 24-1-1946, quy định về cách tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán.

70- Sắc lệnh số 14, ký ngày 30-1-1946, về việc thành lập Nha Thể dục trung ương.

71- Sắc lệnh số 15, ký ngày 30-1-1946, về việc bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê kể từ ngày 1-1-1946.

72- Sắc lệnh số 16, ký ngày 30-1-1946, về việc thành lập Phòng Canh nông Bắc Bộ Việt Nam.

73- Sắc lệnh số 17, ký ngày 31-1-1946, về việc bãi bỏ Bình dân Ngân quỹ tổng cục, quy định về việc tổ chức cơ quan và phân chia tài sản của Bình dân Ngân quỹ tổng cục.

74- Sắc lệnh số 18, ký ngày 31-1-1946, về thể lệ nộp lưu chiểu vǎn hoá phẩm.

75- Sắc lệnh số 18B, ký ngày 31-1-1946, về việc phát hành đồng bạc giấy Việt Nam từ vĩ tuyến 16trở vào Nam.

76- Sắc lệnh số 19, ký ngày 5-2-1946, về việc giải tán Uỷ ban trung ương Hội Tương trợ và Cứu tế xã hội Bắc Kỳ.

77- Sắc lệnh số 20, ký ngày 6-2-1946, về việc bãi bỏ Sở kiểm soát tài chính.

78- Sắc lệnh số 21, ký ngày 14-2-1946, quy định về tổ chức của Toà án quân sự thiết lập ở Bắc, Trung và Nam Bộ.

79- Sắc lệnh số 22A, ký ngày 18-2-1946, sửa đổi điều 65 của Sắc lệnh số 63 (22-11-1945).

80- Sắc lệnh số 22B, ký ngày 18-2-1946, trao quyền tư pháp cho Uỷ ban hành chính ở những nơi chưa có toà án riêng.

81- Sắc lệnh số 22C, ký ngày 18-2-1946, ấn định những ngày Tết, ngày kỷ niệm lịch sử và ngày lễ tôn giáo.

82- Sắc lệnh số 23, ký ngày 21-2-1946, về việc thành lập “Việt Nam Công an vụ”.

83- Sắc lệnh số 24NV/CC, ký ngày 21-2-1946, về việc cấp một tháng lương cho các công chức tình nguyện dự vào công việc tǎng gia sản xuất ở Cao Bằng.

84- Sắc lệnh số 25, ký ngày 25-2-1946, sửa đổi quy định quốc tịch Việt Nam.

85- Sắc lệnh số 26, ký ngày 25-2-1946, quy định những hành vi phá hoại tài sản công bị coi là trọng tội, sẽ bị truy tố và phạt tù hoặc xử tử.

86- Sắc lệnh số 27, ký ngày 28-2-1946, quy định những hành vi bắt cóc, tống tiền, ám sát sẽ bị truy tố và phạt tù hoặc xử tử.

87- Sắc lệnh số 28, ký ngày 15-3-1946, cử ông Tạ Quang Bửu làm Thứ trưởng Quốc phòng.

88- Sắc lệnh số 29, ký ngày 19-3-1946, trích một khoản ở ngân sách toàn quốc để Bộ Ngoại giao chi tiêu về những công việc đặc biệt.

89- Sắc lệnh số 30, ký ngày 22-3-1946, bổ nhiệm Giám đốc Việt Nam Công an vụ.

90- Sắc lệnh số 31NV/CC, ký ngày 22-3-1946, cử ông Phạm Khắc Hoè giữ chức Đổng lý Vǎn phòng Bộ Nội vụ.

91- Sắc lệnh số 32, ký ngày 22-3-1946, bổ sung về việc phân chia tài sản của Bình dân Ngân quỹ tổng cục.

92- Sắc lệnh số 33/QĐ, ký ngày 22-3-1946, quy định cấp bậc, quân phục, phù hiệu, cấp hiệu cho Lục quân toàn quốc.

