Thư viện

Chương V – Phục kích

Ẩn nấp trong một chỗ chực quân giặc đi qua thoạt ra đánh úp, thế gọi là phục kích. Phục kích dễ thắng lợi hơn tập kích, vậy đội du kích cần chú ý nhiều về cách phục kích nhất là đội du kích mới bắt đầu hoạt động, chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa rèn luyện nhiều.

Muốn phục kích cần chú ý mấy điều này: trinh thám, chọn chỗ phục kích, thi hành phục kích, sau khi phục kích thắng lợi, phục kích lính lẻ của giặc, phục kích đội vận tải của giặc, phục kích lính kỵ mã, xe ô tô, xe hoả của giặc.

1. Trinh thám tình hình giặc. Phải trinh thám rõ tình hình quân giặc thì mới xếp đặt kế hoạch phục kích cho đúng được. Trinh thám không đúng đã không có lợi gì mà không may lại nguy hiểm. Phải trinh thám đích xác mấy điều này:

a) Quân giặc lúc nào đi, đi đường nào, đi đến chỗ nào.

b) Quân giặc có bao nhiêu người thuộc về thứ lính gì, võ khí thế nào, sức chiến đấu thế nào, có xe cộ gì không, cuộc hành quân của giặc có mục đích gì.

c) Lúc hành quân, quân giặc liên lạc với bộ đội khác thế nào, hành quân mau chậm thế nào, quân giặc có thể có viện binh đến cứu như thế nào.

Trinh thám được tin tức gì phải rất bí mật, chỉ người chỉ huy biết mà thôi, người nào không cần biết tuyệt đối không cho biết.

2. Chọn chỗ phục kích. Lúc chọn chỗ phục kích nên chú ý mấy điều này:

a) Có chỗ nấp tốt khiến cho đội du kích trông thấy quân thù còn quân thù thì không trông thấy đội du kích.

b) Có địa hình tốt khiến cho đội du kích đánh quân thù dễ, còn quân thù khó đánh được đội du kích nhất là lúc quân thù đeo mang nặng nề.

c) Cần chỗ ẩn núp có chỗ tiện cho đội du kích thối chớ không tiện cho quân thù thối.

d) Chỗ ẩn núp phải ở ngoài vòng quân địch dò thám. Dẫu có chỗ ẩn núp tốt nhưng lại ở trong vòng dò thám của nó cũng cứ phải bỏ, tìm chỗ khác.

e) Có chỗ đứng trông cho rõ. Có khi phải đặt hai chỗ, một chỗ xa, một chỗ gần, và xếp đặt rất chu đáo cách liên lạc nhanh chóng giữa hai chỗ.

Ví dụ mấy trận phục kích rất tài giỏi của một đội du kích thuộc Đội quân thứ 8 tại con đường Đông Dương quan ở Hoa Bắc. Con đường ấy là con đường giao thông quan trọng của quân địch. Trên con đường ấy bao nhiêu lần đội du kích đã phục kích quân Nhật. Về sau quân Nhật nghĩ ra một kế kể cũng hay. Chúng phao ra cái tin ngày nọ ngày kia một đội vận tải Nhật sẽ qua con đường ấy, đồng thời chúng bí mật phái bộ đội đến ẩn núp tại một chỗ hiểm yếu trên con đường ấy, chực đội du kích đi tìm chỗ phục kích đội vận tải mà chúng đã phao tin sắp đi qua đường. Ngờ đâu nhờ dân chúng đem tin, đội du kích biết đích xác mưu kế quân giặc nên không động đậy. Chúng chờ một ngày, hai ngày chẳng thấy gì bèn lủi thủi kéo về. Lần sau chúng lại dùng kế ấy, cũng phao tin có một đội xe ô tô Nhật sắp qua con đường ấy. Được tin này, đội du kích lập tức phái bộ đội đi ẩn núp trước. Tức thì một đội quân Nhật đi qua, đội du kích nhảy ra đánh úp một trận tan tành. Số là đội quân Nhật này định đi tìm chỗ ẩn núp để tập kích quân du kích.

3. Lúc đi đến chỗ phục kích.

a) Phải khéo chọn con đường đi đến chỗ phục kích. Con đường ấy phải rất bí mật, tốt nhất là tìm đường hoàn toàn mới mà đi, tìm chỗ không có đường mà đi. Tránh đường bùn lầy, vì đi đường bùn lầy phải hao sức nhiều, mệt nhọc nhiều.

b) Phải có người trinh thám mặc quần áo thường, có vũ trang đi trước bộ đội. Lúc bộ đội đi qua làng xóm phải hoá trang (hoá trang là ǎn mặc như người thường chứ không như quân đội).

c) Đến chỗ ẩn núp rồi phải giữ rất kín đáo và im lặng, không được hút thuốc, nói chuyện, làm ồn.

4. Lúc tiến hành phục kích.

a) Bộ đội phục kích phải chia làm 2 phần, một phần nhỏ (thường 1 phần 3 bộ đội) dùng để kiềm chế quân giặc, trong lúc chủ lực (2 phần 3) tiến đánh quân giặc. Đội trưởng phải đứng chỗ nào trông rõ tình hình quân giặc để ra dấu hiệu tiến công.

b) Nhiệm vụ của mỗi bộ phận, của mỗi đội viên phải bàn định trước rất rõ ràng và thích đáng. Người chỉ huy phải theo đúng kế hoạch đã định mà lãnh đạo bộ đội mình tiến công.

c) Nếu quân giặc ít người thì đội du kích có thể chặn đường tiến và đường thối của quân giặc để tiêu diệt chúng. Nếu quân giặc có đông người thì đội du kích phải bỏ đoạn đầu, chỉ chặn đánh đoạn giữa, có khi chỉ chặn đánh đoạn đuôi cho chắc thắng lợi.

