Thư viện

Biệt thự lưu giữ kỷ niệm về đàm phán hòa bình VN

Chúng tôi tới thăm ngôi nhà số 49, nay là số nhà 17 phố Cambacérès, Verrières-le-Buisson, ngoại ô thủ đô Paris, Pháp.

Nay đã trở thành một di tích lịch sử gắn liền với thời gian gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán 4 bên (Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa) tiến tới việc ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Paris ngày 27/1/1973.

Vì giá trị lịch sử của nó, ngày 13 tháng 10 năm 2012, Tòa thị chính thành phố Verrières-le-Buisson phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và các bạn bè Pháp đã gắn biển di tích lịch sử cho ngôi nhà.

Tấm biển mang tên: “Nơi đây, từ năm 1968 đến 1973, Đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời Miền nam Việt Nam đã lưu trú để tham gia các cuộc đàm phán và ký Hiệp định Paris về Hòa bình, ngày 27/1/1973”. Ngôi nhà này do các bạn Pháp là thành viên Đảng cộng sản Pháp khi đó giới thiệu cho phía Việt Nam thuê.

Nơi đó, cách đây 40 năm, bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lúc đó (sau này là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, cùng một số thành viên trong đoàn tùy tùng, từng lưu trú từ năm 1968 đến năm 1973, để tham gia các cuộc đàm phán bên lịch sử tiến tới ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Với sự giúp đỡ của ông bà Pierre Gueguen, khi đó còn là thành viên lực lựơng an ninh, kể cho chúng tôi nghe lịch sử của ngôi nhà và giúp chúng tôi có được một cuộc du ngoạn xung quanh ngôi nhà.

Dù dưới cái lạnh giá của mùa đông, cây cối và hoa xung quanh nhà đã rụng hết lá và trơ lại những cành khẳng khiu, nhưng cảnh quan nơi đây vẫn tạo cho ngôi nhà vẻ đẹp nên thơ vốn có của nó.

Kiến trúc của ngôi nhà dường như không hề thay đổi, chỉ có phía trước của ngôi nhà được sửa lại một chút cho phù hợp với nhu cầu người chủ mới (ông bà Pierre Bertaud) và một lớp sơn mới được quét lên bên ngoài cũng không làm nó mất đi vẻ cổ kính của nó với sự đổi thay của thời gian.

Ngôi nhà nằm trên một khu đất cao, với một khu vườn rộng bao quanh được trồng rất hoa, cây cảnh, cây ăn quả, cây cổ thụ và được điểm thêm vài bức tượng của các nhà điêu khác nổi tiếng của Pháp.

Sau nhiều cuộc hẹn gặp và được sự đồng ý của chủ nhà, ông bà Pierre Bertaud, (đang làm việc tại Paris), chúng tôi mới vào thăm được bên trong ngôi nhà đó, cùng với sự hướng dẫn ông Trịnh Ngọc Thái, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam, Chủ tịch câu lạc bộ giao lưu văn hóa, kinh tế quốc tế và Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Pháp, khi đó là trợ lý của ông Xuân Thủy, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Miền Bắc Việt Nam) và ông Lê Đức Thọ là cố vấn đặc biệt.

Ông nói trở lại đây bốn mươi năm sau xa cách, ngôi biệt thự này đã gợi nhớ lại trong ông lại những kỷ niệm không thể nào quên trong suốt gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán, mà theo ông là cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam cũng như trên thế giới.

Ông cho biết, khi đó ông là thành viên của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự hội nghị 2 bên với đoàn đại biểu Mỹ do ông W. Averell Harriman, nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ dẫn đầu. Hội nghị diễn ra ngày 13/5 đến ngày 1/11/1968 tại phố Kléber tại Paris, bàn việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam nói chung, trước hết đòi phía Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện chiến tranh ở phía Bắc Việt Nam.

Sau đó đến ngày 25/1/1969, mới diễn ra cuộc đàm phán 4 bên với sự tham gia (thêm) của đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm dẫn đầu.

Đến tháng 6/1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam mới thành lập. Bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền nam Việt nam tham dự hội nghị 4 bên này tại Paris. Ngôi biệt thự trở thành ngôi nhà mang dấu ấn lịch sử của cách mạng Việt Nam – nơi bà Bình đã lưu trú và làm việc.

Ông Phạm Ngọc Thái không khỏi xúc động trước cảnh quan hầu như không đổi thay của nơi đây và cho biết cổng ô tô vào tòa nhà vẫn ở bên tay phải, hai khu nhà chính và phụ cách nhau bằng một cái sân không lớn lắm với bãi cỏ xanh mướt bao quanh…

Đi qua cửa chính vào nhà là một hành lang ngắn dẫn đến phòng khách – chính nơi bà Nguyễn Thị Bình thường tiếp ông Nguyễn Đức Thọ, ông Xuân Thủy hay các đoàn khách quốc tế, bạn bè Pháp.

Trên gác là buồng ngủ của bà Nguyễn Thị Bình và phòng làm việc vẫn được bài trí như khi xưa, chỉ có bộ bàn ghế (salon) là mới và hiện đại một chút nhưng vẫn làm cho không gian của phòng khách giữ được sự sang trọng, lịch sự và ấm áp.

Tần ngần đứng trước dãy nhà cấp bốn phía sau khi đi qua cái sân nhỏ cách với với ngôi nhà chính, ông Thái cho biết thêm đây chính là nơi làm việc và chỗ nghỉ của anh em bảo vệ, lái xe.

Phòng điện đài nằm ngay bên tay trái vẫn còn như nguyên vẹn không gian và dáng vẻ của nó (nay đã trở thành nhà kho). Nơi trước đây đã từng phát đi những tin tức quan trọng góp phần không nhỏ tạo nên chiến thắng hôm nay.

Ông Trịnh Ngọc Thái nhấn mạnh đến vị trí của ngôi nhà nằm cạnh một hồ nước không lớn lắm, được thả cá, có thiên nga bơi lội và một hàng liễu trồng xung quanh thướt tha rủ xuống soi bóng trên mặt nước – mang tên Hồ Cambacérès.

Theo ông, chính những cảnh quan này đã mang đến cho ngôi nhà vẻ đẹp và sự hài hòa khó quên. Nhất là, nơi đây mãi mãi là nơi lưu giữ những kỷ niệm không thể nào quên đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc nói chung và trong cuộc đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định Paris nói riêng.

Ông nhấn mạnh “không gian và khung cảnh nên thơ này đã giúp cho bà Nguyễn Thị Bình, có được giờ phút thư giãn và đưa ra được nhiều ý tưởng, sáng kiến mới và những suy nghĩ mang tính thuyết phục hơn”.

Cũng tại ngôi biệt thự này, nhiều phương án đã được đưa ra được nhằm cụ thể hóa đường lối chính trị của Bộ chính trị đã đề ra.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, ông không quên nhắc đến những thuận lợi và khó khăn trong suốt qua trình diễn ra các cuộc đàm phán công khai cũng như bí mật, nhiều khi gần như dẫn đến bế tắc, nhất là khi cuộc đàm phán diễn ra vào đầu tháng 12/1972, là lúc đế quốc Mỹ leo thang ném bom B52 xuống Miền Bắc. Nhưng với chiến thắng vang dội của quân và dân Việt Nam trước những “pháo đài bay trên không” của Mỹ đã kéo Mỹ trở lại cuộc đàm phán với Việt Nam.

Lý giải về thắng lợi tiến đến ký kết Hiệp định Paris về hòa bình ở Việt Nam, ông Trịnh Ngọc Thái trở nên sôi nổi hắn lên cho biết Việt Nam đã thành công là vì biết kết hợp đấu tranh trên nhiều mặt trận vừa đánh vừa “đàm”, có nghĩa phải kết hợp nhiều mặt trận như trên bàn hội nghị, trên chiến trường, mặt trận ngoại giao, kết hợp với phong trào chính trị ở miền Nam và vận động, tranh thủ sự ủng hộ các bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Không chỉ nhớ lại những công việc, cùng những kỷ niệm đã gắn bó ông với nơi này, khi cùng làm việc với bà Nguyễn Thị Bình – “nhà thương lượng tài ba” của Việt Nam, ông luôn nhắc đến những tình cảm và sự ủng hộ cao đẹp của các bạn bè Pháp đã dành cho đoàn Việt Nam khi đó. Thường các bạn Pháp giữ vai trò bảo vệ an ninh vòng ngoài tại các nơi ở và làm việc của đoàn Việt nam.

Nói đến chiến thắng này, ông ngậm ngùi nhớ đến những anh em, đồng chí, bạn bè ở Miền Nam, Miền Bắc không còn nữa, họ ra đi để lại trong lòng ông những ấn tượng và tình cảm sâu nặng, như ông Đinh Bá Thi, bà Nguyễn Thị Trơn, cô Bình Thanh – thư ký riêng của bà Bình, anh Lê Văn Tư, anh lý Văn Sáu,… những người cốt cán trong đoàn đại biểu chính phủ của cách mạng lâm thời Miền nam Việt nam, và trong đoàn miền Bắc như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Minh Vỹ, Phan Hiền, Nguyên Cơ Thạch, Trần Công Tường,…

Tất cả họ là những người đã có nhiều đóng góp và hy sinh cho thành công của Hội nghị Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam. Họ là những người có nhiều gắn bó với bà Bình trong suốt thời gian tham gia phục vụ Hội nghị.

Về nhần mình, ông Pierre Bertaud, chủ nhà cho biết ông rất vinh dự được sống tại ngôi nhà có giá trị lịch sử như vậy. Trước khi mua nó, ông đã biết nơi đây bà Nguyễn Thị Bình đã ở. Bà là nhà “thương lượng tuyệt vời của Việt Nam về hòa bình”.

Ông cho biết ông cũng là con người của hòa bình và ông luôn ủng hộ điều đó. Theo ông, sự “kiên trì ” của Việt Nam đã trở thành một bài học đối với ông trong quá trình “thương thuyết”./.

Lê Hà-Nguyễn Tuyên/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Người Việt tại Pháp nhớ lại thời ký Hiệp định Paris

Bác Bùi Thanh Tùng. (Ảnh: Phân xã Paris/Vietnam+)

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013), phóng viên TTXVN tại Pháp đã có cuộc gặp gỡ với một số Việt kiều là nhân chứng đã từng sống, chứng kiến và tham gia tích cực các hoạt động ủng hộ đoàn đại biểu Việt Nam các cuộc đàm phán góp phần không nhỏ vào việc ký kết thành công các văn kiện lịch sử này.

Cách đây 40 năm đa số các Việt kiều sang Pháp là những thanh niên tuổi mới ngoài đôi mươi (có người còn chưa tới tuổi 20) và tập trung dưới mái nhà chung gọi là Hội “Liên hiệp Việt kiều tại Pháp” thành lập tháng 4/1969 mục tiêu phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Hội lúc đó có nhiều tổ chức như sinh viên Việt Nam, có Liên hiệp trí thức Việt Nam, Hội công nhân, Hội thương gia, phụ lão, y học tại Pháp … Đến cuối 12/1975 sau khi chiến thắng hoàn toàn và thống nhất đất nước, Hội Liên hiệp Việt kiều đã tự giải tán, vì nhiệm vụ chính lúc này là xây dựng và kiến thiết đất nước. Đến 1976, “Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF)” thành lập và giữ nguyên cho đến hôm nay.

Các thành viên của hội luôn hướng về đất nước và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc mình và gia nhập phong trào yêu nước với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé sức mình vào cuộc đấu tranh vì hòa bình và độc lập dân tộc. Sự ủng hộ và giúp đỡ của các Việt kiều này nói riêng và của cả cộng đồng người Việt Nam tại Pháp nói chung đã trở thành một trong những yếu tố không thể thiếu tạo nên chiến thắng lịch sử hôm nay.

Bác Nguyên Văn Bổn, hiện nay là phó chủ tịch UGFV, phụ trách công tác đối ngoại của Hội, lúc đó là Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam (có khoảng 300 người), cho biết số người còn sống tham gia trực tiếp giúp đỡ các phái đoàn Việt Nam không còn nhiều. Đối với người Việt Nam tại Pháp, ủng hộ về vật chất không phải là vấn đề quan trọng. Bà con Việt kiều từ năm 1954 đã đóng góp tiền để gửi về Quỹ chống Mỹ cứu nước ở Việt Nam.

Thời kỳ đó có các bộ phận cùng phối hợp làm việc hàng ngày trong thời gian này như làm báo, dịch tài liệu; lo sức khỏe cho các đoàn khi có người ốm đau gồm các bác sỹ Phan, bác sỹ Dân, nha sỹ Ngô Thuần Phương; và theo dõi hoạt động của đối phương, của đoàn chính quyền Sài gòn cũ ….

Bộ phận khác theo dõi thông tin liên quan đến dư luận của người Pháp, Việt kiều, sinh viên, những người khác ủng hộ hay không ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Hoạt động của bộ phận thứ ba này không mấy khi được nhắc tới vì được xem như nhiệm vụ bí mật thời gian đó và đã mang về nhiều thông tin quý giá cho tiến trình đàm phán.

Những người khác trực tiếp làm công tác tuyên truyền, vận động phải thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các buổi míttinh để giải thích cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và diễn biến của hội nghị Paris.

Cùng chia sẻ tình cảm và những kỷ niệm không thể nào quên với bác Bổn, bác Bùi Thanh Tùng, hiện nay là Tổng thư ký UGVF, cho biết bác sang Pháp năm 1967. Từ năm 1968-1972 diễn ra các cuộc đàm phán hai bên và bốn bên, bác thường xuyên hoạt động trong Phong trào Liên hiệp sinh viên Việt Nam tại Pháp (sinh viên sang Pháp khá đông từ năm 1960 đến 1968 nhưng sau đó không sang nữa).

Với thế mạnh của giới sinh viên là trẻ, năng nổ, dễ tiếp cận và Việt Nam khi đó là một điểm nóng trên thế giới, tại các ký túc xá sinh viên, nhiều buổi hội thảo kéo dài cho đến khuya, cùng nhau trao đổi với các bạn bè quốc tế, sinh viên Pháp về tình hình chiến tranh ở Việt Nam.

Bác Tùng không giấu nổi cảm xúc khi kể lại một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất đó là sau chiến thắng oanh liệt bắn rơi rất nhiều máy bay B52 của Mỹ trên Hà Nội cuối tháng 12/1972, đầu tháng 1/1973 Mỹ đã phải trở lại bàn đàm phán, ban đầu là đàm phán bí mật, sau đó là ký kết tại Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber vào ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris về hòa bình lịch sử này.

Theo bác Tùng kể lại, ngay từ sáng sớm, rất đông mọi người đứng thành hàng dài suốt hai bên vào cửa ra vào trung tâm với cờ đỏ sao vàng, cờ xanh, đỏ của mặt trận giải phóng Miền nam Việt Nam để phô trương lực lượng, ủng hộ cho hòa bình của Việt Nam và để bày tỏ tình cảm của mình đối với chiến thắng của đất nước.

Những đóng góp thầm lặng

Nhiều bác tuổi đã ngoài 80 không thể nhớ hết và không thể diễn đạt rành mạch những gì mình đã làm và những gì mình cảm nhận được trong suốt thời gian từ 1968 đến 1973, như của cô Thérèse Nguyễn Văn Ký (chúng tôi quen gọi “cô” như vậy theo người miền Nam), nhưng năm nay cô đã hơn 80 tuổi. Hiện nay cô là Chủ tịch UGVF.

Cách đây 40 năm và cũng như bây giờ cô vẫn là bác sỹ. Chỉ có điều khi đó, nhiệm vụ của cô là tham gia chăm sóc sức khỏe cho đoàn hoặc cho bà con Việt kiều mỗi khi ốm đau, cùng những công việc khác như tham gia míttinh, biểu tình vận động quần chúng, hậu cần… cho các đoàn.

Đến nay khi hỏi cô về những gì cô thường đau đáu nhớ về nó sau 40 năm, cô cho biết cô không thể nào quên hình ảnh đường phố Champs Elysées trung tâm thủ đô Paris tung bay cờ đỏ sao vàng khẳng định thắng lợi các cuộc đàm phán về hòa bình ở Việt Nam.

Còn bác Đoàn Hữu Trung, lúc đó làm nhiệm vụ gặp gỡ bà con cũng như Hội, tổ chức các cuộc míttinh ở nơi nào có Việt kiều, gặp đoàn mặt trận giải phóng ở Massy để giúp đỡ họ. Ngoài kỷ niệm riêng – đứa con gái đầu lòng của bác được sinh ra đúng những năm tháng đang diễn ra đàm phán, bác còn luôn nhớ đến thời gian sống và làm việc cùng đoàn miền Nam do bà Bình dẫn đầu.

Trong thời gian được sống cùng với phái đoàn, bác cảm thấy mình có may mắn được gần với cách mạng và coi những người trong phái đoàn như là những chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao. /.

Lê Hà-Nguyễn Tuyên-Trung Dũng/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27-1-1973/27-1-2013): Báo chí phương Tây với madame Bình

Hơn 40 năm trước, có một người phụ nữ Việt Nam được báo chí phương Tây trân trọng ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ cho sự thành công của Hội nghị Paris: Bà Nguyễn Thị Bình – một trong 4 người đặt bút ký vào bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình và bà Bình Thanh (đeo kính),
tại cuộc họp báo ngày 5-11-1968

2 giờ chiều ngày 2-11-1968, bầu trời Paris u ám và giá lạnh, bà Bình trong bộ áo dài màu hồng sậm, khoác măng – tô xám với chiếc khăn quàng đen điểm hoa, cùng 6 anh chị em của Đoàn MTDTGPMNVN, hồi hộp bước xuống sân bay Bourget giữa đám đông người chào đón, trong đó có nhiều nhà báo. Bà bị bao vây từ bốn phía như chiếc thuyền trôi trên sông lớn, máy ảnh chớp lia lịa. Vào phòng khách danh dự, bà dõng dạc tuyên bố giải pháp 5 điểm của Mặt trận, bà Bình Thanh (Thanh Vân), dịch rõ ràng mạch lạc, nghe như giọng “đầm”. Đám nhà báo ngạc nhiên, im lặng, rồi “xung quanh chúng tôi vang tiếng bàn ghế gãy, kính vỡ loảng xoảng và cãi cọ om xòm” vì ai cũng muốn đứng gần bà Bình để ghi hình, ghi tiếng tốt hơn” – bà Bình Thanh kể lại câu chuyện ấy.

Ông Xuân Thủy (Trưởng đoàn đại biểu VNDCCH) cùng bà Bình đi trên đoàn xe bóng loáng loại DS (déesse, có nghĩa là “nữ thần”), phấp phới lá cờ nửa đỏ nửa xanh (cờ Mặt trận), có ô tô, mô tô của cảnh sát Pháp dẫn đường và hộ tống, bà con Việt kiều và người dân Paris đứng chật hai bên đường sững sờ, xúc động. Hôm sau tất cả các báo Pháp và báo của các nước phát hành ở Paris đều chạy tít lớn: “Đại diện của Việt Cộng đã đến Paris” và những lời bình rất kêu: “Việt Cộng đã thắng lớn qua cuộc đón tiếp bà Bình ở Paris”; “Bà Bình như một bà hoàng được đón như một quốc trưởng với đủ nghi thức chính quy, lại được hoan nghênh nhiệt liệt”; “Bà Bình đã làm chấn động dư luận Paris và thế giới. Cờ Mặt trận đã tung bay ở Paris! Rất tuyệt! Thật hiếm có!”. Nhiều nhà báo đeo bám đến nơi ở. Có nhà báo leo qua tường, có người đặt máy ảnh giữa kẽ hở cánh cửa để bất chợt chụp được những tấm ảnh đặc biệt của đoàn Việt Cộng, nhất là ảnh bà Bình ở biệt thự Thévent.

Ba ngày sau (5-11), Đoàn tổ chức họp báo, cuộc họp báo được coi là hiếm có. Hơn 400 nhà báo quốc tế đến dự, chứng tỏ họ rất quan tâm chú ý đến Đoàn MTDTGPMNVN, đến cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta. Trước mắt họ là một người phụ nữ nhỏ nhắn, hiền lành, đến từ một vùng đất đang rực lửa chiến tranh, ăn nói có lý có tình. Bà Bình đã trả lời phỏng vấn các nhà báo một cách suôn sẻ hơn một tiếng đồng hồ, gây được thiện cảm với họ. Những ngày tiếp theo, bà Bình chịu áp lực khi nhiều nhà báo và các hãng truyền hình phỏng vấn riêng, nhưng vẫn tỏ ra bình tĩnh trước ánh đèn pha chiếu vào mặt.

Thời gian nghỉ giữa hai phiên họp, trong 4 năm đàm phán, bà Bình đi thăm nhiều nước để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Tháng 4-1969, thăm Anh, một nước luôn ủng hộ Mỹ, nên các đoàn thể của MTDTGPMNVN không xin được visa vào Anh. Nhưng nay Mỹ đã phải đàm phán với Mặt trận nên Anh chịu tiếp. Chuyến thăm kết quả tốt đẹp hơn cả mong đợi. Kết thúc buổi đón tiếp long trọng, madame Bình từ trên đài cao bước xuống, đi giữa hai hàng cảnh binh bảo vệ. Giữa quãng trường Trafalgar, rừng người hô vang khẩu hiệu “Đoàn kết với Việt Nam!”, “Chấm dứt chiến tranh!”. Chuyến thăm Thụy Điển năm 1970, được đích thân Thủ tướng Olof Palme (1927-1986) tiếp và cùng madame Bình dẫn đầu cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam. Nữ nhà văn Sara Lidman (1923-1976) nổi tiếng ở Bắc Âu, tiếp và nói: “Chị Bình ơi, Việt Nam đang có một nền văn hóa dân tộc vô cùng quý giá…” Các nước khác bà Bình đến thăm đều được đón tiếp nồng hậu, báo chí không tiếc lời khen ngợi madame Bình-Bộ trưởng, Trưởng đoàn và cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta.

Cuối tháng 4-1969, bà về Hà Nội nhận chỉ thị mới, kết hợp thăm cha đang bệnh nặng, và được Bác Hồ dặn phải vận động nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam. Không ngờ đó là lần cuối cùng gặp cha và Bác. Ngoài việc chuẩn bị cho các cuộc họp chính vào thứ 5 hàng tuần, các trưởng đoàn phải tiếp xúc với báo chí nhiều. Bà Bình “có những giai đoạn hầu như ngày nào cũng phải tiếp một hay hai hãng truyền hình hoặc phóng viên các báo Pháp, Mỹ, Anh, Nhật. Báo chí có thiện cảm nhất với đoàn CPCMLTCHMNVN. Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, có thể nói đấu lý lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi. Có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?” Bà Bình trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. Họ xoay mãi nhưng bà chỉ một cách trả lời đó, họ phải chịu.

Nhà báo hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?” Bà Bình dứt khoát: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?” Các nhà báo đều chấp nhận. Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh, đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen : “Cô rất dũng cảm.”

Khi Mỹ huy động nhiều máy bay B52 ném bom Hà Nội, ai cũng hồi hộp, lo lắng. Bà Bình được gọi về. Giữa đêm 30-12-1972 về đến Hà Nội, bà đi thăm phố Khâm Thiên bị B52 tàn phá tối 26-12 với nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo; thăm hai đứa con nhỏ thương yêu, sống xa mẹ nhiều năm, sơ tán ở thị xã Hưng Yên. Ngày 21-1-1973, trở lại Paris, bà Bình mở ngay cuộc họp báo, tuyên bố: “Chỉ có một nước Việt Nam, chỉ có một dân tộc Việt Nam và Chính phủ lâm thời là đại diện của nhân dân miền Nam!” Hãng AFP mô tả: “Bà Bình mặc áo dài truyền thống của Việt Nam bằng lụa vân màu xanh lá cây, trông rất thoải mái. Đôi lúc madame nở nụ cười làm khuôn mặt càng rạng rỡ, trả lời các nhà báo rõ ràng khúc chiết, làm cho người ta có cảm giác đứng trước một quý bà đầy bản lĩnh, đầy tự tin.” Ngày 27-1-1973, họp phiên chính thức ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh Việt Nam”. Phóng viên hãng AP của Mỹ mô tả Trung tâm hội nghị Kléber tràn ngập biển người và cờ Việt Nam, cờ Mặt trận, hô vang khẩu hiệu chống Mỹ và ngụy khi ngoại trưởng Rogers và ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn Trần Văn Lắm đến. Họ tung hô ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Thị Bình: “Hoan hô Việt Nam dân chủ cộng hòa! Hoan hô Chính phủ cách mạng lâm thời!”. Mỗi vị ký vào 32 văn bản của Hiệp định. Phóng viên UPI của Mỹ trang trọng viết: “Buổi lễ ký kết hòa bình ở Việt Nam diễn ra trong khung cảnh huy hoàng tráng lệ của thế kỷ 19 và những biện pháp an ninh nghiêm ngặt nhất mà thế kỷ 20 có thể tạo ra. Bốn ngoại trưởng, 2.000 cảnh sát và an ninh bảo vệ nghiêm cẩn”.

Phan Thu Hương
daidoanket.vn

Hiệp định Paris: Thắng lợi tổng hợp trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao

(ĐCSVN) – Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại Paris ngày 27/1/1973 là một sự kiện trọng đại, một thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Việt Nam, và cũng là đỉnh cao của Mặt trận Ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh.

Các đồng chí: Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy,
Cố vấn Lê Đức Thọ gặp gỡ phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tại Hội nghị Paris
năm 1973 (Ảnh tư liệu Bộ Ngoại giao)

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, tại Paris, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam”, gọi tắt là Hiệp định Paris về Việt Nam, đã được ký kết. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Việc Mỹ phải ký Hiệp định Paris là một thắng lợi to lớn, tạo ra cục diện có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.

Hiệp định là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như tại Hội nghị Paris, từ 15/3/1968 đến 27/1/1973, cụ thể kéo dài 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đã giành được thắng lợi quan trọng, to lớn về nhiều mặt.

Giai đoạn đàm phán dưới thời Tổng thống Mỹ Johnson diễn ra từ 15/3/1968 đến 31/10/1968. Sau Tết Mậu Thân 1968, Mỹ buộc phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và ngồi đàm phán với Việt Nam tại Paris. Cuộc đàm phán giữa đoàn đại biểu Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bắt đầu ngày 15/3/1968 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Kléber, Paris, đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam: Đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”.

Nhiệm vụ của đối ngoại giai đoạn này là dùng đàm phán để tiến công cô lập địch; vạch trần âm mưu của địch kéo dài chiến tranh, tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh do Mỹ phát động; tranh thủ dư luận phục vụ cho cuộc đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường; yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom không điều kiện miền Bắc Việt Nam.

Kết thúc giai đoạn này, Tổng thống Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom và chấp nhận để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) tham gia Hội nghị Paris. Tháng 1/1969, Nixon nhậm chức Tổng thống Mỹ. Đến ngày 18/1/1969, hội nghị 4 bên họp phiên đầu tiên dưới hình thức bàn tròn, đoàn đại biểu của MTDTGPMNVN xếp ngang hàng với các đoàn đại biểu khác. Trên bàn đàm phán, cuộc đấu trí diễn ra quyết liệt giữa các bên đàm phán, đặc biệt là giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và trợ lý Tổng thống Mỹ Kissinger. Ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo Hiệp định với những điều khoản yêu cầu Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí, nhưng đến ngày 22/10/1972, phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Ngày 12/12/1972, cuộc đàm phán phải tạm dừng. Đêm 18/12/1972, tổng thống Nixon ra lệnh ném bom huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng B52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm, Việt Nam đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược, lập nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng không quân chiến lược Mỹ. Đây là đòn quyết định nhất buộc Nixon phải tuyên bố ngừng ném bom từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị cho phía Mỹ gặp đoàn đại biểu Việt Nam tại Paris để ký hiệp định chấm dứt chiến tranh. Ngày 23/1/1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng trợ lý Tổng thống Mỹ Kissinger đã ký tắt văn bản Hiệp định. Ngày 27/1/1973, đã diễn ra lễ ký chính thức Hiệp định tại Pari, buộc Mỹ phải cuốn cờ rút khỏi miền Nam.

Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Với Hiệp định, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự, tạo thuận lợi cho cách mạng phát triển; ngụy mất chỗ dựa về quân sự, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng chính trị; Mỹ phải lùi về chiến lược, đi sâu vào xu thế rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và tránh một Việt Nam thứ hai. Hiệp định Paris là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu và can thiệp trở lại.

Hiệp định cũng xác nhận thực tế miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát; xoá ngụy một bước về pháp lý, ta giữ vững lực lượng quân sự, chính trị của ta, làm cơ sở cho cách mạng miền Nam tiến lên.

Hiệp định mở ra giai đoạn mới, tạo điều kiện cho việc hoàn thành giải phóng miền Nam. Hiệp định buộc Mỹ rút hết, ngụy mất chỗ dựa và suy yếu, ta giữ nguyên lực lượng và lớn mạnh lên, xuất hiện cục diện mới, so sánh lực lượng mới ở miền Nam. Đây là điều kiện cơ bản rất thuận lợi cho ta. Với Hiệp định Paris, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, tạo so sánh lực lượng mới, thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, hoàn thành giải phóng miền Nam. Mỹ rút quân nhưng Việt Nam vẫn giữ nguyên lực lượng chính trị và vũ trang ở miền Nam Việt Nam. Vì vậy, chiến thắng mùa Xuân 1975 hoàn toàn giải phóng miền Nam không tách khỏi thắng lợi của Hiệp định Paris.

Hiệp định Paris 1973 phản ánh thắng lợi ở mức cao trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”.

Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc gia với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân. Hiệp định Paris và thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần mở ra một chương mới trong cục diện Đông Nam Á: Mỹ rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và Đông Nam Á; khối SEATO giải tán; xu thế hoà bình, trung lập phát triển mạnh trong khu vực, mở ra khả năng thiết lập một khu vực hoà bình, hữu nghị ổn định.

Hiệp định Paris phản ánh được ở mức cao nhất thắng lợi và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân ta là Mỹ chấp nhận thất bại, rút lui, ta đứng vững và mạnh lên. Với Hiệp định Paris, ta phát huy thắng lợi trên chiến trường, giành thắng lợi quyết định, buộc Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân. Ta giành thắng lợi trong bối cảnh quốc tế phức tạp, trên chiến trường có nhiều khó khăn nên thắng lợi càng có ý nghĩa to lớn.

Nhân tố đóng vai trò quyết định đưa đến thắng lợi của cuộc đàm phán Paris, đó là sự lãnh đạo sáng suốt, đầy trí tuệ, rất bản lĩnh của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường lối quốc tế độc lập tự chủ, đúng đắn sáng tạo.

Nghệ thuật ngoại giao “Đánh kết hợp với đàm”, hoạt động ngoại giao đã góp phần tranh thủ dư luận thế giới, cô lập kẻ thù, hỗ trợ chiến trường và ngược lại, chiến thắng trên chiến trường đã hỗ trợ to lớn cho công tác vận động quốc tế trong các cuộc đàm phán; buộc địch xuống thang từng bước, làm thay đổi so sánh lực lượng, thế trận trên chiến trường.

Một nhân tố quan trọng góp phần tạo ra chiến thắng chính là chúng ta đã chủ động thúc đẩy hình thành được mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Đó là nêu cao chính nghĩa của cuộc đấu tranh của ta, vạch trần tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ; quyết tâm giành độc lập, thế tất thắng của ta và thế thất bại của Mỹ; nêu cao thiện chí hòa bình của Việt Nam; tố cáo tội ác chiến tranh, âm mưu xuyên tạc, lừa bịp của Mỹ.

Cùng với đó là sự chỉ đạo sát sao, sáng suốt của Bác Hồ, Bộ Chính trị và đóng góp to lớn, sáng tạo của Đoàn đàm phán. Đoàn đàm phán đã tìm tòi, xây dựng lập luận sắc bén, có sức tấn công, thuyết phục về những vấn đề quan trọng như quân miền Bắc ở lại miền Nam và quân Mỹ, chư hầu phải rút khỏi Việt Nam; đưa ra nhiều sáng kiến như: Giải pháp đồng bộ 10 điểm, 8 điểm, 7 điểm..; tranh thủ thời cơ và tạo thời cơ, biết nhân nhượng trên cơ sở “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Thắng lợi của Hiệp định Paris khẳng định, chỉ có thể thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ của mình nếu kiên định tinh thần độc lập, tự chủ, tự mình quyết định công việc của mình; đồng thời luôn coi trọng và ra sức tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế; xem ngoại giao là một mặt trận để huy động, phối hợp mọi lực lượng tham gia đấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn. Chủ động, linh hoạt sử dụng nhiều hình thức tổ chức, nhiều phương thức đấu tranh, huy động nhiều lực lượng, phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và đối ngoại nhân dân; với hai nền ngoại giao miền Bắc và miền Nam phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn ở trong nước cũng như trên quốc tế và đặc biệt tại bàn đàm phán Paris.

Hiệp định Paris thắng lợi, đó là việc quán triệt sâu sắc tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, kiên trì quan điểm độc lập, tự chủ; đánh giá và dự báo thời cuộc; nghệ thuật đánh – đàm; tranh thủ dư luận, tập hợp lực lượng tác động vào nội bộ đối phương; xác định rõ mục tiêu, biết giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng; nhân nhượng có nguyên tắc; kiên trì nguyên tắc, linh hoạt sách lược; chủ động tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ, xây dựng lập luận khoa học, lý lẽ sắc bén, thuyết phục; chủ động tiến công giành thế chủ động; tuyên truyền, vận động dư luận…

Mạnh Hùng
cpv.org.vn

Những câu chuyện về Hội nghị Paris: Giai thoại về cái bàn đàm phán

Cuộc đàm phán bước sang một giai đoạn mới là giải quyết vấn đề quân sự và chính trị ở miền Nam Việt Nam. Hai bên đều cho rằng để giải quyết vấn đề này phải có mặt các bên miền Nam Việt Nam.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) đề nghị có mặt của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPNMVN). Phía Mỹ đề nghị có mặt của Cộng hòa Việt Nam tức chính phủ Sài Gòn. Hội nghị 2 bên đã trở thành hội nghị 4 bên. Vì thế, cuộc tranh cãi về hình thù cái bàn kéo dài đến 2 tháng, từ 1-11-1968 đến tháng 1-1969 mới họp được phiên đầu tiên của Hội nghị 4 bên là VNDCCH, Mỹ, MTDTGPMNVN và Chính phủ Sài Gòn.

Trước khi đến Bắc Kinh để nhận nhiệm vụ Đại sứ Pháp do De Gaulle bổ nhiệm, Etienne Manac’h (Vụ trưởng Vụ châu Á-Bộ Ngoại giao Pháp) tham gia các cuộc thảo luận dưới hình thức bàn đàm phán. Ngoài tính chất giai thoại, vấn đề chiếc bàn trên thực tế động chạm đến bản chất của đàm phán bởi vì nó đặt ra vấn đề về vị trí và thân phận các đồng minh của Mỹ và VNDCCH: Ở đây là Chính phủ Sài Gòn và MTDTGPMNVN. Đề xuất của trung gian Pháp về một loại bàn hình kim cương có thể đáp ứng được cả ý muốn của Mỹ- đàm phán 2 bên bên 2 bàn chữ nhật- và của miền Bắc Việt Nam- đàm phán 4 bên bên 4 bàn hình vuông- xuất hiện sau đề xuất của Liên Xô và cuối cùng phương án được chấp nhận là: Một bàn tròn cho phía Mỹ và miền Bắc Việt Nam, hai bên có hai bàn nhỏ hình chữ nhật cho chính phủ Sài Gòn và cho MTDTGPMNVN.

Nguyễn Thế Mai
(dịch và biên tập từ tài liệu: NướcPháp,
bên thứ năm trong đàm phán?)

daidoanket.vn

Ai phá vỡ Hiệp định Paris 1973?


Trên thực tế, mỗi bên lại ủng hộ những điều khoản nằm trong lợi ích của mình.

Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam năm 1973 là một sự nhầm tên bởi vì mãi đến tháng 4/1975 hòa bình mới đến với Việt Nam, và chắc chắn không theo cách mà các điều khoản chính thức của văn bản này đã yêu cầu. Về cơ bản, Hiệp định tách bạch các vấn đề về quân sự và chính trị, với các vấn đề về quân sự khá rõ ràng còn các vấn đề về chính trị cần nhiều thương lượng so với thực thi – và những vấn đề này có thể không xảy ra một cách thành công. Hiệp định thiết lập một Ủy ban Liên hợp quân sự nhưng vì các quyết định của ủy ban này phải được nhất trí nên nó tất phải thất bại. Hiệp định tạo ra một Ủy ban Kiểm soát và Giám sát quốc tế bao gồm các thành viên thuộc các nước NATO, các nước cộng sản và trung lập, nhưng vì các quyết định của ủy ban này cũng phải được nhất trí nên nó cũng chỉ là hình thức mà thôi.

Khi hoàn thành văn bản cuối cùng, Nixon tuyên bố rằng Mỹ công nhận Việt Nam Cộng hòa do tướng Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu như “chính phủ hợp pháp duy nhất của Nam Việt Nam”. Điều đó có nghĩa là ông sẽ cổ vũ những phần trong Hiệp định mà ông ủng hộ và phớt lờ phần còn lại. Chế độ Thiệu không công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời và sẽ chỉ ký một thỏa thuận tách biệt không liên quan tới lực lượng này. Trên thực tế, mỗi bên lại ủng hộ những điều khoản nằm trong lợi ích của mình. Các cuộc chiến tranh cách mạng hiếm khi kết thúc bằng ngoại giao.

Đối với Tổng thống Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger, Hiệp định cung cấp thời gian mà cùng với nó họ hy vọng sẽ chiến thắng Cuộc chiến Việt Nam bằng cách bảo với Trung Quốc và Nga – hai nước đang ở trong một tiến trình chia rẽ sâu sắc, rằng nếu họ không hợp tác với Mỹ thông qua cắt viện trợ quân sự cho những người Cộng sản Việt Nam, họ sẽ có các biện pháp tăng cường sức mạnh cho kẻ thù của họ, bằng cách đó đe dọa kích động hai cường quốc cộng sản này chống lại nhau – còn gọi là “phép đạc tam giác”.

Toàn cảnh cuộc ký kết Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Niềm tin rằng ngoại giao khéo léo sẽ thành công đã trói buộc chính phủ Mỹ, và họ tin vào ảo tưởng này cho tới tận khi thực tế ở Việt Nam trở nên không thể đảo ngược. Mỹ công khai nói với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bắc Việt Nam, rằng viện trợ kinh tế sẽ sẵn sàng như một sự “khuyến khích hiển nhiên” nếu họ ngừng “xâm phạm” miền Nam.Nhưng những người Cộng sản đã dốc hết sức, lại kém xa về quân số và trang thiết bị so với các lực lượng của Thiệu, do Thiệu nhận được một nguồn cung quân sự khổng lồ từ Mỹ mà phần lớn trong số đó họ không thể bảo trì hoặc vận hành. Những vũ khí mới này không chỉ là một sự vi phạm Hiệp định Paris mà chúng còn khuyến khích Thiệu dám liều về quân sự, mà rút cục ông ta đã bị đánh bại.

Thực tế kể trên đã khiến quân đội Mỹ đi đến kết luận rằng tiếp thêm vũ khí cho chính quyền Sài Gòn chỉ lãng phí tiền của (hóa ra đúng như vậy). Hơn nữa, vào năm 1973, nhiều sĩ quan Mỹ hiểu rõ thực tế rằng nhiệm vụ chủ yếu của tư lệnh quân đội của Thiệu là củng cố quyền lực chính trị cá nhân của ông này hơn là phục vụ như một lực lượng chiến đấu hiệu quả – và rằng sự vượt trội về vũ khí của lực lượng này là vô nghĩa.

Thiệu cũng tin rằng Mỹ sẽ trở lại cuộc chiến với các máy bay B-52: các danh sách mục tiêu được vẽ ra. Các kiểm soát viên không gian của Mỹ ở Thái Lan luôn sẵn sàng. Bê bối Watergate của Nixon, rút cục dẫn tới việc ông này từ chức Tổng thống Mỹ, sắp chấm dứt khả năng đó. Tuy nhiên, Thiệu chưa từng nhận ra rằng đồng minh quyền lực và thân cận nhất của ông giờ đã ra đi.

Hiệp định cũng gây chia rẽ trong ban lãnh đạo Việt nam Dân chủ Cộng hòa, với một số người nghĩ có thể phải một thập niên nữa hoặc hơn mới đạt được chiến thắng.

Một dòng vũ khí, và khoảng 23.000 cố vấn người Mỹ và người nước ngoài tới dạy cho quân đội Việt Nam Cộng hòa cách sử dụng và bảo quản vũ khí, khiến cho Thiệu ngày càng tự tin, cộng với cam kết bí mật của Nixon rằng sức mạnh không quân Mỹ sẽ trở lại cuộc chiến nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa quân trở lại miền Nam, cam kết mà Quốc hội Mỹ không hề hay biết và rất có thể sẽ phản đối nếu xảy ra.

Nhưng cả Trung Quốc và Liên Xô, mặc dù ngày càng chia rẽ, đều không phản bội những người Cộng sản Việt Nam theo cách và thời gian mà chiến lược ngoại giao của Kissinger hy vọng. Ảo tưởng rằng ngoại giao khôn khéo sẽ thành công khi mà sức mạnh quân sự thất bại đã buộc chặt Nixon và Kissinger cho đến khi tất cả trở nên quá muộn. Hơn nữa, các yếu tố mà sẽ quyết định kết quả cuối cùng của một cuộc chiến trường kỳ đã vượt tầm kiểm soát của Mỹ.

Thiệu đã dùng khoảng thời gian trì hoãn mà Hiệp định mang lại cho ông ta để nỗ lực củng cố quyền lực của mình và trong quá trình đó bắt đầu xa lánh các thành phần trong dân chúng miền Nam không phải là “cộng sản” nhưng muốn kết thúc một cuộc xung đột gây đau thương cho Việt Nam trong nhiều thập niên. Hiệp định được dự kiến, ít nhất có vẻ như vậy, mang lại hòa bình và hòa giải, chứ không phải thêm chiến tranh. Họ không hay biết gì về các giả thuyết suông của Kissinger nhằm cho phép Mỹ cứu vãn “tín nhiệm” của mình.

Người dân thành thị ở Nam Việt Nam khi đó, đặc biệt là các Phật tử, phải chịu một mức độ đàn áp chưa từng thấy bởi chính quyền Thiệu. Báo chí và truyền hình bị kiểm soát ở một mức độ mới, và sự trấn áp càng khiến cho một bộ phận ngày càng đông dân cư thành thị xa lánh. Thiệu còn làm xa lánh cả những đồng minh tự nhiên của ông: nhiều người trở nên trung lập.

Những người tha phương muốn trở lại làng quê ở những khu vực có người Cộng sản nhưng nhìn chung họ bị cấm đoán – một sự vi phạm các điều khoản của Hiệp định. Lúa gạo và hàng hóa bán cho nông dân ở vùng châu thổ sông Mekong bị giám sát chặt chẽ để ngăn không cho lúa gạo tới tay quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Trong khi đó, Thiệu sử dụng nguồn vũ khí dồi dào mà Mỹ cung cấp cho ông ta, đặc biệt là pháo, và đến năm 1974, một cuộc chiến tranh nóng đã tái diễn (nhưng không có quân đội Mỹ), với quân đội Việt Nam Cộng hòa ARVN nổ súng ác liệt hơn nhiều so với những người Cộng sản.

Thực tế, dù dự kiến đạt được gì thì Hiệp định Paris 1973 chỉ mang lại một khoảng thời gian tạm lắng trong Cuộc chiến Việt Nam. Sai lầm của Thiệu là không nỗ lực làm cho Hiệp định Hòa bình có hiệu lực, chia sẻ một chút quyền lực với các Phật tử, với tầng lớp trung lưu, thậm chí với một số người Cộng sản – mà phần lớn họ là những người dân tộc chủ nghĩa thực sự. Thay vào đó, ông ta nghĩ sự vượt trội về vũ khí sẽ cho phép mình giành toàn thắng. Thiệu đã quá nhầm, và phải kết thúc trong cảnh sống tha hương khi quân đội của ông ta tan rã vào mùa xuân năm 1975.

Sam Nguyễn theo Counter Punch
vietnamnet.vn

—–

* Tác giả Gabriel Kolko là sử gia hàng đầu về chiến tranh hiện đại. Ông là tác giả cuốn Century of War: Politics, Conflicts and Society Since 1914 and Another Century of War. Ông cũng là sử gia nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam, với tác phẩm: Anatomy of a War: Vietnam, the US and the Modern Historical Experience. (Tạm dịch Giải phẫu một cuộc chiến tranh : Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử).

Nhà ngoại giao khổng lồ Lê Đức Thọ

Hội thảo khoa học về ông Lê Đức Thọ – nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, tài năng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, cố vấn đặc biệt của phái đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về Hiệp định Paris lịch sử.

Hội thảo khoa học “Đồng chí Lê Đức Thọ với cách mạng Việt Nam và quê hương Nam Định” do Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Tỉnh ủy Nam Định, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức đã diễn ra tại Nam Định ngày 5/9. Hội thảo được tổ chức nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, tài năng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao.

Hơn 60 tham luận và bài viết của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học và những người từng làm việc với ông Lê Đức Thọ tiếp tục khẳng định những cống hiến to lớn của ông đối với cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ, nhưng đậm nét hơn cả vẫn là những đóng góp của ông trên mặt trận ngoại giao.

Ông Lê Đức Thọ (phải). Ảnh: tư liệu

Tên tuổi Lê Đức Thọ, cố vấn đặc biệt của phái đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành tâm điểm cuả giới truyền thông thế giới với cuộc đàm phán kéo dài tới hơn 4 năm. Một cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27.1.1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ủy ban giải thưởng Nobel đã quyết định trao giải thưởng Nobel hòa bình năm đó cho ông Lê Đức Thọ, giải Nobel duy nhất dành cho người Việt từ trước tới nay nhưng ông đã từ chối với lý do hòa bình chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam.

“Kiến trúc sư” về công tác cán bộ

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho hay, đối với các nhà ngoại giao, cái khó trong đàm phán đó là lúc cương, lúc nhu. Ông Lê Đức Thọ trong đàm phán đã có lúc cương với đối phương nhưng ông đã thành công trong cách ứng xử linh hoạt khiến ông Kissinger nể và bị thuyết phục.

Ông Lê Đức Thọ và Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger. Ảnh tư liệu

“Ông ý là nhà ngoại giao khổng lồ. Ông ý khổng lồ ở chỗ đối phương đối thoại với Lê Đức Thọ là Kissinger, một học giả rất lớn của Mỹ thời đó. Lúc đó, Kissinger rất ngạo mạn, những tưởng có thể đè bẹp Lê Đức Thọ nhưng không thể được. Ví như làm thế nào để thống nhất được với Mỹ về vấn đề Mỹ phải rút quân. Mỹ muốn nếu Mỹ rút quân thì miền Bắc cũng phải rút quân khỏi miền Nam, đánh đồng như thế không thể được. Cuối cùng đồng chí Lê Đức Thọ đưa ra một công thức đó là vấn đề quân đội Việt Nam ở lãnh thổ Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết với nhau. Còn việc Mỹ rút quân là chuyện Mỹ phải rút. Tôi nghĩ trí tuệ của ông ý ở chỗ tìm một giải pháp đúng với lợi ích của mình” – nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho hay.

Trải qua nhiều chức vụ quan trọng và sau này khi phụ trách công tác tổ chức cán bộ của Đảng trong nhiều năm, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho công tác xây dựng Đảng và tổ chức của cả hệ thống chính trị.

Ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương nhận xét: “Vấn đề cán bộ là quyết định nhất. Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Cán bộ không gương mẫu làm thế nào xây dựng Đảng tốt? Cho nên ông Thọ, yếu tố quan trọng của ông ý hàng đầu là vấn đề cán bộ. Cán bộ là quyết định nhất. Đứng đầu một cơ quan, đứng đầu một tỉnh uỷ, đứng đầu một đơn vị, ông thủ trưởng phải mẫu mực, phải trở thành một thủ lĩnh gương mẫu nhất, một thủ lĩnh kiên cường nhất, có bản lĩnh nhất. Ông Thọ thích xây dựng cán bộ kiểu như vậy”. 

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đánh giá ông Lê Đức Thọ là một “phái viên chiến lược toàn năng, có thể ví như một tướng quân tài ba thao lược”. Đặc biệt trong công tác cán bộ, ông có những công lao lớn trên cương vị Trưởng ban Tổ chức Trung ương qua nhiều kỳ đại hội Đảng toàn quốc, đặc biệt trong công tác tổ chức – cán bộ. Được đánh giá như là một “kiến trúc sư” trong lĩnh vực này, ông Lê Đức Thọ đã để lại cho Đảng, Nhà nước những kinh nghiệm quý báu trong việc xem xét, đánh giá cán bộ.

“Trong các kỳ Đại hội IV, V, VI của Đảng, đồng chí Lê Đức Thọ được phân công giữ cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí đã có công lớn trong việc tham gia soạn thảo xây dựng Điều lệ Đảng, xây dựng quan điểm cách mạng, đấu tranh kiên quyết chống các quan điểm sai trái, đặc biệt là trong công tác tổ chức – cán bộ. Có thể đánh giá đồng chí Sáu Thọ như một “kiến trúc sư” về lĩnh vực này.”

Nhiều tham luận tại hội thảo đi sâu nghiên cứu những đóng góp của ông Lê Đức Thọ trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, quân sự, ngoại giao, văn học, nghệ thuật…, khẳng định, trong bất cứ lĩnh vực nào, ông cũng để lại những dấu ấn nổi bật, sáng tạo và sâu sắc.

Từ những luận cứ khoa học nêu ra, các tham luận đều nhất trí cho rằng, ông Lê Đức Thọ không chỉ là một nhà lãnh đạo tài năng mà còn là người có đóng góp to lớn trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của đất nước, là một tấm gương sáng ngời của người cộng sản kiên cường, bất khuất, suốt đời trung thành, tận tụy với nước với dân; là một người cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; luôn có tinh thần tiến công, lạc quan cách mạng, chủ động, quyết đoán và sáng tạo; hết lòng thương yêu đồng bào.

Ông Lê Đức Thọ, tên thật là Phan Đình Khải, sinh ngày 10/10/1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là xã Nam Vân (TP Nam Định) trong một gia đình nho giáo, ở vùng đất có truyền thống yêu nước, hiếu học. Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một chiến sỹ cách mạng kiên cường, một cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm của Đảng và Nhà nước.

Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng; Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Cách mạng Tháng Mười; Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Angkor…

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris 1968: Áp lực gia tăng

Để giải quyết các vấn đề của mình, Humphrey không nhận được nhiều sự ủng hộ từ phía tống thống.

>> Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>> Kỳ 2: Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?
>> Kỳ 3: Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
>> Kỳ 4: Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn
>> Kỳ 5: Hòa đàm Paris 1968: ‘Hãy đừng bị lừa dối’

Trong một cuộc họp vào cuối tháng 9, Tổng thống Johson còn lớn tiếng mắng Humphrey vì để lộ thông tin mật về Việt Nam.

Như vị Phó Tổng thống sau đó kể cho bác sĩ của ông: “Ông có biết những gì [Johnson] dám nói vào mặt tôi không, sau tất cả những lời sỉ nhục mà tôi nhận được từ ông ấy trong bốn năm qua? Ông ấy nói rằng nếu tôi không xem xét thái độ của mình thì ông ấy sẽ đích thân coi đó là vấn đề cá nhân nếu tôi để mất Texas (vào ngày bầu cử). Ông ấy nói ông ấy sẽ vắt kiệt từng đôla của Đảng Dân chủ từ Maine tới California – như thể ông ấy chưa làm thế. Tôi cố gắng kiềm chế nhưng tôi sẽ không sa sút tới mức độ của kẻ dối trá đó”.

Vào giữa tháng 10, Humphrey tới Nhà Trắng gặp Tổng thống để bàn bạc kín về bầu cử. Tuy nhiên, Johnson từ chối gặp ông bởi vì tin tức về cuộc gặp đã bị rò rỉ cho báo chí. Là Bộ trưởng Nông nghiệp, và cũng là một đồng minh thân cận của Humphrey, Orville Freeman đã nhận xét một cách chán chường: “Đó là sự thể hiện hờn dỗi và cũ rích của Tổng thống”.

Johnson hẳn là đã nhỏ vài giọt nước mắt cho màn thể hiện tồi của Humphrey trong các cuộc thăm dò dư luận. Tuy nhiên, áp lực ngày càng gia tăng lên Johnson đòi ông phải ướm thử thiện ý của Bắc Việt Nam nhằm bắt tay vào các cuộc đàm phán thực sự. Cuối cùng, đồng ý với các yêu cầu của Harriman cho một cú mặc cả ngoại giao quan trọng, Tổng thống đặt ra thời hạn ngừng ném bom là vào 31/10 – chỉ vài ngày trước cuộc bầu cử Tổng thống.

Quyết định này đã được đưa quá muộn để mà nâng Humphrey qua giới tuyến cuối cùng, nhưng cũng đủ kịp để gợi ý rằng Johnson vẫn quan tâm đến việc đảm bảo hòa bình trước khi nhiệm kỳ Tổng thống của ông kết thúc. Johnson đã đạt được các đảm bảo vững chắc từ các mưu trưởng liên quân Mỹ rằng quân đội có thể kiểm soát được việc ngừng ném bom. Vị Tổng tham mưu trưởng Earle Wheeler giải thích rằng Mỹ có thể dễ dàng đánh bom trở lại nếu như Bắc Việt Nam dại dột thực hiện một cuộc tổng tiến công khác.

Hội đàm bí mật Lê Đức Thọ – Kítxinhgiơ tại Pari. Ảnh tư liệu

Tin tức này đã gây ra lo lắng trong nội bộ nhóm vận động tranh cử của Nixon. Họ sợ rằng Humphrey có thể là người được hưởng lợi chính từ nước cờ kiến tạo hòa bình vào phút chót của Johnson. Henry Kissinger chính là tay trong đã thông báo cho nhà quản lý chiến dịch của Nixon, John Mitchell, rằng chính quyền Johnson có kế hoạch dừng ném bom.

Như Herbert Schandler viết: “Kissinger đã gặp riêng Harriman, Vance và các thành viên khác trong đoàn đàm phán ở Paris vào giữa tháng 9, ngay trước cuộc gặp đầu tiên giữa Harriman – Vance với Bắc Việt Nam, và họ đã chia sẻ với ông ấy sự thất vọng của mình, và cập nhật cho ông tình trạng của các cuộc hòa đàm. Khi lên kế hoạch cuộc gặp này, Kissinger đã dùng một thủ đoạn gian xảo nhằm xây dựng lòng tin của Harriman.

Ông ta viết cho Harriman ngày 15/8 rằng “có thể tôi sẽ có mặt ở Paris vào khoảng 17/9 và tôi thực sự muốn ghé qua và gặp ông ở đó. Tôi đã đoạn tuyệt với chính trị Cộng hòa. Đảng này không có năng lực và không phù hợp để lãnh đạo”. Kissinger đã dối trá để thuyết phục Harriman rằng ông ta đồng cảm với các nỗ lực của vị đại sứ và rằng bất cứ vấn đề nào được bàn đến đều sẽ được thực hiện trong sự tin tưởng tuyệt đối”.

Đại diện cho Richard Nixon, một nữ thương gia người Mỹ gốc Hoa có ảnh hưởng tên là Anna Chennault – Giám đốc tổ chức “Phụ nữ Cộng hòa vì Nixon” trên toàn quốc – đã thông báo cho Đại sứ Nam Việt Nam Bùi Diễm rằng ứng viên Tổng thống có kế hoạch bắt tay vào các cuộc đàm phán trực tiếp, thực sự. Chennault khuyên Tổng thống Thiệu nên từ chối tham gia vào các cuộc đối thoại trước khi diễn ra bầu cử, vì ông chắc chắn sẽ có được các điều khoản tốt hơn dưới thời Nixon so với Humphrey. Thủ đoạn này đã đặt chính trị đảng phái lên trước mạng sống của lính Mỹ trên chiến trường. Họ hành động phối hợp với một đất nước ở xa để chống lại các mục đích công khai của chính phủ Mỹ.

Thủ đoạn của nhóm Nixon không lâu sau thì trực tiếp đến tai Tổng thống. Vào cuối tháng 11, anh trai của Walt Rostow, Thứ trưởng Ngoại giao Eugene Rostow, phát hiện ra Nixon muốn các cuộc đàm phán Paris gặp trở ngại. Dựa trên những thông tin do một chỉ điểm trong chiến dịch Cộng hòa cung cấp, Rostow giải thích rằng “những khó khăn này sẽ giúp Nixon thuận tiện hơn khi dàn xếp sau tháng 1.

Giống như Ike năm 1953, ông sẽ có thể dàn xếp các thỏa thuận mà Tổng thống không thể chấp nhận, đổ lỗi cho tình hình từ lúc đó đến tháng 1 hoặc tháng 2 đã xấu đi do người tiền nhiệm của mình. Sau đó vào ngày 29/10, Walt Rostow báo cáo với Tổng thống rằng ông có thông tin về “cách thức một số thành viên Cộng hòa nhất định có thể đã kích động Nam Việt Nam hành xử như họ đã và đang hành xử”.

Tuy nhiên, thay vì công khai bằng chứng mà có thể làm trệch hướng chiến dịch của Nixon, Rostow lại khuyến cáo rằng “các vật liệu rất dễ nổ, chúng có thể gây thiệt hại lớn cho đất nước dù Nixon trúng cử hay không”. Có thể Rostow, khi phản đối các thủ đoạn mà phe Cộng hòa sử dụng, lại cảm thông với mục đích của Chennault là đảm bảo một nền hòa bình tốt hơn để bảo vệ Nam Việt Nam. Một cách bản năng, Rostow ủng hộ một hòa bình do Nixon dàn xếp hơn là do Humphrey dàn xếp.

Vì vậy, thay vì công khai chống lại những can thiệp của Nixon, Rostow lại khuyên Tổng thống tổ chức một cuộc họp kín với ứng viên Tổng thống phe Cộng hòa, trong đó Johnson sẽ khuyên Nixon rằng ông “có thể muốn cảnh báo những người của mình là hãy thận trọng hết mức khi làm việc với Nam Việt Nam vốn dễ bị ảnh hưởng và thiếu kinh nghiệm”. Tổng thống đã nghe theo lời khuyên của Rostow.

Vào ngày 30/9, Hubert Humphrey đã có bài phát biểu ở thành phố Salt Lake, tuyên bố sự độc lập chính trị của ông khỏi chính sách Việt Nam của chính quyền Johnson và bày tỏ ủng hộ cho một sự kết thúc ném bom vô điều kiện. Tổng thống rất tức giận vì Humphrey thiếu tôn trọng khi nêu ra quan điểm chủ bại như vậy. Theo ý của Johnson, Phó Tổng thống đã hướng tới những người chủ trương hòa bình vì lợi ích chính trị của bản thân, và làm như vậy ông đã thể hiện sự phản bội của mình.

Lúc đầu, Johnson định công khai tiết lộ của Chennault: “Nó sẽ làm chấn động thế giới nếu ông ta [Thiệu] đồng lõa với đảng Cộng hòa. Bạn có thể tưởng tượng được những gì người ta sẽ nói nếu sự thật phơi bày rằng Hà Nội đã đáp ứng tất cả các điều kiện và tiếp đó mưu đồ của Nixon với họ khiến chúng ta không đạt được điều đó”.

Trong một cuộc hội thoại với lãnh đạo thiểu số Thượng viện Everett Dirksen ngày 2/11, Tổng thống mô tả các hành động của Nixon là “phản quốc”, và Dirksen trả lời “Tôi biết”. Tuy nhiên, cuối cùng Johnson lại quyết định bỏ qua thủ đoạn xảo quyệt của Nixon. Lyndon Johnson đã làm đúng như Rostow khuyên bảo.

Ông ta gọi Nixon tới vào ngày 3/11để trách cứ riêng và Nixon cười đáp: “Chúa ơi, tôi sẽ không bao giờ làm điều gì khuyến khích Hà Nội – ý tôi là Sài Gòn – không tới bên bàn đàm phán”. Tất nhiên, dối trá là một quá trình đến với Richard Nixon một cách tự nhiên.

Tình tiết này rất quan trọng, liên quan đến cả khoảng thời gian mở rộng của Cuộc chiến Việt Nam lẫn tương lai của chính trị bên trong nước Mỹ. Cuộc chiến Việt Nam kéo dài mãi cho tới tháng 1/1973, trong khi 1968 là một “cơn bĩ cực” đối với Đảng Dân chủ mà mãi tới gần đây đảng này mới có thể nguôi ngoai. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, những nhân vật ít hiếu chiến hơn cũng quá đắn đo về việc công khai hóa tiết lộ của Chennault.

Chẳng hạn, Clark Clifford muốn Humphrey giành chiến thắng vang dội, nhưng lại lo ngại rằng “một số thành phần của câu chuyện đang sửng sốt đến nỗi tôi đang băn khoăn liệu có tốt cho đất nước này không khi tiết lộ câu chuyện, và sau đó có thể để cho một cá nhân nào đó được bầu chọn. Nó có thể đặt toàn bộ chính quyền của người đó vào những nghi ngờ mà tôi nghĩ rằng sẽ có hại cho lợi ích của đất nước chúng ta”. Viễn cảnh tồi tệ nhất cho đoàn kết quốc gia là, theo quan niệm của Clifford, để câu chuyện bung ra và Nixon sẽ vẫn thắng.

Dù sao, những trang nhật ký của Hubert Humphrey cũng bày tỏ sự hối tiếc là đã không hành động nhiều hơn nữa về tiết lộ của Chennault: “Tôi băn khoăn liệu mình có nên thổi còi Anna Chennault và Nixon hay không. Ông ta phải biết về cuộc gọi của bà ấy cho Thiệu. Tôi ước tôi có thể chắc chắn. Thiệu chết tiệt. Kéo chân ông ta cuối tuần rồi đã làm hại chúng ta. Tôi băn khoăn liệu cuộc gọi đó có thế không. Nếu Nixon biết. Có thể dù gì tôi đã nên phá họ”. Một người hiện còn ấn tượng rằng Humphrey vẫn cay đắng chuyện Johnson không khuyên ông ta bằng những lời lẽ mạnh mẽ hơn để công khai mối quan hệ Chennault/Nixon-Thiệu.

Như nhật ký ngày bầu cử của Humphrey đã biểu lộ một cách buồn rầu, “[. . .] Tôi có thể khóc. Chưa từng cảm thấy như thế này. Tôi đã làm quá dở một số điều. Bạn phạm những sai lầm như thế trong một chiến dịch. Có thể sẽ hoàn thành nó trong một tuần lễ khác. Chúng tôi đang tiến tới quá nhanh. Tại sao, tại sao, tại sao chúng ta lại bắt đầu trở lại quá xa thế?”.

Tất nhiên, có một nguyên nhân quan trọng tại sao Humphrey lại bắt đầu trở lại quá xa. Bất cứ lợi thế nào mà một sự đột phá của các cuộc hòa đàm Paris có thể mang lại cho chiến dịch của Humphrey đều bị chặn trước do Tổng thống không sẵn sàng tiếp tục trên mặt trận đó một cách cấp thiết.

Tổng thống đã ra lệnh dừng ném bom như dự định vào ngày 31/10. Trong một giác thư thẳng thắn và thiện chí gửi tới LBJ, Rostow thổ lộ rằng “sự an toàn duy nhất mà tôi từng biết trong 8 năm khó khăn này là cố vấn sự đánh giá và lương tâm của tôi. Và tôi biết rằng đó cũng là niềm an ủi duy nhất của ngài”. Khi đưa ra quyết định khó khăn này, Rostow thể hiện: “Ngài có thể luôn kỳ vọng ở tôi”.

Cảm thông với tình trạng khó xử của Johnson, Rostow viết rằng “Ngài sẽ bị cáo buộc chơi trò chính trị nếu ngài để điều này trôi đi – và chính trị chống lại đảng mà ngài dẫn đầu. Harriman và người Nga sẽ nhìn ra điều đó”. Rõ ràng Averell Harriman đã chìm rất sâu trong đánh giá của Rostow để ông này biện hộ sự so sánh với những người Xô viết. Tuy nhiên, Rostow tin rằng Không lực Mỹ vẫn có thể ra vài đòn trong thời gian chuyển tiếp. Giống như một thiếu niên bị lôi ra khỏi một trận ẩu đả, vẫn còn hăng máu, Rostow nói thêm rằng “chúng ta không thể đảm bảo rằng mọi đơn vị sẽ nhận lệnh đúng thời điểm dừng ném bom. Bởi thế, họ sẽ không phàn nàn nếu có một sự vi phạm nào đó trong 7 giờ đồng hồ sau thời gian họ chỉ định”.

Dù quyết định dừng ném bom tạo một cú huých chậm cho chiến dịch bơ phờ của Humphrey, người Mỹ đã bầu chọn Richard Nixon làm Tổng thống tiếp theo của họ với đa số 510.000 phiếu phổ thông. Có thể hiểu được, từ đó, các cuộc hòa đàm Paris chìm xuống do Sài Gòn không muốn đồng ý các điều khoản dưới một tổng thống đang nắm quyền những ngày cuối cùng, với một triển vọng hấp dẫn của Nixon sắp ló dạng.

Tuy các viễn cảnh chân thực về hòa đàm đã rõ ràng trước đó trong năm, việc dừng ném bom ngày 31/10 của Lyndon Johnson là quá nhỏ nhoi và quá muộn màng. Tuy nhiên, thậm chí đã đến lúc này, Rostow vẫn muốn Harriman ra khỏi các cuộc đàm phán ở Paris. Ông ta bịa ra một kế hoạch ranh ma nhằm đạt được mục đích.

Viết vào ngày 7/11, Rostow thông báo với Tổng thống rằng Harriman sẽ bước sang tuổi 77 vào ngày 15/11: “Tôi vừa nảy ra ý nghĩ rằng nếu chúng ta muốn gạt bỏ ông ta, chúng ta có thể tổ chức cho ông ta một bữa tiệc hoành tráng, mời tất cả bạn bè của ông ta – và sau đó đưa ông ta ra khỏi Paris trong giai đoạn tiếp theo”. Biết rõ rằng mưu đồ này có thể bị từ chối, Rostow vuốt đuôi rằng “dù đó là một ý kiến hay hay dở, tôi nghĩ ngài sẽ muốn biết rằng sắp đến sinh nhật của ông ấy rồi”.

David Milne

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, The Nation, và the Los Angeles Times.

Sam Nguyễn dịch
vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris 1968: ‘Hãy đừng bị lừa dối’

Harriman “tin rằng việc Tổng thống không dừng ném bom miền Bắc Việt Nam vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 là một bi kịch lịch sử với những hậu quả có thể rất rộng lớn”.

>> Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>> Kỳ 2: Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?
>> Kỳ 3: Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
>> Kỳ 4: Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn

Vào cuối tháng 8, Harriman viết cho Hubert Humphrey: “tôi thực sự quan tâm việc ông sẽ trở thành Tổng thống tiếp theo của chúng tôi, và mong muốn làm bất cứ những gì có thể để ủng hộ mục tiêu đó. Hơn nữa, tôi thất kinh với tai họa cho đất nước chúng ta nếu Richard Nixon được bầu chọn. Ngoài sự thụt lùi của đất nước chúng ta vì các chính sách phản động của ông ta và những người thuộc cánh hữu của đảng Cộng hòa mà ông ta đại diện, không may là trên khắp thế giới này ông ta đã khuấy động một sự bất tín cá nhân”.

Tuy nhiên, Lyndon Johnson lại thấy thoải mái với viển cảnh đảng Dân chủ sẽ thất bại trong cuộc bầu cử tháng 11. Các nỗ lực của Hubert Humphrey nhằm xoa dịu cánh tự do trong Đảng Dân chủ đã chọc giận Tổng thống, và ông dường như không quan tâm liệu gã người Minnesota này có kế vị mình hay không. Có lần, Johnson lập luận rằng phe Cộng hòa “đã giúp ích cho chúng ta nhiều hơn (về Việt Nam) so với phe Dân chủ trong vài tháng cuối cùng”. Cảm nghĩ này không phải là điều tốt cho các triển vọng của Humphrey, cũng chẳng tốt cho hòa bình.

Suốt tháng 7 đó có một sự lắng dịu tạm thời về cường độ chiến tranh ở Nam Việt Nam. Harriman giải thích đây là “một kiểu dấu hiệu kiềm chế mà Tổng thống đã yêu cầu trong thông điệp ngày 31 tháng 3 của mình” và hăng hái tận dụng ưu thế ngoại giao bằng cách yêu cầu quân đội Mỹ phản ánh trung thực sự giảm bớt các hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam.

Ngày 29/7, Harriman viết cho Dean Rusk rằng “bên cạnh việc thúc đẩy đàm phán thì dừng ném bom trong tương lai gần có thể cứu mạng được nhiều binh sĩ Mỹ, những người có thể sẽ chết khi trong cuộc chiến với Bắc Việt Nam”. Harriman hy vọng một lý do cơ bản như vậy có thể sẽ thuyết phục được Ngoại trưởng.

Vô tình phối hợp với đề nghị của Harriman, tờ Thời báo New York đã đăng xã luận ủng hộ dừng ném bom vào đúng ngày hôm đó và phó Tổng thống cũng “chuẩn bị một bức thư về lập trường của chính ông, bao gồm việc ngừng ném bom”. Gần như chắc chắn nhận được đề cử của Đảng Dân chủ tiếp sau vụ ám sát Bobby Kennedy ở Los Angeles, Humphrey hết lòng ủng hộ các nỗ lực của Harriman, và muốn Tổng thống cho phép ông được linh động đàm phán hơn nữa như mong muốn.

Bà Nguyễn Thị Bình tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu.

Sự kết hợp cố vấn này có thể đã không tồi tệ hơn từ góc nhìn của Harriman. Johnson xem thường New York Times và tin rằng Humphrey đang thể hiện một sự phản bội mà đã đặt ông lên trên giới hạn cho phép. Johnson  “rất giận dữ” khi ông nghe tin Humphrey tán thành đề xuất ngừng ném bom của Harriman. Tổng thống dứt khoát không lùi bước và chiến dịch ném bom của Mỹ tiếp tục như trước. Dean Rusk bồi cho một phát súng kết liễu vào ngày 31/7 khi đưa ra những gì mà Averell Harriman mô tả một cách cay đắng là “một cuộc họp báo không khoan nhượng xóa sạch mọi công việc mà Vance và tôi đã làm ở Paris kể từ đầu tháng 5”.

Trong một lá thư gửi Harriman, Rusk viết: Chúng tôi có lý do để tin rằng Hà Nội, Moscow và các bên khác đang cố gắng leo thang một chiến dịch phối hợp để buộc chúng ta dừng mọi hoạt động ném bom mà không có bất kỳ hành động tương ứng nào từ phía Hà Nội. Đó có thể là họ đang hy vọng vào hội nghị và thời kỳ bầu cử để đạt được sự kết thúc này. Họ phải được làm cho tỉnh ngộ khỏi ý tưởng này nếu muốn có hòa bình”. Lyndon Johnson mô tả bức điện của Harriman như “cháo bột mì” và than phiền cay đắng rằng “kẻ thù đang dùng chính người của tôi như những kẻ bị lừa bịp”.

Ngày 22/8, một Harriman cương quyết viết rằng “Tôi tin rằng việc Tổng thống không dừng ném bom miền Bắc Việt Nam vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 (như chúng tôi đề nghị) là một bi kịch lịch sử với những hậu quả có thể rất rộng lớn”. Vào thời điểm này, cựu cố vấn an ninh quốc gia McGeorge Bundy và Clark Clifford cũng lên án Johnson thiếu thiện ý trong việc hạn chế quân sự để tạo điều kiện cho một đột phá đàm phán ở Paris. Clifford cảm thấy không giúp ích nhiều nếu chỉ hạn chế một phần quân đội để giúp Harriman làm công việc của mình. Nếu Tổng thống thực sự muốn tìm kiếm hòa bình, Clifford cho rằng ông phải tìm kiếm một cách đúng đắn: Gần như là không thể đàm phán một cách chân thành với một đối tác mà họng của họ bị anh bóp nghẹt. Bất đồng gay gắt với lập luận của Clifford, Rostow thông báo với Bộ Quốc phòng rằng ông “rất phiền lòng với một số bình luận về việc ném bom [. . .]

Sự thúc ép chủ yếu nhằm vào Hà Nội là các lực lượng và đồng minh ở miền nam. Một trong những áp lực khác đã và vẫn là ném bom xuống miền bắc”. Niềm tin của Clifford rằng Hà Nội có thể đơn giản di chuyển người và quân nhu theo ý muốn – rằng chiến dịch ném bom của Mỹ dứt khoát không thể ngăn cản miền bắc – là không đúng. Rostow thông báo một cách kẻ cả với Clifford rằng “cuộc sống và chiến tranh không đơn giản như thế”.

Hướng sang sự phản đối của McGeorge Bundy, Rostow đã soạn ra một lá thư dài mà Tổng thống đã gửi cho viên cựu cố vấn an ninh quốc gia của ông. “Tôi biết thật khó để tin kẻ ngoài”, Tổng thống nhấn mạnh trong lá thư, “nhưng thực tế đơn giản là bên kia vẫn chưa sẵn sàng cho một thỏa thuận. Tôi không hết hy vọng rằng một lúc nào đó họ có thể sẵn sàng trong những tuần và tháng tới đây – mặc dầu tôi không trông mong điều này”. Tìm sự an ủi trong sự ủng hộ kiên định của Rostow và Rusk, Tổng thống thẳng thừng từ chối thuận theo những người chỉ trích ông bằng cách rút ngắn chiến dịch ném bom.

Trong một bài phát biểu hiếu chiến trước “Các cựu chiến binh tham chiến ở nước ngoài’, Johnson tuyên bố: “Hãy đừng để bị lừa dối. Hãy đừng để bị làm mê muội. Tóm lại, nhân dân của chúng ta và nhân dân của họ phải hiểu rõ một điều: Chúng ta sẽ không dừng ném bom chỉ để cho họ có cơ hội đẩy mạnh cuộc tắm máu của mình”. Tuy nhiên, khó mà không xem sự dứt khoát của Tổng thống là do tức giận vì nghĩ Humphrey và Harriman phản bội – một trạng thái tâm lý o bế mà các cố vấn diều hâu của ông đã tích cực duy trì.

Suốt tháng 8/1968, Phó Tổng thống có một số bước thăm dò để tự thoát ra khỏi quan điểm của chính quyền Johnson về hòa đàm với Bắc Việt Nam.

Trong một cảnh báo bằng lời rất rõ ràng tới Richard Nixon rằng đừng có chính trị hóa các cuộc đàm phán ở Paris trong chiến dịch bầu cử sắp tới, Humphrey nói thêm: “Tôi tin rằng các ứng viên được chọn bởi các chính đảng nợ người dân Mỹ và nợ những người lính trên chiến trường ở Việt Nam việc phải tuyên bố rõ như ban ngày với Hà Nội rằng họ sẽ không có được một thỏa thuận tốt hơn”.

Tại Đại hội Đảng Dân chủ ở Chicago, Humphrey miễn cưỡng đồng ý ủng hộ cương lĩnh cứng rắn của Tổng thống về Việt Nam – một quyết định đã gây chia rẽ trong đảng và khiến cho Humphrey bị bêu riếu là con chó cảnh của Tổng thống. Cảm thấy nhục nhã trước sự chỉ trích này, Humphrey bắt đầu nhận ra rằng muốn đánh bại Nixon thì ông phải chọn một lập trường mà đặt ông gần hơn với ứng viên Tổng thống cùng quê Minnesota, Eugene McCarthy.

Vào cuối tuần ngày 14-15/9, Harriman và Vance báo cáo một số tin tức tích cực từ Paris. Họ đã tổ chức một cuộc đối thoại riêng quan trọng với hai nhà đàm phán chủ chốt của Bắc Việt Nam là Lê Đức Thọ và Xuân Thủy, những người đã thể hiện thiện ý muốn bắt đầu các cuộc đàm phám nghiêm túc ngay khi chiến dịch ném bom kết thúc. Hà Nội cũng tỏ dấu hiệu, thông qua các cuộc thảo luận riêng rẽ diễn ra với trung gian Na Uy ở Oslo, rằng họ sẵn sàng chấp nhận một sự hiện diện của Nam Việt Nam tại các cuộc hòa đàm chính thức ở Paris.

Không hề ấn tượng trước những gì trên thực tế là một bước đột phá quan trọng, Rostow đã viết một cách suy diễn cho Tổng thống rằng “nếu ngài xét thấy ngoại giao đã thất bại”, ngài có thể xem xét “ném bom Campuchia [. . .], ném bom Hà Nội – Hải Phòng, phá hoại Hải Phòng [. . .] và [tiến hành] các cuộc tấn công trên bộ ở phía bắc DMZ”. Thậm chí, ở giai đoạn cuối này, Rostow vẫn hy vọng Tổng thống có thể đồng ý với các kế hoạch xâm lược của ông ta. Khi đưa ra những gợi ý đó, Rostow thể hiện một chút khí sắc thời đại và kiểu cách mà trong đó những nhận thức chung về Cuộc chiến Việt Nam đã thay đổi.

Rostow tiếp tục bày tỏ lo ngại rằng Harriman đang vượt quá quyền hạn cho phép, và muốn Tổng thống nói rõ rằng ông sẽ không theo đuổi hòa bình bằng bất cứ giá nào. Trong một cuộc gặp ngày 17/9 với Harriman, với sự có mặt của Rostow, Johnson tuyên bố rõ: “vì Đại sứ Harriman sắp rời nhiệm”, nên “Tôi sẽ mong đợi ông, Averell, dẫn dắt Đảng và Chính phủ trong việc yêu cầu nối lại chiến dịch ném bom nếu họ vi phạm những hiểu biết này”.

Tình hình có vẻ khó lay chuyển cho Harriman và Phó Tổng thống – người đang tụt lại sau Nixon trong các cuộc thăm dò dư luận. “Đừng tin những gì ông nghe thấy rằng chiến dịch của Humphrey rất dở”, Harriman viết cho Vance một cách thất vọng, “bởi vì nó còn dở hơn ông tưởng nhiều”.

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, TheNation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn

Liên quan đến hòa đàm Paris, những ngày cuối của nhiệm kì Tổng thống, Johnson xoay đổi hướng giữa hiếu chiến và kiềm chế, phản ánh những chia rẽ trong các cố vấn chính sách của ông và cả nước Mỹ.

>> Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
>> Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>> Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?

Các cuộc đàm phán không chính thức với đoàn đại biểu Bắc Việt Nam bắt đầu ở Paris ngày 10/5. Tóm tắt của Harriman là tương đối thẳng thắn: Ông sẽ thiết lập liên hệ với các đại diện Bắc Việt Nam, thuyết phục họ cùng bắt tay xuống thang chiến tranh, và nhất trí ủng hộ các cuộc bầu cử tự do ở Nam Việt Nam, trong đó Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam sẽ hạ vũ khí và tham gia bầu cử như một chính đảng hòa bình.

Harriman tuyên bố trong lúc ông rời khỏi Washington rằng “Chúng tôi sẽ tham gia trong tinh thần ngay thật và thiện chí. Nếu tinh thần đó phù hợp với phía bên kia, tiến bộ có thể được tạo ra hướng tới mục đích của chúng ta là một thỏa thuận hòa bình.”

Tuy nhiên, Rostow không mất nhiều thời gian để phát hiện ra các vấn đề và một lần nữa biện luận thiên về một sự leo thang quân sự nhanh chóng nhằm cản trở nhà đàm phán trưởng của Mỹ. Làm như thế, Rostow va chạm với Harriman và Clark Cliford.

Về sự phản đối của Bộ trưởng Quốc phòng đối với các kế hoạch ném thêm bom, Rostow viết: “Những gì phân tích của Clark không đề cập đến là những gì chính sách mà chúng ta nên theo đuổi nếu không có đột phá trong các cuộc đàm phán ở Paris và nếu họ tiếp tục “đọc danh bạ điện thoại” cho chúng ta nghe mỗi khi chúng ta gặp nhau. Tôi không tin chúng ta có thể ngồi vô hạn định trong những hoàn cảnh như vậy”.

Nếu phe Dân chủ chọn Thượng nghị sĩ New York Robert Kennedy tại Đại hội toàn quốc của đảng ở Chicago hay không và nếu người dân Mỹ có bầu ông vào tháng 11, Rostow sợ rằng Bắc Việt Nam đơn giản là chần chừ cho đến khi Tổng thống Kennedy đưa ra một giải pháp thiện chí hơn. Để ngăn chặn điều này xảy ra, Rostow đề nghị Tổng thống đánh phá “các cảng biển Bắc Việt Nam và/hoặc cử một số quân của chúng ta bắc tiến qua DMZ”. Xâm lược Việt Nam, Rostow lập luận, sẽ tạo cho Tổng thống Robert F. Kennedy một triển vọng không chắc thành công.

Kissinger bắt tay các ông Xuân Thủy, Lê Đức Thọ tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Thất vọng trước sự hiếu chiến của Rostow, Harriman viết ngày 4/6 rằng “sẽ là một sai lầm lớn khi dọa đánh bom các khu đô thị ở Bắc Việt Nam một khi họ tiếp tục tiến công vào Sài Gòn [. . .]  Đánh bom Hà Nội hoặc Hải Phòng trong những hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi tin, sẽ khiến Hà Nội đoạn tuyệt với hòa đàm và có những phản ứng bất lợi khác”.

Phản hồi trước những lo ngại của Harriman, Rostow gửi một lá thư bi quan tới tổng thống. “Tôi miễn cưỡng đi đến kết luận”, Rostow cảnh báo, “Rằng nếu chúng ta tiếp tục duy trì các cuộc đàm phán ở Paris, chúng ta sẽ phải đón nhận nguy cơ giải tán chúng [. . .] Tôi tin rằng họ đang cười vào mặt chúng ta và coi chúng ta như những gã khờ trên mặt trận quân  sự – ngoại giao”.

Rostow khuyên Tổng thống rằng ông hãy “yêu cầu Averell bảo Bắc Việt Nam rằng chúng tôi sẽ phải đáp trả cho mỗi quả tên lửa vào Sài Gòn bằng ít nhất một quả bom nhằm vào Hà Nội”. Rostow đồng tình với “quan điểm của Clark Clifford rằng điều này có thể là một đòn giáng chí tử vào vị thế chính trị của Phó Tổng thống”.

Tuy nhiên, “Clark đã sai lầm khi tin rằng chúng ta – hoặc Phó Tổng thống – có thể tiếp tục sống chung với vị thế phi nhân cách và nhục nhã khi mà [. . .] họ từ chối đàm phán nghiêm túc ở Paris.”

Quan ngại trước sự thiếu nền tảng của Bộ trưởng Quốc phòng, Rostow thậm chí đã cố tách Lầu Năm Góc khỏi vành đai thông tin, từ chối chuyển các báo cáo từ hòa đàm Paris cho Cliford.  Thư ký của Bộ Ngoại giao Benjamin Read đã rất choáng với sự khiếm nhã thô thiển này và đã lập ra một “dịch vụ sứ giả tư nhân” nhằm phá vỡ sự cấm vận thông tin của Rostow.

Có một chút băn khoăn là Harriman, đồng minh thân cận nhất của Clifford, lại chịu mô tả Walt Rostow như một “Rasputin” của Mỹ vì những ảnh hưởng vô vị mà ông này chèn vào việc ra quyết định của Tổng thống.

Các triển vọng về một sự đột phá ngày càng hứa hẹn về phía Bắc Việt Nam và ngày 4/6, Thủ tướng Liên xô Alexei Kosygin viết cho tổng thống nói rằng “Tôi và các cộng sự của tôi tin tưởng” rằng Bắc Việt Nam sẵn sàng đàm phán một thỏa thuận, miễn là Mỹ dừng chiến dịch ném bom.”

Là một chuyên gia có tiếng về USSR, Harriman không hiểu “một lãnh đạo Xô Viết lại đưa ra một lập trường trực tiếp như thế”. Hài lòng với triển vọng về một sự đột phá như vậy, Clifford cùng ông kêu gọi một sự ngừng ném bom. Một Dean Rusk vốn kín đáo ít nói nhưng tỏ rõ sự ủng hộ đối với một phản ứng tích cực trước yêu cầu của Kossygin. Mỹ có thể luôn nối lại chiến dịch ném bom nếu như không có gì tiến triển.

Tuy nhiên, trong một cuộc gặp với Tổng thống ngày tiếp sau đó, Rusk thay đổi chiến thuật và “phá hỏng đề xuất của Clifford, giữ quan điểm rằng tất nhiên chúng ta không thể chấp nhận những gì Kosygin nói một cách nghiêm túc. Không hay biết sự trở mặt của Ngoại trưởng, Clifford và Harriman giữ vững lập trường nhưng không đi đến đâu.

Như Harriman hồi tưởng: “Tác động thực sự của điều này là cực kỳ mạnh mẽ, gạt bỏ Kosygin, và Clifford và tôi đều nghĩ chúng tôi đã để mất một cơ hội đưa chính phủ Liên Xô vào cùng gánh vác trách nhiệm, theo một cách có giá trị nhất, cho tương lai hòa đàm”.

Thất vọng bởi cách hành xử của Rusk, Harriman nhớ lại rằng “Tôi chưa bao giờ tham gia vào bất kỳ một cuộc thảo luận nào ở Nhà Trắng, nơi có một nỗ lực quá rõ ràng được thực hiện về phía một thành viên trong Nội các của Tổng thống với mục đích phá hoại vị thế của người khác trước khi người ta có cơ hội thể hiện nó”.

Trở lại Foggy Bottom cùng nhau, Rusk nói với Harriman rằng “vấn đề với Clark là ông đã đánh mất dũng khí kể từ khi tiếp quản Lầu Năm Góc”. Tức giận bởi sự gièm pha này, Harriman nói với sếp của mình rằng ông không đồng ý về cơ bản với cách giải thích của ông này về các động cơ của Clifford. Sau đó, ông ghi lại: “Tôi cảm thấy Dean chắc chắn đã sử dụng đòn tấn công này vào tính cách của Clark với Tổng thống. Đối với tôi, kiểu tấn công như thế nhằm vào một đồng nghiệp là đê tiện”.

Harriman và Clifford đã có một cuộc trò chuyện qua điện thoại thẳng thắn vào ngày 21/6, trong đó họ thảo luận về vấn đề cốt lõi đang phải đối mặt: cụ thể, họ tỏ ra là hai nhân sự cấp cao duy nhất của chính quyền Johnson quan tâm đến việc đạt được hòa bình ở Việt Nam.

Đối với Clifford, vấn đề chính là Tổng thống chịu ảnh hưởng của các cố vấn “bi quan”, những người đưa ra một phản ứng xa lánh với Bắc Việt Nam. Clifford nói với Harriman rằng Tổng thống “được báo cáo rằng khó có thể chịu nổi về thái độ của chúng ta với Nam Việt Nam, binh lính của chính chúng ta và thậm chí cả vị thế của chúng ta trên thế giới nếu chúng ta để mặc cho Sài Gòn bị nã pháo trong khi Hà Nội không bị đụng đến. Ông ấy bắt đầu khó bảo.

Gắn với cách tiếp cận này, tôi nghĩ, là một nỗ lực từ phía ai đó muốn tỏ dấu hiệu rằng có lẽ sẽ không có kết quả gì từ Paris”. Clifford tin rằng có một cách duy nhất để làm dịu bất mãn của “chính những người đàn ông rất quân phiệt” (ý ông là Rusk và Rostow), những người muốn leo thang một cuộc chiến trên không, và để nhấn mạnh một thực tế rằng các cuộc hội đàm ở Paris đang tạo ra “những chỉ hướng” đầy hy vọng, ngay cả khi điều này không khớp với thực tế. Nếu báo chí Mỹ đưa tin Harriman đang đạt tiến bộ nào đó ở Paris, thì sẽ khó hơn cho Tổng thống khi phê chuẩn kiểu chiến dịch ném bom mà Rostow đề nghị.

“Những gì tôi nghĩ chúng ta phải làm”, Clifford nhận xét, “là theo cách thận trọng nhất phải biểu thị được điều gì đó đang diễn ra”. Cliford hy vọng rằng những bày tỏ hy vọng quá mức về chủ đề đàm phán sẽ phá được niềm tin thái quá của Rostow và Rusk vào khả năng của quân đội Mỹ sẽ vẫn thắng cuộc. Đó là một cách đặc biệt để chính quyền Johnson vận hành. Bộ trưởng Quốc phòng sẽ tham vấn ngoại giao và Ngoại trưởng sẽ đề nghị leo thang quân sự. Clifford tin rằng đối với những người chủ trương hòa bình của chính phủ, các viễn cảnh này là tuyệt vọng đến nỗi chỉ một sự dối trá nhẹ nhàng cũng có khiến cho công luận Mỹ hủy hoại những kẻ diều hâu.

Trong những ngày còn lại của chính quyền Johnson, Tổng thống xoay đổi hướng giữa hiếu chiến và kiềm chế, phản ánh những chia rẽ trong các cố vấn chính sách của ông và cả nước Mỹ. Clifford sau đó than vãn rằng Lyndon Johson hành động “giống như kiểu một nhà lãnh đạo lập pháp, tìm kiếm sự đồng thuận giữa những người luôn đối chọi nhau, chứ không giống như một vị tổng tư lệnh quyết đoán ra lệnh cho cấp dưới”.

Trong khi Clifford mô tả năm 1968 là năm khó khăn nhất trong đời ông, Dean Rusk nhớ lại rằng thời gian đàm phán là “một vết nhơ” mà ông chỉ thoát được nhờ vào một ly rượu scotch, aspirin và thuốc lá hàng ngày. Nhận thấy rõ thời gian cầm quyền còn rất ít, Johnson đã quá kiệt sức để có thể đưa bản thân ra khỏi tình trạng buồn chán đã bén sâu.

Tạp chí Time đưa tin, có một “bầu không khí lặng lẽ bất thường trong Nhà Trắng”, chứng tỏ những dấu hiệu cho thấy Johnson “đã đặt mình vào thì quá khứ”. Bằng cách thể hiện sự thiếu quan tâm như vậy đối với các cuộc hòa đàm Paris, Johnson báo hiệu cho vị Phó Tổng thống của mình rằng ông này phải hạ gục Richard Nixon mà không có ai giúp đỡ.

Harriman và Vance muốn Tổng thống phấn chấn lên và áp đặt kiềm chế hơn nữa lên quân đội, nhưng Johnson không muốn tạo cú huých cần thiết này cho các cuộc hòa đàm Paris. Các nhà đàm phán của Tổng thống muốn hòa bình vì lợi ích của chính nó nhưng cũng lo ngại các cuộc hòa đàm bị kéo dài, mà không thấy hồi kết đâu, có thể mở hé một cánh cửa cho chiến thắng bầu cử của phe Cộng hòa. Và cả hai người đều xem Tổng thống Richard Nixon là một triển vọng kinh hoàng.

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, TheNation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson

Việc chọn Harriman đứng dầu đàm phán bị Rostow nhìn nhận với thái độ thù địch. Ngày 3/4, Rostow tham gia phe của cựu Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, Tướng Maxwell Taylor, bày tỏ những nghi ngờ lớn rằng liệu Harriman có phù hợp với chức vụ.

>>Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>>Kỳ 2: Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?

“Với tất cả sự tôn trọng đối với Thống đốc Harriman”, Rostow và Taylor viết với rất ít sự tôn trọng: “chúng tôi không tin ông ấy là người thích hợp thực hiện cuộc đàm phán này – nếu nó diễn tiến vượt khỏi giai đoạn đầu tiên”. Rostow và Taylor đưa ra hai lý do biện hộ cho phản đối của họ. Thứ nhất, “sức khỏe của ông ấy không được tốt”, và thứ hai, “ông ấy thiếu – và luôn luôn thiếu – một sự hiểu biết cũng như đồng cảm với Nam Việt Nam”.

Tuy Rostow và Taylor thừa nhận rằng “Averell đúng 100% rằng chúng ta không nên để cho Sài Gòn có quyền phủ quyết vị thế của chúng ta trong đàm phán“, ông ấy không chắc liệu mình “có muốn đưa họ theo và cho họ niềm tin rằng sẽ là cần thiết nếu một giải pháp vững bền, vì lợi ích của Mỹ, sẽ xuất hiện”.

Trước đó, Rostow ranh ma hơn Harriman về sự cần thiết phải ngưng ném bom và ông ta nghi ngờ rằng nhà ngoại giao cao niên này chủ yếu bị thúc đẩy bởi danh tiếng cá nhân và chính trị đảng phái – chứ không phải bởi bất cứ mong muốn nào cho Nam Việt Nam. Vị cố vấn an ninh quốc gia có thể đã đúng ở cả hai điểm.

Tuy nhiên, chiến dịch chống lại Harriman của Rostow đã thất bại. Johnson đã chọn một người mà có những đóng góp to lớn cho việc định hình các mối quan hệ quốc tế của thế kỷ 20. Averell Harriman sở hữu một kiểu danh tiếng ngoại giao mà Tổng thống chắc chắn không thể bỏ qua, và ông đã nắm giữ danh hiệu “Đại sứ vì Hòa bình”, được trao tặng năm 1966.

Henry Kissinger với ông Lê đức Thọ tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Mặc dù vậy, Johnson cũng có một số lo ngại như Rostow về việc Harriman thiếu tính nhạy cảm về Nam Việt Nam và khát vọng đảm bảo hòa bình với một cái giá tiềm năng không chấp nhận được. Trong một lưu ý viết tay cho Rostow, Tổng thống nhất trí rằng “điểm về những nhượng bộ lẫn nhau cần phải được hiểu rõ trong nội bộ chính phủ Mỹ trong thời gian sớm nhất có thể. Nếu không, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta đã cho đi vị thế sức mạnh đàm phán hiện tại mà Hà Nội vừa trao cho chúng ta một cách quá hào phóng [thông qua thất bại chiến lược của Chiến dịch Tết (Mậu Thân)] – mà không nhận lại được gì”.

Cần phải nhấn mạnh ở đây rằng Johnson đã chọn Harriman từ một vị thế yếu kém – ông không có sự yêu mến và sự tôn trọng như của John F. Kennedy dành cho nhà đàm phán đáng kính này. Tín nhiệm của Johnson là bị vấy bẩn sau Tết Mậu thân và ông cảm thấy mình có rất ít lựa chọn.

Khi các sự kiện vỡ lở, phát thanh viên CBS Walter Cronkite đã có câu hỏi nổi tiếng: “Điều gì đang diễn ra ở đây? Tôi đã nghĩ chúng ta đang thắng cuộc chiến này”. Trong một môi trường trong nước thù địch như vậy, sẽ là đê tiện nếu phớt lờ sự tinh tường và hỗ trợ của Harriman.

Tuy nhiên, Tổng thống sẽ phải đảm bảo khá chắc rằng nhà ngoại giao hàng đầu của ông trung thành với tiêu chuẩn đàm phán khắt khe nào đó. Thứ trưởng Quốc phòng Cyrus Vance rốt cục đã được chọn đi cùng Harriman tới Paris, nhưng Johnson và Rostow vẫn lo rằng nhóm này có vẻ chủ hòa.

Với sự chấp thuận của Tổng thống, Rostow đưa một nhân vật diều hâu tin cẩn, thành viên Hội đồng An ninh quốc gia NSC William J. Jorden, vào đoàn để kiểm soát những gì sẽ diễn ra.

Như Jorden hồi tưởng, Rostow đã cử ông tới Paris để “theo dõi những kẻ đáng khinh đó [Harriman và Vance] và đảm bảo họ không mang đồ của nhà đi cho.” Trong một cuộc điện đàm lịch sự thận trọng với Rostow ngày 4/4, Harriman lịch sự buộc phải nói rằng: “Ông sẽ giúp rất nhiều nếu [Jorden] có thể đi cùng”. Rõ ràng Harriman không hay biết rằng vai trò chủ yếu của Jorden là một giám sát viên.

Khi những hoạt động chuẩn bị cho sứ mệnh của Harriman chính thức bắt đầu, Rostow bày tỏ lo ngại với Tổng thống rằng một trong “những mục tiêu đàm phán” của ông là giảm dần cuộc chiến trên không của Mỹ. “Mục tiêu của chúng ta không phải là chấm dứt ném bom”, Rostow lập luận. “Mà là các cuộc hội đàm nhanh chóng và quan trọng hướng tới hòa bình”.

Mặc dù Clark Clifford can thiệp kịp thời, Harriman vẫn được phép cho tiêu chuẩn đàm phán của ông không bị đụng đến. Phản ứng trước những gì ông cho là bới lông tìm vết vô nghĩa, Harriman than phiền rằng những phản đối của Rostow đối với lập trường của ông là “không thích hợp” và “rõ ràng sáng kiến của Clifford đã cứu được các chỉ dẫn [đàm phán] khỏi bị tổn thương”.

Harriman viết rằng “Ngoại trưởng không có bất kỳ đóng góp nào”. Việc người chịu trách nhiệm điều hành các chính sách ngoại giao của Mỹ tỏ ra không quan tâm mấy đến các nỗ lực của Harriman không phải là điềm tốt. Nó trở nên rõ ràng với Harriman rằng mục đích mới của Rusk và Rostow là cản trở các nỗ lực của ông trong việc đạt được một thỏa thuận nhanh chóng.

Nhà báo có ảnh hưởng của Washington Post Drew Pearson từ lâu đã lo ngại về sự xúi bẩy của Rostow với Tổng thống và lo ngại rằng thiện ý của Harriman đang bị nghi ngờ quá mức. Ngày 19/4, Pearson viết một cách thất vọng rằng Rostow “có thể làm cho các ý tưởng của mình về Đông Nam Á gắn chặt vào Lyndon Johnson [. . .] Không một ai biết về Rowtow nghi ngờ tính chính trực của ông. Nhưng họ đặt câu hỏi về đánh giá của ông.

Ngày 28/4, Rostow trình bày với Dean Rusk những gì ông mô tả là “một ý tưởng kỳ cục”. Vì thỏa thuận về miền nam là tâm điểm của vấn đề, Rostow băn khoăn liệu có khả năng là không thể đối với “Thiệu khi chấp nhận sáng kiến và tích cực tìm kiếm các cuộc hòa đàm riêng với “một thành viên” của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, dùng một người tin cậy”. Đặt Thiệu vào “tâm điểm của mọi sự” sẽ có nghĩa là “sáng kiến nhằm định hướng số phận [của Nam Việt Nam] sẽ nằm trong tay đúng người. Điều này hay hơn là thiết lập hòa bình dựa trên “kết quả của các cuộc hội đàm Mỹ – Hà Nội, vân vân”.

Lo ngại về “sự thiếu nhiệt tình của Harriman với Nam Việt Nam”, Rostow muốn Tổng thống hãy truyền sức mạnh từ nhóm đàm phán của ông sang chính phủ Nam Việt Nam. Việc Hà Nội sẽ đồng ý đàm phán trực tiếp với Thiệu – lãnh đạo của nhà nước “bù nhìn” mà họ không công nhận – là phi hiện thực. Tuy nhiên, Rostow vẫn tin rằng Hà Nội sẽ đồng ý dàn xếp với Sài Gòn và đưa ra bằng chứng để chứng minh điều này.

“Ở các làng Việt Cộng’, Rostow báo cáo với Johnson, “trẻ em đang được dạy hát những câu như sau: “Máu sẽ chảy vào tháng 5; sẽ có hòa bình vào tháng 6″. Nếu họ khuấy động những kiểu hy vọng này, thì điều đó phải có nghĩa là, về mặt ngữ nghĩa, họ đang nghĩ đến một cuộc đàm phán nhanh chóng chứ không phải dai dẳng”.

Than ôi, về mặt ngữ nghĩa, các khúc hát của trẻ con chẳng có có tý nghĩa nào như vậy… Rostow quá mê thích dùng kiểu của CIA theo những cách mang tính bè phái, thường là nhiều màu sắc, để minh họa cho Tổng thống.

Rostow có một yếu tố khác trong đầu khi tư vấn rằng Thiệu nên trở thành một thành phần then chốt trong các cuộc đàm phán: Tổng thống Nam Việt Nam sẽ dễ bảo trong việc dỡ bỏ các giới hạn áp đặt lên chiến dịch ném bom hơn so với Harriman. Ngày 10/5, Rostow bày tỏ hy vọng rằng Mỹ sẽ bắt đầu “ném bom giữa các vĩ tuyến 19 và 20 sớm”. Còn hơn cả phá hủy hòa đàm, Rostow tin rằng nếu Mỹ không ném bom Bắc Việt Nam đủ mạnh thì Hà Nội có thể “đánh giá quá cao hiệu quả của áp lực đối với chúng ta về toàn bộ vấn đề ném bom”. Giả định sai lầm về phía Hà Nội “có thể kéo dài giai đoạn hành động đàm phán qua lại để đổi lấy việc ngừng ném bom hoàn toàn”.

“Ném bom để đổi lấy hòa bình” rõ ràng là thần chú của Rostow. Nhưng tất nhiên, những xúi bẩy quá khôn khéo này không chỉ toàn về hòa đàm. Rostow cũng cảm thấy “chúng ta có thể nhận thêm nhiều trao đổi trước khi họ tới được Nam Việt Nam nếu chúng ta bỏ bom tuyến đường nằm giữa vĩ tuyến 19 và 20“. Có thể đoán trước được rằng Harriman đã phản dối các kế hoạch của Rostow, viết rằng “tái tổ chức chiến dịch ném bom giữa các vĩ tuyến 19 và 20 có thể “làm chậm [đàm phán]“. Sau đó, Harriman bình luận về Rostow rằng “tôi không bao giờ muốn thấy một giác thư nào khác từ người đàn ông đó nữa”.

Còn tiếp

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • *Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, TheNation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?

Trong khi Rostow cho rằng phải đẩy Thiệu lên tuyến đầu của đàm phán thì Harriman tin rằng Mỹ và Bắc Việt Nam là hai thành phần chính trong đàm phán.

>> Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?

Sau “Chiến dịch Tết Mậu thân” ngày 30/1/2968 (trong đó những người cộng sản Bắc Việt tấn công tất cả các thành phố và thị trấn lớn ở miền Nam), Lyndon Johnson, với việc tham khảo ý kiến Bộ trưởng Quốc phòng Clark Cliford, người mà ông tin cậy và mới bổ nhiệm – đã đi đến các kết luận về các triển vọng quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Tuy các cuộc tấn công của những người cộng sản bị quân Mỹ đẩy lùi, “tia sáng cuối đường hầm” đốt lên cuối năm 1967 hóa ra chỉ là ảo giác.

Chiến dịch này đặt ra một câu hỏi không hề dễ chịu cho chính quyền Johnson: Làm thế nào mà Mỹ có thể thắng cuộc chiến tại Việt Nam nếu như không bảo vệ được ngay cả trung tâm Sài Gòn?

Không thể tìm ra câu trả lời thỏa đáng, Tổng thống Johnson, vào ngày 31/3/1968, thông báo hạn chế ném bom đơn phương, kêu gọi đàm phán hòa bình lâu dài, và cuối cùng nói thêm rằng ông sẽ không tranh cử nhiệm kỳ 2.

Từ đó, Johnson tuyên bố sẽ dành sinh lực của mình cho việc đạt được hòa bình với Bắc Việt Nam. Như Johnson nhớ lại trong hồi ký của ông: “Tôi chưa từng chắc chắn hơn thế về tính đúng đắn của quyết định của mình. Tôi đặt mọi thứ tôi có thể chỉ đạo và mọi thứ bản thân tôi có vào công cuộc tìm kiếm hòa bình [. . .]’. Tổng thống dường như thừa nhận rằng Miền Nam Việt Nam không thể tiếp tục là trách nhiệm của Mỹ một cách vô hạn định, và rằng ngoại giao là chiến lược tin cậy duy nhất còn lại mà ông có thể sử dụng.

Trong một cuộc thăm dò của Lou Harris được thực hiện ngày tiếp sau đó, tỷ lệ phản đối 57% dành cho Johnson đã quay 180 độ sang con số 57% ủng hộ. Nhưng đòn bẩy tín nhiệm ngắn hạn này không thể che khuất thực tế rằng cuộc chiến tại Việt Nam đã vắt kiệt phần lớn sinh khí chính trị của Tổng thống, thứ đã hun đúc ông thành một nhân vật cải tổ thành thạo và đầy sức thuyết phục suốt những năm đầu tiên ở Phòng Bầu Dục.

Ông Lê Đức Thọ và Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Về phần mình, Bắc Việt Nam vui mừng khi thấy Johnson quyết định lùi bước và tìm kiếm hòa bình. “Chúng tôi rất vui về quyết định của Tổng thống Johnson“, Đại sứ Việt Nam tại Czechoslovakia nói “Tôi cho rằng điều này sẽ đưa cuộc chiến tới hồi kết. Các cuộc đàm phán giờ đây có thể bắt đầu và chúng có thể bắt đầu sớm“.

Để chuẩn bị cho nhóm đàm phán của mình, Johnson chọn W. Averell Harriman, một nhà ngoại giao nổi tiếng và có ảnh hưởng.

Là đặc sứ của Franklin Roosevelt tại London và Moscow trong Thế chiến II, và Thống đốc Dân chủ của New York từ năm 1955 tới 1959, Harriman từ lâu đã tin rằng Chiến tranh Việt Nam chỉ gây hại cho vị thế của Mỹ trên thế giới. Ông cũng muốn đạt được một thỏa thuận mà sẽ mở rộng các triển vọng của phe Dân chủ trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11/1968; khi Phó Tổng thống Hubert Humphrey có thể phải đối mặt với Richard Nixon, một nhân vật mà Harriman không ưa.

Đạt được sự trung lập hóa của Lào năm 1962, Harriman có một bề dày thành tích trong việc kiến tạo hòa binh ở Đông Nam Á. Lyndon Johnson hoàn toàn có lợi khi trao cho Harriman quyền hạn ngoại giao nhằm đạt được một thỏa thuận trước ngày bầu cử 5/11. Đảm bảo một nền hòa bình danh dự bề ngoài sẽ tăng thêm danh tiếng lịch sử của ông và cho người phó một cơ hội tốt hơn để bảo vệ di sản Xã hội Lớn.

Tiếp sau bài phát biểu ấn tượng của Lyndon Johnson ngày 31/3, các chủ thể chính sách ngoại giao then chốt của chính quyền đã khôn khéo giành ưu thế với hy vọng sự vững vàng của các cuộc đàm phán với Bắc Việt Nam sẽ theo sau. Johnson vẫn chưa thông báo rằng Averell Harriman sẽ dẫn đầu tiến trình tìm kiếm hòa bình, nhưng vị chính khách cao niên này nhận ra rằng mình có cơ hội tốt được bổ nhiệm và muốn đảm bảo rằng chiến dịch đánh bom của Mỹ nhằm vào Bắc Việt Nam sẽ không ngáng trở ông đạt được một thỏa thuận.

Ngày 31/3, Tổng thống tuyên bố ngừng một phần chiến dịch ném bom tại vĩ tuyến 20, nhưng các vi phạm của quân đội Mỹ ngày càng nhiều. Vào  ngày 2/4, Harriman viết cho Tổng thống chúc mừng về “thông báo của ông đêm Chủ nhật” song cảnh báo ông rằng sau đó các máy bay ném bom Mỹ đã phá hủy căn cứ không quân Thanh Hóa, và dường như sẽ xử như một trò chơi công bằng đối với bất kỳ một mục tiêu nào “cách Hà Nội 45 dặm và cách Hải Phòng 30 dặm”.

Quan ngại các cuộc đàm phán với Bắc Việt Nam sẽ tan vỡ thậm chí trước khi chúng bắt đầu, Harriman viết: “Tôi mạnh mẽ kêu gọi ngài hành động để đảo ngược xu hướng tai hại này. Tôi đề nghị rằng, rõ ràng như ý định của ngài, ngài thông báo chiến dịch ném bom sẽ đặc biệt giới hạn ở phía nam Vinh, nơi rõ ràng là cực bắc của dải đất hẹp miền Bắc Việt Nam”.

Sợ rằng thời khắc tài năng lãnh đạo được ngưỡng mộ rộng khắp của mình sẽ bị hủy hoại bởi những viên phi công Mỹ liều lĩnh, Johnson chỉ thị cho Chủ tịch hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Earle G. Wheeler phải giới hạn mọi hoạt động ném bom của Mỹ ở phía nam vĩ tuyến 19 – chứ không phải vĩ tuyến 20 như đã thông báo trước đó.

Đây có thể là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Tổng thống nghe theo lời khuyên của Harriman năm 1968. Tuy nhiên, hạn chế này vẫn không thay đổi, dù ít hay nhiều, trong khoảng thời gian cầm quyền còn lại của Tổng thống Johnson.

Cùng ngày Harrison yêu cầu sự rõ ràng về chiến dịch ném bom, Walt Rostow khuyên Tổng thống rằng “tôi vẫn tin mục tiêu then chốt là buộc Thiệu phải thực hiện trong khoảng thời gian 1 tháng, hoặc đại loại thế, một đề nghị tới Việt Cộng là để họ hoạt động như một đảng chính trị theo Hiến pháp”.

Rostow nhận ra rằng, đề nghị này khó có thể nhận được hoan nghênh nồng nhiệt ở Sài Gòn nhưng vẫn tin rằng hành xử của Nam Việt Nam “có thể rất khác nếu họ biết rằng chúng ta muốn họ là thành phần chính trong đàm phán về một thỏa thuận”.

Rostow muốn Tổng thống miền Nam Việt Nam Thiệu, không phải là một nhà ngoại giao Mỹ, đóng một vai trò then chốt trong bất kỳ một cuộc đàm phán nào với miền Bắc Việt Nam.

Ông lập luận: Thiệu sẽ chống cự một cách quyết liệt hơn nữa những lời kêu gọi kiềm chế quân đội Mỹ, và sẽ chỉ đồng thuận về một nền hòa bình dựa trên các điều khoản thuận lợi nhất cho đất nước ông ta.

“Nếu không từ bỏ toàn bộ quyền tự do hành động của chúng ta, hoặc cho Thiệu toàn quyền”, Rostow thừa nhận, “chúng ta phải thuyết phục cả chính quyền Thiệu (cùng quân đội của ông ta) và người dân miền nam Việt Nam rằng chúng ta sẽ tham vấn chặt chẽ nhất có thể với chính phủ của họ”. Cơ hội tốt nhất mà Rostow có được đảm bảo rằng cam kết liên tục của Mỹ dành cho Nam Việt Nam, là phải đẩy Thiệu lên tuyến đầu của đàm phán.

Chiến lược của Rostow nhằm đảm bảo “hòa bình” vì thế lại xung đột trực tiếp với những gì mà nhà đàm phán trưởng của Tổng thống hình dung. Harriman tin rằng Mỹ và Bắc Việt Nam là hai thành phần chính trong đàm phán. Ông hiểu rằng Tổng thống Thiệu sẽ rất căm ghét nỗ lực đạt được một nền hòa bình thỏa hiệp của ông, và thoải mái hơn với triển vọng đặt Nam Việt Nam vào một sự việc đã rồi dựa trên một sự hiểu biết song phương với Hà Nội.

Còn tiếp…

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, The Nation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn