Thư viện

Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập (32) nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (33) của Cách mạng Pháp nǎm 1791 cũng nói:

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 nǎm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngǎn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngǎn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trǎm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu nǎm 1940, phát xít Nhật đến xâm lǎng Đông Dương để mở thêm cǎn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối nǎm ngoái sang đầu nǎm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 nǎm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 nǎm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu nǎm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 nǎm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh (34) đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêrǎng (35) và Cựu Kim Sơn (36) quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 nǎm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy nǎm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Bản sao bǎng ghi âm,
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

——————————-

32. Tuyên ngôn Độc lập nǎm 1776 của Hoa Kỳ: Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Bắc Mỹ chống chủ nghĩa thực dân Anh (1775-1781), các xứ thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đã tổ chức các cuộc Đại hội đại biểu để thảo luận những biện pháp chống bọn thực dân Anh. Đại hội lần thứ hai họp ở Philađenphia nǎm 1775 đã cử ra một Uỷ ban do Giépphécxơn làm Chủ tịch để thảo ra một bản nghị quyết tuyên bố các xứ thuộc địa là những nước tự do độc lập, tách khỏi phạm vi, quyền lực của Anh hoàng. Bản dự án nghị quyết này được đại biểu 13 bang thông qua ngày 4-7-1776 và trở thành Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.

Bản Tuyên ngôn Độc lập này tiêu biểu cho nguyện vọng các dân tộc thuộc địa ở Bắc Mỹ đấu tranh để giành lại độc lập tự do cho nhân dân Mỹ lúc bấy giờ.

Sau khi giành được độc lập, giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền đã phản bội quyền lợi của nhân dân, thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, áp bức bóc lột nhân dân trong nước, đồng thời xâm lược các nước khác. Chúng đã thực hiện những thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, áp dụng chính sách thâm độc và nham hiểm của chủ nghĩa thực dân mới, thống trị về mặt kinh tế và lũng đoạn về chính trị nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chà đạp trắng trợn lên những nguyên tắc tự do, bình đẳng đã ghi trongTuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.

Vận dụng tinh thần, tư tưởng tự do, bình đẳng – tiêu biểu cho nguyện vọng độc lập, tự do của nhân dân Mỹ, khi soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích một câu trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, khẳng định quyền bình đẳng, tự do và độc lập của nhân dân Việt Nam. Tr.555.

33. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp: Cuộc cách mạng nǎm 1789 ở Pháp là một cuộc cách mạng tư sản điển hình. Sau khi lật đổ chính quyền phong kiến, chính quyền mới- chính quyền tư sản- được thiết lập.

Ngày 26-8-1789, Hội nghị lập hiến do chính quyền mới này tổ chức đã thông qua một vǎn kiện có tính chất cương lĩnh – bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng của cách mạng Pháp.

Bản Tuyên ngôn này đã công khai ghi rõ các quyền tự do dân chủ: tự do thân thể, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, quyền chống áp bức…

Bản Tuyên ngôn đã có ảnh hưởng lớn đến phong trào của nhân dân các nước đang đấu tranh chống chế độ phong kiến lúc bấy giờ. Nhưng khi giai cấp tư sản đã giành được quyền thống trị đất nước, chúng đã công khai chà đạp lên các quyền tự do dân chủ đó. Chúng ra sức bóc lột nhân dân lao động ở trong nước và thực hiện chính sách xâm lược và bóc lột các thuộc địa vô cùng tàn khốc. Tr. 555.

34. Đồng minh: Liên minh các nước chống chủ nghĩa phát xít trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), hình thành vào cuối nǎm 1941 đầu nǎm 1942.

Tháng 1-1942, tại Oasinhtơn (Mỹ), 26 nước Đồng minh trong đó có Liên Xô, Anh, Mỹ ký chung vào bản Tuyên ngôn chống phát xít xâm lược và bảo đảm trong cuộc chiến tranh này không có sự giảng hoà riêng rẽ. Nhưng mục đích của việc ký Tuyên ngôn đó rất khác nhau. Liên Xô ký Tuyên ngôn này nhằm mục đích tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, khôi phục chế độ dân chủ ở châu Âu. Còn Mỹ và Anh ký Tuyên ngôn nhằm đánh bại thế lực của Đức và Nhật để xác lập quyền bá chủ thế giới. Về sau, các chính phủ Mỹ và Anh đã phản bội Đồng minh, phá hoại tất cả các điều khoản trong Tuyên ngôn. Tr. 557.

35. Hội nghị Têhêrǎng: Hội nghị của đại diện ba nước Liên Xô, Mỹ và Anh họp từ ngày 28-11 đến ngày 1-12-1943 tại Têhêrǎng (thủ đô nước Iran).

Hội nghị đã thông qua kế hoạch tiêu diệt các lực lượng vũ trang của phát xít Đức, quyết định mở mặt trận thứ hai ở châu Âu trước ngày 1-5-1944 và thông qua Nghị quyết bảo đảm nền hoà bình lâu dài trên toàn thế giới sau chiến tranh, v.v.. Nhưng sau đó, giới cầm quyền ở Mỹ và Anh không thi hành đầy đủ những điều khoản đã được ký ở Hội nghị này. Tr. 557.

36. Hội nghị Cựu Kim Sơn: Hội nghị gồm đại diện 51 nước do Liên Xô, Mỹ, Anh và Trung Quốc (chính phủ Tưởng Giới Thạch) triệu tập, họp tại Cựu Kim Sơn (tức Xan Phranxixcô, một thành phố công nghiệp và hải cảng của nước Mỹ) từ ngày 25-4 đến ngày 26-6-1945 để thành lập một tổ chức quốc tế lấy tên là Liên hợp quốc.

