Thư viện

Đạo đức Cách mạng (6-6-1955)

Quyết tâm giúp đỡ loài người ngày càng tiến bộ và thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, luôn luôn giữ vững tinh thần chí công vô tư – đó là đạo đức cách mạng.

Tuy nǎng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng.

Đại đa số chiến sĩ cách mạng là người có đạo đức: Cả đời hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, sinh hoạt ngày thường thì làm gương mẫu: gian khổ, chất phác, kính trọng của công… Đạo đức ấy có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong.

Không phải chúng ta ham chuộng khổ hạnh và bần cùng. Trái lại, chúng ta phấn đấu hy sinh, vì chúng ta muốn xây dựng một xã hội ai cũng ấm no, sung sướng. Nhưng chúng ta biết rằng: Muốn cải thiện đời sống, thì trước phải ra sức thi đua phát triển sản xuất; và trước phải nâng cao mức sống của nhân dân, rồi mới nâng cao mức sống của cá nhân mình. Tức là: “Lo, thì trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ”.

Nhưng chúng ta cũng phải nhận rằng: ảnh hưởng xấu của xã hội cũ làm cho một số đảng viên và cán bộ (trong Đảng và ngoài Đảng) hủ hoá. Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó mà họ mắc những sai lầm: Kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân.

Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân.

Để ngǎn ngừa cái xấu ấy, Đảng ta từ trên đến dưới phải chú trọng việc giáo dục đạo đức cách mạng, tǎng cường tinh thần cảnh giác, mở rộng tự phê bình và phê bình.

C.B.

———————————

Báo Nhân dân, số 460, ngày 6-6-1955.
cpv.org.vn

Phát triển Đảng ở nông thôn trong phát động quần chúng (7-6-1955)

Trước đây, những đảng viên tốt ở nông thôn đã góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi. Hiện nay, những đảng viên tốt ở nông thôn đang góp sức thực hiện cải cách ruộng đất và những công việc khác. Đồng thời, chúng ta cần phải gắn liền việc cải cách ruộng đất, tǎng gia sản xuất, v.v. với việc củng cố và phát triển Đảng ở nông thôn.

Chi bộ mạnh hay là yếu, công tác của chi bộ tốt hay là xấu, ảnh hưởng rất lớn đến việc cải tạo nông thôn.

Vì vậy, chỉnh đốn chi bộ là một việc quan trọng bậc nhất trong phong trào cải cách ruộng đất: loại những phần tử xấu ra, đưa những phần tử tốt vào để thêm lực lượng mới cho Đảng.

Khi kết nạp đảng viên mới, cần phải giữ đúng những điều kiện Trung ương đã quy định và kết hợp với những công tác trung tâm. Quyết không nên tuỳ tiện, cẩu thả, tách rời công việc thực tế.

Trước khi kết nạp một đảng viên mới, phải dựa vào quần chúng mà xem xét cẩn thận:

– Thành phần giai cấp,

– Lịch sử đấu tranh,

– Trình độ giác ngộ,

– Quan hệ với quần chúng,

– Thái độ trong công tác.

Những điều ấy chưa đủ, còn phải giáo dục thêm về kỷ luật sắt và tự giác của Đảng và nhiệm vụ của người đảng viên: trọn đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Khi kết nạp thì thủ tục phải nghiêm nhưng giản đơn: ý kiến của đảng uỷ phụ trách (trong phát động quần chúng tức là Đoàn uỷ), của người giới thiệu và nghị quyết của đại hội chi bộ đối với những đảng viên mới, phải ghi rõ và kèm theo giấy xin vào Đảng. Cẩn thận như vậy, vừa để ngǎn ngừa những phần tử xấu chui vào Đảng, vừa để tỏ rõ tính nghiêm chỉnh của Đảng ta và giáo dục ý thức tôn trọng Đảng cho người đảng viên mới.

Điều kiện đảng viên phải đúng, thủ tục vào Đảng phải nghiêm, đó là những điều rất cần thiết trong việc phát triển Đảng. Muốn có kết quả thắng lợi, ắt phải dựa vào quần chúng, tuyên truyền và giáo dục sâu cho quần chúng ý thức tham gia xây dựng Đảng.

C.B.

—————————–

Báo Nhân Dân, số 461, ngày 7-6-1955.
cpv.org.vn

Tự phê bình và phê bình (14-6-1955)

Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ nó mà chúng ta sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng.

Cho nên đảng viên và cán bộ cần phải nâng cao giác ngộ tư tưởng ngǎn ngừa tự đại tự cao, mạnh dạn công khai tự phê bình, vui vẻ tiếp thụ lời phê bình của người khác.

Đối với tự phê bình và phê bình, có 3 thái độ khác nhau:

– Những đồng chí giác ngộ chính trị cao thì tự phê bình rất thật thà và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm. Khi phê bình người khác, các đồng chí ấy thành khẩn, nhẫn nại, giúp đỡ họ sửa chữa. Đối với những kẻ sai lầm rất nặng mà lại không chịu sửa đổi, thì các đồng chí ấy đấu tranh không nể nang.

Chúng ta phải học tập tinh thần và tác phong của các đồng chí ấy.

– Có một số ít người thì phê bình, giáo dục mấy cũng cứ ỳ ra, không chịu sửa đổi.

Đối với hạng người này, chúng ta cần phải nghiêm khắc, phải mời họ ra khỏi Đảng, để tránh “con sâu làm rầu nồi canh”.

– Thái độ của một số khá đông cán bộ là: Đối với người khác thì phê bình đúng đắn, nhưng tự phê bình thì quá “ôn hoà”. Các đồng chí ấy không mạnh dạn công khai tự phê bình, không vui lòng tiếp thụ phê bình – nhất là phê bình từ dưới lên, không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của mình, thường tìm những “khó khǎn khách quan” để tự biện hộ. Nói tóm lại: Đối với người khác thì các đồng chí ấy rất “mác xít”, nhưng đối với bản thân mình thì mắc vào chủ nghĩa tự do.

Nói chung, các đồng chí ấy rất trung thành với Đảng, với nhân dân; nhưng tư tưởng và tác phong chưa thuần, đang mang một ba lô chủ nghĩa cá nhân hoặc nặng hoặc nhẹ. Họ sợ mất “thể diện”, mất “uy tín”. Họ quên rằng không thực hiện tự phê bình và phê bình, thì nhiều khuyết điểm nhỏ sẽ cộng thành khuyết điểm to, nó sẽ rất tai hại cho công tác.

Chúng ta phải giúp đỡ các đồng chí này. Các tổ chức của Đảng thì cần mở rộng dân chủ nội bộ, thực hiện thường xuyên tự phê bình và phê bình – nhất là phê bình từ dưới lên. Toàn thể đảng viên – trước hết là các cán bộ phụ trách – phải làm gương mẫu tự phê bình và phê bình.

C.B.

—————————–

Báo Nhân dân, số 468, ngày 14-6-1955.
cpv.org.vn

Danh mục các Sắc lệnh và Quyết định do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký từ nǎm 1953 đến tháng 6-1955

PHỤ LỤC

NǍM 1953

– Sắc lệnh số 131-SL, ký ngày 16-1-1953, bổ nhiệm Giám đốc và Phó giám đốc sở kho thóc thuộc Bộ Tài chính.

– Quyết định số 132-QĐ, và số 133B-QĐ, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 133-SL, ký ngày 20-1-1953, về việc trừng trị các loại Việt gian, phản động và xét xử những phần tử có âm mưu và hành động phản quốc.

– Sắc lệnh số 134-SL, ký ngày 28-1-1953, thành lập khu Tây Bắc gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu.

– Quyết định số 135-QĐ, ký ngày 28-1-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 136-SL, ký ngày 31-1-1953, chỉ định ông Phạm Hữu Lần nguyên chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Sa Đéc làm Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

– Quyết định số 137-QĐ, ký ngày 31-1-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 138-QĐ, ký ngày 31-1-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 139-QĐ, ký ngày 31-1-1953, ân giảm án tử hình xuống khổ sai chung thân cho một phạm nhân.

– Quyết định số 140-QĐ, ký ngày 31-1-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 141-SL, ký ngày 16-2-1953, đổi Nha Công an thuộc Bộ Nội vụ thành Thứ Bộ Công an do một Thứ trưởng phụ trách.

– Quyết định số 142-QĐ, ký ngày 16-2-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 143-QĐ, ký ngày 13-3-1953, ân giảm án tử hình xuống 20 nǎm khổ sai chung thân cho một phạm nhân.

– Quyết định số 144-QĐ, ký ngày 15-3-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 145-QĐ, ký ngày 15-3-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 146-QĐ, ký ngày 15-3-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân và ân giảm án tử hình xuống khổ sai chung thân cho một phạm nhân.

– Sắc lệnh số 147-SL, ký ngày 15-3-1953, thành lập doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam.

– Quyết định ký ngày 30-3-1953, thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân và dân ta bắt trên các chiến trường.

– Quyết định số 148-QĐ, ký ngày 6-4-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 149-SL, ký ngày 12-4-1953, về chính sách ruộng đất.

– Sắc lệnh số 150-SL, ký ngày 12-4-1953, về việc lập Toà án nhân dân đặc biệt.

– Sắc lệnh số 151-SL, ký ngày 12-4-1953, về việc trừng trị những địa chủ chống pháp luật.

– Quyết định số 152-QĐ, ký ngày 21-4-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 153-QĐ, ký ngày 21-4-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 154-QĐ, ký ngày 21-4-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 156-SL, ký ngày 30-4-1953, giải thể Nha Công chính hoả xa và thành lập 1 cơ quan mới là Nha Công chính trực thuộc Bộ Giao thông Công chính, làm nhiệm vụ chỉ đạo công tác thuỷ nông, đê điều, vận tải và các công tác công chính khác.

– Sắc lệnh số 157-SL, ký ngày 30-4-1953, bổ nhiệm chức Giám đốc Vụ quản lý xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công thương.

– Sắc lệnh số 158-SL, ký ngày 1-5-1953, truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho liệt sĩ Nguyễn Vǎn Luân, hy sinh ngày 10-9-1952, liệt sĩ Đào Mạnh Vy (tức Thế An) – hy sinh ngày 5-12-1951, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho đồng bào Mèo xã Tú Lệ, huyện Vǎn Chấn, tỉnh Yên Bái.

– Quyết định số 160-QĐ, ký ngày 16-5-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 161-SL, ký ngày 19-5-1953, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho bộ đội Kiến An.

– Sắc lệnh số 162-SL, ký ngày 20-5-1953, về việc lấy đồng bạc Ngân hàng quốc gia Việt Nam làm đơn vị tiền tệ trong toàn quốc kể từ 1-6-1953.

– Quyết định số 164-QĐ, ký ngày 22-5-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 165-QĐ, ký ngày 22-5-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 166-QĐ, ký ngày 30-6-1953, bác đơn xin ân giảm án tử hình của 7 phạm nhân can tội làm tay sai cho Pháp và ân giảm án tử hình xuống khổ sai chung thân cho 1 phạm nhân.

– Sắc lệnh số 169-SL, ký ngày 18-7-1953, bổ nhiệm các chức vụ: Chánh vǎn phòng Bộ Công an, Giám đốc vụ bảo vệ chính trị, Giám đốc và Phó giám đốc vụ trị an – hành chính, Phó giám đốc vụ chấp pháp và Cục phó cục cảnh vệ.

– Sắc lệnh số 170-SL, ký ngày 18-7-1953, bổ nhiệm ông Lê Thành giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Liên khu III.

– Sắc lệnh số 171-SL, ký ngày 18-7-1953, chấp nhận đơn xin từ chức của ông Đinh Vǎn Đức, Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 172-SL, ký ngày 28-7-1953, chỉ định người bổ sung vào Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.

– Quyết định số 173-QĐ và số 174-QĐ, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 176-SL, ký ngày 18-8-1953, sửa đổi điều 12 và 26 bản điều lệ tạm thời thuế nông nghiệp để giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân nhất là nhân dân nghèo.

– Quyết định số 177-QĐ, ký ngày 18-8-1953, ân giảm án tử hình xuống 20 nǎm tù cho 1 phạm nhân.

– Quyết định số 178-QĐ, ký ngày 18-8-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân, và ân giảm án cho một số phạm nhân.

– Sắc lệnh số 179-SL, ký ngày 18-8-1953, cho phép ông Nghiêm Tử Trình được từ chức Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội.

– Quyết định số 180-QĐ, ký ngày 18-8-1953, bác đơn xin ân giảm án của 1 phạm nhân.

– Sắc lệnh, ký cuối tháng 8-1953, tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, 4 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, 27 Huân chương Kháng chiến hạng Ba và 9 bằng khen cho các đơn vị và cá nhân có nhiều thành tích trong sản xuất và chiến đấu.

– Sắc lệnh số 182A-SL, ký ngày 2-9-1953, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho nhiều cá nhân và một đơn vị có nhiều thành tích xuất sắc trong sản xuất và chiến đấu.

– Sắc lệnh số 182B-SL, ký ngày 2-9-1953, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho các chuyên gia Trung Quốc có nhiều đóng góp cho Việt Nam.

– Sắc lệnh số 184-SL, ký ngày 6-9-1953, bổ nhiệm Phó giám đốc vụ tổ chức và cán bộ thuộc Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 185-SL, ký ngày 6-9-1953, bổ nhiệm Giám đốc Nha công chính.

– Quyết định số 186-QĐ, ký ngày 6-9-1953, bác đơn xin ân giảm án của 1 phạm nhân.

– Sắc lệnh số 187-SL, ký ngày 18-9-1953, chỉ định ông Lê Trung Toản làm Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội thay ông Nghiêm Tử Trình đã được phép từ chức.

– Quyết định số 188-QĐ, ký ngày 18-9-1953, bác đơn xin ân giảm án của 1 phạm nhân can tội cầm đầu tổ chức lưu manh trộm cướp.

– Quyết định số 189-QĐ, ký ngày 18-9-1953, bác đơn xin ân giảm án của 3 phạm nhân can tội cầm đầu 1 tổ chức làm tay sai cho giặc.

– Quyết định số 190-QĐ, ký ngày 15-10-1953, bác đơn xin ân giảm án của một phạm nhân can tội làm nội gián.

– Sắc lệnh số 191-SL, ký ngày 12-11-1953 cho phép ông Nguyễn Xuân Ngọc từ chức Thư ký Ban kinh tế – tài chính của Chính phủ từ ngày 1-11-1953.

– Sắc lệnh số 193-SL, ký ngày 15-11-1953, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho 17 đơn vị.

– Sắc lệnh số 194-SL, ký ngày 15-11-1953, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho cụ Hà Đình Thân, xã Tân Dân, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang có 9 con tòng quân.

– Quyết định ký ngày 21-11-1953, tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì cho nhân dân và các đơn vị dân công xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái và 3 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cho 3 cá nhân đã lập nhiều thành tích xuất sắc trong công tác cầu đường.

– Quyết định số 195-QĐ, ký ngày 10-12-1953, bác đơn xin ân giảm án của 2 phạm nhân can tội làm tay sai cho giặc và ân giảm án tử hình xuống tù chung thân cho một phạm nhân khác.

– Quyết định số 196-QĐ, ký ngày 10-12-1953, bác đơn xin ân giảm án của 7 phạm nhân can tội làm tay sai cho giặc và ân giảm án tử hình xuống tù chung thân cho 1 phạm nhân, xuống 20 nǎm tù cho 3 phạm nhân.

– Sắc lệnh số 197-SL, ký ngày 19-12-1953, công bố thi hành “Luật cải cách ruộng đất” do Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 4-12-1953.

– Sắc lệnh số 198-SL, ký ngày 20-12-1953, chỉ định ông Trần Kiên (tức Châu) làm Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Khu Tả ngạn.

NǍM 1954

– Sắc lệnh số 199-SL, ký ngày 4-1-1954, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho cụ Đặng Đức Hàm, xã Minh Phú, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định có 6 con tòng quân.

– Sắc lệnh số 200-SL, ký ngày 15-2-1954, tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho ông Mã Đạt Vệ, cố vấn quân sự Trung Quốc tại Đại đoàn 351.

– Sắc lệnh số 201-SL, ký ngày 15-2-1954, tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho đồng bào và cán bộ khu Tây Bắc; ông Trần Xương, chiến sĩ quân đội Liên khu V, ông Bùi Hương Chất (truy tặng), ủy viên ủy ban kháng chiến hành chính khu Tả ngạn.

– Quyết định số 202-QĐ, ký ngày 12-2-1954, bác đơn xin ân xá tội của hai phạm nhân.

– Quyết định số 203-QĐ, ký ngày 1-4-1954, bác đơn xin ân xá tội của một phạm nhân và ân giảm án tử hình cho 1 phạm nhân.

– Quyết định số 204-QĐ, ký ngày 26-4-1954, bác đơn xin ân xá tội của 1 phạm nhân.

– Sắc lệnh số 205-SL, ký ngày 24-4-1954, chỉ định Chủ tịch và các Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính khu Tây Bắc.

– Quyết định số 206-QĐ, ký ngày 28-4-1954, bác đơn xin ân xá tội của 3 phạm nhân và ân giảm án xuống 20 nǎm tù cho một phạm nhân.

– Sắc lệnh số 207B-SL, ký ngày 1-5-1954, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho ông Nguyễn Chiến Mã, Cục trưởng Cục nghiên cứu thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng.

– Quyết định số 208-QĐ, ký ngày 20-6-1954, ân giảm án tử hình xuống tù chung thân cho 1 phạm nhân.

– Quyết định số 209-QĐ, ký ngày 20-6-1954, ân giảm án tử hình xuống tù chung thân cho một phạm nhân.

– Sắc lệnh số 210-SL, ký ngày 20-6-1954, quy định việc thưởng Bảng vàng danh dự và Bảng gia đình vẻ vang cho bộ đội địa phương.

– Quyết định số 211-QĐ, ký ngày 10-7-1954, bác đơn xin ân xá tội cho một phạm nhân.

– Quyết định số 212-QĐ, ký ngày 10-7-1954, ân giảm án xuống 15 nǎm tù cho 1 phạm nhân.

– Quyết định số 213-QĐ, ký ngày 10-7-1954, bác đơn xin ân xá tội của 7 phạm nhân.

– Quyết định số 214-QĐ và quyết định số 215-QĐ, ký ngày 10-7-1954, ân giảm án xuống tù chung thân cho ba phạm nhân .

– Quyết định số 216-QĐ, ký ngày 10-7-1954, bác đơn xin ân xá tội cho một phạm nhân.

– Sắc lệnh số 217-SL, ký ngày 28-9-1954, thǎng cấp Thiếu tướng cho Đại tá Vương Thừa Vũ.

– Sắc lệnh số 218-SL, ký ngày 1-10-1954, không trừng phạt những người đã hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh và cho họ hưởng quyền tự do dân chủ và những người đã bị xử phạt thì nay thả ra và cho hưởng quyền tự do dân chủ.

– Sắc lệnh số 219-SL, ký ngày 2-9-1954, thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

– Sắc lệnh số 220-SL, ký ngày 2-9-1954, thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho các ông:

– Vǎn Tiến Dũng, Thiếu tướng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam .

-Trần Đǎng Ninh, Thiếu tướng, Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp.

-Nguyễn Chánh, Thiếu tướng, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu V.

– Sắc lệnh số 220B-SL, ký ngày 2-9-1954 thưởng Huân chương Độc lập và Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho 6 đơn vị ở Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 220b-SL, ký ngày 18-12-1954, về việc thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba cho nhà in Trần Phú (Nam Bộ), ngành y tế Nam Bộ, ngành vô tuyến điện Nam Bộ và thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho Đài phát thanh tiếng nói Nam Bộ, ngành ấn loát đặc biệt Nam Bộ, Đội bảo vệ Nam Bộ.

NǍM 1955

– Sắc lệnh số 220-SL, ký ngày 14-1-1955, tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho các Đoàn vǎn công Nam Bộ, Quân đội, Thừa Thiên, Lao-Hà.

– Sắc lệnh số 221-SL, ký ngày 22-2-1955, sáp nhập khu Tả ngạn vào Liên khu III, sửa đổi địa giới Liên khu Việt Bắc và Liên khu III, đặt thành phố Hải Phòng và khu Hồng Quảng trực thuộc Chính phủ.

– Sắc lệnh số 224-SL, ký ngày 14-4-1955, truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho cụ Bùi Bằng Đoàn, nguyên Trưởng ban Thường trực Quốc hội khoá I.

– Quyết định số 225-QĐ, ký ngày 27-4-1955, đại xá, ân xá, ân giảm cho một số phạm nhân đã cải tạo tốt.

– Sắc lệnh số 226-SL, ký ngày 29-4-1955, chỉ định Chủ tịch, Phó chủ tịch và các Uỷ viên Uỷ ban quân chính thành phố Hải Phòng.

– Sắc lệnh số 227-SL, ký ngày 29-4-1955, chỉ định Chủ tịch, Phó chủ tịch các Uỷ viên Uỷ ban quân chính khu Hồng Quảng.

– Sắc lệnh số 228-SL, ký ngày 29-4-1955, chỉ định 3 Uỷ viên Uỷ ban hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 229-SL, ký ngày 29-4-1955, ban hành chính sách dân tộc của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

– Sắc lệnh số 230-SL, ký ngày 29-4-1955, ban hành bản quy định về việc thành lập Khu tự trị Thái – Mèo.

– Sắc lệnh số 231-SL, ký ngày 13-5-1955, sửa đổi địa giới một số đơn vị hành chính thuộc hai tỉnh Lào Cai – Yên Bái.

– Sắc lệnh số 232-SL, ký ngày 14-5-1955, bổ nhiệm các ông Trần Quý Hai, Trần Vǎn Trà làm Phó Tổng tham mưu trưởng, Lê Quang Đạo, Song Hào làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị; Nguyễn Thanh Bình, Đinh Đức Thiện làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp Quân đội nhân dân Việt Nam .

– Sắc lệnh số 233-SL, ký ngày 14-6-1955, sửa đổi điều 3 và điều 4 trong Sắc lệnh số 150-SL, ngày 12-4-1953, về việc thành lập Toà án nhân dân đặc biệt trong thời gian phát động giảm tô và cải cách ruộng đất.

– Sắc lệnh số 234-SL, ký ngày 14-6-1955, ban hành chính sách tôn giáo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

cpv.org.vn

Có phê bình phải có tự phê bình (4-7-1955)

Báo Nhân dân thường đǎng những bài của bạn đọc hoặc của phóng viên nhà báo phê bình khuyết điểm trong công tác của một số ngành và địa phương. Nói chung nhiều ý kiến phê bình đều có cǎn cứ và những vấn đề phê bình đều là những vấn đề có quan hệ đến đời sống nhân dân và công tác của Nhà nước.

Song phê bình không phải để có phê bình mà cần phải đi đến sửa chữa những khuyết điểm đã nêu ra nếu những khuyết điểm đó đúng. Sau khi báo nêu ý kiến phê bình đã có một số địa phương và cơ quan tự phê bình công khai trên báo và đề ra phương pháp sửa chữa khuyết điểm, như gần đây Tỉnh uỷ Cao Bằng đã gửi bài tự kiểm thảo đǎng báo. Đó là một điều rất tốt. Nhưng cũng còn nhiều việc phê bình nêu lên báo rồi không thấy những cơ quan hay địa phương có vấn đề lên tiếng, như đối với bài phê bình Tỉnh uỷ Thanh Hoá coi nhẹ lãnh đạo sản xuất, nhà ga Hà Nội có những hiện tượng lãng phí, v.v..

Mong rằng các cơ quan hay địa phương có những vấn đề báo đã nêu lên nên phát biểu ý kiến, nói rõ chỗ nào báo phê bình đúng, chỗ nào sai, và có khuyết điểm thì phải sửa chữa như thế nào. Có như thế thì phê bình mới có ích.

H.B.

——————————-

Báo Nhân dân, số 488, ngày 4-7-1955.
cpv.org.vn

Lực lượng to lớn của công nhân (9-8-1955)

Muốn cải thiện đời sống thì trước phải khôi phục và phát triển kinh tế.

Muốn khôi phục và phát triển kinh tế thì phải thi đua tăng gia và tiết kiệm.

Muốn thi đua có kết quả tốt thì tiết kiệm và tăng gia phải đi đôi với nhau.

Công nhân ta hiểu rõ điều đó, cho nên trong các ngành và các đợt thi đua, anh chị em đều cố gắng và đã thu được kết quả khá về cả hai mặt tăng gia và tiết kiệm. Sau đây là vài kiểu mẫu:

– Công nhân nhà máy xe lửa Hà Nội – Từ 22-5 đến 20-7, năng suất đã tăng từ 10 đến 60 phần 100. Đã tiết kiệm được hơn 5.280 giờ và 212 vạn đồng nguyên liệu, vật liệu.

– Công nhân Lộ Chí (Cẩm Phả) – Từ 1 đến 20-7 đã tiết kiệm được 31 tấn than, đã lợi dụng lúc rảnh mà thu nhặt được 29 toa xe hỏng, 150 kilô bùloong, 90 thước đường goòng, v.v..

– Công nhân Cẩm Phả – Đã vượt khó khăn, lắp lại máy trục và đường goòng.

Lúc đầu có người nói phải 6, 7 tháng, mới làm xong. Cán bộ cũng nói phải 45 ngày. Nhưng với sáng kiến và quyết tâm, anh chị em đã làm xong trong 20 ngày, tiết kiệm được hơn 1.170 công và hơn 832 vạn đồng nguyên liệu, vật liệu.

Đã sẵn lòng nồng nàn yêu nước và quyết tâm bền bỉ thi đua, nay lại có các nước bạn giúp máy móc và kỹ thuật, chắc rằng anh chị em lao động (trước tiên là công nhân) sẽ làm trọn nhiệm vụ vẻ vang là khôi phục và phát triển kinh tế nước nhà. Rồi do đó mà mọi người có công ăn việc làm, no cơm ấm áo, và tiến đến nước mạnh dân giàu.

Anh chị em công nhân hăng hái thi đua tăng gia và tiết kiệm, tức là góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta.

C.B.

——————————

Báo Nhân dân, số 524, ngày 9-8-1955.
cpv.org.vn

Kiều bào yêu nước (15-8-1955)

Kiều bào ta ở trọ các nước tư bản, thường bị uy hiếp hoặc lợi dụng. Nhưng tối đại đa số kiều bào là những người yêu nước, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh cho Tổ quốc.

Vừa rồi, gần 2.000 kiều bào ở Pháp, đủ các tầng lớp, trai có gái có, già có trẻ có, đã ký tên đòi đương cục miền Nam hiệp thương với Chính phủ ta, và đòi Chính phủ Pháp phải làm đúng Hiệp định Giơnevơ. Vậy có thơ rằng:

Gửi thân đất khách quê người,
Nhìn về cố quốc cách vời trùng dương
Càng nhìn càng nhớ, càng thương,
Càng mong Tổ quốc thịnh cường vẻ vang,
Càng cǎm những kẻ gian ngoan
Nghe lời bọn Mỹ phá ngang hoà bình.
Mọi người đoàn kết đấu tranh,
Đòi Ngô Đình Diệm tán thành hiệp thương.
Hoà bình, thống nhất, độc lập, tự cường,
Sao vàng cờ đỏ dẫn đường chúng ta.
Mấy câu thuận miệng nôm na:
“Một lòng yêu nước bài ca kiều bào”.

C.B.

——————————-

Báo Nhân dân, số 530, ngày 15-8-1955.
cpv.org.vn

Kỷ niệm cách mạng Tháng Tám (19-8-1955)

Suốt trong 80 nǎm nước ta bị Pháp chiếm, nhân dân ta từ Nam đến Bắc đã nhiều lần nổi dậy chống giặc ngoại xâm. Nhưng vì bọn vua quan hèn mạt, câu kết với địch, phản nước hại dân, cho nên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại.

Cách mạng Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, dạy cho họ cách tổ chức, đấu tranh và giành thắng lợi. Nhờ vậy mà ta có Đảng tiên phong, có Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do, làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi.

Lần đầu tiên trong lịch sử nhân dân ta được hoàn toàn giải phóng: đã phá tan cái xiềng xích nô lệ thực dân, đã đập đổ cái chế độ thối nát của vua quan phong kiến, đã lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đó dân ta làm chủ nước ta.

Phản bội những điều ước chúng đã ký kết với ta, thực dân Pháp lại gây chiến tranh xâm lược. Một lần nữa, những bọn bán nước cầu vinh, lại cong đuôi theo giặc!

Nhưng chí cǎm thù giặc ngoại xâm, và lòng nồng nàn yêu nước đã làm cho nhân dân ta vùng dậy, từ Bắc đến Nam triệu người như một, chống kẻ thù chung.

Sự đoàn kết nhất trí giữa Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta trở thành một lực lượng vô cùng to lớn. Nó giúp ta vượt tất cả mọi khó khǎn gian khổ. Nó rèn luyện cho chiến sĩ, cán bộ và đồng bào ta thành những người anh hùng. Do đó chúng ta đã đánh thắng cái liên minh ghê tởm giữa thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai.

Kháng chiến thắng lợi, sự nghiệp vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám được giữ vững và phát triển.

10 nǎm trước đây, chúng ta hầu như cô đơn, chỉ nhờ sức mạnh đoàn kết mà cách mạng thắng lợi. Ngày nay, nhân dân ta lại có đại gia đình gồm 900 triệu anh em từ á sang Âu và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới ủng hộ. Cho nên cuộc đấu tranh chính trị để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước tuy nhiều khó khǎn, nhưng chúng ta nhất định sẽ thắng lợi.

Tinh thần Cách mạng Tháng Tám muôn nǎm!

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ muôn nǎm!

C.B.

—————————–

Báo Nhân dân, số 534, ngày 19-8-1955.
cpv.org.vn

Chúc mừng Đại hội Mặt trận (5-9-1955)

Nhân dân ta vừa vui mừng kỷ niệm 10 năm thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hôm nay, nhân dân ta lại vui mừng chúc Đại hội Mặt trận (22) khai mạc. Hai ngày lịch sử ấy quan hệ mật thiết với nhau:

Sau 80 năm dưới ách nô lệ Pháp và những năm dưới ách nô lệ Nhật, nhân dân ta đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận Việt Minh, đã đập tan xiềng xích thực dân và phong kiến. Cách mạng Tháng Tám đã thành công vẻ vang.

Trước hoạ chiến tranh xâm lược do thực dân Pháp cùng đế quốc Mỹ gây ra, nhân dân ta đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận thống nhất Việt Minh – Liên Việt đã đánh thắng giặc ngoại xâm. Kháng chiến đã thắng lợi rực rỡ.

Ngày nay, hoà bình đã lập lại nhưng chưa củng cố, nước ta tạm chia làm hai miền và đồng bào miền Nam đang sống trong cảnh lửa nóng nước sâu. Mặt trận dân tộc thống nhất cần mở rộng hơn nữa, củng cố hơn nữa, đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc, yêu hoà bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, từng lớp nào và quá khứ họ đã hợp tác với phe nào.

Trên nền tảng vững mạnh là lực lượng vô địch của tối đại đa số nhân dân ta (tức là giai cấp công, nông), với một cương lĩnh rộng rãi và một chính sách đúng đắn, với sự đoàn kết nhất trí của tất cả những người xứng đáng là con Lạc cháu Hồng – Mặt trận nhất định sẽ thành công trong việc đánh tan âm mưu Mỹ và bè lũ tay sai của chúng và thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta.

Cuộc đấu tranh sẽ rất gay go và gian khổ. Nhưng với quyết tâm và cố gắng của mọi người, thắng lợi nhất định về tay chúng ta.

Kính chúc các đại biểu cố gắng!

Kính chúc Đại hội thành công.

C.B.

————————–

Báo Nhân dân, số 551, ngày 5-9-1955.

(22) Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc họp tại Hà Nội, từ ngày 5 đến ngày 10-9-1955, đã quyết định mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thay Mặt trận Liên – Việt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và 360 đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân, các chính đảng, các dân tộc, các tôn giáo… và kiều bào ở nước ngoài đã về dự Đại hội.

Đại hội đã thảo luận, thông qua Báo cáo dự thảo cương lĩnh và Điều lệ mới.
Đại hội nêu rõ một bài học quý báu của dân tộc ta trong bốn nghìn nǎm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước là toàn dân đoàn kết.

Đại hội đã bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự, đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch và 64 vị vào ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tr.61.

cpv.org.vn

Kỷ niệm 10 nǎm bình dân học vụ (8-9-1955)

Dốt thì dại, dại thì hèn. Vì không chịu dại, không chịu hèn, cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới.

Trong thời kỳ nô lệ, chính sách ngu dân của đế quốc Pháp đã hãm 95 phần 100 nhân dân ta vào nạn mù chữ.

Cách mạng Tháng Tám thành công, tinh thần ham học của đồng bào ta được cởi mở, cán bộ thì hăng hái phục vụ nhân dân. Do đó, trong một năm, bình dân học vụ đã dạy được hơn ba triệu đồng bào biết đọc, biết viết.

Kháng chiến bùng nổ, khó khăn rất nhiều. Nhưng, hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, cán bộ bình dân học vụ đã cố gắng khắc phục khó khăn, anh dũng chiến đấu chống giặc dốt. Theo báo cáo của Nha bình dân học vụ thì trong những năm kháng chiến đã có:

Hơn 252.000 lớp sơ cấp với non 7.907.900 học trò.

Hơn 103.500 lớp dự bị với hơn 2.513.000 học trò.

1.580 lớp bổ túc với non 77.700 học trò.

Vừa ra sức đánh giặc, cứu nước, vừa ra sức học, đó là một thành tích vẻ vang mà toàn thế giới đã khen phục nhân dân ta.

Từ ngày hoà bình trở lại, bình dân học vụ ở miền Bắc đã dạy được:

Hơn 611.000 học trò sơ cấp.

Hơn 528.000 học trò dự bị.

69.000 học trò bổ túc.

Nhân dịp này, báo Nhân dân thành thật chúc mừng và khen ngợi những anh chị em giáo viên và cán bộ bình dân học vụ đã xứng đáng là những “Anh hùng vô danh”, đồng thời cũng chúc mừng những đồng bào đã cố gắng đi học.

Cố nhiên, bên những thành tích tốt đẹp, việc tổ chức và việc dạy học còn có những khuyết điểm cần phải sửa chữa để tiến bộ hơn nữa.

Chúng tôi đề nghị: Từ nay về sau, chương trình của bình dân học vụ cần ăn khớp với chính sách chung là củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất.

Nội dung dạy và học cần liên hệ thiết thực với những công tác chung: Củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, thi đua yêu nước, khôi phục kinh tế, củng cố quốc phòng, phòng gian, bảo mật, v.v..

Bình dân học vụ không những dạy đọc, dạy viết, mà còn phải chú trọng dạy đạo đức công dân. Như vậy bình dân học vụ sẽ góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước.

C.B.

——————————

Báo Nhân dân, số 554, ngày 8-9-1955.
cpv.org.vn

Gửi các em học sinh (24-10-1955)

Nhân dịp ngày mở trường, báo Nhân dân thân ái chào mừng các em và có mấy lời nhắn nhủ các em:

Biết rằng bố mẹ, thầy giáo, Đảng và Chính phủ đều quan tâm đến mình – chắc các em sẽ vui vẻ và hăng hái học tập.

Giáo dục các em là việc CHUNG của gia đình, trường học và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách; trước hết là phải làm gương mẫu cho các em trước mọi việc.

Nước ta mới giải phóng được một năm, chế độ cũ của thực dân và phong kiến không khỏi còn để lại ít nhiều ảnh hưởng không tốt trong những đầu óc trẻ non. Vậy chúng ta phải dùng tinh thần và đạo đức mới để rửa gọt những ảnh hưởng ấy. Đối với các em, việc giáo dục gồm có:

– Thể dục: để làm cho thân thể mạnh khoẻ, đồng thời cần giữ gìn vệ sinh riêng và vệ sinh chung.

– Trí dục: ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới.

– Mỹ dục: để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp.

– Đức dục: là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công, (5 cái yêu).

Các em cần rèn luyện cái đức tính thành thật và dũng cảm.

Ở trường, thì kính thầy, yêu bạn, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau.

Ở nhà, thì yêu kính và giúp đỡ cha mẹ.

Ở xã hội, thì tuỳ sức mình mà tham gia những việc có ích lợi chung.

Đảng, Chính phủ và nhân dân ta lo cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, tăng cường quốc phòng, củng cố miền Bắc… để thống nhất nước nhà – đều nhằm mục đích xây dựng cho các em một đời sống tươi vui, sung sướng. Gia đình, trường học và xã hội chăm lo giáo dục, đều nhằm mục đích làm cho các em mai sau trở nên những công dân tốt, những cán bộ tốt, những người chủ tốt của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Chúc các em thi đua học tập và tiến bộ, cho xứng đáng là cháu ngoan của Bác Hồ!

(Sẵn đây, chúng tôi đề nghị Bộ Giáo dục cùng các thầy giáo và các đại biểu của học sinh xét lại “10 điều ghi nhớ” của tiểu học và “12 điều ghi nhớ” của trung học, để cho các em học sinh dễ ghi nhớ và dễ thực hành hơn.)

C.B.

——————————–

Báo Nhân dân, số 600, ngày 24-10-1955.
cpv.org.vn

Hoan nghênh Hội nghị cán bộ quản lý xí nghiệp (9-11-1955)

Lần này là lần đầu tiên hơn 150 cán bộ các xí nghiệp khai hội, dưới sự hướng dẫn của Bộ Công nghiệp, để nghiên cứu cách quản lý xí nghiệp cho tốt. Đó là một việc rất có ích, rất hợp thời.

Nói chung, việc quản lý xí nghiệp trong thời kỳ vừa qua, cán bộ ta đã cố gắng và đã thu được thành tích khá nhiều, nhưng kiểm điểm lại thì khuyết điểm cũng không ít.

Cán bộ quản lý cần nhận thật rõ rằng: công nghiệp và nông nghiệp là như hai chân của nền kinh tế nước nhà. Chân phải thật vững thật khoẻ, thì kinh tế mới tiến bộ thuận lợi và nhanh chóng.

Đảng và Chính phủ ta có chính sách và đường lối đúng đắn. Công nhân ta rất hăng hái cần cù. Các nước bạn ra sức giúp đỡ ta về mọi mặt. Thế là ta có đủ điều kiện để khôi phục và phát triển kinh tế công nghiệp (và nông nghiệp).

Đảng và Chính phủ tin cậy cán bộ, giao cho cán bộ nhiệm vụ chủ chốt, nhiệm vụ quản lý. Đó là một nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang. Cán bộ ta phải luôn luôn cố gắng làm trọn nhiệm vụ, mới xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, của Chính phủ và của nhân dân. Muốn như vậy thì cán bộ ta phải cố gắng quản lý thật tốt các xí nghiệp, phải bảo đảm kinh doanh có lãi cho nước nhà. Để đạt mục đích ấy – mà mục đích ấy nhất định phải đạt cho kỳ được – thì cán bộ quản lý:

– Phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính.

– Phải thật sự chống bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí. Phải nâng cao cảnh giác, bảo vệ xí nghiệp.

– Phải khéo đoàn kết và lãnh đạo công nhân; mọi việc đều dựa vào lòng nồng nàn yêu nước và năng lực sáng tạo dồi dào của công nhân; dùng phương pháp dân chủ mà đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm.

– Phải thật sự săn sóc đến đời sống tinh thần và vật chất của công nhân.

– Phải cố gắng nghiên cứu và học tập để tiến bộ.

Trong Hội nghị này, các đại biểu nên thật thà tự phê bình và phê bình, cùng nhau trao đổi kinh nghiệm. Kinh nghiệm xấu để giúp nhau sửa chữa. Kinh nghiệm tốt để học tập lẫn nhau. Đồng thời, nên ký giao kèo thiết thực cùng nhau thi đua thực hiện đầy đủ kế hoạch kinh doanh năm 1956.

Làm được những điều trên đây, tức là Hội nghị thành công tốt đẹp.

Chúc các đại biểu mạnh khoẻ và cố gắng.

C.B.

—————————

Báo Nhân dân, số 616, ngày 9-11-1955.
cpv.org.vn