93- Sắc lệnh số 34, ký ngày 25-3-1946, quy định tổ chức của Bộ Quốc phòng.

94- Sắc lệnh số 35, ký ngày 25-3-1946, cử người giữ các chức vụ trong Bộ Quốc phòng.

95- Sắc lệnh số 36, ký ngày 27-3-1946, quy định tổ chức bộ máy hành chính của Bộ Xã hội.

96- Sắc lệnh số 37, ký ngày 27-3-1946, cử người giữ các chức vụ Giám đốc Nha Y tế trung ương, Giám đốc Nha Cứu tế trung ương, Giám đốc Nha Lao động trung ương, Chánh Vǎn phòng Bộ Xã hội.

97- Sắc lệnh số 38, ký ngày 27-3-1946, về việc thiết lập Nha Thanh niên và Thể dục trung ương.

98- Sắc lệnh số 39, ký ngày 27-3-1946, bổ nhiệm Chánh Vǎn phòng Bộ Quốc phòng.

99- Sắc lệnh số 40, ký ngày 29-3-1946, về những quy định, luật lệ tạm thời cho phép bắt giam những công dân có hành vi phạm pháp.

100- Sắc lệnh số 41, ký ngày 29-3-1946, về những quy định tạm thời cho chế độ báo chí và xuất bản.

101- Sắc lệnh số 42, ký ngày 3-4-1946, quy định quyền bất khả xâm phạm đối với những người giữ chức Bộ trưởng hay Thứ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính, đại biểu Quốc hội.

102- Sắc lệnh số 43, ký ngày 3-4-1946, về việc lập “Hội đồng phân định thẩm quyền giữa Toà án quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường”.

103- Sắc lệnh số 44, ký ngày 3-4-1946, cử người vào Ban Trung ương vận động đời sống mới.

104- Sắc lệnh số 45, ký ngày 5-4-1946, về việc tổ chức các cuộc lạc quyên.

105- Sắc lệnh số 46, ký ngày 5-4-1946, về việc lưu hành các loại giấy bạc.

106- Sắc lệnh số 47, ký ngày 7-4-1946, về việc Bộ Ngoại giao chia ra làm Nội bộ và Ngoại bộ.

107- Sắc lệnh số 48, ký ngày 10-4-1946, về việc thiết lập Đảm phụ quốc phòng trong cả nước.

108- Sắc lệnh số 50, ký ngày 13-4-1946, về tổ chức các cơ quan Bộ và thuộc Bộ của Bộ Giao thông Công chính.

109- Sắc lệnh số 51-SL, ký ngày 17-4-1946, về thẩm quyền của các toà án Việt Nam đối với mọi công dân.

110- Sắc lệnh số 52, ký ngày 22-4-1946, quy định thể thức xin lập hội (hoặc đoàn thể) của công dân Việt Nam.

111- Sắc lệnh số 53-QP, ký ngày 24-4-1946, bổ nhiệm người giữ chức vụ Chính trị Cục trưởng Bộ Quốc phòng.

112- Sắc lệnh số 54, ký ngày 24-4-1946, về việc in các tem bưu điện có chân dung Bảo Đại và Nam Phương.

113- Sắc lệnh số 56, ký ngày 29-4-1946, quy định quyền được nghỉ việc ngày Quốc tế Lao động 1-5 và được hưởng lương như ngày làm việc.

114- Sắc lệnh 56B, ký ngày 2-5-1946, tạm hoãn thời hạn những việc đǎng ký quyền cầm cố ở các phòng trước bạ và điền thổ trên toàn cõi Việt Nam.

115- Sắc lệnh số 57, ký ngày 3-5-1946, quy định mỗi Bộ của Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng và Thứ trưởng có một Vǎn phòng, có các Nha và có thể có một cơ quan thanh tra và một Ban cố vấn.

116- Sắc lệnh số 58, ký ngày 3-5-1946, quy định về tổ chức và chức nǎng các cơ quan thuộc Bộ Nội vụ.

117- Sắc lệnh số 59, ký ngày 3-5-1946 cử người vào Hội đồng phúc thẩm đặt tại Bộ Nội vụ.

118- Sắc lệnh số 60, ký ngày 6-5-1946, về việc đổi Uỷ ban kháng chiến toàn quốc thành Quân sự uỷ viên Hội.

119- Sắc lệnh số 61, ký ngày 6-5-1946, quy định về tổ chức của Bộ Quốc dân kinh tế.

120- Sắc lệnh số 62, ký ngày 8-5-1946, quy định các chức vụ của hệ thống tổ chức Bộ Canh nông.

121- Sắc lệnh số 63, ký ngày 8-5-1946, bổ nhiệm người phụ trách các tổ chức của Bộ Canh nông.

122- Sắc lệnh số 64, ký ngày 8-5-1946, quy định nhiệm vụ của Nha Lao động trung ương trong Bộ Xã hội.

123- Sắc lệnh số 65, ký ngày 10-5-1946, tạm hoãn thu thuế trực thu cho các tỉnh từ Khánh Hoà vào Nam.

124- Sắc lệnh số 66, ký ngày 10-5-1946, cử một số cán bộ cho Bộ Ngoại giao.

125- Sắc lệnh số 67, ký ngày 13-5-1946, cử một số cán bộ cho Bộ Quốc dân kinh tế.

126- Sắc lệnh số 68, ký ngày 14-5-1946, bổ sung điều khoản về việc đặt Uỷ ban hành chính khu phố và cách tiến hành bầu cử, ứng cử.

127- Sắc lệnh số 69, ký ngày 16-5-1946, ấn định mức thuế điền thổ và thuế đồn điền áp dụng cho Bắc Bộ.

128- Sắc lệnh số 70, ký ngày 22-5-1946, về việc lập Uỷ ban hộ đê trung ương.

129- Sắc lệnh số 71, ký ngày 22-5-1946, về việc Quân đội của nước Việt Nam là một Quân đội quốc gia.

130- Sắc lệnh số 72, ký ngày 24-5-1946, bãi bỏ Sắc lệnh số 57 (10-11-1945).

131- Sắc lệnh số 73, ký ngày 24-5-1946, cử cán bộ cho Bộ Canh nông.

132- Sắc lệnh số 74, ký ngày 24-5-1946, cử cán bộ cho Bộ Giao thông Công chính.

133- Sắc lệnh số 75, ký ngày 29-5-1946, quy định tổ chức của Bộ Tài chính.

134- Sắc lệnh số 76, ký ngày 29-5-1946, sửa đổi điều khoản của Sắc lệnh số 77 (21-12-1945) về cách tổ chức chính quyền nhân dân ở thị xã, thành phố.

135- Sắc lệnh số 77, ký ngày 29-5-1946, ấn định trường hợp Chủ tịch Chính phủ được phép ban hành lệnh thiết quân luật.

136- Sắc lệnh số 78, ký ngày 29-5-1946, ấn định mức thuế điền thổ áp dụng cho Trung Bộ.

137- Sắc lệnh số 79, ký ngày 29-5-1946, về việc giảm thuế điền thổ cho nhân dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.

138- Sắc lệnh số 80, ký ngày 29-5-1946, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Canh nông.

139- Sắc lệnh số 81, ký ngày 29-5-1946, ấn định danh sách đoàn Việt Nam đi Pari.

140- Sắc lệnh số 82, ký ngày 29-5-1946, cử người tạm thay các chức vụ trong Chính phủ trong thời gian những người đương chức đi vắng.

141- Sắc lệnh số 82B, ký ngày 29-5-1946, bổ nhiệm Cục trưởng Giao thông công chính.

142- Sắc lệnh số 83, ký ngày 29-5-1946 bổ nhiệm một số cán bộ Bộ Nội vụ.

143- Sắc lệnh số 84, ký ngày 29-5-1946, cấm sử dụng các loại xe tay trong toàn cõi Việt Nam.

144- Sắc lệnh số 84B, ký ngày 29-5-1946, về việc tuyên dương công trạng hoặc tặng thưởng “Huy chương Quân công” những người có công trong việc giành độc lập cho nước Việt Nam.

145- Sắc lệnh số 85, ký ngày 30-5-1946 cử người giữ chức Chánh vǎn phòng Bộ Nội vụ.

146- Sắc lệnh số 86, ký ngày 30-5-1946, cử ông Phạm Vǎn Đồng làm Đoàn trưởng phái đoàn Việt Nam sang Pari thay ông Nguyễn Tường Tam vì mắc bệnh không đi được.

147- Sắc lệnh số 87, ký ngày 30-5-1946, cử người giữ chức Tổng thanh tra các Nha của Bộ Canh nông.

148- Sắc lệnh số 88, ký ngày 30-5-1946, hạn chế việc giết thịt gia súc ở Bắc Bộ.

149- Sắc lệnh số 89, ký ngày 30-5-1946, về việc Chính phủ Việt Nam tạm thời giành quyền tìm kiếm mỏ.

150- Sắc lệnh số 90, ký ngày 30-5-1946, ấn định những khu mỏ thuộc quyền sở hữu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

151- Sắc lệnh số 203, ký ngày 7-11-1946, cử người vào Uỷ ban liên kiểm Việt – Pháp để thi hành bản Tạm ước Việt – Pháp ngày 14-9-1946.

152- Sắc lệnh số 204, ký ngày 8-11-1946, quy định những quyền lợi của các đại biểu Quốc hội khi đi dự họp.

153- Sắc lệnh số 205, ký ngày 9-11-1946, sáp nhập liên xã Hưng Đạo thuộc phủ Thanh Hà (Hải Dương) vào huyện Kim Thành cùng tỉnh.

154- Sắc lệnh số 206, ký ngày 15-11-1946, sửa đổi một số điểm về việc thu đảm phụ quốc phòng đối với ngành vận tải.

155- Sắc lệnh số 207, ký ngày 15-11-1946, tạm thay đổi mức thuế tối thiểu và thuế tổng nội đánh vào hàng hoá nhập vào Việt Nam.

156- Sắc lệnh số 208, ký ngày 16-11-1946, bổ nhiệm Giám đốc Nha Dân tộc thiểu số.

157- Sắc lệnh số 209, ký ngày 16-11-1946, bổ nhiệm cán bộ cho Bộ Quốc phòng.

158- Sắc lệnh số 210, ký ngày 16-11-1946, sửa đổi điều 2 của Sắc lệnh 134 về quyền lợi của các uỷ viên Hội đồng nhân dân và uỷ viên Uỷ ban hành chính huyện, châu.

159- Sắc lệnh số 211, ký ngày 16-11-1946, cho phép ông Phó Đổng lý sự vụ Bộ Quốc dân kinh tế được từ chức.

160- Sắc lệnh số 212, ký ngày 19-11-1946, bổ nhiệm người giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế.

161- Sắc lệnh số 213, ký ngày 20-11-1946, thay người giữ chức Cục trưởng Cục Giao thông Công chính.

162- Sắc lệnh số 214, ký ngày 20-11-1946, bổ nhiệm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Quân huấn; Phó Cục trưởng Cục Chính trị; Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng; Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam.

163- Sắc lệnh số 215, ký ngày 20-11-1946, giải tán Nha Y tế trung ương, Nha Cứu tế trung ương, Nha Lao động trung ương.

164- Sắc lệnh số 216, ký ngày 21-11-1946, cử ông Phạm Ngọc Thạch giữ chức Thứ trưởng Chủ tịch phủ.

165- Sắc lệnh số 217, ký ngày 22-11-1946, ban hành quy chế hành nghề luật sư.

166- Sắc lệnh số 218, ký ngày 22-11-1946, cho phép ông Đổng lý Vǎn phòng Bộ Canh nông được từ chức.

167- Sắc lệnh số 219, ký ngày 22-11-1946, cho phép ông Phó Đổng lý sự vụ Bộ Canh nông được từ chức.

168- Sắc lệnh số 220, ký ngày 26-11-1946, ấn định tổ chức và quyền hạn của Bộ Kinh tế.

169- Sắc lệnh số 221, ký ngày 27-11-1946, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Cứu tế xã hội.

170- Sắc lệnh số 223, ký ngày 27-11-1946, ấn định hình phạt đối với tội đưa và nhận hối lộ, biển thủ công quỹ, tài sản công cộng.

171- Sắc lệnh số 224, ký ngày 27-11-1946, đổi tên Nha, Sở, Ty Thông tin Tuyên truyền thành Nha, Sở, Ty Thông tin.

172- Sắc lệnh số 225, ký ngày 28-11-1946, bổ nhiệm giám đốc Đại học vụ, Đổng lý sự vụ và Chánh Vǎn phòng Bộ Quốc gia giáo dục, Tổng Thanh tra trung ương.

173- Sắc lệnh số 226, ký ngày 28-11-1946, quy định về tổ chức của Bộ Lao động và nhiệm vụ của các phòng ban trực thuộc.

174- Sắc lệnh số 227, ký ngày 28-11-1946, quy định thể lệ việc công bố các thông cáo pháp định và tư pháp.

175- Sắc lệnh số 229, ký ngày 30-11-1946, quy định các cơ quan quân sự trên toàn cõi Việt Nam đều đặt dưới quyền Bộ Quốc phòng.

176- Sắc lệnh số 230, ký ngày 30-11-1946, bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp giữ chức Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc.

177- Sắc lệnh số 1/SL, ký ngày 20-12-1946, về việc thành lập Uỷ ban bảo vệ tại các khu quân sự, các đơn vị hành chính từ cấp tỉnh trở xuống.

178- Sắc lệnh số 2/SL, ký ngày 26-12-1946, về quyền thiết quân luật của các Uỷ ban kháng chiến khu.

179- Sắc lệnh số 3/SL, ký ngày 28-12-1946, về việc tạm hoãn các cuộc tuyển cử vào Hội đồng nhân dân, Uỷ ban hành chính và việc bổ sung người thay các uỷ viên hành chính không thể tiếp tục chức vụ cũ.

180- Sắc lệnh số 4/SL, ký ngày 28-12-1946, về quyền ân xá, ân giảm, phóng thích tội phạm của Uỷ ban bảo vệ cấp khu.

181- Sắc lệnh số 5/SL, ký ngày 31-12-1946, về việc thành lập Uỷ ban tản cư và di cư trung ương, Uỷ ban tản cư và di cư các cấp.

cpv.org.vn

Thư gửi Thống chế Tưởng Giới Thạch

Hà Nội, ngày 22 tháng 10 nǎm 1945

Thưa Ngài Thống chế Tưởng Giới Thạch,

Nhờ Ngài Bộ trưởng 1 Trần (Chen) chuyển giúp

Thưa Ngài,

Chúng tôi trân trọng thưa với Ngài rằng, chúng tôi – Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Ngài Cố vấn tối cao Nguyễn Vĩnh Thuỵ (cựu Hoàng đế Bảo Đại) – có nguyện vọng được đến Trùng Khánh để bày tỏ lòng kính trọng của chúng tôi với Ngài và ngài Bộ trưởng Trần.

Nếu được các Ngài chấp nhận, thì đấy là một sự ủng hộ tốt đẹp với chúng tôi.

Kính

Hồ Chí Minh
Nguyễn Vĩnh Thụy

United States – Vietnam Relations,
1945-1967, U.S Government printing
office, Washington, 1971, p.83.
cpv.org.vn