Mục đích thành lập tổ chức quốc tế này là nhằm ngǎn ngừa và loại trừ những mối đe doạ đối với hoà bình, phát triển quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác giữa các nước để giải quyết những vấn đề quốc tế; tôn trọng các quyền tự do cǎn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, tiếng nói và tín ngưỡng. Tất cả các nước hội viên đều bình đẳng, không một nước nào có quyền can thiệp vào nội bộ của các nước khác.

Nhưng tất cả những nguyên tắc quan trọng trên đây đều bị bọn đế quốc thực dân vi phạm nên không thể thực hiện đầy đủ được. Tr.557.

Báo cáo về những nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương 1930

Phong trào nông dân:

1. Nhân dân Đông Dương 90% là nông dân. ở các thôn xã, ngoài bọn đại địa chủ ra, toàn bộ nông dân là tá điền. Cǎn cứ vào tư liệu sản xuất có thể phân loại nông dân ra nhiều tầng lớp.

A- Bần nông: không có hoặc có rất ít ruộng đất nên phải đi làm thuê cho đại địa chủ hoặc làm thêm một nghề phụ mới đủ sống;

B- Trung nông: có đủ ruộng đất tự cày cấy lấy, họ không bóc lột ai;

C- Phú nông: có nhiều ruộng đất, một phần do mình canh tác, một phần thuê người làm, phần còn lại cho lính canh;

D- Cố nông (1) : làm thuê cho đại địa chủ, chủ đồn điền và phú nông.

Đa số nông dân Đông Dương là cố, bần nông.

2. Do tập quán phong kiến, lại bị đế quốc áp bức, nông dân bị ba tầng bóc lột:

a) Bị đại địa chủ bóc lột:

Phần lớn ruộng đất tốt, đều nằm trong tay bọn tư sản. Chúng cho nông dân lĩnh canh từng thửa thu tô rất cao (lấy một nửa hoa màu hoặc thu bằng tiền) bắt buộc nông dân phải thuê nông cụ của chúng. Có nhiều nơi, địa chủ cho bọn “quá điền” lĩnh canh, bọn này chia nhỏ ruộng đất đem phát canh lại cho nông dân. Bằng thủ đoạn ấy chúng càng nâng cao tô ruộng đất lên hơn nữa, nên người nông dân nghèo bị trói chặt với chúa đất gần như nông nô trước kia. Ǎn đã không đủ no vì địa tô quá nặng, những ngày lễ bái hoặc khi địa chủ mở tiệc tùng, người bần nông còn phải đem lễ vật đến kính biếu và làm công không cho chủ. Khi phải vay mượn, họ phải trả lời rất cao (ít nhất là 100%) hoặc phải bán hoa màu non lấy có một nửa tiền hoặc đem cầm cố ruộng nương cho bọn vay ǎn lãi.

b) Bị tư bản bóc lột:

Cố nông làm việc suốt ngày không hạn định giờ giấc, mà vẫn không đủ nuôi thân và gia đình. Những người đi ở mỗi nǎm chỉ được nhận 10 đồng. Còn anh em phu đồn điền (cao su, cà phê, bông, v.v.), thì bị đưa đi những nơi xa xôi, nước độc, ǎn ở trong những lán trại bẩn thỉu, được trả công một phần bằng tiền, một phần bằng gạo. Thường thường công xá của những anh em đó bị cúp phạt hết. Khi làm việc họ lại bị đối xử đánh đập như con vật.

Chủ đất làm chúa trong đồn điền, chúng có lính và có người canh gác. Nếu công nhân nổi dậy thì bị chủ hành hạ hết cách.

c) Bị đế quốc bót lột:

Ngoài việc bóc lột nông dân về kinh tế, bọn đế quốc Pháp còn bắt dân cày chịu biết bao thứ thuế nặng nề: thuế thân, thuế chợ, thuế ruộng đất, thuế xây dựng trường, v.v.. Hằng nǎm mỗi người phải đi xâu 6 ngày không công cho chính phủ hoặc phải nạp một số tiền tương đương. Đặc biệt hai nǎm nay thuế má lại tǎng lên rất nhiều. Bọn đế quốc Pháp để cho bọn quan lại và tư sản bóp nặn áp bức nông dân, chúng tìm hết cách để giữ vững chế độ thuộc địa của chúng.

3. Bọn đế quốc và tư sản cướp dần hết ruộng đất canh tác, áp bức và bóc lột nông dân thậm tệ, lại chồng chất thêm nạn thất nghiệp và đói rét. Không khác gì nô lệ, người nông dân phải bán sức lao động đi làm phu ở các đồn điền trong nước hoặc ở ngoài nước. Hoàn cảnh đói khổ đó ngày càng kích động nông dân tiến lên đấu tranh chống bọn địa chủ, tư sản và đế quốc.

Do đó ở nông thôn đã hình thành hai phe đối địch, một bên là hầu hết tất cả anh chị em nông dân, còn một bên là bọn phong kiến đế quốc. Hiện nay ở Trung Kỳ, Nam Kỳ và Bắc Kỳ, nông dân đang sôi sục đấu tranh. Vô sản là đội quân của cách mạng ruộng đất và cách mạng phản đế ở Đông Dương. Hiện nay phong trào cách mạng đang lên mạnh, phải tránh làm sao cho vô sản khỏi phạm những sai lầm có thể đưa cách mạng đến thất bại.

Cho nên phương thức lãnh đạo quần chúng vô cùng quan trọng. Đảng phải hết sức quan tâm.

Sai lầm và khuyết điểm trong phong trào cách mạng của nông dân.

4. Nông hội đang trên đà phát triển mạnh, nhưng vẫn chưa đạt được yêu cầu. Nguyên nhân là vì những đồng chí chịu trách nhiệm tổ chức nông dân ở thôn xã còn phạm nhiều sai lầm thiếu sót chủ yếu sau đây:

a) Về tổ chức – nguyên tắc tổ chức Nông hội không rõ ràng. Tổ chức tiến hành chậm.

Nông hội chưa biểu hiện hết tính chất độc lập của nó. Nông hội phải nêu rõ vai trò của mình để thu hút quần chúng. Nhưng lề lối tổ chức Nông hội chưa tốt, hầu hết mọi công việc đều do đảng viên bao biện, các đồng chí này không biết chọn lấy cán bộ ở trong hàng ngũ nông dân. Các Ban phụ trách phụ nữ và thanh niên cũng chưa thành lập. Các cuộc hội họp thì không thống nhất.

b) Việc tuyên truyền trong nông dân yếu và phạm vi tuyên truyền lại quá hẹp. Chỉ tuyên truyền phản đế và tuyên truyền một ít chống đại địa chủ và tư sản. Một mặt phải đấu tranh mạnh hơn nữa chống những định kiến cho rằng: “Tay không làm sao mà đấu tranh được, hoặc chúng ta không nên gây ra một cuộc chiến tranh nhỏ”, nhưng mặt khác lại phải chống xu hướng khủng bố. Chúng ta cũng chưa quan tâm đầy đủ đến cuộc đấu tranh của cố nông 1 chống lại phú nông, địa chủ 2 . Phải nhân mọi tình trạng bối rối chung này mà lôi cuốn quần chúng đấu tranh; ngày 1-5 chẳng hạn, đáng lẽ phải kêu gọi anh chị em nông dân Thái Bình “Hãy tiến lên, đây là cơ hội các bạn phải vùng dậy”. Nếu không làm như vậy thì chỉ có ép buộc họ đấu tranh mà thôi. Người chỉ huy thiếu khả nǎng và không biết chuẩn bị các cuộc đấu tranh, sau mỗi cuộc đấu tranh, giải tán tự vệ là sai lầm. Phải tổ chức đấu tranh ban đêm.

Nông hội là một tổ chức đấu tranh có trách nhiệm đưa cuộc cách mạng ruộng đất đến thắng lợi, cho nên trong công tác vận động và tuyên truyền, hội viên Nông hội luôn luôn phải nhớ những điều sau đây:

a) Những sự áp bức và bóc lột hàng ngày (như thuế má, bắn giết, chế độ lĩnh canh, tước đoạt ruộng đất, quan lại và tư sản áp bức, v.v.) làm cho quần chúng nông dân nhận thức rõ tình cảnh của mình và thấy cần phải đấu tranh chống địa chủ, tư sản và đế quốc.

b) Giáo dục quần chúng về ý nghĩa cuộc cách mạng ruộng đất (tịch thu ruộng đất của địa chủ bản xứ và người ngoại quốc đem chia cho bần và trung nông), đồng thời cũng phải giải thích cho họ hiểu mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân chủ.

c) Giải thích cho quần chúng thấy cần thiết phải liên minh với giai cấp vô sản, cần phải được vô sản và Đảng Cộng sản, đội tiên phong của vô sản lãnh đạo.

d) Phải tuyên truyền phản đối Hội đồng cải lương, phản đối mọi cải cách, mọi nhóm và đảng phái có tính chất quốc gia. Nông hội phải xuất bản một tờ báo và khuyến khích nông dân viết bài đǎng báo.

đ) Làng là cơ sở của tổ chức Nông hội.

Tổ chức nông dân bao gồm Nông hội làng, Nông hội tổng, Nông hội tỉnh và Tổng Nông hội Đông Dương.

Phải tổ chức bần nông và trung nông vào Nông hội. Trong thời kỳ đầu của phong trào cách mạng, có thể có những phú nông cùng đi với bần, trung nông, nhưng về sau họ sẽ chống lại cách mạng. Cho nên ngay từ bước đầu phải loại trừ ra khỏi Nông hội, và gạt ảnh hưởng của họ đối với bần, trung nông. Chính bọn họ – phú nông và một số đại địa chủ đã tìm cách lọt vào Nông hội để lũng đoạn và phá hoại. Nông dân phải đảm nhận lấy phần lớn những trách nhiệm quan trọng.

Trong Nông hội, những anh chị em nông dân dưới 23 tuổi, phải do một ban thanh niên nông dân lãnh đạo, để dễ gây phong trào thanh niên.

Thanh niên phải tham gia lãnh đạo Nông hội. Nông hội cũng phải thành lập một Ban phụ nữ để vận động chị em phụ nữ tham gia cuộc đấu tranh chung.

Thợ thủ công và công nhân nông nghiệp phải tổ chức thành Công hội. Những Công hội này phải thường xuyên liên lạc với các tổ chức vô sản thành thị và liên hệ thật chặt chẽ với Nông hội.

Tổ chức tự vệ của nông dân rất quan trọng trong các cuộc đấu tranh ở thôn xã. Nông hội phải tuyên truyền giải thích trong quần chúng ý nghĩa việc thành lập một đội tự vệ để bảo vệ và kêu gọi quần chúng tham gia.

7 (1) . Nông hội phải liên hệ chặt chẽ với Công hội. Nông dân và công nhân chịu sự lãnh đạo tối cao về chính trị của Đảng, nhưng phải phân biệt Đảng với các tổ chức Nông hội và Công hội. Đảng tuyên truyền đường lối thông qua những cán bộ của mình. Khi tuyên truyền chính sách của Đảng, cán bộ phải dùng cách thuyết phục chứ không được dùng mệnh lệnh và phải ra sức làm cho quần chúng nông dân tin tưởng ở Đảng.

8. Đường lối chung của cách mạng nông dân hiện nay nhằm:

– Tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủ quyền cho nhân dân;

– Chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa địa phương (khởi nghĩa có nghĩa là nổi dậy giành chính quyền). Đảng viên phải cǎn cứ vào đường lối chung đó mà lãnh đạo nông dân đấu tranh. Đánh vào giai cấp thống trị, đánh vào địa chủ và tư sản tức là chúng ta phải kích động nông dân đấu tranh phản đối thu thuế, phản đối chế độ phát canh, phản đối những quy tắc luật lệ của tư sản, v.v., và phải kết hợp đấu tranh kinh tế và chính trị, lợi dụng mọi cơ hội để phổ biến tư tưởng cách mạng ruộng đất và khuyến khích tổ chức một đội tự vệ nông dân.

Chuẩn bị đấu tranh trước hết phải tuyên truyền mạnh mẽ để lôi cuốn đa số quần chúng tham gia; khi có điều kiện tổ chức những cuộc đấu tranh lớn mà chỉ phát động đấu tranh lẻ tẻ thì ảnh hưởng chính trị không tốt.

Để chống lại đàn áp, cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân.

Cần làm cho nông dân nhận thức rõ lực lượng và vai trò của mình. Họ phải hiểu được rằng hành động cá nhân hoặc mỗi xu hướng khủng bố đều trái với cương lĩnh hành động của mình.

Đồng thời, phải giải thích cho nông dân hiểu rằng chỉ có một lực lượng mạnh mẽ và có tổ chức mới có thể đương đầu chống khủng bố trắng được. Lãnh đạo nông dân có nghĩa là nghiên cứu tình hình địa phương để rồi phát động phong trào quần chúng. Mỗi cuộc đấu tranh đều nhằm mở rộng ảnh hưởng của Nông hội và của Đảng và nhằm thu hút quần chúng vào Nông hội.

9. Những yêu sách của nông dân

a) Về chính trị – Đòi tự do lập hội, tự do hội họp, tự do ngôn luận và đòi bỏ chế độ kiểm duyệt; phản đối khủng bố trắng, phản đối Hội đồng cải lương; phản đối đưa nông dân đi làm phu đồn điền và đưa họ sang các thuộc địa khác.

b) Về kinh tế – Đòi giảm sưu thuế – đòi bỏ thuế thân, đòi giảm tô ruộng đất, bỏ chế độ phát canh, bỏ chế độ lao dịch. Đối với cố nông: phải tǎng công xá, bớt giờ làm việc. Đòi bảo hiểm xã hội, ngày nghỉ (tết, kể cả ngày kỷ niệm cách mạng) được trả công.

Báo cáo vào khoảng nǎm 1930.

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện lịch sử Đảng
cpv.org.vn

——————————

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Báo cáo về Hội nghị cán bộ Xứ uỷ Bắc Kỳ

(Giữa tháng 1 và 2)

Đến dự hội nghị đó:

– 1 đại biểu Trung ương.

– 2 cán bộ Xứ uỷ cũ.

– 1 đại biểu tỉnh Nam Định.

– 1 đại biểu tỉnh Phủ Lý.

– 1 đại biểu tỉnh Thái Bình.

– 1 đại biểu tỉnh Ban huấn luyện.

– 1 cộng tác viên của Xứ uỷ.

Báo cáo:

a) Về tình hình kinh tế.

b) Về phong trào quần chúng.

c) Kinh nghiệm.

d) Về chính sách đàn áp cách mạng của đế quốc.

đ) Về công tác và tinh thần đoàn kết của chúng ta.

Thảo luận: Kế hoạch do Trung ương dự thảo.

Nghị quyết:

a) Về phương pháp tiến hành.

b) Về nội dung chuyên môn của mỗi ban.

c) Về việc đào tạo cán bộ.

d) Giải thích cho đảng viên hiểu những vấn đề đã nêu trong kế hoạch của Trung ương.

e) Về phong trào công nhân.

f) Về phong trào nông dân.

Bầu cử cán bộ Xứ uỷ mới.

A- Tình hình kinh tế

Mặc dầu công kỹ nghệ có phát triển chút ít, Bắc Kỳ chủ yếu vẫn là một xứ nông nghiệp. Ngoài nhà máy Rôbe (Robert) ở Hải Phòng (đóng và sửa chữa tàu thuỷ) và lò đúc kẽm Quảng Yên, Bắc Kỳ có rất ít xí nghiệp công nghiệp nặng, lại còn bị cuộc khủng hoảng kinh tế 1930 ảnh hưởng nặng nề.

1. Hầm mỏ: Nǎm 1929 có 600 người chuyên mộ công nhân. Hiện nay không những không tuyển mộ công nhân mới nữa mà có từ 5.000 đến 6.000 công nhân bị thải hồi.

2. Xi mǎng: Cách đây 5 tháng, có 10 chiếc tàu chuyên chở hằng ngày 10.000 thùng xi mǎng ra bán ở thị trường. Nay những chiếc tàu đó chỉ chạy một tuần hoặc 15 ngày một chuyến. Hơn nữa, xi mǎng do các máy mới sản xuất, phẩm chất xấu bán không chạy. Nhà máy đã thải hồi hơn 1.000 công nhân.

3. Dệt: Từ tám tháng nay, ngành dệt bị khủng hoảng hoàn toàn, trước kia hàng ngày bán ra từ 60 đến 70 kiện hàng, nay sụt xuống 4 hoặc 10 kiện. Nhà máy dệt Nam Định thải hồi 2.000 công nhân, Nhà máy Hải Phòng cũng phải thải hồi công nhân viên.

4. Nhà máy Rôbe (Robert): đóng và sửa chữa tàu thuỷ, buộc thợ làm việc theo một chế độ mới, hai ngày làm một. Mặc dầu vậy, hãng này cũng không sử dụng được hết nhân công.

5. Công ty dầu hoả Pháp: Từ ba tháng nay, mỗi công nhân chỉ làm việc có 18 ngày.

Tất cả các nhà máy công kỹ nghệ khác cũng đã hoặc bắt đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng này, ở mỗi xí nghiệp tính ra có từ 50, 60 – 100 và có nơi đến 800 thợ thất nghiệp.

Còn những anh chị em công nhân đang làm việc cũng khổ sở vì chế độ hợp lý hoá, vì bị giảm lương, làm thêm giờ và bị cúp phạt. Trung bình hằng ngày phải làm việc 11 tiếng. Công xá thì trả như sau:

– 0đ20 đến 0đ30 cho thợ phụ

– 0đ40 đến 0đ50 cho thợ chuyên nghiệp

– 0đ15 đến 0đ25 cho đàn bà

– 0đ10 đến 0đ15 cho trẻ em.

Bọn chủ ngày càng dùng nhiều phụ nữ và trẻ em, chúng đuổi thợ người lớn. ở Nhà máy dệt Hải Phòng, số trẻ em từ 10 tuổi đến 16 tuổi chiếm đến một phần tư số công nhân. Đời sống của công nhân rất cực khổ.

B- Nông nghiệp

Nhân dân ở vùng thượng du là người Thổ. Cả vùng này còn rất lạc hậu và do bọn “thổ ty chuyên chế” thống trị; còn nông dân thì phải chịu cảnh nô lệ. ở những vùng dân cư người Kinh, đất ruộng đều là của người Pháp và của phú hữu Việt Nam. Cả hai bọn này tổ chức trồng trọt và chǎn nuôi hoặc cho nông dân lĩnh canh ruộng đất.

ở Thái Bình có rất nhiều địa chủ từ 300 đến 500 mẫu ruộng đất, cho nông dân lĩnh canh và thu tô một nửa. Mỗi vụ, nông dân phải đến làm công không cho địa chủ một số ngày nhất định. Khi gia đình địa chủ có giỗ chạp, người nông dân còn phải đem lễ vật đến kính biếu và giúp công.

Tiền cho vay lãi trung bình 120 phần trǎm. Cách cho ứng trước một đấu lúa vụ 5 đến vụ 10 phải trả hai đấu, là thông thường. Nếu giá gạo hạ, người nông dân phải trả bằng tiền, nếu gạo cao thì họ phải trả số tiền nợ đó bằng lúa. Nông dân phải đối xử với trại chủ cũng như đối với địa chủ, nghĩa là phải kính biếu lễ vật, làm công không, v.v..

Ngày giáp hạt, chủ cho vay 1 hào thì đến vụ gặt người nông dân phải làm bù một ngày công (công nhật là 1 hào rưỡi).

Phần lớn ruộng đất là của công, đáng lẽ phải đem cấp đều cho nhân dân các thôn xã. Nhưng trong thực tế, bọn tư sản chiếm lấy phần hơn, còn người nông dân bần khổ chỉ được nhận ít mảnh nhưng lại là phần ruộng đất xấu nhất. Việc thường xảy ra là những miếng ruộng đất rải rác ở khắp đó đây, khó làm và khó bảo vệ, nên người nông dân lại phải tậu ruộng của tư sản và của đại địa chủ.

Bọn quan lại và tư sản lợi dụng phong trào cách mạng để áp bức bóc lột nông dân. Ai không “đút lót” cho chúng thì bị chúng vu cáo vào hội kín hoặc cộng sản và bị bắt.

Hằng nǎm, nông dân từ 18 đến 60 tuổi phải nạp thuế thân mỗi đầu người từ 3đ50 đến 4đ50 và phải đi phu 6 ngày làm công cho chính phủ. Nhiều khi giữa mùa, nông dân phải đình chỉ công việc, đi “lao dịch”.

Ngoài ra, ngày đêm họ phải đi canh điếm ở làng (để phòng cộng sản).

Mất mùa hai nǎm nay làm cho nông dân càng khổ cực. Nǎm ngoái, phần lớn bà con nông dân chỉ ǎn mỗi ngày một bữa cháo có một ít hạt gạo nấu với thật nhiều nước.

Anh em đi ở cho địa chủ (những người có sức lực), hằng nǎm chỉ nhận 12đ00 công và 2 tấm vải mộc. Sáng sớm mặt trời chưa mọc họ đã phải ra đồng làm việc cho đến tối mịt. Về nhà họ phải làm lụng cho đến nửa đêm. Còn anh chị em đi làm thuê ngày mùa: phụ nữ được nhận 7 đến 12 xu một ngày, nam 10 đến 15 xu. Nhưng hết mùa họ lại thất nghiệp.

áp bức và bóc lột làm cho công nhân và nông dân cǎm giận và kích động họ vùng dậy, công nhân mỏ than Cẩm Phả, công nhân viên Công ty dầu hoả, phu kéo xe Hải Phòng bãi công, ở Nhà máy dệt Nam Định bùng nổ cuộc đình công lớn của công nhân (phản đối bớt lương, làm thêm giờ, phản đối quy hoạch trách nhiệm thợ thuyền, phản đối làm khoán). Nông dân Thái Bình và Phủ Lý biểu tình đấu tranh chống tư sản và phản đối đế quốc Pháp bắt các làng phải lập ngân sách.

Tuy các cuộc đấu tranh có làm cho chúng ta phải chú ý, nhưng kết quả còn ít ỏi, vì:

1. Đảng còn non trẻ thiếu kinh nghiệm.

2. Trình độ nhận thức của quần chúng còn thấp.

3. Đông đảo quần chúng chưa tham gia đấu tranh.

Ví dụ:

a) Đã sử dụng hai viên đốc công để khởi động cuộc bãi công ở nhà máy điện, mọi việc đều trôi chảy!

Nhưng lại không có biện pháp tránh ảnh hưởng của hai đốc công đối với quần chúng; sau thắng lợi lại không tổ chức tuyên truyền để giữ vững tinh thần cách mạng của quần chúng, cuối cùng họ đã nhượng bộ. Kết quả là như thế đấy. Họ không nhận được một kế hoạch hành động nào, khi phong trào bị dập tắt thì không còn có phương nào cứu chữa nữa.

b) Cuộc bãi công ở Nhà máy dệt Nam Định là một thắng lợi của anh chị em công nhân, nhưng là thất bại của Đảng vì:

1. Các đồng chí chúng ta không hiểu mục đích của cuộc bãi công;

2. Các tổ chức của Đảng không hoàn toàn nhất trí;

3. Bãi công không được chuẩn bị và cũng không có tổ chức, không giáo dục thợ thuyền về mục đích cuộc bãi công cũng như về phương pháp tổ chức đấu tranh về sau;

4. Đảng không có kế hoạch sát với hoàn cảnh;

5. Thiếu tuyên truyền. Công hội có hứa giúp đỡ quần chúng về tài chính, họ rất phấn khởi, nhưng đảng viên lại không biết lãnh đạo và nhất là thiếu kiên quyết;

6. Thời cơ chọn không đúng (sát ngày sắp phát lương và ngay giữa vụ đói);

7. Trước khi bãi công, lại gửi thư cho bọn chức trách Pháp và cho chủ nhà máy, nên chúng biết và dễ đàn áp;

8. Tất cả bạn bè của những anh chị em bãi công không được lôi cuốn hết vào phong trào;

9. Cuộc đấu tranh kéo dài nên quần chúng mệt mỏi;

10. Các chỉ huy hành động không lôi cuốn người khác theo;

11. Các đồng chí có trách nhiệm hành động quá lộ liễu;

12. Cho quần chúng biết kế hoạch quá sớm, nên bọn phản động nắm được;

13. Trước cuộc bãi công không bầu uỷ ban đấu tranh;

14. Sau cuộc bãi công, xem nhẹ việc giải thích cho công nhân hiểu rõ và rút được kinh nghiệm bổ ích.

C- Những thiếu sót trong các cuộc đấu tranh của nông dân Thái Bình

1. ở các huyện lân cận, không tổ chức lực lượng dự bị để có thể tǎng cường cho phong trào.

2. Không báo cáo cho quần chúng biết mục đích cuộc đấu tranh.

3. Để cho bọn tư sản và mật thám trà trộn vào cuộc đấu tranh, quần chúng biết rõ hết tất cả những người chỉ huy.

4. Sau khi đi đấu tranh về không tổ chức mít tinh.

5. Không rút kinh nghiệm các cuộc đấu tranh của nông dân Nghệ An.

KẾT LUẬN

Phong trào đấu tranh ở Bắc Kỳ chưa thu được kết quả vì những lý do sau đây:

a) Thiếu liên hệ giữa Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, xứ này không rút được kinh nghiệm của xứ khác.

b) Đảng chưa đủ lực lượng để lãnh đạo tốt phong trào đấu tranh của quần chúng.

c) Các tổ chức của Đảng chưa liên hệ thật mật thiết với nhau.

Tài liệu của Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Thưa các cụ và các chú,

Sau tám mươi nǎm bị áp bức, bị bóc lột, và dưới chính sách ngu dân của thực dân Pháp, các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật hành chính. Nhưng điều đó không làm cho chúng ta lo ngại. Chúng ta vừa làm vừa học, vừa học vừa làm. Chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sửa chữa khuyết điểm. Với lòng yêu nước và yêu nhân dân sâu sắc, tôi chắc chúng ta sẽ thành công. Hiện nay những vấn đề gì là vấn đề cấp bách hơn cả. Theo ý tôi, có sáu vấn đề:

Một là, nhân dân đang đói – Ngoài những kho chứa thóc mà Pháp, Nhật vơ vét của nhân dân, bọn Nhật, Pháp còn bắt đồng bào chúng ta giảm bớt diện tích cấy lúa để trồng thầu dầu, đay và những thứ cây khác cần thiết cho cuộc chiến tranh của chúng. Hơn nữa, chúng ta còn tìm thấy hai kế hoạch của bọn cầm quyền Pháp với mục đích gây nạn đói, để ngǎn trở phong trào yêu nước và bắt buộc đồng bào chúng ta phải làm việc như nô lệ. Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này. Vừa rồi nạn lụt đã phá hoại tám tỉnh sản xuất lúa gạo. Điều đó càng làm cho tình hình trầm trọng hơn. Những người thoát chết đói nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống. Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tǎng gia sản xuất. Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ǎn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo.

Vấn đề thứ hai, nạn dốt – Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trǎm đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.

Vấn đề thứ ba – Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN Cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..

Vấn đề thứ tư – Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.

Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH.

Vấn đề thứ nǎm – Thuế thân, thuế chợ, thuế đò, là một lối bóc lột vô nhân đạo. Tôi đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế ấy. Cuối cùng tôi đề nghị tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.

Vấn đề thứ sáu – Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết.

Nói ngày 3-9-1945.

Sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 121-123.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi quốc dân

Quốc dân đồng bào!

Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa.

Hỡi đồng bào!

Hiện một số quân Pháp đã lọt vào nước ta. Đồng bào hãy sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu!

Chủ tịch
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 36, ngày 5-9-1945.
cpv.org.vn

Phát biểu tại Đại hội đại biểu thanh niên Hà Nội

Các anh em nếu đến đây để đợi nghe một bài diễn vǎn bóng bảy, hoa mỹ thì các anh em sẽ thất vọng. Những lời tôi nói với anh em sẽ chỉ rất giản dị, rất thiết thực. Tôi sẽ không khen ngợi anh em, mà chỉ chú ý vạch ra những khuyết điểm của anh em. Những khuyết điểm ấy, có mấy điều lớn nhất sau đây:

Một là, thanh niên nhất là thanh niên Hà thành vốn giữ tính kiêu cǎng, biệt phái, bởi vậy những tổ chức đều chia rẽ, cô lập, chưa hợp thành được một mặt trận thống nhất.

Hai là, thanh niên tuy có hǎng hái, sôi nổi nhưng kém sáng kiến; việc gì cũng đợi ở Tổng bộ hoặc Chính phủ ra cho mệnh lệnh, chỉ thị, giúp hộ ý kiến hoặc định hộ kế hoạch; lại không biết tự ý đề nghị với Chính phủ những việc cần phải làm hay phải sửa chữa.

Ba là, các đồng chí phụ trách thanh niên không chịu đào tạo, dìu dắt thêm những cán bộ mới, tuy những phần tử có thể trở nên cán bộ vẫn không thiếu trong đám thanh niên.

Bây giờ, cần phải làm sao cho mất những khuyết điểm ấy. Việc cần trước nhất là làm thống nhất các tổ chức thanh niên. Mỗi giới thanh niên có một nguyện vọng, quyền lợi, đường lối phát triển riêng. Bây giờ không phân biệt, giới nào cũng phải đứng chung trong một tổ chức duy nhất. Nhưng điều đó không phải sẽ cột chặt tất cả sự hoạt động riêng của mỗi giới, không cho tự phát triển, miễn là những hoạt động ấy không đi ngược lại với hướng hoạt động chung của toàn thể. Sau đó, việc nên chú ý đến là sự định rõ những công việc và nhiệm vụ của thanh niên như là: đi sâu vào quần chúng để san sẻ những thường thức về chính trị và quyền lợi công dân; ủng hộ Chính phủ không phải chỉ bằng những lời hoan hô suông thôi, mà cần phải một mặt giải thích cho dân chúng về những nỗ lực của Chính phủ, một mặt phê bình, giám đốc, tham gia ý kiến vào công việc của Chính phủ; chiến đấu giữ lấy nền độc lập và tự luyện ngay từ bây giờ để sau này lên thay những thủ lĩnh mà gánh vác việc trọng đại của nước nhà. Nói tóm lại, phải làm sao cho tổ chức thanh niên Hà Nội phải thành một khối thanh niên khuôn mẫu cho thanh niên toàn xứ và toàn quốc.

Nói ngày 27-9-1945.

Báo Cứu quốc, số 53, ngày 28-9-1945.
cpv.org.vn

Sẻ cơm nhường áo

Hỡi đồng bào yêu quý,

Từ tháng giêng đến tháng bảy nǎm nay, ở Bắc Bộ ta đã có hai triệu người chết đói. Kế đó lại bị nước lụt, nạn đói càng tǎng thêm, nhân dân càng khốn khổ. Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ǎn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước:

Cứ 10 ngày nhịn ǎn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo.

Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa nǎm sau, khỏi đến nỗi chết đói. Tôi chắc rằng đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà hǎng hái hưởng ứng lời đề nghị nói trên.

Tôi xin thay mặt dân nghèo mà cảm ơn các đồng bào.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 53, ngày 28-9-1945.
cpv.org.vn

Lời phát biểu tại lễ tốt nghiệp khoá học thứ tư Trường quân chính Việt Nam

Vì hoàn cảnh bắt buộc phải làm gấp rút mọi sự nên hạn học của anh em đã phải định là chỉ trong 15 ngày; 15 ngày để học về quân sự và chính trị là hai môn học phải cần đến hàng mấy nǎm đào luyện mới gọi là hiểu được châu đáo. Bởi vậy, thời kỳ huấn luyện này chưa thể cung cấp cho anh em những kiến thức đầy đủ và sâu rộng về hai môn đó; nó chỉ mới giúp được cho anh em những điều cǎn bản ứng dụng ngay vào các công tác bây giờ, định rõ cho anh em một phương hướng đi cho khỏi lầm đường và thêm nữa gợi lòng ham muốn nghiên cứu của anh em. Sau đây ra nhận việc, các anh em sẽ phải vừa làm vừa học, nghiên cứu không những trong sách vở mà ngay trong những công tác của mình. Các anh em ở đây, ta sẽ là các cán bộ tất cả. Vậy cần phải nhớ đến những đức tính mà đã là cán bộ cần phải có:

1) Không tự kiêu, không có cái bệnh làm “quan cách mạng”.

2) Phải siêng nǎng: siêng nghe, siêng thấy, siêng đi, siêng nghĩ, siêng nói, siêng làm.

3) Cầu tiến bộ luôn luôn, không lúc nào ngừng nghiên cứu, tự luyện, sửa chữa những khuyết điểm.

4) Trung thành với mục đích cách mạng: giữ cho nước nhà được độc lập, nòi giống được tự do.

Nói ngày 1-10-1945

Báo Cứu quốc, số 58, ngày 4-10-1945.
cpv.org.vn

Lời cảm ơn đồng bào công giáo

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn bức thư các vị đã gửi cho chúng tôi. Trong thư nói:

“Dù phải hy sinh xương máu để kiến thiết một nước nhà tự do hạnh phúc hoàn toàn, thì chúng tôi cũng sẵn sàng không ngần ngại”. Câu nói nhiệt thành đó tỏ rằng các vị là những người chân chính yêu nước, đồng thời cũng là những chân chính tín đồ của đức Giêsu. Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu. Chúng tôi mong rằng các anh em công giáo toàn thế giới sẵn sàng hưởng ứng lời kêu gọi thống thiết của đồng bào công giáo ta.

Một lần nữa tôi cảm ơn các vị và chúc các vị bình yên.

Hà Nội, ngày 14 tháng 10 nǎm 1945
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 70, ngày 18-10-1945.
cpv.org.vn

Lời cǎn dặn các đội viên tuyên truyền xung phong

1) Phải biết rõ mục đích tuyên truyền của mình và trước khi định công tác ở đâu phải đặt rõ kế hoạch.

2) Phải biết chịu kham khổ.

3) Phải biết nhẫn nại. Nói với người nghe một lần người ta không hiểu thì nói đến hai lần, ba lần… Về đức tính này, phải học theo những người đi truyền giáo.

4) Chớ có lên mặt “quan cách mạng”. Chớ có tưởng đi tuyên truyền đây là đi dạy người ta chứ không cần học lại người ta; lãnh đạo người ta chứ không chịu người ta phê bình.

5) Chú ý đến cách phô diễn ý tưởng. Hết sức phổ thông. Cố vào sâu trong dân chúng. Lấy những thí dụ tầm thường trông thấy trước mắt mà nói. Tránh những danh từ khó hiểu. Làm sao cho được 50 người hiểu rõ còn hơn là được 500 người chỉ hiểu lờ mờ.

Nói ngày 20-10- 1945.

Báo Cứu quốc, số 73, ngày 22-10-1945.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ

Hỡi đồng bào trong Nam!

Quân Pháp nấp đuôi bọn quân đội Anh đang tàn sát đồng bào ta trong xứ. ở Mỹ Tho, ở Tân An, ở Biên Hoà, Nha Trang, quân Pháp đã xâm phạm đến nền độc lập của chúng ta. Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam, để tỏ rõ cho hoàn cầu biết rằng dân tộc Việt Nam đầy đủ tinh thần hy sinh chiến đấu.

Mặc dầu quân Pháp có đủ khí giới tối tân, tôi biết chắc không bao giờ chúng cướp được nước ta đâu. Từ Nam chí Bắc đồng bào ta luôn luôn sẵn sàng. Mấy triệu người như một, quyết tâm đánh tan quân cướp nước. Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc. Vì công lý, cuộc kháng chiến tự vệ của dân tộc ta phải toàn thắng. Quân Pháp đi đến đâu sẽ gặp cảnh đồng không nhà vắng, không người, không lương thực. Chúng ta quyết không cộng tác với chúng, không chịu sống chung với lũ thực dân Pháp. Đồng bào trong Nam, trong một tháng nay, đã tỏ rõ tinh thần vững chắc, hùng dũng, đáng làm gương cho lịch sử thế giới. Ngày nay, trước tình trạng khó khǎn, toàn thể quốc dân Việt Nam hồi hộp theo cuộc chiến đấu ở Nam Bộ. Nhưng thời cuộc càng khó khǎn chừng nào, tôi chắc rằng tinh thần anh chị em càng cương quyết hơn chừng ấy. Trước nạn ngoại xâm, toàn thể quốc dân đã đoàn kết chặt chẽ thành một khối kiên cố, thành một lực lượng thống nhất mà không đội xâm lǎng nào đánh tan được.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 77, ngày 29-10-1945.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ

Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ!

Đã hơn một tháng nay, anh chị em đã phấn đấu cực kỳ anh dũng. Toàn thể đồng bào Việt Nam đều cảm động. Tuy máu đã đổ nhiều, nhưng tôi chắc và toàn thể đồng bào cũng chắc rằng anh chị em thanh niên Nam Bộ quyết hy sinh kháng chiến để giữ vững nền độc lập của nước nhà.

Trong cuộc chống xâm lǎng này, các bạn đã là bức Vạn Lý Trường Thành vững chắc. Các bạn phải thống nhất mặt trận thanh niên, đoàn kết, nêu cao tinh thần tin tưởng ở sức mạnh của dân tộc. Những gương hy sinh anh dũng của các bạn đã sáng dọi khắp nước. Những chiến công oanh liệt của các bạn đã làm cho toàn thể đồng bào thêm kiên quyết.

Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ!

Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Viêt Nam phải toàn thắng.

Tinh thần kháng chiến anh dũng của thanh niên Nam Bộ muôn nǎm!

Việt Nam độc lập muôn nǎm!

Ngày 30 tháng 10 nǎm 1945
Hồ Chí Minh

Bản chụp bút tích, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn