Thư viện

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (VI)

Đại tướng Juin đến chào Chủ tịch – các cháu gặp Bác –
Ông thượng sứ D’argenlieu, ông Moutet và Hội Pháp – Việt đến chào Chủ tịch.

Ngày 23 tháng 6

Tất cả các báo Pháp đều đǎng lên trương nhất về cuộc đón tiếp Cụ Chủ tịch.

6 giờ 30, Cụ Chủ tịch và mấy anh em đi dạo rừng Boulogne. Tuy gọi là rừng nhưng kỳ thực là cái vườn rộng thênh thang, có non bộ, ao nước, hoa cỏ xinh tươi, cây cối um tùm, lại có sân đánh vợt, hồ bơi thuyền. Có hàng cơm quán rượu. Đây là một thắng cảnh ở Paris, nổi tiếng khắp thế giới.

12 giờ, Đại tướng Juin đến chào Cụ Chủ tịch. Ông Juin là một danh tướng, hiện nay giữ chức Tham mưu trưởng trong quân đội Pháp. Hồi tháng tư vừa rồi, ông ở Trung Hoa về có ghé xuống Hà Nội thǎm Cụ Chủ tịch. Ông là người có tài lớn nhưng tính tình lại rất giản dị.

Buổi trưa, anh em phái đoàn và ba đại biểu lính chiến Việt Nam ở lại ǎn cơm. Kế đó, các anh em trí thức ta ở Pháp đến chào Cụ Chủ tịch. Phần nhiều anh em là thầy thuốc, kỹ sư, trạng sư và một vài người hoạ sĩ, ai cũng náo nức muốn về ngay để giúp Tổ quốc.

5 giờ chiều, có 50, 60 trẻ em giai gái, lớn thì 13, 14 tuổi, bé thì chưa đầy nǎm. Có em thì cha mẹ là người Việt, em thì bố ta mẹ tây. Lắm em không hiểu tiếng ta, nhưng em nào cũng biết hát “Tiến quân ca” và “Hồ Chí Minh”.

Nhân dịp Cụ Chủ tịch qua Pháp, các em đều mặc áo ta. Các chị phụ nữ cũng vậy. Nhiều chị em Pháp cũng mặc áo ta.

Cụ Hồ trao lá cờ của nhi đồng Việt Nam ở Hà Nội tặng nhi đồng Việt Nam ở Pháp, rồi Cụ mời các em ǎn bánh, uống nước trà. Các em hát múa, chơi đùa rất là vui vẻ. Lúc nào cũng xúm xít ríu rít bên Cụ, em thì đòi Cụ ẵm, em thì nắm lấy tay. Chẳng những các em không biết lạ mà em nào cũng tỏ vẻ như biết Cụ đã lâu, rất mến yêu và thân thiết.

Trước khi các em về, Cụ Hồ và các em có chụp ảnh kỷ niệm.

Hai hôm nay, nhiều nhà báo Pháp và ngoại quốc đến phỏng vấn, nhưng Cụ Chủ tịch đều từ tạ, và hứa rằng mai kia sẽ gặp chung tất cả các báo.

Hôm nay, Chính phủ Pháp thành lập, có 30 Bộ trưởng và Thứ trưởng. Đảng M.R.P 10 người, Đảng Cộng sản 10 người, Đảng Xã hội 7 người. Các đảng nhỏ có 3 người.

Ngày 24 tháng 6

Sáng sớm, Cụ Chủ tịch và anh em cũng đi dạo rừng Boulogne, chừng một tiếng đồng hồ.

8 giờ 30, hơn 100 anh em đại biểu kiều bào Nam Bộ đến chào cụ Chủ tịch. Sau khi nghe Cụ giải thích tình hình ở nước nhà, anh em đồng thanh hứa trung thành với Tổ quốc và ra sức ủng hộ chính phủ, để làm cho nước nhà độc lập và thống nhất. Nhiều anh em cảm động ứa nước mắt.

Buổi trưa, Bộ trưởng Moutet và nhiều người tai mắt trong chính phủ Pháp đến chào Cụ Chủ tịch. Tiếp đó, Thượng sứ D’Argenlieu cũng đến chào Cụ.

7 giờ chiều, Ban trị sự Hội Pháp – Việt đến chào mừng Hồ Chủ tịch. Trong đó có các ông: Justin Godart, Cựu Bộ trưởng, nhà kiến trúc sư danh tiếng, Francis Jourdain, giáo sư và nghị viên Rivet, giáo sư Baillet, Tướng Petit, ông hội trưởng Liên đoàn báo giới Pháp, trạng sư Nordman, vǎn sĩ Bloch, nhà lãnh tụ phụ nữ vận động bà Cotton v.v..

Ngày hôm nay rất nhiều kiều bào suốt ngày đến thǎm Cụ. Các nơi gửi thơ, đánh điện tín về cũng nhiều.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (V)

Đi thǎm suối nước nóng – từ biệt biarritz – chặng tiếp đón thứ nhất:
từ sân bay Bourget về khách sạn Royal monceau – các cháu bên Pháp gặp Bác.

Ngày 19 tháng 6

Đi thǎm xứ Dax. ở đây có suối nước nóng gần như nước sôi. Suối ấy mỗi ngày chảy gần triệu rưỡi lít, uống rất lành. Mùa rét có máy đem nước ấy vào nhà làm cho ấm. Người ta dùng bùn xứ Dax để chữa bệnh thấp. Có nhà tắm đặc biệt cho người có bệnh, họ lấy bùn phủ cả người hoặc nằm vào bùn nóng. Làm như thế ít lâu thì hết bệnh.

Đi thǎm Lourdes – Lourdes là một nơi phong cảnh rất đẹp. Có nhà thờ đạo nguy nga và có tiếng là thiêng. Hàng nǎm rất nhiều người đến cầu nguyện, nhất là cầu nguyện cho khỏi bệnh tật.

Ngày 20 tháng 6

Cụ Chủ tịch và mấy anh em tuỳ tùng đi câu cá thu với thuyền chài làng Handaye, gần Biarritz.

Thuyền ra cách bờ chừng 5 cây số thì bắt đầu câu. Cần câu dài như cây tre. Dây câu rất dài, mồi bằng vỏ bắp ngô, tước nhỏ như sợi tóc, cột vào lưỡi câu. Câu chừng 2 tiếng đồng hồ chẳng được gì. Đến khi gần trở về thì câu được 13 con, mỗi con cân nặng chừng 12 đến 15 cân tây.

Chiều nay, có ông Tillon, Bộ trưởng Bộ Quân giới và ba nghị viên Pháp đến Biarritz chào Chủ tịch. Mấy ông ǎn cơm chiều với Chủ tịch, rồi ngủ lại một đêm.

Ngày 21 tháng 6

Đi chơi quanh miền Biarritz. Trên bờ bể còn nhiều pháo đài do người Đức làm để đề phòng cuộc đổ bộ của các nước Đồng minh. Nhưng hiện nay đã bị phá huỷ hết.