d) Lúc đánh đoạn đuôi của giặc phải có người quấy rối đoạn đầu, hoặc hai bên sườn. Nếu có thể được thì phá hoại đường sá, cầu cống làm cho quân giặc rối loạn, đầu đuôi không tiếp ứng nhau được.

e) Lúc tập kích cần phải kiên quyết và nhanh chóng, chớp nhoáng tiến đánh quân giặc trở tay không kịp. Trước hết là ném một loạt thủ lựu đạn, hay xổ một loạt súng rồi rút dao, mác xung phong ngay. Chém đâm quân giặc làm cho chúng hoảng hốt tán loạn, không thể nào chống cự được. Người chỉ huy phải có kế hoạch rất khôn khéo và chu đáo, đừng để mình phải thiệt nhiều người. Nếu mình thắng trận, nhưng cũng thiệt nhiều người thì thật không xứng.

5. Sau khi phục kích thắng lợi.

Phục kích thắng lợi xong phải lập tức thu dung người mình bị thương, thu thập đồ đạc lấy được, xử trí phù lỗ (quân giặc bị bắt gọi là phù lỗ) rồi thối ngay không trù trừ lâu. Nhất là nếu không tiêu diệt được toàn bộ quân giặc, cần phải xếp đặt thối ngay 1 , phòng quân cứu viện của giặc đến đánh.

Đội du kích không chỉ chờ quân giặc đi qua phạm vi hoạt động của mình rồi mới phục kích, mình có thể tìm cách dụ quân giặc, đánh lừa quân giặc vào bẫy để phục kích.

Ví dụ tại làng Lưu Trang, huyện Tích Dương (Hoa Bắc) có quân Nhật đóng. Đội du kích họ Uông phái một tiểu đội đến quấy. Họ bắn lờ phờ mấy phát súng rồi chuồn cho quân Nhật đuổi theo. Đuổi theo cho đến chỗ đội du kích ẩn núp, mấy chục quân Nhật bị giết sạch chỉ sót mấy thằng bỏ đội trốn thoát. Được tin thất bại, quân Nhật phái bốn trǎm người đến cứu viện. Đoán đúng, đội du kích lại ẩn núp trên con đường từ Tích Dương đến Lưu Trang lại được một lần phục kích thắng lợi nữa.

Gặp khi phục kích không xong. Đội du kích ẩn núp để phục kích quân giặc, lúc sắp tiến lên phục kích bỗng thấy quân giặc quá nhiều hay quân giặc đã chiếm chỗ tốt để đối phó, lúc ấy đội du kích phải nhanh chóng và kiên quyết thối lui, nếu cần thì bắn một loạt súng cho tợn rồi rút ngay. Có khi đã tiến lên phục kích rồi mới phát giác mình yếu, quân giặc mạnh thì cũng liệu thế rút lui ngay, không nên liều đánh đến cùng, hy sinh vô ích. Gặp những lúc này, người chỉ huy phải quyết đoán cho nhanh chóng và chỉ huy cho khôn khéo.

6. Phục kích những binh lính lẻ tẻ của giặc. Quân giặc đóng tại một chỗ thường phái lính đem giấy tờ từ chỗ này qua chỗ khác hay phái người vào làng mua rau, lấy đồ. Phục kích để bắt sống hay giết chết bọn lính lẻ tẻ ấy rất dễ và có khi nhờ đó điều tra được nhiều tin tức quý hoá. Nếu cần thì có thể tìm nhiều cách dụ lính lẻ tẻ vào chỗ bí mật và hiểm yếu để phục kích, dễ nhất là dùng con gái.

7. Phục kích đội vận tải hay đội thu lương thực của giặc. Phục kích đội vận tải của quân giặc thường dễ thắng lợi, vì những đội này rất nặng nề, chậm chạp. Lúc phục kích cần chú ý mấy điều này:

a) Chọn chỗ hiểm yếu để ẩn núp, như chỗ lên dốc, xuống dốc, qua sông, qua đường quẹo, đường kẹt trong núi.

b) Phục kích đội vận tải cốt để cướp đồ đạc chứ không để đánh bộ đội đi kèm, vậy lúc phục kích chú ý lừa bộ đội đi kèm xa đội vận tải để giải quyết đám này cho dễ.

c) Lúc tiến lên đánh, cần bắn tợn vào đoạn đầu và đoạn đuôi thì cả đoàn đều hoảng hốt, rối loạn, xe cộ, người ngựa đạp đổ lẫn lộn. Đó là cơ hội tốt cho đội du kích xung phong giết giặc đoạt của.

d) Nếu lực lượng mình ít, phải khôn khéo phân tán quân giặc, chỗ nào cũng có súng nổ, quân giặc phải phân tán để đối phó. Lúc ấy mình nhằm bộ phận nào thuận tiện thì xung phong giải quyết bộ phận ấy.

e) Phục kích thắng lợi rồi, nhắm chừng quân cứu viện của giặc không đến kịp thì mình có thể trì hoãn một chút để thu nhặt đồ đạc của giặc, cái gì đem đi được thì đem đi, cái gì không đem đi được thì phá huỷ.

Nhờ lối phục kích này mà đội du kích cướp được vô số đồ dùng của giặc.

Ví dụ (trích một đoạn trong bản báo cáo của một đội quân Nhật): “Gần huyện Dương Truyền tại làng Bảo An và Quách Thôn, bọn quân đỏ (Nhật gọi đội du kích của Đội quân thứ 8 là quân đỏ) bí mật liên lạc với dân chúng, mấy lần đánh úp các đội vận tải của chúng ta, tiêu diệt sạch bộ đội đi kèm và đoạt lấy tất cả đồ đạc, lương thực, thuốc đạn, áo quần. Mấy lâu nay mọi chỗ đều có chuyện như thế, thật là đáng lo”.

