Thư viện

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh (TUYÊN NGÔN CỦA “HỘI LIÊN HIỆP THUỘC ĐỊA” (23) , TỔ CHỨC CỦA NHỮNG NGƯỜI DÂN BẢN XỨ Ở TẤT CẢ CÁC THUỘC ĐỊA)

“Hỡi anh em ở các thuộc địa!Nǎm 1914, vì phải đương đầu với một tai hoạ ghê gớm, những người cầm quyền nhà nước đã quay về phía anh em và yêu cầu anh em đồng tình góp phần hy sinh của mình để cứu vãn một tổ quốc mà người ta nói là của anh em, nhưng thật ra cho đến khi đó, anh em chỉ biết có cái đầu óc thống trị của nó mà thôi.

“Để làm cho anh em không ngần ngại, họ không quên làm loé lên trước mắt anh em những quyền lợi mà sự hợp tác với họ sẽ đưa lại cho anh em. Nhưng qua cơn bão táp rồi, thì đâu lại hoàn đó, anh em vẫn phải sống trong chế độ bản xứ, với những toà án đặc biệt, thiếu hẳn các quyền lợi gắn liền với phẩm giá con người như quyền tự do lập hội, tự do hội họp, tự do báo chí, tự do đi lại ngay cả trên đất nước của anh em. Đó là về mặt chính trị.

“Về mặt kinh tế, anh em vẫn phải chịu nạn sưu dịch nặng nề mà nhân dân oán ghét, vẫn phải đóng thuế muối, vẫn bị đầu độc và cưỡng bách tiêu thụ rượu và thuốc phiện như ở Đông Dương, vẫn bị đi gác đêm để canh giữ tài sản cho bọn cá mập thực dân, như ở Angiêri.

“Lao động như nhau, nhưng công sức của anh em lại bị trả tiền ít hơn các bạn người Âu của anh em.

“Cuối cùng, người ta hứa hẹn với anh em đủ mọi thứ trên trời dưới biển, nhưng giờ đây anh em thấy toàn là những lời lừa dối cả.

“Anh em phải làm thế nào để được giải phóng?

“Vận dụng công thức của Các Mác 1 , chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.

“Hội Liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy.

“Với sự giúp đỡ của các đồng chí ở chính quốc đồng tình với sự nghiệp của chúng ta, Hội tập hợp tất cả những người quê ở thuộc địa hiện sống trên đất Pháp.

“Biện pháp hoạt động:Để thực hiện sự nghiệp chính nghĩa ấy, Hội quyết định đưa vấn đề ra trước dư luận bằng báo chí và ngôn luận (tổ chức nói chuyện, mít tinh, thông qua các bạn dân biểu mà đặt vấn đề ra trên diễn đàn các nghị viện) và bằng tất cả mọi biện pháp mà chúng ta có thể làm.

“Hỡi các bạn bị ápbức ở chính quốc! Giai cấp tư sản trong nước các bạn đã lừa dối các bạn, dùng các bạn làm công cụ đi xâm lược đất nước chúng tôi. Ngày nay, vẫn dùng cái chính sách quỷ quyệt ấy giai cấp tư sản nước các bạn lại định dùng chúng tôi để đàn áp mọi cố gắng tự giải phóng của các bạn.

“Đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, quyền lợi của chúng ta là thống nhất, các bạn hãy nhớ lời kêu gọi của Các Mác:

“Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”.

“Hội Liên hiệp thuộc địa”

——————————–

23. Hội Liên hiệp thuộc địa là một tổ chức cách mạng của những người thuộc địa, do Nguyễn Ái Quốc cùng một số người yêu nước của các nước thuộc địa Pháp sáng lập tháng 7-1921 tại nhà số 9 phố Valét, Pari. Cuộc họp đầu tiên của Hội vào ngày 9-l0-1921. Lúc đầu Hội có 200 hội viên và hai tổ chức người thuộc địa xin gia nhập là Hội những người Việt Nam yêu nước và Hội đấu tranh cho quyền công dân của người Mađagátxca. Ban thường vụ của Hội gồm 7 người, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc. Cơ quan tuyên truyền của Hội là tờ báo Le Paria. Ngoài ra, Hội những người Việt Nam yêu nước còn ra riêng tờ báo Việt Nam hồn. Đến nǎm 1926, Hội ngừng hoạt động. Tuyên ngôn của Hội do Nguyễn Ái Quốc thảo ra đã nêu rõ mục đích của Hội là tập hợp mọi người dân thuộc địa cư trú trên đất Pháp nhằm tố cáo trước dư luận những tội ác của chủ nghĩa thực dân, tuyên truyền giác ngộ nhân dân các thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hội đoàn kết nhân dân các nước thuộc địa trong mặt trận chung chống chủ nghĩa đế quốc và xây dựng quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các nước thuộc địa với giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp. Sự ra đời của Hội Liên hiệp thuộc địa với Tuyên ngôn của nó là một sự kiện chính trị rất quan trọng đối với các dân tộc bị áp bức. Tr.127.

cpv.org.vn

 

 

 

Phụ lục: Gửi thanh niên Việt Nam

Ông Đume, nguyên toàn quyền Đông Dương đã viết: “Khi nước Pháp đến Đông Dương, thì dân tộc An Nam đã chín muồi để làm nô lệ”. Từ đó đến nay hơn một nửa thế kỷ đã trôi qua. Nhiều biến cố phi thường đã làm đảo lộn thế giới. Nhật Bản đã đứng vào hàng đầu các cường quốc trên thế giới. Trung Hoa đã làm cách mạng. Nga đã tống cổ lũ bạo chúa đi để trở thành một nước cộng hoà vô sản. Một luồng gió giải phóng mạnh mẽ đã làm cho các dân tộc bị áp bức vùng lên. Người Airlan, Ai Cập, Triều Tiên, ấn Độ, tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay đó, đương đấu tranh dũng cảm cho nền độc lập ngày mai của họ. Riêng người An Nam, thì vẫn cứ thế: sẵn sàng làm nô lệ.

Hãy nghe đoạn vǎn khốn nạn này của một tên khách An Nam trong một bữa tiệc hai trǎm người ǎn, tổ chức ra để chiêu đãi bọn Utơrây, Valuyđơ và bè lũ và để được ngửi mùi bít tất thối của bọn “liên minh dân tộc” này. Anh chàng An Nam ấy đã không ngại bỏ ra 85 quan cho một bữa chè chén. Hắn đọc diễn vǎn tại bữa tiệc:

“Tôi lấy làm tự hào được thay mặt cho toàn thể cử toạ nói lên tấm lòng tôn kính sâu sắc, niềm vui mừng và lòng biết ơn của chúng tôi đối với các vị. Đối với con mắt khâm phục của chúng tôi, các vị thật là những người tiêu biểu cho chính phủ của dân tộc Pháp vinh quang.

“Tôi không tìm ra được danh từ nào đủ đẹp để nói lên cho thật đúng ý nghĩa của tư tưởng sâu kín trong chúng tôi, nhưng thưa các vị, các vị hãy tin ở tình gắn bó thuỷ chung, ở lòng trung thành, ở sự sùng bái của chúng tôi đối với nước Đại Pháp, là người đỡ đầu và bảo hộ, đã coi chúng tôi như con, không phân biệt màu da và chủng tộc.

“Mỗi người chúng tôi đều đã tự mình nhận thấy tất cả những ân huệ mà Nhà nước chí tôn và những vị đại diện cho nước Đại Pháp đã ban cho chúng tôi bằng cách áp dụng đúng đắn và sáng suốt những luật pháp rộng rãi và khoan hồng”.

Trong đám tang viên toàn quyền Lông, ông N.K.V, tiến sĩ luật, tiến sĩ khoa chính trị và kinh tế, làm việc tại toà biện lý Sài Gòn, đã quả quyết rằng, nếu có thể phát biểu thay toàn thể nhân dân Đông Dương, thì ông sẽ đau đớn nói lên lời cảm tạ thiết tha đối với quan toàn quyền về tất cả những gì mà Ngài đã làm cho dân tộc An Nam. Rồi ông V. kêu to lên rằng:

“Những người mà nhờ những biện pháp bao dung của Ngài, ngày nay đang được cùng các vị đại diện của Nhà nước bảo hộ góp phần vào sự phồn vinh không ngừng tǎng lên của xứ Đông Dương, những người ấy cảm tạ Ngài tự đáy lòng và sùng bái hình ảnh của Ngài. Kinh tế là vấn đề mà Ngài lo nghĩ đến nhiều nhất. Ngài đã muốn cho Đông Dương có đủ trang bị kinh tế để trở thành một nước Pháp thứ hai, một nước Pháp hùng cường ở Viễn Đông, một chi nhánh của nước Pháp Cộng hoà!

“Ngài đã đem hết tâm hồn, trí não vào sứ mệnh của Ngài là khai hoá cho một dân tộc bị ngǎn cản trên con đường tiến bộ vì nhiều điều kiện lịch sử và khí hậu. Ngài là người chiến sĩ vô song của tiến bộ và là sứ giả của vǎn minh …”.

Còn ông Cao Vǎn Sen, kỹ sư, hội trưởng hội những người Đông Dương tại Pháp, thì nói rằng việc ông Lông chết quá sớm là một cái tang cho Đông Dương. Rồi ông kết thúc bài điếu vǎn bằng những lời sau đây:

“Thưa quan toàn quyền, chúng tôi chân thành thương tiếc Ngài vì đối với tất cả chúng tôi, Ngài là một ông chủ bao dung, khoan thứ như một người cha”.

Từ những việc trên, tôi xin kết luận rằng, nếu quả thật tất cả

mọi người An Nam đều rạp mình sát đất như bè lũ tay sai ấy của chính quyền thì người An Nam có phải chịu số kiếp nô lệ cũng là đáng đời.

*

*      *

Thanh niên ta cũng cần biết là hiện nay có hơn hai nghìn thanh niên Trung Quốc trên đất Pháp và độ nǎm vạn ở châu Âu và châu Mỹ. Hầu hết những thanh niên ấy đều đã tốt nghiệp Hán vǎn và tất cả đang là sinh viên – công nhân. Còn chúng ta, thì chúng ta có những sinh viên được học bổng và những sinh viên thường, nhờ ơn nhà nước hay tiền của cha mẹ (hại thay, hai cái nguồn ấy lại không bao giờ cạn cả), mà đang dành một nửa thì giờ vào các việc… chơi bi a, một nửa của nửa thì giờ còn lại để đến các chốn ǎn chơi; số thì giờ còn lại, mà ít khi còn lắm, thì để vào trường đại học hoặc trường trung học. Nhưng sinh viên – công nhân Trung Quốc thì lại không có mục đích nào khác hơn là nhằm thực sự chấn hưng nền kinh tế nước nhà và họ theo châm ngôn: “Sinh sống bằng lao động của bản thân và vừa học hỏi vừa lao động”.

Họ đã làm như thế này: vừa đặt chân lên đất nước người là tất cả những người có nǎng khiếu giống nhau và cùng muốn học một nghề thì tập hợp lại thành nhóm để vận động xin việc với bọn chủ. Khi được nhận vào xưởng thợ hay nhà máy, thì cố nhiên là họ bắt đầu bằng cách học việc, rồi sau trở thành thợ. Đối với nhiều người đã được nuôi dưỡng trong cảnh giàu sang và được gia đình chiều chuộng, thì làm những việc nặng nhọc là một điều gian khổ. Nếu họ không có một quyết tâm vững chắc, không được một sức mạnh tinh thần phi thường thúc đẩy thì phần lớn đã phải chùn bước. Nhưng cho tới nay, tất cả vẫn tiếp tục làm việc. Một trở lực thứ hai là ngôn ngữ bất đồng, họ đã khắc phục được trở lực ấy nhờ biết lợi dụng khiếu quan sát, cái khiếu gần như là một bản nǎng đặc biệt của những người Viễn Đông chúng ta. Nếu họ không hiểu được hay hiểu một cách khó khǎn những lời chủ họ nói, thì họ chǎm chú quan sát những cái mà chủ chỉ cho họ.

Họ kiếm không được bao nhiêu tiền. Với số tiền công ít ỏi, trước hết họ phải tính sao cho đủ sống. Và, họ coi việc không xin tiền chính phủ, không xin tiền gia đình là một vấn đề danh dự. Sau nữa, tuỳ theo số tiền kiếm được họ trích một phần để đóng vào quỹ tương tế do họ lập ra. Quỹ này nhằm hai mục đích: 1) giúp đỡ những sinh viên đau ốm có giấy chứng nhận của thầy thuốc, và những sinh viên thất nghiệp có giấy chứng nhận của chủ; 2) trợ cấp một số tiền trong một nǎm cho tất cả những người mới học nghề xong để giúp họ bổ túc nghiệp vụ.

Lao động ở nước nào, họ cũng xuất bản ở đấy một tờ tạp chí (luôn luôn là do sinh viên – công nhân đóng góp). Tạp chí ấy viết bằng chữ Hán, cung cấp tin tức của Tổ quốc và đǎng những vấn đề thời sự lớn trên thế giới, v.v.. Tạp chí dành một mục cho độc giả trao đổi những điều bổ ích cho việc học nghề của họ, báo cho nhau biết sự tiến bộ của từng người, khuyên nhủ và động viên nhau. Ban ngày họ làm việc, ban đêm, họ học tập.

Kiên trì, quyết tâm và đoàn kết như thế, các “ông chú trẻ tuổi” 1 của chúng ta chắc chắn sẽ đạt mục đích. Với một đạo quân 50.000 công nhân dũng cảm đáng khâm phục, lại được đào tạo trong kỷ luật và kỹ thuật hiện đại, thì không bao lâu nữa, Trung Quốc sẽ có một địa vị trong hàng các cường quốc công nghiệp và thương nghiệp thế giới.

Ở Đông Dương, chúng ta có đủ tất cả những cái mà một dân tộc có thể mong muốn như: hải cảng, hầm mỏ, đồng ruộng mênh mông, rừng rú bao la; chúng ta có những người lao động khéo léo và cần cù.

Nhưng chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức! Bởi thế công nghiệp và thương nghiệp của chúng ta là một con số không. Thế thì thanh niên của ta đang làm gì? Nói ra thì buồn, buồn lắm: họ không làm gì cả. Những thanh niên không có phương tiện thì

không dám rời quê nhà; những người có phương tiện thì lại chìm ngập trong sự biếng nhác; còn những kẻ đã xuất dương thì chỉ nghĩ đến việc thoả mãn tính tò mò của tuổi trẻ mà thôi!

Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám Thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh.

cpv.org.vn

Vǎn minh tư bản chủ nghĩa và phụ nữ ở các thuộc địa (1925)

Hiếm mới có dịp những tiếng nói được cất lên – tuy rất rụt rè – trong các nghị viện của các chính quốc để làm cho người ta chú ý đến tình cảnh thê thảm của giai cấp vô sản thuộc địa. Còn thảm thương hơn nữa là số phận của phụ nữ và trẻ em làm thuê trong những công việc nặng nhọc như làm than và làm việc trong các hầm mỏ.

Trong các nước bị chiếm đó, không có luật hay sự hạn chế nào để kiềm chế bớt bọn bóc lột. Những người thợ bản xứ bị coi như súc vật. Người ta chỉ cho họ những gì vừa đủ để khỏi chết đói. Người ta dùng roi để thúc họ đi. Không có bảo hộ lao động, không có bồi thường tai nạn. Người ta thấy lại trong các thuộc địa đó tất cả hệ thống phong kiến trung cổ và dã man của chủ nghĩa tư bản. Hãy lấy sự bóc lột trong các hầm mỏ ở ấn Độ thuộc Anh làm ví dụ, chúng ta sẽ thấy thứ nhân đạo và vǎn minh của bọn con buôn của đế quốc Anh. Một nghị sĩ Anh vừa cho chúng tôi biết rằng, cho đến nǎm 1921, ở ấn Độ, có 252 hầm mỏ được khai thác.

Các hầm mỏ đó dùng 42.000 phụ nữ và 1.171 trẻ em. Thật là một sự nhục nhã cho thế kỷ XX phải thấy những phụ nữ bước run run, đầu đội thúng than nặng, mà vẫn phải bước vì đói; và những trẻ em từ 12 đến 13 tuổi bò trong những đường hầm chật hẹp, vừa đi bằng bốn chân, vừa dùng rǎng kéo một thúng đầy!

Tư bản đầu tư vào các hầm mỏ đó là 5.681.000 livrơ.

Lợi nhuận từ 35 đến 50%. Có khi lên tới 80-90%. Một công ty thừa nhận rằng trong thời gian 1911-1921, trung bình lợi nhuận mỗi nǎm là 110%.

Trong lúc các nhà đi khai hoá của chúng ta ngày càng béo ra với những món lợi nhuận khổng lồ, thì sau đây là những điều đã xảy ra đối với nam nữ công nhân người bản xứ:

1.465 tai nạn chết người,

1.871 người chết,

2.212 người bị thương nặng.

40% vô sản hầm mỏ là phụ nữ và trẻ em, chúng ta có thể kết luận rằng, trong thời gian 10 nǎm, không dưới 2.200 phụ nữ và trẻ em ấn Độ đã phải hy sinh trên bàn thờ của chủ nghĩa tư bản đi khai hoá.

Vừa rồi, một đạo luật được thông qua quy định ngày làm việc dưới hầm là 9 giờ cho người lớn, và cho phép chính phủ “cải thiện” tình cảnh của phụ nữ và trẻ em làm việc trong hầm mỏ. Nhưng đạo luật đó chỉ được thi hành sau nǎm 1924. Trong lúc chờ đợi, bọn chủ tiếp tục bóc lột một cách vô liêm sỉ, và phụ nữ, trẻ em ấn Độ vẫn tiếp tục đau khổ.

NGUYỄN ÁI QUỐC

———————————

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Lênin và các dân tộc thuộc địa (24) (2-1925)

Bài viết của đại diện các thuộc địa Pháp bên cạnh Quốc tế Cộng sản

Lênin đã đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.

Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến về vấn đề này còn âm ỷ trong đầu óc của nhiều nhà cách mạng châu Âu và châu Mỹ.

Mọi người đều biết rõ những luận cương của Quốc tế Cộng sản về vấn đề thuộc địa. Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn (25) và Quốc tế Thanh niên cộng sản (26), vấn đề các nước thuộc địa đã được nêu lên hàng đầu. Lênin là người đầu tiên đã hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã chỉ rõ rằng, nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được.

Lênin đã tìm ra những phương pháp có hiệu quả để tiến hành có kết quả công tác trong các nước thuộc địa và đã nhấn mạnh là cần phải sử dụng phong trào cách mạng dân tộc ở những nước này.

Các đại biểu của các nước thuộc địa tham dự các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, vẫn còn nhớ vị lãnh tụ – người đồng chí đã dành cho họ sự chú ý dường nào, và Người đã biết đi sâu tìm hiểu như thế nào những điều kiện công tác phức tạp nhất và thuần tuý có

tính chất địa phương. Mỗi người chúng ta đều có đủ thời gian cần thiết để tin chắc rằng những điều nhận xét của Người là đúng và những lời giáo huấn của Người là quý giá đến mức nào. Với phương pháp khéo léo của mình, Lênin đã lay chuyển được quần chúng nhân dân chưa giác ngộ và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa. Sách lược của Lênin về vấn đề này đã được các đảng cộng sản trên toàn thế giới áp dụng, đang lôi cuốn tất cả những phần tử ưu tú và tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản.

Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc hết sức phức tạp ở nước Nga Xôviết là một thứ vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ trong các nước thuộc địa.

Trong con mắt của các dân tộc thuộc địa, trong lịch sử cuộc đời khổ đau và bị mất quyền của các dân tộc thuộc địa, Lênin là người sáng tạo ra cuộc đời mới, là ngọn hải đǎng chỉ dẫn con đường đi tới giải phóng cho toàn thể nhân loại bị áp bức.

NGUYỄN ÁI QUỐC

cpv.org.vn

———————————-

24. Kỷ niệm một nǎm ngày V.I.Lênin qua đời, mùa xuân 1925, Nguyễn Ái Quốc viết bài Lênin và các dân tộc thuộc địa. Với lòng khâm phục và kính yêu vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản quốc tế, tác giả nêu rõ sự quan tâm đặc biệt của Lênin đối với cuộc cách mạng của các dân tộc bị áp bức, lập luận có sức thuyết phục và cách giải quyết thực tế ở nước Nga Xôviết làm cho nhân dân các dân tộc bị áp bức đều hướng về Người, tin tưởng và đi theo con đường cách mạng của Người. Qua bài báo, Nguyễn Ái Quốc đã trình bày rõ công lao vĩ đại của Lênin đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và tình cảm chân thành của hàng triệu người bị áp bức đối với V.I.Lênin, vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng vô sản và cách mạng của các dân tộc thuộc địa trên thế giới. Tr.136.

25. Quốc tế Công đoàn (Quốc tế công đoàn đỏ): Tổ chức liên hiệp quốc tế của các công đoàn cách mạng, được hình thành về mặt tổ chức vào nǎm 1921, tồn tại đến cuối nǎm 1937. Nó liên kết các trung tâm công đoàn không gia nhập tổ chức công đoàn cải lương là Quốc tế Amxtécđam, và liên kết các nhóm, các khuynh hướng đối lập tiến bộ trong nội bộ các tổ chức công đoàn cải lương ở các nước. Quốc tế Công đoàn đấu tranh để thiết lập một sự thống nhất trong phong trào công đoàn trên cơ sở đấu tranh cách mạng nhằm bảo vệ những yêu sách của giai cấp công nhân, chống nguy cơ chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, và đoàn kết với giai cấp công nhân nước Nga Xôviết. Tr.136.

26. Quốc tế Thanh niên cộng sản: Tổ chức quốc tế của thanh niên lao động cách mạng. Theo sáng kiến của Lênin, Đại hội lần thứ nhất của thanh niên xã hội chủ nghĩa được triệu tập ở Béclin (Đức) từ ngày 20 đến 26-11- 1919 (có 29 đại biểu của 13 nước tham dự) đã thông qua nghị quyết thành lập Quốc tế Thanh niên cộng sản. Tổ chức này đã gia nhập Quốc tế Cộng sản với tư cách là một phân bộ. Quốc tế Thanh niên cộng sản có những phân bộ riêng của mình ở 56 nước. Các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Thanh niên cộng sản là Đại hội quốc tế và Ban chấp hành. Quốc tế Thanh niên cộng sản hoạt động dưới sự lãnh đạo về tư tưởng và tổ chức của Quốc tế Cộng sản. Nó đã có tác dụng quan trọng trong việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin trong thanh niên, đề ra mục tiêu, phương pháp đấu tranh cho thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới. Nǎm 1943, cùng với việc giải tán Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Thanh niên cộng sản cũng tự giải tán. Tr.136

Thư gửi cho một đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Pháp (19-2-1925)

Quảng Châu, ngày 19-2-1925

Đồng chí thân mến,

Tôi không biết đồng chí là ai, nhưng tôi đoán rằng đồng chí phải là Maran. Có đúng vậy không? Trước khi đi, tôi đã yêu cầu Đảng gửi đến tôi báo chí và các tài liệu khác cho công tác tuyên truyền. Tôi ở Trung Quốc đã 5 tháng nay, và tôi chưa nhận được gì cả. Tôi hoàn toàn không biết những gì đã xảy ra trong Đảng và ở châu Âu.

ở đây, có nhiều công tác phải làm, mà công tác thì rất thú vị, ở trong Đảng Trung Quốc cũng như ở trong Đảng mới của An Nam mà chúng tôi đang xây dựng.

Tôi gửi đến đồng chí bản sao bức thư của tôi gửi Đoàn Chủ tịch. Trong thư có 3 nội dung:

1) Yêu cầu kinh phí – vì tôi không thể xin ở Đảng khi mà Đảng không có đồng nào, đồng chí hãy cố gắng để Đoàn Chủ tịch đáp ứng yêu cầu của tôi. Không được như vậy sẽ không có tiền để làm việc có kết quả.

2) Đề nghị gửi sinh viên – Đối với một thuộc địa như Đông Dương, chúng tôi phải có ít nhất 10 sinh viên – tuyên truyền viên. Nhưng chúng tôi có thể gửi 5 hay 7 người. Điều chủ yếu là cho tôi biết càng sớm càng tốt con số được chấp nhận để tôi có thể chọn trong số những người đang ở Trung Quốc hay phải đi tìm người ở

trong nước. Với cả hai đề nghị này, tôi chắc rằng đồng chí sẽ phải đấu tranh vất vả; vì đồng chí Tơranh đã đấu tranh vất vả cho việc đi của tôi.

3) Về tài liệu tuyên truyền – Tôi chẳng có gì cả trừ phi đồng chí viết một bức thư thúc giục rất khẩn cấp cho Ban Bí thư hay cho Bộ Chính trị của Đảng. Địa chỉ của tôi là: Lý. Hãng thông tấn Rôxta- Quảng Châu – Trung Quốc.

Báo chí nói rằng Misen Mácty đã ra khỏi Đảng và cũng khuyên Ǎngđrê làm mạnh hơn nữa. Có đúng không?

Tôi quên một việc khá quan trọng. Đồng chí hỏi Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng chúng ta: Nguyễn Thế Truyền có phải là đảng viên hay không? Nếu đúng là đảng viên, phải chỉ thị cho Truyền gia nhập nhóm lập hiến, vừa được tổ chức ở Pari để làm hạt nhân.

Tôi tin tưởng ở đồng chí và gửi tới đồng chí lời chào cộng sản anh em.

NGUYỄN ÁI QUỐC

——————————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản (19-2-1925)

Quảng Châu, ngày 19-2-1925.

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản.

Các đồng chí thân mến,

Tình hình Đông Dương hiện nay vẫn giống như tôi đã mô tả trong bản báo cáo đầu tiên của tôi. Tôi chỉ xin trình bày với các đồng chí 3 việc sau đây:

1. Đảng Lập hiến mà tôi đã nói đến trong bản báo cáo gần đây nhất với các đồng chí vừa mới được tǎng cường do sự gia nhập của một nhà cách mạng An Nam lão thành, một nhà nho, bị kết án tử hình, được ân xá, bị trục xuất sang Pháp, và cuối cùng được chính phủ Eriô cho nhập quốc tịch Pháp. Chương trình được công bố của Đảng ấy là: Pháp – An Nam hợp tác và việc tầng lớp thượng lưu của người An Nam được nhập quốc tịch Pháp.

2. Những người bảo thủ và những người dân chủ người Pháp đang đấu tranh với nhau ở Đông Dương như những ông chủ của họ đang đấu tranh với nhau ở Pháp. Mới đây, nhiều truyền đơn chống đế quốc đã được rải ở Nam Kỳ (cǎn cứ vào những đoạn trích, tôi cho rằng, những truyền đơn ấy là của Ban thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp). Những người bảo thủ kêu lên: Hãy coi chừng chủ nghĩa bônsêvích! Còn những người dân chủ lại trả lời họ rằng: Chính các

anh đã bày ra những trò ấy để doạ chúng tôi!

3. Chính phủ Xiêm mới trao cho Chính phủ Pháp một nhà cách mạng An Nam lão thành từ Trung Quốc đến. Chính phủ Pháp thường quen yêu cầu trục xuất các nhà cách mạng An Nam lưu vong ở Xiêm; người vừa mới bị trục xuất đã bị chặt đầu không xét xử sau khi đến Sài Gòn được 24 tiếng đồng hồ.

Công tác đã làm được:

Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 hội viên, trong đó có:

2 người đã được phái về nước.

3 người ở tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên).

1 người đang đi công cán quân sự (cho Quốc dân đảng).

Trong số hội viên đó, có 5 người đã là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản.

Chúng tôi còn có 2 đoàn viên dự bị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin.

Chúng tôi có tại Xiêm một trạm – cơ sở (để đưa đón người ra vào) khá vững. ở đó có chừng 50 người làm ruộng đoàn kết chặt chẽ và trước đây đã giúp được rất nhiều việc. Giờ đây, chúng tôi phải tổ chức họ lại về mặt chính trị và củng cố cơ sở đó về mặt kinh tế, bằng cách mở rộng nó.

Những việc chúng tôi phải làm trong nǎm nay:

a) Thiết lập một cơ sở hoạt động tại Quảng Châu.

b) Thiết lập những cơ sở giao thông:

1. ở Quảng Tây.

2. ở phía cực Nam Quảng Đông.

3. ở Bǎng Cốc.

4. ở Tích Kho (điểm kết thúc của đường xe lửa Bǎng Cốc và cách Lạc Phách 20 ngày đường).

5. ở Lạc Phách, trên tả ngạn sông Mê Kông và cách Trung Kỳ 15 ngày đường.

c) Phái một đồng chí về ở trong nước để thu thập và chuyển tin tức.

d) Phái một hoặc nhiều đồng chí làm việc trên các tàu thuỷ đi lại giữa Trung Quốc và Đông Dương.

Tất cả những công việc cần thiết ấy sẽ tốn chừng 5.000 đôla.

e) Gửi sinh viên An Nam sang học Trường đại học cộng sản ở Mátxcơva.

Những điều tôi yêu cầu các đồng chí:

Một đồng chí khác và tôi, chúng tôi chỉ có thể để dành dụm – đến mức cao nhất – từ 100 đến 150 đôla mỗi tháng, số tiền này hoàn toàn không đủ cho công tác khẩn cấp của chúng tôi. Vậy tôi yêu cầu các đồng chí:

1. Vui lòng cấp cho tôi một số tiền.

2. Cho tôi biết là có thể gửi bao nhiêu sinh viên An Nam sang Mátxcơva.

3. Tôi sẽ cám ơn các đồng chí rất nhiều nếu các đồng chí trả lời những yêu cầu của tôi bằng điện báo.

4. Gửi cho tôi tài liệu tuyên truyền bằng tiếng Pháp (để cho sinh viên An Nam và binh lính Pháp).

Xin gửi lời chào cộng sản
NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————

Tài liệu tiếng Pháp , lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Con rùa (2-1925)

Truyện

Cốc! Cốc! Cốc!

– Ai đấy? Ông Xã, lý trưởng làng La Lo 1 , vừa hỏi to vừa bước ra mở cổng cái vườn con… Chào ông anh ạ! Ông nói với người vừa ló ra. May mắn làm sao tệ xá lại được vinh hạnh đón tiếp ông anh quá bộ lại chơi thế này?

– Trời bao nhiêu sao thì xin mừng bác phúc lộc bấy nhiêu, khách lạ trả lời. Chả là tôi mang đến bác tờ trát của quan sứ.

Xem lướt xong lệnh của quan trên, ông Xã gãi đầu gãi tai. Ông có vẻ quýnh lắm.

– Gì thế, ông? Bà vợ lo lắng hỏi.

Ông Xã không đáp, chỉ ra hiệu cho người bạn đời thân quý của ông đi theo ông.

Khi chỉ còn hai người, ông nói: “Hiền thê ta ơi! Sự thể như thế này. Quan sứ đòi tôi lên dinh ngài. Nhà nó cũng biết đấy: Quan là một ông Tây tốt chỉ thích của tốt, cho nên mình mà vào nhà ngài hai tay rỗng không thì khi ra khỏi nhà ngài là đôi mông no đòn. Thế nhưng nhà mình có gì coi được: gà, thỏ, vịt, gà tây, thì đã bán sạch để nộp thuế cả rồi còn đâu! Lấy gì dâng quan bây giờ?”.

Đến lượt bà vợ ông Xã trở nên tư lự. Bà biết rằng cái con người đáng sợ mà ông chồng thân yêu của bà sắp phải lên trình diện này, trước kia – trong thời kỳ bình định – đã từng chặt 75 cái đầu hào mục xứ Bắc Kỳ. Lên làm quan sứ, ông ra lệnh cứ nện đòn bất luận tên dân An Nam nào, đàn ông hay đàn bà cũng thế, qua cổng nhà ông mà không hạ mũ nón. Tính ông hung bạo làm dân chúng khiếp vía. Muốn vui chuồng gà, ông mượn gà mái của dân trong vùng, rồi chẳng bao giờ trả lại sau khi đã có cả trứng lẫn gà con. Nói tóm lại là bà biết rằng ông quan da trắng này dữ tợn lắm, và bà run sợ sẵn khi nghĩ trước đến cảnh tượng chồng bà sẽ được tiếp đón như thế nào nếu không mang gì đến đấm cái mõm công sứ.

– Tôi nghĩ ra rồi, im lặng mấy phút rồi bà nói, nghĩ cái hay lắm!

Đặt xong xuôi con rùa ngay ngắn trên cái khay bạc thuê của chính nàng hầu quan sứ, bày xong xuôi cả khay lẫn rùa lên chiếc chiếu trải trước cửa phòng giấy ngài công sứ, ông Xã đến trình diện với tất cả nỗi niềm cung kính tất phải có đối với vị đại diện của Nhà nước bảo hộ.

– Lạy quan lớn, ông vừa thưa vừa quay lại phía chiếu, dám xin quan lớn nhận cho, của mọn thôi ạ! Cái món qu… qu… 1 .

Ông không nói hết được tiếng quà, vì thoắt nhận ra rằng trên khay thế là đã khuất bóng rùa. Cái con vật, không buộc, đã thừa lúc ông Xã khốn khổ nhà ta quay đi mà chuồn mất.

Nhưng quan sứ – ngài khoan hoà rất mực – reo to lên:

– Ô cái khay đẹp quá thôi! Để ta phải gửi lên biếu quan toàn quyền mới được! Đúng hôm nay lại là ngày lễ sinh nhật toàn quyền phu nhân, hẳn bà thích lắm đấy.

“Và ông thì ông sẽ thǎng cấp cho ta”, ngài công sứ nghĩ thầm thêm trong bụng.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Theo bài in trong sách: Truyện và ký

——————–

Báo Le Paria, số 32, tháng 2 và tháng 3-1925.
Nguyễn ái Quốc: Truyện và ký, Nhà xuất bản Vǎn học, Hà Nội, 1974, tr.39-41.
cpv.org.vn

Những vấn đề châu Á (1925)

Nội chiến ở Trung Quốc. – Việc chuẩn bị về quân sự của Anh – Mỹ ở Thái Bình Dương. – Mấy ý tưởng của Nhật Bản

Những sự biến ở Trung Quốc ngày càng đáng cho ta chú ý đến nhiều hơn, nếu ta coi đó là những sự biến gắn liền với toàn cục, tức tình hình chung ở châu á.

Cuộc nội chiến nhen lên ở Trung Quốc thực ra chỉ là một cuộc đọ gươm giữa các đế quốc Pháp – Nhật và Anh – Mỹ.

Ngô Bội Phu, người của đế quốc Anh – Mỹ thua. Trương Tác Lâm người của đế quốc Pháp – Nhật được: nhưng được cuộc, thì lại chẳng phải là Nhật, mà cũng chẳng phải là Pháp. Số là, may thay có một lực lượng thứ ba không làm tôi tớ cho tập đoàn đế quốc nào cả. ý tôi muốn nói đảng cách mạng của Tôn Dật Tiên.

Những vị tướng Trung Quốc vừa mới hạ vũ khí – trong bao lâu?- thì Pháp đã đòi những khoản còn thiếu trong số tiền gọi là bồi thường về phong trào Nghĩa hoà đoàn 27 ; Nhật đòi nhượng cho mình những cǎn cứ điện báo; Mỹ đòi phải áp dụng một kế hoạch na ná như kế hoạch Đaoxơ 28 ; Anh đòi kiểm soát đường sắt ở Trung Quốc. Trước những yêu sách đó, Tôn Dật Tiên và đảng Quốc dân cách mạng của mình, tức Quốc dân đảng đáp lại rằng: “Hãy khoan! Chúng tôi, chúng tôi đòi phải huỷ bỏ những hiệp ước bất công, xoá bỏ những nhượng bộ nhục nhã; tóm lại Trung Quốc phải là của người Trung Quốc và người Trung Quốc phải được tự do giải quyết công việc của mình theo ý mình muốn. Còn sau sẽ hay”.

Vì vậy ở Trung Quốc, Tôn Dật Tiên là một trong những nhà chính trị mà bọn đế quốc ghét nhất và gờm nhất. Nhưng Carakhan, đại sứ Liên Xô ở Bắc Kinh, cũng bị họ thù ghét chẳng kém gì.

Từ sau Hội nghị Oasinhtơn 29 , Nhật không liên minh với Anh nữa. Xét rằng hoạt động ở Trung Quốc và ở ấn Độ của người bạn đồng minh cũ có phần nguy hiểm, Anh đã cắt đứt liên hệ bạn bè với Nhật để bắt tay với chú Sam 1 chặt chẽ hơn, vì quyền lợi của chú Sam ở Trung Quốc dễ thoả thuận với quyền lợi của Anh. Việc bỏ rơi đó mới chỉ là bước đầu: đế quốc Nhật sẽ còn bị nhiều vố nữa! Trái lại, Pháp đã tỏ vẻ rất trọng vọng Nhật và đã cho Nhật hưởng một mức thuế nhập khẩu ưu đãi ở Đông Dương. Thật là một ân huệ nhỏ bé chẳng gây được một tiếng vang nào trên thế giới, mà trái lại thì thế giới đã vừa được nghe thấy tiếng bom nổ trong vụ mưu sát ở Quảng Châu.

Nhật vừa bị Anh bỏ rơi thì luôn ngay ở Mỹ người ta lại bỏ phiếu cấm người Nhật di cư sang Mỹ. Đế quốc Nhật không thể nào lại không nhǎn mặt về điều nhục nhã này; họ đã phản ứng lại bằng những cuộc phản đối và những cuộc biểu tình kịch liệt nhưng vô hiệu quả. Bị bạn đồng minh cũ bỏ rơi, bị kẻ thù luôn luôn chửi vào mặt, Nhật đã sôi sục cǎm phẫn. Họ mới nảy ra cái ý nghĩ thành lập Khối Liên á. Tại sao lại không thành lập một liên minh Nga – Hoa- Nhật? Đề xướng ra ý kiến mới này là những giáo chức đại học, những chính khách, trong đó có chủ tịch phòng tài chính. Báo chí thạo tin ở phương Tây (Tạp chí Bỉ, chẳng hạn) nhất là báo chí Anh đều nghiên cứu ý kiến đó một cách lo ngại, nhưng làm ra vẻ không có gì là quan trọng cả.

Việc khởi công quy hoạch lại cǎn cứ thuỷ quân Xanhgapo, tốn đến 11 triệu đồng bảng Anh, phải chǎng là một cái chấm dứt của “tình hữu nghị” Anh – Nhật và là một lời đáp thiết thực đối với cái ý định thành lập một liên minh châu á? Nhưng dù sao cũng là một hành động chuẩn bị ǎn ý của chủ nghĩa đế quốc Anh – Mỹ.

Nước Mỹ, đã có một ngân sách thuỷ quân là 300 triệu đôla và một hạm đội gồm 840 thuỷ phi cơ, 18 chiến hạm, 81 tàu ngầm, 103 khu trục hạm, 113 tuần dương hạm, phóng ngư lôi hạm và các chiến thuyền nhỏ khác, cùng với 4.785 sĩ quan hải quân và 86.000 thuỷ thủ, lại sắp đóng thêm 8 tuần dương hạm mới. Hình như đó chỉ cốt để đạt số “5-5-3” (xin giải thích để những người không sành về vấn đề này được rõ rằng, đây là công thức về tỷ lệ các lực lượng hải quân mà hội nghị “tài giảm binh bị” ở Oasinhtơn đã quy định cho Mỹ, Anh và Nhật). Và nay mai, ở Thái Bình Dương, sẽ có những cuộc diễn tập lớn của hạm đội Mỹ.

Dư luận ở Nhật thấy: nào là hội nghị Đế quốc 30 – hội nghị phòng thủ Đế quốc 1 – ở Luân Đôn, nào là các công trình ở Xanhgapo, nào là các cuộc diễn tập lớn ở Thái Bình Dương. Và tự hỏi: Chuẩn bị như thế để đánh ai đây? Nhật là cường quốc duy nhất ở châu á có lực lượng vũ trang, là kình địch duy nhất của các đế quốc Anh và Mỹ ở Thái Bình Dương. Nhật cảm thấy mũi dùi chĩa thẳng vào mình. Kết quả là trong nước cứ sôi lên sùng sục. Tiếp sau ý kiến thành lập một liên minh châu á, lại nảy ra ý kiến thành lập một liên bang các chủng tộc da vàng. Theo lời của những người đề xướng ý kiến đó, 1.000.000.000 người da vàng có nhiệm vụ phải trút bỏ ách thống trị của 60.000.000 người da trắng đi. Đó là một chủ trương không thể thực hiện được do lòng ích kỷ của người Nhật và do những điều mà họ đã làm. Trong khi phản đối đạo luật Mỹ cấm người da vàng di cư đến Mỹ, trong khi tự xưng là người đứng đầu các chủng tộc da vàng bị áp bức, Nhật lại trục xuất ra khỏi lãnh thổ của mình hơn 6.000 công nhân Trung Quốc và sẽ tiếp tục trục xuất “những người lao động nước ngoài”. Còn người Triều Tiên có thể nghĩ thế nào về lòng thành thật của người Nhật, thì đừng nói đến là hơn.

Đối với người Nhật thì, 10 nǎm trước đây, Mikađô 2 là một đấng chí tôn; chiến đấu để phục vụ một vị hoàng đế chí tôn là một vinh dự. Người Nhật ngày nay có một tâm lý khác hẳn rồi. Vừa rồi, nhân một cuộc du hành của hoàng gia tại vùng lân cận Đông Kinh,

cảnh sát đã bắt giữ 3.400 thanh niên “để đề phòng”. Thật là một sự đề phòng có ý nghĩa! Chính phủ muốn đưa mục huấn luyện quân sự vào chương trình giảng dạy ở nhà trường, giáo sư và sinh viên đều nhất trí phản đối. Chủ nghĩa sô vanh 31 , dù có những sự đe doạ của Anh – Mỹ giúp thêm vào, cũng không thể thành công như xưa được nữa. Liệu thế hệ thanh niên Nhật sẽ có hiểu rằng sự cứu vãn là do ở chỗ những người vô sản tất cả các nước liên hiệp lại với nhau không ? Điều chắc chắn là thanh niên đang tiến nhanh và tiến về phía tả.

Để kết thúc những dòng này, xin thêm một chi tiết: cái mộng một “liên bang những chủng tộc da vàng” vừa mới được nói đến ở Nhật, thì một thượng nghị sĩ Mỹ, ông Britơn, đã đề nghị triệu tập một “hội nghị những người da trắng ở Thái Bình Dương…”.

NGUYỄN ÁI QUỐC
(Vlađivôxtốc)

————————-

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 19, nǎm 1925
cpv.org.vn

Nông dân Trung Quốc (21-3-1925)

Nông dân Trung Quốc nghèo khổ là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

1. Dân số quá đông, còn đất đai thì không đủ để canh tác.

2. Phương tiện canh tác thô sơ.

3. Công nghiệp phát triển rất kém nên không thu hút được số dân dư thừa không có việc làm, do đó trộm cướp như rươi, chúng sống bám vào nông dân.

4. Chủ nghĩa quân phiệt là một dạng cướp bóc khác.

5. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản nước ngoài buộc nông dân phải bán rẻ nông phẩm và mua hàng hoá đắt.

6. Lụt lội và các thiên tai khác. Hầu như nǎm nào cũng vậy, vùng này hay vùng khác, có khi nhiều vùng một lúc, bị lụt hoặc bão cuốn sạch, phá sạch.

7. Lòng tham của bọn địa chủ.

Hằng nǎm, tá điền phải chi phí cho một mẫu 1 ruộng

3,5 đôla tiền giống

3,5 – phân bón

1 – hao mòn dụng cụ

6 – ǎn uống cho lao động

Cộng 14 đôla.

Được mùa, một mẫu thu được 32 đôla. Trong số tiền ấy, địa chủ lấy mất 75% tức là 24 đôla; phần tá điền chỉ còn lại 25% tức là

8 đôla. Như vậy tá điền lỗ 6 đôla. Tuy có thu hoạch thêm về chǎn nuôi, đánh cá, nghề phụ và chịu thiếu thốn, người tá điền cũng khó có đủ tiền để chi tiêu. Nếu bọn kẻ cướp số 1 và số 2, hoặc bão lụt lại tiến công nữa thì người nông dân nghèo chỉ có tuyệt vọng. Anh ta chỉ còn có một cách để khỏi chết đói là dấn thân đi bổ sung cho đội ngũ bọn kẻ cướp hoặc quân phiệt để rồi lại đi tước đoạt nông dân ở các vùng khác.

Để chống lại những lực lượng áp bức ấy, với sự thúc đẩy của công nhân công nghiệp có tổ chức và được Chính phủ miền Nam cổ vũ, nông dân Trung Quốc bắt đầu tổ chức nhau lại. Điều lệ tổ chức của họ có những đặc điểm sau đây: Không được tổ chức vào hội:

a) Địa chủ có trên 100 mẫu đất.

b) Địa chủ phạm tội cưỡng bức nông dân.

c) Thầy cúng, mục sư.

d) Những người có quan hệ với đế quốc.

e) Những người hút thuốc phiện, cờ bạc.

Trước phong trào cách mạng ấy, địa chủ và kỳ hào ở thôn xã đều cảm thấy bị uy hiếp. Và chúng cũng tổ chức nhau lại. Chúng trở thành những tên phát xít và dùng những biện pháp phát xít để chống lại nông dân có tổ chức. Hǎm doạ, hành hung cá nhân, vu khống trên báo chí phản động, cướp bóc trụ sở các tổ chức, ám sát, biện pháp nào chúng cũng dùng đến, miễn là nếu không xóa bỏ được thì cũng có thể làm cho các tổ chức cách mạng bị thiệt hại. Đã có những chứng cớ cho thấy rằng có một số đại địa chủ đã treo thưởng đến 5.000 đôla cho ai giết được một chiến sĩ tích cực.

Dù sao, nông dân đã được tổ chức cũng không chịu thua. Ngay khi thấy xuất hiện tổ chức đối địch, họ tổ chức dân quân để đối phó lại.

Sinh viên và công nhân đã vào công hội đều tích cực giúp đỡ nông dân.

NGUYỄN ÁI QUỐC

———————-

Tài liệu tiếng Pháp, có ghi ngày 19-3-1925 – 21-3-1925 ở trang đầu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

“Lối cai trị của người Anh” (8-4-1925)

Trung Quốc, Ấn Độ, Xuđǎng

Những người bảo thủ trở lại nắm quyền, việc đó đã làm cho chủ nghĩa đế quốc Anh thêm sức mạnh. Chủ nghĩa đế quốc Anh muốn thi hành ở Trung Quốc một chính sách tích cực và “mạnh mẽ”. Để bắt đầu, người ta đã đề nghị với Hội nghị Luân Đôn ngày 24 tháng 11 vừa rồi rằng những đường sắt ở Trung Quốc phải do các lực lượng quân sự Mỹ, Nhật, Bỉ, Pháp và Anh kiểm soát và giám sát. Nước Anh bỏ nhiều vốn nhất vào những đường sắt ấy và sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc kiểm soát và chiếm giữ những hệ thống đường sắt đó. Dự án tốt đẹp ấy chưa được thông qua.

Đầu nǎm nay, thủ đô chính thức của ấn Độ thuộc Anh bỗng nhiên thấy buộc phải áp dụng “Đạo luật phòng thủ ấn Độ” 2 nǎm 1918, tức là đạo luật bất thường thiết lập tình trạng giới nghiêm tǎng cường. Dưới chế độ ấy, tất cả những viên chức và cảnh sát người Anh, từ cấp thanh tra trở lên, đều có quyền bắt bớ và giam giữ những người ấn Độ bị tình nghi, không làm thủ tục cũng chẳng cần xét xử gì cả. Chỉ trong một buổi sáng mà các trường trung học, các ký túc xá của sinh viên và khoảng 100 toà nhà đã bị khám xét. Hàng trǎm vụ bắt bớ đã xảy ra. Trong số những người bị bắt giam, có: S. Sunđe Rôdơ, lãnh tụ trong Ban Chấp hành Đảng Quốc đại ấn Độ 32 ; Baran Roy, bí thư tỉnh uỷ của đảng này; S.Míttrơ, bí thư của

Đảng Svaragít; và nhiều người Svaragít khác có tiếng tǎm và được tôn trọng. Vǎn phòng các công ty của người ấn Độ đều bị quân đội và cảnh sát chiếm đóng. Các nhà cầm quyền Anh ở Bengan lại định giải quyết bằng vũ lực tất cả những khó khǎn về chính trị.

ở đây, chúng tôi sẽ không nhắc lại những sự biến xảy ra ở Nhật Bản và Ai Cập mà mọi người còn nhớ. Điều mà người ta ít biết đến là đã từ lâu các nhà công nghiệp Anh hằng ôm ấp cái mộng thi hành một cách kiên quyết một “chính sách bông” ở châu Phi. Họ đã biến Xuđǎng thành một đồn điền rộng lớn, và để thực hiện mục đích đó, họ sẽ chuyển hướng dòng sông Nin ở miền thượng lưu. Đồn điền được tưới nước như vậy sẽ đem lại một nǎng suất kỳ diệu; nhưng… nông nghiệp miền hạ lưu sông Nin sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng; vì dòng nước màu mỡ tốt tươi đã bị đổi đi hướng khác. Vì vậy, người Ai Cập đã phản đối việc thực hiện kế hoạch đó. Việc ngài Lixtếch, tổng tư lệnh người Anh trong quân đội Ai Cập bị ám sát được người Anh dùng làm cớ để hoàn toàn tự do hành động ở Xuđǎng; từ nay họ là những người chủ duy nhất ở đấy. Máu đổ ở Xuđǎng và Ai Cập có lẽ sẽ chỉ để tǎng thêm màu mỡ cho đồn điền của họ ở Xuđǎng mà thôi…

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————-

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 33, ngày 8-4-1925
cpv.org.vn

Thư trả lời ông H. (Thượng Huyền) (9-4-1925)

Tôi xin cảm ơn ông đã gửi cho tôi hai tập viết của ông: Cách mệnh (1). Tôi đã đọc cả hai tập ấy. Ông còn yêu cầu tôi góp ý kiến nhận xét. Vâng, xin chiều theo ý ông!

Đứng về mặt phê bình, nghĩ như thế nào tôi xin nói thẳng với ông như thế ấy. Tôi không chắc rằng tất cả những nhận xét của tôi đều sai cả; nhưng xin ông cứ bác bỏ những nhận xét nào ông cho là khó hiểu. Việc trao đổi này sẽ có lợi cho cả hai chúng ta.

Trước hết tôi xin nói rằng tôi rất phấn khởi thấy ông đã dũng cảm và thiện ý viết hai tập này. Dũng cảm là vì ông đã viết bằng quốc ngữ 2 về một đề tài khá rộng mà từ trước đến nay chưa ai dám đề cập đến. Còn tinh thần thiện ý thì đã thể hiện rõ ở trên 32 trang giấy mà ông đã viết. Tất nhiên là 32 trang ấy chưa đủ để in thành sách. Nhưng nếu viết để đǎng báo, thì cũng đã khá tốt rồi!

Bài viết của ông có nhiều điển tích và dẫn chứng lịch sử. Điều đó chứng tỏ rằng ông rất thích đọc sách.

Bây giờ tôi xin bắt đầu nhận xét. Tôi luôn luôn nhớ rằng phê bình thì dễ, còn sáng tác nghệ thuật thì khó. Ví như, khi xem một bức tranh vẽ, chỉ ra được những sai sót hoặc nêu lên được những ưu điểm này nọ, thì dễ. Khi nghe một người khác dạo một bản nhạc, tôi có thể nhận xét anh ta chơi có hay hay không. Còn nếu ông bảo tôi hãy cầm bút vẽ bức tranh ấy hoặc cầm lấy nhạc cụ có dây kéo cho ra tiếng, thì tôi chịu…

Trên đây tôi có nói rằng, bài viết của ông có nhiều điển tích, nhưng tôi ngại điển tích ông nêu ra quá nhiều. Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thuý của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm. Một câu tục ngữ Pháp có nói: “Hứa hẹn nhiều bơ hơn là bánh mì”. Tôi nghĩ rằng một tác phẩm vǎn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó được trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được, và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm, thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt. ý kiến của tôi dựa vào hai câu trích dẫn sau làm bằng chứng:

Trong sách Luận ngữ, chúng tôi dẫn câu này: Tǎng Tử trả lời “Tất nhiên”. Câu ấy chỉ gồm có một từ. Một từ mà cũng đã rất đủ để thể hiện cả nghị lực và toàn bộ kiến thức của Tǎng Tử. Khi đọc từ ấy, lẽ nào người ta không hình dung được niềm vui sáng lên trong cái nhìn của Khổng Tử và tâm trạng vui của vị sư phụ đang đàm đạo với môn đệ.

Tôi thách ai có thể thêm, bớt một chữ nào trong câu ấy. Đó là lối hành vǎn thật sự trong sáng và cao xa.

Có một lần, một vị tướng của Napôlêông đệ nhất bị bao vây ở Oatéclô. Kẻ địch ra lệnh cho ông ta đầu hàng; ông đáp cộc lốc: “Cứt”. Câu nói ấy chỉ có một từ, lại là một từ tục tĩu. Nhưng trong tình thế nguy kịch nghiêm trọng ấy của vị tướng, nghìn lời nói khác cũng không thể nào thể hiện được hơn lòng dũng cảm và sự khinh bỉ của ông đối với kẻ thù. Và chỉ một lời đáp ấy cũng đủ để vị tướng củng cố được đội ngũ của mình. Chỉ câu nói ấy cũng đủ làm cho tên ông vang dội khắp châu Âu. Nó còn được ghi vào biên niên sử cho đến ngày nay và người Pháp ai cũng biết đến lời đáp ấy.

Vì vậy, một lối hành vǎn giản dị, chính xác hơn hẳn cái lối hành vǎn rườm rà, hoa mỹ.

Ngôn ngữ của ta còn nghèo. Khi nói, chúng ta phải vay mượn nhiều từ ngữ nước ngoài, nhất là từ ngữ Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng lạm dụng từ ngữ Trung Quốc chỉ làm cho vǎn thêm khó hiểu, trừ những từ thông dụng mà ai cũng đã biết và trừ những từ mới, như người bônsêvích, chủ nghĩa bônsêvích, tài chính… Ông nói, chúng ta phải giúp cho đồng bào ta làm quen với những từ mà nay họ chưa hiểu, lâu rồi họ cũng sẽ hiểu. Có thể làm như vậy được, nếu ông chỉ nghĩ đến viết cho họ tác phẩm vǎn học… Còn nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được. Một tác phẩm hành vǎn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì. Ví như, bảo đồng bào chúng ta hãy lắng nghe một người Pháp hay một người Trung Quốc hát: dù cho những ca sĩ ấy là những nghệ sĩ tuyệt vời đi nữa thì họ cũng không lôi cuốn được đồng bào ta.

Tôi xin chia những điều phê bình của tôi thành hai phần: phần thứ nhất nói về hình thức bài viết của ông, và phần thứ hai nói về nội dung.

cpv.org.vn

Đại hội công nhân và nông dân (2-5-1925)

Đây là Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông và là Đại hội lần thứ hai của công nhân toàn Trung Quốc, cả hai Đại hội cùng họp chung.

Đại hội lần thứ nhất của công nhân Trung Quốc họp nǎm 1922 ở Quảng Châu. Lúc đó cũng đã quyết định sẽ họp Đại hội lần thứ hai vào nǎm sau. Nhưng bọn quân phiệt áp bức đã giết hại và bắt giam các chiến sĩ, buộc các tổ chức công nhân miền Bắc phải đi vào hoạt động bất hợp pháp. Vì vậy, các đại biểu những tổ chức ấy không thể họp đại hội vào thời điểm đã ấn định.

Khi Ngô Bội Phu và đồng bọn bị đánh đổ, hoạt động của vô sản mới lại xuất hiện trở lại ở Hoa Bắc.

Điều cần chú ý là trong khi các tổ chức công nhân phía Bắc bị bọn quân phiệt giải tán thì các tổ chức công nhân phía Nam dựa vào Chính phủ cách mạng Quốc dân đảng lại phát triển nhanh chóng.

Sau khi tập hợp được lực lượng và chấn chỉnh lại đội ngũ ở phía Bắc, vô sản trong toàn Trung Quốc mới triệu tập Đại hội lần thứ hai ở Quảng Châu ngày 1 tháng 5.

Những người cách mạng Quảng Đông, trong khi giúp đỡ vô sản ở thành phố cũng không quên vô sản ở nông thôn. Trong hai nǎm, họ đã tập hợp được hơn 200.000 bần nông và công nhân nông nghiệp vào tổ chức.

Để có một sự lãnh đạo thống nhất về công tác và đấu tranh, nông dân có tổ chức ở các huyện quyết định họp Đại hội tỉnh lần thứ nhất.

Do đã nhất trí với nhau và nhằm thực hiện một mặt trận thống

nhất giữa những người bị bóc lột ở các thành phố với những người bị bóc lột ở nông thôn, những người lãnh đạo đã triệu tập đồng thời vào một lúc hai Đại hội họp ở cùng một địa điểm.

Khai mạc Đại hội – Cổng chính và đại lễ đường Trường đại học Quảng Châu trang trí rất đẹp bằng cờ đỏ và cờ đuôi nheo. ở ngay cửa vào có treo một tấm bảng lớn kết toàn bằng hoa, trên có câu “Vô sản và nông dân đoàn kết” (tất nhiên là bằng chữ Trung Quốc). Trên lễ đài có chân dung bác sĩ Tôn Dật Tiên, chân dung Các Mác, Lênin, Lipnếch và Rôda Lucxǎmbua. ở hai bên phòng họp, có treo ảnh các chiến sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp của vô sản Trung Quốc, có tranh vẽ và khẩu hiệu cách mạng, những lời chúc mừng của các tổ chức công nhân, binh lính và nông dân.

Trước giờ, phòng họp đã chật ních. Lễ khai mạc mở đầu bằng bản nhạc và bài Quốc tế ca. Những người đại diện của Quốc dân đảng và trong ban tổ chức đọc diễn vǎn chào mừng các đại biểu. Đại diện Quốc tế Công hội đỏ 33 được nhiệt liệt hoan nghênh; diễn từ của vị đại diện ấy bị ngắt quãng bằng những tràng vỗ tay vang lên như sấm.

Lễ kết thúc, các đại biểu ra tham dự cuộc biểu tình do nhân dân Quảng Châu chuẩn bị. Binh lính, sinh viên, nông dân từ các xã đến, công nhân, học sinh các trường quân sự, tất cả thanh niên cách mạng và lao động đều có mặt. Có hơn 100.000 người tham gia biểu tình. Các báo đều thừa nhận chưa khi nào có một cuộc tập trung đông đảo và phấn chấn như vậy.

Cờ đỏ dẫn đầu, đoàn biểu tình kéo đi qua các đường phố lớn, vừa đi vừa hát những bài ca cách mạng. Lời hô “Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!”, “Cách mạng muôn nǎm!” vang đến tận các tô giới nước ngoài. Hàng nghìn thuyền bè trương cờ kéo đi trên sông, hưởng ứng lời hô của những người biểu tình bằng những lời hoan hô của những tràng pháo nổ. Thật là một cảnh tượng hùng vĩ. Những cụ già người Trung Quốc, thích cảnh phúng dụ, cho rằng rồng đỏ đã giáng trần trong thành phố. Đúng như vậy, những người biểu tình ai cũng cầm trong tay một lá cờ đỏ, hình nhỏ, có ghi một trong những khẩu hiệu sau đây:

a) Liên minh công nông muôn nǎm!

b) Trung Quốc giải phóng muôn nǎm!

c) Vô sản tất cả các nước, liên hiệp lại!

d) Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

đ) Đả đảo chủ nghĩa quân phiệt!

e) Vô sản Trung Quốc, chúng ta hãy đoàn kết!

g) Đả đảo bọn phản bội giai cấp công nhân!

h) Ngày làm 8 giờ muôn nǎm!

v.v. và v.v..

Không xảy ra một sự cố gì. Tôi phải nói đến điều này, bởi vì trừ ở nước Nga Xôviết và Quảng Châu cách mạng, giai cấp tư sản tất cả các nước đều có thói quen lợi dụng ngày 1 tháng Nǎm 34 để tàn sát công nhân.

Một bức điện tín. Sau cuộc lễ, Đại hội đã gửi bức điện sau đây cho Quốc tế Công hội đỏ:

“Kính gửi Quốc tế Công hội đỏ, nhờ chuyển cho các tổ chức công nhân và tổ chức cách mạng tất cả các nước.

“Bị nhiều tầng áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa tư bản, từ mấy nǎm nay, giai cấp vô sản Trung Quốc đã ra sức tổ chức nhau lại để chống bóc lột.

Trong ngày 1 tháng Nǎm này, ngày giai cấp vô sản quốc tế biểu tình chống kẻ tử thù của mình là chủ nghĩa tư bản, chúng tôi, đại biểu cho quần chúng nhân dân lao động Trung Quốc họp Đại hội toàn quốc lần thứ hai ở Quảng Châu.

“Đồng thời, chúng tôi đã có một cuộc họp chung với đại biểu của 300.000 nông dân đã có tổ chức. Chúng tôi sẽ cùng nhau hoạt động vì lợi ích của công nhân, nông dân nghèo Trung Quốc.

“Chúng tôi đều biết rằng giải phóng nhân dân lao động phải là sự nghiệp của bản thân những người lao động. Chúng tôi cũng biết rằng bọn đế quốc có mặt trận thống nhất của chúng, và rằng nếu vô sản nước Mỹ, vô sản châu Âu và vô sản Nhật Bản mà không cùng nhau tay nắm tay hành động cùng với các dân tộc bị áp bức

các nước thuộc địa và nửa thuộc địa thì không thể nào đánh đổ được chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy, chúng ta phải xây dựng một tổ chức rộng lớn của những người vô sản toàn thế giới và của quần chúng bị áp bức bóc lột ở tất cả các nước. Có đoàn kết chúng ta mới chiến thắng được đế quốc, chiến thắng được bọn phản động và những tên phản bội Quốc tế vàng Amxtécđam 35 .

“Mặt trận thống nhất vô sản quốc tế muôn nǎm!

“Cách mạng vô sản muôn nǎm!”

Đó là ngày đầu tiên của hai cuộc Đại hội.

Việc gia nhập Quốc tế Công hội đỏ và gia nhập Hội đồng Quốc tế Nông dân ở Mátxcơva đã được ghi vào biên bản.

Sắp tới tôi sẽ gửi báo cáo chi tiết cho các đồng chí.

——————————–

Quảng Châu ngày 2-5-1925
HOWANG T.S
cpv.org.vn