Khắp vùng, đường sá thẳng thắn, rộng rãi, sạch sẽ, hai bên có giồng cây rất đẹp và mát mẻ. Tự vùng này trở lên phía Bắc có rất nhiều rừng thông. Những rừng thông giồng đã 150 nǎm nay, mục đích để che gió bể và ngǎn cát khỏi bay lấp ruộng nương. Đồng thời gỗ thông và nhựa thông bán được nhiều tiền. ở các rừng thông, người ta dùng lửa, củi phải rất cẩn thận, vì cây thông dễ cháy, và nếu không may mà cháy thì lửa chóng lan rộng ra ngay.

Ngày 22 tháng 6

Cụ Chủ tịch lên Paris.

12 giờ ở lữ quán ra đi. Các quan chức sở tại, đội cảnh sát và công an tề tựu tiễn Cụ. Trên sây trường bay có bộ đội bồng súng chào. Cụ Chủ tịch bắt tay mọi người và nói mấy câu cảm ơn, hết thảy đều tỏ tình quyến luyến.

Đúng 1 giờ trưa, máy bay cất cánh. Trên máy bay có cắm cờ Việt Nam, cờ Pháp. Trông xuống thấy phố xá, làng mạc, ruộng nương xanh, đỏ, man mác và phì nhiêu. Miền này không bị chiến tranh tàn phá mấy.

Gần đến Paris, máy bay liệng quanh một vòng ngắm thành phố Paris, và ngoại ô, to và rộng. Những cái dễ nhận nhất và thấy trước hết là tháp sắt Eiffel, lǎng vua Nã Phá Luân có nóc tròn và sơn bằng vàng, nhà thờ đạo “Sacré Coeur” trên gò Montmartre, Cửa Khải hoàn (Arc de Triomphe) có mười hai đường phố chầu lại, nhà thờ “Notre Dame” và nhiều ống khói của các nhà máy cao ngất, có cái đương nghi ngút toả khói.

Đúng 4 giờ 15, máy bay đỗ xuống trường bay Le Bourget. Khi tàu liệng thấp đã ngó thấy người đông như kiến trên sân.

Tàu vừa tắt máy đã thấy Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, Bộ trưởng Bộ Nghi lễ đại biểu cho Chính phủ Pháp, các tướng, các đô đốc, đại biểu cho hải, lục, không quân ra đón Chủ tịch vào nhà ga. Từ trong nhà ga rải một đường thảm nhung đỏ dài ra đến chỗ lên xe ô tô. Khắp xung quanh và trong nhà ga, treo nhiều cờ Việt Nam và Pháp. Trên một đỉnh cột cao nhất trước ga, phấp phới một lá cờ đỏ sao vàng lớn. Ngoài thềm ga, có đại biểu các đảng, các đoàn thể Pháp và đại biểu kiều bào xúm lại hoan nghênh và hoan hô Chủ tịch. Một đại biểu phụ nữ Pháp tặng Cụ bó hoa và thân thiết hôn Cụ. Đại biểu kiều bào cũng tặng hoa.

Đội quân danh dự cử bài quốc ca Việt và Pháp. Cụ Chủ tịch và đại biểu Chính phủ Pháp đứng chào cờ, rồi đi duyệt binh. Hàng nghìn kiều bào, trí thức, lao động, binh lính, phụ nữ, nhi đồng, đủ mặt các giới hoan hô, mừng rỡ, tưng bừng rộn rã. Hàng trǎm người chụp ảnh và quay phim xúm xít chụp trước, quay sau.

Trước khi lên xe, đại biểu Hãng thông tấn Pháp đem máy truyền thanh lại xin Cụ nói mấy câu. Đại ý Cụ nói: Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi một cách long trọng, mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt cộng tác một cách bình đẳng, thật thà, và thân thiện.

Nói xong, Cụ Chủ tịch cùng đại biểu Pháp và ông trưởng đoàn phái bộ ta lên xe vào Paris. Trước sau, nhiều xe ô tô và mô tô của Công an cục Paris và Bộ Nội vụ đi hộ vệ và dẫn đường. Hai bên đường từ trường bay về lữ quán, cách mấy chục thước lại có một người cảnh binh đứng canh, cấm xe cộ và người không được đi lại. Dân chúng Paris đứng hai bên đường rất đông, nhiều chỗ xe Chủ tịch qua họ vỗ tay và hoan hô, tỏ tình hoan nghênh và thân thiện.

Ở lữ quán cũng có một bộ đội danh dự đứng chào và canh gác. Trên cửa lữ quán tung bay một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn.

“Royal Monceau” là một lữ quán sang trọng ở Paris. Đã có sự sắp sửa trước phòng khách, phòng ǎn, phòng giấy, buồng ngủ, buồng tắm cho Cụ Chủ tịch và anh em tuỳ tùng. Chính phủ Pháp để 3 cái xe ô tô để Cụ dùng và mỗi khi đi đâu cũng có người theo hộ vệ.

Cuộc đón tiếp chính thức đến đây là một đoạn.

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (IV)

Phái đoàn từ giã Biarritz đi paris – đi thǎm phong cảnh trong xứ basque
và dự những cuộc vui nhà quê – Bộ trưởng bộ quân giới từ paris xuống thǎm chủ tịch.

Ngày 15 tháng 6

Được tin Thượng sứ D’Argenlieu từ Sài Gòn về đến Paris.

11 nghị viên Algériens lập thành phái dân chủ, tên là “Union démocratique du Manifeste Algérien”. Chủ tịch là ông Ferhat Abbas, Phó Chủ tịch Saadane và Nolefai, Thư ký Boutaren.

Ngày 16 tháng 6

Phái đoàn ta từ giã Biarritz đi Paris.

Hôm nay, Cụ Chủ tịch và mấy tuỳ viên đi xem làng mạc gần Biarritz, giáp giới Tây Ban Nha. Nước Pháp và Tây Ban Nha chỉ cách nhau một giòng suối nhỏ. Bên kia suối cách vài trǎm thước lại có chòi canh của Tây Ban Nha. Có một con đường xe lửa thông nước Pháp với Tây Ban Nha, nhưng vì tình thế chính trị, hiện nay hai bên đều đóng biên giới.

Ngày 17 tháng 6

Đi thǎm phong cảnh miền núi Pyrénée. Dân làng Sare đặc biệt tổ chức một cuộc múa và một trận đánh cầu “Pelote” để hoan nghênh Cụ Chủ tịch. 20 trẻ em gái và 20 cô thiếu nữ mặc áo quần địa phương, do một người thầy dậy múa chỉ huy múa theo nhịp âm nhạc. Pelote là một thứ cầu riêng của xứ Basque. Quả cầu giống quả cầu vợt (tennis) nhưng nặng hơn. Vợt thì đan bằng mây, dài hơn cánh tay, hình giống cái liềm, nòng vũm và rộng, đút tay vào được. Người đánh cầu chia làm hai phe, mỗi bên 4 người, đánh vào bức tường rất cao và rộng. Người phe A đánh vào tường, cầu nhảy ra, người phe B đón cầu đánh vào tường. Đánh đi đánh lại, bên nào đánh hụt bên ấy thua.

Người đến xem rất đông. Khi cuộc đánh cầu và cuộc múa xong, các chức việc trong làng mời Cụ Chủ tịch và anh em tuỳ viên đi uống rượu. Trẻ em xúm xít chung quanh. Cụ Chủ tịch chụp một bức ảnh với các em để làm kỷ niệm.

Trong khi chuyện trò, người làng nói một cách thật thà rằng: trong làng người nào cũng có buôn lậu, vì vùng này gần biên giới Tây Ban Nha.

Hôm nay các báo bắt đầu nói về việc nước ta.

Ở Pháp thì vấn đề tǎng lương 25% cho những người lao động đương là vấn đề chính và gay go.

Đời sống của dân Pháp còn hạn chế. Thí dụ: bánh mì mỗi người mỗi ngày được 300 gam, rượu vang mỗi tháng 2 lít. Bơ mỗi tháng 50 gam, đường mỗi tháng nửa cân, thịt mỗi tuần 100 gam. Thuốc lá mỗi tháng 6 gói thuốc (mỗi gói 20 điếu) và 1 gói thuốc rời. áo quần và giầy, theo người làm trong lữ quán nói thì từ lúc chiến tranh đến giờ, họ chỉ mua được một bộ quần áo và một đôi giầy.

Ngày 18 tháng 6

Dân Pháp kỷ niệm kháng chiến. Khắp cả nước đều có cuộc vui. Sáng sớm, Cụ Chủ tịch đặt vòng hoa trước Đài chiến sĩ trận vong. Buổi chiều, dân sự nhảy đầm, đồng thời có cuộc “Múa bò”. Người ta làm con bò giả bằng giấy, do hai người đội đi. Trên sừng bò cột các thứ pháo hoa. Khi pháo cháy thì bò xông vào những đám đông, mọi người đều reo cười, chạy tán loạn. Trò này giống trò múa sư tử ở ta.

Những việc chính trị trọng yếu trong ngày hôm nay:

Đại giáo chủ Hồi Hồi thân Đức mà từ trước đến nay bị giam lỏng ở Pháp, hôm vừa rồi trốn đi. Báo Pháp và báo thế giới ầm ĩ nói về việc đó.

Nước ý sắp sửa bỏ vua để lập chính phủ Cộng hoà.

Ở Palestine, dân Do Thái bạo động.

Các báo đều đǎng kết quả cuộc tuyển cử ngày 2 tháng 6 vừa qua, so với cuộc tuyển cử ngày 21 tháng 10 nǎm ngoái.

Tuyển cử ngày 21-10-45

Tuyển cử ngày 2-6-46

Số phiếu

Số nghị viên

Số phiếu

Số nghị viên

458 vạn

148

M.R.P

659

165

500 –

Cộng sản

414

50

419 –

137

Xã hội

418

123

288 –

1)

Cộng hoà tự do

252

63

201 –

39

Phái tả

229

40

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (III)

Một chặng bay dài nhất: 2613 cây số – biarritz, nơi cụ dừng chân trước khi đến paris –
kiều bào khắp thế giới đánh điện về biarritz.

Ngày 9 tháng 6

Sáng nay, được tin Paris nói: Chính phủ Pháp mời Hồ Chủ tịch đến Cannes (Pháp) tạm nghỉ, chờ Chính phủ mới thành lập, sẽ đón Cụ Chủ tịch về Paris.

Cụ Chủ tịch và mấy anh em trong phái đoàn đi xem Kim tự tháp Sekharat.

Tháp này lâu đời hơn tháp ở Le Caire. Và ở đây có những “mả chôn bò” đời xưa.

Mả ở trong một cái hầm sâu và rộng thênh thang. Vào xem phải có đèn đuốc. Cách một đoạn lại có một mả bò. Bây giờ chỉ còn hòm chứ bò không còn nữa. Hòm làm bằng đá, mài trơn lỳ hoặc có chạm trổ, dài hơn 3 thước tây, ngang chừng 2 thước, cao hơn 2 thước, đặt trên những bệ bằng đá. Đó cũng là những công trình to tát.

Vì tôn giáo đời xưa xem bò là một thứ súc vật thiêng liêng, cho nên kính trọng nó như thế. Bây giờ ở ấn Độ cũng vẫn còn kính trọng bò.

ở đây, đền chùa đời xưa di tích còn nhiều. Những di tích đó tỏ cho chúng ta biết rằng: nghề kiến trúc và chạm trổ hồi đó rất khéo. Nhiều tường vách trong đền chùa có những bức vẽ, tả đời sống của vua chúa đời đó, màu sắc vẫn còn tươi. Nhớ lại trong Viện khảo cổ có những cành lá và những xác người đã cách mấy ngàn nǎm vẫn còn nguyên vẹn, chứng tỏ rằng nghề chế thuốc đời xưa giỏi lắm.

Hiện nay có một nhà bác học người Pháp phụ trách xây dựng đắp lại những đền đài ở Sakharat.

Ngày 10 tháng 6

Hôm nay lại được điện Paris nói khác với điện hôm qua, mời Hồ Chủ tịch đến Biarritz, chứ không phải đến Cannes. Anh em có người đề nghị đi xem Ismalia ở trên kênh Suez. Có người lại đề nghị nghỉ cho khoẻ để mai đi.

Đi dạo các hàng bán sách. Người ta nói: ở đây có nhiều thứ sách Pháp mà bên Pháp không có bán, vì ở đây giấy rẻ, dễ in hơn. Cũng như xe hơi Pháp, ở Pháp lại khó mua hơn ở đây.

Khát nước, Cụ Chủ tịch vào hàng cà phê uống nước chanh. Hàng này cây nhiều, sân mát, khách ngồi đầy cả trong ngoài. Đương ngồi uống nước thì có một người đi lại, nói một cách rất lễ phép xin chụp ảnh Hồ Chủ tịch.

Anh em mỗi người mua một ít sách, rồi về soạn sửa để mai đi.

Ngày 11 tháng 6

Sáng sớm từ giã Le Caire, bay đến Bengasi, 1.090 cây số. Nghỉ lại ǎn cơm. Ǎn rồi lại bay. Bengasi thuộc xứ Tripolitaine, trước là thuộc địa ý, nay có quân đội Anh đóng. Có một ít tù binh Đức làm công tại trường bay.

Gần chiều thì bay đến Biskra, 1.523 cây số.

Thế là hôm nay bay xa nhất, cộng = 2.613 cây số.

Đến nơi thì có ông Tỉnh trưởng và ông Huyện trưởng người Pháp đón tiếp. Khí trời nóng nực, thành phố sơ sài. Nghỉ một lát, đi thǎm vườn cây chà là của ông Ben Ali, người Arabe, hội viên thành phố. Ông là nhà quý tộc bản xứ, có qua học ở Pháp.

Chiều tối, bên cạnh lữ quán có chiếu bóng ngoài sân, đứng trên hiên xem xuống cũng được. Đại khái chiếu truyện sau này:

“Nước quân chủ nọ có một ông vua trẻ con. Mẹ vua ở một nước bên Âu. Vua đi thǎm mẹ, theo trẻ con chơi đùa thích lắm. Lúc trở về nước, đi đến nửa đường thì được tin trong nước cách mệnh, lập nền cộng hoà. Vua bé chẳng những không buồn rầu mà lại vui mừng hớn hở, nói rằng: “Tôi không phải làm vua ngồi ngai vàng nữa! Tôi lại được chơi đùa vốc đất với trẻ con, sướng quá, sướng quá!”.

Tin tức: Báo “Rạng đông” (Aurore) đǎng: Đã mấy tháng nay, mấy vạn người trong thành phố này không được ǎn một miếng thịt tươi.

Ngày 12 tháng 6

Bay từ Biskra (Algérie) đến Biarritz, 1.525 cây số.

Vì chính phủ Pháp chưa thành lập, chưa có ai chính thức đón tiếp Hồ Chủ tịch, nên Cụ nghỉ lại ở Biarritz vài hôm.

Biarritz là một bãi bể nghỉ hè ở miền tây nam nước Pháp, gần Tây Ban Nha. Phong cảnh tuyệt đẹp. Lâu đài và lữ quán lịch sự rất nhiều.

Cụ Chủ tịch và phái đoàn ở lữ quán Carlton, là một lữ quán rất lịch sự ở Biarritz.

Ngày 13 tháng 6

Hôm nay nhiều đại biểu kiều bào ở khắp các nơi trong nước Pháp đến chào Cụ Chủ tịch. Nhiều anh em cùng vợ con đến chào Cụ. Lại rất nhiều kiều bào quyên tiền nhờ Cụ Chủ tịch đưa về cho Tổ quốc. Tuy số tiền không là bao, nhưng tấm lòng hǎng hái yêu nước thế thật là quý báu. Cụ Chủ tịch có gửi thơ cảm ơn các kiều bào đó.

Rồi kiều bào ở Pháp, ở Anh, ở Mỹ, ở Nouvelle Calédonie và các nơi khác khắp thế giới đều có gửi điện chúc mừng Cụ Chủ tịch và tỏ lòng yêu mến Tổ quốc.

Ngày 14 tháng 6

Hôm nay cũng như mọi ngày khác, sớm dậy thì Cụ Chủ tịch và anh em ra bãi bể chơi chừng một tiếng đồng hồ. Đến lúc về đã có kiều bào hoặc các nhân sĩ Pháp đến thǎm.

Các đoàn thể Pháp, như Tổng Công hội (C.G.T), Hội Pháp – Việt, v.v. có gửi điện chào mừng và hoan nghênh Cụ Chủ tịch.

Hội Pháp – Việt mới thành lập được mấy hôm trước. Mục đích của Hội là giúp cho Việt Nam độc lập. Trong Hội có tất cả các đảng phái. Trong Ban trị sự thì có những người danh tiếng như ông Justin Godart, ông Francis Jourdain, Tướng Petit, v.v.. Phụ nữ thì như bà Joliot Curie, một nhà khoa học nổi tiếng toàn thế giới, bà Braun đảng viên cộng sản, Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp, bà Andrée Viollis, một nhà viết báo nổi tiếng khắp toàn cầu. Hội này mới ra một tờ báo hàng tuần nói về việc nước ta. Hội có giao thiệp mật thiết với kiều bào ta, nhưng hội viên toàn là người Pháp. Đã có một vài tỉnh lập ra Hội nhánh.

Về việc Hội nghị Việt – Pháp, chưa nhất định nơi nào. Các báo Pháp, báo thì nói sẽ khai tại Compiègne, báo thì nói sẽ khai tại Paris hoặc Chantilly, báo thì nói rõ sẽ khai tại Fontainebleau.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (II)

Từ ấn độ sang miền tiểu Á – Ai Cập, đất Anh đóng quân, nhưng Ai Cập không dự chiến – đi xem “thành phố ma”.

Ngày 4 tháng 6

Bay từ Calcutta tới Agra. Chừng 1.630 cây số.

Khí trời rất nóng.

Buổi chiều, Cụ Chủ tịch và anh em phái đoàn đi xem mấy nơi cổ tích ở Agra:

1. Lâu đài Delhi Gate do vua ấn Độ là Schab Djihan xây đắp từ thế kỷ thứ 17. Lâu đài này làm toàn bằng đá, rất to lớn và rộng rãi; kiến trúc rất khéo.

2. Lǎng Taj Mahab của bà Noor Mahab, vợ vua Schab Djihan xây bằng đá trắng. Chung quanh có vườn rộng, cây cối um tùm. Trước cửa có đài vuông cũng xây bằng đá trắng, giữa đài có hồ nước. Từ đài vào đến lǎng, hồ nước dài hơn hai trǎm thước, bờ hồ cũng toàn bằng đá trắng. Nền lǎng rất cao. Bốn góc có bốn tháp tròn, cũng bằng đá trắng, trong có bực thang lên đến ngọn tháp. Lǎng to lớn như một toà nhà vuông, hai từng trên, một từng hầm. Chạm trổ tỷ mỷ. Đi vào xem phải tháo giầy hoặc mang dép vải của những người ấn Độ chực sẵn cho thuê nơi cửa. Từng trên thì để mả giả. Dưới hầm mới chính là mả thật. Đứng bên mả mà nói to thì có tiếng vang dội khắp cả lǎng. Thường ngày có nhiều người ấn Độ vào cầu nguyện.

Ngày 5 tháng 6

Từ Agra bay đến Karachi, 1.140 cây số.

Ông Tổng đốc người Anh là Sir Mudi mời Cụ Chủ tịch đến nghỉ tại Phủ tổng đốc. Anh em phái đoàn thì ngủ tại lữ quán. Buổi trưa, quan tuỳ tùng đưa Cụ Chủ tịch đi xem thành phố Karachi. Thành phố này buôn bán và công nghệ không có gì mấy.

Xem thành phố rồi đi xà lúp ra bể chơi.

Karachi tuy nóng nực, nhưng trong Phủ tổng đốc khá mát mẻ. Phòng ngủ có buồng tắm. Có sách vở, báo chí, giấy bút. Có đồng hồ. Có giấy in rõ cho khách biết giờ nào ǎn, giờ nào có xe đi đâu, muốn giặt quần áo thì nên thế nào, v.v..

Cách sắp đặt rất thanh nhã và tiện lợi cho khách. Ǎn uống thì giản đơn nhưng mà lịch sự. Trong lúc nói chuyện, ông Tổng đốc nói rằng: Chính phủ Anh ở Luân Đôn đã báo tin cho ông ấy biết có Hồ Chủ tịch đi qua đó và dặn ông tiếp đãi.

Chiều, lúc ǎn cơm có gặp Phó Toàn quyền người Hà Lan vừa ở Nam Dương về. Ông ấy tỏ ý vấn đề Nam Dương cũng còn khó khǎn.

Ngày 6 tháng 6

Từ Karachi bay đến Habagna. Đoạn này dài nhất: 2.610 cây số.

Trưa đỗ lại ở Schaba để ǎn cơm và lấy dầu. ở đây cũng rất nóng. Nóng đến nỗi không có cây cỏ gì hết. Trên tàu bước xuống, hơi nóng như lửa đốt. Mọi người phải vội vàng đến nấp dưới bóng cánh máy bay. Muốn cho có bóng mát, người Anh làm những cây và cỏ bằng kẽm, sơn màu xanh biếc. Đứng xa, trông thấy tưởng là cây cỏ thật. Một điều mà ai nấy đều nhận thấy là trường bay của người Anh tổ chức rất chu đáo. Khách muốn ǎn cứ việc qua bàn giấy lấy bông, rồi vào phòng ǎn thì liền có người nhận bông và đưa thức ǎn cho. Mỗi sân bay đều có một cửa hàng nhỏ bán các thứ cần dùng cho khách, như bàn chải rǎng, thuốc rǎng, kính, kẹo, thuốc lá, xi đánh giầy, các báo chí, v.v..

Habagna là đất xứ Irak; thành phố chưa có gì, chỉ có trường bay và những nhà cửa cho nhân viên và lữ quán cho khách qua lại, do người Anh quản lý.

Ngày 7 tháng 6

Từ Habagna bay đến Le Caire, 1.386 cây số.

Khi qua Jérusalem, máy bay có bay một vòng trên kinh thành để mọi người được xem lǎng chúa Jésus. Tiếc là không có địa đồ chỗ đó, nên chỉ thấy cây cối nhà cửa, không biết lǎng ở nơi nào.

Lúc đến, Le Caire có đại biểu sứ thần Pháp ra đón. Hồ Chủ tịch đến nghỉ tại sứ quán Pháp. (Sứ thần đi vắng). Các anh em Phái đoàn thì nghỉ tại lữ quán.

Nghỉ lại đây 3 hôm.

Ngày 8 tháng 6

Theo phép lịch sự, Cụ Chủ tịch cùng Tướng Salan và Đại biểu Pháp đi thǎm vua Ai Cập. Nhà vua đi vắng. Nội vụ đại thần là ông Mahmoud Siouf Bey thay mặt vua ra tiếp chuyện và mời uống cà phê, một thứ cà phê gọi là cà phê Ai Cập hoặc cà phê Turque, có tiếng là rất ngon, pha trong chén nhỏ xíu.

Quan nội vụ đại thần có thay mặt vua đến chào lại Hồ Chủ tịch. Nhưng Cụ Chủ tịch đi vắng. Ông ấy để thư và danh thiếp lại tỏ ý cảm ơn.

Le Caire là kinh đô nước Ai Cập, ở gần Địa Trung Hải, nằm trên bờ sông Nil. Dân số hơn 2 triệu. Thành phố đắp theo kiểu mới. Nhà cửa, phố xá nguy nga, trồng cây hai bên. Trên chợ dưới thuyền, cảnh thật sầm uất.

Mấy nǎm chiến tranh, tuy có quân Anh đóng trong nước, nhưng Ai Cập không tham chiến. Người Ai Cập lợi dụng dịp đó mà buôn bán trở nên giàu có khá nhiều.

Có các thứ báo bằng tiếng Ai Cập, tiếng Pháp và tiếng Anh.

Ai Cập tuy trong vòng ảnh hưởng của nước Anh, nhưng người Ai Cập lại ham vǎn hoá Pháp. Người Pháp có mở nhiều trường học ở đây.

Lúc này Ai Cập đương yêu cầu Anh rút quân đội đi. Cuộc đàm phán chưa có kết quả, cho nên không khí có vẻ nặng nề.

Hồ Chủ tịch và phái đoàn đi xem Viện khảo cổ Ai Cập.

Viện này nổi tiếng trong thế giới. Lúc đến, có ông Giám đốc Viện Prioton ra tiếp và dẫn đi xem. Ông là một nhà bác học Pháp, rất giỏi về khoa khảo cổ. Trong Viện này có những quý vật từ đời thượng cổ, cách đây đã 4, 5 nghìn nǎm. Những ngai, hòm toàn bằng vàng của các vua chúa đời đó. Những pho tượng bằng đá, những thứ vòng, xuyến, chén, đĩa bằng ngọc, bằng vàng, chạm trổ cực khéo. Nếu đem những thứ đó so với ngày nay thì thấy rằng: thủ công nghệ đời nay không hơn gì đời xưa.

Gần chiều, đi xem “Thành phố ma”.

Đó là một nghĩa địa. ở gần bên thành phố. Nhà cửa, đường sá không khác một thành phố cho người sống ở. Nhưng suốt ngày lặng ngắt vắng tanh. Chiều lại mới có người đến cúng vái.

Cách đó không xa, có một pháo đài to lớn có lính Anh đóng. Đứng trên có thể xem suốt thành phố Le Caire. Pháo đài này đắp theo kiểu Mông Cổ. Trong cuộc đàm phán, Chính phủ Anh hứa trong vài tháng nữa sẽ trả pháo đài ấy cho Ai Cập.

Xem pháo đài rồi, đi xem Kim tự tháp. Xung quanh tháp, toàn là bãi cát, không có cây cối gì. Hình tháp ba góc, như cái bánh ú. Dưới to trên nhỏ, cao như hòn núi, toàn xây bằng những hòn đá vừa vuông vừa dài chừng 3, 4 thước tây. Đá đó đem từ nơi khác đến, cách đây có hàng trǎm dặm. Đời xưa chưa có máy móc, mà lấy được những hòn đá to như thế, đắp được những cái tháp cao như thế, thật là một công trình to lớn.

Gần bên tháp có một con thú bằng đá, đầu thì như đầu đàn bà, mình thì như mình sư tử, nằm trên cái bệ. Riêng cái bàn chân nó đã cao quá đầu người đứng. Đêm trời sáng trǎng, trông vào tượng đá, đượm một vẻ nghiêm trang thần bí lạ!

Chiều hôm nay, Sứ quán Pháp làm tiệc hoan nghênh Hồ Chủ tịch. Đến dự tiệc có các ông: Đô đốc Amalrich, giáo sư Jouguet, Tướng Salan, Nhà bác học Brioton, Bà Camborde, Bà De Bataille…

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (I)

Chặng bay đầu tiên: Gia Lâm – Pégou 1.368 cây số – Phong cảnh thành phố Calcutta – Lòng yêu nước của kiều bào ta ở bên nước Ấn Độ

Ngày 31 tháng 5

Từ tờ mờ sáng, hai bên đường từ Hà Nội sang Gia Lâm, anh em tự vệ đã đứng gác, cách 10 thước một người. Quần chúng rất đông.

Trong trường bay Gia Lâm, bộ đội ta, bộ đội Pháp, các đoàn thể, các bà con và đại biểu Hoa kiều đã chờ sẵn để tiễn chân Hồ Chủ tịch và phái đoàn. Khi xe Cụ Chủ tịch tới, tiếng hoan hô nổi dậy không ngớt. Cụ Chủ tịch, ông Phạm Vǎn Đồng, tướng Valuy và tướng Salan đi duyệt qua hai đạo binh Việt và Pháp. Quốc ca hai nước nổi dậy hùng hồn. Sau đó, các đại biểu tặng hoa. Hồ Chủ tịch cùng mọi người bắt tay ân cần từ biệt, rồi bước lên máy bay.

Hai chiếc máy bay Dakota kiểu Mỹ từ từ mở máy. Trên máy bay và dưới đất, khǎn tay vẫy lên như bướm bay, giữa tiếng hoan hô và tiếng máy nổ ầm ầm. Máy bay lượn quanh vòng rồi vượt nghiêng về phía tây.

Một chiếc cho anh em phái bộ. Một chiếc trên có Hồ Chủ tịch với ông Phạm Vǎn Đồng, ông Hoàng Minh Giám, bác sĩ Nguyễn Vǎn Luyện, ông Nguyễn Đệ và hai tuỳ tùng của Cụ Chủ tịch là các ông Vũ Đình Huỳnh, Đỗ Đình Thiện, cùng với tướng Salan, ông Darcy, đại uý Cartier. Những người làm tàu, có trung uý Oignon, ông Sehacgla, thiếu uý Séguineau, thiếu uý Poicar coi vô tuyến điện, ông Dumas coi máy. Máy bay Dakota trung bình mỗi giờ bay chừng 280 cây số. Hôm nay bay từ Hà Nội đến Pégou, một trường bay gần Rangoon (kinh đô Diến Điện) đúng 1.368 cây số.

Khi gần đến Rangoon gặp cơn giông, phải bay cao hơn 4.000 thước tây. Vì vậy mà có người lạnh, mà khó thở, đau lỗ tai.

Trường bay cách thành phố Rangoon xa, đi lại không tiện. Phải ngủ lại ở Pégou. Nhà ngủ rộng rãi, thoáng mát, có đủ điện, nước. Sự ǎn uống thì do người Anh cung cấp. Họ tiếp đãi một cách rất lịch sự.

Sân trường bay này khác với những trường bay khác, toàn lót bằng những tấm sắt mỏng, lỗ chỗ những lỗ tròn to bằng cá ũi bát. Mỗi tấm sắt rộng chừng một thước, dài hai thước tây. Họ lót cặp díp trên một tấm, dưới một tấm. Sân bay xây bằng cách này thực tiện và mau chóng hơn làm bằng đá hoặc ciment.

Ngày 1 tháng 6

Sớm dậy, sau bữa lót dạ, bay đến Calcutta thì nghỉ lại. 1.093 cây số.

Khi đến trường bay, có một thiếu tá người Anh coi trường bay, cùng với đại biểu Toàn quyền Anh và lãnh sự Pháp đến đón chào Hồ Chủ tịch. Lãnh sự Pháp đưa Cụ đến nghỉ tại lữ quán lớn nhất ở Calcutta là lữ quán The Great Eastern. Sẽ nghỉ lại ở đó hai ngày.

Ngày 2 tháng 6

Cụ Chủ tịch đi thǎm vị Toàn quyền Anh, rồi đi xem thành phố Calcutta.

Thành phốalcutta rất rộng, hơn 4 triệu người. Trong lúc chiến tranh, quân đội Anh và Mỹ đóng ở đó rất đông. Bây giờ đã rút bớt nhiều. Có từng dãy phố cửa hàng vuông vắn chừng một thước tây, như một cái hòm. Hàng hoá sắp chung quanh, người chủ ngồi xếp bằng chễm chệ ngồi chính giữa tưởng như không bao giờ đứng dậy và cũng không có chỗ mà đứng dậy bước ra được nữa! Lại có 1 cửa hàng cũng vuông và to đúng như thế chồng trên cửa hàng đó.

Ngoài đường, từng lũ bò tự do đi nghênh ngang. Có lúc chúng nằm ngổn ngang giữa đường đi hoặc ngay trước hè phố. Người ta để mặc, không ai dám động đến, vì người ấn Độ xem bò là vật thiêng liêng.

Theo phong tục ở đây, đàn bà con gái rất ít đi ra ngoài. Buổi chiều gió mát, ngoài đường đông đặc đàn ông, nhưng không thấy đàn bà. Chiều hôm nay có cuộc đá bóng, hàng vạn người đi xem, mà không thấy một người đàn bà nào.

Tại các quán cơm, trong phòng đầy những người hầu. Một bàn 4, 5 người khách, cũng có đến 4, 5 người hầu.

Được tin Hồ Chủ tịch đến Calcutta, các báo ấn Độ và báo Anh đến phỏng vấn, và đǎng ảnh với tiểu sử của Hồ Chủ tịch. Họ mời Cụ Chủ tịch đến chơi, nhưng vì ít thì giờ Cụ chỉ đến thǎm được một báo. Cả toà soạn và công nhân xúm xít lại chào đón và tiếp đãi một cách thân mật. Các báo ấn Độ đều tỏ ý đồng tình với cuộc vận động độc lập của Việt Nam.

Có mấy kiều bào ta ở các tỉnh, nghe tin Hồ Chủ tịch đến Calcutta, cũng vội vã vượt mấy trǎm cây số về yết kiến. Nói chuyện mười phút đồng hồ, rồi lại vội vã ra về. Việc nhỏ mọn ấy cũng đủ tỏ tấm lòng yêu nước của đồng bào ta ở ngoại quốc.

Ngày 3 tháng 6

Hôm nay ông chủ tỉnh Chandernagor mời Hồ Chủ tịch đến chơi. Chandernagor là một thuộc địa của Pháp cách Calcutta chừng 60 cây số. Thật ra có thể nói thị trấn này là một bộ phận của Calcutta, vì từ Calcutta đến Chandernagor có nhà cửa phố xá liền nhau. ở Chandernagor rất yên tĩnh, buôn bán ít, không ồn ào như ở Calcutta. ở đây người ta cũng tiêu tiền ấn Độ, chứ không có tiền riêng.

Ông chủ tỉnh là một người thanh niên hoạt bát và nhã nhặn. Cả tỉnh chỉ có 4, 5 người Pháp. Hôm nay dân Chandernagor đang bầu cử một người nghị viên để tham gia quốc hội Pháp. Tất cả nǎm tỉnh thuộc địa Pháp ở ấn Độ được bầu một nghị viên. Ông nghị này là người ấn Độ.

ở Chandernagor, cũng có uớc 20 người kiều bào ta, vừa đàn ông, đàn bà và trẻ con. Trước kia ở Vân Nam, sau người Pháp đem về ở Chandernagor. Mọi người đều ở chung một nhà. Khi Cụ Chủ tịch đến thǎm, anh chị em vui mừng và cảm động lắm. Lúc Chủ tịch về, mấy chị phụ nữ cảm động khóc nức nở cố muốn giữ Cụ ở lại.

Buổi chiều, Cụ Chủ tịch thết tiệc Lãnh sự Pháp và những người tai mắt Pháp ở Calcutta và Chandernagor.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp

Bức thư gửi cho hai em

Đ.H.viết

Em Xuân và em Lan,

Chắc các em cũng như tất cả thanh niên, tất cả đồng bào. Các em yêu nước cho nên các em yêu mến Cụ Hồ. Vì Cụ Hồ chỉ biết có nước chứ không biết có mình. Vì nước có cụ Hồ mà làm cho chúng ta càng yêu mến nước.

Anh còn nhớ hôm nọ, cả ngày hai em tỏ vẻ bǎn khoǎn. Hỏi ra mới biết: hai em nghe nói Cụ Hồ ho. Hôm sau hai em vội vàng gửi gói thuốc ho biếu Cụ. Em Nhàn và mấy chị em khác cũng làm như các em.

Khi phái đoàn ta qua Pháp khai hội thì Chính phủ Pháp mời Cụ Hồ qua chơi. Thấy nói Cụ đi bằng tàu bay thì hai em tò mò hỏi han: Đi máy bay có nhọc mệt không? Mấy ngày đến nơi? Thậm chí có bạn em lại rủ nhau viết thơ cho Cụ, xin Cụ cho đi.

Ngày Cụ sắp lên đường, gió mưa như trút, và dù hai em ở xa, hai em cũng cố đi biểu tình cho được. Không khác gì cả, chỉ mong được đi đến Học xá, được trông thấy Cụ Hồ.

Các máy bay còn đương bǎng đường sang châu Âu mà anh đã tiếp được những bức điện của các em và các đoàn thể đánh theo hỏi thǎm tin của Cụ.

Những việc nhỏ đó tỏ cho anh biết rằng: hai em và các bạn luôn luôn nhớ Cụ Hồ, muốn biết Cụ mạnh giỏi thế nào ? Ǎn uống ra sao? Đi những đâu? Gặp những ai? Nói những chuyện gì? Người nước Pháp đối với Cụ thế nào? Người các nước khác đối với Cụ thế nào? Biết bao nhiêu là câu hỏi muốn được trả lời.

Mấy bạn anh và anh được cái may theo Cụ sang Âu châu. Cho nên muốn các em vui lòng – nhưng phải chǎm học nữa vào cơ!- chúng anh tặng các em món quà này. Chúng anh ghi chép hành trình và công việc mỗi ngày của Cụ gửi về cho các em xem. ồ như anh đã trông thấy Xuân và Lan cười, đòi xem ngay, đây các em đọc.

Đ.H.

cpv.org.vn

——————————–

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Thư gửi kiều bào Việt Nam ở Pháp

Cùng tất cả kiều bào yêu quý,

Từ ngày Phái bộ và tôi đến nước Pháp, và trong ngày kỷ niệm Quốc khánh (ngày mồng 2 tháng 9), kiều bào ta, nơi thì phái người, nơi thì gửi điện ủng hộ Chính phủ và tôi, nhiều kiều bào lại quyên tiền hoặc thuốc giúp Tổ quốc.

Lòng thân ái đó rất là quý, chúng tôi rất cảm động và cám ơn. Nay tôi và Phái bộ sắp trở về nước, chúng tôi gửi lời chào và khuyên tất cả anh chị em kiều bào:

1- Phải triệt để đoàn kết,

2- Ra sức tuyên truyền và ủng hộ bằng mọi phương diện cho Tổ quốc,

3- Thực hành khẩu hiệu ĐờI SốNG MớI: CầN, KIệM, LIÊM, CHíNH,

4- Mỗi người cần biết thạo một nghề để mai sau về nước giúp ích cho cuộc xây dựng nước Việt Nam mới.

Lời chào đoàn kết và thân ái
Pari, ngày 12 tháng 9 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Bản chụp bút tích,
lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Thư gửi gia đình ông Raymông Ôbrắc

Cảng Xa-it, ngày 22 tháng 9 nǎm 1946

Các bạn thân mến của tôi,

Từ khi chúng tôi lên đường, biển lặng, thời tiết đẹp. Hàng ngày, chúng tôi ngắm mặt trời mọc và mặt trời lặn, quang cảnh thật hùng vĩ và tuyệt vời.

Trên tàu, chúng tôi không có nhiều việc để làm. Chúng tôi đọc sách báo, nói chuyện, nghỉ ngơi và chúng tôi nhớ đến các bạn. Những người bạn mới của chúng tôi, các sĩ quan và thuỷ thủ, đều rất dễ mến. Các đồng chí của tôi (Thiện 2 , Huỳnh 3 và bốn người nữa mà các bạn chưa quen biết) và tôi, chúng tôi đều mạnh khoẻ. Tôi gửi đến các bạn những tình cảm thân thiết nhất của tôi. Tôi ôm chặt Giǎng Pie, Catêrin và cô cháu bé nhỏ thân thiết của tôi. Tôi gửi

chiếc hôn yêu quý cho Ginét và gửi lời chào các bạn của chúng ta: Bi-u, Đaxchiê và các bạn khác.

Hồ Chí Minh

Thư tiếng Pháp,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư trả lời bà Sốtxi trong Hội liên hiệp phụ nữ Pháp

Trên chiến hạm Đuymông Đuyếcvin,
ngày 22 tháng 9 nǎm 1946

Thưa bà,

Tôi xin cảm ơn bà về bức thư của bà, bức thư đã làm cho tôi vô cùng xúc động. Rõ ràng trong thư bà đã nói lên tình cảm chung của những bà mẹ Pháp có con đang đi lính ở Đông Dương. Vậy trong thư này tôi xin phép được trả lời tất cả những người phụ nữ Pháp có con, chồng, anh em, chồng chưa cưới hoặc bạn bè hiện đang làm quân dịch ở Đông Dương.

Theo Tạm ước được ký ngày 14 tháng 9 vừa qua giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Việt Nam, thì hai bên phải đình chỉ mọi sự đối địch. Về phần tôi, tôi sẽ làm hết sức mình để cho điều khoản này cũng như mọi điều khoản khác được thi hành một cách trung thực. Tôi mong rằng về phía những người bạn Pháp của chúng tôi họ cũng sẽ hành động như vậy. Như thế máu sẽ thôi không đổ nữa, và những nỗi lo âu của các bà mẹ Pháp và Việt Nam sẽ không còn.

Tuy nhiên, việc xem xét kỹ lưỡng nguyên nhân của những sự kiện đau xót đã làm đổ máu mối quan hệ giữa nhân dân hai nước chúng ta là rất cần thiết.

Các bà yêu đất nước mình, các bà mong muốn nước mình được độc lập và thống nhất. Nếu có kẻ nào tìm cách xâm phạm nền độc lập và sự thống nhất ấy, thì tôi tin chắc rằng các bà sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ nó. Chúng tôi cũng thế, chúng tôi yêu Tổ quốc Việt Nam của chúng tôi, chúng tôi cũng muốn Tổ quốc chúng tôi độc lập và thống nhất. Liệu các bà có kết tội chúng tôi vì chúng tôi đã đấu tranh chống những kẻ tìm cách chinh phục và chia cắt Tổ quốc chúng tôi không?

Người Pháp đã đau khổ vì bị chiếm đóng trong bốn nǎm. Trong bốn nǎm ấy, các bà đã tiến hành “cuộc kháng chiến và đánh du kích”. Người Việt Nam chúng tôi cũng đã đau khổ vì bị chiếm đóng trong hơn 80 nǎm; chúng tôi cũng đã kháng chiến và đánh du kích.

Vì sao những người kháng chiến Pháp được coi như những anh hùng? Vì sao những người du kích Việt Nam lại bị xem như những tên ǎn cướp và những kẻ giết người?

Người ta cho rằng những người Pháp đến Đông Dương là những người đi khai hoá. Tôi cũng mong như vậy! Nhưng người ta không thể khai hoá người khác bằng đại bác và xe tǎng!

Nếu những thanh niên Pháp đến Việt Nam như những công nhân, kỹ thuật viên hoặc nhà bác học, thì tôi xin bảo đảm với các bà rằng họ sẽ được đón tiếp nồng nhiệt như những người bạn, những người anh em. Và các bà mẹ Pháp sẽ không có điều gì phải lo ngại cho số phận của họ cả.

Nhưng, một khi những người này đến với tư cách là những kẻ đi chinh phục có võ trang và lại yên trí rằng tất cả những người yêu nước bản xứ đều là kẻ thù của họ, còn những người kia, về phía họ, họ đã quyết tâm đứng lên bảo vệ đất nước quê hương Gủa mình, thì sự đối địch là điều không thể tránh khỏi.

Hơn nữa, việc tuyên truyền thiên vị lại luôn luôn tìm cách thổi phồng các sự kiện và kích động tinh thần. Người ta nói với các bà có bao nhiêu người Pháp bị giết và bị thương, nhưng không hề nói với các bà là có bao nhiêu người kháng chiến Việt Nam bị chết và bị thương, bao nhiêu làng mạc Việt Nam bị thiêu huỷ.

Trong khi một bà mẹkPháp thương khóc đứa con của mình thì có biết bao nhiêu bà mẹ Việt Nam vừa khóc thương những người con bị chết lại vừa đau xót vì nỗi nhà tan cửa nát!

Cần phải nói với các bà rằng mỗi khi có một người Pháp chết thì ít nhất cũng có 10 người Việt Nam phải bỏ mạng, chỉ vì một lẽ đơn giản là người Pháp có máy bay, tàu bò và các thứ vũ khí tinh xảo khác, còn người Việt Nam thì không có những thứ đó!

Phải chấm dứt cuộc huynh đệ tương tàn này! Người Việt Nam và người Pháp chúng ta cũng theo đuổi một lý tưởng giống nhau: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Chúng ta có cùng một mục đích giống nhau là chế độ dân chủ. Chúng ta cần nhờ cậy lẫn nhau. Người Việt Nam chúng tôi cũng yêu mến nước Pháp và những người Pháp bạn hữu, chúng tôi bảo đảm tôn trọng những quyền lợi kinh tế và vǎn hoá của người Pháp ở Việt Nam. Nhưng chính vì để thực hiện sự hợp tác bình đẳng và hữu nghị ấy, chúng tôi quyết dùng tất cả sức mình để giành được nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của chúng tôi.

Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì nước Pháp sẽ chiếm được trái tim và tình cảm của tất cả những người Việt Nam! Và chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng khối Liên hiệp Pháp, một khối liên hiệp tự do, vững chắc và hữu nghị.

Theo tinh thần bốn bể đều là anh em, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau. Tôi thành thực mong muốn thanh niên Pháp và thanh niên Việt Nam hiểu biết lẫn nhau và yêu mến nhau như anh em.

Hỡi các bà mẹ Pháp! Tôi kêu gọi tinh thần yêu nước cao quý và tình mẫu tử của các bà. Các bà hãy giúp chúng tôi ngǎn chặn những sự hiểu lầm và mau chóng gây dựng mối tình hữu nghị và tinh thần hoà hợp giữa các con em chúng ta. Và các bà sẽ nhận được tấm lòng biết ơn của người con không chỉ của thanh niên Pháp mà cả của thanh niên Việt Nam.

Hồ Chí Minh

Bút tích tiếng Pháp,
lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
cpv.org.vn

Thư gửi các cháu thiếu nhi

Cùng các cháu nhi đồng và thiếu niên yêu quý,

Bác đi Pháp mấy tháng. Nhớ các cháu luôn luôn. Chắc các cháu cũng luôn luôn nhớ Bác.

Khi Bác về đến Tổ quốc, từ Hải Phòng đến Hà Nội, các cháu mang nhau đi đón Bác, có lẽ hơn mười vạn cháu. Tay cầm cờ đỏ sao vàng, đứng chật hai bên đường, hai bên bờ ruộng. Reo cười ca hát, vui vẻ như một đàn chim.

Bác thấy cháu nào cũng mặt mũi vui tươi, áo quần sạch sẽ.

Hỏi, thì cháu nào cũng biết chữ quốc ngữ. Bác mừng lắm. Nay Bác viết mấy chữ, để cảm ơn các cháu và khuyên các cháu:

1. Phải siêng học,

2. Phải giữ sạch sẽ,

3. Phải giữ kỷ luật,

4. Phải làm theo đời sống mới,

5. Phải thương yêu giúp đỡ cha mẹ anh em.

Bác lại nói cho các cháu biết rằng: Anh em nhi đồng Pháp có gửi lời hỏi thǎm các cháu.

Thân ái,
Bác Hồ

Báo Cứu quốc, số 385,
ngày 24-10-1946.
cpv.org.vn

Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi

Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền Tự do, Độc lập và Thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến.

Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sĩ đó, và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của tôi.

Vậy các ban hành chính các địa phương toàn quốc phải lập tức làm tờ báo cáo. Các làng làm xong, gửi lên huyện. Các huyện xét lại đúng sự thực thì đóng dấu chứng nhận rồi gửi ngay về Vǎn phòng Chủ tịch Chính phủ ở Hà Nội.

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 398,
ngày 7-11-1946.
cpv.org.vn