Phục kích đội thu lương thực của giặc có 3 cách:

a) Không đợi đội thu lương đã thu được lương: ẩn núp giữa đường phục kích đánh giết.

b) Chờ đội thu lương đến làng chia nhau đi các nhà thu lương thực, lúc bấy giờ mới tiến lên đánh úp bộ phận nào dễ đánh. Trước khi tiến đánh phải giết chết hay bắt sống lính gác của giặc.

c) Nếu đội du kích ít người, tốt nhất là chờ đội thu lương thực thu xong lương thực rồi trở về, chặn đường phục kích. Lối này dễ thắng nhất vì lúc bấy giờ quân thù gánh vác nặng nề, không thể chú ý được mọi mặt, không thể đối phó kịp.

8. Phục kích lính cưỡi ngựa, xe ô tô, xe hoả, thuyền, tàu.

Phục kích lính cưỡi ngựa. Muốn phục kích lính cưỡi ngựa cần chú ý 3 điều này:

a) Chỗ ẩn nấp để phục kích phải chọn chỗ đường chật hẹp, hiểm yếu, quân giặc khó xoay xở.

b) Trước tiên phải bắn cho ngựa quỵ, thế là người cũng ngã lung tung, rất dễ giải quyết.

c) Tốt nhất là chờ chúng vào làng nghỉ, người một nơi, ngựa một nơi, đột nhiên đánh úp thì chúng trở tay không kịp. Trước tiên phải phái người làm dân thường vào làng do thám, đợi cơ hội tốt là ra dấu hiệu phát động 1 .

Phục kích ô tô. Muốn phục kích ô tô cần chú ý 4 điều này:

a) Chỗ ẩn nấp để phục kích phải chọn chỗ đường chật hẹp, lên dốc, xuống dốc, chỗ đường quẹo, chỗ gần hang hố, hoặc lúc qua sông lộn xộn.

b) Trên đường phải đặt đồ cản xe, hoặc đào hố, hoặc đặt chất nổ.

c) Lúc phục kích phải có bộ phận nhỏ chặn đầu trước và chặn đường sau. Còn lực lượng chính thì tiến đánh các xe và bộ phận đi kèm. Người thì bắt tù hay thả cho đi, xe thì đốt huỷ.

Phục kích ô tô rất dễ thắng lợi. ở Hoa Bắc ngày nào cũng có đội du kích phục kích các đoàn vận tải ô tô của Nhật.

Ví dụ: Chi đội du kích họ Dương giữa con đường từ Quảng Linh đến Linh Nhạc định đón đánh một đoàn ô tô Nhật. Trước họ phá một đoạn đường tại chỗ rất hiểm yếu rồi ẩn núp gần đó. Bắt đầu có 30 hơn chiếc ô tô 2 vận tải từ Linh Nhạc đi Quảng Linh, đến chỗ đường bị phá không đi được. Một ít lâu từ Quảng Linh đến Linh Nhạc lại có 40 hơn chiếc ô tô vận tải, 10 hơn chiếc ô tô bọc sắt và 78 chiếc xe tǎng đến đó cũng bị nghẽn. Đội du kích xem xét đích xác rồi nhảy ra đánh úp, phá hại quân Nhật rất nhiều. Về sau quân Nhật lại đem một đội kỵ mã (lính cưỡi ngựa) và 5 khẩu đại bác đến cứu viện. Nhờ đội du kích khôn khéo ẩn núp và đánh giỏi nên giết được quân Nhật mấy trǎm người và phá được mấy mươi chiếc ô tô, còn mình chỉ bị thương mấy chục người thôi.

Phục kích xe hoả. Muốn phục kích xe hoả cần chú ý mấy điều này:

a) Chỗ phục kích phải chọn chỗ hiểm yếu như lúc vào hầm ra hầm (hầm là chỗ đường xuyên qua núi), lên dốc, xuống dốc, đường quẹo, chỗ bên cao bên thấp, lúc qua cầu.

b) Trước khi phục kích phải tháo cây ngang đường ray 1 và các đinh ốc làm cho xe hoả trật đường ray, hay dùng cây, đá chất đống trên đường ray cũng để làm cho xe hoả trật đường ray.

c) Lúc xe hoả trật đường ray chạy bật ra ngoài là lúc đội du kích tiến lên phục kích. Đội du kích ấy phải phân làm ba phần: một phần dự bị đánh bộ đội của giặc đi kèm xe hoả, một phần đánh vào cạnh các toa xe, còn một phần xông vào trong toa cướp khí giới, đồ đạc và bắt người.

d) Hết sức bí mật liên lạc với nhân viên làm trong xe để đến thời cơ ngoại công nội ứng 2 .

Phục kích thuyền gỗ. Chực lúc thuyền gần bờ hay gặp chỗ quẹo thì tiến đánh. Lúc đánh thì đánh đầu thuyền và đuôi thuyền, bắt thuyền phải vào bờ hay đánh chìm cũng được. Đánh xong, của cải trong thuyền thì lấy, còn người thì bắt tù hay thả.

Đánh thuyền máy thì phải cẩn thận và phải có lực lượng nhiều, nhất là phải có súng to bắn phá đầu máy mới được.

