Thư viện

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Giá trị to lớn của nhân tố chính trị, tinh thần

QĐND – Thời gian càng lùi xa thì ý nghĩa lịch sử và tầm vóc của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” càng rực sáng. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là biểu tượng cao đẹp về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố chính trị, tinh thần có ý nghĩa quyết định và được thể hiện trước hết ở đường lối lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Bác Hồ và Quân ủy Trung ương. Trên cơ sở nắm bắt quy luật khách quan, với tầm nhìn xa, trông rộng, với tư duy chính trị, quân sự sắc sảo, độc đáo, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra âm mưu, thủ đoạn thâm độc của đế quốc Mỹ ngay từ đầu năm 1960 và dự báo: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội”… “Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Từ dự báo chiến lược đó, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Quân chủng Phòng không – Không quân và các quân khu “Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược đánh phá trở lại miền Bắc”. Tháng 11-1972, trong một cuộc họp quan trọng của Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định: Âm mưu của Mỹ cho B-52 đánh thủ đô Hà Nội – linh hồn của cuộc kháng chiến – sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô…

Sau giờ huấn luyện ở Trạm Ra-đa 35, Sư đoàn 361. Ảnh: Vũ Quang Thái

Những dự báo, chỉ thị, chỉ đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu vang lên như lời hịch kêu gọi toàn dân, toàn quân ta “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Cháy bỏng ý chí quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng B-52, quân và dân miền Bắc, đặc biệt là quân và dân Hà Nội, mà nòng cốt là bộ đội phòng không – không quân đã xây dựng ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú, công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã góp phần khơi dậy lòng tự tôn dân tộc; truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông, xây dựng lòng trung thành tuyệt đối của cán bộ, chiến sĩ vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng, niềm tin tất thắng vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc, hình thành bản lĩnh vững vàng của người chiến sĩ: Bình tĩnh, tự tin, không phiêu lưu mạo hiểm, không hoảng sợ trước sức mạnh vũ khí, trang bị của Mỹ. Với phương châm “người trước – súng sau”, khi mà kẻ thù tác chiến bằng phương tiện chiến tranh hiện đại, thì Đảng ta chỉ đạo, lấy yếu tố con người với nghị lực chiến đấu phi thường, với sức mạnh sáng tạo, trình độ cao về nghệ thuật tác chiến, làm chủ vũ khí trang bị hiện có, trong thế trận chiến tranh nhân dân để đánh địch.

Biến ý chí quyết tâm thành hành động cách mạng, với tinh thần hết sức khẩn trương, bộ đội phòng không – không quân đã mở những “Hội nghị Diên Hồng” dân chủ bàn bạc, nghiên cứu, tìm ra cách đánh B-52 để huấn luyện, thống nhất các phương án tác chiến; điều chỉnh lực lượng, bổ sung khí tài, xây dựng thế trận phòng không – không quân; chấn chỉnh công tác bảo đảm phục vụ chiến đấu… Các lực lượng phòng không – không quân được bố trí tác chiến theo nhiều hướng, nhiều tầng, nhiều lớp tạo thành “vành đai lửa” trong thế trận “thiên la địa võng” trên bầu trời Hà Nội sẵn sàng tiêu diệt địch. Sau 12 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không chủ yếu bằng B-52 của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, giáng đòn quyết định vào cố gắng cuối cùng của Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử làm tiền đề để đi đến thắng lợi trọn vẹn của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Luyện tập nạp đạn ở Trung đoàn 280, Sư đoàn Phòng không Hà Nội. Ảnh: Vũ Quang Thái

Bốn mươi năm đã trôi qua, nhìn lại Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” chúng ta càng thấy rõ nhân tố chính trị, tinh thần làm nên chiến thắng là kết tinh của truyền thống yêu nước Việt Nam trường tồn suốt chiều dài lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được nâng lên một tầm cao mới, trở thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của cuộc chiến tranh chính nghĩa – cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả của các nước XHCN anh em, nhất là Liên Xô, Trung Quốc; sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng, dân chủ, hòa bình và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ. Đó còn là sự thể hiện sức sống mãnh liệt của học thuyết Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng; đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Bác Hồ kính yêu, tài mưu lược của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong việc kết hợp hài hòa giữa ý chí kiên định, bản lĩnh vững vàng, tài trí tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta với năng lực lãnh đạo, chỉ huy khai thác hiệu quả tính năng, tác dụng các vũ khí được trang bị.

Tự hào về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đang tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, vươn lên giành thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, như Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ ra. Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đứng trước cả những thuận lợi và thách thức đan xen. Các thế lực thù địch đang ráo riết tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng nước ta và khi có thời cơ chúng sẽ sẵn sàng phát động cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao. Do vậy, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới, chúng ta phải xây dựng, chuẩn bị toàn diện, nhằm huy động cao nhất sức mạnh tổng hợp của cả nước, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Trong đó, xây dựng, phát huy nhân tố chính trị, tinh thần của nhân dân và quân đội vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Để xây dựng và phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trước hết phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trang bị vũ khí, kỹ thuật ngày càng hiện đại cho lực lượng vũ trang trước hết cho một số lực lượng, trong đó có bộ đội phòng không – không quân. Chủ động xây dựng, phát triển, huy động tiềm lực chính trị – tinh thần sẵn có thành sức mạnh chính trị – tinh thần khi chiến tranh xảy ra nhằm đánh thắng chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch.

Nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta; kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn xâm lược kiểu mới của địch, chủ động chuyển trạng thái chính trị – tinh thần của quân và dân từ thời bình sang thời chiến.

Phải xây dựng đất nước ổn định về mọi mặt, nhất là giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên phạm vi cả nước; không ngừng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; thực hiện tốt sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ bằng việc thiết thực đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đưa các Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống, bồi dưỡng tình cảm cách mạng, khơi dậy niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của mọi cá nhân và các tổ chức xã hội; quan tâm và thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh, gắn xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Quan tâm “xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, đồng thời quan tâm xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp”.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhiều bài học quý báu, nhất là bài học về phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
qdnd.vn

Tù binh và bí mật “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

Đâu phải ở tận nước Mỹ, ở Thái Lan hay đảo Guam mới biết được kế hoạch ném bom B52 của Mỹ, Đại tá Mạc Lâm chia sẻ.

… Năm 1996 sau khi theo học một lớp đào tạo, tôi được chuyển về Tổng cục II. Về đây được nghe các anh kể lại trong chiến công đánh thắng B52 có một phần đóng góp quan trọng của Tổng cục. Có người đáng lẽ phải được tuyên dương anh hùng. Tôi nghe mà nửa tin, nửa ngờ. Tin vì đúng là để đánh thắng được siêu “pháo đài bay” phải là chiến công chung của cả nước, phải có sự chỉ đạo từ Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, đặc biệt là các anh ở Cục Tác chiến. Ngờ là không biết Tổng cục II đóng góp vào chiến thắng bằng cách nào.

Cuối năm 1999, trên trang báo nội bộ của Tổng cục, tôi cũng đọc được bài của một tác giả trẻ viết về những đóng góp của Tổng cục II vào chiến thắng 12 ngày đêm năm ấy. Đọc xong tôi nghĩ bài viết quá sơ lược. Viết như vậy ai cũng có thể nhận mình là người góp phần đánh thắng B52. Toàn là những câu, những sự kiện chung chung. Nào là Tổng cục đã chủ động nắm tin tức, nào là đã vạch ra được mặt mạnh, mặt yếu, nào là đã biết tính năng kỹ thuật…Toàn những cái đọc ở đâu mà chả có. Đối với người đọc, điều cần là phải chỉ ra ai, nắm thế nào, thời gian cụ thể, báo cáo cho ai…Là người làm công tác nghiên cứu, tôi rất “dị ứng” với những từ như: Nói chung là, nhìn chung là, cơ bản là, chúng ta đã góp phần, chúng ta đã chủ động…

Gần đây tôi đọc một cuốn truyện trong đó Đại tá Mạc Lâm có viết về cái đêm phát hiện máy bay B52 đánh vào miền Bắc. Tôi liền gọi điện xin gặp. Ông hẹn vào sáng hôm sau.

Mặc dù đến sớm nhưng loanh quanh mãi mới tìm đến được phòng làm việc của ông. Ông đang ngồi đợi, đứng dậy bắt tay và chỉ chiếc ghế gần đấy mời tôi ngồi, ông đi luôn vào việc (đúng là tác phong của một người chuyên hỏi tù binh- tôi thầm nghĩ).

– Thế này nhé, mình đã suy nghĩ rồi, yêu cầu của các cậu rất khó. Bây giờ tớ đưa những tài liệu này, cứ suy nghĩ xem có dùng được gì thì dùng.

Tôi liếc nhìn, nào là danh sách những người cùng khai thác tù binh với ông; nào là chuyện ông viết về giàn nho ở nhà giam Hoả Lò Hà Nội – “khách sạn Hilton” những ngày đón tiếp “giặc nhà trời” mà ông đã từng gặp; chuyện ông ghi lại đêm thức canh B52 những ngày tháng chạp 1972; rồi cả một vài tên tuổi của những viên phi công. Tôi thấy có cả tên John McCain.

Một tài liệu tôi đặc biệt chú ý: “Báo cáo đặc biệt về công tác Tình báo phục vụ đánh thắng cuộc tập kích chiến lược đường không của đế quốc Mỹ trong 12 ngày đêm vào khu vực Hà Nội”.

Tôi quay sang tập tài liệu mà mình chú ý:

– Thế ngành mình  (tình báo) đã góp phần đánh thắng B52 như thế nào?

– Cậu cứ đọc tài liệu rồi sẽ biết. Nhưng xin nói trước, chỉ hiểu đại thể thôi. Ví dụ mình mới chỉ viết đến cách đánh B52, lực lượng máy bay, tính năng kỹ thuật, về tổ chức đội hình B52 trong tác chiến, về hiệp đồng với các máy bay khác, sự phân chia khu vực…

Nghe ông nói mà tôi thấy cứ rối tung cả lên. Tôi hỏi nhỏ ông:

– Bác dạo ấy đặc trách mảng này hay sao mà biết được những chi tiết kỹ thế? Có phải ta có người “cài cắm” ở bên ấy không?

– Đấy mới là điều bí mật vì vậy suốt thời gian dài không thể nói được cũng vì thế.

– Ghê quá nhỉ, ngay từ thời ấy mà đằng mình cũng có người sang tận bên ấy – Tôi xuýt xoa?

– Cậu này! cứ gì phải ở tận nước Mỹ, ở Thái Lan hay đảo Guam mới biết được.

– Vậy thì ta làm cách nào?

– Thế cậu tưởng nghề hỏi tù binh của mình chỉ hỏi cho vui thôi hay sao? Bí quyết là ở đấy.

Rồi ông kể vì sao ta lại nắm chắc được âm mưu của chúng. Đặc biệt là âm mưu dùng B52 đánh Hà Nội. Tôi liền cắt ngang lời ông:

– Âm mưu dùng B52 đánh Hà Nội khi còn sống, Bác Hồ đã từng tiên đoán rồi còn gì?

– Đúng! Ông cụ đã tiên đoán, nhưng vào thời điểm nào mới quan trọng chứ. Làm “nghề” đánh địch phải biết rất cụ thể.

Rồi ông nói tiếp: Trước đấy ta đã bắn rơi và bắt được một số phi công Mỹ, mà tên nào khi bị bắt làm tù binh chẳng ham sống sợ chết. Có gì là chúng khai ra hết. Cũng có vài thằng ngoan cố nhưng khi cả sáu bảy thằng khai ra thì một thằng giấu cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Các cậu biết đấy, lực lượng không quân Hoa Kỳ đánh miền Bắc không phải ở một nơi. Từ biển vào, từ Thái Lan sang, từ mãi tận Guam…Đặc biệt đối với loại B52, không phải sân bay nào cũng đậu được, không như mấy anh F4, F5, F105. Dạo ấy chỉ có sân bay ở Thái Lan, Philipin, Guam là B52 có thể cất cánh và hạ cánh được. Tuy nhiên, đã là giặc lái với nhau chúng phải biết chủ trương của những ông chủ của chúng.

Cậu còn nhớ không, trước trận “Điện Biên Phủ trên không” ta làm gì đã hạ được B52 rơi tại chỗ. Nhưng cái thằng B52 khi đi phải có mấy tay tiêm kích hộ tống không có máy bay ta “xơi tái” ngay. Chính bọn đó đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho bọn mình khai thác.

Ông kể tiếp, do nắm được không khí chính trị tại Hội nghị Pari, trên nhận định địch sẽ hành động điên cuồng. Khả năng chúng sẽ sử dụng át chủ bài, bảo bối cuối cùng làm lá bùa hộ mệnh. Vì vậy, mình được chỉ thị của cấp trên khi hỏi cung tù binh phải xoáy sâu vào vấn đề trên. Trước đấy, qua tin tức tình báo, ta nắm được ngày 02.04.72 Mỹ cấp tốc điều hai tàu sân bay Kittyhawk và Costelltion từ Subic đang di chuyển tới vùng biển Việt Nam. Ngày 03.04.72 Mỹ điều tiếp một đại đội máy bay oanh tạc chiến lược B52 gồm 20 chiếc từ Mỹ sang Utapao (Thái Lan). Chính động thái ấy khi hỏi cung tù binh mình đặc biệt xoáy sâu vào những câu hỏi được trên chỉ đạo như:

– Về lực lượng máy bay oanh tạc chiến lược B52 của Mỹ và khả năng bố trí trên các căn cứ ở châu á- Thái Bình Dương.

– Về tính năng kỹ thuật, trong đó chú trọng về trang bị vũ khí, bom đạn, trang bị điện tử, đặc biệt là khả năng gây nhiễu của B52 và những tên đi hộ tống.

– Về tổ chức đội hình B52 trong tác chiến, việc hợp đồng với các loại máy bay khác, việc phòng chống máy bay ta.

– Sự phân chia khu vực và mục tiêu giữa không quân chiến thuật và không quân chiến lược trên địa bàn miền Bắc và khu vực Hà Nội…

Trong số tù binh bắt được có mấy tên ở căn cứ Taklee (Thái Lan) hiểu biết rõ về B525. Có tên đã từng yểm trợ cho B52 thực hiện các “phi vụ” oanh kích ở Quảng Bình và một số khu vực khác ở miền Bắc. Chúng đã cung cấp những đường bay vào khu vực Hà Nội như: Từ hướng biển vào phải bay như thế nào, từ Thái Lan sang thì bay ra sao. Rồi còn đội hình tác chiến, chi tiết số liệu về độ cao, thành phần yểm trợ không chiến, yểm trợ chế áp cao xạ, tên lửa, Ra đa, nhiễu tích cực và nhiễu tiêu cực…toàn những điều “trên cả tuyệt vời”, đúng như yêu cầu của ta.

Rồi ông ghé vào tai tôi nói nhỏ:

– Cái này mới đặc biệt, qua khai thác ta nắm được tại các căn cứ không quân, chúng đang tập trên sa bàn cách đánh vào Hà Nội.

Rồi ông cười: – Đấy bảo bối chính là ở điểm này.

Tất cả những chi tiết trên được viết thành một bản báo cáo có minh hoạ rất chi tiết trên tấm bản đồ châu á- Thái Bình Dương và Đông Dương. Báo cáo được trình bày trong một hội nghị quan trọng của Bộ Tổng Tham mưu tháng 10.1972. Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là chủ tịch hội nghị và mình là báo cáo viên.

Còn điều này mới là cú quyết định- Ông ngừng giây lát, rít nhẹ điếu thuốc đã gần tàn trên tay rồi thong thả kể tiếp- ngày giờ cụ thể lại phải nhờ vào “tay” Trinh sát kỹ thuật.

Ngày 15 tháng 12, nghĩa là trước ngày mở màn chiến dịch 2 ngày, Trung tâm 75 báo về: Phát hiện được lệnh đình phép phi công lái máy bay chiến lược B52 tại Guam và đề nghị khí tượng báo cáo tình hình thời tiết ở Bắc Việt Nam trong những ngày tới. Ngày 16 tháng 12 ta nắm được tin hai tàu sân bay Enterprise và Saratoga đang tiến vào Biển Đông, nâng tổng số tàu sân bay ở đây lên 6 chiếc. Nhiều máy bay tiếp dầu trên không KC 135 đang được bổ sung đến Philippines. Rồi lại nhận được tin Lầu Năm Góc đã thành lập cấp tốc một cơ quan chỉ huy để điều khiển chung hai căn cứ không quân chiến lược ở Guam và Utapao. Tàu cứu hộ đã được lệnh di chuyển lên vĩ tuyến 21.

Qua phân tích, khẳng định địch chuẩn bị mở chiến dịch đánh lớn vào miền Bắc. Tin này được báo lên cấp trên và lệnh báo động cho cả nước và Quân chủng Phòng không- Không quân được ban ra. Cho đến chiều 18.12 Trinh sát kỹ thuật lại báo phát hiện máy bay tiếp dầu cho B52 được lệnh xuất phát. Đến lúc này thì ta hoàn toàn khẳng định chắc chắn tối 18.12 B52 sẽ đánh Hà Nội, Hải Phòng.

Tôi hỏi nhỏ ông:

– Những chi tiết quan trọng thế sao trong các cuốn sách viết về 12 ngày đêm ấy, nhất là bộ sử của Quân chủng Phòng không- Không quân không thấy nhắc đến?

– Thế cậu đọc họ có nhắc đến Bộ Tổng Tham mưu không?

– Bộ Tổng Tham mưu phải có công đầu chứ, làm sao không nhắc được, nhưng cũng rất chung- tôi thành thật.

– Đấy, Bộ Tổng Tham mưu là cánh mình cả đấy thôi. Tin tức về địch là do Ngành mình phục vụ chứ còn ai nữa.

– Thì ra là như vậy. Đến điều ấy mà cũng không nghĩ ra. Tôi nhớ lại trường hợp này cũng giống như trường hợp anh hùng Đinh Thị Vân, khi tuyên dương công trạng, mọi người chẳng biết chị là Tình báo, chỉ biết là công tác tại Bộ Tổng Tham mưu.

Biết ông đã mệt, tôi xin phép được mang những tài liệu về nhà tham khảo. Tiễn tôi xuống cầu thang ông còn dặn:

Nhớ giữ những tài liệu này cho cẩn thận nhé. Nó vẫn còn có giá trị cho hôm nay và mai sau đấy.

Nguyễn Đăng Tấn
Theo Báo Hà Nội Mới
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Diễn biến Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972

“Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội” – Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với Thượng tướng Phùng Thế Tài, năm 1968.

Đúng như lời tiên đoán của Bác, sau khi Hội nghị Pa-ri bế tắc, tháng 12 năm 1972, với Chiến dịch Linebacker II, đế quốc Mỹ chủ trương đưa miền Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá” và buộc ta phải ký kết Hiệp định Pa-ri theo những điều khoản do Mỹ định ra, từ ngày 18 tháng 12 đến ngày 30 tháng 12 năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng bằng máy bay chiến lược B52. Tại chiến dịch này Mỹ đã sử dụng lực lượng không quân chiến lược với B52 làm nòng cốt ném bom rải thảm huỷ diệt xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên và các mục tiêu khác liên tục trong 12 ngày đêm. Đây là những cuộc ném bom dữ dội nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc tập kích có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh. Trong 12 ngày, Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom xuống Hà Nội và các vùng lân cận, vượt quá khối lượng bom đã ném trong toàn bộ thời kì từ 1969 đến 1971. Đây là một chiến dịch sử dụng B52 lớn nhất từ trước đến nay với quy mô, cường độ và số lượng phương tiện chiến tranh, số lượng bom đạn khổng lồ. Những cái đầu nóng ở Nhà Trắng khi đó tin rằng: Hà Nội sẽ không thể chịu nổi một chiến dịch ném bom như vậy và nhất định sẽ bị khuất phục, phải ký Hiệp định theo ý đồ của Mỹ. Trong Chiến dịch này Mỹ đã xuất kích hơn 600 lần chiếc B52 và hàng nghìn lần các loại máy bay hiện đại khác đã liên tục trong 12 ngày đêm rải xuống Hà Nội, Hải Phòng hàng vạn tấn bom đạn; phá hủy nhiều khu phố, nhà cửa, bệnh viện, trường học, công trình kinh tế, quốc phòng…và gây thương vong cho hàng nghìn người, trong đó có rất nhiều người già, phụ nữ, trẻ em. Đó là một tội ác “Trời không dung, đất không tha”, mãi mãi nhân dân ta không thể quên.

pho Kham ThienMột góc phố Khâm Thiên bị máy bay B52 huỷ diệt.

Tiên liệu trước tình hình, ta đã chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bầu trời Tổ quốc trước sự tấn công của kẻ thù. Bộ Tổng Tham mưu ra lệnh cho Quân chủng Phòng không – Không quân chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, đề phòng B52 đánh từ vĩ tuyến 20 trở ra. Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân trực tiếp chỉ thị cho các đơn vị toàn Quân chủng, đặc biệt là hai khu vực Hà Nội – Hải Phòng: “Tình hình rất khẩn trương, các đơn vị cần thực sự chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu, có kế hoạch tiếp tế đạn cho tên lửa, bảo đảm vũ khí trang bị sẵn sàng chiến đấu với hệ số kỹ thuật cao nhất; thông tin liên lạc phải thường xuyên thông suốt; tổ chức báo động kiểm tra các đơn vị”. Toàn Quân chủng Phòng không – Không quân cùng quân và dân miền Bắc đã làm tốt công tác chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu, quyết đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B52 của Mỹ.

Diễn biến Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Ngày 18 – 12 – 1972

Sáng 18 tháng 12, Bộ Tổng Tham mưu điện cho các đơn vị: Cần đề phòng địch dùng B52 đánh phá các mục tiêu trọng điểm. Các binh chủng pháo cao xạ, tên lửa, ra đa, không quân, pháo binh sẵn sàng chiến đấu kịp thời đánh trả máy bay, tàu chiến địch. Tổ chức quan sát, báo động, có kế hoạch sơ tán, đào hầm hào, phối hợp với công an và nhân dân làm tốt công tác bảo vệ an ninh, bảo vệ tài sản…

Phủ Thủ tướng cũng điện cho các Bộ và cơ quan: Địch có thể ném bom Hà Nội, Hải Phòng, cần thực hiện tốt kế hoạch sơ tán của thành phố.

10 giờ 15 phút, một chiếc máy bay trinh sát không người lái của địch bay từ hướng Tây Bắc vào trinh sát Hà Nội. Các đơn vị ra đa phát hiện báo cáo về Tổng Trạm ra đa và Sở Chỉ huy Quân chủ́ng Phòng không – Không quân.

16 giờ 30 phút Bộ Tổng Tham mưu thông báo cho Quân chủng Phòng không – Không quân và Bộ Tư lệnh Thủ đô: Sẽ có đợt hoạt động lớn của máy bay chiến lược B52 ra miền Bắc.

Hn a7Những khẩu đội pháo cao xạ bảo vệ bầu trời Hà Nội.

19 giờ 10 phút, các đài ra đa cảnh giới của binh chủng ra đa báo cáo về sở chỉ huy trung tâm: “B52 đang bay vào hướng Hà Nội”.

19 giờ 25 phút, không quân ta được lệnh cất cánh đón đánh các tốp máy bay chiến thuật Mỹ (F4, F8, F 111, A6, A7…). Cùng lúc ở Tam Đảo, Việt Trì, các đài quan sát dồn dập báo về Sở Chỉ huy trung tâm: Máy bay F 111 ném bom sân bay Nội Bài, Kép… Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Thủ đô ra lệnh báo động toàn thành phố. Lập tức, còi báo động từ Nhà hát Lớn, Quảng trường Ba Đình, ga Hàng Cỏ và nhiều nơi nội và ngoại thành nổi lên khẩn cấp.

Từ 19 giờ 20 phút đến 20 giờ 18 phút, nhiều tốp máy bay B52 (mỗi tốp 3 chiếc) liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm… Cuộc chiến đấu ác liệt của lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ Hà Nội bắt đầu, mở đầu 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không“.

20 giờ 18 phút, Tiểu đoàn 59, Trung đoàn Tên lửa phòng không 261 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy phóng 2 quả đạn từ cự ly thích hợp hạ ngay 1 máy bay B52 (máy bay rơi xuống cánh đồng thuộc Phủ Lỗ và Đông Anh, giữa tỉnh Vĩnh Phúc và Hà Nội, cách trận địa gần 10 km). Đây là chiếc máy bay B52- G đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.

20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn tên lửa 52, Trung đoàn 267, Sư đoàn phòng không 365 từ một trận địa ở Nghệ An bắn bị thương nặng 1 máy bay B52 khi chúng vừa gây tội ác ở Hà Nội về, buộc phải hạ cánh bắt buộc xuống sân bay Đà Nẵng.

Đêm 18 tháng 12, Mỹ huy động 90 lần chiếc B 52 ném 3 đợt bom xuống Thủ đô Hà Nội. Xen kẽ các đợt đánh phá của B52 có 8 lần chiếc F 111 và 127 lần chiếc máy bay cường kích, bắn phá các khu vực nội, ngoại thành. Trong đêm đầu tiên Mỹ đã ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 địa điểm thuộc Thủ đô Hà Nội. 85 khu vực dân cư bị trúng bom làm chết 300 người.

Ngày và đêm 19 – 12 – 1972:

Sau cuộc chiến đấu ngày 18 tháng 12 các lực lượng chiến đấu đã kịp thời rút kinh nghiệm và hạ quyết tâm đánh mạnh hơn nữa lập thành tích chào mừng Ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12.

4 giờ 30 phút rạng sáng ngày 19 tháng 12, địch ném bom đợt thứ 3 vào các khu vực Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam (Mễ Trì), xã Nhân Chính, nhà máy Cao su Sao Vàng… Các trận địa tên lửa, pháo phòng không với các đơn vị dân quân tự vệ Thủ đô tiêu diệt một máy bay F4.

Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 77 Trung đoàn Tên lửa 257 đánh một trận thật xuất sắc, bắn rơi tại chỗ một máy bay B52-D.

Sáng 19 tháng 12, Bộ Chính trị họp biểu dương các lực lượng phòng không đã chiến đấu dũng cảm, đồng thời chỉ thị các đơn vị cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tránh chủ quan thỏa mãn, chuẩn bị đầy đủ hơn nữa để chiến đấu liên tục, bắn rơi nhiều máy bay B52.

– Tổng Tham mưu trưởng chỉ thị: Bộ đội tên lửa đêm chiến đấu, ngày nguỵ trang sơ tán. Bộ đội ra đa phải thường xuyên theo dõi địch, quản lý vững chắc vùng trời cả ngày và đêm. Bộ đội pháo phòng không thường xuyên sẵn sàng chiến đấu cao và đánh thắng địch.

Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã đến ngay một số đơn vị Phòng không – Không quân và khu vực Đông Anh, Yên Viên nơi vừa bị B52 của giặc Mỹ ném bom, động viên thăm hỏi bộ đội và nhân dân Thủ đô.

Nhiều nước trên thế giới ra tuyên bố hoặc điện tới Tổng thống Mỹ yêu cầu chấm dứt hành động dùng máy bay B52 ném bom tàn phá ác liệt Hà Nội, Hải Phòng và miền Bắc Việt Nam.

19 giờ 45 phút ngày 19 đến 5 giờ 20 phút ngày 20 tháng 12, máy bay B52 tiếp tục ném bom Hà Nội, Hải Phòng. Riêng ở Hà Nội 87 lần chiếc B52 và hơn 200 lần chiếc máy bay cường kích ném 3 đợt bom xuống 68 điểm thuộc nội ngoại thành

Sau 2 đêm đầu chiến đấu tuy quân dân ta giành thắng lợi, nhưng lực lượng phòng không bảo vệ Thủ đô cũng gặp khó khăn. Nhiều trận địa bị trúng bom. Cơ số đạn tiêu thụ quá mức. Trận địa pháo 10mm của tự vệ Đống Đa bắn hết đạn, nhiều tiểu đoàn tên lửa đạn dự trữ còn ít.

Ngày 20 – 12 – 1972

11giờ 45 phút, Bộ Tổng Tư lệnh điện cho các đơn vị: “Chiều và đêm nay địch sẽ đánh lớn bằng máy bay B52 và máy bay cường kích vào Thủ đô Hà Nội”.

19 giờ ngày 20 đến sáng 21 tháng 12, địch huy động 78 lần chiếc B52 ném bom Hà Nội và hơn 100 lần chiếc máy bay cường kích các loại vào đánh phá nội, ngoại thành Hà Nội. Bộ đội ra đa phát hiện nhanh, đúng, đủ, kịp thời, mặc cho các loại máy bay địch phát nhiễu dày đặc.

Khi B52 địch cách Hà Nội 80 km, Trực ban trưởng Sở Chỉ huy phòng không đóng cầu dao, nổi còi báo động toàn thành phố sẵn sàng chiến đấu.

20 giờ 05 phút đến 20 giờ 7 phút, trận đánh xuất sắc trong 2 phút từ cự ly 22 km với 2 quả đạn, Tiểu đoàn 93, Trung đoàn tên lửa 261 bắn cháy 1 máy bay B52 rơi tại chỗ ở khu vực ga Yên Viên, cách Hà Nội hơn 10 km.

20 giờ 34 phút, bằng cách đánh “mới”, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn tên lửa 257 bắn rơi chiếc B- 52 thứ 2 ở ngoại thành.

20 giờ 29 phút đến 20 giờ 38 phút, 3 Tiểu đoàn tên lửa (78, 79, 94) tập trung hoả lực bắn rơi tại chỗ chiếc B- 52 thứ 3.

Trong đợt chiến đấu này, các đại đội pháo 100ly của dân quân tự vệ Thủ đô đã hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội tên lửa cao xạ 57 mm, 14,5 mm, 12, 7 mm bằng nhiều phương pháp bắn cản (bắn đón), bắn theo tiếng động… bảo vệ vững chắc cho các trận địa tên lửa và các mục tiêu quan trọng khu vực nội, ngoại thành Hà Nội.

Đêm 20 rạng ngày 21 – 12 bộ đội tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội đã thực hiện trận đánh xuất sắc, chỉ 35 quả đạn bắn rơi 7 chiếc B52, có 5 chiếc rơi tại chỗ. Tiêu biểu là trận đánh lúc 5 giờ 2 phút đến 5 giờ 11 phút, các Tiểu đoàn (57, 77, 79) chỉ trong 9 phút với 6 quả đạn đã bắn rơi 4 chiếc B52 (3 chiếc rơi tại chỗ). Riêng Tiểu đoàn 57 với 2 quả đạn cuối cùng trong 2 phút (từ 5 giờ 9 phút đến 5 giờ 11 phút) bắn rơi 2 máy bay B52 (1 chiếc rơi tại chỗ).

Cùng ngày, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp gọi điện thoại xuống các sư đoàn biểu dương bộ đội Phòng không Hà Nội vừa qua đánh tốt, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, của nhân dân. Cuối cùng, Đại tướng nói: ”Cả nước đang hướng về. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ, từng phút, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương theo dõi chặt chẽ cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của Tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không bảo vệ Hà Nội.’

Ngày 21 – 12 – 1972

Tại Thủ đô Hà Nội và thành phố  Hải Phòng chiến sự vẫn diễn ra ác liệt.

Ban ngày, 180 lần chiếc máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ đánh phá các mục tiêu trọng yếu: Ga Hàng Cỏ và Sở công an (Hà Nội), Nhà máy điện Yên Phụ, Bộ Giao thông, cầu Phủ Lý và 6 đợt đánh vào khu vực thị xã Thanh Hóa.

Từ 11 giờ 15 phút đến 12 giờ 24 phút, địch cho 2 lần chiếc máy bay trinh sát Hà Nội, nhằm thăm dò lực lượng của ta và chuẩn bị cho đợt tập kích tiếp theo.

21 giờ 37 phút đêm, rạng sáng 22, địch huy động 24 lần chiếc máy bay B – 52 và 36 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống vào đánh sân bay và bệnh viện Bạch Mai, Giáp Bát, Văn Điển… Ngoài ra, 30 lần chiếc F4, F105 vào đánh phá các khu vực Bắc Giang, ga Kép, sân bay Yên Bái, cảng Hải Phòng, Cát Bi và An Lão (Kiến An).

Phát huy khí thế chiến thắng của 3 ngày đêm trước, quân và dân ta đã bắn rơi 11 máy bay, trong đó bắn rơi tại chỗ 3 B52, 2 F4, 2 A7, 1 F111, 1 A6, 1 RA50, 1 F105..

Ngày 22 – 12 – 1972

2 giờ 38 phút sáng ngày 22 tháng 12, bộ đội ra đa đã phát hiện chính xác các tốp B52 và máy bay chiến thuật Mỹ ở hướng Tây Nam. Lần này địch sử dụng 24 chiếc B52 và 36 máy bay chiến thuật vào đánh phá sân bay, bệnh viện Bạch Mai, ga Giáp Bát, Gia Lâm, Văn Điển… và các trận địa tên lửa, 18 lần chiếc F 111 hoạt động xen kẽ ở độ cao thấp nhằm bất ngờ đánh phá vào các mục tiêu đã trinh sát.

3 giờ 42 phút, các kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 57 bộ đội phòng không Hà Nội đã bình tĩnh, dũng cảm vận dụng kinh nghiệm chiến đấu của các đêm trước, đồng loạt nổ súng bắn rơi tại chỗ 1 máy bay B- 52 ở chợ Bến, Mỹ Đức, Hà Tây. Cùng thời điểm này, Tiểu đoàn 71 bắn rơi tại chỗ 1 máy bay B- 52 ở Thanh Miện, Hải Hưng.

3 giờ 46 phút, Tiểu đoàn tên lửa 93 lại bắn rơi 1 chiếc B52 ở khu vực Quỳnh Côi, Thái Bình.

Ban ngày, 56 lần chiếc máy bay chiến thuật của không quân Mỹ đánh phá các mục tiêu: Ga Kép, thị xã Bắc Giang, thành phố Việt Trì, thị trấn Vĩnh Yên. Ban đêm, 24 lần chiếc B- 52 có 30 chiếc máy bay chiến thuật hộ tống, 9 chiếc F-111 tập trung đánh khu vực Hải Phòng gồm Sở Dầu, Nhà máy Xi măng, khu An Dương, Đông Anh (Hà Nội), Hoà Lạc, Đáp Cầu… Quân và dân ta bắn rơi 5 máy bay, trong đó bắn rơi tại chỗ 3 B52, 1 F4. Ngày 21, 22 tháng 12, tại trận địa Vân Đồn (Hà Nội), các chiến sĩ tự vệ nhà máy Liên Cơ, Hà Nội bằng 19 viên đạn 14,5 ly ngay loạt đạn đầu đã bắn rơi 1 máy bay F 111 “cánh cụp cánh xòe” của Mỹ.

Nhân kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội, 22 tháng 12, Bộ Tổng Tư lệnh gửi thư khen bộ đội tên lửa, cao xạ, không quân, ra đa, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, đồng bào và cán bộ Thủ đô đã chiến đấu giỏi, đánh những trận xuất sắc tiêu diệt nhiều máy bay Mỹ.

Ngày 23 – 12 – 1972

Ban ngày, 54 lần chiếc máy bay chiến thuật của không quân Mỹ đánh phá các khu vực ngoại thành Hà Nội. Mai Dịch, Trạm Trôi, Hoài Đức (Hà Tây). Ban đêm 33 chiếc B-52 đánh Đồng Mỏ (Lạng Sơn) và khu vực Bắc Giang; 30 chiếc máy bay F4 và F105, 11 máy bay F111 đánh vào Yên Viên, Giáp Bát, Đa Phúc và các sân bay Nội Bài, Yên Bái. Hướng biển, có 7 máy bay chiến thuật của Hải quân Mỹ vào đánh Uông Bí, Phà Rừng, Sở Dầu và sân bay Kiến An (Hải Phòng). Ta bắn 4 máy bay trong đó có 2 B- 52, 1 F4, 1 A7. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tuyên dương công trạng quân dân miền Bắc và cán bộ, chiến sĩ thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đặc biệt tuyên dương công trạng của quân và dân Hà Nội chiến đấu oanh liệt, giành thắng lợi to lớn, bắn rơi tại chỗ chiếc B52 .

xác Bên xác máy bay địch.

Ngày 24 – 12 – 1972

Ban ngày, địch huy động 44 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá khu vực Thái Nguyên (Cao Ngạn và dọc đường số 1), Sen Hồ, Việt Yên (Hà Bắc).

Ban đêm, từ 19 giờ 50 phút, địch dùng 33 lần chiếc B- 52 đánh phá ác liệt ga Kép, Bắc Giang, phối hợp với 39 lần chiếc máy bay chiến thuật yểm hộ đánh phá các sân bay Yên Bái, ga Kép và khu vực Vĩnh Tuy (Hà Nội).

Quân và dân miền Bắc chiến đấu giỏi đã bắn rơi 5 chiếc máy bay – trong đó có 1 B- 52, 2 F4, 2 A7. Do bị thất bại nặng nề và lấy cớ nghỉ lễ Nôen, 24 giờ ngày 24 – 12, địch tạm ngừng cuộc tập kích để củng cố lực lượng, ổn định tinh thần bọn giặc lái, rút kinh nghiệm tìm thủ đoạn và cách đánh mới.

Ngày 25 – 12 – 1972

Từ 0 giờ ngày 25 – 12 – 1972, không quân địch ngừng ném bom miền Bắc nhân dịp lễ Noen.

Sáng 25, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân triệu tập Hội nghị quân chính tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu giai đoạn 1 và phổ biến tình hình nhiệm vụ giai đoạn tới.

Qua 7 ngày chiến đấu ngoan cường dũng cảm, bộ đội tên lửa, pháo phòng không hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ cùng bộ đội rađa, không quân và các lực lượng phòng không ba thứ quân đã bắn rơi 53 máy bay địch, có 18 B- 52, 5 F111. Trong đó Quân chủng Phòng không – Không quân bắn rơi 31 chiếc (tên lửa bắn rơi 23 chiếc có 17 chiếc B – 52, không quân bắn rơi 1 chiếc F4, Pháo phòng không bắn rơi 7 chiếc). Lực lượng phòng không, dân quân tự vệ bắn rơi 22 chiếc, trong đó có 4 chiếc F 111 và pháo 100 ly được công nhận bắn rơi 1 chiếc B- 52.

Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương nhận định: Địch sẽ đánh phá trở lại Hà Nội ác liệt hơn, quân và dân Thủ đô Hà Nội cần gấp rút chuẩn bị tốt lực lượng đánh địch trong những ngày tới.

15 giờ 25 phút ngày 25 – 12, Bộ Tổng Tham mưu lệnh cho Quân chủng Phòng không – Không quân từ 19 giờ ngày 25 – 12 – 1972, tất cả bộ đội, vũ khí, khí tài tên lửa phải sẵn sàng chiến đấu 100%.

Bộ đội, ra đa phải phân biệt chính xác mục tiêu thật, giả và thông báo kịp thời B- 52 địch, chú ý máy bay bay thấp.

Các loại pháo, súng máy phòng không tổ chức bố trí đón lõng tập trung đánh tiêu diệt F 111 và bảo vệ tên lửa; pháo 100 milimét tham gia đánh B- 52.

Ngày 26 – 12 – 1972

13 giờ ngày 26, địch sử dụng 56 lần chiếc máy bay cường kích các loại vào ném bom dữ dội các khu vực trận địa tên lửa và trạm biến thế Đông Anh. Tiểu đoàn tên lửa 72, Trung đoàn 285 đã bắn rơi 1 máy bay F4.

Từ 22 giờ 05 phút ngày 26 tháng 12, địch sử dụng 105 lần chiếc B52 và 110 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống đánh ồ ạt, liên tục vào nhiều mục tiêu trên cả 3 khu vực Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên (Mỹ tập trung 66 lần chiếc B52 vào đánh phá Hà Nội, 21 lần chiếc B52 đánh Thái Nguyên và 18 lần chiếc B52 đánh Hải Phòng).

22 giờ 40 phút, máy bay B52 ồ ạt đến ném bom rải thảm dữ dội vào tất cả các mục tiêu nội, ngoại thành Hà Nội. Khu phố Khâm Thiên và Khu Hai Bà Trưng bị tàn phá nặng nề gây khó khăn nhiều nhất cho nhân dân ta.

Từ các trận địa ở khu vực ngoại thành, ba Tiểu đoàn tên lửa (57, 76, 88) đã tập trung bắn rơi 1 máy bay B52. Sau ít phút các Tiểu đoàn (57, 58, 79, 85, 87, 94) lập tức bắn rơi tại chỗ 2 máy bay B52, một chiếc rơi xuống xã Định Công (Thanh Trì).

Với kinh nghiệm dày dạn, các Tiểu đoàn tên lửa Phòng không (59, 93, 78, 79) đã phân tích chính xác mục tiêu B52 trong dải nhiễu, bắn rơi thêm 2 chiếc B52.

Cùng thời gian này tại Hải Phòng, Tiểu đoàn tên lửa 81 đã vận dụng tốt phương pháp điều khiển và bám sát mục tiêu trong dải nhiễu, bắn rơi 1 máy bay B- 52 ngay trên đất cảng. Đại đội 74 pháo 100 milimét, Trung đoàn 252 cũng bắn rơi 1 B52.

Trận chiến đấu đêm 26 tháng 12 diễn ra hơn một giờ, lực lượng phòng không 3 thứ quân của Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên đã đánh một trận tiêu diệt lớn, bắn rơi 8 máy bay B- 52, riêng Hà Nội Bắn rơi 5 chiếc, có 4 chiếc rơi tại chỗ và 10 máy bay chiến thuật khác. Đây là trận đánh then chốt quyết định bắn rơi nhiều máy bay chiến lược B52 nhất trong 9 ngày qua.
Trận đánh làm suy sụp tinh thần và ý chí của Nhà Trắng, Lầu Năm góc và bọn giặc lái Mỹ.

Ngày 27 – 12 – 1972

Sáng ngày 27 tháng 12, địch điên cuồng cho 100 lần chiếc máy bay chiến thuật chia làm 3 đợt đánh phá dữ dội vào các khu vực nội, ngoại thành Hà Nội như nhà máy dệt 8 – 3, ga và kho Văn Điển, cầu Đuống, Gia Lâm, đài phát thanh Mễ Trì, các trận địa tên lửa, rađa… Pháo phòng không các loại của quân dân Thủ đô đã phát huy hoả lực, đánh trả mãnh liệt trên tất cả các hướng. Đại đội 61 Tiểu đoàn 20 bắn rơi 1 máy bay F4. Cùng ngày 27, không quân ta cất cánh hai lần bắn rơi 2 chiếc máy bay F4 của Mỹ.

Từ 19 giờ đến 22 giờ ngày 27 tháng 12, địch tăng cường huy động 36 lần chiếc máy bay B52, có 66 lần chiếc máy bay chiến thuật yểm hộ, tập trung đánh phá các khu vực: Đông Anh, Yên Viên, Bạch Mai, Khuyến Lương, Đa Phúc, Dục Nội, Cổ Loa; Xen kẽ giữa các đợt hoạt động của B52, địch dùng 17 lần chiếc F-111 tiếp tục thay nhau đánh phá, gây nhiều tội ác đối với nhân dân ta.

22 giờ 20 phút ngày 27 tháng 12, Bộ Tư lệnh Không quân cho đồng chí Phạm Tuân lái máy bay MIG- 21 cất cánh bất ngờ từ sân bay Yên Bái được Sở chỉ huy và rađa dẫn đường trực tiếp bảo đảm, vượt qua hàng rào bảo vệ của máy bay F4 tiến về hướng đội hình B52. Đến bầu trời khu vực Mộc Châu Sơn La anh tiếp cận được mục tiêu, công kích bằng 2 quả tên lửa. Một chùm lửa bốc cháy trùm lên chiếc B52 thứ 2. Đây là chiếc B52 đầu tiên bị bộ đội không quân ta bắn rơi trong chiến dịch 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”.

Ngay trong đêm 27 tháng 12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điện khen bộ đội không quân đã lập công xuất sắc, bắn rơi máy bay chiến lược B52 của Mỹ.

23 giờ ngày 27 tháng 12, bộ đội tên lửa bảo vệ Hà Nội đánh trả quyết liệt tốp B- 52. Bằng 32 quả đạn, các đơn vị tên lửa phòng không của ta đã bắn tan xác 4 máy bay B- 52 trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ.

23 giờ 02 phút ngày 27 tháng 12, hai Tiểu đoàn tên lửa (71, 72) bắn tiêu diệt tốp máy bay B- 52 từ hướng Tây lao vào đánh phá Hà Nội. Bằng 2 quả đạn theo phương pháp bám chính xác vào giữa nền dải nhiễu đậm, chiếc B- 52 chưa kịp cắt bom đã bị trúng đạn bốc cháy rơi xuống làng Ngọc Hà, đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội). Đây là chiếc B- 52 duy nhất chưa kịp cắt bom đã bị bắn rơi. Trong đó Tiểu đoàn 59 và Tiểu đoàn 77 cũng bắn rơi 2 chiếc máy bay B- 52 lúc 23 giờ 04 phút và 24 giờ 06 phút ngày 27 tháng 12.

Trong ngày và đêm quân dân miền Bắc đã bắn rơi 14 máy bay trong đó có 5 B- 52 (2 B- 52 rơi tại chỗ), 5 F4, 2 A7, 1 A6, 1 máy bay lên thẳng HH- 53 đến cứu giặc lái.

Ngày 28 – 12 – 1972

Từ 10 giờ đến 17 giờ ngày 28 tháng 12, địch huy động 131 lần chiếc máy bay chiến thuật các loại đánh vào trận địa của bộ đội Phòng không – Không quân ở khu vực nội, ngoại thành. Quân và dân Thủ đô đánh trả quyết liệt. Không quân ta cất cánh đánh một trận xuất sắc bắn rơi 1 máy bay RA- 5C.

Cùng ngày Bộ Tổng Tham mưu thông báo: Tổng thống Mỹ Níchxơn đã phải chấp thuận nối lại các phiên họp Hội nghị Pari. Chính phủ ta chấp nhận.

Tối 28 tháng 12, Trung đoàn 274 được lệnh cơ động tăng cường ra Thủ đô Hà Nội. Những quả đạn tên lửa từ Quân khu 4 được chuyển ra chi viện nhanh chóng cho mặt trận Hà Nội.

Từ 20 giờ đến 22 giờ, địch sử dụng khoảng 60 lần chiếc máy bay chiến lược B- 52 đánh phá khu vực Đông Anh, Đa Phúc, Cầu Đuống, Yên Viên, Gia Lâm.

21 giờ 41 phút, phi công Vũ Xuân Thiều được lệnh của Sở chỉ huy Không quân, lái chiếc máy bay MIG 21 cất cánh từ sân bay Cẩm Thuỷ, do Sở chỉ huy sân bay Thọ Xuân và rađa dẫn đường vòng ra phía sau đội hình B- 52 đuổi địch đến vùng trời Sơn La. Phát hiện được B- 52 bám sát ở cự ly gần, Vũ Xuân Thiều xin công kích, quyết tiêu diệt địch. Sau khi bắn cháy máy bay địch, Vũ Xuân Thiều cũng anh dũng hy sinh.

Trận đánh ngày và đêm 28 tháng 12, quân và dân ta bắn rơi 3 máy bay Mỹ. Trong đó có 2 B- 52, 1 RA- 5C.

Ngày 29 – 12 – 1972

Ban ngày, địch sử dụng 36 chiếc máy bay của không quân chiến thuật Mỹ đánh phá nhà máy điện Cao Ngạn, Đồng Hỷ và khu vực cây số 4 Bắc Thái Nguyên.

23 giờ 16 phút, địch huy động 60 lần chiếc B- 52 đánh vào 3 khu vực: 30 B- 52 đánh khu gang thép Thái Nguyên và khu Trại Cau, 18 B- 52 đánh khu vực Đồng Mỏ (Lạng Sơn), 12 B- 52 đánh Kim Anh (Vĩnh Phú).

Ngoài ra 70 lần chiếc máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ đánh xen kẽ các sân bay Thọ Xuân, Yên Bái, Hoà Lạc, Kép và khu vực Kim Anh (Vĩnh Phúc), Đông Anh (Hà Nội), ngoại vi Thành phố Hải Phòng và Quảng Ninh.

Ta bắn rơi 2 máy bay, trong đó Tiểu đoàn tên lửa 79 bảo vệ Hà Nội chiến đấu anh dũng bắn rơi 1 máy bay B- 52, 1 máy bay F4. đây là trận đánh kết thúc chiến dịch 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” bảo vệ Thủ đô Hà Nội cuối tháng 12 năm 1972.

7 giờ sáng ngày 30  tháng 12, Níchxơn buộc phải ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và họp lại Hội nghị Pari về Việt Nam.

Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B- 52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng kéo dài 12 ngày, đêm đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F-111 và 42 máy bay chiến thuật khác. Tiêu diệt và bắt sống hàng trăm phi công. Thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về mọi mặt trong suốt 8 năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đây là cuộc đọ sức quyết liệt nhất từ trước tới nay. Nghệ thuật tác chiến phòng không hiệp đồng chiến đấu, quân binh chủng của bộ đội ta đã chứng tỏ sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không ba thứ quân mà nòng cốt là bộ đội Phòng không – Không quân.

rong lua“Rồng lửa” SAM trong chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

Với tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường, bất khuất, quân và dân ta đã cùng nhau chiến đấu ngoan cường đập tan cuộc không kích dã man và làm nên chiến thắng lịch sử, làm nên một trận “Điện Biên Phủ trên không ” vang dội năm châu… Bị tổn thất quá nhiều về máy bay chiến lược, không ép được ta bằng thế mạnh, lại bị nhân dân trong nước Mỹ và trên thế giới phản đối kịch liệt, Ních-xơn đã phải ra lệnh chấm dứt không điều kiện cuộc tập kích, phải chịu thua trên bầu trời Hà Nội, để rồi sau đó buộc phải chấp nhận thêm cuộc thua trên bàn đàm phán ở Pa-ri.

Hiệp định Pa-ri đã được ký vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cam kết sẽ không dính líu về quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, cam kết rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ về nước…

“Mỹ cút” tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho quân và dân ta tiến lên đánh cho “ngụy nhào”. Miền Nam nước ta được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất, kết thúc trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng chiến thắng của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa lịch sử; vẫn không phai mờ trong ký ức bao người; vẫn là một trong những chiến công vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiến tranh đã đi vào quá khứ. Mọi mất mát đau thương cũng dần được xoa dịu bởi liều thuốc thời gian. Chúng ta ngày hôm nay nhìn về quá khứ, nhắc về quá khứ không phải để kể về nỗi đau, để ghi nhớ thù hận, mà nhắc về quá khứ để thấu hiểu hơn giá trị của hòa bình, để trân trọng hiện tại hơn, trân trọng hơn những gì mà chúng ta được thừa hưởng từ sự hy sinh xương máu của những thế hệ đi trước. Từ đó các thế hệ của Việt Nam hôm nay và mai sau càng cố gắng hơn để xây dựng Tổ quốc ngày càng văn minh giàu đẹp, xứng đáng với những gì mà cha ông đã tạo dựng lên.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

“Công tử” cũng bị tóm

QĐND – Trong những chiến dịch phá hoại miền Bắc, không quân Mỹ thường sử dụng loại máy bay trinh sát điện tử và gây nhiễu EB66. Phi công và nhân viên quân sự Mỹ khi được “cưỡi” EB66 đi vào dò la bầu trời Việt Nam thường tỏ ra khoái chí. Họ gọi EB66 là “công tử” vì làm nhiệm vụ trên máy bay này khá an toàn với nhiều trang, thiết bị hiện đại. Hoạt động của EB66 gây ra rất nhiều khó khăn cho đối phương. Thời kỳ đầu, bộ đội ta luyện tập rất kỹ nhưng không sao “săn” được EB66.

Chiến sĩ Ngô Xuân Bình, người tham gia diệt chiếc EB66 đầu tiên ngày 4-2-1967 kể: “Hôm đó, chúng tôi phục kích đã 3 ngày mà không phát hiện được EB66. Lại thêm hai chiếc máy bay RF101 của địch bay sát vào trận địa khiến chúng tôi tưởng kế hoạch phục kích bị lộ. Chỉ huy tiểu đoàn nhận định, có thể địch cho RF101 đi thám thính trước khi đưa EB66 vào, nên chúng tôi kiên quyết chờ địch”.

Phi công tù binh Mỹ chơi bi-a tại “khách sạn Hin-tơn” – Hỏa Lò. (Ảnh chụp lại từ Bảo tàng Chiến thắng B-52)

Đến 14 giờ cùng ngày, một tốp máy bay địch xuất hiện. Qua 4 lần mở máy bắt tín hiệu, xác định chiếc thứ 3, bên trái của tốp địch chính là EB66, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Xuân Dương hạ lệnh phóng 3 quả đạn. Ngay quả thứ nhất đã trúng mục tiêu, quả thứ 3 lại bắn trúng khiến chiếc EB66 tan tành giữa bầu trời. Tổ giặc lái có 4 tên thì chỉ có 2 tên sống sót; đó là đại úy Nô-ran Đa-ni-en và đại úy G.Phơ-kin. Cả hai đều bị thương, sau khi được sơ cứu, dẫn giải về Hà Nội, chúng khai với cán bộ hỏi cung của ta là Phan Mạc Lâm: “Ngồi trên EB66, chúng tôi cứ tưởng các ông sẽ không làm gì nổi. Không ngờ bị bắn dữ dội như vậy. Chúng tôi nhảy dù xuống một khu rừng rậm, người bị bỏng, tưởng sẽ chết vì thú dữ. Không ngờ, dù nhảy vào rừng, chúng tôi vẫn bị người dân địa phương phát hiện, vây bắt. Bị bắt nhưng chúng tôi lại thấy may vì người dân đã tha tội chết, lại được sơ cứu và đưa về đây”.

Được ta đối xử nhân đạo, nhiều tên giặc cướp trời về sau tỉnh ngộ, cung cấp cho ta nhiều tin tức có giá trị về các loại máy bay trinh sát điện tử, sự phối hợp tác chiến giữa máy bay trinh sát với các máy bay khác trong từng trận đánh. Nhiều phi công còn thật thà thừa nhận: “Chúng tôi được quan chức quân đội Mỹ nhồi vào sọ tâm lý chủ quan, coi thường hệ thống phòng không của Việt Nam. Bọn họ biết tâm lý đó là không tốt nhưng cũng không thể làm khác, vì có như thế mới “lừa dụ” được phi công mang bom vào hủy diệt Việt Nam”.
Sau chiếc EB66 đầu tiên bị diệt, bộ đội ta, cả phòng không lẫn không quân hiểu rõ hơn tính năng, đặc điểm của loại máy bay này nên số lượng EB66 bị bắn rơi ngày càng nhiều, khiến các phi công Mỹ không tên nào còn tỏ ra “khoái chí” nữa, mỗi khi được phân công lái loại máy bay này đi gây tội ác trên bầu trời miền Bắc.

Bài và ảnh: NGUYỄN HỒNG
qdnd.vn

Những bí ẩn của Chiến tranh không quân Việt Nam trong Chiến dịch Linebacker II năm 1972 (Phần 2)

QĐND – Với không gian thu hẹp của chiến trường Miền Bắc Việt Nam, với gần 4000 máy bay bị tổn thất, có thể nói: Người Mỹ đã thua trên bầu trời Miền Bắc Việt Nam…

Nguyên nhân chết người

Trong cả năm 1972, giữa KQ Mỹ và KQ Việt Nam xảy ra 201 trận không chiến. Phía Việt Nam mất 54 máy bay, trong đó có 36 máy bay MiG 21 và 1 máy bay huấn luyện MiG 21 US. Phía Mỹ thiệt hại 90 máy bay trong đó có 74 máy bay F-4 và 2 máy bay trinh sát RF-4C. Riêng MiG 21 diệt 67 máy bay đối phương.

Kết quả kỳ lạ cuối cùng của người Mỹ trong cuộc chiến tranh KQ ở Việt Nam là máy bay F-4J Phantom II cất cánh từ tầu sân bay Midway, chỉ huy trung úy Victor Covalevski, bằng một tên lửa Sidewinder bắn hạ một máy bay MiG 17; nhưng sau hai ngày, chính chiếc F-4J này cũng bị bắn hạ trên bầu trời Việt Nam; nó cố lết ra biển và rơi, 2 phi công được cứu thoát.

B-52 phơi xác trên đường phố Hà Nội, một trong những tấm ảnh nổi tiếng về trận Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Ảnh tư liệu

Như vậy, tỷ lệ 2/1 gần như được giữ suốt cuộc chiến tranh trên không giữa KQ Mỹ và KQ Việt Nam. Từ góc độ kỹ chiến thuật, có thể nhận thấy rằng: Mặc dù liên tục thay đổi chiến thuật và phương thức tác chiến, vũ khí trang bị, với những phi công dày dạn kinh nghiệm và có số lượng giờ bay hơn rất nhiều lần, nhưng KQ Mỹ không những không thể tiêu diệt được lực lượng không quân Việt Nam, mà còn bị tổn thất nặng nề. Với không gian thu hẹp của chiến trường Miền Bắc Việt Nam, với gần 4000 máy bay bị tổn thất, có thể nói: Người Mỹ đã thua trên bầu trời Miền Bắc Việt Nam.

Phi công Mỹ phải chiến đấu trên 2 mặt trận: Vừa phải chống lại những phi công MiG điêu luyện, vừa phải chống lại những khiếm khuyết kỹ thuật của F-4 nặng nề. Phi công được huấn luyện cho phương thức tác chiến năng động, cơ động, nhưng lại phải điều khiển một máy bay kém cơ động. F-4 chỉ có khả năng né tránh một cuộc công kích, mà không có khả năng phản kích do máy bay MiG 21 nhẹ hơn, góc ngoặt và khả năng tăng tốc cao hơn để chiếm vị trí thuận lợi cho tấn công.

Trong điều kiện hộ tống máy bay ném bom đến mục tiêu cần đánh phá, nhiệm vụ đặt ra đã làm cho F-4 không có khả năng chủ động tác chiến tự do, cơ động và hỗn chiến cùng với máy bay đối phương, mà chỉ có khả năng chống trả và phòng ngự thụ động.

Khi xuất hiện nhóm tiêm kích với những phi công Mỹ có trình độ, tình hình chiến trường có thay đổi, nhưng sức mạnh của tên lửa S-75 và lưới lửa phòng không mặt đất dày đặc đã khóa khả năng tác chiến của những phi công có trình độ chiến thuật cao. Do đó, sự phối hợp giữa đài radar trinh sát dẫn đường, tên lửa phòng không và pháo phòng không với KQ đã tăng khả năng tác chiến của không quân Việt Nam nhiều lần.

Các phi công Việt Nam đã thành công trong việc áp đặt cách đánh đối với phi công Mỹ, thực hiện kế hoạch phục kích và tấn công đẩy không quân Mỹ vào thế phòng thủ bị động, khi chuyển sang tấn công cũng thụ động và kém linh hoạt hơn.

Mặc dù tỷ lệ tổn thất của máy bay Mỹ so với tỷ lệ tổn thất của MiG khá cao (2/1) nhưng rõ ràng khả năng tổn thất của KQ Việt Nam sẽ còn giảm hơn nếu những phi công Việt Nam có số giờ bay cao hơn, kinh nghiệm tác chiến cao hơn và sử dụng triệt để tính năng kỹ chiến thuật của MiG 21.

Bài học kinh nghiệm

Cuộc chiến tranh KQ trên không phận Việt Nam để lại nhiều dấu ấn đặc biệt. Lực lượng không quân còn non trẻ của Việt Nam đã thành công trong việc đối đầu với lực lượng KQ hùng mạnh, dày dạn kinh nghiệm của Mỹ.

Có nhiều vấn đề còn phải bàn cãi, nhưng nếu lực lượng KQ Việt Nam có được sự đầy đủ về vũ khí trang bị và phương tiện chiến tranh, kinh nghiệm tác chiến cũng như thời gian huấn luyện tác chiến, thì tổn thất của người Mỹ trong cuộc không chiến này sẽ không dừng lại ở tỷ lệ 2/1 và chỉ có 2 B-52 bị MiG 21 tiêu diệt trên bầu trời Hà Nội.

Không chiến ở Việt Nam đã khẳng định: Tốc độ, sức cơ động với chiến thuật thông minh, nắm chắc tính năng kỹ chiến thuật của phương tiện, đồng thời với sự chỉ huy năng động, sáng tạo, đồng bộ chặt chẽ từ ban chỉ huy cấp chiến lược, chiến dịch đến sự tuân thủ tuyệt đối của người phi công với người chỉ huy trực tiếp của mình quyết định sự thành bại trên chiến trường.

Sức mạnh của lực lượng KQ trong không chiến phần lớn phụ thuộc vào sự phối kết hợp các phương tiện hỏa lực, phương tiện trinh sát, cảnh báo sớm và khả năng khai thác tuyệt đối tính năng kỹ chiến thuật của phương tiện bay, đồng thời với sự năng động, sáng tạo, trình độ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của phi công trên cánh bay. Phối kết hợp chặt chẽ giữa các thành viên trong đội bay và tuân thủ mệnh lệnh.

Trong chiến tranh hiện đại, những máy bay tiêm kích đa dụng như F16, F18, MiG 29, SU 30MK có rất nhiều điểm mạnh, hệ thống radar công suất lớn, tên lửa không đối không có khả năng tấn công từ tầm rất xa, súng máy rất mạnh, tính cơ động rất cao. Nhưng cuộc không chiến dường như không phải đơn thuần là cuộc đối đầu về kỹ thuật.

Nó còn là cuộc đối đầu về năng lực tác chiến, kỹ năng cơ động tấn công và phòng thủ, đặc biệt là kỹ năng phát hiện mục tiêu trong mọi điều kiện thời tiết, tránh tên lửa không đối không và các kỹ xảo bay phức tạp, cận chiến và thoát hiểm.

Dù chiến tranh đã qua đi 40 năm, nhưng phân tích những bài học kinh nghiệm của các cuộc không chiến, những kỹ năng mà phi công cả hai bên thực hiện trong cuộc đối đầu không cân sức, những chiến thuật mà hai bên thực hiện, những chiến thắng và tổn thất vẫn là bài học quan trọng trong chiến tranh hiện đại.

————

(Hết)

Đại tá, PGS, TS Trần Nam Chuân, Viện CLQP/BQP
qdnd.vn

Theo lời kể của Trung tướng Phạm Tuân – Anh hùng LLVT nhân dân

Những bí ẩn của chiến tranh không quân Việt Nam trong Chiến dịch Linebacker II năm 1972 (Phần 1)

Những bí ẩn của chiến tranh không quân Việt Nam trong Chiến dịch Linebacker II năm 1972 (Phần 1)

QĐND – Một trong những bí ẩn của cuộc chiến tranh cục bộ tại Việt Nam là cuộc đối đầu giữa hai lực lượng, một lực lượng không quân (KQ) hùng mạnh nhất thế giới và một lực lượng KQ sinh ra trong khói lửa chiến tranh. Không nói về những khía cạnh chính trị, bài viết cố giải mã những bí ẩn của cuộc chiến tranh có quá nhiều bí ẩn. Ngay cả với những người trực tiếp cầm cần lái và nhấn nút phóng tên lửa…

Quyết định ném bom miền Bắc lần thứ 2

Ngày 6-5-1971, phi đội F-4 tập kích phi đội MiG-21 đang chuẩn bị tấn công máy bay cường kích A-7, một chiếc MiG-21 bị trúng tên lửa. Cũng trong ngày hôm đó, một phi đoàn F-4 không chiến với phi đội 4 chiếc MiG-21. Một chiếc MiG-21 bị tấn công bởi 6 quả tên lửa, nhưng phi công tránh thoát, sau đó anh quay lại tham chiến và bị tấn công thêm 3 quả tên lửa, máy bay bị thương nặng, nhưng phi công nhảy dù được.

Các phi công và máy bay tiêm kích MiG-17 sẵn sàng tham gia chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu

Ngày 8-5-1971, KQ Mỹ bắt đầu chiến dịch Linebacker I, kéo dài đến 23-10-1971. Trận đánh lớn nhất của KQ Việt Nam là ngày 10-5-1971 khi KQ Việt Nam thực hiện 64 lần xuất kích, triển khai 15 trận đánh và bắn rơi 7 máy bay F-4. Ngược lại, KQ Việt Nam cũng mất 2 MiG-21, 2 MiG-17 và 1 J-6.

Trong một trận không chiến vào ngày 10-5-1971, Phi đoàn MiG-17 xuất kích để giải tỏa một sân bay quân sự đang bị không kích. MiG-17 bí mật bay với độ cao thấp, ẩn nấp theo địa hình tiếp cận đối phương và ngay trong lần cận chiến đầu tiên bắn hạ một máy bay F-4. Phi đội 2 MiG-17 quần chiến với 4 máy bay F-4 và bị bắn hạ một chiếc. Nhưng khi F-4 và MiG-17 lăn xả vào vòng xoáy truy đuổi nhau thì từ sân bay đang bị phong tỏa xuất kích hai MiG-21, nhanh chóng chiếm độ cao, ở khoảng cách 2km, MiG-21 phóng R-3S bắn hạ 2 F-4 với 2 tên lửa.

Ngày 11-5-1971 hai máy bay MiG-21 bay làm mồi nhử kéo 4 chiếc F-4 vào ổ phục kích của 2 chiếc MiG-21 bay ở độ cao thấp, MiG triển khai tấn công và bằng 3 tên lửa tiêu diệt 2 máy bay F-4.

Ngày 13-6-1971, một phi đoàn MiG-21 đánh chặn một nhóm F-4 Phantom II. Lao vào giữa đội hình, 2 máy bay MiG-21 đã làm đội hình chiến đấu của F-4 tan vỡ, các máy bay Phantom hoảng loạn cơ động. Hai máy bay MiG còn lại phóng tên lửa hạ 2 chiếc F-4.

Ngày 18-5-1971, KQ Việt Nam đã 26 lần xuất kích và triển khai 8 trận đánh, bắn rơi 4 máy bay F-4, phía Việt Nam không có tổn thất. Trong một trận đánh cùng ngày, 2 máy bay MiG-21 đánh chặn một phi đội F-4, chỉ huy trưởng phi đội, đại úy Ngự khi quay nửa vòng xoáy đã phóng tên lửa tiêu diệt một F-4.

Mùa hè năm 1972, tần suất hoạt động của KQ Mỹ giảm xuống. Ngày 12-6-1972, phi đoàn máy bay Phantom đụng độ với 2 máy bay MiG-21 và bị rơi một chiếc, ngày tiếp sau lại có hai cuộc không chiến giữa F-4 và MiG-21, KQ Mỹ mất thêm 2 chiếc F-4 nữa. Phía Việt Nam không có tổn thất.

Như vậy, mùa xuân và mùa hè năm 1972, có 360 máy bay Mỹ tham chiến trên chiến trường miền Bắc và 96 máy bay của KQ hải quân Mỹ, đại đa số là máy bay F-4 mẫu nâng cấp cuối cùng. Chống lại khối lượng vũ khí khổng lồ này là 187 máy bay KQ Việt Nam MiG-17, MiG-21 và J-6. Trong số đó chỉ có 71 máy bay có khả năng tác chiến, trong đó có 31 MiG-21.

Bắt đầu Linebacker II

Vào tháng 12-1972, KQ Mỹ tiến hành chiến dịch Linebacker II tấn công ồ ạt trên toàn bộ miền Bắc, tập trung vào các thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố khác, nhằm mục đích đạt được mục tiêu chính trị trên bàn hội nghị Pa-ri. Để đạt được mục tiêu tàn phá các trung tâm kinh tế, quân sự của miền Bắc Việt Nam, KQ Mỹ đã sử dụng hầu hết máy bay chiến lược B-52 ở châu Á-Thái Bình Dương.

Kế hoạch chuẩn bị một chiến dịch lớn với số lượng máy bay khổng lồ không giữ được bí mật, lực lượng Phòng không – Không quân Việt Nam đã chuẩn bị cho KQ Mỹ một đòn đánh quyết liệt. Các máy bay MiG-21 đã được cất giấu trong những sân bay dã chiến và được ngụy trang kỹ càng, sẵn sàng xuất kích nhờ bộ hỗ trợ tăng tốc bằng thuốc phóng.

Tháng 9-1972, duy nhất có một trận không chiến có sự tham gia của cố vấn quân sự, phi công Xô-viết. Trên máy bay MiG-21US huấn luyện 2 chỗ ngồi không được trang bị vũ khí, phi công tiêm kích Việt Nam và cố vấn quân sự Xô-viết thực hiện chuyến bay huấn luyện thường xuyên.

Ở tầm xa 8km cách sân bay họ nhận được thông báo về một tốp F-4 đang tiếp cận ở độ cao thấp. Lúc đó MiG-21US còn lại 800 lít dầu. Thực hiện kỹ thuật thùng trượt, đội bay thoát khỏi đòn tấn công tên lửa thứ nhất, sau đó F-4 liên tục tấn công bằng tên lửa 2 lần liên tiếp, nhưng MiG-21US với kỹ thuật xoáy vít đã thoát khỏi, tên lửa bay trượt mục tiêu, lần thứ 3 F-4 lại tiếp tục tấn công và cũng không thu được kết quả.

Nhưng những lần cơ động đó đã tiêu hao toàn bộ lượng dầu còn lại của MiG-21US. Quyết định thông minh cuối cùng là nhảy dù, khi MiG-21US lấy độ cao thì động cơ chết máy, 2 phi công bung dù khi chiếc MiG-21US anh dũng trúng tên lửa trong lần tấn công thứ 4. Đội bay Việt-Xô tiếp đất an toàn.

Trong 8 trận không chiến của 12 ngày chiến dịch Linebacker II, người Mỹ đã triệt để sử dụng kỹ thuật gây nhiễu tích cực; kỹ thuật này đã gây rất nhiều khó khăn cho các phi công MiG-21, do không ít lần trên màn hình ra-đa vũ khí của MiG-21 hoàn toàn bị tín hiệu nhiễu phủ kín, các phi công Việt Nam phải bắn bằng kính ngắm thường và sử dụng tên lửa tự dẫn hồng ngoại, nhưng khi sử dụng tên lửa tự dẫn hồng ngoại, tầm bắn bị giảm sút và khoảng cách phóng cũng không chính xác.

Đây cũng là điểm yếu nhất của MiG-21 về ra-đa bám và theo dõi mục tiêu. Dù vậy, trong 8 trận không chiến, KQ Mỹ cũng bị mất 7 máy bay, trong đó có 4 máy bay F-4; đồng thời KQ Việt Nam cũng mất 3 chiếc MiG-21. Dù với lực lượng phi công đã được huấn luyện kỹ về các chiến thuật chống MiG-21, cùng với chiến thuật áp dụng nhiễu dày đặc và bay đêm, người Mỹ vẫn bị tổn thất nặng nề.

Để phục vụ cho mục tiêu chiến lược, biết được tâm lý sợ MiG-21 và tên lửa SAM S75 của phi công Mỹ, các máy bay MiG-21 thực hiện chiến thuật không tham gia vào không chiến tay đôi. Các máy bay MiG được lệnh đánh chặn từ xa, bất ngờ tấn công phóng tên lửa phá đội hình đối phương (không cần kết quả) sau đó thoát ly chiến trường và trở về sân bay, buộc các máy bay tiêm kích ném bom nặng nề F-4 phải hạ độ cao làm mồi cho hỏa lực phòng không dày đặc trên mặt đất. Mặc dù áp dụng chiến thuật như vậy, nhưng MiG-21 vẫn chiếm ưu thế về tốc độ và khả năng cơ động trong những tầm bay trung bình và thấp trước F-4E và F-4J.

Ngày 22-12-1972, đánh chặn cuộc tấn công của máy bay Mỹ, phi đội 2 chiếc MiG-21 cất cánh, trong không chiến, một MiG bị bắn hạ. Ngày 23-12-1972, phi đội 4 chiếc MiG-21 cất cánh và bắn hạ một máy bay F-4. Ngày 27-12-1972, phi đội MiG-21 lại cất cánh và không chiến với phi đoàn F-4, 2 F4 bị bắn rơi. Cùng ngày, 2 máy bay MiG-21 trực chiến trên sân bay Nội Bài, theo thông báo của ra-đa mặt đất phát hiện một phi đoàn F-4. MiG-21 bay ở độ cao thấp 300m so với mặt đất, bí mật tiếp cận mục tiêu, tăng tốc và lấy độ cao.

Mục tiêu được phát hiện bằng mắt thường ở khoảng cách 8km; sau khi xin lệnh tấn công, MiG-21 bất ngờ tiếp cận mục tiêu, F-4 không kịp triển khai đội hình phòng thủ, MiG-21 đã áp sát và phóng tên lửa diệt một máy bay F-4. Chỉ huy đội bay khi quay về phát hiện thêm 2 F-4 đang bám phi công số 2, bằng một kỹ thuật cơ động điêu luyện, số 1 đã phá đội hình đối phương, cắt số 2 khỏi tốp F-4.

Vòng xoáy hỗn chiến xảy ra giữa từng đôi MiG và Phantom II. Kết quả, số 1 thoát khỏi truy đuổi của F-4 hạ cánh an toàn, số 2 khi thực hiện xoáy trôn ốc lên cao đã bắn hạ thêm một F-4, nhưng máy bay cũng bị thương nặng do tên lửa Sidewinder nổ gần với ống xả phản lực. Phi công Việt Nam nhảy dù an toàn.

Trong đợt không kích của B-52, do sợ MiG-21 tấn công, F-4 đã đóng vai trò mục tiêu giả và phục kích, phi đội F-4 bay với tốc độ hành trình và đội hình đi sát với nhau. Trên màn hình ra-đa, mục tiêu tương tự như mục tiêu B-52, khi MiG tấn công, F-4 sẽ bay tản ra, cơ động tấn công MiG.

Trong các tài liệu của KQ Việt Nam không có nguồn tài liệu nào ghi lại một trận đánh như vậy. Nhưng 2 máy bay B-52 đã bị MiG-21 bắn hạ, một chiếc bị phi công anh hùng Phạm Tuân bắn hạ ở tầm bắn 2000m, một chiếc bị phi công anh hùng Vũ Xuân Thiều bắn trong tầm bắn gần, máy bay đã lao vào điểm nổ. Anh hùng phi công Vũ Xuân Thiều hy sinh.

………….

(Còn nữa)

Đại tá, PGS, TS Trần Nam Chuân Viện CLQP/BQP
qdnd.vn

Theo lời kể của Trung tướng Phạm Tuân – Anh hùng LLVT nhân dân

Lòng nhân đạo của người Việt Nam

QĐND – Trong số hàng trăm phi công Mỹ bị bắn rơi, đưa về nhà giam Hỏa Lò những năm kháng chiến chống Mỹ, có hàng chục người thuộc dòng dõi thượng lưu ở nước Mỹ. Ở trong “khách sạn Hin-tơn” (cách gọi của tù binh Mỹ về trại giam Hỏa Lò), những “thiếu gia” này được đối xử nhân đạo và bình đẳng như những tù binh khác. Sau khi được trao trả, đã có người “đổi giọng”, nhưng phần đông tù binh Mỹ đều khẳng định và thừa nhận chính sách nhân đạo của Việt Nam.

Trong số những “thiếu gia” ngày ấy, nổi tiếng nhất có lẽ là phi công Giôn Mắc-kên. Ông nội của Giôn Mắc-kên là đô đốc, tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, từng là đại diện cho Hoa Kỳ chứng kiến lễ ký kết việc đầu hàng vô điều kiện của Nhật hoàng với quân đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Tiếp sau đó, bố của Giôn Mắc-kên cũng làm tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương.

Tiếp nối sự nghiệp của cha ông, ngày 26-10-1967, thiếu tá, phi công Giôn Mắc-kên lái chiếc máy bay A4-C ném bom miền Bắc Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của viên phi công này là ném bom Nhà máy điện Yên Phụ-nguồn cung cấp điện cho Thủ đô Hà Nội. Thật không may cho Giôn Mắc-kên, chiếc máy bay do ông ta điều khiển bị tên lửa của Tiểu đoàn 61 thuộc Trung đoàn 236 bắn hạ, bốc cháy, đâm xuống khu xỉ than của Nhà máy điện Yên Phụ. Giôn Mắc-kên kịp nhảy dù, rơi xuống hồ Trúc Bạch. Ông ta bị chấn thương nặng, chân tay gẫy nát, mê man bất tỉnh. Giôn Mắc-kên được những chiến sĩ tự vệ Hà Nội cứu vớt và kịp thời đưa đến Viện Quân y 108 chữa trị. Tại đây, ông được các bác sĩ Viện Quân y 108 hết lòng cứu chữa. Tuy nhiên, khi tỉnh dậy, ông ta vẫn tỏ ra khá kiêu ngạo. Bỏ qua sự kiêu căng của viên phi công Mỹ, các thầy thuốc Viện Quân y 108 vẫn hết lòng chữa trị, băng bó vết thương và dành khẩu phần ăn tốt nhất để Giôn Mắc-kên nhanh chóng hồi phục sức khỏe.

Tù binh phi công được Việt Nam trao trả cho phía Mỹ năm 1973 tại sân bay Gia Lâm. (Ảnh chụp lại từ Bảo tàng Chiến thắng B-52).

Nhà văn Nguyễn Tuân, đến gặp Giôn Mắc-kên khi ông ta đã khỏe mạnh, liền hỏi: “Thế cái nhà máy điện của chúng tôi cũng là mục tiêu quân sự hả ông?”. Giôn Mắc-kên không biết trả lời ra sao. Sau đó, ông ta thừa nhận đã vào ném bom miền Bắc 23 lần và cho biết, phi công Mỹ đã đánh bom Nhà máy điện Yên Phụ nhiều lần nhưng Hà Nội thì vẫn sáng đèn. Được đối xử nhân đạo, ông ta dần thay đổi thái độ, nhiều lần bày tỏ “chỉ mong chiến tranh sớm kết thúc để tôi được tha về. Bố tôi cũng không cứu được tôi. Tổng thống cũng không cứu được tôi”.

Giôn Mắc-kên được trả tự do tháng 3-1973, trở về nước tham gia hoạt động chính trị, trở thành Thượng nghị sĩ của nước Mỹ. Ông đã tham gia thúc đẩy mối quan hệ Việt-Mỹ nhưng đến năm 2008, khi ra tranh cử chức Tổng thống Mỹ, Giôn Mắc-kên vẫn có những đánh giá thiếu chính xác về thời gian “nghỉ dưỡng” ở “khách sạn Hin-tơn”. Ông Trần Trọng Duyệt, Trại trưởng Trại giam Hỏa Lò thời kỳ Giôn Mắc-kên làm “khách” ở đây, đã trả lời các tờ báo nước ngoài rằng: “Ông Giôn Mắc-kên đã nói dối khi nói rằng bị đánh đập. Chắc ông ấy làm thế để mong tăng điểm trong mắt cử tri Mỹ. Chúng tôi vẫn tha thứ cho Giôn, vẫn coi ông ấy là bạn, để khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”.

Bên cạnh Giôn Mắc-kên, “khách sạn Hin-tơn” còn đón nhiều “thiếu gia” khác như: Thiếu tá, phi công Pi-tơ Sốp-phen, lái máy bay A4, bị bắn rơi tại Hải Phòng ngày 4-10-1967, con của trung tướng hải quân Man-côn Phăng-xin Sốp-phen. Phi công Lan-ri Đô-nan Prai-xơ, bị bắn rơi đầu năm 1972, con của thiếu tướng không quân Oan-ran Prai-xơ. Thiếu tá, phi công Ti-ô-đô Oa-lê-xơ Tri-ben, bị bắn rơi tại Ninh Bình tháng 8-1972, con của trung tướng hải quân Ốt-tô Tri-ben… Những vị “thiếu gia” này, khi bị bắt đều “xin” được đi họp báo. Lúc đó, cán bộ trại giam đều tự hỏi: “Vì sao những phi công Mỹ không cảm thấy xấu hổ mà lại thích đi họp báo?”. Qua các “thiếu gia”, phía ta mới biết, họ thích đi họp báo vì như vậy sẽ được các nhà báo quốc tế đang tác nghiệp tại Hà Nội quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn và truyền về nước Mỹ. Chỉ có cách ấy, gia đình mới biết và yên tâm là “công tử” nhà mình còn sống và khi Việt Nam ca khúc khải hoàn thì nhất định con em họ sẽ được trao trả.

Có một “thiếu gia” khá nổi tiếng, về sau đã góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Mỹ là Pê-tơ-sơn, Đại sứ đầu tiên của nước Mỹ tại Việt Nam sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ năm 1995. Pê-tơ-sơn là người gốc Thụy Sĩ, lái F4 vào đánh phá cầu Phú Lương và cầu Lai Vu đêm 10-9-1966 nhưng bị bắn rơi, nhảy dù xuống thôn An Đoài, xã An Bình, Nam Sách (Hải Dương). Hồi tưởng về lần bị bắn rơi, Pê-tơ-sơn đã thành thật nói: “Lúc bị người dân Việt Nam bắt, rất có thể tôi đã bị giết chết, rất may đã có người ngăn lại và tôi vô cùng biết ơn điều đó”.

Trong số những phi công Mỹ bị bắn rơi, sau khi vào “khách sạn Hin-tơn” đã thành khẩn nhận ra tội lỗi của mình, có Nô-rít Sác. Anh này bị bắn rơi ngày 30-12-1971 và là một trong 3 phi công được trả tự do ngay từ tháng 9-1972. Về nước, Sác đã nói lên sự thật, viết hồi ký “Những ngày trong trại giam” do nhà báo S.Giê-phơ ghi lại, có đoạn: “Đêm đó, tôi phát hiện một trong những điều quan trọng nhất của đời tù binh: Mỗi năm được 6 bữa ăn thịnh soạn vào những dịp lễ tết của Việt Nam… Không phải thường xuyên nhưng chúng tôi có sách để đọc. Tôi được đọc một lô sách nói về chiến tranh có tác giả Mỹ viết… Một ngày hè rất nóng, người gác tù đi ra thành phố. Khi trở về trại, anh ta đem theo một ít chanh và làm nước chanh cho chúng tôi. Chúng tôi nghĩ rằng, đó là một trong những điều vĩ đại nhất trên thế giới. Nó biểu thị cho chúng tôi thấy lòng nhân đạo của người Việt Nam. Đối với chúng tôi, chẳng có thù ghét gì giữa tù nhân với người gác”.

Bài và ảnh: HỒNG HẢI
qdnd.vn

Dưới làn bom dòng điện Yên Phụ vẫn sáng

Có thể bạn chưa biết:

QĐND – Nhà máy Điện Yên Phụ được người Pháp khởi công xây dựng năm 1925 và hoàn thành năm 1932. Sau năm 1954, Nhà máy là nơi sản xuất điện phục vụ cho thành phố Hà Nội và một số tỉnh lân cận. Trong thời gian leo thang đánh phá miền Bắc, Nhà máy là một trong những mục tiêu đánh phá hàng đầu của không quân Mỹ. Từ ngày 19-5-1967 tới ngày 21-12-1972, Đế quốc Mỹ đã có 6 trận ném bom đánh phá Nhà máy điện Yên Phụ.

Ngày 21-12-1972, sau trận đánh phá ác liệt của Đế quốc Mỹ, Nhà máy bị thiệt hại nặng nề, hoạt động cung cấp điện phải dừng lại. Tuy nhiên, cán bộ, công nhân viên và lực lượng tự vệ vẫn quyết tâm bám trụ; không có ai rời vị trí sản xuất và chiến đấu.

Ngay sau đó, Nhà máy đã có phương án phục hồi khẩn cấp, trước hết là lấy điện từ lưới đưa về. Đúng tối 25-12, ngày lễ Giáng sinh, thủ đô Hà Nội lại rực sáng ánh điện như không hề có bom đạn hủy diệt của Mỹ. Và chỉ một tuần sau nhà máy đã khôi phục xong các thiết bị chính, ba tuần sau nữa đã khôi phục xong một số lò hơi chủ lực… Mọi sinh hoạt đã nhanh chóng trở lại bình thường. Ngày 30-12-1972, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam rộn rã đưa tin chiến thắng Đế quốc Mỹ của quân dân thủ đô Hà Nội. Trong chiến công vang dội đó, có công sức của cán bộ, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ. Đầu năm 1973, Nhà máy đã được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất.

Vào khoảng năm 1984, Nhà máy không phát điện nữa và chuyển thành Xưởng phát bù và đến năm 1988 thì thôi hẳn. Hiện nay, Nhà máy đã được phá dỡ. Trên khu đất đứng chân Nhà máy đã được sử dụng xây Tòa nhà EVN – Trụ sở làm việc của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

ĐỒNG SƠN (tổng hợp)
qdnd.vn

Bệnh viện Bạch Mai ngày ấy – bây giờ

QĐND – Trong 12 ngày đêm của 40 năm trước, cơ sở y tế lớn nhất miền Bắc (Bệnh viện Bạch Mai) đã liên tục hứng chịu những trái bom tàn bạo của máy bay Mỹ. Trận ném bom ngày 22-12-1972 diễn ra khi bệnh viện đang có hơn 300 bệnh nhân nằm điều trị dưới hầm. Nhiều khu nhà làm việc và phòng bệnh bị sập đã lấp kín một số hầm, 28 người bị tử nạn… Thời gian đã xoa dịu nỗi đau chiến tranh, các thế hệ thầy thuốc, nhân viên Bệnh viện Bạch Mai đã vượt qua gian khó, hy sinh, tiếp tục phấn đấu vươn lên để khẳng định vị thế bệnh viện loại đặc biệt của quốc gia như ngày hôm nay…

Bệnh viện Bạch Mai khang trang ngày hôm nay. Ảnh: Minh Mạnh

Vừa tránh bom, vừa cứu người

Từ đầu năm 1972, Bệnh viện Bạch Mai đã đưa hàng trăm bệnh nhân đến nơi sơ tán an toàn, chỉ còn để ở Hà Nội khoảng 300 giường bệnh. Do có hệ thống đường hầm kiên cố, nên các phòng mổ, phòng đẻ, phòng xét nghiệm… và một số giường của bệnh nhân đều để ở dưới hầm. Khi có báo động, mọi bệnh nhân và bác sĩ, y tá, hộ lý vẫn có thể làm việc, điều trị được. Lãnh đạo thành phố Hà Nội phân công bệnh viện có nhiệm vụ cấp cứu người bị thương ở khu vực phía Nam thành phố. Nhiều khi đang còn báo động, nhưng có điện thoại gọi xe cấp cứu đến những nơi bị địch bắn phá, các thầy thuốc lại lên đường, tiến hành sơ cứu tại chỗ rồi đưa bệnh nhân về bệnh viện cứu chữa. Bệnh viện đã nhanh chóng chuyển hoạt động từ hoàn cảnh hòa bình sang hoàn cảnh chiến tranh với hai nhiệm vụ: Vừa khám, điều trị bệnh nhân, tiếp tục đào tạo, nghiên cứu khoa học, đồng thời vừa sẵn sàng cấp cứu có hiệu quả nhiều bộ đội và nhân dân bị thương do máy bay Mỹ ném bom, bắn phá.

Ngoài trận ném bom ngày 22-12-1972 làm 28 người tử nạn (chủ yếu là các thầy thuốc), sáng 27-12-1972, trong lúc nhiều tốp máy bay phản lực đánh phá Thủ đô, chúng đã bắn một quả tên lửa và ném một quả bom cỡ lớn vào giữa khu vực trung tâm của bệnh viện, phá hủy Phòng Điều trị bệnh tim-mạch, bệnh tiêu hóa, bệnh hô hấp, bệnh thận, Phòng Hậu phẫu, Khoa Sản – Phụ, Phòng đẻ, Phòng mổ, Phòng Điều trị trẻ em… Khoa Dược bị tàn phá nghiêm trọng, khoảng 3000 chai huyết thanh, rất nhiều loại thuốc quý và máy móc, dụng cụ y tế… bị vỡ, nát, cháy, hỏng. Một bác sĩ và một công nhân đã hy sinh… Cho đến tận ngày 27-1-1973, khi Hiệp định Pa-ri đuợc ký kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc, các bộ phận ở nơi sơ tán của Bệnh viện Bạch Mai mới được lệnh chuyển tất cả phương tiện, máy móc trở về Hà Nội, từng bước ổn định mọi công việc hoạt động bình thường. Năm 1974, Bệnh viện Bạch Mai được sửa chữa và xây dựng lại.

Xứng đáng niềm tin

Từ một cơ sở khám chữa bệnh truyền nhiễm nhỏ bé mang tên “Nhà thương Cống Vọng” được thành lập năm 1911, Bệnh viện Bạch Mai trải qua những bước thăng trầm trong nhiều giai đoạn phát triển, đã từng bước lớn mạnh và trở thành bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh hạng đặc biệt đầu tiên của Việt Nam. Đây cũng là cơ sở thực hành chủ yếu của Trường Đại học Y Hà Nội. Hiện, bệnh viện gồm có 2 viện, 7 trung tâm, 22 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng, 9 phòng, ban chức năng, 1 trường trung học y tế. Về quy mô, bệnh viện có 1.400 giường bệnh với tổng số hơn 2000 cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên (bao gồm 1.800 thuộc biên chế và hợp đồng của Bệnh viện và 200 người của Trường Đại học Y Hà Nội thường xuyên công tác).

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai khẳng định, với bề dày lịch sử hơn một thế kỷ, Bệnh viện luôn phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, phấn đấu vì sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân. Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, Bệnh viện đã có những bước trưởng thành vượt bậc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Hằng năm, số lượng bệnh nhân đến khám là từ 350.000 đến 450.000 người, số bệnh nhân điều trị nội trú trung bình từ 50.000 đến 60.000 người…

Cần nói rằng, những năm qua, nhiều kỹ thuật tiên tiến hiện đại được ứng dụng có hiệu quả trong chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh, điển hình như kỹ thuật sử dụng máy X-Quang tăng sáng truyền hình, chụp mạch 2 bình diện, chụp cắt lớp vi tính CT Scanner, siêu âm Doppler màu… sử dụng kỹ thuật nong mạch vành có giá đỡ, nong van tim, mổ tim hở, điều trị ung thư gan bằng đốt nhiệt sóng cao tần, bằng phương pháp nút mạch, kỹ thuật hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán mô tế bào học, kỹ thuật lọc máu… Tại bệnh viện đã có gần 100 kỹ thuật cao được áp dụng, góp phần chẩn đoán chính xác, điều trị hiệu quả, cứu sống nhiều bệnh nhân hiểm nghèo, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Để ghi nhận những đóng góp to lớn của Bệnh viện Bạch Mai trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Lao động hạng nhất, Danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, Danh hiệu Anh hùng Lao động…

HOÀNG TRƯỜNG GIANG
qdnd.vn

Vừa đánh, vừa rút kinh nghiệm

QĐND – Kíp chiến đấu của Tiểu đoàn tên lửa 78, đêm đầu tiên bắn không trúng máy bay B-52, nhưng “người trong cuộc” đã nhận ra đặc điểm của nhiễu B-52 khác hẳn các máy bay khác, nhất là những máy bay chiến thuật giả tín hiệu B-52. Về cách đánh, bộ đội Tên lửa cũng nhận ra một điều, đánh máy bay B-52 trong nhiễu, khi không nhìn thấy “nó” thì phải chọn phương pháp điều khiển phù hợp.

Đêm 20-12-1972, sau hai ngày “bắn trượt”, nhờ rút kinh nghiệm kịp thời, Tiểu đoàn 78 đã bắn hạ chiếc B-52 đầu tiên cho đơn vị. Các trắc thủ sau khi “cọ sát” với nhiễu B-52 đã nhận biết được “địch” bằng quan sát trực tiếp, bằng phân tích, loại suy và bằng các thao tác cụ thể, chọn phương pháp bắn tối ưu.

Trong lý thuyết chiến đấu của hầu hết các khí tài phòng không điện tử, thì hiệu quả trúng mục tiêu cao hay thấp, ngoài việc phụ thuộc vào tham số kỹ thuật của khí tài, vào phương pháp xạ kích, còn có một yếu tố rất quan trọng nữa là trình độ thành thục trong thao tác của nhân viên. Điều này hội tụ đủ trong các kíp chiến đấu của lực lượng tên lửa phòng không của ta. Chọn được đội hình kíp chiến đấu giỏi, ăn ý, dũng cảm, sáng tạo trong trực chiến đánh máy bay B-52 tại mỗi tiểu đoàn hỏa lực tên lửa tháng 12-1972 là một yếu tố mang tính thực tiễn sống động.

TRẦN DANH BẢNG
qdnd.vn

“Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 – Đòn đánh cuối cùng buộc Mỹ ký Hiệp định Pa-ri

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND -Bước sang năm 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam có bước phát triển mới. Ở miền Nam, với cuộc tiến công chiến lược trên 3 hướng chiến trường trọng điểm Trị – Thiên, Bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, quân và dân ta đã tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, giải phóng cơ bản tỉnh Quảng Trị và giành quyền làm chủ nhiều địa bàn quan trọng khác, đẩy chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ đến bờ vực phá sản. Ở miền Bắc, quân và dân ta vẫn vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ. Trong khi đó, ở trong lòng nước Mỹ, số nghị sĩ Thượng viện và Hạ viện chống chính sách can thiệp vào chiến tranh của chính quyền Ních-xơn ngày càng tăng; phong trào xuống đường biểu tình đòi chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, rút hết quân viễn chinh Mỹ và đồng minh của Mỹ về nước thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, nhất là các cựu chiến binh Mỹ. Đồng thời, nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới cũng kịch liệt lên án cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ.

Trước sức ép từ nhiều phía, ngày 8-10-1972, Ních-xơn tuyên bố nối lại các cuộc thương lượng với Chính phủ ta ở Pa-ri; thông qua dự thảo hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và thống nhất thời gian ký tắt và ký chính thức hiệp định. Tuy nhiên, những hành động “mềm mỏng” và “thiện chí” của Mỹ chỉ nhằm đánh lừa dư luận, tạo điều kiện cho Ních-xơn giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ (11-1972), còn bản chất ngoan cố và hiếu chiến thì không thay đổi. Thực tế là, ngay sau khi trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ II, chính quyền Ních-xơn tìm mọi cách trì hoãn việc ký kết hiệp định; mặt khác, khẩn trương lập cầu hàng không, ồ ạt đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh và đốc thúc quân đội Sài Gòn đẩy mạnh các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta.

Đối với miền Bắc, Mỹ tập trung lực lượng không quân và hải quân đánh phá dữ dội các tuyến giao thông trên địa bàn Quân khu 4 hòng ngăn chặn chi viện nhân lực, vật lực của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Thâm hiểm hơn, chính quyền Ních-xơn khẩn trương tiến hành chính sách ngoại giao nước lớn nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Cùng với những âm mưu và hành động xảo quyệt trên, Lầu Năm Góc đã bí mật chuẩn bị kế hoạch tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu quan trọng trên miền Bắc mang mật danh Lai-nơ-bếch-cơ II nhằm khủng bố tinh thần, làm tê liệt ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta, tạo áp lực buộc ta phải khuất phục. Theo đó, tại bàn đàm phán Pa-ri, phái đoàn Mỹ đã lật lọng, yêu cầu phái đoàn ta phải sửa đổi những điều rất cơ bản trong Hiệp định theo hướng có lợi cho chúng. Thực chất đây chỉ là cớ để Mỹ dừng cuộc đàm phán, chuyển sang thực hiện một “đòn quân sự quyết định” để có thể “nhanh chóng buộc Chính phủ Việt Nam phải trở lại Hội nghị Pa-ri, chấp nhận các đòi hỏi của Mỹ”(1).

Như vậy, cuộc tập kích của không quân chiến lược Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi trên miền Bắc tháng 12-1972 hoàn toàn nằm trong sự tính toán kỹ lưỡng của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, bất chấp sự phản đối, lên án mạnh mẽ của dư luận trong và ngoài nước. Đó là nỗ lực cuối cùng, phản ánh sự bất lực của đế quốc Mỹ trong cuộc đấu trí, đấu lực với nhân dân Việt Nam, đúng như sử gia Mỹ Gabriel Kolko đã nhận xét: “Điều duy nhất mà Nhà Trắng đã làm là tỏ ra có đầy đủ khả năng để dùng sức mạnh không quân hòng ép buộc một hiệp định hòa bình”(2).

Về phía ta, nhờ theo dõi sát diễn biến tình hình, Trung ương Đảng đã sớm nắm bắt âm mưu và hành động phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, đặc biệt là đối với thủ đô Hà Nội. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán ngay từ cuối năm 1967: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống, càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ chuẩn bị. Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”(3).

Đúng như dự đoán của ta, trong 12 ngày đêm (từ 18-12 đến 29-12-1972), chính quyền Ních-xơn huy động một lực lượng không quân chiến lược khổng lồ, với gần 200 máy bay B-52 (gần 100% số B-52 ở Đông Nam Á, 50% số B-52 của quân đội Mỹ), 30 máy bay F.111 “cánh cụp cánh xòe” và toàn bộ máy bay tiêm kích ở Đông Nam Á (hơn 1000 chiếc), 6 liên đội tàu sân bay, 50 máy bay KC.135 tiếp nhiên liệu trên không… mở cuộc tập kích quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng, phá hủy nhiều khu phố, làng mạc, nhà cửa, nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, trường học… gây thiệt hại lớn về người và cơ sở vật chất kỹ thuật của ta.

Nhờ chủ động chuẩn bị về lực lượng, thế trận, ý chí và tinh thần, với cách đánh thông minh, sáng tạo, quân và dân thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương trên miền Bắc đã làm nên một trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”: Bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B-52, hàng chục máy bay chiến thuật của Mỹ; riêng Hà Nội bắn rơi 25 máy bay B-52. Cái gọi là “sức mạnh không lực Hoa Kỳ” đã bị thảm bại trên bầu trời thủ đô Hà Nội.

Lời dự đoán 5 năm về trước của Bác Hồ đã thành hiện thực, “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là đòn đánh quyết định cuối cùng buộc chính quyền Mỹ phải chấp nhận nối lại đàm phán và nhanh chóng ký Hiệp định Pa-ri, kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam (27-1-1973).

Để có được đòn đánh quyết định đó, chúng ta phải nỗ lực không ngừng trong xây dựng sức mạnh tổng hợp nội tại kết hợp với sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế trên cơ sở đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và cơ quan tham mưu các cấp. Những bài học kinh nghiệm quý cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong công cuộc xây dựng quân đội, tăng cường quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đó là:

Thứ nhất, nhạy bén trong nắm bắt, đánh giá, phân tích tình hình của Bộ thống soái tối cao và các cơ quan tham mưu chiến lược.

Trước hết, chúng ta phải khẳng định sự nhạy bén trong việc nắm bắt, phân tích tình hình, để có sự chỉ đạo kịp thời của Bộ thống soái tối cao và các cơ quan tham mưu chiến lược là nhân tố quyết định nhất làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12-1972). Về chỉ đạo chiến lược, lời tiên đoán chính xác của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “đế quốc Mỹ chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội” là định hướng quan trọng để các cơ quan tham mưu chiến lược chủ động đề ra những chủ trương, biện pháp tác chiến có hiệu quả nhất. Ngay từ tháng 4-1972, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng PK-KQ và các quân khu: Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược, đánh phá trở lại miền Bắc.

Trên cơ sở những nhận định, chỉ đạo sáng suốt, kịp thời của Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng tham mưu, Quân chủng PK-KQ đã sớm hoàn thành Bản kế hoạch chiến dịch đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tài liệu hướng dẫn về cách đánh B-52. Theo đó, công tác chuẩn bị mọi mặt được tiến hành hết sức khẩn trương. Việc điều chỉnh đội hình chiến đấu, triển khai sở chỉ huy dự bị các cấp, huấn luyện các kíp chiến đấu, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng quyết tâm, công tác bảo đảm vũ khí, khí tài, bảo đảm cơ sở vật chất… cơ bản hoàn thành đúng thời gian quy định. Sau khi thông qua kế hoạch tác chiến, Bộ Tổng tham mưu khẩn trương điều chỉnh lực lượng, xây dựng thế trận của lực lượng phòng không ba thứ quân, chuẩn bị kế hoạch phòng không nhân dân, sẵn sàng đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của địch.

Thứ hai, xây dựng tinh thần tích cực, chủ động, quyết đánh và quyết thắng cho bộ đội phòng không và toàn dân, toàn quân.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(4), có như thế mới tránh được tổn thất do địch bất ngờ gây ra, còn ta phát huy được hiệu quả chiến đấu cao. Ngay từ tháng 5-1966, Quân chủng PK-KQ đã điều động Đoàn Tên lửa Hạ Long cơ động chiến đấu, trực tiếp nghiên cứu cách đánh B-52 tại chiến trường Vĩnh Linh. Đây là một quyết tâm rất cao thể hiện tư tưởng tích cực, chủ động tiến công của các đơn vị quân binh chủng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, trực tiếp là Quân chủng PK-KQ. Sau thời gian dài kiên trì bám trụ trận địa phục kích đánh B-52, đến tháng 9-1967, Đoàn Tên lửa Hạ Long đã bắn rơi B-52.

Vận chuyển đạn tên lửa phục vụ chiến dịch phòng không cuối tháng 12-1972. Ảnh tư liệu

Từ tháng 2-1968, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã xây dựng kế hoạch tác chiến đánh máy bay B-52 Mỹ, đến giữa năm 1972, Quân chủng liên tiếp điều động 4 trung đoàn tên lửa cùng một số máy bay MiG vào Khu 4 để chi viện cho chiến dịch Trị-Thiên và trực tiếp nghiên cứu cách đánh B-52; và đã bắn rơi được B-52 nhưng chưa rơi được tại chỗ và chưa bắt sống được giặc lái. Tuy nhiên, những kinh nghiệm được đúc kết từ những trận đánh này là cơ sở thực tiễn rất quý giá, trực tiếp giúp cho Quân chủng PK-KQ xây dựng phương án đánh B-52 cuối tháng 12-1972. Mặt khác, cũng từ cuối năm 1972, bộ đội PK-KQ ta phải một lúc đảm đương ba nhiệm vụ nặng nề: Vừa tiếp tục tham gia tác chiến trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở chiến trường miền Nam, bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị, vừa phải bảo vệ giao thông vận chuyển trên địa bàn Quân khu 4 và trên tuyến cửa khẩu vượt Trường Sơn, đồng thời luôn phải sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích đường không quy mô lớn của đế quốc Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng. Trước tình hình đó, theo chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Đảng ủy Quân chủng PK-KQ tiến hành một đợt sinh hoạt chính trị trong toàn lực lượng, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc hơn về âm mưu thâm độc của kẻ thù, nhất là thủ đoạn sử dụng máy bay B-52 đánh phá quy mô lớn ở miền Bắc, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng. Trên cơ sở đó, động viên tinh thần tích cực, chủ động của các đơn vị quân binh chủng xây dựng quyết tâm, kế hoạch đánh B-52. Có thể khẳng định rằng, sự chủ động về tinh thần, ý chí và sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Thứ ba, xây dựng thế trận phòng không ba thứ quân hoàn chỉnh, vững chắc.

Trong cuộc đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, trên cơ sở đường lối chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, một thế trận phòng không nhân dân với lực lượng PK-KQ là nòng cốt đã được hình thành và từng bước hoàn chỉnh. Quân và dân thủ đô Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng cùng các tỉnh lân cận đã tổ chức được mạng lưới chiến tranh nhân dân rộng khắp cả thành thị và nông thôn, kết hợp vũ khí thô sơ với vũ khí hiện đại, trong một thế trận mà kẻ địch sử dụng các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam và thế giới. Đặc biệt, việc xây dựng nên thế trận và sử dụng các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại ấy chính là những con người Việt Nam được rèn luyện và thử thách trong máu lửa của chiến tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, những thanh niên được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, những trí thức thời đại Hồ Chí Minh là những người làm nên sức mạnh mới. Mặt khác, chế độ xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho quân và dân ta những tiến bộ rất nhanh. Những đường băng cất cánh của những máy bay MiG, những trận địa phòng không liên kết đã tạo ra lưới lửa nhiều tầng, bệ phóng cho những quả tên lửa tới đích thực sự là những yếu tố có tính chất quyết định để tạo nên thế trận phòng không nhân dân hoàn chỉnh và vững chắc ở Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói chung. Thế trận đó đã được kinh qua những thử thách ác liệt của nhiều năm chống chiến tranh không quân của Mỹ, nên trước cuộc tập kích quy mô lớn của không quân chiến lược Mỹ, quân và dân Hà Nội vẫn bình tĩnh – đĩnh đạc bước vào cuộc đụng đầu lịch sử này, không mảy may nao núng mà còn vươn đến đỉnh cao của chiến thắng.

Thứ tư, tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, tầm cao trí tuệ Việt Nam.

Chiến đấu chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ cuối tháng 12-1972 là cuộc đối đầu giữa lực lượng phòng không nhân dân Việt Nam với máy bay B-52 – một phương tiện chiến tranh hiện đại bậc nhất thời bấy giờ, chúng hoạt động trong màn nhiễu điện tử dày đặc. Do vậy, đây thực sự là một cuộc đấu trí, đấu lực đỉnh cao của cả hai phía. Tầm cao trí tuệ Việt Nam được thể hiện trong tài thao lược, trong nghệ thuật chiến dịch phòng không, trong việc làm chủ vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại, trong sáng tạo cách đánh của từng binh chủng, của từng thứ quân, trong việc kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao ở bàn đàm phán Pa-ri. Đây chính là một quy luật đặc sắc của chiến tranh cách mạng – một dân tộc nhỏ muốn đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của một siêu cường phải biết sử dụng cả ý chí và trí tuệ. Hà Nội – Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước, nơi hội tụ trí tuệ Việt Nam, qua thử thách của chiến tranh đã tự hào là “tọa độ lửa” đối với không quân Mỹ, là Thủ đô của lương tri nhân loại, phẩm giá con người, là nơi thể hiện đỉnh cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đây chính là một trong những nhân tố mang tính nhân bản, cội nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của Đông Đô – Thăng Long – Hà Nội, một sự bảo đảm vững chắc để chúng ta làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Điều này cũng đã được chính cố vấn đặc biệt của chính quyền Ních-xơn là Kít-xinh-giơ thừa nhận: Nếu Việt Nam chỉ anh hùng không thôi thì chúng tôi sẽ đè bẹp, nhưng Việt Nam vừa anh hùng vừa rất thông minh, sáng tạo nên chúng tôi đã thua.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã kết thúc toàn thắng cách đây gần 4 thập kỷ, nhưng Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 – đòn đánh quyết định cuối cùng buộc chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, mở ra thời cơ chiến lược lớn để quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thu non sông đất nước về một mối, vẫn mãi là khúc khải hoàn ca âm vang trong tâm trí của các thế hệ người dân thủ đô Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung và nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Hào khí Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cùng những kinh nghiệm, bài học lịch sử của nó đã, đang và sẽ tiếp tục được phát huy, nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc ở thủ đô Hà Nội và cả nước ta hôm nay và những năm tiếp theo.

Thượng tướng NGUYỄN THÀNH CUNG (Ủy viên Trung ương Đảng,Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng)
qdnd.vn

———————
(1). Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, tập VII, Thắng lợi quyết định năm 1972, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.306.

(2). Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr.132.

(3). Hồ Chí Minh, Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr.203.

(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H.1995, tr.317.

Điện Biên Phủ trên không – Kỳ cuối Thua ở Pari sau khi thua trên bầu trời Hà Nội

Thua trên bầu trời Hà Nội

Lực lượng nòng cốt chống lại “con bài chiến lược” B52 của Mỹ là các đơn vị tên lửa phòng không, với những bệ phóng tên lửa SAM 2 (theo cách gọi của Mỹ hay S75 theo cách gọi của Liên Xô). Để đối phó và tìm ra cách đánh B52 hiệu quả nhất, từ năm 1967, Sư đoàn Phòng không 361 đã đưa các trung đoàn tên lửa vào Trường Sơn và bắc Quảng Trị để tiếp cận B52 và nghiên cứu các chiến thuật gây nhiễu điện tử của không quân Mỹ. Sau một số trận chiến đấu, các ghi nhận này đã được cơ quan tham mưu phân tích và đúc kết thành cuốn Cẩm nang bìa đỏ nổi tiếng của quân chủng. Trong tháng 10/1972, cuốn Cẩm nang này được chuyển đến tất cả các tiểu đoàn tên lửa để nghiên cứu luyện tập phương án đánh B52 nếu chúng tấn công quy mô lớn vào Hà Nội.

BDP 2.1Người dân Mỹ biểu tình phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam.

Cho đến khi đó, hệ thống radar của SAM 2 đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để có thể đối đầu hiệu quả với cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ. Các “miếng” đánh kỹ thuật chống tên lửa shrike từ các máy bay tiêm kích hộ tống B52 phóng vào các trạm radar cũng được hoàn thiện và luyện tập thành thục. Cuốn Cẩm nang bìa đỏ cũng hướng dẫn cho các cấp chỉ huy tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn dải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu… Riêng trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972, 14 tiểu đoàn tên lửa SAM 2 bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng đã bắn rơi 27 máy bay B52. Cho đến nay, Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới đã sử dụng tên lửa SAM 2 đánh thắng máy bay ném bom chiến lược B52 của không lực Hoa Kỳ.

Làn sóng phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ trên thế giới và trong nước Mỹ càng bùng lên mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới và trong nước Mỹ. Ngày 2/1/1973, với 154/75 phiếu, Hạ viện Mỹ ra Nghị quyết đòi cắt tất cả các khoản ngân sách cho chiến tranh Đông Dương, trừ các chi phí cho việc rút quân và hồi hương tù binh.

Tháng 5 năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bất ngờ nêu câu hỏi với các cán bộ tham mưu tác chiến của Quân chủng Phòng không: “Tỷ lệ B52 bị bắn rơi mức độ nào thì Nhà Trắng rung chuyển, mức độ nào thì Mỹ không chịu nổi, phải thua?”. Cho đến lúc đó các phương án đánh B52 trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đều đã có những yêu cầu về hiệu suất chiến đấu từng trận, từng ngày nhưng chưa nói đến chỉ tiêu về tỷ lệ bắn rơi B52. Đại tướng Tổng Tư lệnh đã phát hiện ra thiếu sót đó. Sau mấy tuần vật lộn với những con số, câu trả lời đã được đưa ra:

• N1 – tỷ lệ Mỹ chịu đựng được là 1 -2% (trên tổng số B52 tham chiến của Mỹ);

• N2 – tỷ lệ làm Nhà Trắng rung chuyển là 6 – 7%;

• N3 – tỷ lệ buộc Mỹ thua cuộc là trên 10%.

Câu hỏi tiếp theo của Tổng Tư lệnh với Quân chủng Phòng không là: Quân chủng chọn tỷ lệ nào? Câu trả lời lần này có ngay lập tức: Chúng tôi loại trừ N1, quyết tâm đạt N2 và vươn tới N3. Đại tướng chỉ thị: Muốn vậy quân chủng phải làm tốt hai việc: Khẩn trương hoàn thành kế hoạch đánh B52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng để dựa vào đó hoàn tất mọi công tác chuẩn bị; gấp rút hoàn chỉnh các tài liệu về cách đánh B52 để lấy đó mà huấn luyện cho bộ đội thật thành thạo. Quân chủng Phòng không đã thực hiện xuất sắc chỉ thị đó, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu N3. Trong 12 ngày đêm mùa đông năm đó, tỷ lệ B52 bị bắn hạ là 17,6% (34/197 chiếc). Hà Nội góp công trong đó 23 chiếc và đã làm nên một Điện Biên Phủ trên không lừng lẫy địa cầu.

DBP 2.2Lễ ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973.

Cố gắng của Mỹ dùng B52 ném bom hủy diệt Hà Nội những ngày cuối năm 1972 đã gây cho nhân dân Việt Nam nhiều tổn thất đau thương nhưng cũng đem lại cho nước Mỹ những thiệt hại to lớn cả về quân sự và chính trị.

Không thể sửa Điều 1

Trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội đã quyết định kết cục của cuộc đàm phán ở Pari. Dù Tổng thống Nixon có thể cho phép mình tin rằng phía Việt Nam chấp nhận họp lại ở Pari để thương lượng là “sự đầu hàng tuyệt vời của địch theo các điều kiện của chúng ta” nhưng ngày 6/1/1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tới Pari trong vòng hào quang chiến thắng và Mỹ đã phải chấp nhận ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973. Nixon và Kissinger đã thua ở Pari sau khi B52 đã thua trên bầu trời Hà Nội.

“Điện Biên Phủ trên không” đã làm Mỹ thiệt hại 81 máy bay, trong đó có 34 “pháo đài bay” B52; 43 phi công Mỹ bị bắt sống… (2) Nếu tiếp tục mức độ tổn thất như 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972 trên bầu trời Hà Nội thì Mỹ sẽ hết máy bay chiến lược B52 trong vài tháng. Ngoài ra và trầm trọng hơn là tổn thất to lớn về lực lượng phi công lái B52 – thứ còn khó thay thế hơn B52.

Khi đặt bút ký Hiệp định Pari, phía Mỹ cũng đã đạt được phần nào những gì họ muốn: Đưa quân viễn chinh cùng tù binh Mỹ ra khỏi cuộc chiến ở Việt Nam và xoa dịu dư luận bằng một hiệp định hòa bình; Thiệu cũng giữ được chính quyền và bấu víu vào những cam kết trợ giúp của Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ cũng không thể loại bỏ được những gì họ không muốn: Lực lượng vũ trang, chính trị của Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam vẫn giữ nguyên.

Mỹ buộc phải thừa nhận miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, ba lực lượng chính trị; Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam toàn bộ quân đội, cố vấn và nhân viên quân sự (kể cả nhân viên kỹ thuật quân sự và nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định), thu hồi và rút bỏ vũ khí, dụng cụ chiến tranh của Mỹ và các nước ngoài khác trong thời hạn 60 ngày trong khi quân đội của miền Bắc Việt Nam vẫn ở tại vị trí của mình. Những điều đó không phải là bất ngờ đối với Mỹ. Họ cũng đã dự kiến và gấp rút thực hiện những biện pháp đối phó với những bất lợi bị Hiệp định Pari quy định. Hay nói cách khác, Mỹ và chính quyền Thiệu đã chuẩn bị vi phạm Hiệp định Pari từ trước khi ký.

Ngày 10/2/1973, ông Kissinger đến Hà Nội trong một chuyến đi không có lễ đón chính thức. Kissinger và những cộng sự của ông ta trong đoàn là những công chức Mỹ đầu tiên đi lại tự do trên đường phố Hà Nội kể từ sau năm 1954. Cách những bước chân của Kissinger lúc đó không xa là những đồng hương lái máy bay B52 của ông đang là tù binh bị giam giữ tại Hỏa Lò.

Về sau, ông Kissinger viết trong hồi ký của mình: “Người Việt Nam đã sống qua hàng thế kỷ dưới ách thống trị của phong kiến Trung Quốc mà không hề đánh mất bản sắc văn hóa, đây là một kỳ công hiếm khi được nghe nói đến. Sau đó, họ đã chiến thắng sự xâm lược của Pháp, luôn ấp ủ một niềm tin rằng cuối cùng họ sẽ chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược” (3). Ông ta tỏ ra hiểu hơn vì sao Đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ cộng hòa ở Pa-ri đã kiên quyết giữ Điều 1 (Chương I) trong Hiệp định: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơnevơ năm một nghìn chín trăm năm mươi tư (1954) về Việt Nam đã công nhận” (4).

*
*    *

“Pháo đài bay” B52 và cuộc tấn công tàn bạo trong dịp Giáng sinh năm 1972 của Nixon đã không lật ngược được thế cờ. Vượt qua mọi toan tính chiến lược và sách lược của Mỹ và chính quyền Thiệu cố “giữ miền Nam Việt Nam khỏi rơi vào tay cộng sản”, xu thế chiến thắng giải phóng miền Nam – thống nhất đất nước sau Hiệp định Pa-ri của quân và dân hai miền Nam – Bắc là tất yếu trong sự suy yếu cả về thế và lực của chính quyền Sài Gòn trên chính trường và trên chiến trường.

            (1) Theo Hồi ký của Thượng tướng Phùng Thế Tài – Tạp chí Lịch sử quân sự – số 12.1987

            (2) Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (1954 – 1975) – Nxb CTQG; Hà Nội, 1995, Tập II, 578

            (3) Henry Kissinger, Kết thúc chiến tranh Việt Nam, Sđd, tập 2, tr 296

            (4) Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ (1996) – Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Pari, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 450; 451

Theo Baotintuc.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn