Thư viện

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari- Bài cuối: Trường đời ở Pari

Gần 5 năm diễn ra cuộc đàm phán ở Pari, khi các chiến sỹ, nhân dân Việt Nam không quản ngại khó khăn, gian khổ để chiến đấu giữ gìn từng tấc đất với kẻ thù, thì trên bàn đàm phán, các “chiến sỹ ngoại giao” cũng từng giờ, từng phút đấu tranh bằng lý lẽ với đối phương để đi đến thỏa thuận về bản Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

“Không bao giờ khuất phục!”

Năm 1972 là giai đoạn đi vào thương lượng cụ thể. Hồi đó lập trường của hai bên khác nhau lắm, Mỹ muốn rút, nhưng muốn giữ nguyên chế độ Thiệu – Kỳ, mà lại không công nhận chính phủ Lâm thời. Lúc bấy giờ đã đi vào thảo luận về Hiệp định rồi, hôm trước vừa thỏa thuận như thế, nhưng hôm sau họ lật lại. Mỹ luôn lấy cớ rằng chính quyền Sài Gòn không chấp nhận. Ở nhà, đồng chí Lê Duẩn đã dặn đồng chí Lê Đức Thọ: “Anh sang bây giờ, anh sẽ là Tư lệnh ở mặt trận ngoại giao, làm thế nào thì làm, nhưng anh phải đạt được là “quân Mỹ rút ra, quân ta ở lại”. – ông Lưu Văn Lợi, nguyên thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ nhớ lại.

Từ ngày 19/7 tới đầu tháng 10/1972, các cuộc gặp riêng đã có những tiến triển khả quan. Trong phiên họp riêng kéo dài lâu nhất trong suốt gần 5 năm đàm phán, từ 9 giờ 30 phút sáng 11/10/1972 tới gần 2 giờ sáng ngày hôm sau, nội dung Hiệp định về cơ bản đã được hai bên chấp nhận. Trong thông điệp ngày 20/10/1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Mỹ Nixon đã xác nhận “văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành” và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký kết ngày 31/10/1972 tại Pari. Kissinger thông báo với báo giới: “Hòa bình trong tầm tay”! Tuy nhiên, khi Nixon tái đắc cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 đã tìm cách lật lọng, đưa ra những yêu sách nhằm phá bỏ những thỏa thuận trước đó. Trong cuộc họp hẹp với Kissingger sáng 4/12/1972, Cố vấn Lê Đức Thọ nói: “Chúng tôi cũng đã dự tính là nếu không giải quyết được thì chiến tranh sẽ rất tàn khốc, có thể là các ông sẽ đem B52 đánh bom ồ ạt đất nước chúng tôi… Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ, nhưng chúng tôi không hề khiếp sợ, chúng tôi không bao giờ khuất phục, không bao giờ làm nô lệ. Cho nên những lời đe dọa của các ông và việc các ông không giữ đúng lời hứa chỉ chứng tỏ các ông không phải là những người đàm phán nghiêm chỉnh”.

Theo ông Lưu Văn Lợi, sau phiên họp ngày 13/12/1972, ngày 14/12 Kissingger rời Pari, ngày 15/12 phái đoàn ông Lê Đức Thọ cũng rời Pari. “Khoảng hơn 6 giờ chiều ngày 18/12/1972 đoàn về đến sân bay Gia Lâm. Khoảng hơn 2 tiếng sau thì B52 trút bom xuống Hà Nội và các nơi khác. Trời đất sáng rực vì tên lửa và cao xạ bắn lên, đất rung chuyển ầm ầm, ông Lợi nhớ lại.

Việc dùng B52 ném bom Hà Nội thất bại đã phá tan “giấc mộng” đảo ngược tình thế của Mỹ, dư luận thế giới phê phán và phản đối kịch liệt. Mỹ không còn lựa chọn nào khác là phải ngừng ném bom và quay lại bàn đàm phán.

Ngày 6/1/1973, Cố vấn Lê Đức Thọ tới Pari trong hào quang của “chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”. Ngày 8/1/1973, cuộc đàm phán bốn bên tại Pari được nối lại sau trận “Điện Biên Phủ trên không”. Hôm ấy, khi đoàn Mỹ đến cổng, không có bất cứ thành viên nào của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra cửa đón như thông lệ. Kissinger phải tự mình mở cửa vào nhà, tự tìm lối vào phòng họp. Ở đó, đoàn của ta đã ngồi đợi sẵn, ai nấy đều tỏ thái độ lạnh lùng. Ngay khi bắt đầu phiên họp, Cố vấn Lê Đức Thọ đã rất nhẹ nhàng và mỉa mai khi nói chuyện với Kissinger và giới ngoại giao ở Pari: “Mỹ đã đón tiếp khi tôi trở về Hà Nội “hết sức lịch sự”… Và rồi ông gay gắt: “Các ông kiếm cớ thương lượng bị gián đoạn, để dùng B52 đánh vào Hà Nội. Hành động của các ông thật là trắng trợn và rất thô bạo. Các ông tưởng rằng làm như vậy là có thể khuất phục được chúng tôi, nhưng các ông nhầm. Chính các ông đã làm cho cuộc đàm phán khó khăn, chính các ông, chứ không phải ai khác đã làm cho danh dự nước Mỹ bị hoen ố…”. Kissinger lúc đó rất lúng túng, chỉ biết phân bua: “Đó không phải là trách nhiệm của tôi. Việc ném bom B52 xuống Hà Nội không phải là lỗi của tôi”.

Chưa bao giờ, những người có mặt trong buổi gặp mặt hôm đó lại thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như vậy. Ông đập bàn và nói: “Hơn mười năm nay, Mỹ đã dùng bạo lực để khuất phục nhân dân Việt Nam, bom napan, B52. Nhưng các ông đã không rút ra được bài học nào từ những thất bại đó. Thật là ngu xuẩn, ngu xuẩn, ngu xuẩn”. Khi ông ngừng lời, người phiên dịch của đoàn Việt Nam nhìn xuống sàn nhà, không muốn dịch mấy từ cuối cùng. Nhưng các thành viên trong phái đoàn Mỹ không những đã dịch nốt, còn nhấn mạnh thêm mấy từ cuối: “Stupid! Stupid! Stupid!”. Khi đó, Kissinger càng lúng túng, đề nghị: “Tôi có nghe những tính từ, tôi đề nghị không dùng những từ đó”. Nhưng ông Lê Đức Thọ trả lời: “Những từ đó tôi dùng đã là kiềm chế lắm rồi, chứ dư luận thế giới, các nhà báo và cả những người Mỹ còn dùng những câu chữ dữ dội hơn nhiều”. Và ông Thọ tiếp tục nói liền một tiếng đồng hồ không hề bớt gay gắt. Thậm chí có lúc, Kissinger đã xin ông hạ giọng bớt để các nhà báo đang tụ tập bên ngoài không nghe được, nhưng ông phớt lờ.

Ngày 23/1/1973, Hiệp định Pari được ký tắt với nội dung cơ bản như bản Dự thảo mà ta đưa ra hồi tháng 10/1972. Khi ký tắt xong, Kissinger trao cây bút mà ông ta vừa ký cho ông Lê Đức Thọ và nói: “Tôi xin tặng ông cây bút này để nhớ mãi ngày lịch sử này”. Ông Lê Đức Thọ tươi cười nhận và tặng lại Kissinger cây bút mình vừa ký và nói: “Tôi tặng lại ông cây bút này – và xin ông nhớ cho ký rồi phải giữ lấy lời nhé!”. Sau đó, ngày 26/1, Cố vấn Lê Đức Thọ đi Mátxcơva nên ông Lợi không được dự lễ ký chính thức hôm 27/1/1973.

Và mùa xuân thắng lợi

Ông Lợi nhớ lại, Tết năm 1973 cũng rất đặc biệt, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ăn Tết ở 3 nước. Tại Pari, các thành viên trong đoàn được ăn một cái Tết hoành tráng do hội Việt kiều tại Pháp tổ chức. Đêm đón Tết năm ấy có những người bạn quốc tế đặc biệt: Diễn viên điện ảnh nổi tiếng của Mỹ là Jane Fonda, cùng hai ca sỹ là Joan Baez (người Mỹ) và Hugues Aufray (người Pháp). Họ đã cùng cất cao tiếng hát ủng hộ, chia sẻ mất mát chiến tranh với Việt Nam. Hôm đó còn có khoảng 6.000 người Việt ở Pháp và các nước lân cận, các quan khách Pháp và quốc tế cũng đến vui Tết Việt ở Pari.

Đến sáng 26/1, Cố vấn Lê Đức Thọ về Mátxcơva. Ngay tối hôm đó, Liên Xô tổ chức mít tinh hoành tráng ở Nhà Công đoàn, có các nhà lãnh đạo Liên Xô đến dự. Máy bay đưa đồng chí Lê Đức Thọ lại quay sang Pari đón đồng chí Nguyễn Duy Trinh, rồi cả đoàn cùng về nhà. Máy bay dừng lại Bắc Kinh đúng chiều 30 Tết. Để chúc mừng Việt Nam đạt được thắng lợi ở Pari, các bạn Trung Quốc nhất định giữ đoàn ở lại đón giao thừa tại Bắc Kinh. Thật thú vị, trong bữa cơm đón giao thừa ở Bắc Kinh, cả đoàn ngạc nhiên và cảm động khi thấy mâm cơm ngày Tết lại có nem, có bánh chưng… Thì ra, bữa tiệc giao thừa năm đó được chế biến bởi một đầu bếp Trung Quốc vừa đi học nấu ăn ở Việt Nam về. Bữa tiệc liên hoan mừng năm mới đó cũng rất vui, nhưng vui nhất vẫn là khi về Việt Nam.

Đoàn về nước đúng hôm mùng 1 Tết, xông đất Việt Nam. Ngay ngày mùng 2 Tết năm Quý Sửu (tức ngày 4/2/1973), Cố vấn Lê Đức Thọ đã lên đường đến thăm các cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn tên lửa 77, Sư đoàn phòng không Hà Nội, Đại tá Trần Văn Giang, Chính ủy sư đoàn, thay mặt đơn vị chào mừng “lão tướng chiến thắng từ mặt trận ngoại giao trở về”. Cố vấn Lê Đức Thọ xua tay nói: “Không, không! Cán bộ, chiến sĩ phòng không không quân anh hùng mới chính là người chiến thắng. Không có chiến thắng của các đồng chí trên mặt trận quân sự, thì sẽ không có chiến thắng ở mặt trận ngoại giao. Các đồng chí đã bắn rơi B52 trên bầu trời Hà Nội và chính cái đó đã buộc Mỹ ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973. Chính các đồng chí đã cho tôi sức mạnh và sự kiên quyết trước kẻ thù trên bàn Hội nghị”.

Ông Lợi đã từng ví, Hội nghị Pari như một cái lò luyện cho những cán bộ tham gia Hội nghị. Ông bảo, gần 5 năm trời, Hội nghị như một trường học ngoài đời đã đào tạo nhiều người trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn. Không chỉ tôi luyện trí tuệ, bản lĩnh cho các cán bộ của ta, mà Hội nghị Pari những năm ấy còn cảm hóa bao nhiêu thế hệ không chỉ người Việt Nam. Có những người Pháp đang đi làm ở công ty, đã xin nghỉ không lương, đăng ký với Đảng Cộng sản Pháp tình nguyện đến giúp đoàn ta, họ còn mang cả xe ô tô riêng đến, rồi đảm nhiệm luôn vai trò lái xe, sẵn sàng đưa đoàn đi bất cứ nơi đâu, đi đến chỗ họp, đi thăm kiều bào, đi vận động sự ủng hộ của bạn bè khắp nơi… Bà Tôn Nữ Thị Ninh, khi đó là người của Sài Gòn cử đi Pari học, đã chuyển hẳn sang làm việc cho đoàn của ta, sau này trở về Việt Nam đã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng ở Bộ Ngoại giao và Quốc hội.

Đó là những ký ức không thể nào quên của nhà ngoại giao Lưu Văn Lợi, nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Pari. Bốn mươi năm đã qua, Cố vấn Lê Đức Thọ – vị “Tư lệnh” tài ba, đầy bản lĩnh trên “mặt trận ngoại giao” của Việt Nam đã đi xa, nhưng những câu chuyện về ông, những đóng góp to lớn của ông đối với đất nước vẫn còn mãi trong lòng nhân dân Việt Nam. Bây giờ, dù tuổi cũng đã cao, sức khỏe đã không còn như trước, nhưng ông Lưu Văn Lợi vẫn luôn dành thời gian để tham gia các công trình nghiên cứu về cuộc đàm phán ở Pari, cũng như về nhà ngoại giao nổi danh Lê Đức Thọ – người mà ông luôn coi như một người thày, một người anh, người thủ trưởng mà ông hằng kính trọng.

Phương Lan
baotintuc.vn

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari – Bài 2: Cuộc chiến… quanh những “chuyện nhỏ”

Ở Hội nghị Pari, ta và Mỹ tổ chức rất nhiều cuộc họp riêng, và những cuộc họp riêng này cực kỳ căng thẳng, đấu lý từng điểm rất nhỏ. Cuộc đàm phán dài nhất thế kỷ XX từ 1968 -1973 đã trở thành “tâm điểm” của dư luận thế giới. Khi đó, cả thế giới đều hướng về Pari, theo dõi từng động tĩnh dù là rất nhỏ diễn ra trên bàn Hội nghị. Và giới báo chí quốc tế không bỏ qua cơ hội “săn” những tin thật “hot” để thu hút dư luận.

Câu chuyện cái bàn

Trước khi khởi động họp bốn bên, một trong những tranh cãi nảy lửa và kéo dài cả tháng trời là câu chuyện về cái… bàn ở Hội nghị. Chuyện tưởng nhỏ nhưng thực chất lại có ý nghĩa chính trị quan trọng đối với cả ta và Mỹ, vì vị trí ngồi ra sao sẽ xác định tư cách pháp nhân của bên tham gia. Phía Mỹ đòi bàn hình chữ nhật hoặc tròn chia đôi để thể hiện rằng cuộc đàm phán chỉ có 2 bên: Mỹ – Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Còn ta lại yêu cầu chiếc bàn hình vuông hoặc tròn có phân chia rõ 4 bên. Vì chỉ có 4 bên mới bình đẳng. Câu chuyện cái bàn nổi tiếng đến mức, các hãng làm đồ mộc lớn trên thế giới khi ấy đã gửi nhiều mẫu bàn tới chào hàng để các bên cùng chọn. Song do tranh cãi kéo dài và không đi đến thống nhất, cuối cùng, hai bên quyết định chọn cái bàn tròn bằng phẳng lớn và kê hai bàn thư ký hình chữ nhật ở hai bên. Không có cờ và biển ghi tên trước mặt các đoàn. Bố trí kiểu “nước đôi” như vậy, dư luận quốc tế hiểu đây là đàm phán “hai bên” cũng được mà “bốn bên” cũng được. Chuyện màu sắc chiếc khăn trải bàn cũng gây tranh luận khiến nước chủ nhà Pháp phải mang cả xấp khăn đủ các màu ra để các bên lựa chọn. Cuối cùng, ta với Mỹ nhất trí lựa chọn khăn trải bàn màu xanh lá cây thẫm.

Thái độ lật lọng và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ khắp thế giới. Ngày 20/1/1973, cùng với hàng trăm cuộc biểu tình chống chiến tranh nổ ra ở nhiều nước trên thế giới, nhân dân Mỹ tổ chức biểu tình lớn ở thủ đô Oasinhtơn, trong khi Richard M.Nixon làm lễ nhậm chức Tổng thống, đòi Mỹ ký ngay Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ảnh: Tư liệu – TTXVN

Sau chuyện cái bàn, màu khăn trải bàn, nhiều chuyện nhỏ khác cũng phải trải qua những tranh luận gay gắt. Đó là quy định thứ tự phát biểu của các đoàn tại cuộc họp. Có nước gợi ý để cho nước chủ nhà bốc thăm, trúng bên nào thì bên đó được đọc trước. Cuối cùng vì không muốn để vấn đề thủ tục kéo dài, ta đã đồng ý để đoàn Mỹ phát biểu trước, đồng thời chấp nhận đề nghị của Mỹ tổ chức phiên họp thứ nhất của Hội nghị bốn bên vào ngày 18/1/1969. Nhưng về sau, cuộc họp trù bị của các phó trưởng đoàn đã họp vào ngày này vì trưởng đoàn chính quyền Sài Gòn chưa có mặt ở Pari.

Theo lời kể của ông Lưu Văn Lợi, những cuộc tranh luận căng thẳng về các tiểu tiết (nhưng lại rất quan trọng) như trên trong Hội nghị Pari có rất nhiều. Đặc biệt, nhiều khi phía Mỹ còn sử dụng cả những “tiểu xảo” hòng đưa phía ta vào thế khó. Như việc Kissinger cậy mình trẻ hơn Cố vấn Lê Đức Thọ tới hơn một giáp, thường tìm cách làm cho Cố vấn Lê Đức Thọ mệt mỏi. Biết ông hay bị mất ngủ, sức khỏe hạn chế trong các cuộc thương lượng kéo dài thâu đêm, nên trong những cuộc họp riêng Kissinger luôn lòng vòng lê thê đủ chuyện xa gần hết cả ngày trời. Song cứ nhè vào lúc chiều muộn nhập nhoạng tối, Kissinger mới đưa việc chính, những vấn đề “nóng” ra tranh luận, hòng có được những kết quả có lợi về phía mình, bởi Kissinger cho rằng, lúc đó ông già kia (Cố vấn Lê Đức Thọ) đã mệt mỏi rồi, chắc sẽ dễ ừ, dễ gật. Nhưng điều mà Kissinger không thể ngờ được, là tuy đã cao tuổi, nhưng Cố vấn Lê Đức Thọ là người dạn dày với chiến trường, lại rất cảnh giác trước những mánh lới này nên Kissinger đã không thể đạt được mục đích. “Có những cuộc họp kéo dài tới 12-13 tiếng đồng hồ, những người dự thay nhau lên gác nghỉ, chợp mắt, nhưng ông già thì không nghỉ, thỉnh thoảng chỉ uống một cốc nước sâm. Đàm phán càng muộn, ông Thọ càng tỉnh và diễn thuyết càng hăng, khiến cho chính Kissinger cũng phải thừa nhận: “Tôi rất ngán khi đang đàm phán căng thẳng, người cận vệ của ông Thọ lại mang nước tới. Vì tôi biết, nước đó là nhân sâm” – ông Lưu Văn Lợi nhớ lại.

Cho đến giờ, ông Lợi vẫn nhớ như in một lần họp riêng, Kissinger đưa cho Cố vấn Lê Đức Thọ khoảng 30 cái ảnh màu cỡ bằng cái khay, chụp từ vệ tinh rất rõ, toàn ảnh quân đội ta không đội mũ tai bèo mà đội mũ cối, vai đeo lon, rõ cả sao trên mũ. Kissinger nói: “Đã thỏa thuận là từ tháng 3 các ông thôi không đưa thêm quân vào nữa. Đây, ông đưa quân vào đây này”. Ông Thọ cười to, tiếng cười lạ lắm, cười khỏe kiểu vừa ở thế thắng, lại vừa có vẻ khinh miệt. Ông bảo Kissinger: “Mấy cái ảnh này các ông chụp ở đâu chẳng được, ông ra Bắc, rừng chỗ nào chả giống nhau. Tình báo các ông tồi lắm, lúc chúng tôi không đưa quân thì các ông lại bảo chúng tôi đưa quân, nhưng lúc chúng tôi đưa xe tăng và đại pháo vào sát Sài Gòn thì các ông chả biết tí gì cả. Cho nên các ông thua là phải!”. Kissinger ngồi im, không nói được câu nào.

Sau này, chính Kissinger cũng phải thốt lên: “Ông Thọ ở Pari đã mổ xẻ tôi bằng con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà giải phẫu cừ khôi. Có những lúc ông ấy nói cả tiếng đồng hồ về lịch sử ngàn năm đấu tranh, dựng nước và giữ nước của Việt Nam, tôi bảo cái điều này tôi đã nghe nhiều lần rồi, thì ông Thọ bảo: Ông nghe nhiều lần nhưng chưa thuộc, tôi nói lại để ông biết…” – ông Lưu Văn Lợi kể lại.

Diễn viên… đóng thế

Khi cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở thành nỗi trăn trở của cả loài người, thành vấn đề lương tri của thời đại, thì không có gì ngạc nhiên là từ tất cả các nước, mọi người mong chờ, hướng về Hội nghị Pari này. Hàng nghìn nhà báo, điện ảnh, nhiếp ảnh, đã đổ về Pari, họ luôn tìm mọi cách để “săn” những cái tin thật “nóng” để thu hút dư luận.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó được báo giới phương Tây ví như một “nhà tu kín”, trước cửa trụ sở của đoàn ở thị trấn Choisy Le Roi luôn có hàng chục phóng viên “trực chiến”. Ngay khi phát hiện xe của phái đoàn Việt Nam rời khỏi nhà, họ lập tức dùng môtô phân khối lớn bám theo, mong lần ra địa điểm họp bí mật với phía Mỹ. Để tránh sự đeo bám của các phóng viên, có lúc, ông Lợi đã trở thành diễn viên… đóng thế vai Trưởng đoàn đàm phán. “Một lần, để đảm bảo bí mật, tôi cùng người bảo vệ quen thuộc ngồi lên xe của trưởng đoàn. Xe vừa từ sân trụ sở lăn bánh ra khỏi cổng đã phóng nhanh như mọi bận. Một tốp phóng viên trực sẵn trông thấy lập tức bám theo. Xe của “trưởng đoàn giả” cứ thế chạy lòng vòng khắp các phố với “cái đuôi” là đám phóng viên nước ngoài dính chặt. Trong khi đó, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy thì đã qua cửa phụ lên chiếc xe riêng của một trí thức người Pháp làm công tác phục vụ đoàn và tới nơi họp mà chẳng bị ai quấy rầy” – ông Lợi vui vẻ nhớ lại.

Tuy đã giữ bí mật như thế nhưng cũng nhiều lần các tay săn tin vẫn tìm ra được nơi họp kín giữa đoàn Việt Nam và Mỹ. “Họ thuê các ngôi nhà đối diện, dỡ cả mái ngói, tìm vị trí đặt ống kính, sẵn sàng chộp” lấy bất cứ hình ảnh nào của những nhân vật quan trọng trong cuộc họp”.

Trong suốt gần 5 năm tham gia cuộc đàm phán ở Hội nghị Pari về Việt Nam, ông Lợi đã nhiều lần tháp tùng Cố vấn Lê Đức Thọ đi về giữa Pari và Hà Nội, nhiều lần ông đi cùng Cố vấn đến thăm và báo cáo với Hồ Chủ tịch. Ông xúc động nhớ lại: “Có lần, cả đoàn về Hà Nội, dự định về nơi ở tại khu biệt thự ở Hồ Tây chờ sự cho phép của các bác sĩ. Nhưng vừa về tới nơi, người bảo vệ đã chạy vào báo: Hồ Chủ tịch tới thăm!”. Khi gặp Cố vấn Lê Đức Thọ, Chủ tịch Hồ Chí Minh bảo: “Nghe chuyện ở Pari tôi rất vui. Lần này nhất định sẽ có thưởng cho đoàn Pari”. Nhưng Cố vấn Lê Đức Thọ đã nói: “Chiến tranh còn ác liệt, bao giờ chiến thắng, đất nước độc lập thống nhất rồi, Bác thưởng cũng không muộn”…

Phương Lan
baotintuc.vn

Bài 3: Trường đời ở Pari

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari – Bài 1: Tại sao lại chọn Pari?

Ký ức về Hội nghị Pari 40 năm đã trôi qua, đất nước đã trải qua biết bao thay đổi, nhưng với những người đã từng có mặt ở Hội nghị Pari từ năm 1968 đến 1973, những diễn biến, những câu chuyện bên trong và ngoài bàn đàm phán dường như vẫn nguyên vẹn. Trong những ngày đầu xuân 2013, chúng tôi tìm gặp ông Lưu Văn Lợi, nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, nghe ông kể về những kỷ niệm liên quan đến sự kiện lịch sử đặc biệt này.

Bài 1: Tại sao lại chọn Pari?

Trong căn nhà riêng ấm cúng trong một ngõ nhỏ trên đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội), ông Lưu Văn Lợi (ảnh) đã kể cho chúng tôi nghe những năm tháng đầy cam go trên mặt trận ngoại giao hơn 40 năm trước ở bàn Hội nghị Pari.

Cuộc gặp gỡ định mệnh

Mở đầu câu chuyện, ông đã nói ngay: “Các bạn nhớ tôi là Lưu Văn Lợi, thư ký của Cố vấn Lê Đức Thọ nhé, không được nhầm tôi với cụ Lưu Văn Lợi – cố vấn pháp lý cho Hiệp định Pari năm ấy đâu nhé”. Rồi ông kể, Bộ Ngoại giao hồi đó có hai người cùng tên là Lưu Văn Lợi.

Cụ Lưu Văn Lợi khi đó là trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (sau này là Trưởng ban Biên giới Chính phủ – hàm Bộ trưởng), năm nay cụ Lợi đã tròn 100 tuổi. Cụ rất giỏi, được cử làm cố vấn pháp lý cho ông Lê Đức Thọ cùng với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch hoàn thành văn bản Hiệp định Pari. Còn ông là Lưu Văn Lợi, làm việc ở Vụ Liên Xô, Đông Âu.

Qua câu chuyện với ông, chúng tôi được biết, ông sinh năm 1933, quê ở Duy Tiên, Hà Nam. Năm 1946, khi học hết lớp 3 thời Pháp thuộc, ông theo gia đình lên chiến khu. Sau đó ông vào học trường Thiếu sinh quân. Năm 1951, ông sang Trung Quốc học ở khu học xá Nam Ninh. Ba năm sau, ông được sang Liên Xô học lớp Nga văn đặc biệt. Năm 1956, ông làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam ở Liên Xô.

Việc ông trở thành thư ký cho cố vấn Lê Đức Thọ cũng thật tình cờ. Ngày 2/6/1968, trên đường tới Pari tham gia đàm phán, cố vấn Lê Đức Thọ đã dừng chân ở Mátxcơva. Khi đó, cố vấn muốn nghe những tin tức xung quanh Hội nghị Pari, cũng như dư luận thế giới về sự kiện này. Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô Nguyễn Thọ Chân đã giao cho ông Lưu Văn Lợi, lúc đó là tùy viên phòng văn hóa – báo chí hữu nghị của Đại sứ quán, trực tiếp làm tin cho cố vấn Lê Đức Thọ. Sau đó, ông Lợi còn đảm nhiệm luôn nhiệm vụ phiên dịch cho cố vấn Lê Đức Thọ trong hội đàm với một lãnh đạo cao cấp của Liên Xô đến thăm và làm việc tại tòa biệt thự trên đồi Lênin. Sau bữa cơm tối, bất ngờ cố vấn Lê Đức Thọ gọi ông tới và bảo: “Cậu thu xếp mai đi với tôi sang Pari. Tôi cần người thông thạo ngoại giao và biết tiếng giúp việc cho tôi”. Từ đó, ông Lợi bắt đầu phục vụ trong văn phòng của Cố vấn Lê Đức Thọ cho tới tháng 10/1989.

Khi chúng tôi ngỏ ý muốn nghe ông kể những câu chuyện xung quanh Hội nghị Pari, ông cười và nói: “Một người có trí nhớ rất tốt thì cũng không thể nhớ hết nổi các sự kiện của hơn 40 năm trước, và nếu có nhớ thì nói cả nhiều ngày không hết được đâu. Tôi chỉ có thể kể cho các bạn một vài chuyện mà tôi có ấn tượng sâu sắc thôi…”. Và rồi, bằng một giọng đều đều nhưng đầy cảm xúc của một người đã từng có mặt trong Hội nghị năm ấy, ông Lưu Văn Lợi đã kể cho chúng tôi nghe nhiều câu chuyện thú vị xung quanh những cuộc đấu trí trường kỳ trên bàn Hội nghị Pari hơn 40 năm về trước.

Lợi thế khi chọn Pari

Theo những tư liệu lịch sử, chủ trương kết hợp đánh với đàm trong kháng chiến chống Mỹ đã được Bác Hồ và Đảng tính tới từ cuối năm 1965. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của BCH TƯ khóa III, tháng 1/1967 đã khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh… Trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động…”. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ chấp nhận thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 13/5/1968, Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ chính thức họp phiên đầu tiên tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber ở thủ đô Pari của Pháp, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.

Trước khi đi vào đàm phán chính thức ở Pari, chuyện địa điểm họp ở đâu cũng mất hơn tháng trời mới thống nhất được. Có rất nhiều địa điểm được ta và Mỹ đề xuất làm nơi đàm phán nhưng đều không chọn được vì hai bên không đồng thuận. Sau này ta nghiên cứu và đưa ra đề nghị chọn Pari (thủ đô của Pháp). Tám tiếng sau, Mỹ đồng ý, dù chưa thực sự “xuôi”, bởi Tổng thống Pháp lúc đó là Charles De Gaulle lại là người có quan điểm ủng hộ Việt Nam, chỉ trích sự can thiệp của Mỹ và mong muốn chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Ta chọn Pháp không chỉ vì thủ đô Pari là trung tâm thông tin, chúng ta có thể tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của dư luận Pháp và quốc tế, mà ở đó, ta còn có thể dựa vào sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp (mà Bác Hồ là một trong những người sáng lập) và phong trào hoạt động của cộng đồng Việt kiều ở Pháp khi đó cũng rất mạnh, công tác hậu cần và sân sau sẽ là lực lượng hỗ trợ chúng ta ở Pháp là tốt nhất và rất có lợi cho ta. Khi đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang, tạm thời ở khách sạn hạng sang, nhưng quá tốn kém. Chỉ vài ngày mà đã gần hết kinh phí mang theo. Ta đến nhờ Đảng cộng sản Pháp giúp đỡ và Đảng cộng sản Pháp đã nhường cho ta một trụ sở là trường Đảng mang tên Tổng bí thư Đảng cộng sản Pháp Moris Tores ở Choisy Le Roi, một biệt thự 2 tầng, hai bên là 2 tòa nhà 3 tầng, cả nhân viên, bảo vệ, đầu bếp bạn cũng để lại để giúp ta. Lúc đầu, ai cũng nghĩ cuộc đàm phán chắc khoảng 5-6 tháng, nhiều lắm thì 1 năm là cùng, nào ngờ lại kéo dài tới gần 5 năm, bạn đã phải di dời cả trường học đi chỗ khác, lấy chỗ cho chúng ta ở. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chỗ chỉ có 37 người (năm 1968) sang năm 1969 đã lên đến gần 80 người, sau này, số lượng còn hơn thế. Bên cạnh sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp, các trí thức Việt kiều cũng đã đóng góp rất nhiều công sức giúp chúng ta chỉ với một tấm lòng yêu quê hương, đất nước.

Phương Lan
baotintuc.vn

Bài 2: Cuộc chiến… quanh những “chuyện nhỏ”

Một số mốc quan trọng tiến tới Hiệp định Paris

(VOV) – Từ  1968, các bên đã ngồi vào thương lượng nhưng mãi đến 27/1/1973, Hiệp định Paris mới được ký.

Năm 1968

Ngày 31/3/1968

Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 và cử người đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris.

Ngày 3 tháng 4

Chính phủ Việt Nam DCCH tuyên bố sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với đại diện Mỹ để xác định điều kiện có thể bắt đầu nói chuyện tay đôi.

Ngày 13 tháng 5

Hai đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Mỹ họp phiên đầu tiên tại “Trung tâm Hội nghị Quốc tế” tại Paris (Hội trường Kléber).

Toàn cảnh cuộc ký kết Hiệp định tại Paris. Ảnh tư liệu

Ngày 3 tháng 6

Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris, đến Paris.

Ngày 8 tháng 9

Trong cuộc gặp riêng đầu tiên của Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và Harriman, trưởng đoàn Mỹ tỏ ra nôn nóng muốn sớm đi vào bàn các vấn đề thực chất.

Ngày 21 tháng 10

Trưởng đoàn Xuân Thủy thông báo chấp nhận cuộc hội nghị bốn bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 31 tháng 10

Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom bắn phá chống miền Bắc Việt Nam bắt đầu từ ngày 1 tháng 11 năm 1968 bất chấp phản đối của Tổng thống Thiệu.

Ngày 27 tháng 11

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận cử đại diện đi họp Hội nghị Bốn bên ở Paris.

Ngày 7 tháng 12

Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa do Nguyễn Cao Kỳ làm cố vấn, Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn rời Sài Gòn đến Paris.

Ngày 10 tháng 12

Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam cử Đoàn đi dự Hội nghị Paris do Trần Bửu Kiếm làm Trưởng đoàn và Nguyễn Thị Bình làm Phó đoàn.

Năm 1969

Ngày 25 tháng 1

Hội nghị Bốn bên ở Paris về Việt Nam khai mạc phiên họp toàn thể lần thứ nhất tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Paris.

Ngày 8 tháng 5

Đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đưa ra giải pháp toàn bộ Mười điểm cho việc giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam, trong đó nêu “vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết”.

Ngày 6 tháng 6

Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Ngày 10 tháng 6

Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam quyết định chuyển Đoàn Đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tại Hội nghị Paris về Việt Nam thành Đoàn Đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam làm Trưởng đoàn.

Ngày 4 tháng 8

Thông quan trung gian Jean Sainteny, nguyên Tổng đại diện Pháp tại Hà Nội, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ H. Kissinger bí mật gặp Xuân Thủy lần đầu ở Paris để bàn về Việt Nam. Cùng dự với Bộ trưởng Xuân Thủy có Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp Mai Văn Độ.

Năm 1970

Ngày 21 tháng 2

Cuộc gặp riêng đầu tiên tại Paris giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy với Cố vấn H. Kissinger. Từ đó bắt đầu các cuộc gặp riêng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn Kissinger.

Ngày 14 tháng 9

Đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đưa ra lập trường “Tám điểm” về giải pháp cho vấn đề Việt Nam.

Ngày 17 tháng 9

Tại phiên họp toàn thể lần thứ 80 Hội nghị Paris về Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đưa ra đề nghị “Tám điểm – nói rõ thêm” về một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, bao gồm việc rút quân Mỹ và thả tù binh cùng một thời hạn và thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời ở miền Nam Việt Nam.

Ngày 18 tháng 10

Tổng thống R. Nixon đưa ra đề nghị Năm điểm trong đó không đòi quân miền Bắc rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Ngày 10 tháng 12

Trong phiên họp toàn thể lần thứ 94 Hội nghị Paris về Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đưa ra Tuyên bố Ba điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam về ngừng bắn, đòi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam vào ngày 31 tháng 7 năm 1971.

Ngày 11 tháng 12

Nixon đề nghị “trao đổi 8.200 tù binh Bắc Việt Nam lấy khoảng 800 tù binh Mỹ và đồng minh”.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đón Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh đến Paris để ký hiệp định hòa bình, sân bay Bourget ngày 25 tháng Giêng 1973. Ảnh tư liệu

Năm 1971

Ngày 31 tháng 5

Tại cuộc họp riêng với Bộ trưởng Xuân Thủy ở Paris, Cố vấn Kissinger đưa ra đề nghị “cuối cùng” Bảy điểm tách vấn đề quân sự và vấn đề chính trị, mặc dù trước đây Mỹ nhận sẽ bàn cả hai.

Ngày 26 tháng 6

Trong cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ – Kissinger, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra đề nghị Chín điểm, tập trung đòi Mỹ thay Nguyễn Văn Thiệu.

Ngày 1 tháng 7

Tại phiên họp thứ 119 của Hội nghị Bốn bên, Đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra đề nghị Bảy điểm về thời hạn rút quân Mỹ và thả tù binh, thành lập ở Sài Gòn một chính quyền không có Thiệu.

Ngày 16 tháng 8

Tại cuộc gặp riêng với phía Việt Nam ở Paris, Kissinger đưa ra Tám điểm, về cơ bản vẫn giữ lập trường cũ: Không muốn giải quyết toàn bộ vấn đề mà chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự, lấy được tù binh về Mỹ.

Đồng chí Lê Đức Thọ, đại diện Chính phủ VNDCCH ký Thông báo chung với Hoa Kỳ về thực thi Hiệp định Paris ngày 13/6/1973 – Ảnh: Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao

Năm 1972

Ngày 25 tháng 01

Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam công bố chính sách Mười điểm đối với binh sĩ và nhân viên chính quyền Sài Gòn.

Tổng thống Nixon đơn phương công bố “Kế hoạch hòa bình Tám điểm” (do Kissinger đưa ra ngày 16 tháng 8 năm 1971) và nội dung các cuộc gặp riêng Mỹ – Việt.

Ngày 31 tháng 01

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố Giải pháp Chín điểm, đồng thời vạch rõ Nhà Trắng đã vi phạm thỏa thuận hai bên không công bố nội dung các cuộc gặp riêng theo đề nghị của chính Kissinger.

Ngày 2 tháng 2

Tại Hội nghị Bốn bên, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đưa ra “Hai vấn đề then chốt” trong lập trường Bảy điểm ngày 1 tháng 7 năm 1971 của Chính phủ Cách mạng lâm thời.

Ngày 6 tháng 4

Tổng thống Nixon hạ lệnh ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam.

Ngày 13 tháng 7

Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể Bốn bên ở Paris.

Ngày 19 tháng 7

Thương lượng bí mật Lê Đức Thọ – Kissinger đi vào thực chất.

Ngày 1 tháng 8

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra Mười điểm, Mỹ đưa ra Mười hai điểm, đồng ý bàn cả quân sự và chính trị.

Ngày 14 tháng 8

Mỹ đưa ra đề nghị mới Mười điểm, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao cho Mỹ văn kiện khẳng định lại một số nguyên tắc: Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, mọi sự dính líu về quân sự ở Việt Nam, mọi sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội bộ của miền Nam; tôn trọng quyền tự quyết và quyền độc lập thực sự của Việt Nam; phải thừa nhận thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai lực lượng vũ trang và ba lực lượng chính trị, cần lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần.

Ngày 8 tháng 10

Trong cuộc gặp riêng, Lê Đức Thọ trao cho H. Kissinger bản Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 11 tháng 10

Trong cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thủy với Kissinger kéo dài cả ngày 11 đến 2 giờ sáng ngày 12 tháng 10, hai bên đã thảo luận về dự thảo hiệp định và lịch trình như sau: 18 tháng 10 chấm dứt ném bom và thả mìn ở miền Bắc, 19 tháng 10 ký tắt Hiệp định tại Hà Nội, 26 tháng 10 ký chính thức tại Paris và 27 tháng 10 ngừng bắn ở Nam Việt Nam.

Ngày 13 tháng 10

Mỹ thông báo cho đoàn Việt Nam rằng Tổng thống Nixon đã chấp nhận bản dự thảo hai bên đã bàn.

Ngày 20 tháng 10

Trong công hàm gửi cho Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tổng thống Mỹ nói rõ “Văn bản Hiệp định xem như đã hoàn thành” và đưa ra thời gian biểu: ngừng bắn từ 28 tháng 10 và ký Hiệp định tại Paris ngày 31 tháng 10 năm 1972.

Ngày 21 tháng 10

Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời Tổng thống Nixon rằng, sẵn sàng ký hiệp định, đồng ý thời gian biểu của Nixon nêu.

Từ ngày 18 đến 30 tháng 12

Máy bay B-52 của Mỹ ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi ở miền Bắc Việt Nam, mở đầu “cuộc hành quân Lineblecker II” kéo dài 12 ngày đêm, đồng thời Mỹ gửi công hàm cho Việt Nam yêu cầu họp lại. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không trả lời. Việt Nam đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược này, lập nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng không quân chiến lược Mỹ.

Ngày 22 tháng 12

Mỹ lại gửi công hàm yêu cầu họp lại với điều kiện Mỹ sẽ chấm dứt ném bom trên vĩ tuyến 20.

Ngày 26 tháng 12

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đòi trở lại tình hình trước ngày 18 tháng 12 thì hai bên sẽ họp lại. Mỹ chấp nhận.

Ngày 30 tháng 12

Mỹ chấm dứt ném bom trên vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại đàm phán ở Paris.

Năm 1973

Ngày 8 tháng 1

Họp lại, Kissinger đòi trở lại thỏa thuận ngày 23 tháng 11 năm 1972 và xét lại điều 1 về các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam nhưng bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ. Mỹ phải bỏ thái độ “thương lượng trên thế mạnh”.

Ngày 13 tháng 1

Hai bên hoàn thành văn bản Hiệp định. Đây là cuộc gặp riêng cuối cùng.

Ngày 23 tháng 1

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn Henry Kissinger ký tắt Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27 tháng 1

Bộ trưởng Ngoại giao Bốn bên dự Hội nghị Paris là Nguyễn Duy Trinh đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nguyễn Thị Bình, đại diện cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, W. Rogers đại diện cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Trần Văn Lắm, đại diện cho Việt Nam Cộng hòa đã chính thức ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cùng Bốn nghị định thư liên quan.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình (giữa) ký Hiệp định Paris năm 1973

Ngày 28 tháng 1

Ngừng bắn trên toàn miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris chính thức được thi hành.

Ngày 2 tháng 3

Đại diện 12 Chính phủ tham gia Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Paris, với sự có mặt của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, ký Định ước Quốc tế về Việt Nam.

Ngày 19 tháng 3

Hội nghị Hiệp thương Hai bên miền Nam Việt Nam họp phiên đầu tiên tại La Celle Saint Cloud (Paris).

Ngày 28 tháng 3

Phiên họp cuối cùng Ban Liên hợp quân sự Bốn bên (hoạt động trong 60 ngày kể từ khi ký Hiệp định tới khi rút quân Mỹ và quân đồng minh).

Ngày 29 tháng 3

Người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam./.

Ngọc Thành/VOV online (th)
vov.vn

40 năm Hiệp định Paris – tri ân bạn bè quốc tế

(VOV) – Hơn 30 đại biểu đến từ 14 quốc gia, đại diện các tổ chức quốc tế sẽ tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris.

Chiều 17/1, tại Hà Nội, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã có cuộc gặp gỡ báo chí để thông tin về các hoạt động 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2013).

Buổi gặp gỡ báo chí thông tin về hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris

Bà Nguyễn Thị Hoàng Vân, Tổng Thư ký Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia, thành viên Ban Tổ chức sự kiện của Liên hiệp cho biết, nhiều hoạt động sẽ diễn ra từ 24-28/1/2013 với sự tham dự của bạn bè quốc tế đến từ nhiều quốc gia, đại diện các tổ chức quốc tế.

Với những chương trình diễn ra trang trọng và một chuỗi các hoạt động liên quan, Việt Nam muốn bày tỏ sự tri ân đối với những tổ chức, cá nhân trực tiếp và gián tiếp ủng hộ Việt Nam; đồng thời gửi đến bạn bè quốc tế thông điệp về tình đoàn kết.

Theo đó, ngày 25/1, tại Hà Nội sẽ diễn ra lễ kỷ niệm cấp Nhà nước với sự có mặt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các thành viên đoàn đàm phán và bạn bè quốc tế.

Ngoài ra, các chương trình như Giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bè bạn”, Hội thảo bàn tròn “Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử”, trồng cây tại Công viên Hòa Bình (Hà Nội), Thăm Bảo tàng chứng tích chiến tranh và nạn nhân chất độc da cam, các triển lãm về Hiệp định Paris cũng sẽ lần lượt diễn ra.

Cũng tại buổi gặp gỡ báo chí, ông Phạm Văn Chương, thành viên đoàn đàm phán tại Paris, nguyên Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hợp tác Á-Phi-Mỹ Latinh, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam cũng đã cung cấp nhiều thông tin liên quan đến cuộc đàm phán cách đây 40 năm./.

Ngọc Thành/VOV online
vietnamplus.vn

Hiệp định Paris 1973: 40 năm nhìn lại

(VOV) – Là sự kiện lịch sử chứa đựng nhiều nội dung về nghệ thuật quân sự, nghệ thuật đàm phán

“Hiệp định hòa bình Paris năm 1973 đã trở thành biểu tượng của tinh thần không có gì quý hơn độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam; là thắng lợi chung của các nước anh em, bè bạn của nhân dân Việt Nam, của phong trào giải phóng dân tộc, của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới”- đó là nhận định của các đại biểu tham dự hội thảo khoa học “Hiệp định Paris 1973: 40 năm nhìn lại” do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) tổ chức tại Hà Nội, hôm nay (17/1).

Toàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, 27.1.1973 (Ảnh tư liệu)

Phát biểu khai mạc hội thảo, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Khánh – Hiệu trưởng trường Đại học KHXH&NV nhấn mạnh: Hiệp định Paris năm 1973 không chỉ là kết quả của cuộc đấu trí trên bàn đàm phán kéo dài gần 5 năm (1968-1973) mà còn là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, bền bỉ của nhân dân Việt Nam trên khắp chiến trường mà đỉnh cao là chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vào cuối tháng 12/1972.

Hội thảo khoa học “Hiệp định Paris 1973 – 40 năm nhìn lại” không chỉ đánh giá những thành công của Hội nghị Paris mà còn mong muốn đưa ra những ý kiến, tham luận  của các đại biểu để rút ra bài học kinh nghiệm trong thực tế hoạt động ngoại giao ngày nay: Đúng 40 năm trước, tại thủ đô Paris, Việt Nam đã tiến hành đấu tranh ngoại giao với phương châm vừa đánh vừa đàm, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Và bằng nhiều phương pháp: lúc cứng rắn, khi mềm dẻo, vừa kiên quyết về nguyên tắc, vừa linh hoạt sáng tạo về phương pháp đàm phán. Hy vọng rằng từ các tham luận, các ý kiến đưa ra tại hội thảo, chúng ta sẽ giải quyết được những kinh nghiệm và bài học thiết thực, hữu ích trong việc giải quyết các mâu thuẫn, xung đột và chiến tranh cục bộ dựa trên hoạt động ngoại giao và đàm phán trong bối cảnh khu vực quốc tế ngày càng trở nên phức tạp như hiện nay.

Hội thảo đã thu hút gần 15 bản tham luận, tập trung làm rõ quá trình dẫn đến hội nghị Paris; Những tác động của kết quả Hội nghị Paris đến mối quan hệ giữa Việt Nam với quốc tế; Chính sách ngoại giao chính trị và ngoại giao nhân dân của Việt Nam được phát huy mạnh mẽ: không chỉ vừa đánh, vừa đàm mà còn tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh – nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của Quốc hội nhận định: Việt Nam đã học được thêm một bài học đó là “tập hợp lực lượng”. Ngày nay khi Việt Nam đã hoàn tất quá trình hội nhập quốc tế, gia nhập vào các tổ chức quốc tế lớn thì thế và lực của Việt Nam đã khác và tình hình thế giới cũng đã khác. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nghiệm bài học về tập hợp lực lượng, trong đó chúng ta phải thống nhất một điểm: lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết.

Các đại biểu tham dự hội thảo còn khẳng định tầm vóc của Hiệp định Paris năm 1973, trong đó nhiều quan điểm nhấn mạnh: Hiệp định Paris năm 1973 không chỉ là một sự kiện có ý nghĩa đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam mà còn là sự kiện lịch sử chứa đựng nhiều nội dung về nghệ thuật quân sự, nghệ thuật đàm phán và các vấn đề quan hệ quốc tế khác./.

Mỹ Trà- Phương Thúy/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Lợi ích dân tộc giúp Việt Nam chiến thắng tại đàm phán Paris

(VOV) -Lấy lợi ích dân tộc làm hàng đầu đã giúp Việt Nam chiến thắng trong cuộc đàm phán Paris cũng Mỹ…

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973 tại Paris, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” đã được ký kết. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Văn kiện pháp lý quốc tế này là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao cam go nhất, lâu dài nhất, trong lịch sử nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Việc Mỹ phải ký Hiệp định Paris là một thắng lợi to lớn, tạo ra cục diện có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris, Phóng viên Đài TNVN đã phỏng vấn nhà ngoại giao Phạm Ngạc – Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế Bộ Ngoại giao, từng là thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa về vấn đề này.

P.V: Thưa ông, cuộc đàm phán Paris là một cuộc đấu trí giữa một bên là cường quốc và bên kia là một đất nước nhỏ bé, lạc hậu; giữa một nền ngoại giao lâu năm dày dạn và một nền ngoại giao non trẻ và thiếu kỹ năng đàm phán quốc tế. Tuy vậy, trên thực tế thì tại cuộc đàm phán này thì lập trường chính nghĩa và nghệ thuật đàm phán của ta luôn chủ động áp đảo đối phương và kết quả là Mỹ đã phải ký Hiệp định Paris trong thế thua.

Là người tham dự hầu hết quá trình đàm phán Paris, cả cuộc đàm phán công khai và đàm phán kín, xin ông cho biết rõ hơn chúng ta đã làm gì, có bí quyết gì khiến đối phương từ mạnh chuyển sang yếu, từ coi thường chuyển sang kính nể đoàn đàm phán của chúng ta như vậy?

Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại lễ ký kết Hiệp định Paris

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc: Đây là lần đầu tiên Việt Nam trực tiếp đối đầu với Đế quốc Mỹ – một siêu cường quốc hạt nhân và có thế lực quân sự hùng mạnh đã làm mưa làm gió trên thế giới, chưa bao giờ thua trong cuộc chiến tranh nào. Trong khi đó ở phía Việt Nam sức mạnh quân sự của ta chỉ là toàn dân kháng chiến. Sức mạnh chính mà Hồ Chủ tịch đã đặt rất rõ đó là vì độc lập tự do, chiến lược là đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào và Bắc – Nam sum họp một nhà.

Khẩu hiệu đó là bí quyết cho đường lối ngoại giao của Hồ Chí Minh là độc lập – tự do – hạnh phúc và ý trí đó đã tạo lên sức mạnh toàn dân. Do đó, sức mạnh vũ khí quân tự của ta tuy không bằng Đế quốc Mỹ nhưng với tinh thần đó đã chiến thắng quân sự và Mỹ từ can thiệp leo thang, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và cuối cùng là phải chấp nhận sự thất bại, phải chấp nhận rút quân.

Sự không cân sức trong ngoại giao thể hiện rất rõ; Chúng ta không có kinh nghiệm ngoại giao, chưa có chuyên gia luật pháp quốc tế trong khi đó Mỹ rất thành thạo trong việc này. Henry Kissinger rất nổi tiếng trong việc này và họ có cả một bộ máy đằng sau. Hay việc thông tin trong nước cũng rất nhanh, họ có thể đàm phán nửa chừng họ ra ô tô là có thể liên lạc về nước được rồi. Trong khi chúng ta dùng điện đài đánh móc, mã hóa gửi về. Mà có muốn về nước xin chỉ thị thêm thì đồng chí Lê Đức Thọ cũng phải mất 3 ngày từ Paris bay về Moscow rồi về Việt Nam.

Toàn cảnh cuộc đàm phán

Phương tiện thông tin thua họ. Có thể nói vật chất và kỹ thuật của mình thua họ nhưng rõ ràng, tôi đấu tranh đến cùng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “khoét sâu và chỗ yếu của Mỹ”. Mỹ trước đây chủ trương ngăn chặn cộng sản nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “không, chúng tôi chỉ lập tự do – quyền lợi dân tộc chúng tôi mà thôi”. Và cuối cùng các nước trên thế giới và Mỹ cũng phải nhận ra sai lầm.

Có thể nói thắng lợi đó là do được Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra chiến lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh cử ông Xuân Thủy rất giỏi về ngoại giao, có uy thế rất lớn trong đội quân báo chí. Ông như một vị sứ thần Việt Nam ngày xưa, giỏi đối đáp. Còn ông Lê Đức Thọ là người rất kiên quyết trong đàm phán riêng. Bà Bình là một người dòng dõi của cụ Phan Chu Trinh. Báo chí phương Tây gọi bà là “nữ hoàng Việt cộng”. Bởi từ lâu phương Tây, miền Nam gọi Việt cộng là những anh leo cành đu đủ không gẫy nay thấy bà rất lịch sự, nói tiếng Pháp rất tốt, văn hóa, đối đáp trôi chảy, điều đó khiến chính báo chí Pháp cùng phải tự hào nói bà là “nữ hoàng Việt cộng”.

Đây không chỉ là thắng lợi trong việc ký được Hiệp định Paris mà là sự tâm phục khẩu phục của đối phương. Tôi luôn nói hiệp định Paris hay cuộc chiến tranh Việt Nam rất có hậu, sau cuộc chiến tranh đó uy tín của Việt Nam lớn lên rất nhiều. Ngay đối với Mỹ – làm mưa là gió trên thế giới, chưa thua bao giờ thì người hận thù Việt Nam nhất như ông John McCain, bây giờ lại là người bảo vệ Việt Nam rất mạnh. Thực tế họ có cái phục. Đường lối đó là của Hồ Chí Minh không ai có thể làm khác được.

P.V: Sau khi kết thúc chiến tranh thì các chuyên gia, nhà khoa học lịch sử Việt Nam và Hoa Kỳ đã vài lần ngồi lại cùng nhau để nhìn lại sự kiện này và rút kinh nghiệm cho tương lai. Với tư cách là một người trực tiếp tham gia đoàn đàm phán, xin ông cho biết, trong quá trình đàm phán, có cơ hội nào cho hòa bình mà hai bên đã bỏ lỡ không?

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc: Khi đó, Việt Nam lấy lợi ích dân tộc làm một: Vì độc lập tự do, đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào. Nhưng Mỹ lại có những lợi ích khác nhau. Điều đó thể hiện ở ngay trong đoàn đàm phán, Trưởng đoàn và Phó đoàn thì hai người này đều muốn chấm dứt chiến tranh; Họ còn muốn chấm dứt ném bom sớm nhưng lúc đó Johson lại tính khác.

Bên cạnh đó, Johson ở Đảng dân chủ nhưng cũng vướng Harry là người ứng cử Tổng thống, cả 2 đều có những mẫu thuẫn. Điều đó khiến nội bộ họ lủng củng. Sau này, khi Richard Nixon trúng cử  cuộc đám phán cũng không diễn ra ngay mà phải chờ đợi ông ta lên nhậm chức mới tiếp tục.

Nội bộ của Mỹ có nhiều sự tính toán khác nhau, điều đó đã làm họ suy yếu lập trường. Thậm chí kéo dài chiến tranh khiến tổn thất cho Mỹ càng nhiều hơn,cuối cùng họ sụp đổ. Chính nhiều sự tính toán như thế đã dẫn đến sai lầm cho Mỹ. Còn ta chiến thắng bởi sự xuyên suốt với một mục đích: Tôi muốn độc lập tự do và chúng tôi là tự chiến đấu tự đàm phán.

P.V: Xin cảm ơn ông./.

Mỹ Trà – Ngọc Ngà/VOV – Trung tâm tin
vov.vn

Đàm phán Paris là tổng hợp sức mạnh ngoại giao

(VOV) – PGS. TS. Vũ Dương Huân: “Muốn đánh thắng nước lớn thì phải kết hợp sáng tạo sức mạnh dân tộc và thời đại”.

Làm nên chiến thắng trên bàn đàm phán Paris ngày 27/1/1973 không thể không nhắc đến sức mạnh của ngoại giao nhân dân. Cuộc đàm phán ở Paris là sự kết hợp nhiều hình thức đấu tranh phong phú, bao gồm đấu tranh trong các phiên họp công khai, đàm phán trong các cuộc gặp riêng, đấu tranh trong các cuộc họp báo và đấu tranh bằng cách vận động và tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức, các đoàn thể, nhân dân thế giới.

Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, Đảng và Bác Hồ rất quan tâm đến công tác tuyên truyền đối ngoại, nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác tuyên truyền đối ngoại được vận dụng và phát triển lên trình độ mới, đạt tới đỉnh cao trong kháng chiến chống Mỹ và đàm phán Paris là bước phát triển độc đáo và sáng tạo của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

PGS. TS. Vũ Dương Huân, nguyên Viện trưởng Viện Quan hệ quốc tế – Bộ Ngoại giao, nhấn mạnh: “Chúng ta đã hoạch định một cách tuyệt đối đúng đắn và sáng tạo đường lối ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ta đã xây dựng, hoàn chỉnh được đường lối đối ngoại độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế. Không thể bỏ được vế nào trong hai vế này. Không có độc lập tự chủ thì không có đoàn kết quốc tế. Chúng ta đã cân bằng được hai vế này. Đây là sợi chỉ đỏ, là tinh thần sống để chỉ đạo toàn bộ đường lối hoạt động ngoại giao lúc bấy giờ”.

Kissinger bắt tay các ông Xuân Thủy, Lê Đức Thọ tại Hòa đàm Paris (Ảnh tư liệu)

Từ năm 1960, với sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đã xuất hiện một mũi tấn công vô cùng lợi hại của ngoại giao miền Nam, mà ngoại giao nhân dân là nòng cốt.

Mặt trận đã xây dựng mạng lưới các hệ thống cơ quan đại diện và phòng thông tin tại các châu lục và triển khai những hoạt động ngoại giao nhân dân sâu rộng, rất có hiệu quả. Các đoàn thể Mặt trận đều tranh thủ mở rộng tiếp xúc, tham gia rộng rãi các sinh hoạt quốc tế lớn, các diễn đàn quốc tế, gặp gỡ các tổ chức quốc gia và quốc tế để cung cấp thông tin, đưa ra nhân chứng, giới thiệu tư liệu về tội ác của Mỹ, đồng thời làm sáng tỏ cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta. Những việc làm này đã góp phần đắc lực thúc đẩy hình thành phong trào đoàn kết với Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch nước cho biết: “Lúc Việt Nam bắt đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, dư luận thế giới chưa hiểu gì về cuộc chiến đấu này. Dần dần, thế giới đã hiểu được ý nghĩa của cuộc chiến đấu của chúng ta và nhất là cuộc đấu tranh anh dũng của quân dân ta trên chiến trường. Cuộc chiến đấu đó càng ngày càng giành thắng lợi, thì càng làm cho nhân dân thế giới hiểu được ý nghĩa của cuộc chiến, đồng thời hiểu được tính chiến đấu anh hùng và kiên cường của dân tộc ta. Tất cả những điều đó làm cho thế giới không những hiểu về lập trường của chúng ta, mà còn khâm phục và yêu mến nhân dân Việt Nam-một dân tộc nhỏ mà dám đứng lên chống lại một đế quốc sừng sỏ là Mỹ”.

Các phong trào và tổ chức đoàn kết ủng hộ Việt Nam lần lượt ra đời tại các nước, từng bước hình thành Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Phong trào này đã trở thành lực lượng chính trị hùng hậu, thường xuyên gây áp lực và có tác động ngày càng sâu sắc đến chính sách và thái độ của nhiều chính phủ trên thế giới đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

PGS. TS. Vũ Dương Huân cho biết, đây là hiện tượng mới trong quan hệ lịch sử quốc tế. Chưa bao giờ hình thành Mặt trận nhân dân thế giới cùng Việt Nam chống Mỹ và kháng Mỹ. Đó là nhân tố Đảng ta đã xác định rõ, mình là nước nhỏ – muốn đánh thắng nước lớn thì phải kết hợp sáng tạo sức mạnh dân tộc và thời đại – đây là sáng tạo rất lớn của chúng ta.

Trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán tại Paris, có thể nói không có tuần nào, tháng nào mà không có các cuộc mít tinh, biểu tình hay các hoạt động khác đoàn kết với Việt Nam diễn ra tại các nước châu Âu. Phong trào ủng hộ Việt Nam nở rộ và dâng cao với nhiều hình thức đa dạng và phong phú.

Những “Ủy ban Đoàn kết với Việt Nam”; những ngày, tuần, lễ, tháng hành động vì hòa bình ở Việt Nam, “Con tàu cho Việt Nam”… được tổ chức khắp nơi từ Pháp, Italy, Đức, Thụy Sĩ, Anh. Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam cũng được thành lập và đi vào hoạt động.

Tại Thụy Điển, Thủ tướng Olof Palme tham gia đi đầu đoàn biểu tình phản đối chiến tranh và đích thân lấy chữ ký người dân phản đối Mỹ ném bom Việt Nam. Tại Mỹ, các cuộc biểu tình với khẩu hiệu “Hãy đem chiến tranh về trong nước” diễn ra trên quy mô lớn, quy tụ mọi tầng lớn nhân dân tham gia, có lúc đã làm tê liệt cả bộ máy chính quyền và các hoạt động bình thường trong xã hội.

Báo chí Mỹ mô tả: “Đây là một phong trào chống chiến tranh không những chưa từng có ở Mỹ, mà cũng chưa từng có trong lịch sử nhân loại”. Phong trào chống chiến tranh phát triển ngay trong Quốc hội Mỹ. Quốc hội Mỹ đã nhiều lần thông qua nghị quyết cắt giảm chi phí chiến tranh, đòi rút quân Mỹ về nước.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cho biết: Khi chúng ta ký kết Hiệp định Paris, nhân dân tiến bộ trên thế giới đứng về phía Việt Nam và coi Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi của họ; không những của ta mà của các lực lượng yêu chuộng hòa bình, công lý trên toàn thế giới.

Khi bắt đầu cuộc chiến tranh, nhiều người Mỹ trước khi sang Việt Nam còn phải tìm trên bản đồ xem Việt Nam ở đâu, để rồi khi chiến tranh kết thúc, là lúc cả thế giới sát cánh bên nước Việt Nam bé nhỏ mà kiên cường, nơi đánh thức trái tim nhân loại, lương tri thế giới.

Như ông Vũ Xuân Hồng-Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam từng nhận xét: Chưa bao giờ số phận của một dân tộc nhỏ và số phận của nhân dân thế giới lại gắn chặt với nhau như vậy; chưa có cuộc đấu tranh của một dân tộc nào lại được sự ủng hộ quốc tế như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Đó không chỉ là kết quả cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, của đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Bác Hồ mà trong đó có ngoại giao nhân dân./.

Hồ Điệp-Mỹ Trà/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Những câu chuyện về Hội nghị Paris: “Suýt chết ngất !”

Khi rời Hà Nội còn bom đạn để đi Paris không ai biết cụ thể là Hội nghị kéo dài bao lâu, chỉ biết lên đường đến Paris cho kịp họp phiên đầu tiên vào ngày 13-5-1968. Lúc đó ở Paris ta có Tổng đại diện là cơ quan cao nhất đại diện cho Nhà nước ta do ông Mai Văn Bộ đứng đầu. Đón một đoàn quan trọng nhất từ trước đến nay để dự một cuộc Hội nghị có tính chất quyết định đối với vận mệnh của đất nước, ông Bộ nghĩ, phải bố trí cho đoàn ở một nơi đàng hoàng, sang trọng để cho người ta biết “mình là ai?”.

Cuối cùng, ông quyết định thuê cho đoàn ăn ở tại khách sạn Lutétia, một khách sạn 5 sao, ở số 45 trên Đại lộ Raspail (quận 16) giữa Thủ đô ánh sáng, “bắt” khách sạn treo cờ đỏ sao vàng trước cửa. Đến sân bay rồi đến khách sạn, nhà báo, phóng viên đủ các nước đã chờ sẵn để quay phim chụp ảnh lóa cả mắt. Kiều bào thì hãnh diện tụ tập ở sân bay theo đoàn rồi đến cửa khách sạn, tay cầm cờ đỏ sao vàng, kèm với khẩu hiệu hoan nghênh đoàn.

Sau độ 10 ngày, khách sạn đưa cho bà lễ tân của ta là Vũ Thị Đạt cái “phắc-tuya” (hóa đơn). Nhìn thấy số tiền ghi trong hóa đơn bà Đạt sợ quá suýt chết ngất bèn báo cáo Trưởng đoàn. Ông Xuân Thủy bàn với ông Hà Văn Lâu, Phó đoàn và Tổng đại diện Mai Văn Bộ quyết định phải chuyển chỗ ở, không cần 5 sao; thậm chí không có sao nào cũng phải đổi chỗ ở miễn là có chỗ ăn ngủ và tiện làm việc, lại còn phải có chỗ dựng cột điện đài để đánh “moóc” liên lạc với trong nước nữa chứ… Ông Mai Văn Bộ đi nhờ Đảng Cộng sản Pháp giúp. Lúc đó, “Trường đào tạo cán bộ Đảng của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp” ở thành phố Choisy – leRoi, ngoại ô Paris. Trường đang nghỉ hè, học viên về địa phương cả, nên có thể cho đoàn ở trong thời gian nghỉ học. Vậy là đoàn ta chuyển ngay đến Choisy – le Roi, một nơi lý tưởng vì có đầy đủ phương tiện cho đoàn ăn ở và làm việc.

Sau thời gian nghỉ hè của trường, Hội nghị chưa đi đến đâu cả, cũng không ai nói trước được là còn kéo dài đến bao giờ. Thế là, trước mắt, bạn hoãn ngày tựu trường. Đoàn ta thì không biết đi đâu? Cuối cùng bạn tìm một nơi khác ở xa Paris để chuyển trường Đảng đến đó. Còn đoàn ta “xem của bạn cũng là của ta” ở mãi đến tháng 4-1973, hay nhất là lại được “miễn phí”, bạn không lấy một xu nào tiền thuê nhà. Đó là chưa kể số cán bộ bạn cử đến giúp đỡ và phục vụ cho đoàn VNDCCH và đoàn CPCMLTCHMNVN, về bảo vệ, lái xe, cấp dưỡng, giặt là quần áo… một cách tự nguyện và không có lương trong suốt hơn 4 năm trời.

Trịnh Ngọc Thái
daidoanket.vn

Tái hiện Hiệp định Paris qua 140 bức ảnh

TTO – Những dấu mốc và hiện vật gợi nhớ Hiệp định Paris đi tới hòa bình của VN bắt đầu được giới thiệu tới người quan tâm ngày 23-1 tại trung tâm triển lãm 29 Hàng Bài, Hà Nội.

Ông Vũ Bỉnh (nguyên trung tá, trưởng ban bảo vệ an ninh Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam) bắt tay nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tại triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris – Ảnh: Việt Dũng

Nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nhớ lại những khoảnh khắc hình ảnh của mình tại triển lãm ảnh kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris – Ảnh: Việt Dũng

Trong khuôn khổ triển lãm lớn nhất từ trước tới nay về chủ đề này, người xem sẽ được tiếp cận 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách. Có những hiện vật quý lần đầu được trưng bày kể từ 40 năm qua như văn bản gốc Hiệp định Paris.

Một trong những nhân vật xuất hiện nhiều trong các bức ảnh là bà Nguyễn Thị Bình – nguyên phó chủ tịch nước, nguyên trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris – đã có mặt để khai mạc triển lãm.

Tại đây, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga cho biết đây là hoạt động nằm trong chuỗi các sự kiện đầy ý nghĩa kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam. “Ngày 27-3-1973 đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi với việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam” – bà nói.

Triển lãm kéo dài hết ngày 28-1.

H.GIANG – VIỆT DŨNG
tuoitre.vn

Hiệp định Paris – Đỉnh cao chói lọi của ngoại giao cách mạng Việt Nam

Theo PGS, NGND LÊ MẬU HÃN, NGUYÊN CHỦ NHIỆM KHOA LỊCH SỬ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH VÀ NV, ĐHQG HÀ NỘI, Hiệp định Paris là đỉnh cao chói lọi của cuộc đấu tranh cam go nhất, lâu dài nhất trong lịch sử ngoại giao cách mạng Việt Nam. Việc ký Hiệp định Paris là thắng lợi vô cùng to lớn, tạo thế và lực cho cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

– Hiệp định Paris được xem là cuộc đấu trí kéo dài giữa nền ngoại giao cách mạng non trẻ của Việt Nam với nền ngoại giao nhà nghề của Mỹ, trong đó có tới 202 cuộc họp công khai và 24 cuộc gặp riêng. Ông đánh giá về sự kiện này như thế nào?

– Thắng lợi của Hội nghị Paris là một thắng lợi to lớn với dân tộc ta, chấm dứt cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ XX. Cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước nhưng lại là tiêu điểm của những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại: giữa độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc, các thế lực phản động; giữa chiến tranh và hòa bình. đó là cuộc đối thoại giữa hai thế lực đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế yếu về chính trị, tinh thần; một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, tuy có điểm yếu tương đối về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế mạnh tuyệt đối về chính trị, chính nghĩa. Đây là cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Ở Paris đã diễn ra một cuộc đấu quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo lý, hai thứ mưu lược khác nhau. Trong quá trình đàm phán, phía Mỹ đã có những thủ đoạn tỏ rõ nền ngoại giao nhà nghề của họ, nên cuộc đấu tranh đó là cuộc đấu tranh từng bước trên cơ sở thắng lợi ở chiến trường mà chúng ta đã giành được.

Toàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, 27.1.1973

Cuộc đàm phán kéo dài tới 202 phiên họp công khai và 24 cuộc họp riêng mới đi đến kết quả cuối cùng. Điều này đã nói lên tính chất quyết liệt của nó, sự cương quyết không chịu nhượng bộ của ta. Việc ký Hiệp định Paris là một thắng lợi vô cùng to lớn, là đỉnh cao chói lọi của nền ngoại giao cách mạng non trẻ của Việt Nam. Bởi đây là văn kiện pháp lý có tính quốc tế mà phía Mỹ phải công nhận độc lập, toàn vẹn chủ quyền và thống nhất của dân tộc ta; tạo nên thế và lực cho việc kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài suốt 21 năm của nhân dân ta là giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, giang sơn thu về một mối. Sự kiện này đã một lần nữa khẳng định chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do” mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Đây là kết quả  sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và dựa trên các yếu tố về chính trị, quân sự và ngoại giao.

– Trong quá trình đàm phán, Mỹ luôn gây khó khăn cho ta khi đưa ra những điều khoản có lợi cho chúng hoặc đơn phương rút khỏi bàn Hội nghị. Việc làm đó có phải Mỹ muốn chờ sự thay đổi có lợi trên chiến trường, thưa Ông?

– Trong quá trình xâm lược Việt Nam, Mỹ luôn thay đổi các chiến lược chiến tranh như chiến tranh đặc biệt; chiến tranh cục bộ; Việt Nam hóa chiến tranh… Tuy nhiên, sự thay đổi nhằm gây sức ép với ta trên chiến trường đã không mang lại hiệu quả trên bàn Hội nghị mà còn bị tổn thất, vì việc Mỹ gây khó khăn cũng không nằm ngoài ý định thăm dò ý đồ của ta. Nhưng các chiến lược này không tạo thay đổi có lợi cho chúng. Trong khi đó, điều chúng ta làm được là buộc Mỹ phải rút quân. Vì vậy, dù có gây khó khăn cho ta hay đơn phương rút khỏi bàn Hội nghị thì Mỹ vẫn không thay đổi được những thắng lợi trên chiến trường của ta.

– Với chủ trương vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh, tại Hội nghị Paris đâu là yếu tố để ta nắm quyền chủ động, thưa Ông?

– Chủ trương vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh đã diễn ra trong suốt cả cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là việc đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang trước khi chúng ta chuyển sang chống lại các chiến lược quân sự mới của Mỹ. Đặc biệt, cuộc tiến công Mậu Thân năm 1968 khi ta đánh vào nội đô Sài Gòn đã thể hiện sức mạnh quân sự của ta. Sự kiện này tạo ra thế dẫn đến việc đánh để đàm và buộc Mỹ phải xuống thang. Ngoài ra, các cuộc tấn công quân sự khác cũng đã tạo đà cho việc đàm phán ngoại giao tiến lên, nhất là những thắng lợi trên chiến trường trong năm 1972. Vì vậy, việc vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh thì những thắng lợi về quân sự là yếu tố cơ bản tạo đà cho các bước phát triển của ngoại giao. Bên cạnh đó, những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao cũng góp phần tạo thế và lực cho sự phát triển của quân sự.

– Như Ông vừa nói, chiến thắng trên chiến trường có ảnh hưởng lớn đến cục diện bàn đàm phán. Vậy những thắng lợi của ta từ cuối năm 1971 và trong năm 1972 có phải là điều tiên quyết trong thắng lợi của Hiệp định Paris không?

– Năm 1972, cả Việt Nam và Mỹ đều nhận định là năm quyết định cho cuộc chiến tranh. Vì vậy, các cuộc đàm phán dần đi vào thực chất, càng về cuối càng có những chuyển biến quan trọng. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm, hai bên vẫn chưa thực sự đi vào đàm phán, vẫn nỗ lực trên chiến trường và thăm dò nhau trên bàn hội nghị. Cuộc gặp riêng từ ngày 8 – 12.10.1972 là mốc đánh dấu bước chuyển căn bản của cuộc đàm phán. Trong đó, phía Việt Nam đưa ra văn bản Dự thảo hiệp định hoàn chỉnh và đề nghị Mỹ ký ngay Hiệp định. Trên chiến trường, Mỹ tiến hành bình định quyết liệt, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào nhằm ngăn chặn tiếp tế của miền Bắc vào miền Nam, cô lập lực lượng cách mạng miền Nam từ bên ngoài. Về ngoại giao, chính quyền Nixon xây dựng một chiến lược toàn cầu mới trong khuôn khổ “học thuyết Nixon”, tìm cách lợi dụng mâu thuẫn Xô – Trung trong quan hệ với Việt Nam, tìm kiếm một giải pháp thương lượng theo điều kiện có lợi cho Mỹ. Những năm 1969 – 1972 là những năm giằng co quyết liệt giữa hai bên trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán. đàm phán thực chất chỉ diễn ra sau khi Mỹ đã cảm nhận được thất bại của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, nhất là sau thắng lợi của ta ở đường 9 – Nam Lào và trong Chiến dịch đông – Xuân 1971 -1972, chiến thắng ở thành cổ Quảng Trị, giải phóng thêm được nhiều vùng rộng lớn. Không chỉ có những chiến thắng trên chiến trường cuối năm 1971 và năm 1972 mà tác động của những chiến thắng trên khắp chiến trường đã xuất hiện từ năm 1968. Bởi nếu không, chúng ta sẽ không thể kéo Mỹ ngồi vào bàn Hội nghị Paris. Tuy nhiên, chiến thắng về mặt quân sự là gốc quyết định và có tác động vô cùng mạnh mẽ đến ngoại giao để chúng ta giành được thắng lợi. Vì sau những thất bại đó, Mỹ đã nhận ra rằng không thể thắng được chúng ta bằng sức mạnh quân sự ở trên chiến trường.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to thì tiếng mới mạnh”. Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa  thắng lợi của Hiệp định Paris?

– Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tư tưởng cốt lõi của ngoại giao cách mạng nước ta. Ở đây Người muốn nói đến sức mạnh của đấu tranh trên chiến trường chính là thực lực có tác động mạnh mẽ trong đấu tranh ngoại giao. Với việc ta luôn giành được những thắng lợi to lớn về mặt quân sự đã giúp cho việc đàm phán đi đến thành công. Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Paris là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ cho chân lý, giành độc lập, tự do của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Thành công của cuộc đàm phán đưa tới Hiệp định Paris gắn liền với phong trào của nhân dân thế giới đoàn kết và ủng hộ Việt Nam. Sự ủng hộ đó đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân.

 Xin cám ơn Ông!

 Tóm tắt nội dung Hiệp định về chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình ở Việt Nam
(ký tại Paris ngày 27.1.1973)

– Tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi Hiệp định Geneve.

– Ngừng bắn trên toàn Việt Nam từ 1h ngày 28.1.1973. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng hòa. Mỹ không tiếp tục can thiệp quân sự vào “các vấn đề nội bộ” của Nam Việt Nam.

– Tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng 60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thỏa thuận chi tiết của các phía Việt Nam.

– Tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình.

– Để giám sát việc thực hiện hiệp định, thành lập ủy ban kiểm soát và Giám sát quốc tế và Phái đoàn quân sự liên hợp bốn bên.

– Mỹ có nghĩa vụ giúp đỡ việc tái thiết sau chiến tranh, đặc biệt là ở miền Bắc Việt Nam và trên toàn Đông Dương, để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh.

Thanh Bình thực hiện
daibieunhandan.vn

40 năm ngày ký Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh

Đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris. (Ảnh Tu liệu/TTXVN)

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013), phóng viên TTXVN tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tìm gặp ông Hà Văn Lâu, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Phó trưởng đoàn đàm phán (giai đoạn 1) của Việt Nam ở Hội nghị Paris, một nhân chứng lịch sử của sự kiện này.

Năm nay đã ở tuổi 95 nhưng ông Hà Văn Lâu vẫn rất minh mẫn với giọng nói rõ ràng, mạch lạc. Nhớ lại những kỷ niệm không thể nào quên của những năm tháng kiên trì đàm phán, dòng hồi tưởng về giai đoạn lịch sử này lại ùa về trong ông với niềm xúc động lớn lao.

Những bài học kinh nghiệm

Đánh giá về những bài học kinh nghiệm trong thắng lợi của Hội nghị Paris, ông Hà Văn Lâu nhấn mạnh, bao trùm lên tất cả là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt và bản lĩnh lãnh đạo vững vàng của Đảng ta và về sự vận dụng đúng đắn tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Trong mọi hoàn cảnh, trước mọi ý đồ và mưu mô xảo quyệt của đối phương, chúng ta vẫn kiên định lập trường, có đối sách thích hợp, linh hoạt, tạo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các mặt trận đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao. Đồng thời, Đảng ta đã độc lập tự chủ trong mọi quyết sách, mọi bước đi, luôn ở thế chủ động tiến công, kiên định nguyên tắc nhưng linh hoạt trong sách lược đàm phán. Đảng ta đã vận dụng tài tình tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong việc đánh giá cục diện quốc tế, diễn biến và so sánh lực lượng ở chiến trường, nội tình nước Mỹ, từ đó xác định các thời cơ lớn của ngoại giao và đàm phán.

Trong quá trình đàm phán, ta đã vận dụng ba nhân tố: chiến trường, đàm phán và quốc tế nhằm tăng cường thế và lực cho đất nước. Cùng với đó là bài học về sự kết hợp và bổ trợ lẫn nhau, phối hợp tài tình giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, giữa chiến trường và bàn đàm phán, đó là sự phối hợp giữa “đánh và đàm.” Thắng lợi và thực lực trên chiến trường đóng vai trò quyết định đối với thắng lợi trên bàn đàm phán. Ngược lại, thắng lợi trên bàn đàm phán cũng góp phần tác động đến thắng lợi trên chiến trường…

Đoàn Ba Bảy

Ông Hà Văn Lâu kể: Phải đến năm 1968, khi trên chiến trường miền Nam ta đã giành được những thắng lợi quan trọng, Tổng thống Mỹ Johnson mới chịu ngừng ném bom Bắc Việt Nam, sẵn sàng thương lượng với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hai bên đã thỏa thuận bắt đầu đàm phán tại Paris vào ngày 13/5/1968. Đoàn Việt Nam được thành lập ban đầu có 37 người, nên được gọi là “Đoàn ba bảy”, Trưởng đoàn là đồng chí Xuân Thủy. Với tư cách là Phó đoàn, ông Hà Văn Lâu được cử đi tiền trạm lo chỗ ăn, chỗ ở cho đoàn, chỗ họp hội nghị…

Sau ngày Hội nghị khai mạc, trong suốt trong thời gian dài, hội nghị diễn ra trong thế giằng co, thăm dò lập trường lẫn nhau, Phó đoàn Việt Nam Hà Văn Lâu và Phó đoàn Mỹ Vance luôn có các cuộc họp thăm dò để chuẩn bị cho những cuộc tiếp xúc riêng của cấp Trưởng đoàn bàn thực chất của các vấn đề.

Chuyện về cái bàn hội nghị

Ông Hà Văn Lâu cho biết: Ở giai đoạn 2, ngày 4/12/1968, ông gặp Vance chủ yếu là bàn về thủ tục phòng họp ở đâu, nói bằng thứ ngôn ngữ nào, ai sẽ nói trước, hình thù cái bàn ngồi họp ra sao… Chỉ riêng chuyện cái bàn, phía Mỹ đã kéo thành 8 cuộc họp, mất gần hai tháng để Vance tranh luận với Hà Văn Lâu. Mỹ yêu sách, kèo nèo mãi quanh mấy cái mặt bàn, chân bàn, không phải về kỹ thuật hình thức, kiểu dáng cái bàn mà thực chất đây là cuộc đấu tranh lập trường giữa hai bên.

Phía Mỹ cho là Hội nghị Paris tiếp theo chấm dứt ném bom miền Bắc phải là cuộc họp của hai bên: một bên là Mỹ và chính quyền Sài Gòn, một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Vance đưa ra đến 10 kiểu bàn để thể hiện lập trường 2 bên của Mỹ, cố tình phủ nhận vai trò của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Còn phía Việt Nam nêu rõ đây là hội đàm 4 bên để nâng tầm chính trị, đề cao vai trò của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và trong đàm phán, nên đưa ra mẫu bàn hình vuông, Mỹ lại đề nghị bàn hình chữ nhật.

Ở lần họp thứ 6, Phó đoàn Hà Văn Lâu đưa ra hai kiểu bàn mới hình thoi và hình tròn chia tư. Đến cuộc họp lần thứ 7, Vanxơ đưa ra hai kiểu bàn: hình bầu dục cắt dọc đôi và hình tròn cắt đôi, phía Việt Nam bác bỏ… Ông Lâu nhớ lại, quanh chuyện cái bàn này, đồng chí Xuân Thủy đã nói: “Thật là buồn cười, hồi bé, trẻ con hay tranh nhau chỗ ngồi bàn này, bàn kia, ghế nọ, ghế kia. Bây giờ bạc đầu, trên trường quốc tế, người ta vẫn tranh nhau như vậy…”

Đến ngày 3/1/1969, tại lần họp thứ 8, suốt 4 giờ liền Vance tranh luận với ông Lâu về chuyện cái bàn. Đến lần họp thứ 9 (12/1), hai bên tiếp tục tranh cãi, phía Mỹ giữ quan điểm cái bàn ngồi phải thể hiện là họp hai phía, ta không chịu, đòi phải thể hiện rõ bốn bên. Phải đến lần họp thứ 10 ngày 16/1, khi Liên Xô đưa ra sáng kiến chiếc bàn tròn, không phân biệt ranh giới cụ thể giữa 4 đoàn, phía Mỹ mới chịu chấp nhận. Theo mô tả của ông Hà Văn Lâu: trên bàn họp không có cờ, không có bảng tên từng đoàn. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngồi đối diện với đoàn Mỹ, còn đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngồi đối diện với đoàn Việt Nam Cộng hòa. Bên cạnh bàn tròn lớn có 2 bàn tròn nhỏ dành cho thư ký. Do vậy có thể hiểu sao cũng được. Bộ Ngoại giao Pháp đã làm giúp cái bàn họp, chỉ đóng trong một đêm là xong. Còn về chuyện ai nói trước, Việt Nam Dân chủ Cộng hò và Mỹ dành cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa rút thăm…

Sau những ngày dài né tránh và chờ bầu xong tổng thống mới, Mỹ buộc phải chấp nhận họp bốn bên ở Hội nghị Paris. 10 giờ 30 phút sáng 25/1/1969, Hội nghị Paris 4 bên đã khai mạc trọng thể tại phòng lớn của Trung tâm Hội nghị Quốc tế phố Cơbêle./.

Hà Huy Hiệp (TTXVN)
vietnamplus.vn