Đi đường gặp quân giặc.

a) Lúc đi đường đội du kích phải có người do thám ǎn mặc thường đi trước, ban ngày đi trước khá xa bao nhiêu xa 3 tuỳ mỗi lúc mà quyết định, ban đêm đi gần một ít, thấy việc gì lạ, nhất là có quân giặc thì cấp tốc quay lại báo cáo đội trưởng. Đội trưởng phải đi trước bộ đội để gặp tin tức gì thì quyết định ngay cách đối phó.

b) Lúc được tin có quân giặc thì phải mau chóng quyết định đánh

hay chuồn không được do dự, vì do dự là nguy vô cùng.

c) Nếu quân giặc ít người, kém sức, mình đánh là chắc được, thì quyết định đánh và trong nháy mắt phải tìm chỗ ẩn núp chờ quân giặc đi qua bắn cho một loạt rồi nhảy ra xung phong. Quân giặc chạy, nếu không ngại gì thì đuổi theo đánh, nhưng chớ đuổi theo quá xa.

d) Nếu quân giặc đông và mạnh, hoặc mình do thám không rõ sức mạnh của giặc thì quyết định chuồn, không do dự chút nào, lúc chuồn nếu quân giặc thấy phải nhằm chúng bắn một loạt súng cho tợn, buộc chúng phải ẩn núp, để mình chuồn cho tiện.

Ví dụ: Một đội du kích kỵ binh đương đi trên con đường ở phía tây huyện Bảo Định (Hoa Bắc), bỗng có người do thám đi trước trông thấy mấy trǎm quân Nhật. Được tin, đội du kích ẩn núp vào một bên đường chực quân thù đi qua, nhảy ra phục kích. Chỉ trong mấy chục phút, quân Nhật bị đánh tan, một phần chết, một phần chạy, để lại vô số súng đạn.

Quấy rối quân giặc. Đội du kích có thể dùng một số ít đội viên tìm cơ hội tốt quấy rối quân giặc, như bắn mấy phát súng vào đồn làm cho quân giặc phải lao đao mỏi mệt.

Ví dụ: Đội du kích hoạt động trên con đường xe hoả Bắc Bình – Hán Khẩu, một lần nhân đêm tối đến gần huyện Tư bắn chết 2 tên lính gác của Nhật rồi lập tức đến trấn Quang Lạc phá hoại đường xe hoả. Được tin, quân Nhật ở huyện Tư và trấn Quang Lạc đều phái binh ra đón đánh du kích. Vì đêm tối quân giặc không nhận rõ được nhau nên bên nào cũng tưởng lầm bên kia là đội du kích. Lần ấy chúng bắn nhau cả đêm, giết lẫn nhau mấy trǎm người, sáng hôm sau mới biết.

Một cách làm rối loạn quân giặc là cách đánh “lối chim sẻ”. Lúc quân giặc hành quân qua núi non hiểm trở, đội du kích rải rác ẩn núp các nơi rất bí mật, ở trong núi bắn ra giết quân giặc, làm cho quân giặc muốn đánh đội du kích cũng không biết đâu mà đánh, muốn tránh cũng không biết chạy đâu cho khỏi. Cách đánh “lối chim sẻ” tuy không giải quyết được toàn đội quân giặc, nhưng cũng làm hại chúng nhiều, và nhất là làm cho chúng mất tinh thần.

cpv.org.vn

Chương VI – Cách phòng ngự

Phòng ngự nghĩa là chống giữ. Mình ở một chỗ, quân thù đến đánh, mình chống giữ gọi là phòng ngự. Như trên đã nói du kích là tiến công, mình bao giờ cũng nhằm quân thù đánh trước. Du kích mà để cho quân thù đến đánh, mình phải phòng ngự, là không tốt rồi, là phải ở vào thế khó rồi. Tuy vậy nhiều khi đội du kích vì tình thế buộc phải phòng ngự như lúc đội du kích hoạt động trong vùng quân thù, bất ngờ bị quân thù tập kích, hoặc sau khi đánh úp quân giặc một trận, đội du kích phải dùng lối phòng ngự để bảo vệ cho chủ lực an toàn rút lui, hoặc lúc bảo vệ cǎn cứ địa của cách mạng, đội du kích cũng phải dùng lối phòng ngự. Nhưng lối phòng ngự này là lối phòng ngự thế công (1) chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá.

A- Cách phòng ngự ở ngoài cǎn cứ địa.

1. Phải do thám và canh gác rất nghiêm mật. Đội du kích hoạt động trong vùng ngoài cǎn cứ địa mình thường có quân thù qua lại, phải rất cẩn thận, không nên để cho quân thù dò ra dấu tích mình và có thể đến đánh mình. Muốn được thế, đội du kích phải liên lạc mật thiết với dân chúng rồi chọn người tốt trong dân chúng tổ chức những đội do thám bao vây chỗ quân thù đóng và các con đường quân thù hay đi lại. Hễ quân thù động tĩnh thế nào là các đội do thám ấy cho đội du kích biết ngay. Còn đội du kích lúc hành quân hay lúc đóng tại nơi nào cần phải đặt người canh gác cẩn thận, canh gác chung quanh, canh gác các đường, nếu cần, phải canh gác hai ba lớp.

2. Không đóng quân ở chỗ không tốt.

Đội du kích phải kiên quyết không đóng quân tại chỗ không chắc chắn, khó phòng ngự. Nếu vạn bất đắc dĩ phải đóng, thì phải tập trung tại mấy nhà có địa thế tốt, rồi xếp đặt canh phòng nghiêm ngặt. Nếu chỗ ấy có phản động, việt gian thì phải cấm người ra vào, và nếu cần thì tống giam bọn phản động và việt gian lại. Nhưng phải nhớ rằng: cách phòng ngự tốt nhất là nhờ dân chúng do thám canh phòng hộ cho, hễ có tin gì cho hay ngay.

3. Phải làm hào luỹ và chuẩn bị.

Do thám để phòng ngự như thế cũng chưa đủ, đội du kích cần chuẩn bị nếu bị đánh úp thì đối phó lại. Đóng ở một nơi nào, đội du kích phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng, nếu có việc thì tập hợp ngay để đối phó. Đội trưởng và người thông tin phải ở luôn tại chỗ dự bị tập hợp. Vũ trang và đồ dùng phải sẵn sàng luôn. Dấu hiệu lúc tiến lúc lui cũng phải ước định với nhau trước.

Những con đường đi đến chỗ tập hợp phải dùng vật chướng ngại (vật chướng ngại là vật ngǎn mọi đường không cho đi lại được) dễ cất để chấn phòng. Những con đường mình rút lui phải làm hào luỹ hai bên. Những con đường không dùng phải bít hẳn lại. Nếu cần thì ngoài phòng tuyến thứ nhất ấy phải đặt phòng tuyến thứ hai (phòng tuyến là con đường có xây hào luỹ để mình ẩn núp mà đánh giặc).

4. Bất ngờ bị quân thù đánh úp.

Lúc ấy phải quyết định ngay đánh úp lại hay rút lui, không trù trừ. Lúc rút lui chỉ để một bộ phận nhỏ kiềm chế quân giặc cho đội du kích rút lui, ngoài ra không có phòng ngự gì khác. Nếu bị đánh úp nơi đóng quân thì phải nhanh chóng và kiên quyết phản xung phong chống lại rồi rút ngay (trước đây có nói rồi).

B- Cách phòng ngự cǎn cứ địa của mình.

Đội du kích đã lập được một cǎn cứ địa có cơ quan trọng yếu như kho tàng, nhà trường, nhà thương thì đội du kích quyết không để quân giặc dễ lấy. Nhưng không phải chết sống gì cũng khư khư giữ lấy cǎn cứ địa. Muốn phòng ngự cǎn cứ địa phải chú ý mấy điều sau này:

1. Dùng lối điều quân lanh lẹ mà phòng ngự. Khi quân địch tiến đánh cǎn cứ địa của chúng ta, nếu có đủ lực lượng thì chúng ta có thể phái bộ phận nhỏ đi chiếm nơi hiểm yếu, xây hào luỹ để chống quân giặc. Làm thế để kiềm chế quân giặc, và để cho chủ lực quân du kích tìm cách đánh úp chúng.

Quân giặc tiến công cǎn cứ địa ta thường dùng lối chia ra nhiều đường mà tiến rồi hợp lại mà đánh. Nếu đội du kích đủ sức thì có thể phái bộ phận đi chặn các đường tiến của giặc, còn chủ lực quân thì lần lượt tiêu diệt các đạo quân của giặc còn cách xa nhau chưa kêu gọi được với nhau. Nếu các đạo quân giặc đến gần nhau rồi, kêu gọi được với nhau rồi thì chủ lực quân du kích phải nhắm chỗ yếu của giặc, đánh tạt ngang vào, chia quân giặc ra nhiều đoạn, rồi cứ từng đoạn mà tiêu diệt. Lối đánh này phải có lực lượng đầy đủ mới được. Nếu lực lượng ta yếu, thì ta phải tránh, quân giặc muốn đánh ta cũng không tìm thấy ta, đến lúc chúng không phòng bị, ta hãy đánh úp chúng, phá hại chúng được chừng nào hay chừng ấy.

2. Hết sức dùng mọi cách ngǎn cản quân giặc. Phải phá hoại đường sá, cầu cống, phá đập cho nước tràn vào. Tìm đủ cách ngǎn cản quân giặc nhất là bộ đội máy móc (bộ đội có xe chở súng) và kỵ binh của giặc.

3. Thực hành vườn không nhà trống. Thực hành vườn không nhà trống để làm cho quân giặc không có cơm ǎn, không có đồ dùng, không tìm được người làm phu.

4. Hô hào dân chúng tham gia vào việc đánh giặc. Muốn chống lại quân giặc, một sức đội du kích không đủ, phải hô hào dân chúng hết sức tham gia vào việc đánh giặc, như phá đường sá, cầu cống,

cắt dây thép, làm vườn không nhà trống, do thám tình hình giặc, canh phòng, chuyên chở đồ đạc, đưa đón người bị thương; tiến lên một bước nữa, dân chúng có thể tổ chức những đội vũ trang giúp sức đội du kích đánh giặc, giết giặc.

5. Lúc quân giặc tiến vào cǎn cứ địa mình, mình đánh phá đằng sau chúng. Lối đánh này cốt để cắt đứt sự liên lạc của giặc với nơi cǎn cứ của chúng. Phải phá đường sá, cầu cống, cắt dây thép, đánh úp đội vận tải, đánh úp quân cứu viện của giặc.

6. Dùng lối đánh chim sẻ hay lối đánh người Mán. Lúc quân giặc kéo vào cǎn cứ địa chúng ta, chúng ta phái đội viên du kích tản mát ra như một đàn chim sẻ, nấp hai bên đường, sau các mỏm núi, chỗ một người, cách nhau khá xa, rồi cứ nhằm vào hàng ngũ quân giặc, nhất là bọn quan mà bắn. Lối đánh chim sẻ này quyết không thắng được quân giặc, nhưng cũng làm cho chúng hao tổn và rối loạn, muốn chống lại cũng không biết đâu mà chống, rút cục chúng phải lùi.

Ví dụ: ở Hoa Bắc, một lần quân Nhật chia 6 đường đánh vào phía nam Chính Thái bị quân du kích Tàu dùng lối đánh “chim sẻ” bắn giết nhiều quá đến nỗi phải rút lui.

cpv.org.vn

———————————

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chương VII – Cách đánh đuổi giặc

Quân giặc đã bị đánh thua thì đội du kích phải đuổi theo thừa lúc chúng bị khó khǎn mà kế tiếp xung phong để tiêu diệt chúng. Tuy vậy không nên đuổi theo quá xa vì sợ gặp quân cứu viện của chúng.

Lúc quân giặc bị đánh tan rồi thì đội du kích phải cắt ra một số đội viên xếp dọn chiến trường (chiến trường là chỗ đánh nhau) cứu kẻ bị thương và đưa đi nơi dưỡng bệnh, xử trí những đồ đạc lấy được, xử trí tù binh. Còn đại đội thì phải đi ngay phòng khi tàu bay giặc đến ném bom. Chỉ khi nào mười phần chắc chắn là quân cứu viện giặc không đến được thì đại đội du kích mới nên ở lại hơi lâu để tiến hành các công việc tuyên truyền cổ động dân chúng.

Nếu quân giặc bị đánh bại ở nơi gần cǎn cứ địa của chúng ta thì chúng ta lại càng cần đuổi theo mà tiêu diệt. Lúc này phải động viên dân chúng giúp vào.

cpv.org.vn

Chương VIII – Cách rút lui

Đánh du kích cần biết cách rút lui vì sau một trận được hay thua gì cũng vậy, đội du kích cần phải rút lui ngay, có khi định đánh mà thấy quân giặc mạnh quá cũng phải rút lui ngay không đánh.

Đánh được rồi rút lui thì thường chẳng có gì khó, chớ để đánh thua rồi mới rút lui nghĩa là phải rút trước. Nếu đội du kích biết đo đắn cẩn thận, bao giờ mười phần chắc chắn mới tiến công, còn ngần ngại một chút cũng tránh đi là hơn vì khỏi mắc vào cảnh thua rồi mới rút lui. Nhưng nếu không may bị đánh thua rồi mới rút lui, hoặc gặp quân giặc quá mạnh, đánh không được phải rút lui, lại bị quân giặc đuổi theo thì phải đối phó thế nào. Lúc ấy cần phải chú ý 5 điều này:

1. Trước hết phải chọn một số đội viên rất can đảm và nhanh nhẹn ẩn núp lại chống với quân giặc để che chở cho số đông rút lui. Trong khi rút lui không nên phân chia ra từng bộ phận nhỏ, vì phân chia như vậy đội viên du kích dễ mất tinh thần và có khi lạc đường. Nhưng nếu hoàn cảnh bắt buộc thì phải phân chia, nhưng phải ước định với nhau trước chỗ tập hợp.

2. Đội trưởng và chính trị phái viên phải tỏ tinh thần và nǎng lực lãnh đạo của mình. Khó khǎn nguy hiểm chừng nào thì hai người ấy phải xung phong trước chừng ấy để dìu dắt bộ đội.

3. Tuy bị quân giặc đuổi theo, đội du kích vẫn phải tiếp cận dân chúng, cổ động dân chúng giúp mình, giúp lương thực, giúp dẫn đường, giúp giữ bí mật, giúp do thám, canh gác, có khi giúp chống quân giặc.

4. Lúc rút lui phải có kế hoạch thích hợp. Rút qua đường nào, rút cách thế nào, phải suy tính cẩn thận và chu đáo. Nhất là tránh bộ đội máy móc và kỵ binh của giặc. Đi qua đường nào phải làm mất dấu tích. Phải đi đường tắt, đi ban đêm hoặc công khai đi một đường rồi bí mật quặt giở lại đi đường khác, hoặc tìm đường mới hẳn mà đi, hoặc ǎn mặc như người thường hoặc ǎn mặc như quân lính của giặc mà đi, hoặc đi rất nhanh mỗi ngày 50 hơn cây số 1 .

5. Lúc tránh khỏi quân giặc rồi thì phải tìm ngay một nơi chắc chắn, tổ chức huấn luyện dân chúng cố làm chỗ ấy thành một nơi đứng chân rồi tổ chức lại đội du kích chuẩn bị tiến công quân giặc.

Đây là nói lúc quân giặc quá mạnh mình không thể nào chống lại nó được buộc phải chạy. Nếu quân giặc xoàng thì đội du kích có thể tìm nơi ẩn núp tốt chờ quân giặc đi qua tiến ra phục kích cho một vố rồi sẽ rút. Cố nhiên phải cẩn thận, không được liều mạng.

Một điều nữa cần chú ý trong đội du kích nếu có số người phụ trách việc phụ thuộc 2 (như thuốc men, sách báo, chữa súng, làm đạn) đi theo thì bao giờ cũng phải thu xếp cách che chở cho số người ấy rút lui một cách an toàn. Nhưng ngày thường cần huấn luyện cho số người ấy biết cách đối phó trong lúc khó khǎn này, nhất là cần giữ trật tự, phải trấn tĩnh, làm đúng theo kế hoạch đã định.

cpv.org.vn

Chương IX – Phá hoại

Phá hoại là phần rất trọng yếu trong cách đánh du kích. Phá hoại có thể ngǎn cản được đội máy móc, đội kỵ mã và làm chậm trễ đội bộ binh (bộ binh là lính đi đất) của giặc.

Muốn phá hoại phải có dân chúng ủng hộ và giúp sức. Đồng thời dân phải làm vườn không nhà trống thì mới có hiệu quả nhiều. Quân giặc đến đâu, đường sá, cầu cống đều bị phá tiệt, lại phải đói khát khốn khổ.

A- Nguyên tắc trọng yếu của cách phá hoại.

Trước khi phá hoại phải xét rõ phá hoại như thế thì thiệt hại quân giặc như thế nào và có thiệt hại gì cho ta không.

2 1 . Trước khi thi hành phá hoại phải hiểu rõ tình hình quân giặc gần đó. Phải hiểu rõ con đường hay cầu cống mình định phá hình thế ra sao, tiếp giáp với núi sông thế nào.

3. Lúc phá hoại phải xếp đặt đội yểm hộ (đội yểm hộ là đội phụ trách che chở cho số người phá hoại). Đội yểm hộ phải đóng những nơi quân giặc có thể qua lại, nếu quân giặc yếu, đội yểm hộ có thể giải quyết được thì giải quyết nếu không đủ sức giải quyết thì lờ đi (nếu quân giặc không đi đến chỗ đường phá hoại) hoặc che chở số người phá hoại rút lui cho an toàn.

4. Phải chọn: a) thời gian, b) cơ hội, c) địa điểm.

a) Thời gian nên chọn ban đêm vì dễ bí mật.

b) Chọn cơ hội thì phải chú ý lúc nào phá hoại thì hại nhiều cho quân thù và lợi nhiều cho ta. Ví dụ: chúng ta đã biết ngày nào, giờ nào có đoàn xe của giặc đi qua con đường nào, thế là trước ngày ấy, giờ ấy, chúng ta đã phá hoại xong đường sá, cầu cống quân giặc sắp đi qua làm cho chúng bị đổ xe, tổn hại. Hoặc chúng ta đã biết giặc sắp đi qua con đường nào để tiến công chúng ta. Chúng ta lập tức phá hoại cầu cống, đường sá rồi ẩn núp gần đó, chực quân giặc đến, bối rối với chỗ phá hoại là chúng ta phục kích.

c) Còn địa điểm thì nên chọn nơi nào ? Phải chú ý hai mặt: một là nơi nào quân giặc ít chú ý canh gác tuần phòng, có thể tiến hành việc phá hoại dễ dàng. Hai là nơi nào hiểm yếu khó sửa chữa.

B- Cách thức phá hoại.

1. Phá hoại các thứ dây thép thì nên chọn các đoạn dây vượt qua sông núi hoặc ở đường ngã ba, ngã tư, vì phá hoại những chỗ ấy rất khó sửa chữa. Phải phá hoại cả cột lẫn dây. Nếu phá hoại để dụ quân giặc đến sửa chữa rồi đánh úp chúng thì nên chọn nơi có chỗ ẩn núp tốt.

Phá hoại xong phải vất hay huỷ những vật liệu đã bị phá hoại như cột dây thép, bình sành, giǎng dây, không để cho quân giặc dùng làm lại. Còn dây thép mang đi được thì mang, không mang được thì cũng huỷ tiệt.

Muốn cho quân thù khó tìm ra chỗ phá thì có thể dùng dây chì buộc vào dây thép rồi cho thông xuống đất, nếu có cột sắt thì cứ dùng chì nối dây thép với cột sắt làm cho luồng điện chạy qua cột sắt rồi chạy xuống đất. Dây bọc cao su thì cắt đứt một đoạn dây thép rồi bọc cao su lại như cũ. Phá như thế thì quân thù khó tìm ra chỗ bị phá. Lúc phá hoại dây thép chú ý không để điện giật. Phải mang bao tay da, lúc giông to, sấm sét thì phải thôi ngay.

2. Phá hoại cầu cống. Cầu gỗ, cầu tre, cầu phao (cầu phao là cầu kết thuyền làm) thì dùng chất cháy mà đốt, hoặc tháo gỗ, tháo tre, tháo thuyền. Cầu đá thì đào phá hoặc dùng thuốc nổ để phá. Cầu sắt thì phải có người chuyên môn dùng thuốc nổ mà phá.

3. Phá hoại đường xe hoả. Phải phá chỗ khó sửa chữa. Cách phá: có thể vặn đinh ốc để tháo đường ray. Nếu có người chuyên môn và có đủ đồ phá hoại thì có thể làm cho đường xe hoả vô dụng.

4. Phá hoại đường ô tô. Phá đường để chuẩn bị đánh úp, thì nên phá chỗ dễ ẩn núp. Nếu không thì chú ý phá nơi nào khó sửa chữa nhất, nơi đường quanh, lên dốc, xuống dốc, nơi qua sông. Nếu muốn đánh lừa làm hại quân giặc thì sau khi phá lấy ván lát lại rồi rải đất như đường thường. Xe ô tô quân giặc đi qua là đổ ngay. Chỗ con đường kẹt giữa núi có thể xô đá lấp hẳn đi. Chỗ thấp có thể tháo nước tràn ngập.

5. Phá đồn luỹ, thành quách. Đồn luỹ, thành quách là nơi chống giữ rất tốt của quân giặc, vì chúng có súng ống tốt. Chúng ta lấy được là phải phá huỷ ngay, vì chúng ta không thể nương dựa vào thành luỹ để chống lại với súng ống tốt của giặc.

Ví dụ: ở Hoa Bắc, các đội du kích của Đội quân thứ 8 thường tổ chức dân chúng phá hoại các đường ô tô, đường xe hoả, cầu cống, các thứ dây thép của Nhật. Chỉ trong một đêm, hàng mấy chục cây số bị phá hoại. Quân Nhật phải hao tổn nhiều mới sửa chữa lại, nhưng rồi lại bị phá hoại. Cứ như thế không biết bao nhiêu lần.

cpv.org.vn

Chương X – Thông tin và liên lạc

Đánh du kích cần xếp đặt thông tin và liên lạc cho nhanh chóng, chắc chắn và chu đáo. Không có thông tin và liên lạc với các nơi thì đội du kích đứng chơ vơ giữa trời, không làm gì được.

Thông tin và liên lạc của du kích phần lớn nhờ cậy vào dân chúng. Người phụ trách thông tin và liên lạc phải chọn người nhanh nhẹn, chắc chắn và khôn khéo, dùng lối đi bộ, đi ngựa, đi xe, đi thuyền để đưa tin tức. Lúc cần phải dùng nhiều người, đi nhiều đường phòng khi người này bị trắc trở, đường này bị trắc trở thì còn người khác, đường khác. Hẹn nhau phải hẹn nhiều địa điểm, nhiều giờ khác nhau phòng khi địa điểm này hay giờ này bị trắc trở còn địa điểm khác, giờ khác. Phải ước định với nhau dấu hiệu hẹn nhau như: ở gần núi thì dùng tiếng chim kêu, gần làng thì dùng gà gáy, chó sủa; dọc đường phải có dấu hiệu riêng như ở rừng thì vạch da cây (1) , ở làng thì dùng dấu riêng viết trên tường. Ban đêm thì có thể đốt lửa, ban ngày có thể hun khói hoặc dùng lối khác thông tin liên lạc với nhau. Phải chờ lúc đội du kích phát triển nhiều thì mới có cách thông tin liên lạc bằng dây thép và vô tuyến điện.

cpv.org.vn

——————————

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chương XI – Hành quân

Lúc hành quân cần chú ý 3 điều: một là nhẹ nhàng nghĩa là chỉ mang theo những đồ rất cần thiết; hai là nhanh chóng, nhanh chóng chừng nào hay chừng ấy; ba là bí mật, không những bí mật với quân thù còn phải bí mật với dân chúng nữa.

Lúc hành quân cần xếp người trinh thám hoá trang đi trước. Người ấy phải chú ý:

1. Do thám sự canh phòng xếp đặt của giặc ở dọc đường.

2. Khấu lưu 1 những người đáng nghi ngờ gặp giữa đường.

3. Gặp lính gác của giặc thì báo đội du kích hết sức tránh hay im lặng giải quyết.

4. Nếu gặp bộ đội quân giặc thì lập tức báo cáo đội trưởng quyết định đánh hay chuồn.

5. Đặt các dấu hiệu dọc đường, để báo tin, người đi sau phải nhặt sạch.

Lúc hành quân nếu đằng trước có quân giặc thì người đội trưởng phải đi trước, còn người chính trị phái viên đi sau. Nếu đằng sau có quân giặc thì người đội trưởng phải đi sau, nếu hai bên có giặc thì người đội trưởng đi giữa.

cpv.org.vn

Chương XII – Đóng quân

Đóng quân phải chú ý chọn chỗ thuận tiện để nghỉ ngơi và phòng thủ. Nếu chỗ đóng quân xa quân thù và có địa thế hiểm yếu không sợ bị quân thù đánh úp thì có thể đóng quân trong làng. Nếu không được thế thì phải rất cẩn thận trong lúc đóng quân.

1. Không nên đóng trong làng, phải tìm chỗ rừng núi mà đóng.

2. Mỗi đêm đóng một chỗ, nếu cần thì trong mỗi đêm cũng thay đổi chỗ đóng. Đến nơi rồi, cấm ngay người ra vào.

3. Phải canh gác rất cẩn thận.

Xem xét địa hình. Bất kỳ đóng nơi nào, người đội trưởng phải xem xét tỉ mỉ địa hình, chú ý đường tiến đường thoái, cách đối phó nếu bị đánh úp bất ngờ. Đồng thời quyết định chỗ tập hợp và đặt chỗ canh gác.

Lúc nghỉ ngơi phải tập trung với nhau một chỗ, không nên phân tán ở nhiều nhà, vũ trang và đồ đạc (1) phải sẵn sàng bên cạnh, nếu cần, súng cứ phải mang trong người và lên đạn.

cpv.org.vn

—————————————

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chương XIII – Cǎn cứ địa

Đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở. Tại nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập. Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ.

Đội du kích hoạt động phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên cǎn cứ địa vững vàng, nhất là sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc và thành lập chính quyền cách mạng trong địa phương. Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì cǎn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được.

Có chính quyền cách mạng của địa phương, có cǎn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hoá ra quân chính quy (quân chính quy là đội quân tổ chức theo quy củ nhất định về mặt biên chế, kỷ luật, súng ống, áo quần, ǎn uống đều theo quy củ nhất định ấy).

cpv.org.vn

Chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân 12-1944

1. Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hǎng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam.

Tháng 12 nǎm 1944
Hồ CHí MINH

In trong sách Vǎn kiện Đảng, (từ 25-1-1939 đến 2-9-1945),
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr. 459-460.
cpv.org.vn

Tặng cháu Nông Thị Trưng 1944

Vở này ta tặng cháu yêu ta,

Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là.

Mong cháu ra công mà học tập,

Mai sau cháu giúp nước non nhà.

Nǎm 1944

In trong sách: Hồ Chí Minh,
Thơ, Nxb Vǎn học, Hà Nội,
1970, tr. 47.

Theo bài in trong sách Hồ Chí Minh, Thơ.
cpv.org.vn

Phép dùng binh của ông Tôn Tử

Ông Tôn Tử là một người quân sự có tiếng nhất ở Trung Quốc. Ông sinh hơn 2.000 nǎm trước. Ngày nay chẳng những trường học Trung Quốc, mà những trường học quân sự các nước cũng lấy phép này làm gốc và ra sức nghiên cứu. Vì phép ông Tôn Tử tuy đã lâu đời nhưng nguyên tắc đến nay vẫn là rất đúng.

Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về quân sự đúng, mà dùng về chính trị cũng rất hay. Cách ông Tôn Tử nói rất giản đơn vắn tắt, chữ ít mà nghĩa nhiều. Nếu dịch theo từng câu từng chữ thì khó hiểu lắm. Cho nên đây chỉ dịch theo ý nghĩa. Mong các đồng chí ra sức nghiên cứu cho hiểu rõ nguyên tắc đó, và dùng nó trong công tác chính trị và quân sự của mình. Phép dùng binh Tôn Tử có 13 chương:

1- Kế hoạch.

2- Phép chiến tranh.

3- Đánh bằng mưu.

4- Quân hình.

5- Thế của binh.

6- Chỗ mạnh và chỗ yếu.

7- Quân tranh.

8- Chín dự biến.

9- Phép hành quân.

10- Địa hình.

11- Chín thứ đất.

12- Phép đánh bằng lửa.

13- Dùng trinh thám.

Việt Minh xuất bản tháng 2-1945.
In theo sách Việt Minh xuất bản.
cpv.org.vn