Thư viện

Chương XI – Hành quân

Lúc hành quân cần chú ý 3 điều: một là nhẹ nhàng nghĩa là chỉ mang theo những đồ rất cần thiết; hai là nhanh chóng, nhanh chóng chừng nào hay chừng ấy; ba là bí mật, không những bí mật với quân thù còn phải bí mật với dân chúng nữa.

Lúc hành quân cần xếp người trinh thám hoá trang đi trước. Người ấy phải chú ý:

1. Do thám sự canh phòng xếp đặt của giặc ở dọc đường.

2. Khấu lưu 1 những người đáng nghi ngờ gặp giữa đường.

3. Gặp lính gác của giặc thì báo đội du kích hết sức tránh hay im lặng giải quyết.

4. Nếu gặp bộ đội quân giặc thì lập tức báo cáo đội trưởng quyết định đánh hay chuồn.

5. Đặt các dấu hiệu dọc đường, để báo tin, người đi sau phải nhặt sạch.

Lúc hành quân nếu đằng trước có quân giặc thì người đội trưởng phải đi trước, còn người chính trị phái viên đi sau. Nếu đằng sau có quân giặc thì người đội trưởng phải đi sau, nếu hai bên có giặc thì người đội trưởng đi giữa.

cpv.org.vn

Chương XII – Đóng quân

Đóng quân phải chú ý chọn chỗ thuận tiện để nghỉ ngơi và phòng thủ. Nếu chỗ đóng quân xa quân thù và có địa thế hiểm yếu không sợ bị quân thù đánh úp thì có thể đóng quân trong làng. Nếu không được thế thì phải rất cẩn thận trong lúc đóng quân.

1. Không nên đóng trong làng, phải tìm chỗ rừng núi mà đóng.

2. Mỗi đêm đóng một chỗ, nếu cần thì trong mỗi đêm cũng thay đổi chỗ đóng. Đến nơi rồi, cấm ngay người ra vào.

3. Phải canh gác rất cẩn thận.

Xem xét địa hình. Bất kỳ đóng nơi nào, người đội trưởng phải xem xét tỉ mỉ địa hình, chú ý đường tiến đường thoái, cách đối phó nếu bị đánh úp bất ngờ. Đồng thời quyết định chỗ tập hợp và đặt chỗ canh gác.

Lúc nghỉ ngơi phải tập trung với nhau một chỗ, không nên phân tán ở nhiều nhà, vũ trang và đồ đạc (1) phải sẵn sàng bên cạnh, nếu cần, súng cứ phải mang trong người và lên đạn.

cpv.org.vn

—————————————

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chương XIII – Cǎn cứ địa

Đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở. Tại nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập. Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ.

Đội du kích hoạt động phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên cǎn cứ địa vững vàng, nhất là sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc và thành lập chính quyền cách mạng trong địa phương. Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì cǎn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được.

Có chính quyền cách mạng của địa phương, có cǎn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hoá ra quân chính quy (quân chính quy là đội quân tổ chức theo quy củ nhất định về mặt biên chế, kỷ luật, súng ống, áo quần, ǎn uống đều theo quy củ nhất định ấy).

cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào toàn quốc

Toàn quốc đồng bào!

Toàn thể đồng chí!

Tháng 8 nǎm 1942, tôi vâng lệnh Đoàn thể đi cầu ngoại viện. Chẳng may gặp sự hiểu lầm ở ngoài, làm cho đồng bào, đồng chí lo phiền cho tôi hơn một nǎm giời. Vậy, một mặt thì tôi phải thừa nhận vì tôi hành động không đủ khôn khéo để đồng bào, đồng chí phải phiền lòng, một mặt thì tôi rất cảm ơn lòng thân ái của đồng bào, đồng chí đối với tôi.

Trong sự rủi lại có sự may. Nhân dịp ở ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới và chính sách của các hữu bang, trước hết là Trung Quốc.

Nay tôi mang về cho đồng bào, đồng chí một món quà cực kỳ quý báu, tức là lòng đồng tình sốt sắng của 450 triệu đồng bào Trung Quốc đối với 25 triệu đồng bào Việt Nam về cái tin Trung Quốc sẽ tích cực giúp đỡ cuộc dân tộc giải phóng của chúng ta.

Song muốn tiếp thu lòng đồng tình và sự giúp đỡ đó, chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy thì phải do một cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang.

Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một nǎm hoặc nǎm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!

Tôi mong rằng các đảng phái và các đoàn thể đều ra sức chuẩn bị cùng nhau thảo luận, để khai cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội trong nǎm nay. Như vậy thì ngoại viện nhất định cầu được, cứu quốc nhất định thành công.

Lời chào thân ái
Tháng 10 nǎm 1944

Hồ Chí Minh

In trong sách Vǎn kiện Đảng,
(từ 25-1-1939 đến 2-9-1945),
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963,
tr.446-447.
cpv.org.vn

Chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân 12-1944

1. Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hǎng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam.

Tháng 12 nǎm 1944
Hồ CHí MINH

In trong sách Vǎn kiện Đảng, (từ 25-1-1939 đến 2-9-1945),
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr. 459-460.
cpv.org.vn

Tặng cháu Nông Thị Trưng 1944

Vở này ta tặng cháu yêu ta,

Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là.

Mong cháu ra công mà học tập,

Mai sau cháu giúp nước non nhà.

Nǎm 1944

In trong sách: Hồ Chí Minh,
Thơ, Nxb Vǎn học, Hà Nội,
1970, tr. 47.

Theo bài in trong sách Hồ Chí Minh, Thơ.
cpv.org.vn

Phép dùng binh của ông Tôn Tử

Ông Tôn Tử là một người quân sự có tiếng nhất ở Trung Quốc. Ông sinh hơn 2.000 nǎm trước. Ngày nay chẳng những trường học Trung Quốc, mà những trường học quân sự các nước cũng lấy phép này làm gốc và ra sức nghiên cứu. Vì phép ông Tôn Tử tuy đã lâu đời nhưng nguyên tắc đến nay vẫn là rất đúng.

Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về quân sự đúng, mà dùng về chính trị cũng rất hay. Cách ông Tôn Tử nói rất giản đơn vắn tắt, chữ ít mà nghĩa nhiều. Nếu dịch theo từng câu từng chữ thì khó hiểu lắm. Cho nên đây chỉ dịch theo ý nghĩa. Mong các đồng chí ra sức nghiên cứu cho hiểu rõ nguyên tắc đó, và dùng nó trong công tác chính trị và quân sự của mình. Phép dùng binh Tôn Tử có 13 chương:

1- Kế hoạch.

2- Phép chiến tranh.

3- Đánh bằng mưu.

4- Quân hình.

5- Thế của binh.

6- Chỗ mạnh và chỗ yếu.

7- Quân tranh.

8- Chín dự biến.

9- Phép hành quân.

10- Địa hình.

11- Chín thứ đất.

12- Phép đánh bằng lửa.

13- Dùng trinh thám.

Việt Minh xuất bản tháng 2-1945.
In theo sách Việt Minh xuất bản.
cpv.org.vn

Chương I- Kế hoạch

Binh là việc lớn của nước. Phải xét cho rõ chỗ sống chết, đạo mất còn phải kinh qua 5 việc, cân nhắc kế hoạch của ta, xét rõ tình hình ta với địch, nǎm việc là:

1 – Là đạo, nghĩa là tất cả dân đồng tình với ta, có thể cùng sống chết mà không sợ nguy hiểm.

2 – Là giời, tức là ngày đêm, sáng tối, rét ấm, gió lặng nắng mưa.

3 – Là đất, nghĩa là gần xa, rộng hẹp, hiểm bằng sinh tử.

4 – Là tướng, tướng phải có mưu trí, phải được người ta tin cậy, phải tốt với dân và lính, phải gan góc, phải có thái độ nghiêm trang và kỷ luật tề chỉnh. Tướng phải đủ: trí, tín, nhân, dũng, nghiêm.

5 – Là pháp, nghĩa là cách tổ chức quân đội, quân phí, quân nhu, v.v..

Người làm tướng phải rõ nǎm điều đó, rõ thì thắng, không rõ thì bại.

Ai được lòng dân, được thiên thời địa lợi, có tướng giỏi, theo đúng phép dùng binh, quân đội mạnh hơn, binh lính luyện tập hơn, thưởng phạt công bình hơn – thì bên ấy thắng. Ngày nay cần có 3 điều nữa:

1- Vàng bạc ai đầy đủ hơn.

2- Sinh sản ai nhiều hơn.

3- Ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng.

Người tướng theo kế hoạch ta, dùng nó ta chắc thắng, thì dùng nó. Người tướng không theo kế hoạch ta, dùng nó ta chắc bại, thì chớ dùng nó.

Kế hoạch khéo, lúc thực hành lại cần phải biết tuỳ cơ ứng biến.

Dùng binh là cách lừa gạt địch nhân. Cho nên:

1) Ta hay, mà làm cho địch tưởng không hay.

2) Ta toan dùng binh mà làm cho địch tưởng ta không dùng.

3) Ta muốn đánh nơi xa, mà làm cho địch tưởng ta muốn đánh nơi gần.

4) Ta hy sinh chút lợi nhỏ mà mồi địch.

5) Phá phách nó, quấy rối nó, để thừa dịp mà lấy nó.

6) Địch có chuẩn bị, thì ta ra sức đề phòng.

7) Địch mạnh thì ta tránh nó.

8) Ta làm cho nó giận dữ, để làm rối óc nó.

9) Ta ra bộ nhường nhịn, để làm cho nó kiêu ngạo.

10) Nó thong thả, thì ta quấy rối, làm cho nó mệt nhọc.

11) Ta chia rẽ những người thân thiết với nó.

12) Ta đánh nơi nó không phòng bị, xa nơi nó chú ý.

Đó là phép dùng binh thắng lợi, phải biết tuỳ cơ ứng biến không thể bảo hết.

Chưa đánh mà đã có kế hoạch đầy đủ thì thắng. Kế hoạch không đầy đủ, thì không thắng. Huống gì, không có kế hoạch thì sao khỏi thất bại cho nên xem đó thì đủ biết ai thắng ai bại.

(Cán bộ là tướng của đoàn thể. Cán bộ làm đúng kế hoạch của đoàn thể, có mưu trí, được quần chúng tin yêu kiên quyết, gan góc, giữ đúng kỷ luật, biết làm cho dân chúng cùng đoàn thể sống chết mà không sợ nguy hiểm như thế mới là tướng giỏi của đoàn thể. Như thế thì cách mạng nhất định chóng thành công).

cpv.org.vn

Chương II – Phép chiến tranh

(Chương này chủ trương đánh mau, giải quyết mau. Đánh lâu thì hao quân tốn của. Lại chủ trương lấy lương thực và khí giới của địch cho quân ta ǎn và dùng. Và chủ trương ưu đãi cùng lợi dụng những người địch ta bắt được).

Hễ dùng binh, thì nghìn chiếc xe ngựa, nghìn chiếc xe bọc da, 10 vạn binh, lương thực chở rất xa, nào tiêu dùng về việc khách khứa, nào tài liệu, nào xe ngựa, phí tổn này khác, ngày hơn nghìn vàng.

Chiến tranh quý thắng lợi chóng. Đánh lâu thì hao binh mỏi sức. Quân đội ở ngoài lâu thì trong nước bị thiếu thốn. Ta hao binh mòn sức, thì các nước chư hầu sẽ nhân dịp nổi lên chống ta. Nếu vậy, thì dù người khôn ngoan mấy cũng không thể cứu vãn được.

Vậy nên, dùng binh chóng là khôn, chưa bao giờ có dùng binh lâu mà khéo, cũng chưa bao giờ có dùng binh lâu mà nước nhà có lợi.

Cho nên ai không biết hết những sự tổn hại trong việc dùng binh, thì không biết hết những sự ích lợi trong việc dùng binh.

Người khéo dùng thì không phải bổ sung binh lính nhiều lần, không phải chở lương thực nhiều bận. Đầu thì dùng của ta, rồi thì lấy của địch mà dùng. Như thế thì quân ta đủ lương thực.

Nếu phải vận tải xa, thì nước sẽ nghèo và dân sẽ khổ.

Nơi gần quân đội thì vật gì cũng đắt đỏ. Đắt đỏ thì dân hoá nghèo ngặt. Dân nghèo nhưng chính phủ phải đánh thuế thêm.

Hao binh tốn của thì 10 nhà dân nghèo hết 7 nhà. Xe ngựa súng ống thì 10 phần hỏng mất 6.

Vậy nên người tướng giỏi cốt lấy lương thực của địch mà dùng. 1 tạ gạo của địch bằng 20 tạ gạo của ta.

Cho nên muốn cho binh lính ta hǎng hái giết địch, thì phải làm cho họ tức giận địch. Muốn cho họ ra sức tranh lấy của địch, thì thưởng họ. Thí dụ: bắt được 10 chiếc xe của địch, thì thưởng người bắt được chiếc xe đầu hết. Đem cờ ta cắm lên xe địch phân phối nó lộn với xe ta. Đối tù binh thì đãi họ tử tế cho họ theo vào quân đội ta. Thế gọi là: đánh thắng địch thì ta càng mạnh thêm.

Cho nên dùng binh quý thắng lợi chóng. Không quý kéo dài. Một người tướng biết dùng binh là kẻ giữ gìn sinh mệnh của dân, là người làm chủ sự an nguy của nước.

(Nǎm lời dặn của ông Tôn Tử:

1- Quản lý đông người cũng phải rành mạch như quản lý ít người.

2- Lúc bình thời cũng phải cẩn thận như lúc có địch.

3- Lúc ra trận thì không nghĩ đến sự sống của mình.

4- Đánh thắng trận rồi cũng phải cẩn thận như khi mới ra trận.

5- Mệnh lệnh thì phải rõ ràng mà lại vắn tắt.

cpv.org.vn

Chương III – Đánh bằng mưu

Chương này chủ trương bằng mưu, không dùng đến binh mà thắng được địch nhân.

Và nói sự biết rõ sức ta, biết rõ sức địch là một điều rất quan trọng.

Phép dùng binh, giữ toàn nước địch mà ta thắng lợi là khéo nhất. Phá tan nước địch chỉ là khéo thứ hai. Giữ toàn quân đội địch mà ta thắng, là khéo nhất. Phá tan quân đội địch mà ta thắng, chỉ là khéo thứ hai.

Cho nên đánh hơn trǎm trận, không phải là giỏi nhất. Giỏi nhất là không phải đánh mà quân địch phải thua.

Cho nên dùng binh giỏi nhất, là đánh bằng mưu. Thứ hai là đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh. Vây thành mà đánh là kém nhất.

Vây thành thì phải chuẩn bị rất lâu, vây đánh nhiều ngày, hao binh tổn sức, mà có khi không lấy được thành. Đó là một sự tai hại to.

(Như quân Đức vây thành Xtalingrát mà không lấy được mà từ đó bị thất bại đến cùng).

Cho nên khéo dùng binh thì thắng được quân địch mà không phải đánh. Lấy được thành địch mà không phải vây. Huỷ được nước địch mà không phải đánh lâu. Vậy nên không hao tốn binh lính mà thắng lợi hoàn toàn.

Đó là phép đánh bằng mưu.

Cho nên phép dùng binh: lúc đánh thành, sức ta gấp 10 địch, thì vây nó, gấp 5 thì đánh nó. Gấp 2 thì chia hai mặt đánh nó. Lúc đánh nơi khác: sức ngang nhau thì đánh. Ta kém địch thì giữ. Ta kém quá, thì tránh nó. Cho nên, nếu sức ta kém địch mà cứ đánh liều thì chắc thất bại.

Tướng là kẻ giúp nước. Tướng giỏi (đủ cả: trí, tín, nhân, dũng, nghiêm) thì nước mạnh. Tướng xoàng thì nước hèn.

Cho nên do 5 điều mà biết sự thắng lợi:

1- Tướng biết có thể đánh và không thể đánh.

2- Tướng biết cách dùng chủ lực và bộ phận của bộ đội.

3- Trên dưới đồng lòng.

4- Ta luôn luôn chuẩn bị để chờ dịp địch không chuẩn bị.

5- Tướng giỏi mà chúa cho tướng rộng quyền.

Cho nên: biết sức ta, biết sức địch thì trǎm trận đều thắng. Biết sức ta, mà không biết sức địch thì 1 thắng 1 bại. Không biết ta, không biết địch thì trận nào cũng thua.

cpv.org.vn

Chương IV – Quân hình

(Hình trong là lý luận. Hình ngoài là thực hành).

Tướng giỏi, thì trước làm cho địch không thể thắng ta, không thể làm ta nhất định thắng được địch. Cho nên nói rằng: thắng lợi có thể biết được mà không thể làm được. (Vì dịp tốt chưa đến, ta không thể kéo nó đến. Điều kiện chưa muồi, ta không thể bảo nó muồi). Địch không thể thắng ta vì ta biết giữ. Ta có thể thắng địch là vì ta biết đánh. Sức chưa đủ, thì giữ. Sức có thừa, thì đánh. Giữ khéo thì như giấu kín dưới 10 lớp đất. Đánh giỏi thì như hành động trên 9 tầng giời. Cho nên giữ thì chắc, mà đánh thì thắng.

Ta trông thấy sự thắng lợi mà ai cũng trông thấy được, thế chưa phải là tuyệt giỏi. Ta thắng mà ai cũng cho là đáng thắng, thế chưa phải là tuyệt khôn. Vì không cần sức mạnh mới nhấc nổi sợi lông. Không cần mắt tỏ mới trông thấy mặt trời. Không cần tai nhanh mới nghe được tiếng sấm.

Người tướng giỏi thì thắng kẻ địch nó đã sẵn dễ thắng rồi, cho nên thắng mà không có tiếng tǎm.

Cho nên thắng là vì không lầm. Kẻ không lầm thì chắc thắng, vì họ thắng kẻ địch nó đã sẵn bại rồi.

Cho nên tướng giỏi thì trước đứng vào địa vị không bại, mà không bỏ qua dịp mà làm cho địch bại.

Cho nên, quân đội thắng lợi là vì họ chắc thắng rồi họ mới ra đánh. Quân đội thất bại thì ra đánh rồi mới cầu thắng.

Người tướng giỏi thì luôn luôn giữ đạo đức, và luôn luôn chuẩn bị. Cho nên họ có thể định sự thắng, bại.

(Đạo đức là: đồng cam đồng khổ, tài chính công khai, huấn luyện khôn khéo, kỷ luật nghiêm minh. Thưởng phạt công bình. Chuẩn bị là: bao giờ binh bị cũng chuẩn bị đầy đủ luôn).

Binh pháp có:

1- Là đo: (Xét địa hình hiểm bằng, gần xa để quyết định cách đánh).

2- Là lưỡng: (Xét mặt trận rộng hẹp dài vắn để phân phối các thứ binh).

3- Đếm: (Do địa thế mà định số binh nhiều hay ít).

4- Là cân: (Do sự đếm mà cân nhắc sức ta và sức địch).

5- Là thắng: (Do 4 điều trên mà đặt kế hoạch để tranh lấy thắng lợi).

Cho nên hình của quân thắng lợi, như lấy 1 tạ mà cân với 1 đồng. Hình quân thất bại, thì như lấy 1 đồng mà cân với 1 tạ.

Sự tiến công của một người tướng giỏi, thì như tháo nước xuống 1 cái thác cao mấy nghìn thước.

Đó là quân hình.

cpv.org.vn

Chương V – Thế của binh

(Chương này nói: Chiến đấu chỉ có 2 phía. Kỳ binh là bộ đội phụ thuộc, chính binh là bộ đội chủ lực. Phải khéo dùng 2 phía đó, để phát triển tài nǎng của quân ta).

Chỉ huy đông người, cũng dễ dàng như chỉ huy ít người, đó là do phân số, (phân số là thứ lớp chiến đấu và cách phân phối quân đội. Dễ dàng là vì kế hoạch rõ ràng, chiến thuật giản đơn).

Đánh với đông người cũng như đánh với ít người, là do trống cờ (theo sắc cờ tiếng trống mà tiến thoái).

Có thể khiến 3 quân xông vào trận địch mà không thất bại, là do khéo dùng kỳ binh và chính binh.

Quân ta đến đâu đều như lấy đá chọi vào trứng, là do sức mạnh của ta và sức yếu của địch.

Đem chủ lực mà đánh. Dùng kỳ binh mà thắng.

Cho nên khéo dùng kỳ binh, thì vô cùng như giời đất, không hết như sông ngòi, sau rồi lại trước như mặt giời mặt giǎng, tử rồi lại sinh như xuân hạ thu đông.

Tiếng chỉ có 5 thứ, khéo biến hoá thì nghe không biết mấy mươi thứ. Sắc chỉ có 5 mầu, khéo biến hoá thành không biết mấy mươi mầu. Mùi chỉ có nǎm giống, khéo biến hoá thì nên không biết mấy mươi vị.

Thế binh chỉ có Chính (là trực tiếp) và Kỳ (là gián tiếp). Khéo biến hoá thì vô cùng. Kỳ sinh chính, chính lại sinh kỳ, như tuần hoàn không có chỗ hở, ai mà làm cho nó cùng được.

Nước chảy mạnh thì đá cũng trôi, đó là vì đúng Thế. Chim diều chim cắt cổ mau, mà làm gẫy cổ gà cổ thỏ, là vì mổ đúng Tiết. Cho nên người tướng giỏi thì cái thế hiểm, cái tiết nhanh.

Thế, thì như cung dương. Tiết, thì như nẩy cò.

Đánh lung tung mà không rối loạn. Xoay tròn chong chóng mà không hở han.

Trị mà hững hờ thi sinh loạn. Gan mà hững hờ thì sinh nhát. Mạnh mà hững hờ thì sinh yếu. Trị và loạn là sinh ra bởi phân số. Gan và nhát là sinh ra bởi Thế. Mạnh và yếu là do địa hình và quân hình.

Cho nên kẻ khéo mồi địch, thì họ tỏ hình gì địch cũng theo. Họ cho gì địch cũng lấy. Họ lấy lợi để mồi địch. Họ đem binh để chờ địch.

Cho nên tướng giỏi thì biết chọn người mà giữ Thế. Vì vậy nên họ chọn được Thế tốt.

Được Thế tốt, thì đánh với địch như xoay gỗ với đá. Gỗ với đá khi yên thì nó tĩnh, khi nguy thì nó động. Vuông thì nằm, tròn thì nó lǎn.

Cho nên lúc đánh địch, thì Thế như lǎn đá tròn xuống dốc núi cao mấy nghìn thước. Đó là binh Thế.

cpv.org.vn