Thư viện

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: 40 năm – nhớ lại…

LTS: 40 năm trước, vào thời khắc 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, nhà báo Trần Thanh Phương – nguyên Phó Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết, đang là phóng viên báo Nhân Dân. Bài viết dưới đây là những ký ức vô cùng xúc động và không thể nào quên về những ngày Hà Nội đau thương, anh hùng và kiêu hãnh mà ông được trực tiếp chứng kiến với tư cách một phóng viên “mặt trận”. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Tượng Khâm Thiên ghi dấu tội ác của đế quốc Mỹ
với nhân dân Hà Nội năm 1972

Ảnh Hoàng Long

Đó là 12 giờ trưa ngày 21-12-1972, hệ thống loa phóng thanh công cộng Hà Nội đang truyền đi bản nhạc du dương, bỗng ngừng đột ngột. Một hồi còi báo động vang lên, kéo dài. Tiếng cô phát thanh viên dõng dạc: “Máy bay địch cách Hà Nội… Máy bay địch cách Hà Nội… Những người tại khu tập thể báo Nhân Dân (gồm 15 hộ, ở ngõ Lý Thường Kiệt, sau Đại sứ quán CuBa) lần lượt xuống hầm. Hầm được xây khá kiên cố trong một căn phòng khoảng 20m2 ở tầng trệt của gia đình nhà báo Đức Thi. Trong căn hầm thiếu ánh sáng, không trông rõ mặt người, nhưng qua tiếng cười, tiếng nói chộn rộn, mọi người đều biết có những ai.

Mặt đất đang yên lặng bỗng có tiếng máy bay rít ầm ầm xẹt qua, rồi lại yên lặng bao trùm. Mọi người ngồi lâu thấy mỏi định ra khỏi hầm thì tiếng cô phát thanh viên dồn dập: “Máy bay địch đang bay trở lại Hà Nội…”. Tất cả yên lặng. Bỗng một loạt tiếng nổ ầm! ầm! ầm! căn hầm rung chuyển mù mịt cát bụi. Mọi người nín thở rồi như đồng thanh thét lên: “Khu tập thể ta bị bom rồi!”. Im lặng bao trùm. Rồi còi báo yên. Tiếng cô phát thanh viên thong thả: “Máy bay địch đã bay xa!..”.

Chui ra khỏi hầm. Mọi người thảng thốt trước cảnh đổ nát ngổn ngang của hai dãy nhà từ đầu đến cuối ngõ. Phía sau là khu nhà của Bộ Giao thông Vận tải cũng bị bom. Ga Hàng Cỏ cách đó gần một cây số bị đánh sập phần ga chính. Sau đó mươi phút, anh chị em trong đội tự vệ báo Nhân Dân từ 71 phố Hàng Trồng, tay mang cuốc xẻng… chạy sang. Lúc này, chúng tôi mới nhận ra sự tàn phá khủng khiếp của bom Mỹ. Nhà của nhà báo Quang Đạm có tủ sách quý bị hất bay sang phố Dã Tượng, sau đó chỉ tìm được vài cuốn. Giá sách và “kho” tư liệu của vợ chồng tôi bị gạch ngói vùi lấp. Nhà báo Lê Điền (sau này là Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết), đêm hôm trước trực ở cơ quan báo Nhân Dân, sáng hôm sau vẫn tiếp tục làm việc, trưa tranh thủ về nhà nghỉ ngơi. Lúc báo động ông chỉ kịp xuống hầm cá nhân ở gầm cầu thang nhà ông. Cái hầm kiên cố đã cứu nhà báo Lê Điền – người có cái đầu bạc trắng như cước. Đối diện là nhà ông Nguyễn Thành Lê – nguyên Tổng Biên tập báo Giải Phóng (một nhánh của Đại Đoàn Kết ngày nay), Người phát ngôn của Đoàn đại biểu Chính phủ ta tại hội nghị Paris, hư hại nặng. Các căn nhà của nhà báo Hà Đăng, Hà Hoa, Hùng Lý… bị phá hủy hoàn toàn. Từ đầu ngõ, nhà nghệ sĩ cải lương Lệ Thanh và đạo diễn Đức Dư, nhà ông Minh Đạo – phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam và nhiều nhà kiên cố khác đều bị bom đánh sập hoặc hư hại nặng. Nhưng tất cả mọi người điều an toàn.

Ngày hôm sau, cơ quan báo Nhân Dân “bắt” tôi tạm đi sơ tán vài ngày tại huyện Thạch Thất (Hà Tây cũ). Mấy hôm sau tôi nhận được thư của vợ tôi, thư có đoạn: “Anh ơi, em báo anh việc này nhé: Sáng hôm qua, em đi dạy về nhìn cái nền nhà đầy gạch vụn mà thắt ruột thắt gan. Em bới tìm được quyển sổ ghi địa chỉ của người thân, bạn bè mình. Cái thau cũ cùng với cái áo của em nó nằm đúng dưới gầm bàn mà chúng ta thường ngồi làm việc, còn mặc được. Đến chiều em bới tiếp bắt đầu từ cửa vào thì được cả hai đôi guốc. Bới tiếp nữa, được hai cái xoong (mấy ngày nay, em tưởng nó đã bay đi). Cả hai cái vẫn còn nguyên. Em mừng quá! Chỉ cái nắp xoong con bị bẹp dúm lại, nhưng nó mềm nên em sửa qua, dùng được. Em tiếp tục bới tìm được cái nắp ca, cái nắp ấm đun nước, cái đèn dầu hỏa còn nguyên, chỉ vỡ bóng. Bới tiếp em nhặt được cái cắt móng tay. Tiếp nữa, em tìm được chiếc gương soi, chân xếp lại và vẫn lành lặn. Nhưng cảm động nhất là em bới được chiếc đồng hồ báo thức hiệu Slavơ của Liên Xô. Chiếc đồng hồ chỉ vỡ mặt kính. Anh biết không, khi em chạm vào không hiểu sao nó “reo” một hồi dài. Trời ơi, giữa đống gạch đổ nát, hầu như không có bóng người ở chung quanh, vậy mà có một hồi chuông của chiếc đồng hồ quen thuộc của vợ chồng mình, em không cầm được nước mắt…”.

5 ngày sau, ngày 26-12-1972, từ nơi sơ tán, tôi về báo Nhân Dân làm việc bình thường. Chúng tôi đang dùng bữa tối có tính “dã chiến” tại cơ quan thì điện cúp. Tòa soạn nổi đèn dầu, tiếp tục lo bài vở cho số báo ngày mai. Đêm hôm ấy, Hà Nội rét căm căm. Mặt hồ Hoàn Kiếm lờ mờ hơi nước, hơi sương. Bỗng các loa phóng thanh thông báo: Máy bay địch cách Hà Nội 100 cây số, 80 cây số, rồi 60 cây số… loa phóng thanh lại truyền đi mệnh lệnh: “Địch có âm mưu đánh phá ác liệt Thủ đô Hà Nội. Các lực lượng vũ trang hãy sẵn sàng chiến đấu, tiêu diệt địch. Các đồng chí công an, dân quân, tự vệ hãy kiên quyết làm nhiệm vụ! Tất cả mọi người phải xuống hầm. Không ai được đi lại ngoài phố…”. Rồi tiếng còi báo động vang lên. Tất cả cán bộ, phóng viên, công nhân viên báo Nhân Dân làm việc đêm hôm ấy đều xuống hầm. Hầm nơi tôi trú, nghe nói là một hầm rượu của tướng Pháp Cônhi. Chính tại nơi đây, Cônhi đã điện cho Đờ Cát ở Điện Biên Phủ “tùy nghi di tản”. Sau khi Pháp rút quân, báo Nhân Dân về Hà Nội, chọn nơi đây làm trụ sở của Bộ Biên tập. Những năm Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, hầm rượu được xây thành hầm trú ẩn khá kiên cố. Hầm nằm bên đường Lê Thái Tổ, chỉ cách mép nước Hồ Gươm chừng vài bước chân. Bên cạnh cây đa cổ thụ còn có một căn hầm đào sâu trong lòng đất dành cho Tổng Biên tập, Phó Tổng biên tập và các cán bộ biên tập làm việc, trình bày báo nếu chiến sự xảy ra ác liệt. Chính tại căn hầm này, nhà báo Thép Mới đã viết một bài xã luận nổi tiếng đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 26-12-1972 với nhan đề “Hà Nội, thủ đô của phẩm giá con người”.

Một góc phố Khâm Thiên bị bom Mỹ tàn phá
(Ảnh tư liệu do Hoàng Long chụp lại)

Cả phố Khâm Thiên chạy dài từ ngã tư đường Nam Bộ (nay là đường Lê Duẩn) – Nguyễn Thượng Hiền đến Ô Chợ Dừa, bỗng rung lên bởi hàng loạt quả bom tạ từ máy bay B52 phóng xuống, ánh chớp lóe lên, tiếng nổ kéo dài, những gì trên mặt đất đều có thể bốc lên, đổ sụp, tan nát. Chúng ta có thể hình dung, những tấn bom B52 rải xuống dọc một dãy phố đông dân vào đêm tối thì cảnh tượng ấy bị nhào lộn, hoang tàn đến nhường nào? Và tất nhiên cho đến hôm nay, ai cũng hiểu rằng ở phố Khâm Thiên không hề có một căn cứ quân sự nào.

Ngay sau trận bom, phóng viên báo Nhân Dân và nhiều báo, đài khác đến Khâm Thiên ngay lập tức. Tôi xin đi, các anh không cho, vì có tin, sau đó chúng có thể đánh tiếp dãy phố Hàng Đào, Hàng Ngang, chợ Đồng Xuân, cầu Long Biên… Hãy dành lực lượng cho các “mặt trận” khác.

Quãng đường rộng trước cửa Nhà thờ Lớn ở phố Nhà Chung tự dưng không biết cơ man nào xe tải, xe ôtô lớn nhỏ và người tập trung về nơi ấy. Người ta đứng giữa trời lạnh, bàn chuyện chiến sự trong đêm và những ngày sắp tới. Không mấy ai tỏ ra sợ hãi. Họ chỉ căm giận giặc Mỹ và mừng reo chiến thắng vì ta liên tiếp hạ được nhiều pháo đài bay B52 của không lực Hoa Kỳ.

Vụ B52 ở Khâm Thiên có một câu chuyện thương tâm mà báo chí lúc bấy giờ có nói tới, làm xúc động lòng người. Đêm ấy, những quả bom dội xuống khối phố 41, đánh sập một ngôi nhà, gạch ngói đè lên căn hầm có bé Hà. Cháu không ra được, ở trong đó cứ gọi: “Mẹ ơi, bế con ra với! Mẹ ơi!”. Chị Liên – mẹ cháu Hà lao tới không làm sao lật được cái khối gạch nặng lớn ấy ra. Bên trong, cháu vẫn gọi: “Mẹ ơi, bế con ra với!”. Những người chung quanh nghe tiếng kêu của bé liền chạy lại. Tất cả lao vào cứu cháu. “Mẹ ơi, cứu con ra với!”. Tiếng cháu Hà đuối dần, đuối dần. Người đào bới mang hết sức mình để bật bằng được những khối gạch ngổn ngang kia. Khi moi được lên thì cháu Hà đã tắt thở. Người mẹ đỡ xác con trên tay và òa khóc. Những người chung quanh cắn chặt răng chịu đựng… Cho đến buổi chiều, tại ngõ Tô Tiền vẫn còn những xác người được đào bới lên. Ôtô tải chở quan tài đến. Những dải khăn sô trên đầu nhiều người đây đó bên đống gạch, bên mảng tường sụp đổ.

Tin Khâm Thiên bị máy bay B52 hủy diệt được truyền đi rất nhanh chóng trong thành phố. Cả Hà Nội đêm đông ấy không ai ngủ. Hai giờ đêm, Đài Phát thanh Hà Nội truyền đi tin chiến thắng: Ta hạ máy bay B52, bắt sống giặc lái. Bài hát “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi vang lên trong đêm khuya. Ai cũng thức, cũng nghe, cũng tự hào. Chưa bao giờ Hà Nội được thức, được sống một đêm bi tráng như thế. Trước đây Hà Nội chỉ có mútcơtông, có bom ba càng, có lựu đạn chai. Hôm nay, Hà Nội đã đánh thắng quân xâm lược bằng tên lửa, bằng pháo tầm cao và bằng máy bay MIG cánh én hiện đại. Hà Nội đã tỏ ra rất xứng đáng với niềm tin yêu của Sài Gòn và Huế. Hà Nội đã không hoảng loạn, không thành thành phố chết như bọn xâm lược tưởng. Hà Nội vẫn nguyên thế đứng “rất Hà Nội” của mình. Hà Nội lại trở thành tọa độ lửa giặc lái Mỹ. Chúng nó bay vào, Hà Nội đã chia ô bắn, đã chia vùng trời cho các cỡ súng.

Năm 1973, nhà thơ Thu Bồn từ chiến trường miền Nam được đi nhận giải thưởng quốc tế của Hội Nhà văn Á-Phi, giải thưởng Lotus (giải Bông Sen) tặng cho trường ca “Bài ca chim Chơrao”. Trong đêm trao giải, bà Imdira Gandi – Thủ tướng, Ấn Độ gửi Thu Bồn một số máu khô của nhân dân Ấn Độ tặng các chiến sĩ và đồng bào miền Nam. Còn nhà thơ Thu Bồn – tác giả trường ca “Bài ca chim Chơrao” nổi tiếng đã nhờ nhà văn Tô Hoài mang 2.000 USD tiền thưởng của mình tặng cho đồng bào phố Khâm Thiên bị bom B52 tàn phá đêm 26-12-1972.

Trần Thanh Phương
daidoanket.vn

Hồi ức về Hà Nội những ngày đêm bi tráng

Nằm trong số nhiều hoạt động kỷ niệm sự kiện 40 năm Hà Nội – Điện Biên phủ trên không 1972, tối 8-10, Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội đã tổ chức tọa đàm “Năm 1972 – Tư liệu và ký ức của người Hà Nội về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ”. Trước đó, tại Trung tâm Văn hóa Pháp, một triển lãm ảnh với chủ đề “Hà Nội – Những ngày đêm năm 1972” đã thực sự khiến người xem xúc động.

Cuốn sách Đối mặt với B52 – Hồi ức Hà Nội

1. Cùng với triển lãm ảnh “Hà Nội – Những ngày đêm năm 1972”, cuộc tọa đàm “Năm 1972 – Tư liệu và ký ức của người Hà Nội về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ” đã tái hiện những khoảnh khắc đáng nhớ nhất về Thủ đô cách đây 40 năm về trước. Qua những tư liệu lịch sử, những ký ức của các nhân chứng sống, công chúng có dịp nhìn lại Hà Nội những ngày đêm bi tráng năm 1972.

Theo nhân chứng Phùng Tiểu Bôi (Cán bộ Lâm nghiệp Hà Nội), thời đó ông vẫn làm việc ở Hà Nội trong khi gia đình sơ tán ở xa. Đi sơ tán thì ai cũng phải đi, nhưng hằng ngày vẫn về Hà Nội thăm nhà, thăm bạn bè, người thân. Hình ảnh chiếc xe đạp gắn bó với cuộc sống, sinh hoạt của mỗi gia đình, chiếc xe đạp phải chở đến 3 – 4 người, 2 chiếc xe đạp giáp vào với nhau có thể chở được một người bị thương… Sơ tán xa Hà Nội nhưng trong lòng mỗi người nỗi nhớ Hà Nội luôn túc trực. Và khi ấy, tình cảm con người thật ấm áp.

Ông Nguyễn Xuân Mai (nguyên Trưởng Ban Biên tập báo Phòng không không quân) – người trực tiếp đưa tin về cuộc chiến 12 ngày đêm, là đồng tác giả của cuốn sách “Đối mặt với B52 – Hồi ức Hà Nội” chia sẻ: Chúng tôi phản ánh cuộc chiến đấu và kết quả của nó chứ không có thời gian để phản ánh cuộc sống của người dân. Sở dĩ ví Hà Nội 12 ngày đêm năm 1972 là trận Điện Biên Phủ trên không cũng là xuất phát từ bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Từ đó nó trở thành câu nói quen thuộc của những người tham gia chiến đấu. Trận chiến này là chiến thắng rất lớn. Ta đương đầu với một lực lượng mạnh nhất về không quân lúc đó. Dù còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng chúng ta vẫn chiến thắng.

2. Cũng trong cuộc tọa đàm, nhóm tác giả Huyền Mermet, Đặng Đức Tuệ, Nguyễn Xuân Mai và nhiếp ảnh gia Phạm Hoài Thanh đã giới thiệu cuốn sách “Đối mặt với B-52 – Hồi ức Hà Nội” dự kiến phát hành ngày 4-12 tới. Cuốn sách đặt ra một cách nhìn mới về 12 ngày đêm năm 1972 tại Hà Nội.

Tác giả Huyền Mermet chia sẻ: Khi bắt tay vào cuộc điều tra để thực hiện cuốn sách, chúng tôi nghĩ rằng: liệu có một điều gì đó có thể làm khác đi với những hình ảnh mà chúng ta đã chứng kiến, đã nhìn thấy sự đổ nát, về nạn nhân, và một bên là sự chiến thắng. Và một câu hỏi, 12 ngày đêm chỉ gói gọn trong những thứ đó thôi sao?… Bên cạnh đó, vẫn có những người dân Hà Nội trụ lại ở Hà Nội hằng ngày, có những người tiếp tục tham gia sản xuất và tham gia chiến đấu. Và tôi còn nghe kể, thời sơ tán, nhà văn Nguyễn Tuân thi thoảng lại đạp xe về Hà Nội chỉ là để… uống cốc bia cho vơi nỗi nhớ Hà Nội. Rồi Noel năm 1972, lúc tình hình chiến sự đang căng thẳng tới cao điểm thì người Hà Nội vẫn từ nơi sơ tán đổ về Nhà thờ Lớn, nhà thờ Hàm Long… hưởng một lễ Noel tại Hà Nội… Hay mặc chiến tranh cày xới, những làng hoa Ngọc Hà, Nhật Tân, Quảng Bá vẫn đua nhau khoe sắc, những dòng tranh dân gian vẫn được bày bán ở những phố nghề.

Theo nhà báo Đặng Đức Tuệ, cuốn sách mang tên “Đối mặt với B-52 – Hồi ức Hà Nội (18-12-1972 – 29-12-1972)” có thể sẽ mang tới cho công chúng những góc nhìn mới mẻ về thời khắc lịch sử của dân tộc cách đây hơn 40 năm. Đây là cuốn sách tư liệu lịch sử pha lẫn với những lời nhân chứng trực tiếp đầu tiên về Điện Biên Phủ trên không. Nhóm tác giả đã bỏ ra 2 năm để đi tìm những nhân chứng, những hồi ức và kỷ vật cách đây 40 năm để kết nối và làm thành cuốn sách.

3.Khi được hỏi cuốn sách ra có làm thay đổi cách nhìn của giới trẻ về chiến tranh, tác giả Huyền Mermet cho rằng: “Chúng ta nên có cái nhìn chân thực hơn, sâu sắc hơn về trận chiến 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không. Đó không còn là một trận chiến với những con số thống kê, với sự mất mát, đau thương, với sự kiên cường của dân tộc. Đó còn là những cảm nhận sâu sắc, những phát biểu bình dị, những hồi ức cá nhân của những người đã đi qua cuộc chiến”. Nhóm tác giả muốn tiếp cận lịch sử từ một khía cạnh khác, gần gũi hơn, nhân văn hơn qua chính lời kể của các nhân chứng. Qua đó, họ hi vọng, độc giả có thể có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc chiến đã đi qua.

Tuấn Kiệt
daidoanket.vn

Nhìn lại chứng tích “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Cho đến nay, khi đứng trước những xác pháo đài bay B52 nằm ngổn ngang trong khuôn viên các bảo tàng, hay xác máy bay rơi vẫn nằm trong lòng hồ Hữu Tiệp, quận Ba Đình, rất nhiều du khách nước ngoài vẫn chưa hết kinh ngạc về sức chịu đựng của một thành phố nhỏ bé mang tên Hà Nội.

Xác máy bay B52 tại Bảo tàng Chiến thắng B52 (Hà Nội )

1. Có thể thấy những con số thống kê, tưởng chừng rất khô khan, nhưng đã tố cáo sự ác liệt của cuộc chiến Hà Nội trong những ngày đêm của năm 1972. Chỉ tính riêng trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, Mỹ đã sử dụng 726 lần B52, 3.120 lần máy bay chiến thuật và trút hàng chục nghìn tấn bom đạn xuống miền Bắc. Trong đó, tại Hà Nội, Mỹ đã sử dụng 444 lần B52 (chiếm 61% tổng số lần B52 tham gia cuộc tập kích), hơn 1.000 lần máy bay chiến thuật, ném hơn 1 vạn tấn bom đạn, giết hại 2.380 người và làm bị thương 1.355 người… Giờ đây, tại Bảo tàng Chiến thắng B52, nơi lưu lại những kỷ vật, chứng tích của cuộc chiến, người ta thấy vẫn còn đó hình ảnh về những chia sẻ cộng đồng trước những mất mát đau thương cùng những hình ảnh, hiện vật sinh động về cuộc chiến chấn động địa cầu của quân dân Thủ đô đánh trả quyết liệt các cuộc không kích tàn bạo của Mỹ. Quân và dân Hà Nội đã bắn rơi 358 máy bay (trong đó có 25 chiếc B52). Khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng gây ấn tượng mạnh với hàng loạt vũ khí, khí tài mà quân, dân Thủ đô đã sử dụng và một số mảnh xác máy bay Mỹ, một xác máy bay B52 có thân dài 48,07m, sải cánh 56,42m – bằng chứng thất bại thảm hại của đế quốc Mỹ trong cuộc đánh phá Hà Nội.

Bảo tàng Phòng không – Không quân cũng là nơi lưu giữ những kỷ vật của cuộc chiến đấu “Điện Biên Phủ trên không”. Hiện Bảo tàng đang giữ Bộ sưu tập hiện vật Ra đa phát sóng quản lý bầu trời bằng sóng điện từ, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, bắt được tín hiệu máy bay chiến lược B.52 vào Hà Nội sớm 35 phút để thông báo cho quân và dân Thủ đô chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu; Bệ phóng tên lửa lập công bắn rơi máy bay B.52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12- 1972; Máy bay Mig.21 bắn rơi máy bay B.52 đêm 27-12-1972…từng trang sử hào hùng của Hà Nội vẫn được lật giở sau 40 năm với bao đổi thay.

2. Sau 40 năm, một thế hệ người Hà Nội vẫn chưa hết bàng hoàng bởi trận oanh tạc của đế quốc Mỹ trong cuộc đánh phá miền Bắc Việt Nam và Thủ đô Hà Nội. Và 12 ngày đêm tháng 12 -1972 là một dấu mốc thật đáng nhớ. Quá khứ về chiến tranh, dù đau thương nhưng vẫn phải nhắc lại, bởi bên cạnh những nỗi đau, sự mất mát còn là lòng tự hào, sự quật cường vươn lên của những thế hệ người Việt Nam tiếp nối. Với cuộc chiến 12 ngày đêm cách đây 40 năm ở Hà Nội là như vậy, đến với Bảo tàng Chiến thắng B52 như một sự trở về với quá khứ.

Không phải giản đơn mà có rất nhiều ý kiến của bạn bè quốc tế được lưu lại tại Bảo tàng Chiến thắng B52 ở Hà Nội. Họ cho rằng Bảo tàng là một trong những nơi lưu giữ lịch sử độc đáo nhất trên thế giới. Ở đó, dấu vết của một cuộc chiến từng cày xới mảnh đất Thăng Long qua 12 ngày đêm tháng 12- 1972 dường như vẫn còn nguyên vẹn. Xác pháo đài bay B52 nằm ngổn ngang, hình ảnh cảnh hoang tàn ở Hà Nội sau các đợt oanh tạc khủng khiếp tại các địa danh: Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai, Ga Hà Nội… Và qua những tài liệu, hình ảnh, hiện vật còn lại, sẽ thấy rõ âm mưu thâm độc và dã man của đế quốc Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự, thời điểm năm 1972 máy bay B52 chính là con át chủ bài của không quân chiến lược Mỹ và được chính quyền Mỹ coi là sự bất khả chiến bại khi gây chiến với các nước. Lúc đó, Mỹ muốn miền Bắc Việt Nam “trở lại thời kỳ đồ đá”, ngăn sự chi viện của miền Bắc với miền Nam, đã tiến hành cuộc đánh phá ồ ạt bằng không quân chiến lược vào Hà Nội và một số nơi ở miền Bắc. Dư luận quốc tế khi biết Hà Nội trở thành “túi bom” hứng chịu các đợt rải thảm bằng B52 đã không khỏi lo ngại kết cục bi thảm của thành phố nhỏ bé, nên hết sức kinh ngạc khi biết nhiều “pháo đài bay” đã bị bắn rơi tại Hà Nội.

3. Giờ đây, chứng tích của cuộc chiến năm 1972 vẫn còn in dấu trên mảnh đất Hà Nội. Và Bảo tàng Chiến thắng B52 là nơi lưu giữ đậm đặc nhất những kỷ vật, những tài liệu liên quan tới sự kiện này. Tại Bảo tàng còn có một nơi rất thu hút khách tham quan, đó là sa bàn tổng hợp diễn biến trận “Điện Biên Phủ trên không”. Với diện tích 200m², có không gian ba chiều (thể hiện địa hình khu vực gồm khu dân cư, các trận địa phòng không, điểm B52 rơi…) và khi sa bàn này hoạt động, hệ thống ánh sáng, âm thanh, tạo khói và phim video chiếu màn ảnh lớn đã tái hiện rất ấn tượng những khoảnh khắc lịch sử bi thương nhưng cũng rất hào hùng của Hà Nội. Xem lại những kỷ vật, những hình ảnh, tư liệu và cùng “sống” trong 200m2 tái hiện lại cuộc chiến, người ta mới thấy được sự hi sinh to lớn đến nhường nào để có một Hà Nội- thành phố vì hòa bình hôm nay.

Theo kế hoạch, trong tháng 12 tới, chuyên đề trưng bày “Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” sẽ diễn ra tại Bảo tàng Chiến thắng B-52; Bảo tàng Phòng không – Không quân; Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Sau 40 năm, hàng ngàn kỷ vật về cuộc chiến chấn động địa cầu tháng 12 -1972 tại Hà Nội vẫn còn được lưu giữ trong hệ thống bảo tàng tại Hà Nội.

Minh Duy
daidoanket.vn

40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không: Hào hùng sau đau thương, đổ nát

Ngày 28-11, Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành ủy, UBND TP. Hà Nội cùng phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học cấp Nhà nước về “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam”. Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Tưởng Phi Chiến và nhiều tướng lĩnh, lãnh đạo Bộ quốc phòng và TP. Hà Nội tham dự.

Cách đây 40 năm, vào những ngày cuối tháng 12-1972, đế quốc Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố lớn ở miền Bắc, hòng xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán Paris. Tuy nhiên, với ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, trong 12 ngày đêm, quân và dân miền Bắc đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích. Động thái quân sự này của Mỹ bắt đầu từ sau khi Tổng thống Mỹ Nichxơn tái đắc cử nhiệm kỳ 2. Với mưu đồ đã tính toán trước, chính quyền Nichxơn huy động gần 200 máy bay B52, 30 máy bay F111 và hơn 1.000 máy bay tiêm kích, 6 liên đội tàu sân bay và 50 máy bay tiếp dầu KC.135 mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân với quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu khác với mật danh”Lainơ Bếchcơ II”. Riêng tại Hà Nội, trong 12 ngày đêm, không quân Mỹ đã tập trung trên 1.000 lượt máy bay, trong đó có khoảng một nửa là B52, trút 40.000 tấn bom xuống nhiều khu dân cư: Khâm Thiên, An Dương, Uy Nỗ, Bệnh viện Bạch Mai, Yên Viên, Gia Lâm, Đông Anh, Văn Điển, Giáp Bát, Đài Phát thanh Mễ Trì… làm cho gần 2.400 người chết và 1.355 người khác bị thương. Với hào khí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, sau 12 ngày đêm  anh dũng chiến đấu (18-12 – 29-12-1972), quân và dân Thủ đô cùng các địa phương miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích đường không của Mỹ, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, trong đó Hà Nội bắn rơi 25 B52. Chiến công này mang tầm vóc thời đại, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27-1-1973, chấp nhận rút hết quân viễn chinh và chư hầu về nước.

Tại Hội thảo, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân cho biết, vào thời điểm đó, chỉ trong vòng vài ba ngày đã tổ chức sơ tán gần 55 vạn dân nội thành ra khỏi thành phố… Các trường học sơ tán đều có thầy và trò đi theo để tổ chức học tập. Tại thành phố, vẫn đảm bảo cho được cho mỗi người đều có ba nơi trú ẩn: gia đình, nơi làm việc và nơi công cộng. Ba đội cứu thương, cứu hỏa và cứu sập sẵn sàng cứu trợ. Theo ông Nguyễn Văn Trân, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Hà Nội thời bấy giờ là làm thế nào vừa chiến đấu vừa sản xuất. Và, kỳ diệu thay, sau khi kết thúc cuộc chiến, Hà Nội không những không giảm đi số nhà máy, xí nghiệp mà lại tăng lên do chủ trương chia nhỏ các nhà máy lớn để dễ dàng ứng phó trong chiến tranh. 12 ngày đêm của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, theo ông Trân, tuy ngắn ngủi nhưng ta thu được thắng lợi rất to lớn. “Điện Biên Phủ  dưới đất – Pháp thua, Điện Biên Phủ trên trời – Mỹ thua”- ông Trân kết thúc bài phát biểu.

Ôn lại thời kỳ lịch sử này, các tham luận đều nêu rõ bí quyết thành công của trận đánh là ta không để bị bất ngờ. Từ cuối năm 1967, đến thăm Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua… Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ, chuẩn bị. Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52, hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh” – Người chỉ thị. Thực hiện chỉ thị của Người, Bộ đội Phòng không đã bí mật đưa lực lượng tên lửa và rađa vào chiến trường Vĩnh Linh, trực tiếp tìm hiểu, nghiên cứu qui luật hoạt động, cách đánh phá của B52, từ đó tìm ra cách đánh B52 thích hợp. Cùng với sự phối hợp của nhiều nhà khoa học, nhiều binh chủng khác, chúng ta đã tìm cách đánh phù hợp nhất.

Đã qua những năm tháng đầy đau thương mà hào hùng của dân tộc. 40 năm nay nhìn lại, mỗi chúng ta vẫn nguyên vẹn niềm tự hào và lòng biết ơn lớp cha anh ngày trước. Đến dự hội thảo hôm nay còn có cả những nhân chứng sống, những mảnh đời mà vết thương chưa khép lại. Nhưng tất cả đã bừng lên sức sống mới, rạng rỡ niềm vui trên từng gương mặt…

Trung tướng Phạm Tuân: “Qua nhiều đêm mất ngủ, cùng anh em bàn bạc chúng tôi mới đưa ra được cách đánh hay nhất. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật ý chí và lòng quyết tâm cao độ”.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu: “7 năm ở Quân chủng Phòng không mà chưa lúc nào tôi căng thẳng như hôm đó. Trời mùa đông rét như cắt thế mà mồ hôi cứ túa ra. Là vì Trung ương Đảng và Bác Hồ đang hết sức mong đợi phải thắng B52 Mỹ ngay từ trận đầu trong chiến dịch này. Thế rồi, đúng 20giờ20 ngày 18-12-1972, có điện thoại của anh em quan sát từ bên Cột cờ báo về có B52 rơi thành một đám cháy to lắm từ phía Đông Anh… Tôi cùng các anh Phùng Thế Tài, Lê Hiến Mai, Vũ Lăng ôm nhau vô cùng sung sướng.

Trần Ngọc Kha
daidoanket.vn

Bảo tàng Phòng không – Không quân: Sáng ngời chủ nghĩa Anh hùng cách mạng

Tọa lạc trên đường Trường Chinh, Hà Nội, Bảo tàng Phòng không – Không quân (PKKQ) là điểm đến quen thuộc của nhiều du khách Việt Nam và các đoàn khách quốc tế, đặc biệt là các vị nguyên thủ quốc gia, các tướng lĩnh của quân đội các nước… Tới đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các bộ sưu tập hiện vật vũ khí độc đáo về 4 lực lượng của Bộ đội PKKQ, đó là: Tên lửa, Không quân, Pháo Cao xạ và Ra đa.

Bảo tàng Phòng không – Không quân Ảnh: TH

Được thành lập ngày 22-10-1963, Bảo tàng PKKQ (tiền thân là Phòng Truyền thống Phòng không thành lập năm 1958) được biết đến là nơi lưu giữ những hình ảnh, tư liệu, hiện vật minh chứng cho quá trình ra đời, xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng của Bộ đội PKKQ Việt Nam. Ngay tại khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng, khách tham quan có thể bắt gặp những vũ khí đã “gây tiếng vang” như: khẩu pháo 37mm của khẩu đội Tô Vĩnh Diện tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ; Ra đa phát sóng quản lý bầu trời bằng sóng điện từ, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, bắt được tín hiệu máy bay chiến lược B.52 sớm 35 phút thông báo cho quân và dân Hà Nội chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu; Bệ phóng tên lửa lập công bắn rơi máy bay B.52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12- 1972…
Khu trưng bày trong nhà, với hơn 3.000 hiện vật, hình ảnh trưng bày đã tái tạo lại những trang sử kiêu hùng, những chiến công xuất sắc của Bộ đội PKKQ trong quá khứ cũng như giai đoạn hiện nay. Một trong số hiện vật quý hiếm của Bảo tàng phải kể đến chiếc ghế đặt trên máy bay Mi-4 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng khi đi công tác; hay bộ sưu tập hiện vật về Ban Nghiên cứu không quân, về Trung đoàn Pháo cao xạ 367 đã lập những chiến công xuất sắc tại mặt trận Điện Biên Phủ.

Nhân kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống Bộ đội tên lửa, hiện nay, tại Bảo tàng PKKQ đang diễn ra triển lãm chuyên đề với nhiều hiện vật, hình ảnh phong phú.

Là một công trình lịch sử, văn hóa, khoa học ở Thủ đô Hà Nội, Bảo tàng PKKQ không chỉ góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho Bộ đội PKKQ, mà còn là địa chỉ văn hóa hấp dẫn thu hút đông đảo nhân dân trong nước và khách nước ngoài. Điểm nổi bật của Bảo tàng là mở cửa tất cả các ngày trong tuần kể cả ngày lễ (riêng thứ Sáu chỉ phục vụ khách đoàn).

Phan Thanh
daidoanket.vn

Xuất bản bộ sách về đề tài Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Sau 30 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang. Trong cuộc chiến tranh thần thánh đó, thắng lợi của chiến tranh nhân dân chống lại chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ trên miền Bắc có ý nghĩa hết sức to lớn. Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng B52 – trận “Điện Biên Phủ trên không”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ( NXB QĐND) đã ấn hành một bộ sách mới viết về đề tài này.

Bộ sách Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

“Rồng lửa Việt Nam” là tập hồi ức của các cựu chiến binh – Bộ đội tên lửa phòng không thể hiện. Đây là những nhân chứng lịch sử đã gắn bó với binh chủng từ những ngày đầu thành lập, trực tiếp tham gia nhiều trận chiến đấu mà đỉnh cao là trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. Với cách thể hiện chân thực nhưng sinh động và giàu cảm xúc, cuốn sách đem đến cho bạn đọc những tư liệu có giá trị về một thời hào hùng của thế hệ cha anh, tô đậm thêm lịch sử vẻ vang của Bộ đội tên lửa và Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam anh hùng.

Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đình Kiên trăn trở nhớ lại những sự kiện đã diễn ra trong đời mình để thể hiện trong tập hồi ức: “Người lính với bầu trời Hà Nội”. Đây là những trang viết xúc động xen kẽ rất nhiều dòng nhật ký đứt đoạn, thậm chí có chỗ câu chữ, ngôn từ chưa thật chuẩn mực. Người đọc sẽ rơi nước mắt ngay từ những trang đầu tiên bởi yếu tố chân thực, không màu mè của tác phẩm, NXB QĐND gần như không chỉnh sửa nhiều để đảm bảo tính chân thực. Hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy ở đó ý chí, nghị lực của những người lính mà từng phút, từng giây luôn kề cận bên sự sống và cái chết.

Ký sự “Thành phố nở hoa” cũng là một tác phẩm có giá trị về nội dung, tư tưởng. Cuốn sách đã tập hợp nhiều bài viết về Hà Nội những ngày tháng Chạp năm 1972, ghi lại khí thế anh dũng chiến đấu, hăng hái lập công đánh giặc như thêm một lần cùng bạn đọc ôn lại những chiến công quật khởi của Hà Nội, để Hà Nội hiện lên thật hào hùng kiêu hãnh, xứng đáng là “Thủ đô của phẩm giá con người”.

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng B52, NXB QĐND đang tiếp tục hoàn chỉnh in ấn một số tên sách mới khác để hoàn thiện bộ sách về đề tài này. Hy vọng bộ sách mới của NXB QĐND sẽ đáp ứng được phần nào nhu cầu tìm hiểu lịch sử, truyền thống vẻ vang của quân và dân Thủ đô trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

Lâm Hoàn
daidoanket.vn

Ký ức 12 ngày hoa – lửa

Những ngày này cách đây 40 năm, người dân thủ đô Hà Nội đã sống trong không khí hào hùng của trận Điện Biên Phủ trên không. Ký ức về những ngày ấy vẫn sống động trong nhiều người.

Chiến dịch rải thảm bom bằng máy bay B52 của không lực Mỹ vào cuối tháng 12-1972 đã khiến Hà Nội từ vị trí hậu phương trở thành tiền tuyến. Một nơi thanh bình như Ngọc Hà, làng hoa nổi tiếng nhất ở Hà Nội, cũng trở thành mục tiêu bắn phá. 38 năm sau, chúng tôi đã tìm gặp vợ chồng ông Nguyễn Chí Hiền và bà Phạm Thị Quy, những nhân chứng của sự kiện Điện Biên Phủ trên không.

Vợ chồng ông Nguyễn Chí Hiền và bà Phạm Thị Quy, những nhân chứng của sự kiện Điện Biên Phủ trên không

Làng hoa thành lũy thép

Đến Ngọc Hà, chúng tôi vẫn được nghe những câu chuyện về trận chiến kéo dài 12 ngày đêm này. Hàng trăm người thiệt mạng trong những ngày máy bay Mỹ trút bom xuống Hà Nội. Bà Phạm Thị Quy nhớ lại: “Sáng 27-12-1972, một chiếc B52 rơi xuống hồ Hữu Tiệp, bom cũng rơi vãi khắp làng. May mắn là không quả nào nổ, chỉ có một quả rơi trúng hầm trú ẩn làm 2 người dân thiệt mạng. Sáng hôm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về làng thăm hỏi chúng tôi và ca ngợi chiến công của bộ đội ta. Lúc ấy, Mỹ đã sắp thua trận Điện Biên Phủ trên không”.

Ngày ấy, bà Quy chưa đầy 30 tuổi, tham gia lực lượng dân quân của làng Ngọc Hà bảo vệ Hà Nội. Bà Quy bồi hồi: “Có hơn 90 quả bom từ xác chiếc máy bay này rơi vãi khắp làng, quả cắm sâu xuống lòng đất, quả nằm ngay trên đường làng… Hôm đó, bộ đội công binh được cử đến giúp dân tháo gỡ bom mìn, phải đến một tuần sau mới dọn sạch”. Tháng 12-1972, làng hoa giữa lòng thủ đô cũng trở thành lũy thép và mỗi người dân đều là một chiến sĩ.

Trong bản anh hùng ca của người Hà Nội, có nhiều câu chuyện xúc động đã được viết thành tiểu thuyết, dựng thành phim. Bà cụ gần 70 tuổi vừa kể cho chúng tôi câu chuyện về ngôi làng của bà cũng có một chuyện tình gắn chặt với trận đánh trên bầu trời thủ đô năm nào.

Vợ chồng cùng trận địa

Với dân làng Ngọc Hà, bà Quy là một nhân chứng lịch sử không thể không nhắc đến của trận Điện Biên Phủ trên không. Bà cũng chính là người tặng hoa Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông về thăm làng một năm sau trận đánh ấy. “Khi Đại tướng về thăm lại làng Ngọc Hà, mọi người đều tin rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đã sắp đến ngày thắng lợi. Hôm ấy, tôi thưa với Đại tướng: “Người dân Ngọc Hà mong Đại tướng và quân đội ta sớm thực hiện ước nguyện của Bác Hồ, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào để đất nước sạch bóng quân thù” – bà Quy hồi tưởng.

Chồng bà Quy, ông Nguyễn Chí Hiền, từng tham gia trận Điện Biên Phủ trên không, hiện là đại tá nghỉ hưu. Ông cũng là một “pho sử” về sự kiện 12 ngày đêm người Hà Nội bảo vệ bầu trời thủ đô. Hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm chiến thắng này, ông vẫn thường được mời đến các trường học ở Hà Nội để kể cho học sinh về trận chiến ấy.

Cuối những năm 1960, ông Hiền được điều động tới nhiều mặt trận nóng bỏng như Quảng Trị, Campuchia. Khi đó, vợ chồng ông đã có với nhau hai mặt con. “Tôi đang làm nhiệm vụ bảo vệ Hải Phòng, được Quân chủng Phòng không – Không quân điều về Hà Nội để tăng cường” – ông Hiền kể. Nhiều năm xa nhà, lúc ấy về Hà Nội, ông Hiền cứ nghĩ thế là có cơ hội được gặp vợ con nhưng khi đóng quân ở một huyện ngoại thành Hà Nội, chỉ cách nhà hơn chục cây số, mọi thứ ác liệt hơn ông nghĩ.

“Suốt năm 1972, tôi đóng quân ở Hà Nội nhưng không được rời trận địa nửa bước, thế nên ở rất gần nhưng cũng không được về gặp vợ con”- ông Hiền cho biết. Bà Quy gia nhập đội dân quân của làng Ngọc Hà năm đó. “Thế là cả hai vợ chồng tôi đều không sơ tán hay rời Hà Nội trong những ngày ấy”- bà Quy nhớ lại. Bà muốn ở lại để chiến đấu và hy vọng sẽ được gặp chồng. Ngọc Hà những ngày ấy phải gồng mình trong những cơn mưa bom của địch. Ông Hiền ở trận địa pháo cứ thấp thỏm lo cho vợ con, không biết ở nhà có được yên bình. Bà Quy vừa nuôi hai con vừa canh cánh trong lòng mỗi khi nghe thông báo máy bay Mỹ lại mở rộng chiến dịch phá hoại hay đánh phá thêm một căn cứ nào đó của ta…

Vì tình yêu chung mà vợ chồng ông Hiền đã hy sinh tình yêu riêng để rồi sau đó, họ được đền đáp xứng đáng bằng thời khắc hội ngộ. Hà Nội sạch bóng máy bay địch, cuộc chiến tranh cứu nước đạt được một thắng lợi quan trọng buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán Hiệp định Paris.

Tự hào

Ông Hiền nay đã cao tuổi nhưng vẫn thuộc từng con số về chiến công của lực lượng bộ đội tên lửa mà ông tham gia ngày nào: “Trong suốt 12 ngày đêm của trận Điện Biên Phủ trên không, miền Bắc bắn rơi 34 máy bay B52, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ. Riêng các lực lượng bảo vệ Hà Nội bắn rơi 30 máy bay, trong đó có 23 chiếc B52”.

Chiếc B52 của không quân Mỹ đầu tiên rơi trên bầu trời Hà Nội cũng là “pháo đài bay” đầu tiên bị bắn hạ trên thế giới. Người lính tên lửa năm nào hào hứng: “Cái khó nhất là phải bắt được mục tiêu và chống được dải nhiễu do máy bay B52 tạo ra. Đêm 18-12-1972, hôm đầu tiên của trận Điện Biên Phủ trên không, Tiểu đoàn 59 – Trung đoàn 263 bắn rơi một máy bay Mỹ ở cánh đồng Chuông, huyện Đông Anh. Trên đài quan sát, bằng kính quang học, chiến sĩ của ta reo lên: “Cháy rồi! Đúng B52 rồi!”.

Ông Hiền không nén nổi những cảm xúc từ 38 năm trước ùa về: “Bộ đội tên lửa của ta báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông liền hỏi: “Có đúng B52 không?”. Lúc ấy, chúng tôi liên tưởng ngay câu nói của Đại tướng tại chiến dịch Điện Biên Phủ đánh tan cứ điểm quân sự Pháp năm 1954 – khi nghe tin bắt được tướng De Castries, ông cũng hỏi ngay: “Có đúng De Castries không?”.

Nếu như chiếc B52 đầu tiên rơi trên bầu trời Hà Nội khiến những chiến sĩ bộ đội tên lửa như ông Hiền phấn khích tột độ thì chiếc B52 cuối cùng rơi trúng làng Ngọc Hà lại khiến ông hết sức âu lo về sự an nguy của gia đình. Ông Hiền xúc động: “Lo lắm  nhưng tôi không thể về được. May mắn là trong một lần hành quân qua bến Chèm sang bên kia sông Hồng, tôi tranh thủ xin đơn vị về thăm nhà vài giờ. Về nhà không gặp vợ con, tôi hoang mang lắm nhưng bà con cho biết vợ tôi đang là chính trị viên trung đội dân quân của làng, phải tham gia gỡ bom mìn… Tôi yên tâm trở về đơn vị, tiếp tục hành quân”.

Nhắc lại những ngày hoa – lửa năm xưa, bà Quy không giấu được niềm tự hào:  “B52 rơi xuống cháy rực đỏ mặt hồ Hữu Tiệp, đến tận sáng hôm sau khói vẫn còn bốc lên. Mọi người nô nức đổ ra hồ xem xác  máy bay Mỹ. Khi ấy, tôi cảm thấy rất tự hào vì chồng mình là một chiến sĩ bộ đội tên lửa góp phần giữ gìn bình yên cho thủ đô”.

Dấu tích không phai

Hàng chục năm đã trôi qua, nhiều vết thương đã lành nhưng ký ức của những người sống trong thời khắc mà ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh ấy vẫn rõ mồn một.

Những dấu tích của bom B52 ở Hà Nội năm 1972 cũng đã phai mờ, đây đó chỉ còn vài đài tưởng niệm. Thế nhưng, nếu có dịp đi qua Ngọc Hà, người ta vẫn cứ phải ngoái nhìn xác chiếc máy bay B52 nằm ngay trên hồ Hữu Tiệp giữa làng.

Bà Phạm Thị Quy chỉ chiếc B52 cuối cùng bị bộ đội ta bắn rơi xuống hồ Hữu Tiệp giữa làng Ngọc Hà sáng 27-12-1972

Bài và ảnh: MẠNH DUY
nld.com.vn

————————-

Tin bài liên quan:

Ký ức 12 ngày hoa – lửa 1: Phi đội bay quyết tử
Ký ức 12 ngày hoa – lửa 2: Tuổi trẻ can trường
Ký ức 12 ngày hoa – lửa 3: Hào khí Điện Biên Phủ trên không

Một đêm bắt sống 5 phi công Mỹ

QĐND – Như thường lệ, từ trước hôm đế quốc Mỹ tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng, tối 21-12-1972, chúng tôi – dân quân của thôn Nghĩa Dũng, xã Đại Đồng (Tứ Kỳ, Hải Hưng, nay là Hải Dương) tập trung tại sân kho đầu làng, chờ lệnh của xã đội. Bầu trời phía Hà Nội rực lửa, kẻ thù đã bị trừng trị, cuộc chiến đấu kéo dài tới lúc rạng đông…

Buổi trưa, loa truyền thanh loan tin: Thêm 10 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 3 chiếc B-52 rơi tại chỗ, 7 máy bay chiến thuật bị bắn hạ ở Hà Nội và Hải Phòng. Ấn tượng nhất là được nghe thông tin: “Quân dân Hải Hưng, đêm qua bắt sống 5 phi công Mỹ”.

Bắt giặc lái B52. Ảnh: TTXVN.

Trước khi vào buổi trực chiến đêm 22-12, ông Phạm Đức Dục, cán bộ dân quân xã vừa đi nghe quán triệt nhiệm vụ ở huyện về, kể: Dưới những làn lửa đạn rạch chéo trời đêm, khi dân quân xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang nhìn thấy hai chiếc dù đang rơi trên cánh đồng, tiếng reo hò gọi nhau đi bắt giặc lái nổi lên khắp các thôn xóm. Hai tên phi công Mỹ khi vừa chạm đất đã vội giơ tay xin hàng. Các chiến sĩ dân quân tóm luôn và “tống giam” chúng trong trụ sở hợp tác xã, đợi bàn giao lên cấp trên. Các nữ dân quân xã Tráng Liệt từng bắn rơi máy bay AD6 Mỹ ngày 31-3-1968, nay chính họ lại xung kích lập công bắt sống 2 giặc lái B-52 vào những ngày đầu của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Ông Dục tiếp lời: “Chính sách đối với tù hàng binh đã được quán triệt! Tôi nhắc lại, nếu tóm được phi công Mỹ, phải báo cáo chỉ huy để trình lên huyện, không được tùy tiện xử lý nó. Đó là chính sách, là kỷ luật chiến trường…”.

Bà con đồng thanh: Nhớ rồi, nhưng còn ba tên phi công nữa đâu?

– Ba tên kia nhảy dù bên Mỹ Hào. Cùng lúc xã Tráng Liệt bắt phi công thì nhân dân xã Dương Quang, huyện Mỹ Hào theo dõi trận chiến trên không phía Hà Nội, phát hiện 3 chiếc dù rơi xuống địa phận xã. Nhiều người dân và bộ đội, dân quân bủa vây, bắt ngay ba tên giặc lái khi dù của chúng vừa tiếp đất. Cả ba tên đều là phi công lái máy bay B-52…

Câu chuyện đó là một trong những điều gây ấn tượng sâu sắc và niềm tự hào về quê hương trong suốt cuộc đời quân ngũ của tôi. Những ngày lịch sử này, kỷ niệm đó lại trỗi dậy trong tôi như một lời nhắn nhủ về truyền thống “Đường 5 anh dũng – Bãi Sậy kiên cường” của vùng đồng bằng phía đông thủ đô Hà Nội.

PHẠM XƯỞNG
qdnd.vn

Điện Biên Phủ trên không là nguồn lực tinh thần lớn lao

Trong không khí cả nước hướng về kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, ngày 28-12, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gặp mặt thân mật đoàn cựu chiến binh dân quân tự vệ Phòng không – Không quân trực tiếp tham gia chiến dịch.

Biểu dương chiến công ngàn đời không quên của các anh hùng, chiến sĩ, dân quân tự vệ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: “40 năm nhìn lại, chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi là nguồn lực tinh thần lớn lao, sâu sắc, khích lệ thế hệ trẻ hôm nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Đại diện Bộ Tư lệnh TPHCM trao giấy khen cho các tập thể, cá nhân dũng cảm truy bắt cướp. Ảnh: PHAN ANH

Chủ tịch nước đề nghị cán bộ, chiến sĩ Phòng không – Không quân tiếp tục quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu; xây dựng quân chủng “cách mạng – chính quy – tinh nhuệ – hiện đại”, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

– Sáng cùng ngày, Bộ Tư lệnh TPHCM đã sơ kết thi đua cao điểm “Âm vang Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Diễn ra từ ngày 19 đến 28-12, đợt thi đua đã tạo khí thế sôi nổi trong toàn đơn vị với 450 cán bộ, chiến sĩ tham gia hành trình “Tuổi trẻ lực lượng vũ trang TP – Hành trình về với bảo tàng”; 1.200 chiến sĩ tham gia hội trại “Tuổi trẻ giữ nước”. Bên cạnh đó, Bộ Tư lệnh TP còn phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tặng 200 phần quà cho gia đình chính sách; khám bệnh và phát thuốc cho 200 lượt người; tặng 6 căn nhà tình nghĩa, tình thương, tình bạn cho gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn và 30 suất học bổng cho trẻ em nghèo hiếu học…

Dịp này, Bộ Tư lệnh TP đã tuyên dương 2 tập thể và 29 dân quân dũng cảm truy bắt cướp.

Ph.Anh – T.Bình
nld.com.vn

Vị Đại sứ Liên Xô và quyết định điều chỉnh SAM 2 tại Việt Nam

QĐND – Có một quyết định rất đặc biệt đã giúp tháo gỡ những bế tắc tưởng chừng không có lối ra của quân và dân ta, góp phần vào chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Người đưa ra quyết định táo bạo ấy là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Hà Nội nhiệm kỳ 1964-1974 I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp (Ilia S.Shcherbakov).

Tháng 9-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán không quân Mỹ sẽ sử dụng B-52 để quyết định chiến tranh tại Việt Nam. Việc nghiên cứu đánh B-52 đã được Bác Hồ giao cho đồng chí Tư lệnh không quân tập trung nghiên cứu cách đánh B -52. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo với nhiều cách đánh sáng tạo, riêng có của bộ đội phòng không Việt Nam bằng cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” thì ngay từ ngày 18-12-1972 (ngày đầu tiên bắt đầu bước vào Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972), lực lượng tên lửa Việt Nam đã quật ngã tại chỗ máy bay B-52 của không quân Hoa Kỳ mặc dù B -52 có hệ thống gây nhiễu hiện đại nhất thời bấy giờ. Pháo đài bay B-52 bị bất ngờ và bị quy phục trên bầu trời Việt Nam, khi mà các đơn vị kỹ thuật của quân đội Hoa Kỳ đã khẳng định vô hiệu hóa SAM 2 thông qua tần số.

Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao cho Trung tướng B.V. Nhi-cô-la-e-vích bức tranh bằng đồng để gửi tới gia đình đồng chí I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp.

Một trong những người góp phần quan trọng vào chiến thắng “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không” là Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Hà Nội nhiệm kỳ 1964-1974 I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp. Thấu hiểu tình hình thực tế ở Việt Nam, với tinh thần quốc tế cộng sản cao cả, bằng tất cả tinh thần trách nhiệm của một vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam, ông đã thay mặt Chính phủ Liên Xô ra quyết định cho phép các chuyên gia Liên Xô đang có mặt ở Việt Nam được can thiệp trực tiếp vào hệ thống của tên lửa SAM 2 theo hướng tăng công suất ra-đa lớn hơn công suất hệ thống gây nhiễu của B -52.

Thời kỳ đó, Chính phủ và Quân đội Liên Xô đã quy định: Việc can thiệp vào SAM 2 bằng bất cứ hình thức gì cũng không được phép thực hiện ở đâu trên thế giới mà chỉ được phép thực hiện khi SAM 2 ở trong lãnh thổ Xô-viết. Vì vậy, quyết định táo bạo của vị Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam đã góp phần giải mã hoàn toàn việc quy phục pháo đài bay B-52 trong năm 1972.

Kết quả này đã thu được kết quả vô cùng bất ngờ, khi liên tục hạ gục pháo đài bay B-52. Riêng 12 ngày đêm trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã có 34 chiếc B-52 phải đền tội (chiếm 16,2% tổng số B-52 tham chiến tại Việt Nam) góp phần quyết định vào thắng lợi vang dội năm 1972.

Chiều 28-12-2012, tại Trụ sở Chính phủ, Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã tiếp thân mật Trung tướng Bôn-đa-rép Vích-to Nhi-cô-la-e-vích (Bondarev Viktor Nhikolaevich), Tổng tư lệnh Không quân -Lực lượng vũ trang LB Nga dẫn đầu Đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng LB Nga sang dự Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không”. Bằng tất cả tình cảm chân thành, qua Trung tướng B.V. Nhi-cô-la-e-vích, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã gửi tới gia đình đồng chí I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp bức thư bằng tiếng Nga cùng bức tranh bằng đồng để tỏ lòng tri ân của nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mong muốn các thành viên của gia đình Đại sứ I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp luôn hạnh phúc, gặp nhiều may mắn và sẽ tới thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất.

Bài và ảnh: TỪ LƯƠNG
qdnd.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Mãi sáng ngời biểu tượng hào hùng (*)

(NLĐO) – Ngày 29-12, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Hà Nội, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có bài phát biểu quan trọng trong Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972-12/2012). Người Lao Động Online trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch nước (đầu đề do Báo NLĐO đặt):

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm
 Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” . Ảnh: TTXVN

Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng; các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các vị khách quý,

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Hôm nay, trong niềm phấn khởi và tự hào của đồng bào và chiến sỹ cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, sự kiện lịch sử trọng đại và kỳ tích có một không hai – biểu tượng chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc, góp phần rất quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi thân ái gửi tới các vị đại biểu, khách quý, cùng toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm hỏi các đại biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm
Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” . Ảnh: TTXVN

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Tháng 12 năm 1972, sau khi đơn phương tuyên bố hoãn không thời hạn Hội nghị Pari về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, đế quốc Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng đường không vào miền Bắc nước ta với tên gọi Chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ II” nhằm đánh phá, huỷ diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc, gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản có lợi cho Mỹ; hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam; làm tê liệt ý chí chiến đấu, giảm thế và lực của ta so với địch trên chiến trường; đe doạ phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đây là cuộc tập kích bằng đường không huy động lực lượng lớn nhất của Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với hàng trăm máy bay ném bom chiến lược B.52, được mệnh danh là “Siêu pháo đài bay” – “thần tượng bất khả chiến bại” của không lực Hòa Kỳ cùng hàng ngàn máy bay chiến thuật và nhiều tàu sân bay, tàu chiến tối tân, hiện đại.

Ngay từ những năm đầu của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, sớm nhận rõ và dự báo chính xác tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định quyết tâm chiến lược, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, động viên quân và dân ta chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt để quyết đánh, quyết thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ. Từ cuối năm 1967, đầu năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân uỷ Trung ương, Quân chủng Phòng không – Không quân đã sớm có kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B.52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B.52, các lực lượng vũ trang ta với nòng cốt là quân chủng Phòng không – Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân Thủ đô Hà Nội đã tổ chức, phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng.

Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18 tháng 12 năm 1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B.52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. Trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B.52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B.52, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm giặc lái Mỹ. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, “siêu pháo đài bay B.52” thảm bại và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất. Sau thất bại này, nhà cầm quyền Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” được ký kết. Cuối tháng 3/1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Sau chiến công của phi công Phạm Tuân đêm 27-12-1972, đêm sau đó,

phi công Vũ Xuân Thiều tiếp tục tiêu diệt thêm 1 chiếc B-51. Ảnh tư liệu

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến thắng mang tầm vóc lịch sử ở thế kỷ XX, viết tiếp những trang sử vàng chiến công chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng; tạo ra cục diện mới để quân và dân ta thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”; giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh hùng hồn chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, một nước đất không rộng, người không đông nhưng biết đoàn kết đấu tranh cho độc lập dân tộc, hoà bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của một đảng mácxít chân chính với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới thì có thể chiến thắng mọi kẻ thù, dù chúng có các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã góp phần làm tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của phong trào cách mạng thế giới; củng cố niềm tin chiến thắng cho các lực lượng tiến bộ đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; chiến thắng của nghệ thuật quân sự Việt Nam: mưu trí, sáng tạo, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, dựa trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; chiến thắng của nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững chắc, phát huy cao nhất vai trò của lực lượng phòng không ba thứ quân; là chiến thắng của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo; của ý chí quyết đánh và quyết thắng; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, có sự đóng góp hy sinh to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương miền Bắc, trực tiếp là Thủ đô Hà Nội. Trong 12 ngày đêm, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc đã phải hứng chịu hơn tám mươi ngàn tấn bom đạn tàn phá, hủy diệt, nhưng quân và dân ta, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Thủ đô văn hiến, anh hùng đã biến đau thương thành hành động cách mạng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến; vượt qua mọi hy sinh gian khổ, anh dũng, ngoan cường, quyết chiến đấu với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Đó là một trong những điển hình về sức mạnh chính trị tinh thần trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Trong những ngày chiến đấu đó, cả nước hướng về Thủ đô, bảo vệ Thủ đô. Quân và dân ta ở miền Nam ruột thịt đã “chia lửa” cùng đồng bào và chiến sĩ miền Bắc, đẩy mạnh tiến công trên khắp các chiến trường, làm cho kẻ địch phải phân tán lực lượng, bị động đối phó trên nhiều hướng, nhiều mặt trận, hoang mang, nhụt chí chiến đấu.

Đêm 26-12-1972, bộ đội tên lửa tiếp tục bắn rơi 6 chiếc B-52, trong tổng số 8 chiếc bị tiêu diệt. Ảnh tư liệu

Năm tháng sẽ qua đi, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất, thông minh, sáng tạo; là niềm tự hào của dân tộc ta, nhân dân ta, quân đội ta, là một trong những chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam anh hùng; ghi đậm dấu ấn của cuộc đấu tranh cách mạng hào hùng của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh.

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Ngày nay, đất nước ta hòa bình, thống nhất, đang thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011- 2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn tiếp theo.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đó, đòi hỏi sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu rất cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Chiến công oanh liệt của trí tuệ, lòng dũng cảm và ý chí quật cường của dân tộc ta, quân đội ta, của cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, của quân dân Thủ đô và các tỉnh, thành phố miền Bắc trong 12 ngày đêm chống cuộc tập kích chiến lược bằng đường không của đế quốc Mỹ cổ vũ, khích lệ chúng ta vững bước đi lên.

Lòng dũng cảm, trí thông minh, sáng tạo đánh thắng máy bay chiến lược B.52 và những phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cần được giữ gìn, truyền lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Những bài học về dự báo tình hình, chuẩn bị và tổ chức lực lượng; nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân; tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để kháng chiến thắng lợi, cần được vận dụng sáng tạo và phát triển trong điều kiện mới. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng, tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc trong toàn dân, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực mọi mặt của đất nước. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại; tăng cường đoàn kết gắn bó giữa quân và dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát huy truyền thống 68 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam và thành tựu 23 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, tập trung nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng Quân chủng Phòng không – Không quân hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị, chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ và biết ơn sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ, đã giành cho nhân dân ta trong những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt. Trải qua những tàn phá nặng nề và hy sinh to lớn trong chiến tranh, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam thiết tha, quý trọng hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Kế thừa và phát huy truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, nhân dân ta luôn mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác cùng phát triển với các nước trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, theo tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của đất nước; xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước!

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta tự hào về những chiến công oanh liệt, truyền thống yêu nước, đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc; tự hào về Đảng ta, một Đảng mácxít kiên trung, có đường lối đúng đắn, sáng tạo, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; tự hào với truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, một Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; tự hào về dân tộc ta, một dân tộc giàu lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình và công lý, không bao giờ chịu cúi đầu, khuất phục trước bất kỳ thế lực xâm lược hung bạo nào; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm giữ gìn và phát huy cao độ truyền thống vẻ vang đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Các đại biểu dự lễ kỷ niệm, ôn lại chiến thắng hào hùng của dân tộc

Hào khí Việt Nam, vận hội mới của đất nước thôi thúc chúng ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, nỗ lực phấn đấu xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với công lao to lớn, khát vọng cháy bỏng và sự hy sinh cao cả của các thế hệ đi trước, viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Tinh thần Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” bất diệt!

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

Xin cảm ơn toàn thể đồng bào, đồng chí và các vị đại biểu!

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Theo nld.com.vn

Món quà hậu phương

QĐND – Tìm đến nhà Đại tá Hoàng Bình bây giờ không còn vất vả như những năm trước kia nữa, cho dù chỗ ở của ông không hề thay đổi suốt mấy chục năm qua. Vẫn ở khu tập thể Nam Đồng, Hà Nội nhưng nhờ quy hoạch của thành phố mà tự nhiên cái tòa nhà ông nằm tít tận cuối khu tập thể ẩm thấp nay lại ngoi ra mặt phố Hồ Đắc Di, nhìn thẳng xuống hồ Xã Đàn nước trong xanh dìu dịu. Căn hộ của ông được cấp ở tầng 1, ngày xưa chưa mưa đã lụt nhưng nay hóa may, bước vài bước là xuống tới đường.

Lâu lâu tôi không đến thăm nên hôm nay ông hỏi đủ thứ chuyện, nào là tình hình quân đội hiện nay ra sao, ta có thêm được những vũ khí hiện đại gì, anh em mình hiện nay có ra nước ngoài học tập nhiều không? Lựa lúc ông đang hào hứng sau câu chuyện vui, tôi đặt vấn đề:

– Bác ạ, hôm nay đến thăm bác nhưng cũng có việc cháu muốn hỏi bác kỹ hơn về lá thư Hoàng Hà gửi cho bác và những món quà bác nhận được trong thời gian chiến đấu ở chiến trường miền Trung 40 năm trước đây.

– Chuyện đó thì mọi người đều rõ cả rồi, mà đó cũng là việc làm bình thường thôi. Hà làm việc đó khi còn là học sinh, bây giờ đã là anh sĩ quan cấp tá, có hơn ba chục năm phục vụ trong quân ngũ rồi còn gì?

– Gần hai chục năm qua, kể từ khi Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân trưng bày những kỷ vật bác tặng có rất nhiều khách đến tham quan quan tâm tìm hiểu về việc này. Năm nay, nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, anh em chúng cháu muốn nhấn mạnh thêm về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến mà câu chuyện của gia đình ta là một trong những câu chuyện rất có ý nghĩa đối với sự kiện lịch sử quan trọng này.

– Ừ! Mà nói cho đúng thì miền Bắc lúc đó cũng là mặt trận chứ! Không những thế còn là mặt trận, là chiến trường vô cùng ác liệt và nóng bỏng nữa.

Rồi ông kể.

Hồi đó ông đang chiến đấu ở mặt trận Quảng Đà, Quân khu 5 với cương vị là Tham mưu trưởng Sư đoàn 711, sau là Sư đoàn 2. Giữa lúc đơn vị ông đang phải đối phó quyết liệt với âm mưu “Mỹ hóa” trở lại thì được thông báo Mỹ đang ráo riết chuẩn bị dùng B-52 đánh phá Hà Nội. Nghe tin mà lo đến nao lòng. Cái gì chứ B-52 thì cánh lính chiến trong chiến trường miền Trung, miền Nam chẳng ai lạ lẫm gì. Bom B-52 như cơm bữa, bom ném bất cứ lúc nào, có trận kéo dài hàng giờ. Sau mỗi đợt bom B-52, mặt bằng chiến trường như thay đổi, sự tan hoang đổ nát đã làm biến dạng cả địa hình, thậm chí san phẳng cả một khu vực gò, đồi hoặc biến cả đoạn đường dài thành một chuỗi ao chuôm xếp gối nhau như dòng sông nham nhở, nhiều trận bị địch đánh bất ngờ đã gây cho ta tổn thất không nhỏ về người và vũ khí trang bị. Nhưng dù sao ngoài chiến trường, không gian còn rộng lớn, còn có núi, rừng, sông, suối chứ Hà Nội, một thành phố nhà cửa san sát, người chen chúc như nêm, khi phải hứng chịu những loạt bom rải thảm của B-52 thì hậu quả sẽ khủng khiếp thế nào? Hà Nội là nơi Trung ương và các cơ quan trọng yếu của cả nước đang lãnh đạo, điều hành cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc, khi kẻ thù liều lĩnh dùng B-52 đánh hủy diệt thì tình hình sẽ ra sao? Không hiểu ta có thể đánh thắng được loại máy bay ném bom khổng lồ B-52 này hay không? Chỉ nghĩ tới đó đã rùng mình, càng lo cho Thủ đô trước trận cuồng phong của bom, đạn…

Ông kể tiếp, ngày ấy ở chiến trường, thường thì khi B-52 chuẩn bị đánh, cấp trên đều thông báo sớm để sơ tán, phòng tránh nên cũng hạn chế được thương vong, thế nhưng mỗi lần nhìn thấy chúng ngang nhiên hoành hành mà uất ức đến tận cổ. Chúng biết ta chưa có hỏa lực gì chống trả được nên bay tương đối thấp, những ngày trời quang mây nhìn thấy rõ mồn một. Những lúc như thế chỉ mong có thứ vũ khí gì bắn tan thây chúng nó cho hả giận. Hy sinh, mất mát thì nhiều nhưng ông không bao giờ quên được cái trận bom B-52 đã cướp đi sinh mạng những đồng đội của mình mà vừa mới vài chục phút trước đó họ còn trò chuyện vui vẻ với ông.

Hôm ấy, ông và ông Củng, Phó chủ nhiệm Chính trị sư đoàn cùng một số anh em đang làm nhiệm vụ ở chân núi Chôm, lợi dụng công sự cũ để tổ chức chiến đấu. Tang tảng sáng, ông Củng tới mời ông đến chỗ anh em cơ quan chính trị uống trà do mấy anh em tuyên huấn của sư đoàn mang xuống. Ông hẹn một lúc nữa sẽ qua nhưng đúng lúc đó thì ba chiếc B-52 từ phía nam bay rất thấp về phía trận địa, tất cả anh em xuống hầm ẩn nấp. Bỗng một loạt tiếng nổ dài, vang lên dữ dội. Biết địch ném bom ở khu vực của mình, ông đã lao khỏi hầm chạy lại nơi khói bụi đang mịt mù.

Trước mắt ông là cảnh tan hoang không còn nhận ra hầm hào gì nữa. Phán đoán vị trí cái hầm trú ẩn của anh em cơ quan chính trị, ông đã dùng tay ra sức moi đất đá hy vọng sẽ cứu được anh em. Nhưng khi moi tới hầm thì cả bốn đồng chí đã hy sinh, trong đó có Phó chủ nhiệm Chính trị và Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn. Thời điểm này đã chuẩn bị ký kết Hiệp định Pa-ri, Tâm – Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn xuống Sở chỉ huy phía trước để phổ biến tình hình cho bộ đội nhưng chưa kịp làm thì đã bị hy sinh vì bom B-52. Đơn vị ông phải di chuyển trận địa. Vừa đến trận địa mới, ông lại nhận được tin có thư và quà từ miền Bắc gửi vào. Ông không biết quà của vợ con hay cơ quan nào hoặc ai đó gửi cho mình. Ông chợt lo lắng không biết liệu có chuyện gì đã xảy ra với gia đình vì đã rất lâu kể từ khi nhận được cuốn băng ghi âm, ông không hề nhận được tin tức gì ở nhà. Vừa qua Hà Nội lại bị ném bom dữ dội như vậy… Tự nhiên ông phát run lên. Sống trong bom B-52 đã bao năm nay, nhiều trận cái chết đã cận kề gang tấc mà không có cảm giác sợ, nhưng không hiểu sao cứ khi nào nghĩ đến cảnh hậu phương bị “con quái vật” ấy mò ra gây tội ác, ông lại thấy lo lắng, bồn chồn không yên.

Cậu chiến sĩ thông tin rất mau mồm mau miệng, chưa về đến nơi đã oang oang thông báo rằng thủ trưởng Hoàng Bình có thư và quà của con trai gửi vào, lúc đó ông mới thở phào nhẹ nhõm. Bỗng mặt ông biến sắc, tim đập thình thịch khi thoáng nghĩ bà ấy đâu mà lại để con trai ông gửi thư cho bố? Cả ba đứa con của ông đều còn nhỏ, đứa lớn mới vào tuổi mười lăm. Từ trước tới giờ thư vẫn do bà ấy viết, mấy đứa có viết thư cho bố thì cũng để chung trong phong bì của mẹ. Nghĩ vậy ông đã giật ngay gói quà từ tay cậu chiến sĩ thông tin rồi vội vã xé toạc tờ giấy bọc, lấy lá thư. Thấy ông đọc đến đâu mặt giãn ra đến đấy, có lúc bất chợt còn thốt lên: “Thế chứ! Cho đáng đời chúng mày. Giỏi lắm, con trai của bố giỏi lắm!”, anh em đứng xung quanh mới thở phào. Thì ra lá thư là của Hoàng Hà – cậu con trai thứ hai. Khi ông vào Nam thì Hà chưa đi học, mấy năm sau ông ra Bắc lại không gặp vì Hà được sang Quế Lâm, Trung Quốc học cấp I. Hà báo tin đợt B-52 đánh vào Hà Nội, ba anh em đều đi sơ tán, chỉ có mẹ ở lại nhà máy, cả nhà đều an toàn. Phần lớn bức thư Hà dành để kể cho bố nghe chuyện các chú bộ đội chiến đấu bắn rơi máy bay B-52 ở Hà Nội. Thấy ông đang bị hút hồn vào lá thư và dường như lá thư đã thôi miên, làm cho ông ngây ngất nên anh em cứ đứng xung quanh chờ đợi, không ai nỡ làm gián đoạn cái giây phút sung sướng hiếm hoi của ông…

Đợi ông bớt xúc động, anh em mới đưa món quà đặc biệt mà do vui quá ông quên không đả động gì đến. Đó chính là một mảnh nhỏ xác máy bay B-52, Hà đã gửi vào cùng với lá thư. Ông sực tỉnh, trong thư Hà đã nói qua về “xuất xứ” những “chiến lợi phẩm” này. Hà kể, mảnh xác B-52 và mấy mảnh tài liệu tiếng Anh cháy nham nhở do chính Hà nhặt từ đống xác chiếc B-52 rơi ở nơi ba anh em sơ tán, (xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Tây cũ) rạng sáng ngày 19-12. Đã biết tin quân và dân Hà Nội chiến đấu rất kiên cường, bắn rơi hàng chục “pháo đài bay” B-52 nhưng không ngờ ở tận trong này ông và anh em lại được cầm trên tay cái mảnh xác của “con quái vật” B-52 mới bị đền tội. Những năm tháng ở chiến trường chứng kiến B-52 tung hoành gieo rắc tội ác, gây cho ta biết bao tổn thất, hy sinh, giờ cầm mảnh xác nó trên tay mới thấy hả lòng, hả dạ… Ông Bình nhớ ra là chưa đọc thư cho anh em nghe như những lần trước. Mà cũng lạ, lần này không thấy đứa nào đòi xem thư mà đều dán mắt vào mảnh xác máy bay B-52…

– Thế sau chiến thắng của quân và dân miền Bắc, ở trong đó các bác có còn bị B-52 gây khó dễ nữa không? Tôi hỏi Đại tá Hoàng Bình.

– Đỡ nhiều chứ, cũng chỉ một thời gian ngắn là chấm dứt ngay, nó còn hơi sức đâu nữa mà đánh với đấm. Với lại B-52 là của Mỹ, Mỹ buộc phải rút thì “con ngáo ộp” cũng phải “cuốn gói” theo. Thế mới biết trận thắng B-52 ở Hà Nội quan trọng thật, quật cổ được lũ B-52 là cục diện chiến trường cả nước thay đổi ngay… Sau chiến thắng của ta ở miền Bắc, đơn vị tôi tiếp tục chiến đấu đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, nhiều đồng chí được thấy món quà quý báu của tôi ngày đó đã ngã xuống trên đường tiến về Sài Gòn, một số sau khi trở về hậu phương già yếu và đã qua đời khá nhiều…

Nói xong ông rút khăn chấm chấm vào đôi mắt đã đỏ hoe từ lúc nào. Nhìn về xa xăm, giọng ông khẽ khàng như nói với đồng đội cũ của mình:

– Đã mấy chục năm xa nhau, nay người còn người mất nhưng với người lính chúng ta cái còn lại vẫn là nghĩa tình đồng đội. Thỉnh thoảng gặp nhau ôn lại những kỷ niệm một thời trận mạc càng thấm thía sự chia ngọt sẻ bùi có giá trị thế nào. Bây giờ người ta có thể tặng nhau những món quà đắt tiền nhưng nó không thể thiêng liêng như những lá thư, gói quà nhỏ bé của hậu phương gửi vào tiền tuyến hồi chiến tranh. Những thứ đó bình thường nó là của riêng, chỉ có chủ nhân mới được sở hữu, nhưng trong chiến tranh, nó là của chung. Chính sự sẻ chia ấy đã gắn kết người lính lại thành một khối vững chắc để vượt qua gian khổ, hy sinh.

– Có phải vì vậy mà bác đã quyết định tặng lại bảo tàng toàn bộ những kỷ vật mà bác đã nâng niu, giữ gìn trong suốt hơn hai mươi năm?

– Món quà của tôi đã là của anh em đồng đội từ khi tôi nhận nó rồi. Năm 1995, khi gặp lại đồng đội cũ, anh em khuyên tôi nên tặng lại bảo tàng để mọi người biết được phần nào nghĩa tình của hậu phương với tiền tuyến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc nên tôi đã quyết định tặng cho Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân.

Ông tỏ ra mãn nguyện. Tôi hiểu tâm trạng của ông. Đã 40 năm trôi qua, kể từ khi cậu bé mười ba tuổi Hoàng Hà đến tận nơi máy bay rơi, lửa khói còn đang ngùn ngụt, chờ cho lửa tắt rồi nhanh tay lượm một mảnh xác nhỏ và mấy miếng tài liệu cháy dở gửi cho bố nơi chiến trường ác liệt chỉ với suy nghĩ giản đơn là báo tin cho bố: Hà Nội đã bắn rơi máy bay B-52. Hẳn lúc đó cậu chưa đủ khôn để hiểu rằng món quà nhỏ bé đó đã có một ý nghĩa lớn lao, nó đã tiếp sức cho bố mình và đồng đội trong những trận đánh cuối cùng. Cậu bé Hoàng Hà ngày nào, nay đã mang trên vai quân hàm Đại tá. Tiếp bước cha anh, Hà đã toại nguyện ước mơ là vào bộ đội tên lửa và công tác liên tục trong Quân chủng Phòng không – Không quân cho đến nay, trải qua nhiều cương vị khác nhau, trong đó có vị trí từ khi còn nhỏ, anh đã từng mơ ước là chỉ huy một đơn vị hỏa lực tên lửa. Chỉ có khác với bố là Hoàng Hà không phải ra trận. Ông Bình nói đó là điều ông mong ước không chỉ cho Hà mà cho cả con cháu của Hà. Ông kể, năm 1975, ông được sang Cộng hòa dân chủ Đức chữa bệnh, đón ông tại sân bay, một nữ cán bộ của bạn đã làm cho ông ngạc nhiên. Bà ta nói: “Chào Đại tá thất nghiệp Hoàng Bình”, rồi giải thích: “Ông đã đánh thắng Mỹ thì còn ai dám đến nữa mà đánh nên ông là Đại tá thất nghiệp”…

Trải lòng xong, ông cười sảng khoái, cái cười của vị Đại tá già cứ văng vẳng mãi bên tai làm cho tôi hào hứng viết ra những dòng gan ruột này.

NGUYỄN PHƯƠNG DIỆN
qdnd.vn