Thư viện

Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu (10-1925)

Do sức ép của công luận ở Pháp và ở Đông Dương, ông Varen đã nửa chính thức hứa sẽ chǎm sóc vụ Phan Bội Châu. Ông hứa thế; giả thử cứ cho rằng một vị toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chǎng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi liệu quan toàn quyền Varen sẽ “chǎm sóc” vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao.

Trước hết, ngài chỉ muốn chǎm sóc đến khi nào yên vị thật xong xuôi ở bên ấy đã.

Nhưng ngài lại chỉ vừa mới xuống tàu, mà hành trình từ Mácxây đến Sài Gòn kéo chừng bốn tuần lễ cơ. Như vậy có nghĩa là trong bốn tuần lễ đó, Phan Bội Châu vẫn bị giam trong tù.

* * *

Đến Sài Gòn thì ông Varen, có gì mà không lường trước được, sẽ bị quấn quýt lấy, lôi kéo đi, giằng co, ru vỗ, ấp ủ trong mớ bòng bong những buổi chiêu đãi, những cuộc tiếp với rước, những lời chúc với tụng. Tiếp đấy là một cuộc tuần du linh đình qua khu phố bản xứ, giữa hàng nghìn người da vàng đã được nước Pháp hàng phục bằng sức mạnh của lưỡi lê, nay giao phó vận mệnh trong tay quan toàn quyền. Và đó cũng là lần đầu tiên trong đời mình, hai con mắt của ông Varen được thấy hiển hiện cái huyền diệu của một thành phố Đông Dương, dưới lòng đường, trên vỉa hè, trong cửa tiệm. Những cu li xe 1 kéo xe tay phóng cật lực, đôi bàn chân trần

giẫm lạch bạch trên mặt đường nóng bỏng; những quả dưa hấu bổ phanh đỏ lòm lòm; những xâu lạp xường lủng lẳng dưới mái hiên các hiệu cơm; cái rốn một chú khách trưng ra giữa trời; một viên quan uể oải bước qua, tay phe phẩy cái quạt, ngực đeo tấm bắc đẩu bội tinh 1 hình chữ thập. Thật là lộn xộn! Thật là nhốn nháo!

Bỗng dưng tất cả dừng lại, dưới cây đũa thần, hay đúng hơn dưới ngọn roi gân bò mà viên đội xếp Tây vừa vung lên vừa quát tháo: “Cái giống tởm nhà mày! Có cút đi không, cái giống tởm!”. Thế là cái đám đông lúc nhúc đứng sắp hàng, vừa yên lại vừa lặng, hai bên lề đường. Gì thế nhỉ ? Xe ô tô quan toàn quyền sắp đi qua đấy … Xe kia rồi! Lại cả ông Toàn quyền đây rồi!

– Quan có cái mũ hai sừng trên chóp sọ! Một chú bé con thầm thì.

– ồ! Cái áo dài đẹp chửa! Một chị con gái thốt ra.

– Ngài sắp diễn thuyết đấy! Một anh sinh viên kêu lên.

– Đôi bắp chân ngài bọc ủng! Một bác cu li xe thở dài.

– Rậm râu, sâu mắt 12 ! Một nhà nho lẩm bẩm.

Thế là ô tô ông Varen chạy qua giữa hai hàng rào con người, lưng khom lại khi ngài đến gần. Cùng lúc, một tiếng rào rào nổi lên: “Lạy quan lớn! Bẩm lạy quan lớn ạ!” 3 .

Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù.

* * *

Từ Sài Gòn ra Hà Nội, ông Varen sẽ dừng lại Huế. Triều đình An Nam, do hoàng đế hay hình bóng hoàng đế dẫn đầu sẽ tất tưởi đi nghênh tiếp hiện thân tôn nghiêm của nước Pháp. Đức kim thượng Khải Định sẽ thỉnh ông Varen thǎm hoàng cung, và ông Varen sẽ vào. Hoàng thượng Khải Định sẽ thỉnh ông Varen dự yến, và ông Varen sẽ ǎn. Đến lúc tráng miệng, hoàng thượng đứng dậy, ngài uy nghi tiến đến gần quan toàn quyền; đưa những ngón tay dài và mảnh, lấp lánh châu ngọc đỏ xanh, ngài cài lên ngực ông Varen loại tưởng lệ phong tặng cao quý nhất của hoàng triều: Nam long bội tinh, và thế là ông Varen được gắn mề đay.

Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù.

* * *

Nhưng chúng ta hãy theo dõi, theo dõi bằng đôi cánh của trí tưởng tượng, những trò lố chính thức của ông Varen. Hãy theo ông đến tận Hà Nội, tận cổng nhà lao chính, tận xà lim, nơi người đồng bào tôn kính của chúng ta đang rên xiết.

Ôi thật là một tấn kịch! Ôi thật là một cuộc chạm trán! Con người đã phản bội giai cấp vô sản Pháp, tên chính khách đã bị đồng bọn đuổi ra khỏi tập đoàn, kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình, lúc này mặt đối mặt với người kia, con người đã hy sinh cả gia đình và của cải để xa lánh khỏi thấy mặt bọn cướp nước mình, sống xa lìa quê hương, luôn luôn bị lũ này sǎn đuổi, bị chúng nhử vào muôn nghìn cạm bẫy, bị chúng kết án tử hình vắng mặt, và giờ đây đang bị, vẫn chúng, đeo gông lên vai, đày đoạ trong nhà giam, ngày đêm bị bóng dáng của máy chém như một bóng ma ám kề bên cổ.

Giữa kẻ phản bội nhục nhã và bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng, giữa hai con người đó xảy ra chuyện gì đây?

– Tôi đem tự do đến cho ông đây! Varen tuyên bố vậy, tay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái gông to kệch đang xiết chặt Bội Châu trong nhà tù ảm đạm.

“Nhưng, có đi phải có lại, tôi yêu cầu ông lấy danh dự hứa với tôi là sẽ trung thành với nước Pháp, hãy cộng tác, hãy hợp lực với nước Pháp để tiến hành ở Đông Dương một sự nghiệp khai hoá và công lý.

“Ông Phan Bội Châu, tôi biết rõ tâm hồn cao thượng và cuộc đời đầy hy sinh, nhiều nguy nan của ông, và chính tôi, tôi xin là người đầu tiên, với tư cách là toàn quyền Đông Dương, được bày tỏ tấm lòng rất mực quý trọng ông. Song những ý tưởng hào hiệp nhất phải chǎng bao giờ cũng hay nhất? Phải chǎng bao giờ cũng thực hiện được? Than ôi, không đâu, ông ạ! Vả lại, trời ơi! Tại sao chúng ta lại cứ cố chấp cãi lộn nhau mãi thế này, trong lúc ông và tôi, tay nắm chặt tay, chúng ta có thể làm được biết bao công việc tốt đẹp cho xứ Đông Dương này? Chúng ta có thể cùng nhau làm cho nước ông trở thành một quốc gia tân tiến lớn, một xứ tự trị, một nước Pháp ở châu á!

“Ô! Ông nghe tôi, ông Phan Bội Châu này! Ông hãy để mặc đấy những ý nghĩ phục thù của ông, hãy từ bỏ đi những mưu đồ xưa cũ, và, thôi, chớ tìm cách xúi giục đồng bào ông nổi lên chống lại chúng tôi nữa; trái lại, ông hãy bảo họ cộng tác với người Pháp, và, làm như vậy là ông sẽ được tất cả, được cho đất nước ông, được cho bản thân ông!

“Về chuyện này, tôi có thể kể ông nghe gương của một trong những trợ thủ cũ của ông, là ông Nguyễn Bá Trác; ông biết đấy, ông này đã biết điều rồi và hiện nay thì đã đứng về phía chúng tôi. Nhưng nếu gương của người đồng bào ông, ông cho là chưa đủ, thì tôi xin kể gương đồng bào của chính tôi cho ông nghe, gương các bạn học của tôi từ hồi còn nhỏ, các chiến hữu của tôi, Guyxtavơ, Alếchxǎng, Arixtít, Anbe, Pôn và Lêông 11 . Những vị ấy, ngày nay lừng danh cả, đều đã lần lượt đốt cháy những cái mà mình đã tôn thờ và đang tôn thờ những cái mà mình đã đốt cháy. Như vậy các vị ấy có sao không ? Chẳng sao cả. Nền dân chủ của chúng tôi, nhờ Chúa! Rất là tốt! Thật thế, nền dân chủ hào hùng của nước Pháp, mà hôm nay tôi được vinh dự thay mặt giữa các ông, khoan dung với những người, như tôi, đã đoạn tuyệt với những lầm lạc của tuổi trẻ.

“Nhưng sao thế, ông hãy nhìn tôi này, ông Phan Bội Châu! Trước tôi là đảng viên xã hội đấy, và giờ đây thì tôi làm toàn quyền…!”.

ừ thì Phan Bội Châu nhìn Varen. Nhưng, lạ chưa! Những lời nói của Varen hình như lọt vào tai Bội Châu chẳng khác gì “nước đổ lá khoai” 1 , và cái im lặng dửng dưng của Bội Châu suốt buổi gặp gỡ hình như làm cho Varen sửng sốt cả người.

Không phải vì một bên nói tiếng Nam, một bên nói tiếng Tây: đã có một viên quan ở đấy làm thông ngôn cơ mà. Nhưng cứ xét binh tình, thì đó chỉ là vì Bội Châu không hiểu Varen cũng như Varen không hiểu Bội Châu

*

*      *

Cuộc gặp gỡ chấm dứt ở đấy, hay ít ra là không ai biết được gì hơn nữa. Chỉ có anh lính dõng An Nam bồng súng chào ở cửa ngục là cứ bảo rằng, nhìn qua chấn song, có thấy một sự thay đổi nhẹ trên nét mặt người tù lừng tiếng. Anh quả quyết – cái anh chàng ranh mãnh đó- rằng có thấy đôi ngọn râu mép người tù nhếch lên một chút rồi lại hạ xuống ngay, và cái đó chỉ diễn ra có một lần thôi.

Nếu quả thật thế, thì có thể là lúc ấy Bội Châu có mỉm cười, mỉm cười một cách kín đáo, vô hình và im lặng, như cánh ruồi lướt qua vậy 2 .

T.B. – Một nhân chứng thứ hai của cuộc hội kiến Varen – Phan Bội Châu (xin chẳng dám nêu tên nhân chứng này) lại quả quyết rằng Bội Châu 1 đã nhổ vào mặt Varen; cái đó thì cũng có thể.

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————–

Báo Le Paria, số 36 – 37,
tháng 9 và tháng 10 – 1925.
Nguyễn ái Quốc: Truyện và ký, Nhà xuất bản Vǎn học, Hà Nội, 1974, tr. 31-37.
Theo bài in trong sách Truyện và ký.
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Quốc tế nông dân về nghị quyết của Đảng bộ Quốc dân Đảng Quảng Đông về vấn đề nông dân

Bản nghị quyết mở đầu rằng, cuộc cách mạng dân tộc không thể hoàn thành nếu không có sự ủng hộ của quần chúng; và rằng, ở Trung Quốc, 85% quần chúng là nông dân. Nhận thức rõ điều quan trọng đó, Quốc dân đảng – từ khi được cải tổ – đã chú ý đến mức tối đa vấn đề nông dân.

Lòng hǎng hái của nông dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân rất muốn tự tổ chức nhau lại. Sau một nǎm kể từ tháng 5 nǎm ngoái, 22 Hội nông dân đã được thành lập.

Ngày 1 tháng 5, một hội nghị có 117 đại biểu dự – đại diện cho 210.000 nông dân đã tham gia tổ chức -, thành lập Hội nông dân tỉnh. Chưa đầy 6 tháng sau, đã có thêm 11 Hội nông dân huyện nữa được thành lập, nâng tổng số Hội nông dân huyện lên tới 33 hội với 450.000 hội viên.

Ngay cả những nông dân sống dưới sự áp bức của bọn quân phiệt Đặng Phù Ninh và bè lũ, cùng những anh em của họ ở Huệ Nam, Quảng Tây, Hà Nam, Hồ Nam và các tỉnh khác đều noi gương. Họ tổ chức một cách bí mật hoặc công khai, nhưng họ đã có tổ chức.

Tinh thần cách mạng của họ. Khi bác sĩ Tôn tiến hành cuộc khảo sát ở miền Bắc thì chính tự vệ nông dân cùng với tự vệ công nhân đã hộ vệ ông tới Thiều Châu. Trong thời gian xảy ra cuộc bạo động của bọn hổ thương, chính tự vệ nông dân đã hợp tác với tự vệ công nhân để bảo vệ Chính phủ cách mạng, trong khi nông dân

Đông San đã dùng vũ lực ngǎn chặn bọn lính tình nguyện của thương nhân huyện này không để chúng xuất quân đi đánh Quảng Châu. Trong cuộc chiến tranh sông Đông vừa qua, nông dân ở Đông Hoàn, Hải Phong, Lục Phong và Phù Nguyên đã làm tất cả mọi việc để giúp đỡ quân đội của Đảng. Trong thời gian cuộc phản loạn của Lưu và Dương, nông dân nhiều huyện đã nổi dậy và tiến công những đội quân phản loạn và giúp đỡ Chính phủ cách mạng tiêu diệt bọn quân phiệt phản loạn trong vòng mấy ngày. Gần đây, nông dân Đông Hoàn đã hỗ trợ một cách có hiệu quả binh lính của Chính phủ tước vũ khí khi bọn lính ngoan cố của Lam Sooyai và những tên khác. Lần này nông dân Hải Phong lại chịu đựng những sự hy sinh lớn để giúp đỡ quân đội của Đảng trong cuộc chinh phạt sông Đông hiện nay.

Sự đau khổ của họ. Thế nhưng những nông dân anh dũng đó lại là những người bị bóc lột và bị áp bức hơn ai hết! Trước hết, họ bị đội hương dũng áp bức. Tổ chức này do bọn địa chủ lớn và bọn hào lý xây dựng nên, chúng trang bị vũ khí cho những người nông dân để chống lại những người anh em cùng giai cấp của mình. Bọn địa chủ và bọn hào lý có ý định dùng đội hương dũng để bảo vệ nông dân chống lại bọn phỉ, nhưng trong thực tế tổ chức này còn tồi tệ hơn cả bọn phỉ.

ở một xã như Lisao, nông dân bị buộc phải nộp mỗi nǎm 100.000 đôla để duy trì đội hương dũng. ở một làng nhỏ như Huệ Đức người ta lột của nông dân mỗi nǎm hơn 20.000 đôla. ở Thuận Đức, viên chỉ huy đội hương dũng cứ mỗi nǎm kiếm lợi được 70.000 đôla. ở các huyện khác, nông dân cũng bị bóc lột như vậy. Để moi tiền của nông dân, đội hương dũng đã thu ít nhất là 20 loại thuế.

Những kẻ áp bức họ. Trước kia nông dân thụ động. Hiện nay, với tổ chức của mình, họ tự bảo vệ mình. Do đó những kẻ áp bức họ chỉ còn trông cậy vào những hành động tội ác.

Không có tháng nào mà không có một vài Hội nông dân bị triệt phá hoặc một vài chiến sĩ bị sát hại. Đây là bản tóm tắt một sổ đen: 1924 – tháng 5 – tháng 6, hai Hội nông dân ở Quảng Ninh bị triệt phá. Tháng 7 – tháng 8, Hội nông dân Nam Phố và Nam Hội bị triệt phá. Tháng 9 – tháng 10, Hội nông dân Đông Hoàn cũng cùng chung một số phận. Tháng 11 – tháng 12, thì Hội nông dân của vùng 2 thuộc Quảng Ninh, Hội nông dân Hoa huyện và Hội nông dân Phiên Ngung bị triệt phá. Bọn hào lý và bọn địa chủ thuê bọn phỉ cướp phá các vùng, đốt trụ sở của Hội nông dân và giết hại các hội viên của hội.

Chuỗi tội ác đó mỗi tháng một tiếp tục kéo dài thêm, tội ác của bọn hào lý Hồ Giang gây ra tháng 5 vừa qua đặc biệt dã man. Nhiều nhà cửa của nông dân bị đốt, các cán bộ của Hội nông dân bị giết hại, phụ nữ và nữ thanh niên trong làng bị hãm hiếp.

Mới gần đây thôi, bọn hào lý ở Thuận Đức, Phù Nguyên, Thông San đã phạm cùng một tội ác đáng xấu hổ như vậy đối với nông dân ở huyện của chúng.

Nghị quyết. Những sự thật đó cho thấy rõ ràng rằng đội hương dũng là công cụ áp bức nông dân. Hơn nữa, nhiều đội lại thường gồm những tên phỉ và những kẻ không thể chấp nhận được, trong khi một số khác không thể giữ gìn được an ninh và trật tự trong huyện của họ. Song tất cả những đội đó đều là những trở ngại cho chính sách nông dân của Đảng. Hơn nữa, sự thật đã được chứng thực đầy đủ là ở bất cứ nơi nào mà nông dân đã thành lập đội tự vệ của mình thì đội tự vệ đó chẳng những duy trì được an ninh và trật tự ở làng và huyện mà còn có thể ủng hộ Chính phủ cách mạng, tǎng cường cơ sở của Đảng.

Vì vậy đảng bộ Quảng Đông của Quốc dân đảng quyết định đề nghị Chính phủ giải tán các đội hương dũng ở những nơi có đội tự vệ nông dân và xoá bỏ – càng sớm càng tốt – cơ quan tổng chỉ huy các đội đó. Đồng thời yêu cầu Chính phủ tổ chức đội tự vệ nông dân để giữ gìn an ninh và trật tự ở các làng và các huyện, phù hợp với chương trình nông dân của Đảng.

Những sự áp bức khác. Bên cạnh đội hương dũng còn có bọn quan lại và bọn quân phiệt, bọn này tự gọi mình là đảng viên của Đảng, nhưng hành động hoàn toàn trái với các quy tắc của Đảng.

Mục đích duy nhất của chúng là kiếm tiền. Chính sách duy nhất của chúng là hợp tác với bọn hào lý xấu bóc lột nông dân và áp bức Hội nông dân.

Quân đoàn 3 đóng ở Quảng Ninh và huyện trưởng Tài đã nhúng tay vào vụ đổ máu ở huyện đó. Binh lính của Phúc ở Thuận Đức và viên huyện trưởng Tǎng phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc tàn sát đã xảy ra ở 6 làng. ở Đông San hiến binh trưởng Ngô, đại uý Yiép thuộc quân đoàn 2 và binh lính của Phúc – cùng với bọn hào lý – đã đốt phá và cướp bóc 30 làng.

Nơi nào có phong trào nông dân thì đều có tình hình như vậy. Những hành động đó của quân đội và của bọn quan lại không những làm cho nông dân xa lìa Đảng, mà còn phá hoại kế hoạch của Đảng.

Để gạt bỏ những trở ngại đó và để làm cho sự hợp tác giữa Đảng và nông dân trở thành một sự hợp tác thực sự, cần phải xử sự quyết liệt đối với bọn quân nhân phản bội và bọn quan lại cũng như bọn hào lý mục nát. Chỉ có bằng cách như vậy Hội nông dân mới có thể phát triển được, chương trình nông dân của Đảng mới có thể thực hiện được.

Bọn cho vay nặng lãi. Bọn cho vay tiền nặng lãi là những kẻ không thương xót gì nông dân cả. ở các huyện quanh Quảng Châu, chúng lấy lãi ít nhất là 36%. ở huyện Cao Yên chúng lấy lãi 73% và ở Lôi Châu 108%! Hơn nữa, nếu người cha không trả được nợ thì con anh ta bị buộc phải làm cái việc trả nợ đó.

Những cửa hiệu cầm đồ, những thương nhân vô lương tâm cũng chẳng nhân từ gì hơn. Thuế khoá nặng nề dồn thêm sức nặng lên gánh nặng của nông dân vốn đã quá nặng rồi!

Những sự khốn cùng của nông dân. Những người làm thuê cho nông trại được trả công thật thảm hại trong lúc con cái nông dân làm việc thật sự chẳng được gì.

Người lĩnh canh làm việc vất vả quanh nǎm mà chỉ được 35 hoặc 40% sản lượng. Ngay cả với cái phần còm cõi đó, mỗi vụ gặt họ vẫn phải biếu xén địa chủ. Thế vẫn chưa hết. Địa chủ có thể lấy lại ruộng, không cho người lĩnh canh thuê vào bất kỳ lúc nào y muốn. Địa chủ dùng hai thủ đoạn khác nhau: địa chủ nhỏ thì cho thuê, địa chủ lớn hơn thì tập hợp các khoản cho thuê.

Các công ty độc quyền ruộng đất giữ chặt nông dân nghèo dưới gót giày tàn bạo của chúng. Chúng cướp hết ruộng đất rồi sau đó cho thuê ruộng với mức lãi 80%.

Hoàn cảnh của những người sở hữu nhỏ thật quá xa với điều mong muốn. Họ bị buộc phải nộp 30 loại thuế. ở Hải Phong và Lôi Châu chẳng hạn, bọn quân phiệt đã thu thuế ruộng đến nǎm 1930.

Nghị quyết. Đảng bộ khẩn thiết yêu cầu:

Xoá bỏ sự nô dịch của nợ nần, các thứ thuế nặng và ngoại ngạch, sự độc quyền ruộng đất.

Cấm cho vay nặng lãi, cấm thu hồi ruộng đất, không cho nông dân thuê nữa mà không có đủ lý do; đòi ấn định địa tô tối đa, thống nhất đo lường, miễn thuế khi mất mùa.

Đòi thiết lập ngân hàng và các hợp tác xã nông dân, cải cách hệ thống nông nghiệp, hoàn thiện công trình tưới nước.

Về những người làm thuê cho các nông trại, Đảng bộ yêu cầu rút ngắn ngày lao động, tǎng lương, đối xử bình đẳng đối với công nhân nam nữ trẻ tuổi.

Đòi xoá bỏ đội hương dũng, đội hương vệ, cục bảo vệ bãi cát và các tổ chức ǎn bám khác. Các quỹ và các nguồn tiền của các tổ chức này phải được chuyển cho Hội nông dân để sử dụng vào việc cải thiện nông nghiệp.

Đòi chuẩn bị cho việc trồng rừng ở tất cả những đất công và đất chưa canh tác.

Ngoài ra Đảng bộ còn yêu cầu cấp ruộng cho những nông dân không có ruộng.

Giáo dục. Đại đa số nông dân bị thất học. Còn nữ thanh niên và phụ nữ nông dân thì trên thực tế bị tước mọi loại học vấn. Sự dốt nát đã khiến cho nông dân trở thành một công cụ dễ sai khiến trong tay thế lực phản cách mạng. Để khắc phục tình trạng đó, Đảng bộ yêu cầu:

Tổ chức lớp học buổi tối cho người lớn và trường không thu học phí cho trẻ con.

Để thực hiện chương trình này, Đảng bộ yêu cầu Chính phủ mở rộng hệ thống giáo dục không thu tiền đến tất cả các huyện và lập một ngân sách đặc biệt để dùng vào mục đích đó. Đảng bộ còn đề nghị thêm rằng tất cả các chùa chiền, đền đài, các quỹ và các nguồn của cải công phải được sử dụng cho công việc giáo dục.

———————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông (16-10-1925)

1. Phong trào Hội nông dân bắt đầu từ huyện Hải Phong vào tháng 5-1922. Nông dân vốn bị tầng lớp quý tộc nhỏ, bọn địa chủ, bọn quan lại và bọn quân phiệt áp bức và bóc lột. Nhưng chưa bao giờ họ bị bóp nặn nặng nề như bị Trần Quýnh Minh bóp nặn hiện nay.

Thoạt đầu, nông dân Hải Phong nghĩ rằng Trần là người quê quán ở huyện này, có lẽ ông ta sẽ theo cái truyền thống “một người con quý, cả huyện hạnh phúc”. Nhưng hoá ra lại không phải thế. Những kẻ đi theo Trần đã đem tiền cướp được trong các cuộc phiêu lưu quân phiệt của chúng – mua ruộng và trở thành địa chủ mới. Chúng có nhiều phương pháp để có ruộng. 1/ Chúng làm cho Trần đánh thuế ruộng rất nặng. Những địa chủ nhỏ không thể nộp thuế được nên phải bán ruộng với giá rẻ. 2/ Trần yêu cầu tất cả các chủ đất phải đem giấy tờ để kiểm tra, nếu ai không có giấy tờ thì ruộng đất của người ấy sẽ bị tịch thu. Các gia đình nông dân đều sống chết ở đất này từ bao thế kỷ, nên đại đa số họ biết rất rõ ruộng nào là của mình, nhưng không biết giấy tờ ở đâu. Vì lẽ đó, một số lớn nông dân đã bị Trần cướp đoạt.

Ruộng đất đã đổi chủ nên hoàn cảnh của nông dân, tất nhiên, bị xáo trộn. Và những người chủ mới, có lực lượng vũ trang trong tay tha hồ bóp nặn nông dân. Toàn bộ đội quân những người chủ nhỏ bị tước đoạt đã làm tǎng đội ngũ nông dân nghèo. Vì thế đời sống trở nên khó khǎn không thể chịu được và sự nghèo khổ ngự trị khắp nơi.

Nhiều nông dân nghèo bị dồn ra khỏi làng để đi tìm việc ở Hương Cảng.

Rồi nổ ra cuộc bãi công thắng lợi của thuỷ thủ. Những công nhân mới, khi về thǎm quê, lại là người đưa tin và người tuyên truyền.

Thế là con đường đi được chuẩn bị, chúng tôi liền thừa cơ đó phát động một cuộc vận động xây dựng Hội nông dân. Ngay lập tức 5.000 nông dân đã tham gia phong trào.

2. Hiện tại 11 Hội nông dân huyện đã chính thức được thành lập. Và 13 Hội nữa sắp được thành lập. Tổng số hội viên là 465.000 người (riêng Hải Phong đã có 200.000 hội viên).

16 Hội nông dân huyện đã có đội tự vệ (Hải Phong có 500 đội viên tự vệ nông dân).

Trước đại hội Hội nông dân tỉnh vào tháng 5 nǎm ngoái đã có 20 huyện có Hội nông dân. Hiện nay, các Hội nông dân đã được thành lập ở 32 huyện.

Tháng 2-1923, Hải Phong có một vụ kiện giữa địa chủ và nông dân. Nông dân được kiện. Bọn địa chủ tung tin đồn rằng Hội nông dân sẽ thực hiện chủ nghĩa cộng sản và rằng bọn địa chủ phải tự tổ chức nhau lại để bảo vệ tài sản của mình. Một hiệp hội đã được thành lập với hơn 100 địa chủ tham gia, dưới sự lãnh đạo của một người chú của Trần. Rồi chúng buộc viên quan toà phải xét lại vụ án. Trong lúc xét xử, bọn địa chủ đến dự phiên toà rất đông. Sợ hãi, viên quan toà đã ra lệnh bắt giam 6 nông dân. Lập tức 6000 nông dân đã họp mít tinh, sau đó là một cuộc diễu hành. Càng sợ hơn, viên quan toà phải thả mấy người tù đó. Những người nông dân chiến thắng đã hân hoan đón các đồng chí của mình, họ vừa hoan hô vừa hô lớn: “Đả đảo bọn địa chủ!”.

Từ đó sự phân cách giữa địa chủ và nông dân càng rộng thêm. Vào tháng 7-1923, do tai họa về bão, 20.000 nông dân đã xuống đường tuần hành, đòi giảm 70% tô. Được lực lượng của Trần Quýnh Minh che chở, bọn địa chủ đã thu tô và không giảm chút nào. Một cuộc chiến đấu đã xảy ra và 3 nông dân đã bị bắt.

Bọn quân phiệt, bọn quý tộc, bọn quan lại và bọn hiến binh đứng về phía bọn địa chủ. Hội nông dân đã kêu gọi nông dân tiến hành một cuộc mít tinh, và 30.000 người đã hưởng ứng lời kêu gọi. Bọn địa chủ và chiến hữu của chúng đào hào, dựng chiến luỹ, tiến hành việc chuẩn bị tựa hồ như để đương đầu với cả một đội quân lớn.

Sau cuộc mít tinh, hiến binh bắt thêm 25 nông dân nữa. Nông dân muốn tiến công nhà tù, nhưng các thủ lĩnh của họ thấy rằng kẻ thù được trang bị vũ khí đầy đủ trong khi nông dân không có gì ngoài nắm tay không, nên đã ngǎn họ lại.

Sáu tháng sau 28 nông dân bị bắt mới được thả.

Từ tháng 7-1923 đến tháng 2-1924, Hội nông dân hoạt động bất hợp pháp. Sau tháng 2, Hội nông dân thử mở cửa trở lại, nhưng đã bị bọn quân phiệt đóng cửa. Chẳng bao lâu sau quân đội Quốc dân đảng đã đánh bật Trần Quýnh Minh và Hội nông dân xuất hiện trở lại một cách hợp pháp.

Với quân đội Quốc dân đảng và những thuỷ thủ bãi công ở Hương Cảng.

Trong cuộc chiến đấu giữa Trần và Quốc dân đảng (tháng 4) nông dân Hải Phong đã dành cho quân đội của Đảng mọi sự giúp đỡ dẫn đường, vận tải, giao liên, v.v.. Một vài nông dân đã nhập ngũ ra hoả tuyến.

Khi cuộc bãi công nổ ra, nông dân đã tiến hành nhiều cuộc biểu tình đoàn kết, họ đã quyên góp nhiều nghìn đôla vào quỹ bãi công; họ giúp đỡ đội bảo vệ của những người bãi công ngǎn chặn việc tuồn thực phẩm vào Hương Cảng.

Tháng 9, khi quân đội của Trần lại trở về Hải Phong, đội tự vệ nông dân đã chiến đấu rất dũng cảm và chỉ rút lui khi họ bị quân thù đông hơn về số lượng đè bẹp, 50 nông dân bị giết.

Huyện Quảng Ninh.

Bọn địa chủ được vũ trang mạnh. Nông dân chỉ được hưởng 30% sản phẩm, còn 70% thì rơi vào bọn địa chủ.

Một vài người quê quán ở huyện này làm việc ở các xưởng dầu tại Quảng Châu. Chính họ là những người thúc đẩy Hội nông dân. Lúc đầu bọn địa chủ coi khinh nông dân, công nhân và không chú ý đến tổ chức của họ. Nhưng khi Hội nông dân đã thành lập và nông dân đã biểu lộ nhiệt tình và có ưu thế về số lượng thì bọn địa chủ liên kết lực lượng của chúng với lực lượng của bọn quân phiệt. Chúng đốt phá các trụ sở của Hội nông dân, giết và làm bị thương nhiều hội viên. Hành động tàn ác đó của bọn địa chủ khiến cho nông dân càng thêm trung thành với tổ chức của mình và càng kiên quyết đấu tranh. Vì bọn địa chủ tập trung lực lượng của chúng vào 3 làng nên nông dân đã rút sang những làng khác và bí mật tổ chức đội tự vệ của mình.

Mùa đông nǎm ngoái, họ bắt đầu tiến hành phong trào giảm tô. Bọn địa chủ đã thuê bọn phỉ dùng vũ lực để thu tô.

Đó là một cuộc chiến tranh thật sự. Mỗi bên tham chiến đều có lãnh thổ và sở chỉ huy của mình. Để thúc giục Chính phủ giúp đỡ, nông dân đã tiến hành một cuộc mít tinh với 10.000 người tham dự. Phụ nữ và trẻ em cũng tham gia cuộc biểu tình. Chính phủ đã phái đội vệ sĩ và đội xe bọc thép đến giúp nông dân.

Viên chỉ huy đội vệ sĩ đã ǎn hối lộ của bọn địa chủ và đề nghị nông dân ký một bản hoà ước với điều kiện là 7 địa chủ cầm đầu cuộc gây rối sẽ bị trừng phạt. Một tên cầm đầu khác được quan toà che chở thì muốn đánh lừa mọi người bỏ qua tội lỗi của mình nên mời các thủ lĩnh nông dân và các sĩ quan đội xe bọc thép đến dự một tiệc lớn. Các khách đã đến dự và khi tiệc tan họ đã bắt giữ y.

Trước khi hội nghị hoà bình có thể diễn ra, 5 nông dân ở những làng khác đã bị bọn địa chủ giết hại. Lập tức, cuộc chiến đấu lại tiếp diễn. Viên chỉ huy vệ sĩ ǎn hối lộ đã bị thải hồi và một sĩ quan khác lên chỉ huy, nhưng đó mới chỉ là biện pháp đầu tiên. Quân thù cố thủ trong pháo đài, song pháo đài cũng bị nông dân vây hãm. Khi nước tiếp tế của chúng đã hết, bọn địa chủ đã phải quy phục.

Cuộc xung đột kéo dài 3 tháng, kết thúc bằng thắng lợi của nông dân.

Huyện Hoa Yên.

Bọn địa chủ ở đây không những chống lại Hội nông dân mà còn âm mưu lật đổ chính quyền. Vụ âm mưu này đã bị Chủ tịch Hội nông dân phát giác và đã báo cho nhân dân biết. Sau khi bị thất bại trong vụ này, bọn địa chủ đã chi một số tiền lớn để lo lót cho viên quan ở toà án huyện. Nhưng khi đã ngồi vào cương vị của mình rồi, viên quan toà mới vì thiếu can đảm nên đã chẳng làm gì để chống lại Hội nông dân.

Thấy mọi mưu toan của mình bị thất bại, bọn địa chủ đã dùng đến hành động trực tiếp. Chúng thuê phỉ giết hại các chiến sĩ và phá hoại Hội nông dân. Trong thời gian có những biến động chính trị ở Quảng Châu, bọn địa chủ đã tấn công. Đây đó đã diễn ra cuộc chiến đấu nhỏ, bởi vì nông dân tuy không được vũ trang, nhưng đã không từ bỏ cuộc chiến đấu. Chủ tịch Hội đã bị giết trong một cuộc chiến đấu, và kẻ thù đã chặt chân tay, cắt tai và mổ bụng ông.

Khi cuộc bạo loạn của bọn quân phiệt thất bại và những phần tử phản cách mạng đã bị Chính phủ Quốc dân đảng diệt sạch thì bọn địa chủ vì đã mất chỗ dựa, nên chấp nhận tất cả các yêu sách của nông dân.

Huyện Vệ Hoa.

Trong cuộc chiến tranh mới đây giữa Chính phủ Quốc dân đảng và Trần Quýnh Minh, nông dân huyện Vệ Hoa giống như các đồng chí của họ ở các huyện khác, đã dành cho binh lính của Đảng bất kỳ sự giúp đỡ nào mà họ có thể làm được. Vì lẽ đó, Trần đã trả thù, khi quay lại vùng này. Y đã giải tán các Hội nông dân bằng lực lượng quân sự. Y đã đánh thuế nặng. Hội nông dân đã kêu gọi 2.000 hội viên và tiến hành một trận chiến đấu công khai chống tên quân phiệt này. Nông dân có 120 người bị giết và bị thương. Sau trận chiến đấu, mặc dù bị thất bại, nông dân vẫn tập trung lực lượng của mình, tiến hành phòng ngự và loan tin rằng họ đang chờ quân đội của Đảng. Họ đã giữ vững được trận địa của mình trong một thời gian. Về sau, khi phát hiện quân tiếp viện của Đảng

không tới, quân địch đã đánh bật nông dân ra khỏi sở chỉ huy của họ, đốt cháy 50 ngôi nhà, cướp đi 410 con trâu, đấy là chưa nói đến việc cướp bóc tiền bạc và các thứ khác.

Các huyện khác cũng ở vào một hoàn cảnh gần như thế về mặt tổ chức, hoạt động và chiến đấu.

Bọn địa chủ: Chúng không có tổ chức vững chắc. Việc chúng lên hay xuống liên quan đến sự lên xuống của những phần tử phản cách mạng. Trong thời gian xảy ra vụ Thương Hô, cuộc bạo loạn của Lưu và Dương, sự ổn định của Trần Quýnh Minh và việc để cho bọn quân phiệt nhỏ nhập ngũ phục vụ Chính phủ làm cho bọn địa chủ lên đến mây xanh. Một khi bọn bè bạn phản cách mạng của chúng bị đè bẹp thì chúng lại rơi sụp xuống đất và trở thành những “người bạn tốt” của nông dân.

Thanh niên và phụ nữ. Khoảng 1/3 hội viên Hội nông dân là thanh niên. Nhiều người trong số họ là cán bộ của Hội nông dân. Cũng có phụ nữ và nữ thanh niên, nhưng rất ít. Thuận Đức và Hải Phong có câu lạc bộ thanh niên nông dân. ở Hải Phong có một nhóm thiếu niên tiền phong, song tiếc thay nhóm này tổ chức chưa hoàn chỉnh.

Trao đổi tin tức. Sẽ là một điều rất lý thú nếu thiết lập được sự trao đổi tin tức giữa thanh niên nông dân với Ban thanh niên của Quốc tế Nông dân. Nhưng hiện nay việc này không thực hiện được vì có khó khǎn về giao thông liên lạc cũng như khó khǎn về ngôn ngữ.

Ngày 16-10-1925. NILỐPXKI

————————-

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông

Những câu hỏi sau đây đã được gửi đi tất cả các Hội nông dân huyện.

1/ Nguồn gốc của Hội nông dân và tình hình hiện nay của nó.

2/ Kinh nghiệm.

3/ Hội viên.

4/ Đội tự vệ nông dân.

5/ Quan hệ giữa Hội nông dân và các tổ chức khác.

6/ Thanh niên nông dân và giáo dục của họ.

7/ Tuyên truyền chính trị.

8/ Tiếng vang chính trị từ Quảng Châu.

9/ Quan hệ với công nhân công nghiệp.

10/ ảnh hưởng của đạo Cơ đốc.

11/ Những yêu sách trước mắt của nông dân.

A) TRẢ LỜI CỦA HYUYỆN T HANH VIỄN

1/ Phong trào có cùng một nguồn gốc như nhau đối với tất cả các huyện, không trừ một huyện nào. Đó là sự áp bức về kinh tế và chính trị.

ở tất cả các nơi, phong trào vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của bọn địa chủ và bọn kỳ hào bằng các thủ đoạn từ tung tin nhảm đến ám hại những người đấu tranh. Nông dân hǎng hái tổ chức nhau lại. Nhưng vì chưa giác ngộ về lực lượng của chính mình, họ

vẫn giữ thói quen tin vào Chính phủ.

2/ Khi thành lập, Hội nông dân Thanh Viễn đã trải qua những cuộc đấu tranh dưới đây:

a/ Có một cường hào độc ác quen thói áp bức nông dân đã ngǎn cản họ tham gia Hội nông dân. Ngay khi được tổ chức, phong trào nông dân đã bắt và giải y đến huyện trưởng, người này đã nhận được thư của ông Lưu Trọng Khải, đã quá cố, nên đã giam tên cường hào một thời gian dài. Thắng lợi này đã tǎng cường ảnh hưởng và tiếng tǎm của Hội nông dân; và nông dân đã nhanh chóng tham gia tổ chức.

b/ Có hai làng ở gần nhau, làng A và làng B cách nhau một quả đồi và quả đồi đó là của làng A. Có một tục lệ là nông dân cả hai làng đều có thể lên đồi cắt cỏ và kiếm củi khô trừ những cây do làng A trồng. Có một lần nông dân làng B (đã có Hội nông dân của mình) đi cắt cỏ trên đồi, nhưng họ bị bọn kỳ hào làng A (làng này không có Hội nông dân) đuổi đánh. Phong trào nông dân làng B đã tới để bảo vệ dân làng mình và bắt giữ những viên kỳ hào xúc phạm. Những viên kỳ hào đã thừa nhận lỗi lầm của họ và trả 800 đôla để bồi thường thiệt hại. Nhưng về sau người ta đã tuyên bố tình trạng chiến tranh giữa hai làng và tình trạng chiến tranh kéo dài đến 3 tháng.

Làng A nhận thấy Hội nông dân các nơi khác mỗi ngày một mạnh thêm, nên đã phải chịu trả 300 đôla tiền phạt và ký một hiệp nghị có lợi cho làng B.

c/ Một tuyên truyền viên của Hội nông dân bị tiến công. Nông dân yêu cầu viên huyện trưởng trừng trị những kẻ cầm đầu cuộc tiến công. Bọn này đều là kỳ hào. Quan toà xử phạt bọn kỳ hào phải trả cho Hội nông dân 150 đôla.

3/ Hội viên. 40 làng có 2303 hội viên. 8 làng nữa sẽ chính thức thành lập Hội nông dân của mình trong tương lai gần đây nhất.

4/ Đội tự vệ nông dân. 684 người với 563 súng trường (do địa phương chế tạo).

5/ Đội hương dũng. Lúc đầu được thành lập để bảo vệ dân làng chống lại bọn kẻ cướp, giờ đây đã trở thành công cụ của bọn kỳ hào chống lại nông dân. Mỗi nǎm mỗi người nông dân phải nộp cho tổ chức này:

Thuế đầu người 15 cân thóc

Thuế nhà 15 cân thóc mỗi gia đình

Thuế trâu 15 cân thóc mỗi gia súc

Thuế thu hoạch mùa màng 50% sản lượng thóc.

Đội hiến binh hương lý. Nông dân phải nộp cho tổ chức này:

Thuế gia đình 0,20 đôla

Thuế trâu 0,20 đôla mỗi con

Thuế thu hoạch mùa màng 5% sản lượng.

Những tổ chức này nói chung đều chống lại Hội nông dân.

Bọn kẻ cướp. Chúng chống lại Hội nông dân khi chúng bị bọn địa chủ, bọn kỳ hào thuê. Nếu không thì chúng trung lập, thậm chí đôi khi có cảm tình với chúng ta.

Binh lính. Thái độ của họ tuỳ thuộc thái độ các sĩ quan của họ. Một số thì ủng hộ Hội nông dân; một số khác – bị bọn địa chủ mua chuộc – thì chống lại Hội nông dân.

6/ Thanh niên nông dân. Hoàn toàn thất học: trên 30% số còn lại chỉ được đi học một hoặc hai nǎm, và chỉ có học vấn hoàn toàn sơ đẳng và rất lạc hậu. Làm việc rất vất vả. Sống rất nghèo túng. Số người thất nghiệp tǎng, không có sự vui chơi giải trí nào. Trình độ học vấn rất thấp. Nhiều người tham gia Hội nông dân.

7/ Tuyên truyền chính trị. Lúc đầu nông dân rất sợ chủ nghĩa cộng sản, vì họ nghe nói (do bọn địa chủ nói) rằng những người cộng sản xã hội hoá phụ nữ. Bây giờ họ đã hiểu chút ít rằng chủ nghĩa cộng sản thật ra là cái gì và họ tin rằng Đảng cộng sản là đảng duy nhất có thể giải thoát họ khỏi sự khốn cùng hiện tại của họ.

8/ Chúng ta có 8 đảng viên cộng sản và 5 đoàn viên thanh niên cộng sản hoạt động trong nông dân ở huyện này.

9/ Nông dân có tổ chức vốn đứng về phía Chính phủ dân tộc chủ nghĩa. Nhưng khi chúng tôi trình bày trong báo cáo này, vì chưa giác ngộ về sức mạnh của chính mình, họ cảm thấy bǎn khoǎn và nghi ngờ trước mỗi thay đổi về chính trị ở Quảng Châu. Bọn địa chủ đã lợi dụng mọi cơ hội – cuộc nổi dậy của Lưu và Dương, vụ ám hại Liêu Trọng Khải, v.v., để tung tin đồn nhảm nhằm làm cho nông dân lo sợ. Nhưng lần nào cũng vậy, chúng ta đều nhanh chóng chống lại bằng cách tǎng cường công tác tuyên truyền và giờ đây nông dân đã hiểu hoàn toàn rõ tình hình chính trị.

10/ Một số ít công nhân trong huyện này còn chưa được tổ chức, vì thế giữa Hội nông dân với họ không có mối liên hệ.

Từ khi có cuộc bãi công chống đế quốc, những người bãi công quê quán ở huyện này đã trở về làng và thành lập ra Hiệp hội những người bãi công. Giữa Hội nông dân và Hiệp hội những người bãi công có mối liên hệ rất chặt chẽ.

11/ Có 3 trường truyền giáo nhưng có rất ít học viên. Những trường này không có ảnh hưởng đối với nông dân là những người phản đối đạo Cơ đốc, không phải vì coi đạo Cơ đốc là công cụ của chủ nghĩa đế quốc (họ còn chưa hiểu), mà vì coi đạo Cơ đốc là một tôn giáo ngoại quốc và phản tổ tiên. Một trong những trường đó gần đây đã bị đóng cửa.

12/ Những yêu sách trước mắt:

Xoá bỏ đội hương dũng

Xoá bỏ thuế nặng nề

Súng giá rẻ (nhà nước phải bán cho họ)

Tổ chức hợp tác xã

ấn định chuẩn mực thuế.

B) TRẢ LỜI CỦA HOA UYÊN

1/ Hội nông dân được thành lập vào tháng 10-1924. Tuy còn non trẻ nhưng Hội đã dạy cho các hội viên biết dựa vào sức mình hơn là dựa vào người khác. Trong thời kỳ đầy những tin đồn đại về chính trị, một số làng đã không ngần ngại chính thức hành động mở màn. Đó là một tiến bộ lớn. Trở ngại chủ yếu trên con đường phát triển đầy đủ của Hội nông dân là những khó khǎn về tài chính.

2/ Những trận chiến đấu lớn đã diễn ra giữa nông dân và địa chủ, chúng phá hoại các trụ sở của nông dân và giết hại những người lãnh đạo của họ. Cuối cùng địa chủ đã thất bại và buộc phải ký những hiệp định dưới đây:

a/ Trừng phạt những kẻ chịu trách nhiệm về việc gây ra xung đột

b/ Bồi thường 1000 đôla cho Hội nông dân

c/ Bồi thường 2000 đôla cho người bị giết

d/ Phải trả 800 đôla phí mai táng

e/ Cam kết sau này không gây rắc rối cho Hội nông dân nữa.

3/ Hội viên. 19 làng có 2100 hội viên.

4/ Chỉ có một làng đã tổ chức phong trào nông dân với 15 hội viên.

5/ Trước kia, đội hương dũng có hơn 10.000 đội viên và 4000 khẩu súng. Nhưng hiện nay nó đang teo dần đi đến tan rã.

Một vài bǎng cướp muốn lợi dụng phong trào nông dân, một số khác chống lại phong trào nông dân, nhưng chỉ trên lời nói.

Binh lính đóng ở huyện thì trung lập.

6/ Thanh niên. Trình độ tri thức cao hơn một chút so với trình độ tri thức của thanh niên Thanh Viễn. Có nhiều trường học hơn. Đại đa số thanh niên phụ thuộc vào gia đình của họ. Nhiều người đã tham gia Hội nông dân.

7/ Trình độ hiểu biết chính trị cũng giống như trình độ hiểu biết chính trị ở Thanh Viễn. Thoạt đầu, nông dân cũng sợ chủ nghĩa cộng sản. Giờ đây họ mong mỏi thực hiện chế độ cộng sản. Họ nghĩ rằng Quốc dân đảng và Hội nông dân cũng giống nhau thôi.

8/ Chúng ta có 13 đảng viên cộng sản hoạt động trong phong trào; 4 người trong số đó là nông dân ở địa phương.

9/ Tiếng vang chính trị. Bất chấp sự tuyên truyền của bọn địa chủ, nông dân rất ít bị kích động bởi những lời đồn nhảm về chính trị.

10/ Công nhân dầu mỏ ở Quảng Châu, người quê ở huyện này, đã giúp đỡ Hội nông dân rất nhiều trong việc tuyên truyền cũng như trong việc tổ chức hoạt động. Nhưng bản thân công nhân sống ở trong huyện thì chưa được tổ chức, vì vậy không có mối liên hệ giữa họ với Hội nông dân.

11/ Có 4 trường truyền giáo, nhiều học viên. Nhưng chỉ có khoảng 1 hoặc 2% học viên trở thành người theo đạo.

12/ Những yêu sách trước mắt :

Dẹp yên bọn cướp

Cấm trò cờ bạc và chơi bời, do bọn kỳ hào bảo trợ vì trò cờ bạc và chơi bời này gây tai hại trong gia đình nông dân

Thống nhất Quảng Đông

Xoá bỏ thuế khoá nặng nề.

C) THUẬN ĐỨC

1/ Hội nông dân ở đây bắt đầu hoạt động nǎm 1921. Do cánh hữu của Quốc dân đảng khởi xướng, nhằm tǎng cường lực lượng của họ. Cuối nǎm 1922, chúng tôi bắt đầu công tác tuyên truyền của mình. Nǎm 1923, hai Hội nông dân làng được thành lập, với 300 hội viên. Từ tháng 7 đến tháng 10 lại có thêm 18 Hội nông dân nữa được thành lập bởi 5 học viên Trường nông dân. Tháng 3-1925 số hội viên đã lên tới 1400 người.

2/ Đấu tranh. Có một làng bị bọn lính của Lý Phúc Lâm đốt trụi và 30 nông dân bị chúng giết hại. Một kỳ hào ở làng bên vì xung đột cá nhân với làng bị triệt hạ, nên đã dẫn bọn lính đến đốt phá.

Một vài chiến sĩ đã bị giết hại và một số khác bị bọn kỳ hào bắt giữ. Những sự áp bức đó khiến cho nông dân vô cùng phẫn nộ và hiểu rằng phải tự tổ chức nhau lại để bảo vệ lợi ích và an ninh của mình.

3/ Hội viên. 48 Hội nông dân làng với 4000 hội viên.

4/ Đội tự vệ nông dân chưa được tổ chức.

5/ Một vài đội hương dũng vẫn giữ trung lập, và một số khác chống lại chúng tôi. Bọn này đã giết hại một chiến sĩ của chúng tôi, chúng đã cướp bóc và bắt giữ nhiều người trong số các chiến sĩ của chúng tôi.

Dù bọn kẻ cướp rất mạnh nhưng chúng chưa phạm một điều gì chống lại Hội nông dân.

Bề ngoài binh lính đồn trú có thái độ trung lập, nhưng trong thực tế chúng chống lại chúng tôi, việc giết chóc kể trên đã cho thấy rõ điều này.

6/ Thanh niên. Trình độ học vấn rất thấp. Điều kiện sinh sống khá hơn ở các huyện khác. 40% hội viên Hội nông dân là thanh niên nông dân. Có một “Câu lạc bộ thanh niên nông dân và công dân” mới được thành lập trong thời gian gần đây.

7/ Một vài nông dân rất muốn biết về chủ nghĩa cộng sản. Họ yêu cầu chúng tôi cung cấp nhiều sách báo của Đảng hơn nữa và tài liệu để đọc khác. Nhiều người khác chǎm chú nghe chúng tôi dù rằng họ chưa xác định lập trường.

8/ Chúng tôi có 6 đảng viên cộng sản hoạt động tại đây.

9/ Nông dân vẫn còn lo sợ khi có biến động chính trị nào đó ở Quảng Châu.

10/ Có quan hệ tốt giữa Hội nông dân và các tổ chức công nhân.

11/ Đạo Cơ đốc. Chưa nghiên cứu, không thể báo cáo được.

12/ Trong huyện có 20 phân bộ Quốc dân đảng.

13/ Những yêu sách trước mắt:

Xoá bỏ thuế cây dâu

Trừng trị những hào lý gây thiệt hại cho Hội nông dân.

D) KHÚC GIANG

1/ Hội nông dân này bắt đầu hoạt động tháng 5-1925.

2/ Đấu tranh. Có một chiếc cầu, muốn đi qua nông dân phải trả 1 xu trong lúc binh lính hoặc người ǎn mặc sang trọng không phải trả gì hết. Một lần, một hội viên nông dân muốn đi qua cầu mà không trả tiền; người gác cầu không để cho anh ta qua cầu như vậy. Tiếp đó đã gây ra một trận đánh nhau. Hiến binh đã bắt người hội viên nông dân. Hội nông dân can thiệp và thứ thuế này bị bãi bỏ. Nông dân coi đó là một thắng lợi lớn về tinh thần.

b/ Hiến binh không phải là bạn tốt của nông dân và nông dân cǎm ghét chúng đến xương tuỷ. Có một lần, một tên hiến binh bị mấy người nông dân giết ở trên núi. Pháp luật không thể buộc tội được vì không tìm được bằng chứng.

c/ Một cuộc biểu tình của nông dân đã nổ ra. Khẩu hiệu là “Đả đảo việc bắt bớ phu phen!”. Thông thường, chính hiến binh là kẻ tiến hành việc bắt bớ, nên nông dân coi họ là những kẻ phải chịu trách nhiệm. Trên đường tuần hành, họ gặp một viên trưởng hiến binh. Họ đã nện cho y một trận đòn nên thân rồi giải tới huyện. Mặc dù họ phải bồi thường 42 đôla cho gã hiến binh, nhưng lại hài lòng vì đã cho hiến binh một bài học.

3/ Hội viên – 120 làng có 6.740 hội viên.

4/ Đội tự vệ còn chưa được tổ chức.

5/ Giữa bọn hương dũng và Hội nông dân chưa có xung đột, mặc dù bọn hương dũng bí mật giúp đỡ bọn địa chủ chống chúng ta.

Một vài toán cướp vẫn còn có thái độ trung lập. Một số khác có thái độ thân thiện.

6/ Trước khi Hội nông dân được thành lập, quân đồn trú thường phá hoại các cây quả trong vườn của nông dân. Nhưng hiện nay chúng không dám đụng đến nữa. Chúng cũng tôn trọng nông dân hơn trước.

Phải vạch rõ rằng viên huyện trưởng hiện nay rất thân thiện với Hội nông dân.

7/ Thanh niên: 80% thất học. Trong 120 làng đã có Hội nông dân không có một người nào đọc được báo. Trong những làng này, chúng tôi thấy chỉ có 15 trường nhỏ với 280 học sinh.

Thanh niên nông dân ở đây cùng khổ hơn ở bất kỳ huyện nào khác. Bên cạnh công việc nặng nhọc hằng ngày, họ còn phải làm những công việc mà người lớn tuổi không muốn làm, như canh sông ban đêm chẳng hạn.

Có chừng 2400 thanh niên nông dân đã tham gia Hội nông dân.

8/ Nông dân tán thành cương lĩnh của Đảng cộng sản. Nhiều người trong nông dân đã tham gia Quốc dân đảng.

Một phân đoàn của “Liên đoàn đấu tranh giải phóng phụ nữ” mới được thành lập gần đây, do một đồng chí nữ của chúng ta tổ chức, 20 hội viên, tất cả đều là nông dân nữ.

Chúng ta có 13 đảng viên cộng sản hoạt động trong phong trào, trong số đó 6 người là nông dân địa phương.

9/ Tiếng vang chính trị – Nông dân ở đây đau khổ rất nhiều vì thuế quân sự và vì việc bắt phu phen. Vì thế họ lo ngại trước bất kỳ biến động nào về chính trị hay quân sự ở Quảng Châu.

Họ rất lo ngại về cái chết của Liêu Chung Khải. Nhưng khi Chính phủ xét xử nghiêm khắc những phần tử phản cách mạng và bọn lính ngoan cố và khi chúng ta giải thích cho họ biết ý nghĩa của sự kiện thì họ hoàn toàn hiểu rõ tình hình. Trong cuộc trường chinh sông Đông hiện nay, 300 nông dân đã tình nguyện giúp đỡ quân đội cách mạng.

10/ Mặc dù giữa các tổ chức của công nhân và Hội nông dân chưa có quan hệ với nhau, nhưng nông dân hoàn toàn hiểu đúng sự cần thiết phải hợp tác và đoàn kết giữa các tổ chức của công nhân và Hội nông dân.

11/ Có 7 trường truyền giáo (Anh, Pháp, Mỹ và Đức) ở huyện lỵ với khoảng 1000 học sinh. Sinh viên và nhà buôn có vẻ rất ngả theo ảnh hưởng của đạo Cơ đốc, trong khi nông dân triệt để chống lại ảnh hưởng của đạo Cơ đốc.

Không thấy có nông dân nào theo đạo.

12/ Những yêu sách trước mắt:

Giảm thuế

Cung cấp vũ khí để tổ chức đội tự vệ nông dân.

E) PHÙ NGUYÊN (GẦN HƯƠNG CẢNG)

1/ Huyện này có 2 địa chủ lớn có hơn 500 mẫu ruộng; 10 địa chủ có từ 200 đến 500 mẫu; 50 địa chủ có từ 100 đến 200 mẫu; 200 địa chủ có từ 50 đến 100 mẫu; 1.000 địa chủ có từ 30 đến 50 mẫu; 3.000 địa chủ có dưới 30 mẫu.

Một người làm mướn cho nông trại mỗi nǎm được từ 20 đến 100 đôla.

Phong trào bắt đầu bùng nổ vào đầu nǎm nay – nổ ra là do sự bóc lột của bọn quân phiệt, bọn hào lý và bọn hiến binh.

Tình hình của Hội nông dân là tốt.

2/ Đấu tranh. Hội nông dân đã thành công trong việc tước vũ khí một vài đội hương dũng, đã làm cho một hiến binh trưởng bị cách chức, đã chống lại quân đồn trú (6 nông dân đã bị giết).

3/ Hội viên. 55 làng với 7635 hội viên và 300 hội viên dự bị.

4/ Đội tự vệ nông dân có 1500 người có súng, nhưng chưa được huấn luyện, 2 chi đội thường trực, mỗi chi đội có 30 người.

5/ Hội nông dân đã giúp đỡ đội bảo vệ cuộc bãi công ngǎn chặn trộm cắp. Điều này làm cho bọn kẻ cướp tức tối; để trả thù, chúng đã ủng hộ bọn quân phiệt chống lại chúng ta. Một vài đội hương dũng đã bị Hội nông dân thu hút, một số khác còn trung lập, trong khi đó có một số chống lại chúng ta.

6/ Thanh niên. Mỗi làng có 1 hay 2 trường tư. Rất mê tín (một phong tục kỳ lạ: khi cô dâu mới cưới về thǎm bố mẹ mình ba ngày sau khi cưới, cô ta phải kêu khóc khi về đến gần làng). 10% hội viên Hội nông dân là những nông dân trẻ dưới 28 tuổi.

7/ Khoảng 150 nông dân ở huyện này là đảng viên Quốc dân đảng.

8/ Khác với nông dân các huyện khác, nông dân Phù Nguyên không dễ dàng bị xao xuyến bởi những sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Châu.

9/ Quan hệ giữa nông dân và công nhân rất chặt chẽ và có hiệu quả, như việc nông dân tham gia ngǎn ngừa trộm cắp để tiếp tế cho Hương Cảng đã cho thấy rõ điều này.

10/ Yêu sách trước mắt:

Giảm thuế.

F) TÂN HỘI

1/ Nông dân ở đây rất khổ vì bị bọn phỉ, bọn quan lại, bọn quân phiệt và tầng lớp quý tộc cũ cướp bóc. ở một vài nơi thậm chí còn tồn tại chế độ nô lệ. Nét đặc trưng của huyện này là phỉ lại đẻ thêm ra phỉ, và có những người nông dân lương thiện trở thành phỉ không phải để cướp bóc, mà là để tự vệ. Trong xã Lý ắc, một xã lớn, 3.000 trong số 10.000 dân đã trở thành phỉ, vì nếu một gia đình nào đó không có một người tham gia bǎng phỉ thì gia đình đó sẽ bị những tên phỉ khác áp bức. Nhiều người trong bọn phỉ đó là những người kiên quyết ủng hộ Hội nông dân.

2/ Đấu tranh. Có một tài chủ nào đó có 10.000 đôla công trái. Viên huyện trưởng tịch thu thuyền (20 chiếc) của nông dân trong làng gã tài chủ kia với ý định đem bán để trả nợ. Những nông dân nghèo không biết phải làm gì ngoài việc nguyền rủa cho chúng gặp những điều khốn khổ. Hội nông dân và Liên đoàn lao động đã đến cứu họ. Được công luận tạo cho sức mạnh – công luận phản đối hành động độc đoán của viên huyện trưởng -, các đại biểu của Hội nông dân và của Liên đoàn lao động gửi một tối hậu thư cho viên chánh án yêu cầu trả lại các thuyền đó trong 24 giờ. Việc đó được thực hiện đúng như vậy và thắng lợi này đã đem lại uy tín cho Hội nông dân. Từ đó nông dân hiểu rằng Hội nông dân hoạt động vì lợi ích của họ.

b/ Có một địa chủ lớn muốn sử dụng sức nước của một con sông bằng cách đắp một cái đập chặn nửa dòng sông lại. Việc đó gây ra nhiều bất tiện cho những nông dân sống ở bờ sông. Hội nông dân đã can thiệp và đã làm cho cái đập bị phá. Thắng lợi thứ hai này đã đem lại cho Hội nông dân thêm nhiều hội viên nữa.

3/ Hội viên. 14 làng. Việc điều tra số lượng hội viên chưa tiến hành được.

4/ Đội tự vệ nông dân: chỉ có 40 người và rất ít súng.

5/ Đội hương dũng. Mặc dù có 5.000 người nhưng không nguy hiểm vì tổ chức kém.

ở huyện này ít nhất có 30.000 tên phỉ; nhưng chúng rất thân thiện với Hội nông dân. Nhiều tên phỉ còn tham gia Hội nông dân.

Binh lính đồn trú trước kia rất tàn ác đối với nông dân; từ khi chúng bị Chính phủ Quốc dân đảng giải tán, toán quân mới có quan hệ với Hội nông dân.

6/ Thanh niên. Trình độ học vấn rất thấp. Làm việc rất vất vả.

7/ Do tuyên truyền phản cách mạng của bọn hào lý và bọn địa chủ, nông dân sợ hãi Quốc dân đảng. Nhưng hiện nay Hội nông dân đã thành công trong việc làm cho họ hiểu đảng này thực sự là cái gì.

8/ Trước mỗi sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Châu, bọn hào lý ở đây, giống như anh em chúng ở các huyện khác, đã tung tin đồn nhảm để làm cho nông dân lo sợ. ở đây chúng ta chỉ có 1 đảng viên cộng sản và hai học viên Trường nông dân để chống lại sự tuyên truyền phản cách mạng đó. Kết quả là nông dân tin những điều bọn hào lý nói với họ và do đó làm cho công tác của chúng ta trở nên khó khǎn.

9/ Quan hệ giữa công nhân và nông dân rất tốt.

10/ Những yêu sách trước mắt:

Giảm thuế,

Dẹp yên bọn phỉ.

G) TÙNG SƠN (NƠI SINH CỦA BÁC SĨ TÔN)

1/ Kẻ thù lớn nhất của Hội nông dân là đội hương dũng. Một lần trong khi Hội nông dân đang họp, đội hương dũng đã vây nhà, giết chết một hội viên Hội nông dân và làm bị thương một người khác. Tên hào lý chỉ huy cuộc tấn công ấy về sau đã bị trừng trị.

Một đội hương dũng khác đã cấm hội viên của Hội nông dân không được đi qua làng của mình. Trong một vài trường hợp, Hội nông dân đã thành công trong việc tước vũ khí của đội hương dũng.

Tình hình Hội nông dân là tốt, nhưng chúng ta còn phải phấn đấu để đuổi ra khỏi Hội bọn hào lý cơ hội chủ nghĩa đã gia nhập Hội nông dân nhằm củng cố vị trí của chúng hơn là hoạt động vì lợi ích của nông dân nghèo.

2/ Hội viên. 120 làng; 15.600 hội viên.

3/ Một vài toán phỉ chống lại chúng ta; một số khác muốn giúp đỡ chúng ta. Nông dân đã hợp tác với Chính phủ Quốc dân đảng tước vũ khí quân phản cách mạng.

Quân đồn trú hiện nay rất thân thiện với Hội nông dân. Hiến binh chống lại chúng ta.

4/ Thanh niên. Trình độ học vấn hầu như là số không. Trong một số làng có 1000 gia đình, chỉ có một hoặc 2 trường với 50 hoặc 60 học sinh, tất cả đều là con cái phú nông và trung nông. Chưa có cái gì để phục vụ con em nông dân nghèo.

5/ Khi nông dân nghe nói về cương lĩnh của Đảng cộng sản thì họ đã tán thành. Tiếc thay, bản thân các đồng chí của chúng ta không hiểu thật sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin để tuyên truyền rộng hơn, và để tìm kiếm đảng viên cho Đảng từ trong hàng ngũ nông dân.

6/ ở đây chúng ta có 9 đảng viên cộng sản và 4 đảng viên dự bị.

7/ Bọn hào lý cũng rất khôn ngoan, chúng lợi dụng mọi cơ hội để tung tin đồn nhảm hòng làm cho nông dân sợ hãi. Nhưng chúng tôi đã chống lại có hiệu quả sự tuyên truyền của chúng. Sau khi Liêu Chung Khải bị giết hại, bọn hào lý vô cùng mừng rỡ. Chúng nói với nông dân: “các người thấy đấy, họ đã giết vị thủ lĩnh đầy sức mạnh của các người rồi đấy; sắp đến lượt các người nếu các người không rời bỏ Hội nông dân ngay lập tức!”. Nhưng khi chúng tôi đã tǎng cường công tác tuyên truyền – liên tục từ làng này sang làng khác – giải thích cho mọi người hiểu rõ ý nghĩa của việc đó thì nông dân chẳng những không sợ nữa, mà còn nôn nóng muốn trả thù cho người bạn bị giết hại của mình là ông Liêu.

Hiện nay, đội hương dũng hợp tác với bọn địa chủ để tung tin đồn nhảm. Chúng nói rằng Quảng Châu chẳng bao lâu nữa sẽ bị Trần Quýnh Minh chiếm và ông này sẽ đem bắn tất cả các hội viên của Hội nông dân, v.v..

8/ Với công nhân. Nông dân ở huyện này, những người sản xuất nhiều rau cho thị trường Hương Cảng và thị trường Ma Cao, bị đụng chạm nặng nề do việc phong toả những cảng này. Thoạt tiên họ rất phản đối những người bãi công. Nhưng khi nghe chúng tôi giải thích, họ không những quên tất cả những sự phẫn nộ đối với những người bãi công mà còn quyên góp rất hào phóng vào quỹ bãi công. Sự bực bội của họ đối với người công nhân một phần đã biến thành lòng yêu nước, mến thương những người bãi công yêu nước và phần khác biến thành sự cǎm ghét bọn đế quốc.

9/ Có nhiều trường truyền giáo. Các trường đó đã cố gắng rất nhiều để làm cho người ta chuyển sang theo đạo, nhưng kết quả rất bé nhỏ. Tuy vậy, ở một làng chúng tôi thấy một số lớn nông dân đã theo đạo Cơ đốc. Những người theo tôn giáo này nói với chúng tôi: “Chúng tôi không biết và không quan tâm xem đạo Cơ đốc là cái gì, chúng tôi tin theo vì cần sự giúp đỡ của họ. Bây giờ chúng tôi có Hội nông dân để bảo vệ lợi ích của mình, chúng tôi có thể cáo biệt nhà thờ!”.

10/ Những yêu sách trước mắt:

a. Giải tán đội hương dũng.

b. Nông dân kiểm soát bãi cát.

c. Giảm thuế.

————————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (27-10-1925)

Các đồng chí thân mến,

Những thư của các đồng chí đề các ngày 1, 2, 13, 17, 18, 30 tháng 8 và các ngày 1, 2, 5, 7, 9 tháng 9 đến tôi cùng vào một ngày: ngày 14 tháng 10.

1/ Số tiền các đồng chí gửi cho sẽ do đồng chí Bôrôđin xử lý theo sự chỉ dẫn của các đồng chí. Bản thanh toán về số tiền đó sẽ được gửi đến các đồng chí sau. Việc xuất bản các tài liệu, việc cử người đi tuyên truyền, và việc gửi đều đặn các tin tức cho các đồng chí sẽ được thực hiện. Song việc cử người trong số các đồng chí đi Mátxcơva – theo ý kiến của tôi – thì chưa được vì tất cả các đồng chí chúng ta bây giờ đang cần ở đây. Không có ai trong số họ biết tiếng nước ngoài.

2/ Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng không hề cử một đoàn đại biểu nông dân nào. Không ai biết ông Cho-ngao là ai.

3/ Tôi gửi đến các đồng chí một báo cáo về công tác nông dân ở tỉnh Quảng Đông. Bản báo cáo đó trả lời những vấn đề trong thư của các đồng chí đề ngày 5-9-25.

4/ Thư gửi Quốc tế thứ hai 36 đǎng ở tờ “Dân quốc nhật báo”, cơ quan của Quốc dân đảng; và báo “Con đường công nhân”.

5/ Tôi yêu cầu các đồng chí gửi cho chúng tôi những tài liệu bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, nhưng không bằng tiếng Đức bởi vì chúng tôi không hiểu tiếng Đức.

Xin gửi các đồng chí lời chào cộng sản .

Quảng Châu, ngày 17-10 NILỐPXKI

———————–

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (5-11-1925)

Các đồng chí thân mến,

Những báo cáo và nghị quyết sau đây của Phân bộ Quốc dân đảng Quảng Đông sẽ cho thấy rằng:

1/ Nông dân bị sự áp bức của bọn kỳ hào, bọn kẻ cướp, bọn tham quan ô lại, bọn hương dũng, bọn quân phiệt, bọn địa chủ, bọn cho vay nợ, bọn độc quyền.

2/ Những yêu sách mà họ nhất trí đưa ra là giảm thuế, dẹp yên bọn cướp, giải tán hương dũng.

3/ Học vấn của họ nói chung là rất thấp.

4/ Do truyền thống gia trưởng, người đại diện cho tất cả các thành viên trong gia đình mình, nên người phụ nữ nông dân không- hoặc không được phép – tham gia hoạt động của tổ chức.

5/ Họ tán thành cương lĩnh của Đảng Cộng sản (1) khi nỗi lo của họ về “xã hội hoá phụ nữ” được xua tan.

6/ Họ có thể chịu sự hy sinh to lớn để bảo vệ giai cấp của họ hoặc để ủng hộ Chính phủ cách mạng.

7/ Phong trào đang được tổ chức và được lãnh đạo bởi các đồng chí cộng sản của chúng ta dưới danh nghĩa Quốc dân đảng.

8/ Bức thư của đồng chí gửi cho tôi (ngày 17 tháng 8) chỉ rõ rằng: “Hiện thời sự tham gia của Hội nông dân Trung Quốc vào Quốc tế Nông dân chỉ thuần tuý mang tính chất tuyên cáo. Chúng ta sẽ phải làm gì để cho sự tham gia đó trở thành thực sự ?

9/ Tôi chưa chính thức liên lạc được với Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng 1 như đồng chí đã chỉ thị, tôi sẽ hỏi các đồng chí của chúng ta ở đấy xem tôi được giới thiệu chính thức thì hơn hay làm việc thông qua các đồng chí Trung Quốc của chúng ta thì hơn. Trong thư sau, tôi sẽ báo cáo về vấn đề đó.

10/ Tôi không nhận được một tuyên ngôn nào từ đồng chí Hanlơ.

11/ Tôi không nhận được một đề cương nào về vấn đề nông dân Trung Quốc như đồng chí nói là đã gửi cho tôi.

12/ Cùng với bản báo cáo này, tôi gửi tới đồng chí một vài tấm ảnh và một vài tập sách mỏng do Phân bộ nông dân Quốc dân đảng xuất bản.

Xin gửi lời chào cộng sản.

Quảng Châu, ngày 5-11-1925. NILỐPXKI (NAQ)

————————–

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (3-12-1925)

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân,

Các đồng chí thân mến,

1/ Tôi đã hỏi ý kiến C.E.C 1 của C.C.P 2 vấn đề về những quan hệ trực tiếp của tôi với C.E.C của Quốc dân đảng với tư cách là đại diện chính thức của các đồng chí. Các đồng chí của chúng ta nói rằng điều đó là không cần thiết, bởi vì tôi có thể có tất cả mọi thông tin liên quan tới vấn đề nông dân thông qua các đồng chí đảng viên cộng sản Trung Quốc của chúng ta. (Mặc dù Chủ tịch Nông hội ở trong Quốc dân đảng, tất cả mọi công việc – tổ chức cũng như tuyên truyền đều do các đồng chí của chúng ta làm).

2/ Quốc dân đảng đang xuất bản tạp chí “Nông dân” bán nguyệt san, bắt đầu từ tháng này. Số đầu tiên sẽ ra mắt trong vài ngày tới. Tôi sẽ gửi tới các đồng chí.

3/ Tiếp theo là phong trào nông dân diễn ra hằng ngày (trên Nhật báo Quảng Châu) 3 và tranh ảnh đã được xuất bản trong cuộc họp nông dân tháng 5 vừa qua.

4/ Xin gửi cho tôi tư liệu về phong trào nông dân quốc tế (bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh) để dịch và đǎng tải trên tạp chí Quốc dân đảng.

Gửi các đồng chí lời chào cộng sản.

Quảng Châu, ngày 3-12-25. Nilốpxki (naq)

—————————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Lênin và các dân tộc thuộc địa (1925)

Cho tới ngày Lênin mất, vẫn còn có nhiều dân tộc thuộc các màu da chưa hiểu rõ Lênin là ai và nước Nga ở đâu. Bởi vì chủ nghĩa đế quốc thực dân cố ý không cho họ biết điều đó. Nhưng tại những nơi xa xǎm hẻo lánh ở Đông Dương, người ta cũng đã nghe nói có một dân tộc ở miền Bắc xa xôi đã đánh đuổi được bọn áp bức và tự quản lý lấy mình. ở các nơi xa xǎm hẻo lánh nhất, người ta cũng biết rằng nước đó là nước Nga, và Lênin là người ưu tú nhất của nước đó.

Không phải là không có lý do khi Trường đại học Bắc Kinh tổ chức thǎm dò ý kiến xem ai là người ưu tú nhất trên thế giới, thì ai cũng trả lời: người ưu tú nhất trên thế giới là Lênin.

Từ lâu, nhân dân bị áp bức ở phương Đông đã được biết rằng con người vĩ đại đó, sau khi đã giải phóng nước Nga, còn muốn giải phóng tất cả các dân tộc khác nữa. Điều này cũng đủ để kích thích lòng ngưỡng mộ sâu sắc và phấn khởi đối với lãnh tụ Lênin. Các dân tộc da đen và da vàng biết rằng Lênin vĩ đại đã kêu gọi những người da trắng đấu tranh để giải phóng các dân tộc thuộc các màu da bị áp bức thoát khỏi bọn bóc lột.

Thật dĩ nhiên là tất cả những hy vọng của người nô lệ bị áp bức ở các nước thuộc địa vào một tương lai tốt đẹp đều gắn liền với tên tuổi của Lênin – một con người đặc biệt mà trong thời gian đầu, thậm chí còn có nhiều người chưa tin là có. Rất dễ hiểu rằng tin Lênin mất cách đây một nǎm đã gây cho quần chúng các nước thuộc địa một ấn tượng không sao tả nổi, không sao diễn tả được.

Nhưng dần dần những người bị áp bức sống trong cảnh tǎm tối

đó được biết tin về Đảng Cộng sản, về tổ chức gọi là Quốc tế Cộng sản. Nhất là họ càng ngạc nhiên khi được tin rằng Đảng và tổ chức này đều do Lênin sáng lập ra, và mặc dù Lênin đã mất, nhưng còn có Đảng Cộng sản và Quốc tế Cộng sản tiếp tục sự nghiệp của Người.

Các dân tộc da đen và da vàng kém phát triển chưa phải đã nhận ra ngay rằng Lênin và Đảng Cộng sản chỉ là một. Nhưng khi họ biết điều đó thì họ sung sướng vô hạn. Họ bắt đầu hiểu rằng sự nghiệp của Lênin không bao giờ mất, và họ vẫn hy vọng được giải phóng vì vẫn còn Đảng của Lênin.

Vì vậy, nǎm vừa qua, kể từ ngày Lênin mất, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản được lan rộng trong nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân những nước đó hết sức chú ý đến Đảng Cộng sản.

Khi Lênin còn sống, nhân dân bị áp bức coi Người là người giải phóng mình. Khi Người mất đi, họ tự hỏi nhau: “Lênin đã mất rồi, chúng ta biết làm sao bây giờ?”. Họ hỏi nhau: “Tìm đâu ra những người có đủ tinh thần dũng cảm và nhân từ như Lênin để chǎm lo đến việc giải phóng những người nô lệ ở các nước thuộc địa?”.

Trong nǎm qua, nhân dân bị áp bức ở các nước phương Đông đã nhận ra rằng, họ đã tìm thấy một Đảng lớn mạnh lấy tên là Đảng Lênin để thay thế cho một vài cá nhân. Và bây giờ, nhân dân các nước thuộc địa đều đặt hy vọng được giải phóng vào Đảng này cũng như một nǎm trước đây đã đặt hy vọng vào Lênin.

Khi còn sống, Lênin là người thầy, người cha của nhân dân bị áp bức. Sau khi mất, Người là ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân dân bị áp bức.

Lênin sống mãi trong lòng mọi người dân nô lệ ở các nước thuộc địa!

NGUYỄN ÁI QUỐC Đại diện Đông Dương ở Quốc tế Cộng sản

—————————

Báo Công nhân Bacu (Liên Xô), số 16, nǎm 1925
cpv.org.vn

Thư gửi đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân đảng Trung Quốc (1926)

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân đảng Trung Quốc,

Xin thưa, tệ nhân (2) là một người An Nam mất nước phải lưu vong bôn ba đến chốn này. May thay gặp lúc quý Hội họp Đại hội, tuyên bố viện trợ cho công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới, không nén nổi sự vui mừng. Song “muốn bốc thuốc, trước hết phải biết bệnh”. Cho nên, tệ nhân yêu cầu quý Hội cho phép đến Hội nghị để bộc bạch tình cảnh đau khổ của đất nước kém cỏi chúng tôi, mong những người muốn giúp chúng tôi tiện nghiên cứu để tìm phương châm. Nước tôi sẽ may mắn biết bao! Cách mạng sẽ may mắn biết bao! Trước khi ngừng lời, xin kính chúc:

Cách mạng Trung Quốc muôn nǎm!

Quốc dân đảng Trung Quốc muôn nǎm! (1)

Ngày 6 tháng 1 Trung Hoa dân quốc nǎm thứ 15
Lý THỤY

Địa chỉ liên lạc: Sứ quán Bôrôđin, ngài Trương Xuân Mộc 2 chuyển.

————————

Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, tiếng Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.35
cpv.org.vn

Gửi đoàn chủ tịch quốc tế nông dân (13-1-1926)

Các đồng chí thân mến,

Tôi đã viết thư nhiều lần cho các đồng chí để xin các đồng chí tài liệu về nông dân bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh cho tập san nông dân chúng tôi. Nhưng cho đến nay tôi không nhận được gì cả.

Tôi sẽ rất cảm ơn các đồng chí nếu gửi cho tôi nhật báo của Quốc tế Nông dân từ số 1 cho tới số hiện nay bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, để tôi có thể dịch sang tiếng Trung Quốc cho việc tuyên truyền của chúng tôi.

Cùng một chuyến thư, các đồng chí sẽ nhận được 2 tấm ảnh to của phong trào nông dân Hải Phòng, và những bài cắt ở báo.

Các đồng chí thân mến, xin nhận những lời chào cộng sản của tôi.

Quảng Châu 13-1-1926 NILỐPXKI
N.A.Q

———————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Bài phát biểu tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân đảng Trung Quốc (14-1-1926)

Thưa các đồng chí, thưa các anh em,

Chúng tôi vui mừng được gặp mặt và nói chuyện với các vị, đồng thời cũng rất cảm tạ chư vị đã chân thành hoan nghênh. Qua đó, chúng tôi hiểu rằng tư tưởng cách mạng đã thâm nhập vào toàn thể dân chúng, và đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II này càng phát huy chủ nghĩa vĩ đại, chính sách vĩ đại của Tôn Tổng lý, để cùng với các dân tộc bị áp bức phấn đấu. (Vỗ tay).

Các đồng chí, chúng tôi muốn nói rằng, cách mạng cũng giống như khám bệnh vậy, trước hết phải biết cǎn nguyên của bệnh. Tất cả các dân tộc bị áp bức làm cách mạng là do mong muốn thoát khỏi nỗi thống khổ của dân tộc bị áp bức, cho nên tôi muốn trình bày về những nỗi thống khổ mà dân tộc An Nam đã phải chịu đựng.

Thưa các đồng chí,

Dân tộc An Nam chịu đau khổ đã sáu mươi nǎm, dân tộc An Nam bị xâm lược và áp bức đã sáu mươi nǎm. Chúng nó thường rêu rao rằng người Pháp chúng tôi đem vǎn hoá phương Tây đến, chúng tôi đối xử hoà bình với người An Nam các anh là vì chúng tôi muốn làm cho các anh được sung sướng. Nhưng sự thật là sáu mươi nǎm nay, chúng nó chỉ càng ngày càng áp bức thậm tệ nhân dân An Nam. Bây giờ xin nói qua một chút nhân dân An Nam đã cực khổ như thế nào trong sáu mươi nǎm qua để các đồng chí cách mạng ta được rõ.

Nỗi thống khổ thứ nhất mà người Pháp mang đến cho nhân dân An Nam chính là thuế thân. Bất cứ ai, từ mười tám tuổi trở lên, đều phải đóng thứ thuế này. Sau khi đóng thuế, Chính phủ phát cho một tấm thẻ để làm bằng chứng, không được để mất; nếu mất thì bị chúng bắt, đến khi nào nộp tiền lần thứ hai mới được tha. Chúng cho cảnh binh đi khám thẻ khắp mọi nơi mọi lúc, hầu như cứ một giờ khám xét một lần, vì thế dân chúng khổ không kể xiết. Đó là một kiểu người Pháp áp bức dân An Nam. Ngoài thuế thân ra, còn thuế nhà, thuế hàng hoá, v.v.. Không những nguồn lực kinh tế của người An Nam hoàn toàn bị người Pháp nắm giữ là chuyện đương nhiên, mà còn làm tǎng thêm gánh nặng cho người An Nam, khiến nhân dân An Nam không còn khả nǎng sinh tồn về kinh tế nữa. Tất cả đất đai của An Nam, đại bộ phận cũng bị người Pháp chiếm làm tài sản, người An Nam không được quyền lập nghiệp. Đại thể, một bộ phận là sở hữu Chính phủ, một bộ phận là đất đồn binh của người Pháp, một bộ phận là đất các giáo sĩ chiếm cứ. Chỉ có một phần rất nhỏ là đất thổ cư của người An Nam thì lại phải đóng thuế nhà.

Tôi có thể nêu một ví dụ để chứng minh sự tàn ác của ách áp bức của người Pháp. Như thuế thân, nǎm 1914, mỗi tháng tôi đóng mười phrǎng, nhưng đến nǎm ngoái, nǎm 1924, đã tǎng lên đến một trǎm phrǎng. Đủ thấy sự tàn ác của bọn xâm lược Pháp là thế nào. ấy là chưa kể ngoài công trái như ở nước Pháp, chúng còn bắt nhân dân An Nam phải mua hàng của Pháp như một thứ thuế hàng hoá. Hàng hoá đó là gì? Nhiều nhất là rượu do Pháp sản xuất. Chúng làm ra thứ rượu tồi tệ nhất rồi bắt dân An Nam mua. Dù anh là chính khách, nhà buôn, thợ thuyền hay dân cày gì gì, ít nhất mỗi người một chai. Không thể không mua. Ngoài rượu ra, còn một thứ tệ hại hơn, độc hơn, đó là phải mua thuốc phiện. Thuốc phiện có lẽ là một khoản lớn trong dự toán thu nhập của nước Pháp, chiếm đến một phần tư dự toán. Tính thành con số, mỗi nǎm là bốn trǎm triệu phrǎng, đủ thấy nỗi khổ của người An Nam. Nhưng sự

xâm lược của đế quốc Pháp không chỉ có thế. Chiến tranh lại là một chuyện lớn nữa. Hồi chiến tranh Âu châu, người Pháp bắt dân An Nam đi lính, tổng số trên mười vạn. Họ phải bỏ xác ngoài mặt trận chẳng được nhìn thấy quê hương. Cho nên, quả thật là nhân dân An Nam chẳng những phải nộp tiền mà còn phải nộp mạng cho chúng.

Còn một điểm nữa. Đế quốc Pháp một mặt áp bức dân tộc An Nam, mặt khác lại cấm những người anh em chống áp bức. Bởi vì chúng còn sang Trung Quốc dùng súng gươm giết những người anh em Trung Quốc của chúng tôi. Quả thật, đế quốc Pháp chưa bao giờ vừa lòng với sự áp bức của chúng, đã phải nộp thuế thân, còn bắt đóng thuế hàng hoá, đã mua rượu, còn bắt mua thuốc phiện, đã hy sinh tính mạng cho chúng mà chúng chẳng hề mảy may thương xót. Vậy mà người Pháp lại còn có một cách nữa làm khổ nhân dân An Nam, đó là làm thuê. Mỗi nǎm chúng bắt hàng mấy chục vạn người An Nam vào làm thuê trong các xưởng máy của Pháp. Hoàn toàn là làm trâu ngựa nô lệ cho chúng, không được một chút lợi lộc gì.

Thứ hai, người An Nam ở trên đất nước mình mà tuyệt đối không có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, ngay cả đi lại cũng chẳng được tự do, trong nước mình mà mình cũng không được tuỳ ý đi lại. Thí dụ, từ tỉnh này sang tỉnh khác phải có giấy thông hành mới được. Đi ra nước ngoài tất nhiên càng khỏi phải nói. Nếu làm trái thì phải xử tội rất nặng. Theo báo cáo của Chính phủ Pháp, mỗi xã hầu như tháng nào cũng có mấy trǎm người bị xử tội như vậy.

Về giáo dục, trước kia người An Nam học sách Trung Quốc, chịu ảnh hưởng vǎn hoá Trung Quốc. Từ ngày người Pháp chiếm An Nam, thấy người An Nam cũng giống người Trung Quốc, cho nên cũng ra lệnh học sách Trung Quốc. Không ngờ từ sau Cách mạng Tân Hợi 37 của Trung Quốc, thấy rằng cho tiếp tục học sách Trung Quốc thì không ổn, cho nên chúng đã không cho phép người An Nam đọc sách Trung Quốc và học chữ Trung Quốc nữa. Chẳng những thế, chúng càng không muốn để cho người An Nam biết tình hình gần đây của Trung Quốc, bởi vì điều khiến bọn đế quốc không vui hơn cả là ý thức dân tộc của nhân dân bị áp bức.

Các đồng chí! Cách xâm lược của bọn đế quốc chúng nó, về vật chất là dùng đủ loại thuế má và các chất độc như thuốc phiện, về tinh thần là chính sách ngu dân; đó là những âm mưu thâm độc của chúng để xâm lược An Nam.

Thưa các đồng chí,

Bọn đế quốc cố nhiên là áp bức người An Nam, nhưng đồng thời chúng cũng áp bức cả người Trung Quốc. Điều đó, các đồng chí có mặt trong Đại hội đại biểu lần thứ II này chắc chắn đều biết. Vì người Trung Quốc cũng bị đối xử như vậy. Họ cũng phải đóng thuế thân. Và tất nhiên, dù là gái trai già trẻ, họ cũng không được tự do đi lại, muốn đi lại cũng phải có thẻ thông hành. Đồng thời, chúng còn cấm cả tổ chức hội họp, trục xuất các đồng chí Quốc dân đảng. Vì chúng cho rằng, phàm là người của đảng cách mạng thì đều nguy hiểm, cho nên không đuổi không được. Có điều, cách chúng làm thật là hiểm độc, bởi vì chúng đã lợi dụng những phần tử xấu trong người Trung Quốc để chống lại các đồng chí cách mạng, chống lại Chính phủ cách mạng Quảng Châu. Tôi có thể nêu một ví dụ, như lúc Tôn Trung Sơn tiên sinh tạ thế, toàn Trung Quốc cố nhiên đều truy điệu, mà các nước trên thế giới cũng rầm rộ truy điệu. Nhân dân An Nam chúng tôi đương nhiên cũng muốn làm lễ truy điệu như người Trung Quốc, nhưng bọn Pháp cấm không cho phép làm. Tôi có thể nói rằng, ở An Nam bọn đế quốc chẳng những dùng mọi cách để chống lại cách mạng, mà đồng thời còn tìm mọi cách công kích Quốc dân đảng, công kích Chính phủ Quảng Châu.

Chúng ta biết rằng, các dân tộc bị áp bức trên thế giới hiện nay có Ai Cập, Marốc, Xyri, An Nam, Trung Quốc và rất nhiều nước khác. Cho nên, chúng ta cần phải liên hiệp lại, cùng nhau chống chủ nghĩa đế quốc. (Vỗ tay).

Đế quốc Pháp chẳng những thấy cách mạng thì sợ, mà đặc biệt thấy cách mạng Trung Quốc lại càng sợ. Cho nên, chúng không ngần ngại dốc toàn lực ra để giúp bọn phản cách mạng, giúp vũ khí cho bọn Trương Tác Lâm, hòng can thiệp vào phong trào cách mạng quốc dân của chúng ta.

Thưa các đồng chí, như đồng chí Uông Tinh Vệ nói, cách mạng

không có biên giới quốc gia. Dù là Ai Cập, Marốc hay tất cả các dân tộc bị áp bức nào, hễ cùng bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, thì phải cùng nhau liên hiệp lại. Đả đảo đế quốc Pháp! Đả đảo chủ nghĩa đế quốc trên thế giới! Quốc dân đảng nhất định giúp chúng tôi giải phóng, giúp tất cả các dân tộc bị áp bức giải phóng. Không phân biệt nước nào, dân tộc nào, tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung của chúng ta. (Vỗ tay).

Hôm nay tôi rất vui mừng, bởi vì Quốc dân đảng có được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II này, sắp tới nhất định sẽ giúp nhiều cho người cách mạng. Vì thế tôi xin chúc: Quốc dân đảng Trung Quốc muôn nǎm! Cách mạng Trung Quốc thành công muôn nǎm! Cách mạng An Nam thành công muôn nǎm! Cách mạng thế giới thành công muôn nǎm!

(Chủ tịch: Đề nghị mọi người cùng hô to: Cách mạng An Nam thành công muôn nǎm!).

———————————

Tài liệu Trung vǎn, lưu tại Bảo tàng cách mạng Quảng Châu, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Lê Nin và phương đông (21-1-1926)

Quốc tế thứ nhất (38) đã đặt cơ sở cho học thuyết cộng sản, nhưng vì tồn tại trong một thời gian ngắn nên chỉ kịp đề ra những đường lối cơ bản của học thuyết đó mà thôi. Vấn đề các nước thuộc địa chưa được Quốc tế thứ nhất nghiên cứu đầy đủ.

Còn Quốc tế thứ hai với những đại biểu của nó như Mácđônan, Vǎngđécvendơ, Henđécxôn, Blum và nhiều người khác thì lại quá chú ý đến vấn đề này. Trong bất cứ trường hợp thuận lợi nào, những người này cũng nhấn mạnh sự nhất trí của họ với chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước ấy. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa cho sự nghiệp giải phóng của mình, không những không được sự đồng tình của họ mà còn ngược lại. Ví dụ, sau khi lên nắm chính quyền, Mácđônan chẳng kém gì Bônđuin và Sǎmbéclanh đã đàn áp nhân dân ấn Độ, Xuđǎng và các dân tộc khác đã can đảm đấu tranh chống lại bọn người nước ngoài ức hiếp họ.

Với sự tán thành của các ngài đó, người ta đã dội bom xuống các làng mạc bản xứ, và đã đàn áp nhân dân các nước thuộc địa dã man, tàn bạo không sao tả xiết. Mọi người đều biết về chính sách phân biệt công nhân da trắng với công nhân da màu mà bọn thoả hiệp luôn luôn thi hành, về việc các công đoàn chịu ảnh hưởng của bọn xã hội giả hiệu đó không muốn kết nạp các công nhân da màu vào hàng ngũ của mình. Trong chính sách thuộc địa của Quốc tế thứ hai, bất cứ ở đâu cũng lộ rõ bộ mặt thật của tổ chức tiểu tư sản

này. Bởi vậy, cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là một thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng, một thứ thủ đoạn mới để lừa dối và bóc lột người bản xứ.

Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.

Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến đối với nhân dân các nước thuộc địa đã ǎn sâu vào tận xương tuỷ của nhiều công nhân châu Âu và châu Mỹ. Những luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa 39 được Quốc tế Cộng sản tán thành đã gây ra một cuộc cách mạng hoàn chỉnh trong tất cả các nước bị áp bức trên thế giới.

Đồng chí Lênin là người đầu tiên đã nhấn mạnh và nhận thức hết tầm quan trọng to lớn của việc giải quyết một cách đúng đắn vấn đề thuộc địa đối với cách mạng thế giới. Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn, và của Quốc tế Thanh niên cộng sản, vấn đề thuộc địa luôn luôn được đặt lên hàng đầu.

Lênin là người đầu tiên đã nhận thức và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã nhận thức rằng nếu không có sự tham gia của họ thì không thể có cách mạng xã hội.

Với tất cả sự sáng suốt vốn có của mình, Lênin đã nhận thấy rằng muốn cho công tác trong các nước thuộc địa được thành công tốt đẹp thì cần phải lợi dụng triệt để phong trào giải phóng dân tộc trong các nước đó, rằng giai cấp vô sản trên thế giới, bằng việc ủng hộ phong trào ấy thì sẽ có nhiều bạn đồng minh mới hùng mạnh trong cuộc đấu tranh của mình cho cách mạng xã hội.

Tất cả các đại biểu các nước thuộc địa đã tham dự các Đại hội của Quốc tế Cộng sản sẽ không bao giờ quên được rằng lãnh tụ Lênin, đồng chí Lênin đã quan tâm đến họ dường nào, rằng Người đã biết đi sâu tìm hiểu như thế nào những điều kiện công tác phức tạp và thuần tuý có tính chất địa phương. Từ đó đến nay, mỗi người trong chúng ta đã có đủ thời gian để thấy rõ hàng chục lần rằng những nhận xét của Lênin đúng biết chừng nào, và những lời giáo huấn của Người thật quý giá biết bao.

Chỉ nhờ có thái độ khôn khéo của Lênin đối với vấn đề thuộc địa, mới có thể lay động quần chúng chưa được giác ngộ, và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa. Sách lược của Lênin về vấn đề này được các đảng cộng sản trên toàn thế giới áp dụng đã ngày càng lôi cuốn được những phần tử ưu tú và tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản. Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc phức tạp ở nước Nga Xôviết, việc đảng cộng sản thực hiện trong thực tiễn vấn đề này là một vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ nhất trong các nước thuộc địa.

Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn.

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————————

38. Quốc tế thứ nhất (Hội liên hiệp lao động quốc tế): Tổ chức quốc tế đầu tiên của giai cấp vô sản, thành lập nǎm 1864 tại Hội nghị công nhân quốc tế ở Luân Đôn (Anh), do C.Mác và Ph. Ǎngghen lãnh đạo. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Quốc tế thứ nhất là Hội đồng trung ương Hội liên hiệp lao động quốc tế mà Mác là uỷ viên thường trực. Bằng cách khắc phục những ảnh hưởng tiểu tư sản và những khuynh hướng bè phái lúc đó đang tồn tại trong phong trào công nhân, Mác đã đoàn kết xung quanh mình những người giác ngộ nhất của Hội đồng trung ương. Quốc tế thứ nhất đã lãnh đạo cuộc đấu tranh kinh tế và chính trị của công nhân ở các nước và củng cố sự đoàn kết quốc tế của họ. Quốc tế thứ nhất đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp truyền bá chủ nghĩa Mác và trong việc kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân. Sau khi Công xã Pari thất bại, một nhiệm vụ được đặt ra là thành lập các đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở mỗi nước, trên cơ sở những nguyên tắc mà Quốc tế thứ nhất đã đề ra. Nǎm 1876, tại Hội nghị Philađenphia (Mỹ), Quốc tế thứ nhất chính thức giải tán. Tr.218.

Báo Tiếng còi (Liên Xô), tiếng Nga, ngày 21-1-1926.
cpv.org.vn