Thư viện

Nữ chiến sĩ và buổi trực đầu tiên

QĐND – Mười bảy tuổi, chị Nguyễn Thị Hường (Thanh Bình, Thanh Hà, Hải Dương) nhập ngũ vào Đoàn Thông tin Sóng Điện (Trung đoàn 26, Quân chủng Phòng không-Không quân). Tròn một tuổi quân, chị được thủ trưởng đơn vị giao nhiệm vụ chính thức đảm nhiệm ca trực chính. Ngày đầu tiên đảm nhiệm ca trực chính lại phụ trách mạng tiêu đồ 292 với chị thật nhiều lo lắng. Đó là ca trực tối 18-12-1972. 18 giờ 30 phút, chị nhận tín hiệu đài bạn báo về máy bay địch đang bay vào Hà Nội. Mọi lần, tín hiệu đài bạn thường ngân vang, trong trẻo; còn lần này sao có vẻ dồn dập, khẩn trương đến khác lạ. Tiếng rào rào nhiễu của máy thu mỗi lúc một gia tăng, tín hiệu đài bạn chập chờn lúc được, lúc mất. Chị thấy có nhiều điểm rất khác lạ so với các lần trước đây. Linh tính như mách bảo chị có vấn đề gì đó rất hệ trọng. Bằng kiến thức và kinh nghiệm đã học, chị bình tĩnh tập trung nghe tín hiệu từ đài bạn một cách chuẩn xác nhất. Đang tập trung nghe để đánh dấu đường bay trên bản đồ thì chị nhận tín hiệu tình báo từ đài bạn phát về có mục tiêu. Chị nhanh tay đánh dấu vị trí của mục tiêu lên tấm bản đồ mi ca và báo cáo chỉ huy: Máy bay B-52 đang bay vào Hà Nội. Ngay lập tức, sở chỉ huy báo động toàn đơn vị vào cấp I, không khí tại sở chỉ huy bỗng chốc nhộn nhịp, khẩn trương và rất trang nghiêm…

Chiến sĩ thông tin Nguyễn Thị Hường (Ảnh chụp lại tại Phòng truyền thống Lữ đoàn 26).

Máy bay đến nhiều, tung nhiễu dày đặc, tín hiệu chuyển về dồn dập, chập chờn. Một tay chị kẹp 2 bút chì để đánh dấu tọa độ đường bay, một tay áp chặt tai nghe để nghe rõ. Sau khi mạng của chị phát hiện được tốp máy bay B-52 đầu tiên thì các mạng khác sau đó cũng bắt được tín hiệu tương tự. Lúc này, tín hiệu tình báo kéo đến nhiều, đánh dấu không kịp, tốp này mất, tốp khác xuất hiện, chúng dày đặc tạo nên những đường ngoằn nghèo, đan quyện vào nhau, lúc chụm vào, lúc tách ra. Bàn tay chị di chiếc bút chì thoăn thoắt. Một đồng chí cán bộ trong sở chỉ huy vỗ nhẹ vào vai chị tỏ vẻ hài lòng làm chị càng vững tin hơn. Phiên trực lẽ ra kết thúc lúc 22 giờ, nhưng hơn 4 giờ sáng ngày 19-12 các chị mới được lệnh thay ca. Như vậy, cả ca trực hôm ấy kéo dài hơn 8 giờ, gấp đôi ngày thường. Rời khỏi sở chỉ huy, người nào cũng thấm mệt, song ai cũng hồ hởi, phấn khởi khi được chỉ huy đơn vị nhận xét: Ca trực đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong buổi đầu tiên đảm nhiệm ca trực chính chị đã thu tín hiệu chính xác tốp máy bay B-52 đầu tiên bay vào Hà Nội, góp phần giúp thủ trưởng các cấp chỉ huy kịp thời các lực lượng phòng không – không quân đánh trả máy bay địch.

Nhớ lại những năm tháng hào hùng của tuổi trẻ, nhất là 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972, chị nói: “Đó là những năm tháng đẹp nhất của mình vì đã hiến dâng tuổi trẻ vào chiến thắng chung của dân tộc, cùng quân dân Thủ đô viết nên bản hùng ca “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

QUÝ HOÀNG-XUÂN THÚ
qdnd.vn

Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ ‘pháo đài bay’ B52

(VTC News) – B-52 giống máy bay dân dụng nhưng nó lại thực sự là một “pháo đài bay” bất khả xâm phạm.

Tôi cứ nhớ mãi cái hồi còn bé xíu, mới vào lớp 1, ngồi trên xe công nông đầu dọc bố tôi lái, chạy tưng tưng trên con đê ven sông Trà Lý thuộc huyện Thái Thụy (Thái Bình), bỗng có tiếng loa truyền thanh phát tiếng máy bay rít, tiếng loa gọi người dân xuống hầm, rồi sau đó là tiếng trả lời phỏng vấn của anh hùng Phạm Tuân.Còn bé quá, nên tôi không biết ông Phạm Tuân là ông nào. Lớn lên chút mới biết ông là người vĩ đại của đất nước, từng lái máy bay bắn hạ B-52 trên bầu trời miền Bắc, rồi sang tận nước Nga xa xôi bay trên tàu vũ trụ.

Bố tôi nói với giọng tự hào: “Ông Phạm Tuân ở bên kia con sông Trà Lý con ạ. Cùng dòng giống cụ Phạm Tu nhà mình”. Trong trái tim bất kỳ đứa trẻ nào ở nước Việt, anh hùng Phạm Tuân cũng là một dấu ấn mạnh mẽ. Gặp được ông là ước vọng của nhiều người.

Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ 'pháo đài bay' B52

Anh hùng Phạm Tuân

Nhấc điện thoại gọi người hùng, mà tôi thực sự đắn đo. “Đúng 2 giờ chiều nay cháu đến nhà chú nhé. Cháu cứ vào ngõ 111 phố Cù Chính Lan, hỏi nhà chú nhé”. Ông chỉ nói vậy, rồi cúp máy. Giọng một vị trung tướng quân đội, người 3 lần được phong anh hùng ngắn gọn, chính xác, nhưng ấm áp.

Tôi đến đúng giờ. Ngôi nhà khang trang gần cuối con ngõ rộng mở cổng toang hoang. Nhìn cánh cổng có lẽ cũng hình dung ra tấm lòng rộng mở của vị tướng. Thấy khách, ông từ trong phòng đi ra. Trà hoa nhài đã pha sẵn, mùi hương ngào ngạt lan tỏa.

Ông bắt tay nhà báo thân tình như con cháu. Ông bảo: “Tuổi trẻ mà tôn trọng giờ giấc thế là tốt đấy. Thế này nhé. Có hàng ngàn nhà báo, hàng ngàn bài báo viết về chú rồi. Nhưng chú thực sự chưa hài lòng. Kể cả một số cuốn sách viết về chú, chú cũng vẫn chưa thấy thấm. Viết về phi công khó lắm cháu ạ. Nhà văn nhà báo có ngồi trên máy bay chiến đấu, lượn chín tầng mây đâu mà biết tả nó thế nào. Sau này chú sẽ tự viết về chú”.

Người anh hùng đây ư? Con người cả thế giới ngưỡng mộ đây ư? Ông thật giản dị, dễ gần, dễ mến. Ông không hỏi nhà báo tên gì, không đòi xem thẻ. Ông xồng xộc lôi tuột tôi lên tầng 4. Vừa trèo cầu thang hùng hục, ông vừa bảo: “Cháu phải xem cái này cháu mới hiểu được con người thật của chú”.

Tôi rảo bước theo người hùng. Vừa trèo cầu thang vừa đoán mò. Chắc là có một căn phòng bí mật, với một số loại tài liệu, vũ khí bí mật, hoặc thứ gì đó liên quan đến vũ trụ, hàng không.

Nhưng không phải. Tôi lạc vào một thế giới cổ tích, một “khu rừng” lan. Giăng mắc khắp ban công tầng 4 là các giò lan, chậu lan, đủ các loài, với cả trăm loại. Dường như loài hoa kiêu kỳ này tụ về từ khắp đất nước trên ban công nhà vị tướng.

Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ 'pháo đài bay' B52Anh hùng Phạm Tuân trên tàu vũ trụ

Ai cũng nghĩ rằng, một phi công vĩ đại, một nhà du hành vũ trụ, thì mang đầu óc khô khan, của các con số, kinh độ, vĩ độ, của sự chính xác tuyệt đối. Nhưng con người ấy thật lãng mạn. Người anh hùng bảo: “Ngày chú ngó vườn lan vài lần. Đi đâu xa vài hôm là nhớ vườn lan. Rồi còn bọn chim nữa. Không nghe thấy chúng nó hót thì cứ thấy thiêu thiếu một điều gì đó”.

“Sắp đến ngày kỷ niệm Điện Biên Phủ trên không nhỉ? Chắc nhà báo lại hỏi chuyện chú diệt B-52 chứ gì? Có gì đâu mà nói. Mất có mấy giây là hạ nó, thì kể cũng chỉ mấy giây là hết chuyện” – anh hùng Phạm Tuân dường như hiểu được suy nghĩ của tất cả những người tiếp xúc với ông, đặc biệt là các nhà báo khi gặp ông.

Rồi ông lại tiếp tục: “Hỏi chú về chuyện đó thì chú nói, chứ hỏi chuyện hiện tại là chú không nói đâu nhé. Về hưu rồi, không có thông tin gì, thì sao dám nói, sao góp ý được. Mối quan tâm bây giờ của chú là cái vợt bóng bàn, cái vợt tenis, rồi mấy chiếc cần câu. Chú đi câu cả ngày cả đêm không chán”.

Người anh hùng từng bay vào vũ trụ, bắn hạ pháo đài bay, vẫn chân chất, giản đơn, bình dị như những con người đến từ quê lúa. Ông bảo: “Người ta cứ nghĩ máy bay B52 nó là thứ gì đó ghê gớm lắm, là thứ bất khả xâm phạm. Thực ra không phải vậy. B52 giống máy bay dân dụng hơn là máy bay chiến đấu. Mà sự thực nó là máy bay dân dụng chở vũ khí…”.

Lời nói của người anh hùng khiến tôi hết sức ngạc nhiên. Nhưng có nghe ông lý giải thì mới hiểu quả đúng là như vậy.

Rồi người anh hùng lại đúc kết thêm điều nữa khiến tôi ngã ngửa: “Cháu có tin không? Người Việt mình lái máy bay chiến đấu Mig 21 không kém người Nga, sử dụng tên lửa Sam 2 cũng chẳng kém người Nga. Đừng nghĩ người Việt là nông dân mắt toét bắn hạ pháo đài bay”.

Tôi đang không hiểu gì, thì ông giải thích: “Người Nga sản xuất ra thứ đó, những thứ vũ khí hiện đại nhất thế giới, nhưng người Việt Nam mới là người sử dụng. Người Nga chưa hề sử dụng trong thực tế chiến đấu”. Hóa ra là vậy!

Không để tôi hỏi thêm được câu nào, anh hùng Phạm Tuân bảo: “Như chú đã nói với cháu, chú bắn B-52 chỉ mất ít giây, nhưng thực ra, để hạ được nó, là cả một quá trình tích lũy kinh nghiệm, thực tế chiến đấu ngay tại chiến trường. Những kinh nghiệm đó ngay cả phi công Mỹ chưa chắc có được. Nó giống như đại chiến Xích Bích ấy. Chuẩn bị thì lâu, thì khó, chứ vào trận thì chớp mắt”.

Anh hùng Phạm Tuân bảo rằng, khi đó, trong suy nghĩ của người Mỹ, máy bay B-52 cõng bom đi thả như kiểu rong chơi. Nó ung dung chở bom vào rải, rồi ung dung đi ra, mà không sợ bất kỳ thứ vũ khí gì, bởi trên chiến trường không có đối thủ.

Mặc dù, tất cả các loại máy bay của địch đều đã bị không quân ta bắn hạ, nhưng B-52 vẫn là thách thức lớn. Loại máy bay này ném bom qua màn hình ra-đa, hệ thống chống nhiễu tích cực, nhiễu cản ra-đa trên không và trên mặt đất, bay vào ban đêm, lại có một dàn F4 yểm trợ… Nó giống máy bay dân dụng nhưng nó lại thực sự là một “pháo đài bay bất khả xâm phạm”.

Nhưng người Mỹ không biết rằng người Việt đã có sự chuẩn bị từ rất sớm. Bác Hồ đã nhận định rằng, trước sau người Mỹ cũng dùng B52 rải thảm miền Bắc. Do đó, lực lượng không quân của ta đã nghiên cứu rất kỹ về nó.

Phi công Phạm Tuân khi đó cùng đồng đội bí mật về Quảng Bình, Quảng Trị, trèo lên các đỉnh núi để quan sát, ghi chép, tìm hiểu quy luật hoạt động, quy luật bay của B-52.

Ông cùng đồng đội luyện tập cất cánh Mig 21 trong điều kiện ban đêm, đường băng ngắn, đánh bằng mắt thường, rồi bay trong vệt khói máy bay vận tải. Anh hùng Phạm Tuân được thực hành trong điều kiện an toàn rất thấp. Nhưng ông cùng đồng đội đã làm được những điều tưởng như không thể.

Tập luyện thuần thục rồi, các phi công của ta đã xuất kích truy đuổi B-52 trên bầu trời khu 4 và Bắc Trường Sơn.

Đêm 18-12-1972, có tới 50 lượt B-52 từ nhiều hướng đánh vào Hà Nội. Tất cả các sân bay, trạm ra-đa đều bị chúng đánh phá. Các phi công của ta vẫn xuất kích trong hoàn cảnh sân bay lởm chởm để truy tìm B-52.

Tìm được chúng qua mắt thường từ đèn dạ hàng. Nhưng khi bật ra-đa thì lộ mục tiêu. Phi công điều khiển B-52 tắt đèn và F-4 truy kích. Tất cả phi công của ta đều phải tìm cách thoát thân nếu không muốn tan xác.

Trời đêm, đường băng hỏng, không có đèn chiếu sáng, máy bay hết dầu, phi công của ta phải nhảy dù, hoặc cố gắng hạ cánh. Một số máy bay chiến đấu bị hỏng khi đáp sân bay lao vào hố bom. Chiếc Mig 21 của anh hùng Phạm Tuân cũng lộn nhào trong một lần hạ cánh xuống đường băng trúng hố bom.

Nhiều ngày trôi qua, “pháo đài bay” B-52 vẫn như cái gai trước mắt. Chúng tha hồ làm mưa làm gió trên bầu trời Hà Nội.

Anh hùng Phạm Tuân cùng đồng đội khi đó đều xác định sẵn sàng hy sinh. Nếu tên lửa không diệt được “pháo đài bay”, thì sẽ biến chiếc Mig 21 của mình thành quả tên lửa.

Và đúng như lời thề, phi công Vũ Xuân Thiều sau khi bắn tên lửa, đã lái máy bay lao thẳng vào B-52.

Còn tiếp…

Dương Quân
vtc.vn

“Siêu pháo đài bay” ăn đòn cao xạ Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Trung tướng Dương Đức Hoà, Uỷ viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 2 viết về chiến công bắn rơi máy bay B-52 bằng pháo cao xạ của Lữ đoàn Pháo phòng không 297, Quân khu 2 và những bài học kinh nghiệm rút ra từ chiến thắng này.

Trung tướng Dương Đức Hòa, Tư lệnh Quân khu 2 kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu của Lữ đoàn Phòng không 297, Quân khu 2. – Ảnh: VGP/Minh Diễm

Lữ đoàn Pháo phòng không 297 – Quân khu 2 ngày nay (tiền thân là Trung đoàn 256- Quân khu Việt Bắc năm xưa) được thành lập ngày 27/6/1972. Ra đời vào thời điểm ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong chiến dịch 12 ngày đêm (18-29/12/1972), Lữ đoàn đã cùng lực lượng phòng không cả nước tiêu diệt nhiều máy bay Mỹ các loại, trực tiếp bắn rơi 2 siêu pháo đài bay B-52 trong đêm 24 và 26/12/1972.

Quyết tâm bắn rơi siêu pháo đài bay

Ngày 05/12/1972, sau khi có công điện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Việt Bắc, Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 256 xác định rõ quyết tâm, khẩn trương triển khai kế hoạch luyện tập phương án, động viên cán bộ, chiến sĩ tranh thủ ngày đêm luyện tập, đặc biệt là phương án và cách đánh B-52.

Ngay từ những ngày đầu tháng 12, lãnh đạo Quân khu và Quân chủng Phòng không – Không quân đã trực tiếp xuống từng trận địa pháo 100 ly động viên cán bộ, chiến sĩ, chỉ đạo hiệu chỉnh khí tài, để đảm bảo phát hiện B-52 được từ xa.

Đêm 19, rạng sáng ngày 20/12, địch cho nhiều tốp máy bay F4 và các loại máy bay chiến thuật khác quần đảo xung quanh các trận địa pháo của Trung đoàn. Sáng ngày 20/12, 5 tốp máy bay cùng nhiều máy bay cường kích chiến thuật ồ ạt ném gần 1.000 quả bom xuống 10 điểm của thành phố Thái Nguyên.

Tại trận địa của Đại đội 5 ở xã Quang Vinh, địch thả hơn 100 quả bom quanh trận địa, Trung đoàn cùng với lực lượng phòng không của tỉnh Thái Nguyên đánh trả quyết liệt nhưng phần vì hỏa lực hạn chế, phần do kinh nghiệm chưa có nên không bắn hạ được chiếc B-52 nào.

Chiều ngày 24/12, Trung đoàn được lệnh của Quân khu sẵn sàng đánh B-52. Ban chỉ huy Trung đoàn đã cử cán bộ xuống kiểm tra, chỉ đạo động viên các Đại đội cao xạ 100 ly chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, quyết tâm “bắn rơi siêu pháo đài bay” của địch.

Lúc 19 giờ 45 phút ngày 24/12, Sở chỉ huy Trung đoàn nhận được điện báo từ trạm quan sát Đèo Khế và núi Pháo (Đại Từ), “có B52 từ hướng Tây – Tây Bắc đang bay vào thành phố Thái Nguyên theo trục đường 1A”. Pháo thủ các trận địa pháo 100mm, Đại đội 3, 5, 9 bình tĩnh ngồi trực trên mâm pháo, các quả đạn pháo 100mm đã nằm gọn trên từng máng pháo, sẵn sàng rời khỏi nòng.

Bốn chiếc máy bay F4 bay trước, Sở chỉ huy Trung đoàn xác định B52 sắp đến tầm bắn. Với tính quyết đoán, mau lẹ của người chỉ huy, Trung đoàn trưởng Đồng Quốc Huệ ra lệnh như thét vào máy 2W “Bỏ F4, đánh B52, bắn loạt, bắn nhanh… bắn!”, 18 nòng pháo đồng loạt gầm lên dữ dội, dựng thành màn đạn bắn cản khá tập trung, chớp lửa đầu nòng sáng rực trên các trận địa, các loạt đạn liên tục trút vào đội hình B52.

Kết quả, chỉ với 12 quả đạn pháo 100mm, cán bộ chiến sĩ Đại đội 5 đã tiêu diệt chiếc B-52 to xác trên 100 tấn. Đây là đơn vị đầu tiên trong toàn quân bắn rơi siêu pháo đài bay bằng pháo cao xạ 100mm – kết quả của những ngày đêm dày công huấn luyện chiến thuật cách đánh B52.

Ngày 25/12, theo chỉ lệnh của Tư lệnh Quân khu, tất cả các đơn vị phòng không tham gia chiến đấu đã tiến hành tổ chức rút kinh nghiệm từ chiến thắng của Đại đội 5, Trung đoàn pháo cao xạ 256 để tìm ra cách đánh hiệu quả trước thủ đoạn, chiến thuật nham hiểm và các trang bị kỹ thuật hiện đại của không quân Mỹ. Các đơn vị trong Trung đoàn khẩn trương củng cố lực lượng, công sự trận địa chuẩn bị cho trận chiến đấu mới.

Đêm ngày 26/12, Mỹ huy động 105 máy bay B52 và 120 chiếc máy bay chiến thuật điên cuồng đánh phá vào khu vực Trung đoàn đảm nhiệm bảo vệ. Ngay đợt đầu không kích, địch đã làm hỏng 2 khẩu pháo và 2 chiến sĩ bị thương. Song sự điên cuồng của giặc Mỹ không làm lung lay ý chí của cán bộ, chiến sĩ, với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đặc biệt khi địch oanh tạc dữ dội vào khu vực trận địa Đại đội 5.

Lúc này, Đại đội 5 mất hoàn toàn toàn thông tin liên lạc với Sở chỉ huy Trung  đoàn, nhưng với tính quyết đoán của người Đại đội trưởng trong chiến đấu, đồng chí Nguyễn Công Tuấn đã kịp thời động viên cán bộ, chiến sĩ tiếp tục đánh địch theo phương án 2.

Những quả đạn pháo 100mm đã được cắt ngòi nổ ở các độ cao 14, 12, 10 km, bắn liên tục tạo thành lưới lửa đạn dày đặc bao vây kẻ thù. Kết quả, các cán bộ, chiến sĩ Đại đội 5 lại lập công xuất sắc, tiêu diệt chiếc B-52 thứ hai bằng pháo cao xạ 100mm.

Chiến công này đã làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn, Trung đoàn đã được Nhà nước tặng Huân chương Quân công hạng Ba và Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng gửi lẵng hoa chúc mừng.

Sức mạnh chính trị tinh thần là yếu tố tiên quyết

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay, lực lượng vũ trang Quân khu 2 cần phát huy tốt một số bài học và kinh nghiệm rút ra từ chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”.

Một là, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng xây dựng ý chí quyết tâm, tinh thần chiến đấu  dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng cho cán bộ, chiến sĩ.

Sức mạnh chính trị tinh thần tr­ước hết là tinh thần yêu nước được thể hiện dám đánh, quyết đánh và quyết thắng. Đó là yếu tố tiên quyết, chỉ có dám đánh, quyết đánh thì chúng ta mới tìm ra đ­ược phương pháp, cách đánh hay, hiệu quả chiến đấu cao; ý chí dám đánh, quyết đánh trở thành một lực l­ượng vật chất vô cùng to lớn giúp ta chiến thắng mọi kẻ thù. Sức mạnh chính trị tinh thần phải được biểu hiện ở tinh thần v­ượt mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, độc lập tự chủ, tự lực, tự c­ường, đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể.

Những thành tích mà cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 256 năm xưa cho ta thấy, bất luận trong mọi khó khăn, gian khổ, với vũ khí, trang bị còn hạn chế so với vũ khí tối tân, hiện đại của địch, song chúng ta đã chiến thắng, đó là chiến thắng của tinh thần người chiến sĩ trên chiến trường.

Hai là, phát huy tốt tinh thần mưu trí, sáng tạo, quyết đoán của người cán bộ trong chiến đấu; biết vận dụng, sử trí linh hoạt sáng tạo, phát huy tốt tính năng của vũ khí trang bị hiện có.

Chiến công mà cán bộ chiến sĩ Trung đoàn pháo cao xạ 256 năm xưa giành được trong chiến dịch 12 ngày đêm cho thấy: tinh thần quyết đoán, mưu trí, nhanh lẹ sáng tạo của người chỉ huy luôn là yếu tố then chốt quyết định nên thắng lợi, người chỉ huy cần biết quyết đoán, quyết định đúng thời cơ; đồng thời vận dụng linh hoạt trong từng tình huống cụ thể, chính yếu tố quyết đoán xác định quyết tâm đánh địch trong điều kiện mất liên lạc với trên, biết chỉ đạo cắt ngòi nổ ở các tầng, tạo nên một lưới đạn dày đặc đã buộc B-52 của địch phải rơi dưới làn đạn pháo. Việc đưa ra quyết định này chỉ bằng sự phán đoán mau lẹ và kinh nghiệm của người chỉ huy, không một nguồn thông tin của trên, không một thiết bị quan sát.

Người cán bộ trong chiến đấu luôn là linh hồn của trận đánh, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cán bộ chiến sĩ trong đơn vị, nó như tiếp thêm sức mạnh ý chí quật cường, không ngại hy sinh gian khổ; không một sức mạnh nào có thể chiến thắng được sức mạnh chính trị tinh thần đó.

Ba là, bố trí, sử dụng các lực lượng phòng không hợp lý nhằm phát huy hiệu quả các lực lượng, các loại vũ khí trang bị hiện có tạo thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp, đánh địch ở mọi độ cao, mọi hướng.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cũng chính là chiến thắng của nghệ thuật sử dụng lực lư­ợng. Trong tương lai, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chúng ta phải phát huy cao độ tiềm năng chiến đấu của lực lư­ợng phòng không ba thứ quân, tạo nên hệ thống hoả lực phòng không rộng khắp, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng, vừa tập trung hiệp đồng tiêu diệt lớn, vừa đồng thời đánh liên tục, tại chỗ, rộng khắp trên các địa bàn.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi 

Trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972, chúng ta đã rất thành công trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không nhân dân, tạo nên hệ thống hoả lực phòng không rộng khắp, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng kẻ thù.

Đó là sức mạnh của sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của chính phủ và nhân dân các n­ước yêu chuộng hòa bình; sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc, của các lực l­ượng cách mạng, dân chủ hoà bình và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ.

Năm là, luôn kế thừa và phát huy kinh nghiệm đánh giặc của cha ông, thường xuyên làm tốt công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật hiện có.

Bốn mươi năm đã trôi qua, những trận địa pháo của Trung đoàn pháo cao xạ 256 năm xưa nay đã trở thành ruộng vườn, nhà cửa, nhà máy, trường học mới khang trang…. Nhưng, những ký ức về cuộc chiến đấu gan góc, mưu trí, sáng tạo và vô cùng dũng cảm của quân dân ta nói chung và thành tích vẻ vang của Lữ đoàn pháo phòng không 297 nói riêng vẫn luôn là niềm tự hào, sự cổ vũ lớn lao của Lực lượng vũ trang Quân khu 2, từ đó giành những thành tích mới, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

chinhphu.vn

Vài nét về sự phá hoại Hiệp định Paris của chính quyền Sài Gòn – Bài 2

(Tiếp theo và hết)
Thiệu coi thường cả quốc tế

QĐND Online- …Trả lời yêu cầu của Quân giải phóng đề nghị 4 bên tại Ban Liên hợp quân sự cùng ra nghị quyết chung kêu gọi “ngừng bắn” và “thi hành các điều cấm”, Thủ tướng Sài Gòn Trần Thiện Khiêm thẳng thừng ra chỉ thị “quyết định không ra nghị quyết chung” [1]. Trước sức ép của dư luận lên án hành động trắng trợn phá hoại Hiệp định của chính quyền Sài Gòn, ngày 09.02.1973, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn Trần Thiện Khiêm phải ra chỉ thị cho Bộ Quốc phòng “tránh không nên dùng các danh từ tấn công, hành quân, phi xuất, tin chiến trường…” [2].

Toàn cảnh Hội nghị Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam

Ngày 10.02.1973, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn ban hành “công điện mang tay” mật – thượng khẩn số 5458/TTM/P345 ra lệnh cho các đơn vị cấm “phổ biến các tin tức chiến sự trên báo chí, đài phát thanh hay vô tuyến truyền hình”, trong đó nêu rõ: “Từ nay cấm không được nói rõ số lượng phi xuất, hải xuất, pháo binh yểm trợ…mà phải thay đổi hình thức giải thích đó là các hoạt động bạn có tính cách phản ứng tự vệ” [3]. Tuân hành công điện của tướng Cao Văn Viên, trong các báo cáo của Trung tâm hành quân của quân đội Sài Gòn bị cắt bỏ, thay vào đó cụm từ “hoạt động an ninh lãnh thổ”. Với ý nghĩa mọi hoạt động quân sự của quân đội Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam đều thuộc phạm vi vùng đất của chính quyền Sài Gòn. Thực tế họ đã vi phạm trắng trợn Hiệp định Paris về ngừng bắn.

Trong thực thi các điều khoản của Hiệp định Paris và các nghị định thư, chính quyền Thiệu tìm mọi cách né tránh hoặc trắng trợn vi phạm.

Để né tránh thực hiện Điều 6 của Hiệp định quy định “Việc hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác” [4], trước khi Hiệp định được ký kết, quân đội Mỹ tiến hành bàn giao toàn bộ căn cứ, phương tiện chiến tranh cho chính quyền Thiệu. Vì vậy, khi Hiệp định được ký kết, Điều 6 của Hiệp định trở nên “vô hiệu lực”.

Đi ngược lại với tinh thần Hiệp định Paris về giảm quân số các lực lượng vũ trang, chính quyền Sài Gòn thực hiện đôn quân, xiết chặt kỷ luật quân đội và tăng cường cả lực lượng và trang bị cho lực lượng nghĩa quân và địa phương quân của chúng. Theo báo cáo của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn là 1.086.926 quân. Đến ngày 15.02.1973, mặc dù số quân đảo ngũ là 12.595, nhưng tổng số quân của quân đội Sài Gòn vẫn còn tới 1.076.091 quân [5]. Trong những tháng tiếp theo của năm 1973, quân số quân đội Sài Gòn luôn giữ ở mức trên 1.900.000 quân, dù số quân đảo ngũ hằng tháng nằm trong khoảng 6.000 – 15.000 quân.

Điều 4 của Nghị định thư về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam và về các ban liên hợp quân sự, mặc dù Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhiều lần đề nghị nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn ngoan cố, cự tuyệt. Ngày 19.02.1973, Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, ban hành Công văn số 437/PThT/BĐPT/KH “Tuyệt đối không có việc tự động bắt tay giữa các chỉ huy trưởng đơn vị các cấp của ta (chính quyền Sài Gòn) với địch(Quân giải phóng) để chia khu vực và để cho địch tự do di chuyển” [6]. Ngày 26.02.1973, tại Hội nghị quốc tế về Việt Nam ở Paris, chính quyền Sài Gòn vẫn âm mưu thay đổi các điều khoản của Hiệp định Paris. Theo Điều 19 của Hiệp định Paris về Việt Nam quy định: “Các bên thảo luận về việc triệu tập một hội nghị quốc tế trong vòng 30 ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các hiệp định đã ký kết” [7]. Nhưng chính quyền Sài Gòn lại dùng Hội nghị để “đòi hỏi các cường quốc bảo đảm những gì mà chúng ta đã không nhận được ở Hội nghị Ba Lê” [8]. Trong đó có những “đòi hỏi” đi ngược lại tinh thần Hiệp định Paris như: “Hội nghị quốc tế cần phải xác nhận và đảm bảo phương thức một dân tộc hai quốc gia Việt Nam”; “Việt Nam cộng hòa phải xác nhận không thừa nhận Mặt trận giải phóng miền Nam như một chính phủ”… “mà chỉ chấp nhận Mặt trận giải phóng miền Nam được quyền tham gia sinh hoạt chính trị tại miền Nam như một đảng phái chính trị…” [9]. Trong diễn văn đọc tại Hội nghị, Trần Văn Lắm, Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn đã trắng trợn tuyên bố : “Tại Nam Việt Nam chỉ có một chánh phủ dân cử hợp hiến và hợp pháp duy nhất đó là chánh phủ Việt Nam cộng hòa” [10].

Tại Hội nghị giữa hai bên miền Nam Việt Nam ở Sài Gòn, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng luôn tìm cách né tránh giải quyết các vấn đề theo đúng tinh thần Hiệp định Paris. Mặc dù thừa nhận Điều 10 của Hiệp định “đặt ra một tiên quyết là phải ngững bắn trước đã rồi mới thảo luận được vấn đề hòa bình. Chỉ sau ngừng bắn thực sự, hai bên mới có thể thương lượng với nhau về các giải pháp cho các vấn đề tranh chấp” [11]. Nhưng tại Hội nghị của hai bên miền Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra Đề nghị 6 điểm, đầu tiên là tôn trọng ngừng bắn rồi mới giải quyết các vấn đề khác. Phía chính quyền Sài Gòn lại đưa ra Đề nghị 5 điểm, trong đó đưa vấn đề tổng tuyển cử lên trước nhằm đánh lừa dư luận về một “thiện chí hòa bình” của chính quyền Sài Gòn, mà thực chất là nhằm trì hoãn việc thực thi các quy định của Hiệp định Paris, để có thời gian để tiến hành các hoạt động quân sự đẩy lui Quân giải phóng trên chiến trường.

Trước thái độ của chính quyền Thiệu, tại phiên họp thứ 10 ngày 09.5.1973, ông Nguyễn Văn Hiếu, Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã gay gắt lên án: “Nếu mà sau khi ký Hiệp định đã có hòa bình thì ở đây chúng ta cần gì phải bàn cãi nữa. Nhưng mà chúng ta đang đứng trước một cái thực tế là từ khi Hiệp định có hiệu lực đến nay, chiến sự chưa chấm dứt. Thế thì chúng tôi muốn nêu vấn đề này với các ông, bây giờ các ông nêu vấn đề là phải tiến hành tổng tuyển cử, thế thì tổng tuyển cử trong khi còn bắn nhau thì tổng tuyển cử như thế nào, do đó mà trong bài phát biểu của chúng tôi, chúng tôi cho rằng các ông như là đặt cái cày trước con trâu, mà bây giờ phải làm thế nào để mà có thể có cái chấm dứt chiến sự chớ, cái đó là cái vấn đề đầu tiên, là vấn đề đầu tiên nêu ra trong Hiệp định chấm dứt chiến sự. Do đó mà chúng tôi nghĩ rằng đây là vấn đề các ông muốn nói tiên quyết cũng được là vì cái này là theo lẽ nó phải có… mà chiến sự tiếp diễn đây thì là do về phía các ông chủ trương có những hành động lấn chiếm…

Trước khi ký Hiệp định Paris các ông đã chống lại với các cuộc ngừng bắn, cái ngừng bắn mà gọi là ngừng bắn tại chỗ thì cái điều này báo chí của các ông, những người lãnh đạo của các ông đã từng lên tiếng một cách công khai chống lại cái ngừng bắn tại chỗ. Cho nên người ta không lấy làm lạ là khi Hiệp định đã ký rồi, các ông tìm cách phá hoại cái ngừng bắn đó mà rõ ràng ý đồ của phía các ông mà theo chúng tôi biết được ở tại chiến trường là tìm cách xóa bỏ những cái vùng của chúng tôi mà người ta thường gọi là những cái da báo ở trong vùng các ông, các ông tìm cách lấn chiếm những cái vùng đó rồi ngay cả những cái vùng giải phóng lớn của chúng tôi các ông cũng tìm cách lấn chiếm mà có những cái cuộc hành quân như thế là sư đoàn, hàng sư đoàn. Cái chuyện này là không thể chối cãi được. Thế thì chúng tôi cho rằng về phía các ông thì rõ ràng là chưa muốn tái lập hòa bình, chưa muốn chấm dứt chiến sự. Cho nên do đó mà chúng tôi thấy rằng bây giờ phải làm thế nào để tái lập hòa bình và chúng tôi đã đề những cái biện pháp hết sức là cụ thể mà tiến tới tái lập được cái hòa bình đó” [12].

Với thái độ đó của chính quyền Sài Gòn, Hội nghị giữa hai bên miền Nam Việt Nam luôn rơi vào tình trạng bế tắc.Trước thái độ hiếu chiến của chính quyền Thiệu, ngày 08.10.1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tuyên bố không thương thuyết với chính quyền Sài Gòn.

Tiếp theo đó, Bộ Tư lệnh miền phát lệnh cho toàn thể các lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tiến lên “kiên quyết trừng trị bọn Mỹ – Thiệu ngoan cố và hiếu chiến, kiên quyết đập tan hệ thống đồn bốt của địch, mở rộng vùng giải phóng, giành quyền làm chủ về tay nhân dân”. Phát động toàn quân, toàn dân: “Hãy vượt mọi gian khổ, khó khăn, đạp lên đầu thù xốc tới giành thắng lợi. Hãy đánh mạnh, đánh liên tục, đánh tiêu diệt gọn quân địch, đánh cho chúng tan rã về tinh thần, tư tưởng, suy sụp về tổ chức, đạt yêu cầu cao của mùa khô. Hãy đánh giỏi, công tác giỏi, xây dựng giỏi, giành thắng lợi giòn giã. Giương cao cờ quyết chiến, quyết thắng. Tấn công như năm 1972, nổi dậy như đồng khởi, diệt gọn nhiều đơn vị, nhiều đồn bốt địch, giải phóng nhân dân… Toàn thể các đồng chí hãy anh dũng tiến lên!” [13].

Ngày 12.11.1974, phát biểu tại Hội thảo và học tập về Hiệp định Paris tại Bộ Dân vận chính quyền Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu đã tỏ rõ thái độ hiếu chiến, lỗ mãng và thách thức. Đối với Ủy hội quốc tế, Thiệu cho rằng: “Quốc tế bây giờ nói ông Thiệu không thi hành Hiệp định Ba Lê… a lê quốc tế dẹp, chuyện này không phải mấy người. Tôi biết tôi phải làm cái gì, Hiệp định Ba Lê này mấy ông có đọc chưa, mấy ông thuộc bằng tôi không, mấy ông xen cái lỗ mũi vô trong chuyện của tôi… Ôi đồ ba cái thứ là hội quốc tế này, quốc tế kia đánh điện tôi xé, tôi vứt giỏ rác, kể cả Liên hợp quốc chẳng làm cái trò trống gì cho nên hình”.

Tôi nói ông già tôi cộng sản tôi cũng chặt chớ đừng nói ai”.

Hễ nó (Quân giải phóng) giỏi nó thắng mình chịu. Mình thắng nó phải chịu. Không có cái chánh phủ liên hiệp tiên quyết. Đi lại cái chánh phủ tiên quyết bây giờ mà như mấy cha mà đi cổ võ đó, nói chánh phủ liên hiệp, chánh phủ liên hiệp… thì là trở lại mấy chuyện mà mình tranh đấu mấy năm trời để tránh nó ở trong cái bản Hiệp định” [14].

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng chưa lúc nào chính quyền Sài Gòn chấp hành Hiệp định Paris mà thường xuyên chống phá quyết liệt và chống phá ngay từ khi Hiệp định Paris chưa được ký kết cho đến khi chúng bị thất bại hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn


[1]. Biên bản phiên họp tại Phủ Thủ tướng chính quyền Sài Gòn ngày 13.02.1973, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1252.
[2]. Biên bản phiên họp tại Phủ Thủ tướng chính quyền Sài Gòn ngày 09.02.1973, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1252.
[3]. Công điện mang tay số 5458/TTM/P345 ngày 10.02.1973 của Tổng Tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 18112.
[4]. Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1235.
[5]. Tổng kết hoạt động quân lực chính quyền Sài Gòn tháng 3.1973 của Bộ Tổng tham mưu quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 17778.
[6]. Công văn số 43/PThT/BĐPT/KH ngày 19.02.1973 của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn Trần Thiện Khiêm, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[7,8]. Tài liệu nhận định Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Pari ngày 26.02.1973 của chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1238.
[9]. Diễn văn của Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn Trần Văn Lắm tại Hội nghị Quốc tế ngày 27.02.1973, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1238.
[10]. Phân tích và giải thích Hiệp định thư và Nghị định thư chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn của chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 18079.
[11]. Bản ghi tốc ký phiên họp thứ 10 Hội nghị giữa hai bên miền Nam Việt Nam tại Pari ngày 09.5.1973, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1247.
[12, 13]. Động viên lệnh của Bộ Tư lệnh miền, tài liệu do Đại đội 288 địa phương quân chính quyền Sài Gòn thu ngày 20.12.1974.
[14]. Bài nói của Nguyễn Văn Thiệu tại khóa hội thảo và học tập về Hiệp định Pari của chính quyền Sài Gòn, ngày 12.11.1974, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1293.

Vài nét về sự phá hoại Hiệp định Paris của chính quyền Sài Gòn

Kỳ 1: Thái độ hai mặt của Thiệu

QĐND Online- Hiệp định Paris về “Chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết ngày 27.01.1973. Nhưng trước khi Hiệp định được ký kết, chính quyền Sài Gòn đã có âm mưu, thủ đoạn cụ thể hòng phá hoại Hiệp định. Ngày 23.01.1973, Nguyễn Văn Thiệu đã ban hànhCông điện số 004-TT/CĐ gửi Thủ tướng chính phủ, các đô, tỉnh, thị trưởng, Tổng Tham mưu trưởng và tư lệnh các quân đoàn, quân khu “ra lệnh treo cờ trên toàn quốc” nhằm “tràn ngập lãnh thổ bằng cờ quốc gia để xác nhận phần đất và phần dân” [1]. Trong đó ấn định ngày giờ cụ thể: “Ngày giờ có thể là 12 giờ trưa, ngày thứ Tư, 24 tháng Giêng năm 1973. Ngày giờ này sẽ được xác nhận vào sáng thứ Tư, 24 tháng Giêng năm 1973 vừa bằng công điện vừa bằng hai đài phát thanh quốc gia và quân đội” [2].

Cùng ngày, thực hiện công điện của Nguyễn Văn Thiệu, Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn ra lệnh cho quân đội Sài Gòn thực hiện chiến dịch “Tràn ngập lãnh thổ”. Cụ thể: “Yêu cầu các nơi nhận lãnh ngay Quốc kỳ tại cơ quan tiếp vận liên hệ. Theo tiêu chuẩn mỗi quân nhân ba lá và phân phối cho toàn thể quân nhân các đơn vị hành quân. Thực hiện cắm cờ trong vùng hành quân tại các vị trí trọng yếu: Đình, chùa, nhà thờ, trường học, cầu cống, đồi núi, cao điểm, nhà dân chúng…” [3].

Sau một ngày, Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, ban hành Công điện mật hỏa tốc ra lệnh cho các đô, tỉnh và thị trưởng phải cấp tốc thực hiện: “Khẩn ra thông cáo nhắc nhở đồng bào, bắt buộc mỗi tư gia phải treo một quốc kỳ kể từ 12 giờ ngày 24.01.1973. Mỗi trụ sở cơ quan công, bán công, các tòa hành chính đô, tỉnh, thị, trụ sở quân, xã, phường, khóm, ấp, các nhà buôn, xí nghiệp, hãng xưởng, trụ sở tôn giáo, chánh đảng, đoàn thể hiệp hội, các công viên, các nơi tiện ích công cộng và mọi nơi mà quý tòa xét thấy cần thiết phải treo quốc kỳ kể từ ngày giờ nói trên.

Trực tiếp kiểm soát tổng quát và khẩn thành lập các toán kiểm soát gồm có CB/PTNT (Cán bộ phát triển nông thôn), viên chức phường, xã, khóm ấp, cảnh sát quốc gia và nhân dân tự vệ để thường xuyên kiểm soát.

Tất cả tư gia cũng như trụ sở, công sở đô, tỉnh, thị, quận, xã, phường, khóm, ấp đều phải dự trù hai lá cờ, một lá để sử dụng ngay và một lá để dự phòng.

Chỉ thị cơ quan an ninh, cán bộ quân chính mọi cấp… hăng hái, tích cực vào việc triệt hạ hoặc bôi xóa ngay những người cộng sản được treo hoặc vẽ sơn tại bất cứ nơi nào, đồng thời thay thế ngay vào đó bằng cờ quốc gia.

Mỗi cán bộ và quân nhân hoạt động tại chỗ hoặc lưu động công tác phải mang theo mình ba lá cờ quốc gia để cấp thời có ngay cờ ứng dụng, tùy trường hợp” [4].

Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, bà Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định

Khi đã có bản Dự thảo Hiệp định Paris trong tay, Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn của chính quyền Sài Gòn tiến hành phân tích từng câu chữ nhằm tìm kiếm “kẽ hở” để “lách luật”. Ngay câu đầu của Hiệp định ghi: “Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam” [5]. Từ “Các bên” được chính quyền Sài Gòn giải thích là “chỉ có hai phe tham dự hòa hội Ba Lê (tức Paris). Một phe là Việt Nam cộng hòa và đồng minh Hoa Kỳ và phe kia là cộng sản”3. Để từ đó kết luận là ở miền Nam Việt Nam chỉ có chính quyền Sài Gòn là “chính phủ hợp pháp duy nhất” mà không thừa nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo đúng tinh thần của Hiệp định.

Câu “Việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là vững chắc và không thời hạn” được ghi ở Điều 2, bị chính quyền Thiệu bắt bẻ “Bản tiếng Anh dùng chữ “durable and without limits of time” trong khi bản tiếng Việt lại dịch là “vững chắc và không thời hạn”. “Durablekhông có nghĩa là vững chắc, mà chỉ có tính cách lâu dài”. Và Điều 3, cụm từ “ở nguyên vị trí của mình” bị bóp méo thành “là tạm thời ở nguyên tại chỗ để thực hiện ngừng bắn, một cuộc ngừng bắn tại chỗ. Nên lưu ý một cuộc ngừng bắn tại chỗ không phải là một cuộc ngừng bắn da beo. Theo phương thức ngừng bắn tại chỗ, việc đóng quân của một đơn vị quân sự tại một địa điểm nào đó chỉ có tính cách tạm thời; địa điểm này vẫn thuộc chủ quyền của chính phủ Việt Nam cộng hòa. Vùng kiểm soát nói trong điều này có nghĩa là sự kiểm soát của các đơn vị quân sự, không phải là sự kiểm soát hành chánh” [6]. Đồng thời lợi dụng Mục c của Điểm 3 không quy định cụ thể về lực lượng vũ trang của các bên, chính quyền Thiệu đặt lực lượng “Cảnh sát Quốc gia” và “nhân dân tự vệ” của chính quyền Sài Gòn nằm ngoài phạm vi của Hiệp định [7]. Thực tế ngay sau đó, hai lực lượng này trở thành lực lượng chủ yếu dưới sự yểm trợ của chủ lực quân đội Sài Gòn, tiến hành nhiều cuộc chiến tranh “giành dân, lấn đất” với cách mạng. Qua đó cho thấy, trước dư luận chính quyền Thiệu luôn thể hiện thái độ cam kết nghiêm chỉnh thực thi Hiệp định Paris nhưng thực chất vẫn ngoan cố nuôi ý đồ chiến tranh, phá bỏ Hiệp định.

Từ những phân tích của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn, chính quyền Thiệu từng bước có những hành động cụ thể phá hoại Hiệp định Paris.

Chiến sĩ QĐNDVN đứng trên đỉnh hầm chỉ huy đã bị đánh sập của Lữ 3 Dù của quân ngụy tại cứ điểm 31. Ảnh tư liệu/internet.

Về quân sự, để che mắt dư luận, ngày 22.01.1973, Bộ Tham mưu quân lực chính quyền Sài Gòn ban hành Công điện số 3386/TTM/P341, Công điện số 7230/TTM/P345 ngày 17.02.1973Huấn thị số 310-27/TTM/P363 ngày 03.3.1973 về thực thi lệnh ngừng bắn. Nhưng trên thực tế, chỉ trong đêm 27.01 rạng ngày 28.01.1973, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 15 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên và 19 cuộc hành quân cấp tiểu khu và chi khu [8]/a>. Trong đó có các cuộc hành quân quan trọng:

Hành quân Đại bàng 72/M trong vùng Quảng Trị – Thừa Thiên; Hành quân Lam Sơn 63 tại Thừa Thiên; Hành quân Quang Trung 81 tại Quảng Nam; Hành quân Quyết Thắng 27A trong vùng Quảng Tín, Quảng Ngãi; Hành quân Đăkto 15 tại Kon Tum; Hành quân Đồng Thắng 1/BĐQ trong vùng Kon Tum – Pleiku; Chiến dịch Đồng Khởi 73/1 tại Bình Định, Tuyên Đức; Hành quân Toàn Thắng TB tại Hậu Nghĩa; Hành quân Cửu Long 7/11 trong vùng Định Tường – Kiến Phong – Kiến Tường – Campuchia; Hành quân Cửu Long 44/17 trong vùng Châu Đốc – Kiên Giang [9].

Theo tổng kết hoạt động tháng 01.1973, của Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn đến ngày 31.01.1973, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 694 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, gồm 603 cuộc cấp tiểu đoàn, 34 cuộc cấp trung đoàn và 57 cuộc cấp sư đoàn [10].

Theo báo cáo của lực lượng pháo binh quân đội Sài Gòn, bình quân hàng tháng trong năm, lực lượng này thực hiện hơn 200 cuộc hành quân lớn.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn


[1], 2. Công điện số 004-TT/CĐ ngày 23.01.1973, của Tổng thống chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[2]. Công điện hỏa tốc số 006-TTM/TC.CTCT/KH.1 ngày 23.01.1973, của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[3]. Công điện số 106/PThT/73/M ngày 24.01.1973 của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[4]. Hiệp định Pari về “Chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1235.
[5]. Phân tách và giải thích Hiệp định thư và Nghị định thư chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 18079.
[6]. Phân tách và giải thích Hiệp định thư và Nghị định thư chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 18079.
[7]. Chính quyền Thiệu “Lực lượng Cảnh sát Quốc gia và nhân dân tự vệ không bị lệ thuộc vào điều này vì nó không phải là lực lượng chánh quy hay không chánh quy”.
[8]. Bản tổng hợp tình hình sáng 28.01.1973 của Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 449.
[9]. Bản tổng hợp tình hình sáng 28.01.1973 của Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 449.
[10]. Tổng kết hoạt động tháng 01.1973 của Bộ Tổng tham mưu quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 17778.

Ký ức tự hào về một Thủ đô anh hùng

(HNM) – Nhiều nhân chứng lịch sử đã tụ hội tại TP Hồ Chí Minh để tham dự cuộc tọa đàm “Hà Nội 12 ngày đêm, chuyện bây giờ mới kể” nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” do Đài Truyền hình thành phố phối hợp với Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức. Những ngày tháng hào hùng không bao giờ quên trên mảnh đất Thủ đô 40 năm về trước được tái hiện đầy xúc động, thiêng liêng, tự hào…

Dù sinh ra trên quê hương “5 tấn” – Thái Bình, thế nhưng trong ký ức của Trung tướng Phạm Tuân, người phi công Việt Nam đầu tiên bắn rơi máy bay B52 luôn chan chứa những ký ức về một Hà Nội kiên cường, bất khuất trước bom đạn kẻ thù. Ông tâm sự, được mời vào TP Hồ Chí Minh tham dự buổi tọa đàm là một vinh dự lớn, vì đây là dịp để ông và đồng đội họp mặt, ôn lại kỷ niệm.

Chiếc máy bay Mig 21 do Anh hùng Phạm Tuân điều khiển đã bắn rơi pháo đài bay B52 của Mỹ năm 1972. Ảnh tư liệu

“Chúng tôi đã phải rất vất vả để chống lại “pháo đài bay bất khả xâm phạm” của không lực Mỹ. Thế nhưng, với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, chúng tôi đã không lùi bước. Một chiếc, hai chiếc, ba chiếc… rồi nhiều pháo đài bay B52 đã bị bắn hạ là điều phi thường trong lúc lực lượng không quân của ta nhỏ bé hơn Mỹ rất nhiều vào thời điểm đó”. Trung tướng Phạm Tuân ví cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân Hà Nội lúc bấy giờ, không chỉ giáng một đòn bất ngờ vào tham vọng của Mỹ, mà còn cho thấy những người con của Thủ đô đã chiến đấu bằng ý chí, sự khôn ngoan và bằng những cách đánh riêng, sáng tạo, mà rất ít dân tộc có thể làm được.

Một nhân vật lịch sử khác, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 tên lửa Đinh Thế Văn, người đã chỉ huy đơn vị bắn rơi 4 máy bay B52, cũng bồi hồi nhớ lại những ngày tháng hào hùng. Ông Văn kể rằng, lúc đó chính quyền Mỹ tuyên truyền rằng B52 sẽ bay vào đánh phá Hà Nội như… đi du lịch, không một vũ khí nào của Việt Nam có thể bắn rơi. Ông đã cùng đồng đội dày công nghiên cứu và nắm được tất cả những đặc điểm, tính năng của máy bay B52. Chính sự chuẩn bị kỹ lưỡng đó của bộ đội tên lửa cùng với ý chí, quyết tâm, cách đánh linh hoạt, khéo léo, thông minh đã khiến nhiều “pháo đài bay” của Mỹ rơi rụng trên bầu trời Thủ đô.

Nhận định về cuộc chiến đấu kiên cường của những người cộng sản anh em, Đại tướng, chuyên gia Liên Xô Anatoli Ivanovich Khiupenen bày tỏ sự cảm phục về một đất nước tuy nhỏ bé nhưng anh dũng, phi thường: “Bản thân chúng tôi cũng không mấy tin tưởng là Việt Nam có thể đánh thắng một trong những lực lượng không quân mạnh nhất thế giới, mà máy bay B52 là biểu tượng cho sức mạnh hủy diệt của họ. Thế nhưng Việt Nam đã giành được chiến thắng oanh liệt”, Đại tướng Anatoli Ivanovich Khiupenen không giấu được xúc động, đôi mắt ông đỏ hoe nhìn sang người hùng Việt Nam bắn hạ máy bay B52 – Trung tướng Phạm Tuân. Hai người đồng chí đã dành cho nhau cử chỉ thân mật, trong tiếng vỗ tay nhiệt liệt của cả khán phòng.

Cùng có mặt tại buổi tọa đàm, nhà quay phim Nguyễn Việt Tùng bồi hồi, xúc động khi xem lại những cuốn băng tư liệu mà chính ông đã ghi lại về cảnh đổ nát mà những cỗ “pháo đài bay” của đế quốc Mỹ gây ra đối với Bệnh viện Bạch Mai, các khu dân cư, các tuyến phố Hà Nội và hình ảnh những chiến sĩ phòng không, không quân, những người lính trẻ Hà Nội vẫn bám phố phường để chiến đấu chống lại sức mạnh hủy diệt từ vũ khí tối tân của kẻ thù. Ông Tùng nhớ lại, một trong những cảnh quay xúc động nhất là cảnh người dân Hà Nội sơ tán khỏi Thủ đô, mà sau này xác định được danh tính của hai mẹ con trong đoàn người sơ tán ấy là bà Lê Thị Hương và chị Nguyễn Thị Phương. Có mặt trong buổi tọa đàm, hai nhân chứng lịch sử – hai mẹ con chị Phương cùng rưng rưng khi xem lại những thước phim quý giá về một thời điểm lịch sử vô cùng thiêng liêng mà oai hùng của Thủ đô.

Cuộc chiến đã lùi xa, trở lại TP Hồ Chí Minh trong một sự kiện đặc biệt, chuyên gia Liên Xô Anatoli Ivanovich Khiupenen bày tỏ sự ngỡ ngàng trước sự đổi thay của đất nước Việt Nam anh hùng: “Tôi còn nhớ như in vào những ngày tháng 12 năm 1972, khi tôi đặt chân đến Hà Nội chỗ nào cũng thấy đổ nát, bầu trời thì rực lửa. Vậy mà giờ đây Hà Nội thật khang trang và tươi đẹp. Tôi coi đó là một chiến thắng nữa của các bạn – chiến thắng trên mặt trận đổi mới, hội nhập”.

Trung tướng Phạm Tuân còn nhắc tới kỷ niệm khi tiếp xúc với những phi công Mỹ bị bắn rơi phải cúi đầu khuất phục trước ý chí của quân và dân Hà Nội. “Tôi nhớ lúc gặp một phi công lái B52 của Mỹ tại nhà tù Hỏa Lò. Lúc đó tôi đã hỏi: “Ông suy nghĩ gì khi bay vào Hà Nội”. Viên sĩ quan trả lời: “Vũ khí của không quân Bắc Việt chúng tôi biết hết, gồm có Mig, Sam và một số loại vũ khí khác. Thậm chí chúng tôi còn diễn tập bằng các loại khí tài này và nghĩ rằng bay vào Hà Nội là chuyến bay luyện tập thôi, vào ném bom xong rồi bay ra”. Tôi hỏi tiếp: “Vậy giờ ngồi ở đây, ông cảm thấy như thế nào?”. “Đúng là chúng tôi chưa đánh giá hết các ông nên giờ chúng tôi mới ngồi ở đây”. Trung tướng Phạm Tuân kết luận: “Câu chuyện trên cho thấy rằng, chúng ta có quyền tự hào về chiến thắng của mình”.

Ký ức và những câu chuyện bây giờ mới kể về Hà Nội 12 ngày đêm cuối năm 1972 được tái hiện giữa thành phố mang tên Bác Hồ như đang thôi thúc trong mỗi người dân thành phố cùng đồng bào Thủ đô và nhân dân cả nước chung niềm tự hào, xúc động được là “người Việt Nam”.

Thành Luân
hanoimoi.com.vn

Chia lửa” với Hà Nội từ chiến trường miền Đông…

QĐND – Những cựu binh Trung đoàn 209 và Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7, miền Đông Nam Bộ), quê Hà Nội vẫn thường gặp nhau, ôn lại bao kỷ niệm xưa. Những xạ thủ súng AK, B-41, 12,7mm năm nào, từng kiên gan dưới bom đạn Mỹ ở Chư-tan-cơ-ra hay Chơn Thành, Tàu Ô (Bình Phước), hứng chịu bom cày đạn xới bao đợt của máy bay B-52 rải thảm giữa chiến trường, vậy mà năm 1972, khi nghe tin B-52 ném bom rải thảm Hà Nội, ai cũng thấy như trong lòng có lửa đốt.

Đoàn Nhiên, một trinh sát dạn dày của Sư đoàn 7 kể: Nghe tin bom B-52 trút xuống Nội Bài quê tôi, tôi bần thần suốt ngày. Bom đạn ở đây, giữa rừng le, giữa rừng cao su còn có vật che chắn, sức ép giảm đi. Bom ném xuống khu dân cư, ở Hà Nội chắc tang thương lắm. Còn Trần Đại Đồng, trinh sát pháo của Tiểu đoàn 7 kể, mỗi “vệt” bom B-52 dài hàng cây số, dân lành chịu sao nổi.

Tay súng AK gan góc Lại Anh Vĩnh tâm sự, khi nghe tin Hà Nội “vít cổ” B-52 xuống cánh đồng Phủ Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội), bắt sống phi công, chúng mình nhảy lên, sướng quá, vội đi tìm đồng hương Hà Nội thông báo cho anh em mừng. Lính bộ binh Nguyễn Văn Ngọc hào hứng kể, không mừng sao được, khi ở trong này, nhìn thấy B-52 thì đành chịu, nó bay cao quá, không súng nào với nổi. Hằng ngày nó bay đội hình ba chiếc rõ lắm, nhìn lên phát tức, nó nghênh ngang như đi vào chốn không người. Lính tên lửa Hà Nội giỏi quá!

Nguyễn Văn Chúc, nhà ở phố Đại La kể: “Ở một căn cứ ven sông Bé, suốt đêm mình ghé sát tai vào ra-đi-ô để nghe Đài Tiếng nói Việt Nam, phát từ Hà Nội và không bỏ qua chi tiết nào. Chính đài phát thanh của bọn quân ngụy cũng đưa tin nhiều B-52 của “Không lực Hoa Kỳ” không trở về căn cứ. Nửa đêm mình còn lay các đồng hương dậy để loan tin Hà Nội đưa phi công Mỹ ra họp báo quốc tế”.

Giờ đây, những cựu chiến binh miền Đông gan góc năm xưa đã ngoài 60 tuổi, hàng trăm đồng đội của họ đã nằm lại Sa Thầy (Kon Tum), Tàu Ô, Xóm Ruộng… Hà Nội – quê hương các anh đã chia lửa với miền Đông, và năm 1972, chính các anh đã kiên cường chốt chặn suốt 150 ngày đêm trên đường 13 để “chia lửa” với Hà Nội. Mong muốn của các cựu chiến binh là Hà Nội ngày càng đẹp hơn, an ninh trật tự tốt hơn, môi trường xanh, sạch, đẹp hơn…

ĐỒNG PHƯƠNG
qdnd.vn

Đàm phán Paris – nền móng phát triển của ngoại giao Việt Nam

(VOV) -Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là đỉnh cao của nghệ thuật ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh.

Hiệp định được ký kết ngày 27/1/1973 tại Paris sau chưa đầy một tháng, kể từ ngày Mỹ ngừng ném bom Hà Nội và các tỉnh miền Bắc Việt Nam với nội dung chính là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi miền nam Việt Nam.

Vinh dự là một thành viên của đoàn đàm phán, ông Nguyễn Khắc Huỳnh – nguyên Đại sứ, thành viên đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại cuộc đàm phán Paris về Việt Nam nay đã gần 90 tuổi vẫn rưng rưng nhiều cảm xúc về “cuộc đàm phán để đời” trong sự nghiệp ngoại giao của mình. Phóng viên VOV có cuộc trò chuyện với ông.

PV: Thưa ông, trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta, chưa có cuộc đàm phán nào kéo dài như Hội nghị Paris. Cuộc đấu tranh của chúng ta trên bàn thương lượng đã giành thắng lợi quan trọng, to lớn về nhiều mặt. Xin ông cho biết vai trò, vị trí và ý nghĩa của chiến thắng này?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Cuộc đàm phán Paris kéo dài gần 5 năm, tiến hành trên hai diễn đàn: một là diễn đàn gặp riêng, thật sự giải quyết các vấn đề; diễn đàn thứ hai là diễn đàn bốn bên, hay còn là diễn đàn công khai, mà ở đó mỗi đoàn tới đọc diễn văn để tranh thủ dư luận thế giới.

Ta biết đàm phán Paris là lâu dài và gian khổ bởi nó phụ thuộc vào tình hình chiến trường, quân đội ta ở miền Nam có thắng được Mỹ thì bàn đàm phán mới yên được. Bản thân cuộc đàm phán là một cuộc đấu trí giữa hai nền ngoại giao: ngoại giao Việt Nam và Mỹ.

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh (Ảnh: QĐND)

Vừa đấu trí vừa đấu chiến lược, đấu chiến thuật, đấu bản lĩnh và đấu mưu. Ta kiên trì đấu tranh trong đàm phán để đạt mục tiêu cao nhất là Mỹ chấp nhận rút và chấm dứt chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Để đạt mục tiêu đó là cực kỳ khó khăn vì Mỹ rất mạnh, giành thắng lợi với Mỹ rất khó. Thắng như thế nào, thắng đến mức nào thì Mỹ chấp nhận được và kết quả Hiệp định Paris là phải đạt được mục tiêu đó.

Không phải là ta đạt được tất cả đâu, nhưng ta đạt được mục tiêu cơ bản nhất là Mỹ công nhận độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nước ta đồng thơi chấp nhận rút quân nhưng ta không rút, quân ta vẫn ở lại miền Nam để mở đường thắng lợi sau này. Như vậy Hiệp định Paris đã mở đường, làm thay đổi tương quan lực lượng ở miền Nam, thay đổi thế trận để quân ta tiến lên giải phóng miền nam. Đó là ý nghĩa của Hiệp định Paris.

PV: Hiệp định Paris đã góp phần đặt nền móng cho sự phát triển lớn mạnh của ngành ngoại giao Việt Nam hiện nay như thế nào thưa ông?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Cho đến bây giờ, 40 năm nhìn lại thì thấy khi ký Hiệp định Paris vị trí Việt Nam như thế nào, nền ngoại giao của ta như thế nào. Khi ấy Việt Nam mới quan hệ với 30 – 40 nước thôi, còn bây giờ ta quan hệ với 180 nước. Trước kia, ta chưa có quan hệ với Mỹ, thắng Mỹ xong ta lại có quan hệ bình thường với Mỹ.

Hiện nay, Việt Nam còn có quan hệ với hầu hết các nước lớn trên thế giới, ta có môi trường hòa bình rộng lớn, người Việt Nam đi đâu cũng được, nói chuyện với ai cũng bình đẳng, quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa đều mở rộng.

Có thể thấy rằng, Hội nghị Paris khiến chúng ta hiểu biết thêm về thế giới, mở rộng quan hệ, nhân dân trên thế giới kính trọng nhân dân Việt Nam hơn, thế giới kính trọng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hơn. Ý nghĩa quan trọng của việc phát huy vai trò và vị thế  Việt Nam sau Hội nghị Paris là như vậy.

PV: Ông có thể so sánh Hiệp định Paris với các hiệp định ngoại giao mà ta đã kí kết trong thời đại Hồ Chí Minh, cụ thể như Hiệp định Geneve, cũng như nói thêm về các văn kiện, thỏa thuận ngoại giao mà ông cha ta đã tiến hành trong lịch sử?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Trong lịch sử ông cha ta 1.000 năm trước thì thỏa thuận ngoại giao với phương Bắc không nhiều. Lý Thường Kiệt có thỏa thuận với quân Tống về vấn đề rút khỏi phía Bắc, sau này Nguyễn Trãi có thỏa thuận Bồ Đề ở bến Bồ Đề để quân Minh rút khỏi thành Đại La.

Đến thời đại Hồ Chí Minh thì ta ký thỏa thuận quốc tế nhiều hơn. Mở đầu là Hiệp ước ký ngày mồng 6/3/1946, đó là hiệp ước quốc tế đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hòa, giúp Việt Nam thoát khỏi tình thế cùng lúc phải chống lại nhiều kẻ thù là Pháp và quân Tưởng.

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ta ký Hiệp nghị Geneve. Đó là thắng lợi lớn khi so sánh lực lượng của ta với quốc tế lúc bấy giờ. So sánh với Hiệp định Paris thì Hiệp định Geneve chưa phản ánh được thắng lợi của chiến trường, trong khi đó Hiệp định Paris đã nêu bật thắng lợi của chiến trường.

Người xưa thường nói, không giành ở trên bàn đàm phán những gì chưa dành được ở chiến trường, nhưng lạ một điều là ở Hội nghị Paris ta giành thắng lợi cao hơn thắng lợi trên chiến trường. Ví dụ như: Mỹ rút quân đơn phương, Mỹ phải chấp nhận bồi thường chiến tranh cho Việt Nam, chấp nhận việc từ nay Mỹ không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam… Đó là một cam kết rất sâu sắc, rất có lợi.

PV: Như vậy Hiệp định Paris đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật đàm phán của nước ta phải không, thưa ông?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Nói rộng hơn là Hiệp định Paris và cuộc đàm phán Paris đã nâng cao trình độ của ngoại giao Việt Nam lên ngang tầm quốc tế, góp phần phát triển ngoại giao Việt Nam ngang tầm thời đại. Từ sau Hội nghị Paris, ngoại giao Việt Nam chững chạc, vững vàng hơn nhiều, người Việt Nam đi giao dịch quốc tế cảm thấy tự nhiên, thoải mái, thong thả, bình đẳng hơn nhiều.

Trước khi có Hiệp định Paris ta còn chập chững chỗ này, chỗ khác như một đứa trẻ, thì sau Hiệp định Paris ta có nền ngoại giao của người lớn, trưởng thành, vững chắc hơn.

PV: Hiệp định Paris không phải là một chiến thắng đơn lẻ mà là một chiến thắng tổng hòa của sức mạnh ngoại giao cũng như sức mạnh nhân dân, cộng với đường lối của Đảng và tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè thế giới. Là một người trực tiếp trong phái đoàn đàm phán khi ấy, ông có cảm nhận gì về nhận định này?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Hiệp định Paris là tổng hòa các thắng lợi của chiến trường, thắng lợi đấu tranh của nhân dân, quan trọng nữa là có sự ủng hộ của nhân dân Mỹ. Hồ Chủ Tịch đã nói, sức ép của nhân dân Mỹ khiến Mỹ rút quân chính là mặt trận thứ hai sau mặt trận thứ nhất là ở Việt Nam, mặt trận thứ ba là sự ủng hộ của cả thế giới.

Vậy nên, chúng ta coi Hiệp định Paris không phải là thắng lợi của ngoại giao đơn thuần mà đó là thắng lợi tổng hòa, thắng lợi quyết định của chiến trường nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và thế giới.

PV: Là người tham gia phái đoàn đàm phán tại Paris, ông đã từng chứng kiến sự ủng hộ của bạn bè quốc tế cũng như của Đảng cộng sản Pháp dành cho mình như thế nào?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Tôi hoạt động quân sự, chính trị cho đến khi về hưu là gần 60 năm, tôi có nhiều kỉ niệm lắm, nhưng với cá nhân tôi thì đàm phán Paris là kỉ niệm lớn nhất trong cuộc đời sự nghiệp của tôi. Tất cả đã ăn sâu vào tâm khảm của tôi. Bởi thế sau khi nghỉ hưu tôi đã viết sách về đàm phán Paris và cho ra đời đến chục cuốn rồi.

Những cảm xúc mà tôi nhớ nhất là dịp khi tôi đi dự một phiên họp, phiên họp này có bà Nguyễn Thị Bình xuất hiện. Việt kiều, nhân dân Pháp và các nhà báo tập trung rất đông trước cửa hội trường Kléber để hoan hô phái đoàn của Mặt trận dân tộc giải phóng Việt Nam, dẫn đầu là một người phụ nữ sắc sảo, xinh xắn, tiêu biểu cho anh hùng của phụ nữ Việt Nam và miền Nam Việt Nam.

Tôi rất xúc động trước tình cảm của Việt kiều, của bà con quốc tế. Sau này, tôi có nhiều cuộc tiếp xúc quốc tế hơn thì những tình cảm đó tiếp tục được củng cố thêm. Tôi còn nhớ, khi tôi sang Italy, cuộc mit-tinh vừa kết thúc thì hàng vạn thanh niên bao vây hội trường nơi chúng tôi đến phát biểu, tôi quay lại nói với đồng chí Tổng Bí thư Đảng cộng sản Italy là “Chúng tôi bị bao vây rồi đấy”. Thì ông ấy nói “đó là cuộc bao vây hữu nghị, rất hữu nghị, là biểu hiện tình cảm của nhân dân Italy với những người Việt Nam, những người Việt Nam đang chiến đấu, đàm phán ở Paris”. Những kỉ niệm ấy ăn sâu trong tôi.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!./.

Mỹ Trà-Mỹ Ngọc/VOV-Trung tâm tin thực hiện
vov.vn

Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris

(VOV) – Cuốn sách của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh đề cập tới nhiều vấn đề ít người biết về đàm phán Hiệp định Paris.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), nhằm góp phần giúp bạn đọc có thêm tư liệu để nghiên cứu, tìm hiểu về Hội nghị và Hiệp định Paris, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn sách “Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris” của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh.

Tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh có kinh nghiệm nhiều năm công tác trong ngành ngoại giao và nghiên cứu lịch sử ngoại giao. Ông là một nhân chứng, người được trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán Hội nghị Paris.

Cuốn sách dày 235 trang, đề cập đến 11 vấn đề, bao gồm một số bài viết, bài nghiên cứu đã được chọn lọc và xuất bản của tác giả trong những năm gần đây và một số bài tham luận tại các cuộc hội thảo trong nước và ngoài nước nhân các dịp kỷ niệm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam.

Bìa cuốn sách của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh

Bằng những phân tích sắc sảo, những luận chứng súc tích, tác giả tập trung trình bày và làm rõ thêm một số vấn đề, sự kiện lớn trong quan hệ quốc tế, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và quá trình diễn ra cuộc đàm phán Paris.

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris được coi như một đỉnh cao của nghệ thuật ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, mãi mãi là một dấu son không bao giờ phai mờ trong lịch sử dân tộc. Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam là một hội nghị dài nhất trong lịch sử đấu tranh ngoại giao thế giới (4 năm 8 tháng 14 ngày).

Đó thực sự là cuộc đấu trí vô cùng gay go, phức tạp, đầy kịch tính trên mặt trận ngoại giao, cuối cùng ngoại giao Việt Nam đại thắng trên bàn đàm phán, góp phần quan trọng “đánh cho Mỹ cút” để dẫn tới “đánh cho ngụy nhào” với đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đó cũng là hội nghị thể hiện rõ nét nhất, hiệu quả nhất, thành công nhất của nghệ thuật kết hợp đánh – đàm dưới sự lãnh đạo của Đảng./.

Trà Ngọc/VOV-Trung tâm Tin
vov.vn

Đạo diễn Pháp Daniel Roussel làm phim về Hiệp định Paris

(VOV) -“Hiệp định Paris là một câu chuyện kỳ diệu về hành trình tìm lại hòa bình” – đây cũng là lý do để ông Daniel Roussel làm phim…

Đó là lý do thôi thúc nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel làm bộ phim tài liệu mà ông dự định đặt tên rất giản đơn là “Hiệp định Paris”.

Từng là phóng viên thường trú của báo Nhân đạo tại Việt Nam trong giai đoạn khó khăn bị cấm vận sau chiến tranh, nhà báo người Pháp này có những cảm nhận đặc biệt về đất nước – con người Việt Nam và từng gây nhiều tiếng vang với 2 bộ phim về Việt Nam: “Cuộc chiến giữa hổ và voi” và “Tù binh Mỹ ở Hà Nội”.

Bộ phim “Hiệp định Paris” dự định sẽ được trình chiếu vào ngày 1/4/2013 tại thành phố Choisy le Roi, như một hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris lịch sử.

PV VOV thường trú tại Pháp trò chuyện với nhà làm phim Daniel Roussel về bộ phim mà ông đang thực hiện.

P.V: Thưa ông Daniel Roussel, ông có thể cho biết vì sao ông quyết định làm phim về Hiệp định Paris ?

Ông Daniel Roussel: Đã từ lâu, tôi thích làm phim về đề tài hòa bình, Việt Nam, tôi từng làm phim về Điện Biên Phủ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những tù binh Mỹ… Và câu chuyện của Hiệp định Paris là một hành trình kỳ diệu giành hòa bình cho Việt Nam. Tôi muốn chỉ ra rằng khát vọng hòa bình đã chiến thắng thế nào.

Nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel

Hiệp định Paris ký ngày 27/1/1973 là một câu chuyện thần kỳ, là kết quả của một quá trình thương lượng đối mặt giữa 4 bên trong gần 5 năm. Câu chuyện khó tin ở chỗ đoàn đàm phán của Việt Nam nghĩ rằng họ chỉ lưu lại tại Pháp vài tháng, nhưng cuối cùng họ đã ở gần 5 năm. Câu chuyện khó tin ở chỗ nhiều khi hòa bình tưởng như đã trong tầm tay, rồi lại đột ngột bị đẩy ra rất xa. Đó là câu chuyện đấu trí căng thẳng giữa hai con người Lê Đức Thọ và Kissinger.

Đó cũng là câu chuyện về đoàn Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, do bà Nguyễn Thị Bình dẫn đầu, một người phụ nữ dịu dành nhưng cũng rất kiên cường. Các cuộc thương lượng như song hành với trận địa ở Việt Nam. Các cuộc đàm phán tiến và lùi cùng với diễn biến trên chiến trường. Câu chuyện dài gần 5 năm ấy còn kỳ diệu ở tình đoàn kết giữa đoàn miền Bắc với người dân ở Choisy Le Roi, hoặc ở gần đó; những người đã đón tiếp đoàn trong những bữa cơm gia đình; ở tình cảm của những người bạn Pháp, người phục vụ đoàn, người lái xe, người bảo vệ, đội y tế…

Đó là những thời điểm kỳ lạ, hàng trăm người trong 5 năm đã giúp đỡ đoàn miền Bắc, miền Nam, như một gia đình thực sự. Câu chuyện làm tôi rung động tận trái tim. Câu chuyện nói về hành trình giành lấy hòa bình, dù là một hành trình khó khăn, gồm cả chiến tranh, dù hành trình kéo dài đến 5 năm, nhưng đó là một câu chuyện hòa bình và nhân văn mà tôi muốn kể.

P.V: Theo tôi được biết, rất nhiều nhân chứng từng tham gia hoặc biết về quá trình đàm phán nay đã già yếu, một số đã mất hoặc không còn trí nhớ. Để tái hiện lại những nẻo đường hòa bình dẫn tới hiệp định, ông có gặp nhiều khó khăn không?

Ông Daniel Roussel: Đúng là rất khó. Nhiều người đã mất, một số khác chuyển nhà, không có một danh sách cụ thể những người đã từng tham gia quá trình đó, do thông tin hồi đó rất bí mật. Rồi gặp người này lại được giới thiệu tới người kia, dần dần thì tôi tìm ra được một số nhân chứng.

Nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp (ảnh tư liệu)

Tôi cũng đã phải tận dụng mạng lưới những người đồng chí trong Đảng Cộng sản Pháp để tìm lại những người từng liên quan. Tôi cũng đã đến Việt Nam nhiều lần, gặp bà Nguyễn Thị Bình để trò chuyện với bà và một số nhân chứng tại Việt Nam. Tôi cũng đến thăm và gặp gia đình ông Lê Đức Thọ, ông Xuân Thủy để tìm những tư liệu quý cho bộ phim. Không chỉ vậy, tôi còn sang Mỹ đến gặp hai nhà ngoại giao gần gũi với ông Kissinger hồi đó là ông John Negroponte và Winston Lord để tìm hiểu quan điểm của phía Mỹ và phản ánh chân thực trên bộ phim.

P.V: Ông có nghĩ rằng những người Mỹ sẽ dễ dàng và thẳng thắn nói lại những câu chuyện lịch sử với ông hay không?

Ông Daniel Roussel: Họ sẽ kể câu chuyện theo quan điểm của họ, nhưng dù họ có nói gì thì lịch sử cũng là điều không thể đảo ngược. Mọi người đều đã biết những gì đã diễn ra trong lịch sử, hiểu hơn vì sao đàm phán lâu thế, Hiệp định đã tưởng như được ký vào tháng 10/1972, nhưng rồi Mỹ lại đánh bom xuống miền Bắc Việt Nam. Câu chuyện đã được ghi nhớ bởi nhiều nhân chứng, phía Mỹ hay bất kỳ bên nào cũng không thể nói ngược lại thực tế lịch sử.

P.V: Đúng như ông nói là lịch sử đã được ghi bằng thực tế và bởi các nhân chứng. Vậy liệu bộ phim của ông có đưa ra những điều gì mới mẻ chưa được biết đến về lịch sử? Trong bộ phim, ông có tìm cách lý giải nhiều câu hỏi đặt ra về quá trình đàm phán, ví dụ như vì sao đàm phán lại kéo dài đến thế, những diễn biến trên chiến trường đã tác động qua lại đến cuộc đàm phán như thế nào?

Ông Daniel Roussel: Bộ phim của tôi chắc chắn sẽ mang lại một số chi tiết mới vì câu chuyện này chưa được khắc họa nhiều, chưa được biết tới nhiều.

Theo tôi biết, chưa có bộ phim tài liệu nước ngoài nào về Hiệp định Paris, rất ít tài liệu trên thế giới viết về Hiệp định, mới có một tác giả người Canada viết sách về Hiệp định. Nhiều người trên thế giới nghĩ rằng chiến tranh kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc ngày 30/4/1975 , nhưng thực tế, từ 2 năm trước, Việt Nam đã thành công trong việc ký Hiệp định Paris, đuổi quân Mỹ ra khỏi Việt Nam.

Thông qua việc đưa trung thực quan điểm của các bên qua lời kể của các nhân chứng và những tư liệu thu thập được, bộ phim giải thích vì sao các cuộc thương lượng không tiến triển trong 3 – 3,5 năm đầu. Có những lúc thương lượng tưởng như tiến tới hòa bình nhưng rồi đột ngột lại bị đẩy ra rất xa. Riêng trong năm 1972, liên tục có những hi vọng rồi thất vọng, rồi chiến tranh nổ ra, người chết và bị thương, nhiều tài sản bị phá hủy một cách vô ích trong chiến tranh.

P.V: Xin cảm ơn ông./.

Nhà báo, nhà làm phim tài liệu Daniel Roussel sinh ngày 23/2/1946. Ông từng là Phóng viên thường trú của báo Nhân đạo (L’Humanité) tại Việt Nam giai đoạn 1980-1986.  Trở về Pháp, ông trở thành nhà làm phim tài liệu và những cảm nhận sâu sắc về Việt Nam đã thôi thúc ông làm những bộ phim về đề tài chiến tranh ở Việt Nam.

Trong đó có bộ phim “Cuộc chiến giữa hổ và voi” (nói về trận Điện Biên Phủ, với những lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) hay phim “Tù binh Mỹ ở Hà nội – Hilton”.

Năm 2007, ông lập trang web riêng giới thiệu về những bộ phim, những tư liệu quý mà mình đã có được, trang http://danielroussel.blogzoom.fr/, với chủ đề lớn “Những nẻo đường của Việt Nam”.

Thùy Vân/VOV – Paris
vov.vn

Hiệp định Paris qua góc nhìn của một nhà nghiên cứu Nga

(VOV) -Thắng lợi to lớn của việc ký kết Hiệp định Paris đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô cả về vật chất và tinh thần

40 năm trước, sau chiến thắng lịch sử “Điện Biên phủ trên không”, Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam được ký kết. Thắng lợi này có được là tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó có sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới và sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô.

Trong dịp kỷ niệm trọng đại này, phóng viên Đài TNVN thường trú tại Liên bang Nga đã có những cuộc gặp gỡ, trao đổi với nhiều cựu chuyên gia quân sự Liên Xô trước đây, nhiều nhà nghiên cứu, nhà Việt Nam học để tìm hiểu về những nhận định, đánh giá của họ đối với sự kiện lịch sử này.

Nhà Việt Nam học Anatoly Voronin là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, từng công tác tại Vụ Quan hệ hợp tác với các Đảng Cộng sản và công nhân các nước XHCN thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông từng trực tiếp tham gia phiên dịch trong các cuộc gặp giữa đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Nguyễn Duy Trinh… với các nhà lãnh đạo Liên Xô trong những năm diễn ra đàm phán ký kết Hiệp định Hòa bình Paris.

Qua trao đổi với ông, chúng tôi được biết thêm những chi tiết mà chỉ có những người trong cuộc mới biết và đến nay ông vẫn còn nhớ rõ. Đó là những gì diễn ra tại Moscow, nhưng lại liên quan trực tiếp tới cuộc đàm phán đang diễn ra căng thẳng tại Paris.

Ông Anatoly Voronin nhớ lại: “Đây là một câu chuyện đặc biệt, bởi vì tất cả đều qua chỗ chúng tôi (Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô). Từ Nga, đoàn Việt Nam sang đến hội nghị đàm phán là cả một câu chuyện dài. Càng về cuối, người Mỹ càng “láu cá”, họ thay đổi thời hạn, yêu sách… và thường là vào giờ chót cốt để ông Lê Đức Thọ không kịp đến nơi đàm phán, gặp Trợ lí Tổng thống Mỹ Kissinger như đã thỏa thuận…

Tôi còn nhớ, khi ông Nguyễn Duy Trinh chuẩn bị bay sang Paris, tôi đã làm phiên dịch trong cuộc gặp của ông với ông Shuslov (Mikhail Andreevich Shuslov – Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) tại Moscow. Trước đó, ông Nguyễn Duy Trinh đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Gromyko. Họ đã trao đổi các vấn đề xung quanh Hiệp định. Những vấn đề chiến lược, những vấn đề chính trị chung cũng được họ thảo luận trong Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tôi nhớ là, ông Shuslov đã rất thông thái khi vận dụng tư tưởng của Lênin vào tình huống của Việt Nam. Ông ấy nói, chúng ta không thể đòi hỏi ngay lập tức đạt được thắng lợi toàn diện, hãy từng bước để đi đến kết quả cuối cùng. Quá trình đàm phán ở Paris còn quá nhiều vấn đề phức tạp, nên điều cốt lõi hiện nay là đấu tranh bằng được để Mỹ rút hết khỏi Việt Nam đã; buộc người Mỹ phải nói “Vâng, chúng tôi đồng ý rút hết quân khỏi Việt Nam từ ngày 1/3/1973”. Việt Nam đã có điều kiện để kiểm soát quyết định này, để cả thể giới biết đến quyết định này của Mỹ và Mỹ cũng sẽ không thể từ chối được. Còn về sau mới tính tiếp giải phóng Sài Gòn”.

Năm 1968, Liên Xô đã có những nỗ lực để góp phần triệu tập Hội nghị bốn bên tại Paris tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Từ năm 1970-1975, trên các diễn đàn quốc tế, trong Đại hội các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, hoặc các chuyến trao đổi đoàn đại biểu các cấp với các nước khác…, Liên Xô thường xuyên nêu lên và ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Liên Xô cũng tích cực giúp đỡ Việt Nam vận động các đoàn thể chính trị thế giới, tổ chức nhiều hội nghị quốc tế, tranh thủ sự đồng tình của các lực lượng tiến bộ đối với Việt Nam.

Theo ông Voronin, điều quan trọng là hai nước Việt Nam và Liên bang Nga cần đánh giá một cách sâu sắc và rút ra những bài học kinh nghiệm không chỉ đối với Việt Nam, đối với Nga mà đối với cả thế giới trong giải quyết các vấn đề quốc tế của ngày hôm nay. Và quan trọng hơn là cần tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp này.

“Hôm nay chúng ta đang nói về 40 năm ký Hiệp định Hòa bình Paris… đó cũng là một bài học rất quan trọng về công tác ngoại giao đã buộc Mỹ phải chấp nhận. Hiện nay có một số cuốn sách về Hiệp định Paris và coi đây là thành công ngoại giao của Việt Nam. Đúng, song nếu chỉ mình ngoại giao Việt Nam (gồm cả miền Nam Việt Nam) thì chưa đủ, bên cạnh đó còn có sự ủng hộ, đoàn kết của ngoại giao Xô Viết, theo nghĩa rộng của từ này, bao gồm cả ngoại giao nhân dân. Đó không chỉ là ngoại giao chuyên nghiệp, mà còn là ngoại giao nhân dân. Tạo dư luận xã hội ủng hộ Việt Nam còn có đóng góp của các nhà báo, của các nghị sỹ… Việt Nam đã giành được chiến thắng cũng chính là bởi đã tập hợp được những sức mạnh này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói một câu rất nổi tiếng là phải biết “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại”. Tất nhiên thời đại ngày nay cũng có những nét không giống thời đại của 40 năm về trước, nhưng vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là một công thức thông thái – là công thức toán học mà chúng ta cần tiếp tục phát triển, thực hành và chứng minh” – ông Anatoly Voronin nhấn mạnh.

Thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam trong cuộc đàm phán lịch sử để đi đến ký kết Hiệp định hòa bình Paris về Việt Nam tháng 1/1973 mà trước đó là chiến thắng mang tính bước ngoặt của trận “Điện Biên phủ trên không” đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô cả về vật chất và tinh thần. Đây cũng chính là bài học, là truyền thống hết sức quý báu và trở thành nền tảng của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Nga hiện nay./.

Điệp Anh-Đoan Hải/VOV-LB Nga
vov.vn

Những nẻo đường hòa bình tới Hiệp định Paris

(VOV) – Dù đã 40 năm, nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán Việt nam vẫn in đậm trong ký ức những nhân chứng và thế hệ sau.

Để đi tới lễ ký kết cuối cùng tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Clébère, thì trong gần 5 năm, các cuộc thương lượng về Hiệp định hòa bình Paris đã được tiến hành tại nhiều địa điểm trên đất Pháp. Dù 40 năm sau, các địa điểm đã ít nhiều đổi khác, nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt Trận miền Nam Việt Nam vẫn in đậm trong ký ức những nhân chứng và thế hệ con cháu họ; cùng như tạo âm hưởng sâu rộng trong lòng những người bạn Pháp nay còn sống tại những địa điểm lịch sử đó.

Quảng trường Hiệp định Paris sẽ được khánh thành vào tháng 3/2013.

1. Khách sạn Lutetia – Nơi khởi đầu và nơi ăn mừng chiến thắng: 

Năm 1968, khi đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Xuân Thủy dẫn đầu đến Paris, đã ở tại khách sạn Lutetia ở số 45 Đại lộ Raspail, quận 16 Paris. Chỉ vài ngày sau, vì nhiều lý do, đoàn đã nhờ Đảng Cộng sản Pháp tìm một địa điểm khác. Trường Đảng ở Choisy Le Roi đã được chọn, trở thành nơi lưu lại suốt gần 5 năm của đoàn. Trở lại thăm Lutetia ngày nay, sau 40 năm, khách sạn bên ngoài vẫn giữ nguyên dáng hình, trở thành một trong những khách sạn nổi tiếng nhất ở Paris, bởi những thời khắc lịch sử mà nó đã từng chứng kiến, từ chiến tranh thế giới thứ 2, cho tới sự có mặt, dù ngắn của đoàn đàm phán Việt nam.

Khách sạn Lutetia hiện nay

Theo ông Dương Văn Quảng, Đại sứ, trưởng phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO hiện nay, người từng nằm trong số những thực tập sinh học tập tại Pháp vào thời điểm Hiệp định được ký kết, thì Khách sạn Lutetia cũng là nơi hai đoàn đàm phán của Việt nam tổ chức tiệc lớn ăn mừng thắng lợi.

2. Tòa nhà số 2, Le Verrier, quận 4: “Tổng hành dinh” ngoại giao của Việt nam:

Cũng theo Đại sứ, trưởng phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO ông Dương Văn Quảng, thì cũng chính tại tòa nhà của phái đoàn hiện nay, tại số 2, Le Verrier, quận 4 Paris, 40 năm về trước, ông cùng các thực tập sinh có mặt tại Pháp đã vui mừng đến giúp chuẩn bị những tấm thiệp mời chiêu đãi, mừng Hiệp định được ký kết: “Đây là tổng đại diện nên toàn bộ thủ tục liên quan đến vấn đề chiêu đãi đều làm ở đây. Ví dụ cả tuần trước ngày chiêu đãi, huy động toàn bộ thực tập sinh đến đây giúp ghi thiệp mời. Nhưng vì mời quá gấp, nên phải chia nhỏ thư ra, sáng sớm hôm sau mang ra tận bưu điện của từng quận để họ mang đi phát giúp mình. Nhà này là tổng đại diện trước khi quan hệ Việt – Pháp lên mức chính thức, sau đó là Đại sứ quán nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngôi nhà này chứng kiến toàn bộ quá trình dẫn đến đàm phán, rồi đấu tranh để thực hiện hiệp định, rồi chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975, tạm gọi là toàn bộ phần ngoại giao của việc đàm phán rồi tiến tới ký kết Hiệp định Paris và tiếp theo đó là quá trình đấu tranh ngoại giao để thực hiện Hiệp định và phục vụ cuộc tổng tiến công Mùa xuân năm 1975, tiến tới hòa bình cuối cùng ở Việt nam”.

Tòa nhà hiện là trụ sở phái đoàn Việt nam bên cạnh UNESCO cho đến nay được giữ nguyên cấu trúc, kể cả những trang trí trên trần, trên tường khi xưa. Cách đó chỉ vài trăm thước, là trụ sở cũ của Thông tấn xã Việt nam, nơi những thông tin thắng lợi trên bàn đàm phán được thảo và phát đi.

3. Choisy le Roi – Tâm điểm của cuộc đấu tranh của đoàn đàm phán Việt nam Dân chủ Cộng hòa:

Nói đến Hiệp định Paris, không thể không nói tới thành phố Choisy-le-Roi nằm ở ngoại ô, cách Paris khoảng 20 km về phía Đông Nam. Nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel – người đang làm một bộ phim tài liệu mang tên “Hiệp định Paris” đã gọi Choisy Le Roi là “tâm điểm của thế giới” trong giai đoạn diễn ra các cuộc đàm phán hòa bình: “Tháng 5/1968, đoàn đàm phán miền Bắc của Việt nam Dân chủ Cộng hòa tới ở khách sạn Lutetia rồi sau đó, chuyển sang Choisy le Roi vì nhiều lý do. Và Đảng Cộng sản Pháp đã quyết định dành tòa nhà của Trường đào tạo, bồi dưỡng Đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp cho đoàn ở. Đoàn Hà nội lúc đó dẫn đầu bởi ông Xuân Thủy, tưởng sẽ ở đó vài tháng, nhưng cuối cùng họ đã ở gần 5 năm”.

Trong suốt thời gian đó, Choisy- le Roi đã chứng kiến những câu chuyện đàm phán tài tình được giữ kín tới mức “bí ẩn”. Bà Nicole Trampoglieri, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt tại Choisy le Roi cho biết thông tin về đoàn khi đó được giấu kín tới mức không có mấy người dân ở chính thành phố này biết chỗ đoàn sống và hoạt động. “Vào thời điểm đó, tôi là một đảng viên rất trẻ trong Đảng Cộng sản Pháp sống gần đây, tôi cũng chỉ biết là nơi này có đoàn đàm phán của Việt nam ở, nhưng hiếm khi nào tận mắt nhìn thấy gương mặt của ai trong đoàn. Họ được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Báo chí cũng không tiếp cận được. Nhưng tôi có được nghe kể về “căn phòng hạnh phúc” trong khu nhà này, hồi đó, không ai hiểu vì sao lại gọi là “căn phòng hạnh phúc” nhưng sau đó mới biết đấy là cách các thành viên trong đoàn “ám hiệu” với nhau là “căn phòng bí mật”. Khi nào có chuyện công việc tuyệt mật cần trao đổi, các thành viên trong đoàn lại cùng vào căn phòng đó”.

Tấm biển trước khu nhà tại Choisy le Roi

Choisy le Roi còn là minh chứng rõ nét về “tình đoàn kết, hữu nghị” của Đảng Cộng sản Pháp, của bạn bè Pháp yêu chuộng hòa bình đối với  người dân Việt nam. Bà Jéanine Rubin, một trong những người từng tình nguyện phục vụ bữa ăn cho đoàn đàm phán Việt nam 40 năm về trước, nay đã 80 tuổi, cho biết khi đó bà cũng không biết rõ tình hình do tính tuyệt mật trong hoạt động đoàn. Nhưng bà vẫn nhớ như in không khí ấm cúng như trong một gia đình khi gặp gỡ các thành viên trong đoàn. “Khi ấy, tôi đang làm phục vụ trong trường học, Đảng Cộng sản đề nghị tôi có muốn làm việc tình nguyện hỗ trợ cho đoàn đàm phán của Việt nam hay không, và tôi đã đồng ý. Dù thời gian tiếp xúc không nhiều, nhưng những cảm nhận lúc đó về đoàn sau này đã là động lực khiến tôi quyết định gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tham gia các hoạt động hữu nghị Pháp- Việt cho đến bây giờ”.

Cũng tại Choisy le Roi, tòa biệt thự nằm yên bình tại số 11, phố Darthé giờ vẫn mang dáng dấp cũ, cây cherry vẫn cao vút trong vườn sau nhà. Nhưng ít ai biết rằng 40 năm về trước, các cuộc đàm phán bí mật và gay go giữa đoàn miền Bắc với đại diện phía Mỹ là Henry Kissinger đã diễn ra tại đây.

40 năm sau, đầu năm 2013, lãnh đạo thành phố Choisy le Roi sẽ cho khánh thành một quảng trường lớn mang tên “Hiệp định Paris”, ngay trên Đại lộ mang tên người đứng đầu thành phố thời điểm hiệp định được ký kết ông Louis Luc. Vợ của ông, bà Hélène Luc từ hàng chục năm qua vẫn luôn là người bạn thủy chung nhiệt thành đối với nhân dân Việt nam.

4. Verriere le Buisson và Massy – tràn đầy ký ức về đoàn Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam:

Nếu như Choisy le Roi từng gắn liền với câu chuyện đàm phán tài tình của đoàn đàm phán Việt nam Dân chủ Cộng hòa, thì tại hai vùng ngoại ô Verrière le Buisson và Massy, nằm cách Paris khoảng 10 km về hướng Tây Nam, tràn đầy những ký ức về đoàn đàm phán Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam do bà Nguyễn Thị Bình, khi đó là Bộ trưởng ngoại giao, dẫn đầu.

Tòa biệt thự tại số 17, đại lộ Cambacérès, Verriere le Buisson đến nay vẫn giữ nguyên kiến trúc tuyệt đẹp trên một con dốc thoai thoải, nhìn ra hồ nước. Đây là nơi trong suốt gần 5 năm đàm phán, bà Nguyễn Thị Bình cùng một số thành viên trong đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam sống và làm việc. Trong vườn, vẫn còn đó ngôi nhà nơi đài phát thanh giải phóng từng phát đi những thông tin nóng hổi về Hiệp định.

Ông Gueguen lưu giữ nhiều tư liệu về Hiệp định Paris.

Ông Pierre Gueguen, người từng làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho tòa nhà, ngày ngày vẫn đi dạo qua đây và nhớ lại những kỷ niệm về một “gia đình Việt nam” thực sự mà ông cảm nhận được khi gắn bó với các thành viên trong đoàn đàm phán của Việt nam. Kể lại nhiệm vụ khi xưa, ông Gueguen cho biết : “Đó là niềm vui đối với tôi khi được làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho đoàn đàm phán để chấm dứt chiến tranh, giành lại hòa bình ở Việt nam. Chúng tôi thường có 6 người chia làm hai ca bảo vệ an ninh trong khuôn viên ngôi nhà. Ngôi nhà nằm ở giữa hai tòa biệt thự, xung quanh các hàng rào với hàng xóm khá thấp, nên chúng tôi luôn phải canh phòng rất kỹ nhất là ban đêm. Tôi nhớ lần đầu tiên tôi nhận nhiệm vụ, đã xảy ra một sự cố là có một người phụ nữ cùng chồng của ông ta xông thẳng vào nhà. Rất may là chúng tôi đã ngăn chặn kịp thời và giao họ cho lực lượng cảnh sát bảo vệ vòng ngoài để họ giải quyết”.

Suốt 40 năm qua, hai vợ chồng ông bà Gueguen đã cần mẫn sưu tầm và gìn giữ nhiều tư liệu về Hiệp định Paris, về Việt nam, từ những chiếc tem thư về Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam, cho tới những bài báo bằng bất kỳ ngôn ngữ nào mà ông có được viết về một thành viên nào đó trong đoàn đàm phán… Bởi đơn giản như ông nói, “Đó là những ngày lịch sử mà cuộc đời tôi có may mắn được là một phần nhỏ trong đó”.

Tại Massy, khu căn hộ chung cư nơi mà các thành viên còn lại trong đoàn đàm phán Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam từng sống và làm việc trong 4 căn hộ tầng 2 và 3, đến nay gần như vẫn giữ nguyên. Ông Đoàn Hữu Trung, một Việt kiều từng gắn bó với đoàn suốt những năm đàm phán dẫn chúng tôi quay lại Massy, chỉ vào ngôi trường mẫu giáo nằm đối diện, cho biết hơn 40 năm trước, gần như ngày nào, sau khi đưa con vào trường học, ông cũng ghé qua thăm đoàn đàm phán của Việt nam, xem có thể trợ giúp gì cho đoàn. Sau này, dù đã chuyển nhà đi thành phố khác, ông vẫn thỉnh thoảng qua lại nơi đây, đi dạo và nhớ lại những câu chuyện về những thành viên đoàn khi xưa, tài tình, kiên quyết trong công việc nhưng cũng rất giản dị, chân thành trong đời sống.

5. Gif sur Yvette – Sự trùng hợp của hai ngôi nhà “hòa bình”:

Đi qua số 106 Avenue du Général Leclerc của thị trấn Gif-sur-Yvette, bắt gặp một căn nhà bình thường như biết bao ngôi nhà khác ở vùng ngoại ô Paris, ít ai biết rằng nơi đây 40 năm trước đã diễn ra các cuộc đàm phán bí mật giữa đoàn đàm phán Việt nam Dân chủ Cộng hòa do ông Lê Đức Thọ làm trưởng đoàn với phía Mỹ- do ông Henry Kissinger dẫn đầu. Các tài liệu lịch sử ghi lại những cuộc trao đổi giữa hai ông tháng 10 và tháng 11/1972 tại ngôi nhà này đi vào giai đoạn quyết định, chốt lại ở một dự thảo hiệp định mà hai bên có thể chấp nhận được. Khi đó, những tưởng hòa bình đã tới rất gần, thì phía Mỹ bất ngờ “tráo trở”, ném bom xuống miền Bắc Việt nam.

40 năm sau, ngôi nhà không có gì nổi bật, nhìn từ bên ngoài có phần cũ kỹ và bao phủ bởi cây cối um tùm. Một tấm biển khiêm tốn treo trên tường bên ngoài căn nhà với dòng chữ “Tại ngôi nhà này ngày 22/11/1972, đã mở ra các cuộc đàm phán hòa bình giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger”. Chủ nhân ngôi nhà ông  Bernard Mimier vui vẻ mời chúng tôi vào thăm ngôi nhà và hồ hởi kể lại “cái duyên” của họ với nơi này.

Ngôi nhà ở Gif sur Yvette

“Lúc đó tôi còn trẻ lắm, mới 17 tuổi, tôi có đi qua nơi này, thấy rất nhiều nhà báo vây quanh ngôi nhà và nghe nói có các cuộc đàm phán hòa bình bí mật diễn ra trong đó. Khi đó ngôi nhà thuộc về một họa sỹ tên Fernand Leger- một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và là nơi đón nhiều khách của đảng sang Pháp làm việc. Sau này năm 1989, tôi cần tìm một ngôi nhà rộng để mở phòng chụp và làm ảnh; và duyên số đã dẫn tôi đến đây, mua lại ngôi nhà và ở đây cho đến nay. Gia đình chúng tôi rất tự hào được sống ở đây, một ngôi nhà lịch sử đóng góp cho hòa bình cho người dân Việt nam, vợ tôi cũng từng tham gia các hoạt động phản chiến và con gái tôi cũng có những cảm xúc đặc biệt khi nói về ngôi nhà”.

Tại Gif sur Yvette, các cuộc đàm phán diễn ra hết sức bí mật, đến các nhà hàng xóm cũng không hay biết gì cho đến ngày 22/11/1972 báo chí Pháp và nước ngoài mới biết tới, đổ dồn về đây. Và thật trùng hợp khi họ chạy sang nhà hàng xóm, nhờ sự giúp đỡ để chụp được ảnh vào bên trong ngôi nhà đàm phán bí mật, thì lại được chứng kiến những hoạt động của tổ chức “Giúp đỡ trẻ em Việt nam” cũng hướng về Việt nam. Giáo sư Trần Thanh Vân, người sáng lập Tổ chức “Giúp đỡ trẻ em Việt nam” và sau này là Hội “Gặp gỡ Việt nam”,  dẫn chúng tôi ra vườn sau nhà, chỉ vào rặng cây thông giờ cao ngút, cho biết 40 năm trước, rặng cây còn thấp và phóng viên đứng từ vườn nhà ông hoặc trèo lên mái nhà ông có thể chụp ảnh vào ngôi nhà đàm phán. Và trong khi cuộc đàm phán chính trị bí mật giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger đang diễn ra, thì ở ngôi nhà bên cạnh, Giáo sư Trần Thanh Vân cùng các thành viên tổ chức “Giúp đỡ trẻ em Việt nam” đang tích cực với các hoạt động bán thiệp Giáng sinh để quyên tiền xây dựng làng trẻ SOS tại Đà Lạt (sau này làng được khánh thành năm 1974). Hai hoạt động cùng lúc tại Gif sur Yvette, một bên là chính trị và bên kia là nhân đạo, vô tình lại cùng hướng về hòa bình và ấm no ở Việt nam.

Những nẻo đường hòa bình, từ các hướng khác nhau, cuối cùng ngày 27/1/1973 đã dẫn về Trung tâm Hội nghị Kléber.  Hiệp định Paris được ký kết. Bên ngoài, kiều bào đổ về đông chật cả đại lộ Kléber, cờ hoa rợp trời, niềm vui như vỡ òa. Dù giờ đây trung tâm đang được phá đi để xây dựng một trung tâm thương mại, hội nghị mới, song những ai từng biết tới câu chuyện của Hiệp định Paris đều như sống lại không khí lịch sử lúc đó khi đến thăm lại Kléber. Một câu chuyện mới đang hình thành, nhưng ký ức khi xưa vẫn mãi mãi được lịch sử lưu lại./.

Thùy Vân – Đào Dũng/VOV-Paris
vov.vn