Thư viện

Những chứng nhân lịch sử – “Hồ B52” – Nơi lũy thép làng hoa

Đêm 27/12/1972, một chiếc máy bay B52 của Mỹ bị quân và dân Hà Nội bắn hạ, rơi xuống hồ Hữu Tiệp, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình. Đây là điểm duy nhất mà máy bay B52 rơi trong nội thành Hà Nội còn được lưu giữ đến hôm nay, nên nơi đây được người dân gọi là “hồ B52” và được giữ lại thành chứng tích lịch sử. Hồ B52 luôn là biểu tượng của chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, là niềm tự hào của người dân Hà Nội nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Một phần xác chiếc máy bay B52 tại hồ Hữu Tiệp.

Đến phường Ngọc Hà sau gần 40 năm kể từ khi chiếc máy bay B52 bị bắn rơi xuống hồ Hữu Tiệp, chúng tôi được nghe những câu chuyện vẫn còn in đậm trong trí nhớ của người dân nơi đây về trận chiến 12 ngày đêm anh dũng của quân và dân Hà Nội.

Bà Lê Thị Huệ, đội viên đội dân quân tự vệ làng Hữu Tiệp năm nào bồi hồi nhớ lại, chiến dịch rải thảm bom bằng máy bay B52 của không lực Hoa Kỳ vào cuối tháng 12/1972 đã khiến một nơi thanh bình như làng Hữu Tiệp cũng trở thành mục tiêu bắn phá. Làng hoa thành lũy thép và mỗi người dân là một chiến sĩ. Với bà Huệ, ký ức không phai mờ trong cuộc chiến quyết liệt giữa “Rồng lửa Thăng Long” với “pháo đài bay Mỹ” là hình ảnh chiếc máy bay B52 bị Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285 tên lửa phòng không bắn rơi ngày 27/12/1972, mà một phần của nó đã rơi xuống hồ Hữu Tiệp. Chiếc B52 đó bị bắn hạ khi chưa kịp “cắt bom” gây tội ác. Cũng rất may cho người dân trong làng, khi rơi xuống hồ, trong thân pháo đài bay Mỹ vẫn còn nguyên bom đạn. Ngay sau đó, lực lượng công binh đã đến ngay để tháo gỡ bom đạn trong xác chiếc máy bay.

Ông Nguyễn Lê Huy, người dân làng Ngọc Hà vẫn nhớ như in cảm giác hạnh phúc, tự hào khi được thấy máy bay B52 bị bắn rơi xuống chính mảnh đất quê mình. Đêm ấy, làng Hữu Tiệp có một đêm không ngủ, mọi người đều nói cười, vui sướng. Tiếng người gọi nhau vang khắp làng, ai cũng muốn tận mắt chứng kiến con ngáo ộp Mỹ phơi xác như thế nào. “Chiếc B52 bị trúng đạn cháy sáng cả một vùng. Khi máy bay rơi xuống lòng hồ thì nước hồ sôi lên sùng sục. Lúc đó, một số người còn ở lại làng để sản xuất thấy máy bay rơi đều chui lên khỏi hầm để xem. Lúc máy bay rơi mọi thứ chìm trong im lặng, khác hẳn với trước đó khi máy bay quần thảo ầm ĩ trên bầu trời. Rồi không khí vỡ òa ra khi người dân trong làng vừa chạy vừa hoan hô máy bay rơi. Chưa bao giờ người dân Ngọc Hà lại vui như vậy, cả đêm thức trắng. Đến giờ người dân nơi đây cũng không sao hiểu nổi chiếc máy bay Mỹ to đến vậy mà lại rơi đúng cái hồ nhỏ của làng” – ông Huy kể lại.

Là người con của làng Hữu Tiệp, ông Nguyễn Trọng Hiển luôn tự hào vì được trực tiếp chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội. Sau nhiều năm chiến đấu ở những mặt trận nóng bỏng xa nhà, ông được điều động về Hà Nội để tăng cường, ông Hiển nghĩ sẽ có cơ hội được gặp vợ con. Nhưng khi đóng quân ở một huyện ngoại thành, chỉ cách nhà hơn chục cây số, mà ông chưa một lần được về thăm nhà. Vợ ông khi đó cũng tham gia lực lượng tự vệ làng Hữu Tiệp để có thể sát cánh chiến đấu cùng chồng. Ông Hiển tâm sự: “Chiến đấu vì Tổ quốc đã rất thiêng liêng rồi, nhưng là người Hà Nội lại được về bảo vệ Hà Nội, tôi cảm thấy nhiệm vụ này thiêng liêng vô cùng. Dù rất gần vợ con, có khi chỉ cách chỗ con tôi sơ tán có hơn một cây số, nhưng bố con cũng không gặp được nhau, vì cuộc chiến quá ác liệt. Hôm biết tin máy bay B52 bị bắn rơi xuống đúng nơi gia đình mình đang sinh sống tôi lo lắng lắm, nhưng tôi không thể về nhà và cũng không có cách nào để liên lạc được với vợ con. Hôm sau, tôi tranh thủ xin đơn vị về thăm nhà. Về nhà không thấy vợ con mình đâu, tôi rất hoang mang. Nhưng khi được bà con hàng xóm cho biết là vợ tôi đang cùng lực lượng bộ đội tham gia gỡ bom trong xác máy bay, dù không gặp được vợ con ngay lúc đó nhưng tôi yên tâm trở về đơn vị, tiếp tục nhiệm vụ của mình”.

Hồ Hữu Tiệp luôn là niềm tự hào của người dân Ngọc Hà, biểu tượng của chiến thắng 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Hiện khu vực quanh hồ này đã được cải tạo thành con đường nhỏ, trở thành nơi dạo chơi của trẻ em, nơi tập dưỡng sinh, thể dục của các cụ già và ngay cạnh đó là Trường Tiểu học Ngọc Hà. Ít có nơi nào, học sinh lại được dạy lịch sử từ một bài học truyền thống sống động, trực quan như ở đây.

Em Vũ Thị Thảo Anh, lớp 5A3, Trường Tiểu học Ngọc Hà, là gia đình gốc làng Hữu Tiệp. Từ nhỏ em cùng các bạn trong “làng” đã được ông bà, bố mẹ đưa ra hồ B52 để chơi và kể cho em biết về lịch sử gắn liền với xác chiếc máy bay đang nằm ở đây. Khi đi học em lại được các cô giáo giảng giải thêm, khiến các em càng trân trọng di tích này hơn. Vừa nhắc đến hồ B52, em Thảo Anh rất tự hào khoe: “Hàng ngày chúng em được học ở ngôi trường kế bên di tích lịch sử này, được giáo dục về truyền thống lịch sử của vùng đất nơi mình đang sống. Hàng tuần, chúng em đều ra đây làm vệ sinh, nhặt rác quanh hồ để cùng mọi người giữ gìn cảnh quan. Bây giờ, khi gặp khách du lịch, chúng em có thể tự tin giới thiệu với họ về lịch sử của chiếc máy bay rơi tại hồ của làng mình”.

Cô Vũ Thanh Hương, giáo viên lớp 5A3, Trường Tiểu học Ngọc Hà tâm sự: “Chúng tôi có một may mắn khi giáo dục các em về lịch sử, về truyền thống uống nước nhớ nguồn bởi ngay trước mặt trường học của chúng tôi đây là một chứng tích lịch sử, ngay trong mỗi gia đình các em đều có những nhân chứng lịch sử. Và như thế, mỗi buổi học về lịch sử, đạo đức với chúng tôi đều nhẹ nhàng và đầy xúc động.”

Cùng với Đài tưởng niệm nạn nhân của bom Mỹ ở phố Khâm Thiên, xác pháo đài bay B52 ở Ngọc Hà không chỉ góp phần làm cho thế giới hiểu hơn về cuộc chiến tranh Việt Nam, mà còn giúp thế hệ sau thấm thía rằng chiến thắng hào hùng đã phải trả bằng máu và nước mắt của những thế hệ đi trước, để càng cố gắng hơn trong sự nghiệp xây dựng thủ đô và đất nước văn minh, giàu đẹp.

Bài và ảnh: Lê Sơn
baotintuc.vn

Bài cuối: Nơi lưu giữ những ký ức không thể nào quên

Chuyện về những người chở đò dưới làn bom B52

Trong những năm chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, cầu Long Biên (Hà Nội) là một trong những mục tiêu bắn phá dữ dội. Và trong những ngày cuối năm 1972, cầu Long Biên cũng bị bom Mỹ phá hỏng nhiều đoạn.

Trong ngôi nhà nhỏ của mình, ông Tư Nở đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện chở đò dưới tầm B52 trong những ngày cuối năm 1972.

Để đảm bảo đưa người dân nội thành Hà Nội đi sơ tán sang các vùng lân cận, trong 12 ngày đêm B52 trút bom xuống thành phố, đã có hàng trăm chuyến đò chở hàng ngàn người dân qua sông Hồng an toàn. Những người chở đò năm ấy giờ người còn, người mất. Nơi từng là bến đò năm xưa nay chỉ còn trong hoài niệm…

Trong những ngày kỷ niệm 40 năm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, chúng tôi trở lại bến đò xưa với mong muốn tìm lại miền ký ức của một thời từ những người chở đò đưa người qua sông năm ấy. Hỏi thăm mãi, chúng tôi mới tìm được đến nhà cụ Nguyễn Văn Lân, Chủ nhiệm hợp tác xã chở đò Thái Thủy năm xưa, hiện đang trú tại phường Phúc Tân (quận Hoàn Kiếm). Năm nay đã 97 tuổi, nhưng cụ Lân vẫn còn khá minh mẫn. Cụ kể lại: Trong 12 ngày đêm B52 ném bom Hà Nội, cầu Long Biên, tuyến đường huyết mạch nối nội thành với bờ bắc sông Hồng bị bom Mỹ phá huỷ nhiều đoạn. Bà Thuần, khi ấy đại diện cho lãnh đạo khu Hoàn Kiếm liên tục đến động viên anh chị em trong hợp tác xã, đồng thời yêu cầu phải thiết lập tuyến đò qua sông để nối mạch máu giao thông của thủ đô. Những người chèo đò cũng là chiến sỹ, ai hy sinh sẽ được công nhận liệt sỹ…

“Vậy là trong suốt 12 ngày đêm ấy, tại bến đò ngang của hợp tác xã Thái Thủy (nằm ở đoạn giữa của cầu Long Biên và cầu Chương Dương hiện nay – PV) hợp tác xã và anh em lái đò thay nhau trực và chở đò cả ngày lẫn đêm. Khi bom đánh sập cầu, số lượng người qua sông xếp hàng dài trên bờ, có lúc phải căng dây để giữ trật tự. Hai bên bờ sông được hợp tác xã cho đào rất nhiều hầm cá nhân, mỗi khi có máy bay địch đến ném bom, mọi người lại nhanh chóng xuống hầm trú ẩn, đến khi báo an lại lên đi tiếp” – cụ Lân chậm rãi nhớ lại.

Được sự giới thiệu của cụ Lân, chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Văn Nở (Tư Nở) hiện đang sống ở bãi An Dương (phường Phúc Xá) là một trong những người lái đò ngày ấy. Ngoài 70 tuổi, ông Tư Nở đã có quá nửa đời người gắn bó với nghề sông nước. Và ông đã kể cho chúng tôi nghe về công việc của những người lái đò đã chở hàng ngàn người vượt sông Hồng an toàn trong những ngày cuối năm 1972. Với ông Tư Nở, câu chuyện ấy dường như mới chỉ diễn ra cách đây không lâu.

Đưa tôi xuống thăm lại bến đò xưa, ông Tư Nở nhớ lại: “Ngày ấy hợp tác xã có chừng chục anh em, khoảng 5-6 chiếc thuyền to, mỗi thuyền chở được từ 30-40 người. Trong những ngày đó, thuyền là một trong những phương tiện qua sông khá quen thuộc của mọi người dân sống ở Hà Nội, nhất là khi cầu Long Biên bị bom phá hỏng nhiều đoạn”.

“Những ngày đó sao mà ác liệt thế, công việc của chúng tôi nguy hiểm không kém gì các chiến sỹ trên mâm pháo. Ở trên bờ, lúc máy bay đến còn xuống hầm trú ẩn được, chứ công việc của chúng tôi giữa mênh mông sông nước thì chỉ còn biết trông cậy vào con đò. Từ 6-7 giờ sáng, các lái đò đã tập trung ở bến cầu phao Hàm Tử Quan để nhận nhiệm vụ. Có những chuyến đò tôi đưa dân mình qua sông mà máy bay của địch lượn vèo vèo trên đầu, bom ném xuống sông dựng lên từng cột nước, dù ở cách khá xa mà chúng tôi vẫn thấy hơi nóng phả lên rát mặt. “Vũ khí” duy nhất mà chúng tôi có là mái chèo. Nhiều khi một tay chèo, một tay tôi cầm tấm ván che đầu để tránh mảnh bom…” – ông Tư Nở bồi hồi kể lại những ngày tháng ác liệt năm ấy.

“Tuy suốt ngày ở bến đò, nhưng ngày ấy tôi cũng biết khối chuyện, và cũng biết rất rõ việc Mỹ vừa ném bom ở đâu trong Hà Nội đấy nhé” – ông Tư Nở ‘khoe” với chúng tôi. Thì ra, tuy phải bám bến, bám thuyền, không có điều kiện đi đến những nơi khác, nhưng trên mỗi chuyến đò, ông đều được nghe những người dân đi đò kể chuyện, hôm thì chúng đánh khu nhà máy nước thế nào, hôm thì chuyện bom Mỹ ném xuống bệnh viện Bạch Mai ra sao, rồi thì chuyện chúng ném bom khu phố Khâm Thiên, khiến hàng trăm người chết… ông đều được nghe và biết cả. “Có nhiều khi mọi người trên thuyền đang nói chuyện thì máy bay Mỹ đến, mọi người chỉ còn cách nằm rạp xuống thuyền. Cũng hú hồn lắm đấy cô ạ” – ông Tư Nở nhớ lại.

Trong 12 ngày đêm B52 ném bom Hà Nội, hợp tác xã chở đò đã làm việc suốt ngày, đêm, mỗi ngày chở đến vài chục chuyến. Hỏi ông có lo lắng gì những khi chở đò qua sông không, ông lắc đầu bảo: “Có lo cũng không giải quyết được gì. Lúc ấy, mối quan tâm duy nhất của những người lái đò như chúng tôi là làm sao nhanh chóng qua được sông; và khi mọi người hoang mang, thì chúng tôi chính là những người trấn an, nhắc nhở bà con bình tĩnh, không nhốn nháo để bảo đảm an toàn. Cũng may mà bom đạn nhiều thế, nhưng không đánh trúng chiếc đò nào, bà con mình qua sông đều an toàn. Đó là thành tích của anh chị em trong HTX chở đò năm ấy” – ông Tư Nở không giấu được sự tự hào khi kể về thành tích của hợp tác xã mình.

Những ngày bom đạn khốc liệt ấy đã lùi xa, trên mảnh đất từng một thời hằn lên những vết thương của chiến tranh ấy giờ đã mọc lên một làng chài mới, với vài chục hộ sinh sống. Nhìn đám trẻ con làng chài nô đùa trên bãi cát, tôi chợt nhận thấy, tuy cuộc sống còn khó khăn, nhưng trong từng ánh mắt, nụ cười trẻ thơ vẫn ánh lên sự hồn nhiên, vô tư như tương lai tươi sáng của các em.

Bài và ảnh: Phương Lan
baotintuc.vn

Binh chủng đặc biệt – kỳ cuối: “Cần ngay tin, ảnh tố cáo tội ác Mỹ”

Thời điểm cuối năm 1972, tôi làm Trưởng Tiểu ban tin ảnh công thương. Lúc này Ban biên tập tin và Ban biên tập ảnh của Thông tấn xã Việt Nam (lúc đó là Việt Nam Thông tấn xã) sáp nhập làm một. Ảnh lúc đó có các anh Đinh Quang Thành, Minh Lộc, Vũ Hanh, Minh Đạo…

Phố Khâm Thiên, khu Đống Đa (Hà Nội) bị máy bay B52 của Mỹ ném bom rải thảm, tàn phá ngày 26/12/1972.

Mỗi tiểu ban đều chia đôi, già nửa số thành viên làm việc ở cơ sở sơ tán; một số ở lại nằm trong lực lượng xung kích trực chiến, góp phần phản ánh cuộc chiến đấu của quân dân thành phố Hà Nội trong “Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không”. Ngày đêm, các phóng viên ảnh đều trực bên mâm pháo trên cầu Long Biên, ngoài bãi sông Hồng hoặc bám các trận địa tên lửa ven đô “săn” ảnh máy bay Mỹ rơi trên bầu trời thủ đô.

Trận B52 đầu tiên đánh vào Hà Nội là ở Uy Nỗ – Đông Anh. Hôm ấy ngày nghỉ, vào lúc đã xế chiều. Ngay trong lúc tiếng bom đạn ầm trời, từ nhà tôi lao đến cơ quan nhận nhiệm vụ. Tới nơi thì được tin thủ đô ta đã bắn hạ chiếc B52 đầu tiên, rớt trên cánh đồng huyện Mê Linh. Ngay lập tức, lực lượng trực chiến của Ban được chia làm hai mũi: Một, do anh Lâm Hồng Long (phóng viên ảnh), Thanh Hà (tin) đi Mê Linh; một, do tôi và Nam Minh (tin), Vũ Hanh (ảnh) đi Uy Nỗ, nơi máy bay B52 vừa ném bom rải thảm.

Qua cầu phao Sông Hồng, tới gần Uy Nỗ thì đã 10 giờ đêm. Cách làng chừng vài trăm mét, chúng tôi phải xuống xe, loay hoay vượt hố bom ở giữa đường (chiếc xe U-oát do anh Đại Chiến lái) thì lại một đợt máy bay B52 nữa kéo tới ù ù trên đầu như xay lúa. Những “con rồng lửa” Thăng Long bay vút lên bầu trời rực sáng. Tiếng pháo cao xạ các tầm nổ rất căng. B52 lại trút bom xuống Uy Nỗ, những ánh chớp lóe sáng cùng những tiếng nổ dữ dội, đất rung chuyển. Chúng tôi kịp chui vào một cái cống mương bên đường trú ẩn; nói với nhau: “Nếu không gặp cái hố bom giữa đường này thì bọn mình đã bị ‘tiêu’ trong trận B52 thứ hai ở Uy Nỗ rồi”. Khỏi kể lại cái cảnh khủng khiếp của một làng quê giữa lũy tre xanh bị liền hai trận bom B52 rải thảm tàn phá đau thương đến thế nào!

Vào Bệnh viện Đông Anh, chúng tôi chứng kiến những người nông dân vô tội, có cả em nhỏ, phụ nữ mang thai, cụ già… máu me đầm đìa đang được các y bác sỹ khẩn trương sơ cứu. Qua máy nói của một đơn vị bộ đội phòng không trên trận địa ven đường, tôi liên lạc được với anh Xuân Ổn, Trưởng phòng Thư ký. Anh truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Tổng Giám đốc Đỗ Phượng: Lúc này phải có ngay tin ảnh, nhất là ảnh để ngày mai trên bàn đàm phán Pari, Đoàn ta có bằng chứng tố cáo trước dư luận thế giới về tội ác của đế quốc Mỹ dùng B52 trút bom xuống Hà Nội. Tôi bàn với anh em, không cầu toàn nữa mà nhanh chóng trở về cơ quan kịp làm tin, phóng ảnh ngay. Trên đường trở về chẳng biết loay hoay thế nào xe lại lạc vào sân nhà ga Đông Anh cũng đang là một trọng điểm đánh phá của địch. Tối om. Lối hẹp, nhiều ngả đường bom cày xới, ngổn ngang những toa xe, hàng hóa chất đống. Trên trời từng tốp máy bay chiến đấu Mỹ vẫn quần đảo yểm trợ cho B52 rút. Đến cầu phao Chương Dương, ô tô đủ loại nối hàng dài chờ vượt sông Hồng. Máy bay địch vẫn gầm rú trên đầu. Tôi nói với Đại Chiến, có giấy ưu tiên, cố lách về nhà càng sớm càng tốt. Đại Chiến là một trong những tay lái thiện chiến vừa mới từ tuyến lửa Quảng Bình về, nói: “Em từng lái trong ấy, qua nhiều trận nhưng quả thật chưa bị trận nào lại loay hoay như đêm nay”.

***

Noel 1972. Sau hai ngày tạm ngưng ném bom, đêm 26/12, B52 lại tiếp tục đánh phá thủ đô ta ác liệt hơn, dã man hơn. Chúng trút bom rải thảm thẳng xuống phố Khâm Thiên giữa lòng Hà Nội đông đúc dân cư. Trong những giờ khắc tạm ngưng tiếng bom, và nhất là vào lúc hai bên hưu chiến, tôi được cử theo Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi thăm đồng bào, chiến sỹ ta ở một số nơi. Ngoài một số trận địa pháo, tên lửa; đơn vị không quân; Thủ tướng chứng kiến cảnh cấp cứu những bệnh nhân bị kẹt dưới hầm của Bệnh viện Bạch Mai. Thăm cơ sở kỹ thuật của Đài Tiếng nói Việt Nam ở Mễ Trì. Thăm khu dân cư ở gần đình Láng còn nóng hơi bom và ngổn ngang gạch ngói và vượt sông Hồng sang cả bên Yên Viên.

Chuyến này chỉ có hai xe U-oát. Thủ tướng và một số cán bộ văn phòng một xe, cánh phóng viên quay phim, chụp ảnh một xe. Qua Yên Viên, máy bay trinh sát của Mỹ xẹt trên đầu, xe chúng tôi được lệnh bứt lên tới gần Dốc Lã, còn xe Thủ tướng dừng lại, hai đồng chí bảo vệ dìu ông trú vào chiếc hầm chữ A bên đường. Đồng chí bảo vệ Thủ tướng cùng đi cho biết: Trước giờ hưu chiến, ông nhận được tối hậu thư của Tổng thống Mỹ R.Nixon. Vì vậy ông muốn qua chuyến thăm này thị sát dân tình, một lần nữa khẳng định quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta bảo vệ thủ đô. Tôi quan sát, chứng kiến gương mặt cương nghị và khắc khổ của Thủ tướng và khi ông nghẹn ngào cầm khăn tay chấm giọt nước mắt. Ông nói với nhân dân rằng: Đây là trận đánh cuối cùng, phải tiêu diệt B52 trên bầu trời thủ đô và nhắc lại Di huấn của Bác Hồ: Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Bắt nắm chủ đích chuyến đi này của Thủ tướng, tôi chăm chú quan sát và ghi lại những sự kiện, hình ảnh nói lên tinh thần quyết tâm cao của quân dân thủ đô.

Đêm 26/12/1972, có thể nói là đêm quyết chiến, quyết thắng của quân và dân thủ đô ta. Đêm đó, máy bay B52 bị hạ nhiều nhất kể từ ngày chúng mò vào đánh phá Hà Nội: 8 chiếc bị bắn rơi, trong đó có 5 chiếc rơi tại chỗ. Mũi nhọn của tôi gồm Trần Đình Thảo và Minh Trường (PV ảnh) có mặt ngay khi nhân dân tóm cổ tên giặc lái ở bãi đá, cạnh cái ao nhỏ thôn Phương Liệt. Chúng tôi qua phố Khâm Thiên còn khét lẹt khói bom. Ngay ở Ngõ Chợ, tiếng khóc, tiếng gào thét đến điên dại bên dãy xác người đang chờ khâm liệm… Nhìn cảnh đau thương ấy, người tôi run lên vì căm uất. Ngay đêm ấy, trong ánh nến, dưới căn hầm nhà số 5 Lý Thường Kiệt, bên chiếc bàn nhỏ chỉ huy “tác chiến” của vị Tư lệnh mến yêu – Đào Tùng – chúng tôi viết tường thuật cuộc chiến đấu của quân dân thủ đô, của nhân dân cả nước ta và tố cáo tội ác động trời của đế quốc Mỹ.

Ít hôm sau, trong giao ban, chúng tôi được nghe lại đặc phái viên TTXVN ở Pari điện về cho biết: Lãnh đạo Đoàn đàm phán của ta hoan nghênh ở nhà đã cung cấp đầy đủ, rất kịp thời tin, ảnh tố cáo tội ác đế quốc Mỹ đánh vào thủ đô Hà Nội.

Những gian nan nguy hiểm còn đang tiếp diễn trong cuộc chiến dường như tiêu tan hết. Trong tôi một cảm giác lâng lâng khó tả khi nghĩ rằng mình đang cùng đồng nghiệp góp một phần nhỏ bé vào “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” lịch sử này.

Nguyễn Văn Trường
baotintuc.vn

Binh chủng đặc biệt- Kỳ 1: Thông tin nhanh hơn B52

LTS: Có thể nói, thắng lợi của “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mùa đông năm 1972 là thắng lợi của sức mạnh toàn dân, mà trong đó không thể không nhắc đến sự góp sức của một binh chủng đặc biệt, đó là các phóng viên với tay bút, tay máy – những chiến sĩ trên mặt trận thông tin.

Trong những ngày tháng ấy, những phóng viên, biên tập viên trẻ thực hiện các bản Tin nhanh và Tham khảo đặc biệt của TTXVN đã biên dịch nhiều thông tin liên quan đến các chuyến xuất kích của máy bay B52 từ căn cứ không quân của Mỹ nhằm đánh phá Hà Nội, cung cấp kịp thời cho Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh để chỉ huy quân đội chủ động đối phó. Nhiều thông tin đã được gửi đi chỉ chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau khi các tốp máy bay B52 rời căn cứ…

Cũng trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” tại Hà Nội, nhiều phóng viên TTXVN đã có mặt kịp thời tại những nơi còn khét lẹt khói bom, phản ánh đầy đủ cuộc chiến đấu gan dạ, anh hùng của quân dân thủ đô. Những tin, bài, ảnh ấy cũng được cung cấp kịp thời cho phái đoàn đàm phán của ta tại Pari, tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, góp phần vào thắng lợi trên bàn đám phán.

Báo Tin tức xin trân trọng giới thiệu loạt bài viết về những hoạt động này của phóng viên TTXVN trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Kỳ 1: Thông tin nhanh hơn B52

Mới đó mà đã 40 năm. Hồi ấy tôi thuộc nhóm mấy anh em biên tập viên trẻ TTXVN chuyên biên dịch và biên tập những tin bài về âm mưu của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam để đưa vào các bản Tin nhanh và Tham khảo đặc biệt, cung cấp mỗi ngày vài lần cho Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh.

Phân xã Việt Nam Thông tấn xã lập tại Sài Gòn ngay sau ngày ký Hiệp định Pari (27/1/1973). Trong ảnh: Người đứng đọc tin là tác giả Nguyễn Như Kim.

Trong hơn một chục năm làm công việc đó, tôi nhớ có hai lần Bác Hồ và đồng chí Trường Chinh góp ý trực tiếp cho bản Tin nhanh về việc dịch thuật chưa chuẩn xác, còn phần lớn là được nhận xét tốt, đặc biệt là được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khen trong việc biên tập nhanh các tin có liên quan tới các chuyến xuất kích của máy bay B52 từ Guam và các căn cứ không quân của Mỹ ở Thái Lan sang đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trong mùa đông 1972. Chỉ chưa đầy hai giờ sau khi các tốp máy bay đó rời căn cứ không quân là chúng tôi đã biên dịch hoặc biên tập xong để gửi lên các địa chỉ đặc biệt ở Trung ương trước khi máy bay địch xuất hiện để ta kịp thời và chủ động đối phó. Vậy là thông tin của chúng tôi đã nhanh hơn B52.

Từ đầu tháng 10/1972, nhiều tin tức từ bàn đàm phán tại Pari giữa ta và Mỹ cho thấy Mỹ lật lọng, không chịu ký tắt Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam như đã thỏa thuận. Mỹ đã đòi sửa lại hàng chục chỗ trong hiệp định này với thái độ rất ngang ngược. Trong các cuộc họp bí mật giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và Ngoại trưởng Mỹ Kissinger, ta đã nhân nhượng sửa một đôi chỗ và nói rằng đó là những nhân nhượng cuối cùng. Phía Mỹ cố tình kéo dài tình trạng này nhằm chờ kết quả của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Nixon thắng cử rồi trở mặt mở chiến dịch đánh bom tàn bạo Hà Nội và các thành phố khác bằng B52.

Chiều 18/12/1972, đồng chí Lê Đức Thọ về đến Hà Nội để báo cáo Trung ương về sự lật lọng của Mỹ và bàn phương sách đối phó, thì ngay đêm hôm đó Mỹ mở màn chiến dịch Linebacker 2.

Khoảng 7giờ 30 tối hôm đó tôi cùng mấy anh em trực tin tối, đang theo dõi tin của các hãng AP, UPI, Reuters, AFP… để biên dịch tin nhanh như thường lệ thì nhận được tin khẩn của hai hãng thông tấn Mỹ từ Guam cho biết có nhiều tốp máy bay B52 rời sân bay Guam bay về phía Việt Nam. Chúng tôi báo cáo Tổng Biên tập TTXVN và nhanh chóng dịch nguyên văn mấy tin này rồi một chị đánh máy giỏi được điều động tới chỗ chúng tôi để gõ máy chữ, mỗi táp 7 bản (hồi đó dùng giấy than để đánh máy nhiều bản) nhằm kịp đưa cho liên lạc chạy xe có cắm cờ hỏa tốc, chạy lên các địa chỉ như: Văn phòng Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, Phủ Chủ tịch, Phủ Thủ tướng, Bộ Tổng Tham mưu…

Từ đó cho đến 10 giờ đêm chúng tôi còn dịch thêm vài tin máy bay B52 xuất phát tiếp từ Guam và căn cứ Corat ở Thái Lan bay tới miền Bắc nước ta. Và khi hệ thống báo động của Thủ đô báo tin máy bay B52 Mỹ đang đánh phá ở ngoại vi Hà Nội, chúng tôi được lệnh xuống hầm trú ẩn làm việc để bảo đảm an toàn người và phương tiện thu tin.

Sau 10 giờ đêm, các tin tức nói về các B52 đầu tiên bị bắn rơi trong chiến dịch Linebacker 2 được phát đi. Bộ Biên tập TTXVN cũng báo tin mừng đêm đầu tiên ta đã bắn rơi 3 máy bay B52, trong đó có chiếc rơi ở Đông Anh và cử một nhóm phóng viên sang đó để làm tin và hy vọng chụp được ảnh và phỏng vấn tên giặc trời vừa bị bắn hạ ở ngoại thành Hà Nội để công bố cho toàn thế giới biết.

Ngày 19/12/1972, địch cho nhiều loạt máy bay phản lực tiêm kích bay tới Hà Nội, Hải Phòng để săn tìm và tiêu diệt các đơn vị tên lửa và cao xạ của ta. Chúng ta vẫn kiên cường đánh trả địch và lại bắn rơi nhiều máy bay nữa. Ngày hôm đó cơ quan tiếp tục cho sơ tán thêm một số chị em nữ và gia đình lên Quốc Oai (Hà Tây cũ). Tối hôm đó cơ quan chỉ còn hơn chục người trực tin các loại, số còn lại xuống một hầm lớn khác trong khu vực cơ quan để tránh thương vong.

Khoảng hơn 7 giờ tối, chúng tôi lại nhận được những tin của phóng viên Mỹ cho biết các tốp B52 lại rời Guam đi Việt Nam. Và khoảng 10 giờ đêm, sau những tiếng ầm ì từ trên cao vọng xuống là những ánh chớp của tên lửa và pháo cao xạ các cỡ của ta đồng loạt bắn lên. Tiếng phát thanh viên báo tin những nơi địch đang đánh phá và những tin vui tên lửa ta hạ nhiều B52 ngay trên bầu trời thủ đô. Đất trời rung chuyển, lửa cháy ngùn ngụt, một vài người trong chúng tôi còn lẻn ra bờ đê sông Hồng ở trước Bệnh viện Hữu Nghị, nấp trong các hầm cá nhân nhìn sang phía sân bay Gia Lâm, khu kho xăng dầu Đức Giang, cầu Đuống… chứng kiến nhiều loạt bom B52 rải xuống các khu vực này. Rồi những trận ném bom xuống sân bay Bạch Mai và các khu dân cư xung quanh.

Cuộc chiến đấu cứ tiếp diễn như vậy, đêm nào chúng tôi cũng báo tin cho Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh trước hai tiếng đồng hồ, có đêm báo trước tới gần 5 tiếng đồng hồ để chỉ huy quân đội sẵn sàng tác chiến và giáng cho địch những đòn tổn thất nặng nề.

Các đêm tiếp theo, như đã thành thói quen, chúng tôi tiếp tục biên tập các tin máy bay B52 xuất kích. Có lần Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Văn Tiến Dũng đã khen ngợi chúng tôi báo tin sớm giúp ông chỉ đạo các đơn vị phòng không sẵn sàng chiến đấu. Và chiến công nối tiếp chiến công, sau 12 ngày đêm chúng ta đã làm nên một Điện Biên Phủ rực lửa ngay trên bầu trời Hà Nội, một chiến công lừng lẫy của thế kỷ 20, một chiến công làm nức lòng nhân loại tiến bộ với việc bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 chiếc B52, 5 chiếc cánh cụp cánh xòe (F.111), bắt sống 43 phi công Mỹ.

Tổn thất lớn lao khiến Mỹ không thể tiếp tục chiến dịch Linebacker 2 nữa và chấp nhận gặp lại phái đoàn ta tại Pari trong cuộc gặp bí mật sau đó mươi ngày. Lần gặp đó Cố vấn Lê Đức Thọ đã mang theo một mảnh xác máy bay B52 tặng Kissinger ngay khi mở đầu cuộc họp để cảnh cáo ông ta. Và chỉ sau một hai phiên họp, Hiệp định Pari về lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết vào ngày 27/1/1973, chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam và toàn cõi Đông Dương.

Nguyễn Như Kim
baotintuc.vn

Kỳ cuối: “Cần ngay tin, ảnh tố cáo tội ác Mỹ đánh bom B52 vào thủ đô”

“Điện Biên Phủ trên không” trong ký ức chuyên gia Liên Xô

Dù đã 40 năm trận “Điện Biên Phủ trên không” lùi vào lịch sử, những chàng trai trẻ năm nào giờ đã lên ông, sức khỏe không còn cho phép họ nói chuyện sôi nổi hàng giờ về những ngày bầu trời Hà Nội rực lửa, song các chuyên gia Liên Xô từng giúp đỡ Việt Nam trong những năm chiến tranh vẫn nhớ như in từng trận đánh của 12 ngày đêm quyết tử giữ bầu trời Thủ đô.

Thượng tướng Anatoli Khiupenen.

Ngồi giữa Mátxcơva, cách nơi từng xảy ra các trận không chiến ác liệt năm xưa hàng chục nghìn km, nhưng cái cách họ lần giở từng trang hồi tưởng khiến ai cũng nghĩ như chuyện mới ngày hôm qua.

Người đầu tiên chúng tôi muốn nói đến là Thượng tướng Anatoli Khiupenen, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam giai đoạn 1972 – 1975. Chẳng đợi hỏi han nhiều, ông bắt đầu ngay câu chuyện về những ngày Mỹ ném bom Hà Nội. Trong câu chuyện bằng tiếng Nga, thi thoảng xen vào cụm từ “Điện Biên Phủ trên không” lơ lớ tiếng Việt, ông kể: “Có hai trận đánh đáng nhớ nhất ở Việt Nam là Điện Biên Phủ và Hà Nội thì cả hai cường quốc quân sự thế giới là Pháp và Mỹ đều thua.

Cách họ thua giống nhau, chỉ khác nhau về thời gian và mặt trận: một thua năm 1954 và một thất trận năm 1972; một thua trên bộ và một bại trên không. Người Mỹ rõ ràng kỳ vọng Việt Nam sẽ đặt bút ký Hiệp định Pari vào khoảng ngày 13 – 14/12/1972 với những điều kiện do họ áp đặt. Chính vì không đạt được mục đích này, họ đã ném bom rải thảm miền Bắc Việt Nam với âm mưu làm đất nước tê liệt và gây khủng hoảng tâm lý dân chúng. Nhưng cuối cùng họ đã phải hứng chịu thất bại. Người Mỹ thua vì họ quên mất rằng, trước họ, lần lượt phong kiến Trung Quốc, Pháp, Nhật rồi lại đến lượt Pháp đã phải đầu hàng nhân dân Việt Nam.

Trung tướng Victor Philipov (ngồi phía trong).

Nhìn trận không chiến dưới con mắt một nhà quân sự chuyên nghiệp, ông Khiupenen tiếp tục câu chuyện của 40 năm về trước: “Trong hơn 10 ngày oanh kích Hà Nội, người Mỹ đã áp dụng các chiến thuật ném bom khác nhau, từ rải thảm đến tiêu diệt từng mục tiêu riêng lẻ, từ tầm thấp đến tầm cao, từ đêm sang ngày… nhằm khiến lực lượng phòng không – không quân Việt Nam không kịp trở tay. Họ tính toán hạ gục hệ thống phòng không của Hà Nội trước rồi mới oanh tạc Thủ đô và các vùng lân cận.

Song với những thông tin tình báo kịp thời và sự chỉ huy tài tình của các nhà quân sự Việt Nam, lực lượng phòng không Việt Nam đã nắm được thế chủ động trước từng trận đánh. Bên cạnh đó, các cán bộ, chiến sỹ phòng không Việt Nam cũng có sự trưởng thành và rút ra bài học rất nhanh chóng. Nếu ngày đầu Mỹ ném bom, tôi nhớ là ngày 18/12, phòng không Việt Nam phải bắn tới 35 quả tên lửa mới tiêu diệt được 1 máy bay B52 của Mỹ thì đến ngày 26/12 chỉ bắn 42 quả đã hạ gục tới 5 máy bay B52. Với hiệu quả đánh trả như thế, người Mỹ đã không thể tiếp tục tự tung tự tác trên bầu trời Hà Nội”.

“Tôi có cảm giác rằng người Mỹ cố tình sử dụng miền Bắc Việt Nam như một bãi thử các loại vũ khí tối tân nhất của họ lúc bấy giờ, như bom laser, máy bay trinh sát không người lái chẳng hạn, là những khái niệm hoàn toàn mới đối với giới quân sự thời đó. Nhưng điều quan trọng nhất là chính họ đã phải chịu thua, thừa nhận thất bại và ngồi vào bàn đàm phán” – Thượng tướng Khiupenen kết thúc câu chuyện của mình bằng nhận định như vậy.

Cũng từng có mặt tại Việt Nam vào những tháng ngày lịch sử ấy, Trung tướng Victor Philipov, Cố vấn – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 263, Sư đoàn 4 – Quân khu 4 giai đoạn 1960 – 1975 rành rọt kể: “Khi công tác tại Việt Nam, tôi chủ yếu hoạt động ở thành phố Vinh, thuộc Quân khu 4. Tôi nhớ năm đó là 1972, khoảng tháng 11 thì bắt đầu có thông tin Hà Nội sẽ bị ném bom. Nhóm chuyên gia chúng tôi lập tức được điều động ra tăng cường cho một đơn vị tên lửa đóng ở ngoại thành Hà Nội. Mặc dù đã có sự chuẩn bị trước nhưng chúng tôi vẫn bất ngờ vì Mỹ ném bom dữ dội ngay từ lần oanh tạc đầu tiên. Bom rơi cách chỗ chúng tôi phục kích chỉ hơn chục mét”.

Còn đây là cảm nhận của ông về những người đồng nghiệp Việt Nam: “Các sỹ quan Việt Nam chiến đấu cùng với chúng tôi phải nói được đào tạo hết sức bài bản. Họ tự chiến đấu mà không cần có sự tư vấn của chúng tôi. Sự tư vấn chỉ cần thiết khi cục diện trận đánh thay đổi căn bản, hoặc cần dự báo chiến thuật lần oanh tạc tiếp theo của không quân Mỹ. Tình cảm của các sỹ quan và nhân dân Việt Nam đối với chúng tôi rất quý báu. Tôi nhớ lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sống, Người từng nói rằng cần phải hết sức bảo vệ tính mạng của các chuyên gia Liên Xô để máu của họ không phải đổ trên mảnh đất Việt Nam. Có lẽ vì thế mà các đồng nghiệp Việt Nam thường khuyên tôi vào hầm trú ẩn. Nhưng tôi là người được phân công tư vấn cho họ cách đánh thì làm sao có thể bỏ họ lại để đi trú ẩn một mình? Các bạn cũng nên nhớ, lúc đó tôi là người có quyền đưa ra mệnh lệnh, tôi đã đề nghị các sỹ quan Việt Nam vào hầm trú ẩn nhưng cũng không ai chịu đi. Ngay cả anh phiên dịch cho tôi cũng nhất quyết không chịu rời chiến tuyến. Anh ấy được đào tạo không chỉ để thành phiên dịch mà còn là một người lính thực thụ. Hành động này của các sỹ quan Việt Nam khiến tôi một lần nữa nhớ lại lời cụ Hồ Chí Minh có lần nói rằng không một người Việt Nam nào có thể sống yên ổn nếu đất nước còn chưa được thống nhất dù chỉ một ngày”.

Bài và ảnh: Cao Cường (P/v TTXVN tại LB Nga)
baotintuc.vn

Sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bầu trời Tổ quốc

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, ngày 19/12, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến thăm cán bộ chiến sĩ thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang với cán bộ chiến sĩ Trung đoàn Không quân 921(Đoàn Sao Đỏ). Ảnh: Nguyễn Khang – TTXVN

Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, Chủ tịch nước nêu rõ, trong gần 50 năm qua, quá trình xây dựng và trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng, lập nhiều chiến công xuất sắc của Quân chủng Phòng không – Không quân gắn liền với lịch sử phát triển của quân đội và đất nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân chủng là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc. Đặc biệt, trong cuộc đối đầu lịch sử với không quân Mỹ 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, bộ đội Phòng không – Không quân đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cùng toàn quân, toàn dân ta đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác, bắn rơi 81 máy bay các loại; trong đó có 34 máy bay chiến lược B.52, làm nên chiến thắng vĩ đại “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Đây là một trong những chiến công lừng lẫy của dân tộc ta trong thế kỷ 20. Chiến thắng đó đã tô đậm thêm truyền thống vẻ vang của quân đội ta và của bộ đội Phòng không – Không quân anh hùng.

Trong những năm tới, Chủ tịch nước đề nghị cán bộ chiến sĩ quân chủng quán triệt và thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương. Đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng; trong đó cần tập trung thường xuyên chăm lo xây dựng quân chủng vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Bảo đảm toàn quân chủng là một khối thống nhất về ý chí và hành động, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Chăm lo xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ mới. Thường xuyên nghiên cứu nắm chắc tình hình, âm mưu thủ đoạn của địch, nhất là đối tượng tác chiến phòng không, để có những phương án, quyết tâm chính xác, kịp thời, không ngừng hoàn thiện thế trận phòng không gắn với thế trận phòng thủ trên từng khu vực. Làm tốt vai trò tham mưu cho Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng xây dựng các lực lượng phòng không, tạo thành thế trận phòng không nhân dân vững mạnh, rộng khắp, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch nước nhấn mạnh lãnh đạo quân chủng cần tiếp tục nghiên cứu tổng kết những kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong thế kỷ XX và kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh trên thế giới gần đây, đặc biệt là trong các chiến dịch phòng không lớn, để vận dụng trong điều kiện mới. Tăng cường nghiên cứu lý luận, nghệ thuật quân sự, tác chiến phòng không hiện đại; coi giáo dục đào tạo và huấn luyện chiến đấu là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của tất cả các cấp. Chủ tịch nước khẳng định: Quân chủng huấn luyện phải sát với yêu cầu nhiệm vụ, sát với thực tế chiến đấu hiện nay. Bên cạnh đó, đầu tư chiều sâu các nhà máy quốc phòng, cải tiến, đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực sửa chữa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới; bảo đảm công tác hậu cần phục vụ ngày càng tốt hơn cho các nhiệm vụ của quân chủng.

H.G
baotintuc.vn

Người anh hùng quật ngã B.52

Tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ở 28A Điện Biên Phủ, Hà Nội có trưng bày hai bảo vật quốc gia. Đó là chiếc xe tăng T54 số hiệu 843 tấn công vào Phủ Tổng thống Sài Gòn năm 1975 và chiếc máy bay MiG-21 số hiệu 5121, từng được Anh hùng Phạm Tuân lái, xuất kích bất ngờ từ sân bay Yên Bái trong đêm 27/12/1972 và “trùm” một chiếc B52 vào biển lửa …

Đêm 27/12/1972 không chỉ là đêm đáng nhớ với Trung tướng Phạm Tuân, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn mở ra một bước ngoặt lịch sử trong cuộc chiến trên không với B-52 để bảo vệ vùng trời Thủ đô Hà Nội, khẳng định sự đúng đắn của quyết tâm đánh con “ngáo ộp” này bằng lực lượng phòng không ba thứ quân, trong đó lực lượng chủ yếu là máy bay.

Anh hùng Phạm Tuân.

Liên tục trước đó trong vài ngày, MiG 21 đã cất cánh truy kích “pháo đài bay”, song do nhiễu điện tử nặng nên đành quay về. Mặc dù không đánh được B52 song sự xuất hiện của MiG đã thu hút được đám máy bay tiêm kích địch, phá vỡ đội hình B52 từ xa, làm cho cường độ nhiễu giảm, tạo điều kiện cho tên lửa quật ngã B52. Thế nhưng việc hỏa lực tên lửa đã hàng chục lần bắn hạ “Pháo đài bay” trong khi chưa có chiến công nào của Không quân đã khiến B52 thực sự là cái gai trong mắt Không quân Việt Nam.

Tới cái đêm lịch sử tạo bước ngoặt cho cuộc chiến trên không đó, cả bầu trời Thủ đô đen kịt. Mặt đất chốc chốc lại lóe lên những ánh sáng sau tiếng nổ inh tai nhức óc của những chùm bom rải thảm từ “pháo đài bay”. Nhận lệnh từ Bộ Tư lệnh Quân chủng, chiếc MiG-21 mang số hiệu 5121 do Phạm Tuân điều khiển xuất kích từ sân bay dã chiến ở Yên Bái. Lao vút trong màn đêm giữa các lớp mây bằng tốc độ siêu âm với sự hướng dẫn của đội ngũ sĩ quan dẫn đường bay có kinh nghiệm nhất của các sở chỉ huy như Dũng, Vóc, Lê Biên, chiếc MiG 21 xuyên qua đội hình những “con ma” F-4 có nhiệm vụ bảo vệ B52. Tiếp cận cách mục tiêu khoảng 1,5 – 2km, Phạm Tuân nhấn nút phóng 2 quả tên lửa. Trong nháy mắt, chiếc B52 bị “nướng chín”. Chiếc MiG 21 lập tức bổ nhào, xuống độ cao an toàn và hạ cánh.

Thiếu tướng Phạm Tuân nhớ lại đêm “hoa lửa” đó, đặc biệt là lúc hạ cánh chiếc MiG 21 trên đường băng sân bay Nội Bài: Tôi cất cánh trong điều kiện sân bay đã bị F-111A đánh bom. Cháy, khói lửa khắp nơi. Sau đó, B52 lại tiếp tục đánh vào sân bay. Đài chỉ huy bị san phẳng. Tôi về hạ cánh thì sân bay Gia Lâm không liên lạc được, sân bay Kép cũng vậy, tất cả các sân bay không nơi nào nhận tín hiệu. Lúc đó, tôi xin hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, vốn cũng đang bị đánh ác liệt lắm. Tôi quyết tâm hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, xin bật đèn pha đường băng để hạ cánh. Bấy giờ, tôi không biết có hố bom nằm giữa sân bay, cách nơi hạ cánh 300m. Vừa tiếp đất thì cánh máy bay nghiêng, hai quả tên lửa bay vèo về phía trước, máy bay lật nghiêng 90 độ, chạy bằng cánh, sau đó lật ngược trở lại và quay đầu về hướng hạ cánh.

Sau chiến thắng bắn hạ B52 bằng MiG 21 do phi công Phạm Tuân lái, tất cả các chiến sĩ lái máy bay của không quân ta như được khích lệ. Một không khí ngầm thi đua tiêu diệt B52, làm rạng danh Không quân Việt Nam đã diễn ra. Trong số đó có phi công Vũ Xuân Thiều, một chàng trai người Hà Nội điềm đạm, kỹ thuật bay giỏi. Đã có lần Thiều tâm sự với đồng đội, nếu như gặp B52, bắn không rơi, Thiều sẽ làm quả đạn đâm vào “pháo đài bay”. Rồi như định mệnh, đêm 28/12, Thiều trực chiến và được lệnh cất cánh từ sân bay dã chiến ở Thanh Hóa đến vùng trời Sơn La. Sau khi khéo léo, mưu trí lách qua được vòng vây dày đặc của các chiến đấu cơ địch, Thiều đã cho chiếc MiG 21 của mình áp sát B52 và xin lệnh phóng đạn. Hai quả tên lửa phóng đi nhưng B.52 chỉ bị thương. Thiều xin lệnh tấn công tiếp. Cả Sở chỉ huy thắt lại khi nghe tiếng Thiều: “Thăng Long, Thăng Long, tôi đã bắn 2 quả tên lửa. B52 chỉ bị thương nhẹ. Xin phép được tiêu diệt”. Vài giây sau, tín hiệu của Thiều trên bản đồ bay biến mất, kể cả dấu hiệu của chiếc B.52. Các chiến sĩ liên lạc gọi dồn dập, vừa khóc vừa gọi Thiều nhưng không một tín hiệu hồi âm. Thiều đã anh dũng hy sinh, lao thẳng vào chiếc pháo đài bay Mỹ.

Ngày 10/9/1972, Mỹ cho nhiều máy bay ném bom, bắn phá một số vùng dân cư thuộc thành phố Hà Nội. Các lực lượng vũ trang Thủ đô đã nổ súng chính xác, bắn rơi 2 máy bay, trong đó có một chiếc rơi tại chỗ. Trong ảnh: Xác 1 trong 2 chiếc máy bay bị bắn rơi. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN.

Nói về thắng lợi lịch sử của bộ đội Phòng không Không quân trong chiến dịch 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội, Thiếu tướng Phạm Tuân phân tích: Nguyên nhân chiến thắng thì nhiều, nhưng với một người trực tiếp chiến đấu trong quân đội thì thấy có 2 vế. Đầu tiên là việc “nhìn xa trông rộng” của Đảng, của Bác, đặc biệt là Bác Hồ. Những gì Bác nói đều là tiên đoán đúng. Bác bảo: B52, B57, “bê” gì đi nữa ta cũng đánh và đã đánh là phải thắng. Bác giao đánh B52 cho bộ đội Phòng không Không quân. Bác nói rất rõ: Ở Việt Nam thế nào Mỹ cũng thua, nhưng chúng chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Đó là mệnh lệnh, là kim chỉ nam xuyên suốt mà bộ đội Phòng không Không quân là nòng cốt cùng các lực lượng khác chuẩn bị lực lượng để đánh. Chúng ta đánh giá đúng kẻ thù, đánh giá đúng âm mưu thủ đoạn, rồi đánh giá kỹ chiến thuật của nó để chúng ta chuẩn bị. Thứ hai là công tác chuẩn bị lực lượng dựa trên hai nền tảng: Ý chí, quyết tâm đánh và quyết đánh thắng; phát huy trí tuệ của đội ngũ phi công và lãnh đạo chỉ huy.

Tâm sự về Thủ đô 40 năm trước đỏ khói lửa và Thăng Long – Hà Nội của thời điểm hiện nay, cũng như lớp phi công trẻ của Quân chủng Phòng không không quân hiện nay, Tướng Phạm Tuân bảo: Đảng và Nhà nước rất quan tâm, đầu tư cho lực lượng bộ đội Phòng không Không quân và Hải quân. Bây giờ phi công ta có điều kiện tập luyện tốt, máy bay toàn thế hệ mới, tên lửa mới bắn được rất xa chứ không như trước đây. Với truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, truyền thống của bộ đội Phòng không Không quân mà đặc biệt trong chiến dịch 12 ngày đêm, sẽ còn lưu truyền mãi và được phổ biến đến mai sau. Chắc chắn rằng, đây là cơ sở để đội ngũ phi công hiện nay nhìn nhận, đánh giá đúng lực lượng sẵn sàng nhận nhiệm vụ”.

Anh Tùng
baotintuc.vn

Chiến dịch phòng không 12 ngày đêm qua những con số

QĐND – Tổng số lần xuất kích của các loại máy bay Mỹ đi đánh phá: 4.583 lần chiếc, trong đó B-52 là 663 lần chiếc; không quân chiến thuật 3.920 lần chiếc. Không quân Mỹ ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc tổng cộng khoảng 100.000 tấn bom, đạn; phá sập gần 5.500 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, trường học, bệnh viện; giết hại 2.368 dân thường, làm bị thương hơn 1.350 người…

– Cường độ xuất kích của máy bay chiến lược B-52: Đêm thấp nhất 24 lần chiếc (các đêm 21 và 22-12), cao nhất 105 lần chiếc (đêm 26-12). Cường độ xuất kích của không quân chiến thuật (các loại máy bay khác): Cao nhất 465 lần chiếc (ngày 19-12); trung bình 300-400 lần chiếc; riêng máy bay KC.135 bay hơn 1.300 lần chiếc tiếp dầu trên không.

– Trong 12 ngày đêm chiến đấu đánh trả cuộc tập kích đường không, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ gồm: 34 chiếc B-52 (trong đó 16 chiếc rơi tại chỗ), 47 máy bay chiến thuật các loại, trong đó có 5 chiếc F.111A, 21 chiếc F4CE, 4 chiếc A6A, 12 chiếc A7… Không quân Mỹ còn bị tổn thất nặng nề, đã mất hàng trăm phi công, hầu hết là những phi công kỳ cựu, đã bay hàng nghìn giờ, là nguồn nhân lực tác chiến bậc cao của quân đội Mỹ.

* Các tập thể, cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân

– Tập thể: Binh chủng Tên lửa; Sư đoàn Phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361); Trung đoàn Tên lửa 261; Trung đoàn Tên lửa 257; Trung đoàn Ra-đa 291; Tiểu đoàn Tên lửa 77 (Trung đoàn 257); Đại đội Ra-đa 45 (nay là Trạm ra-đa 45), Trung đoàn 293; Đại đội Ra-đa 25 (nay là Trạm ra-đa 25), Trung đoàn 295; Đại đội Ra-đa 37 (nay là Trạm ra-đa 37), Trung đoàn 293.

Thủ đô Hà Nội, với thành tích to lớn trong hai cuộc kháng chiến, đặc biệt là trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, được phong tặng danh hiệu “Thủ đô Anh hùng”.

– Cá nhân: Đồng chí Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tên lửa 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361); đồng chí Phạm Tuân, phi công lái máy bay MiG-21; Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều, Phi công lái máy bay MiG-21 (Binh chủng Không quân); đồng chí Nguyễn Đình Kiên, nguyên Đại đội trưởng, kiêm sĩ quan điều khiển tên lửa; đồng chí Nguyễn Lành, nguyên sĩ quan điều khiển tên lửa (Sư đoàn 361).

HÀ ANH (tổng hợp)
qdnd.vn

Đánh gục “thần tượng không lực Hoa Kỳ”

Đại tá Đỗ Văn Chung, nguyên Trực ban trưởng Sở Chỉ huy Quân chủng Phòng không Không quân, người đã phát lệnh đưa toàn quân chủng sẵn sàng chiến đấu trong 12 ngày đêm cho biết: Theo quyết tâm của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – không quân, thì lực lượng chủ yếu đánh B52 là tên lửa và không quân. Tên lửa là chủ yếu nhất. Không phụ sự tin tưởng ấy, bộ đội tên lửa với những cách đánh sáng tạo, độc đáo đã bắn rơi “con ngáo ộp” B52, làm sụp đổ thần tượng không lực Hoa Kỳ”. Lời nói ấy của vị Đại tá đã thôi thúc chúng tôi tìm đến những chiến sỹ tên lửa năm nào.

Không quá khó để tìm ra ngôi nhà số 22, phố Nguyễn Ngọc Nại, phường Khương Trung, quận Thanh Xuân của Đại tá Nguyễn Xuân Minh, nguyên Trợ lý Bộ tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân và cũng là sỹ quan nhấn nút phóng tên lửa bắn rơi máy bay của Peter Peterson, viên phi công sau này trở thành Đại sứ Mỹ đầu tiên tại Hà Nội. Phía trái căn phòng nhỏ của gia đình ông là bức ảnh chụp vợ chồng ông, ba người con, gồm hai gái, một trai và những đứa cháu nội, ngoại. Trong góc là chiếc tủ đứng chất ngất những chồng tài liệu cũ, mới.

Xác chiếc máy bay B-52 của Mỹ bị quân và dân Thủ đô bắn rơi ngày 22/12/1972. Ảnh: TTXVN.

Dựa lưng vào chiếc tràng kỷ, vị đại tá có vóc dáng thấp nhỏ nhưng có đôi mắt đặc biệt sáng, ánh lên sự hóm hỉnh, tinh nhanh, với tay cầm tấm bản đồ ghi Vị trí 16 chiếc B52 rơi tại chỗ (trong những đêm tháng 12 năm 1972) được cất giữ cẩn thận trong chồng tài liệu. Ông bảo: “Những kỷ niệm này theo tôi suốt cả chặng dài cuộc đời. Đặc biệt là trận đánh thắng máy bay B52 của Tiểu đoàn 93, Trung đoàn Tên lửa 261 có nhiệm vụ bảo vệ phía Bắc Hà Nội vào hồi 20 giờ ngày 20 tháng 12 năm 1972”.

Hồi đó, ông Nguyễn Xuân Minh là trợ lý của phòng Tác huấn tên lửa quân chủng, được phân công xuống Tiểu đoàn 93 theo dõi và giúp đỡ đơn vị; bởi từ ngày đầu đánh trả chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Sư đoàn 361 chưa bắn rơi tại chỗ được chiếc B52 nào. “Sau khi xuống đơn vị, tôi lập tức cho kíp chiến đấu luyện tập các bài đánh B52 theo giáo án có sẵn và luyện thêm họ bài ‘đánh bồi, đánh nhồi’, nghĩa là bắn vào dải nhiễu B52 mà khi đạn nổ, B52 chưa bị tiêu diệt, nhưng nếu lúc đó có tín hiệu mục tiêu rõ ràng xuất hiện trong dải nhiễu sẽ cho bắn tiếp. Do vậy, kíp chiến đấu đã thành thạo trong tình huống này” – Ông Nguyễn Xuân Minh không nén nổi những cảm xúc từ 40 năm trước ùa về.

Ông cẩn trọng lấy ra quyển sổ dày ghi đặc những chi tiết về trận đánh đêm 20 tháng 12. Trong đó, có những dòng chữ: Trận đánh xuất sắc có ý nghĩa hết sức quan trọng, đây là trận đánh thắng đầu tiên trong đêm thứ ba của chiến dịch phòng không bảo vệ Hà Nội, làm tan biến nỗi lo âu căng thẳng của bao người trong Sở Chỉ huy Sư đoàn. Quả vậy, trận đánh của Tiểu đoàn 93, Sư đoàn 361 vào 20 giờ ngày 20 tháng 12 năm 1972, diễn ra đúng như phương án đã được tập luyện. Hôm ấy, địch bay vào từ hướng Tam Đảo. Được lệnh của trung đoàn, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Mạnh Hùng ra lệnh ngay cho sỹ quan điều khiển Hoàng Đức Vĩnh phát sóng sục sạo tìm mục tiêu, khi kíp trắc thủ Hương – Côn – Tuấn bám sát chính giữa giải nhiễu điện tử sáng nhất của máy bay B52, anh ra lệnh: Phóng 2 quả, điều khiển bằng phương pháp T. Sỹ quan điều khiển thực hiện ngay. Hai tiếng nổ liên tiếp ầm vang. Thành ca bin rung lên. Nhưng 2 quả đạn đã vượt qua mục tiêu, tự hủy. Giữa lúc này, kíp trắc thủ báo cáo phát hiện thấy tín hiệu mục tiêu đang bay trong giải nhiễu. Trường hợp này xảy ra đúng như phương án đã chuẩn bị trước. Lập tức, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho sĩ quan điều khiển phóng tiếp bằng phương pháp T hai quả đạn nữa vào mục tiêu mà các trắc thủ đang tập trung tinh lực dán mắt, vê tay quay nhẹ nhàng đưa nó vào đúng tim đường ngang và dọc trên màn hình. Hai quả SAM2 xé không trung hướng thẳng tới mục tiêu. Đạn nổ! B52 bốc cháy sáng rực một vùng trời Hà Nội. “Niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ” cắm đầu lao thẳng xuống Yên Thường – Gia Lâm – Hà Nội. Nó chưa kịp cắt bom nên tiếng nổ của nó làm inh tai nhức óc cả một vùng rộng lớn. “Siêu pháo đài bay” cùng bọn giặc lái tan tành trong khói lửa.

Tiếp nối câu chuyện về những cách đánh, bí quyết hạ gục B52 của bộ đội ta, ông Minh hóm hỉnh kể: Vào những đêm tháng 12, có tiểu đoàn Tên lửa hỏa lực đã rơi vào tình trạng giữa chừng “trắng bệ”, nghĩa là trên các bệ phóng không còn đạn, trong khi máy bay địch vẫn tiếp tục kéo vào. Anh em lái xe chở đạn cực kỳ dũng cảm. Họ đợi ở các bãi lắp ráp, được quả nào là tranh thủ vượt đạn bom lao về đơn vị. “Đạn về đến nơi, lập tức được nạp vào bệ phóng, chưa ấm chỗ đã lao đi tìm diệt B52. Các tiểu đoàn hỏa lực thỉnh thoảng lại nhận được chỉ thị qua điện thoại từ trung đoàn: “Khách đến còn nhiều, chú ý tiết kiệm gạo”. Thế nhưng vượt qua khó khăn, bộ đội tên lửa đã đánh xuất sắc, bắn rơi tại chỗ B52 của địch” – Ông Minh nhớ lại.

Chia sẻ trên của đại tá Minh khiến chúng tôi nhớ đến câu chuyện lý thú về chiến công kỳ diệu “mỗi viên đạn một quân thù” của Anh hùng lực lượng vũ trang, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không Không quân về trận đánh xuất sắc bắn hạ B52 trong tình trạng “khan đạn”. Đó là vào rạng sáng 21 tháng 12, khi từng tốp B52 đang nối tiếp nhau bay vào thì trên các bệ phóng của tiểu đoàn 57 chỉ còn 2 quả đạn. Tiểu đoàn đã hạ quyết tâm đánh “quả một”. Nghĩa là mỗi lần dùng một quả. 5 giờ 9 phút, quả thứ nhất rời bệ, hạ 1 chiếc B52. 5 giờ 19 phút, quả thứ hai, quả đạn cuối cùng trên các bệ phóng, vút lên. Thêm một “Niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ” bị tiêu diệt. Chiếc này rơi xuống gần Núi Đôi, Vĩnh Phú. Sau đó ít ngày, cũng bằng 2 quả tên lửa SAM2, Tiểu đoàn 72 quật ngã 2 chiếc máy bay ném bom hạng nặng này, mà xác một chiếc rơi ngay xuống đường Hoàng Hoa Thám và giữa làng hoa Ngọc Hà, chỉ cách Quảng trường Ba Đình không đầy 600m.

Hết cuộc đời binh nghiệp, người sỹ quan tên lửa năm nào trở về với cuộc sống bình dị cùng gia đình. Bên cạnh ký ức về một thời “máu và hoa”, những chiến công lẫy lừng của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, niềm tự hào và lẽ sống của cựu chiến binh Nguyễn Xuân Minh bây giờ là sự trưởng thành của ba người con và đàn cháu nội, ngoại; bởi như lời ông nói: Mùa đông khói lửa của 40 năm trước đã qua, một tương lai thanh bình, tốt đẹp, đang đón đợi.

Anh Tùng
baotintuc.vn

Chiến dịch Linebacker II dưới con mắt của sử gia Mỹ

QĐND – Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ đã được nhiều nhà sử học Mỹ nghiên cứu và biên soạn rất công phu. Năm 2009, một sử gia nổi tiếng của Mỹ cho xuất bản công trình nghiên cứu mới về cuộc chiến tranh Việt Nam. Báo Quân đội nhân dân xin giới thiệu với độc giả một trích đoạn về chiến dịch ném bom Linebacker II vào dịp lễ Giáng sinh 1972, trích từ cuốn “VIỆT NAM-LỊCH SỬ MỘT CUỘC CHIẾN TRANH KHÔNG THỂ THẮNG 1945-1975” của tác giả John Prados (VietNam, The History of an Unwinnable War, 1945-1975), xuất bản năm 2009.

Sự chuẩn bị cho “12 ngày đêm”

Chiến dịch ném bom mùa Giáng sinh 1972 của Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng bắt đầu từ 18-12 đến 30-12. Ngày đầu tiên đã có 129 lần xuất kích của máy bay chiến lược B-52, với sự hộ tống của rất nhiều máy bay cường kích-oanh tạc và các loại máy bay chi viện A-6 của Hải quân Mỹ. Chiếc máy bay ném bom dẫn đường do phi công đại úy Hal Wilson điều khiển, báo cáo về việc họ đang gặp phải một loạt hàng rào tên lửa SAM (đất đối không) của quân đội Bắc Việt. Ngay đêm đó, máy bay B-52 của đại úy phi công Hal Wilson là một trong ba chiếc B-52 bị bắn rơi tại trận, vì Hà Nội đã chuẩn bị đối phó từ trước. Ngay từ đầu năm 1968, một lần đến thăm Sở chỉ huy của Lực lượng Phòng không, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán Mỹ sẽ cho B-52 tấn công Hà Nội một ngày nào đó trong tương lai. Quân ủy Trung ương của quân đội Bắc Việt đã thông suốt dự đoán đó và đã giao nhiệm vụ cho các chuyên gia quân sự nghiên cứu cách đánh B-52. Ngay từ chiến dịch Đông-Xuân đầu năm 1972, tướng Võ Nguyên Giáp đã có chỉ thị việc chuẩn bị cụ thể và cho bộ đội bắt đầu việc huấn luyện. Ngày 24-11-1972, tướng Văn Tiến Dũng đã trình bày kế hoạch tác chiến của Lực lượng Phòng không – Không quân và ra lệnh mọi việc phải hoàn thành đúng ngày 3-12. Ngay từ ngày đó, thị trưởng Hà Nội bắt đầu cho thường dân sơ tán khỏi thành phố.

Chuẩn bị tên lửa cho chiến dịch phòng không tháng 12-1972. Ảnh tư liệu

Sáng ngày 18-12, trong cuộc giao ban hằng ngày của Bộ Tổng tham mưu đã báo cáo có một tình hình rất đặc biệt, báo trước sẽ có sự việc bất thường sắp xảy ra là có hiện tượng hoạt động của B-52 ngừng hẳn trên toàn miền Nam, đồng thời với việc bộ phận thu tin bắt được một bản tin vô tuyến điện của một máy bay trinh sát thời tiết của Mỹ bay qua bầu trời Hà Nội báo cáo về Sở chỉ huy tình hình thời tiết vùng trời ở đây. Lực lượng phòng không được báo động sẵn sàng chiến đấu. Chỉ sau chốc lát, 7 giờ tối hôm đó, tướng Giáp được tin báo B-52 đã cất cánh từ đảo Guam và Thái Lan. Số máy bay cất cánh từ Thái Lan được phát hiện bay dọc theo sông Mê Công ra hướng Bắc. Chưa đến một giờ sau, tướng Giáp nhận được báo cáo, một chiếc B-52 đã bị bắn hạ do một đơn vị của Trung đoàn Tên lửa 261. Cuộc ném bom đã thực sự bắt đầu.

Trong 12 ngày đêm, Bắc Việt Nam đã thực hiện tất cả những gì họ có thể làm để chống lại quân địch-bắn hàng loạt tên lửa SAM, đưa máy bay tiêm kích vào hoạt động, thậm chí có một máy bay tiêm kích đã lao thẳng vào tấn công B-52. Theo tin phía Mỹ, đã có 15 chiếc B-52 bị bắn hạ, 9 chiếc khác bị bắn hỏng, phần lớn số này thuộc loại mới cải tiến, B-52G, mặc dù loại này được thiết kế để sử dụng trong tác chiến tấn công bằng vũ khí nguyên tử nhằm đối phó với Lực lượng Phòng không của quân đội Liên Xô, nhưng loại này lại kém hiệu quả thua loại B-52D về trang bị chống nhiễu điện tử đang sử dụng. Có 7 máy bay chiến thuật bị bắn rơi trong số 640 lần xuất kích. Thiệt hại của Mỹ về người: Có 39 phi công phải vào trại giam của Hà Nội, 35 nhân viên phi hành đoàn tử trận và mất tích. Tổng cộng có 795 lần B-52 xuất kích, đã ném xuống 15.000 tấn bom đạn, chưa kể số bom đạn các loại máy bay nhỏ hơn sử dụng. (Lưu ý các số liệu này được trích trong cuốn sách và theo nguồn của tác giả cuốn sách – người dịch)

Tiếng nói của những người Mỹ có lương tri

Trong số những yếu tố làm tăng thêm tình trạng phẫn nộ về mặt chính trị đối với cuộc ném bom trong mùa Giáng sinh 1972 là những lời lên án máy bay Mỹ đã giết hại thường dân và gây ra những hậu quả khác mà các quan chức Mỹ nói cho nhẹ bớt đi là “thiệt hại phụ liên đới”. Tin về Bệnh viện Bạch Mai bị bom tàn phá ở vùng ngoại ô Hà Nội và một nơi gần kề được truyền đi tràn lan. Không quân tìm cách cải chính là họ đã thực hiện các cuộc công kích rất đúng mục tiêu.

Một số người Mỹ có thể nói thẳng ra việc này, trong đó có Barry Romo của Tổ chức Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam chống chiến tranh (VVAW). Romo đã cùng nữ danh ca Mỹ Joan Baez và cựu công tố viên Tòa Án Nuremberg xử tội phạm chiến tranh phát xít Đức khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai là Telford Taylor đã sang Việt Nam ngay lúc cuộc ném bom bắt đầu.

Từ sân bay Phúc Yên lên xe đi về phía Nam, họ dừng xe tại làng Đức Nội. Họ được dân làng và các em học sinh ở trường địa phương ra chào đón. Những người khách Mỹ mới đến Việt Nam lần đầu rất ngạc nhiên làm sao các nông dân ở địa phương lại nhận ra số khách này không phải là người Nga. Một nông dân nói: “Người Nga có mặc quần jeans xanh và mang đàn guitar đâu?”. Phía bên kia một bức tường đá là một khoảng đất rộng ngổn ngang đường ray xe lửa đã bị bom phá nát một phần. Telford Taylor chỉ vào các hố bom, nói với Romo: “Thấy không? Thành công ném bom chính xác trúng mục tiêu đấy”. Đoàn khách tiếp tục đi về phía Hà Nội, nơi cuộc thăm của họ sẽ kết thúc. Những ngày sau đó, nhiều lần họ phải chạy xuống hầm ẩn nấp khi có bom rơi, ban ngày họ đến khu Bệnh viện Bạch Mai và một số nơi bị bom tàn phá nặng nề. Nữ ca sĩ Baez dành phần lớn thời gian vừa hát vừa chơi guitar. Còn Taylor chốc chốc lại tu một ngụm rượu. Họ rời khỏi Hà Nội lúc quân Mỹ tạm ngừng ném bom trong ngày lễ Giáng sinh. Đoàn khách Mỹ lại đi qua làng Đức Nội để ra sân bay. Bây giờ thì cả làng Đức Nội đã bị xóa sổ hoàn toàn, các bức tường đá cũng biến mất, không để sót lại một thứ gì trừ cảnh đổ nát tan hoang và những xác dân làng bị tàn sát vì bom Mỹ. Cựu chiến binh Romo không nói được gì nhưng anh nhìn thấy nước mắt ứ đầy trong hai mắt của Telford Taylor.

Nhiều tháng sau, khi trở về nước, trong các buổi nói chuyện trước công chúng, Taylor không ngớt lời tố cáo quân đội Mỹ đã có những hành động dã man tàn bạo trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông nói đến vụ Mỹ Lai và các vụ khác. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến sự vi phạm luật chiến tranh của Mỹ trong việc ném bom tàn bạo không phân biệt đối với các mục tiêu dân sự ở Bắc Việt Nam…

Không chịu đựng nổi thiệt hại

Lực lượng Bắc Việt tin tưởng rằng họ đã tiêu diệt được 31 B-52 của Mỹ. Họ coi thắng lợi của họ trong chiến dịch Linebacker II chống Mỹ là một “Điện Biên Phủ trên không”. Con số tính toán của họ về số máy bay Mỹ bị bắn hạ và tỷ lệ thiệt hại của Mỹ là khá cao, nhưng nói chung, xét về tổng thể, họ nói như thế là chính xác nếu nhìn về lâu dài: Mỹ đã tung ra khoảng 200 B-52 vào cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á và đã bị bắn rơi 15 chiếc (theo con số Mỹ công nhận, có nghĩa là bị tổn thất với tỷ lệ 7,3%). Trong chiến dịch này, Mỹ đã phải chuyển một số lớn B-52 ra khỏi nhiệm vụ tấn công hạt nhân. Tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, trong nhiều tuần lễ trước khi Mỹ bắt đầu Linebacker II, Hà Nội đã chuyển mấy trăm tên lửa SAM xuống vùng cán soong của Bắc Việt Nam (phía Bắc khu 4), số tên lửa này có thể cho di chuyển ra bảo vệ Hà Nội bất kể Liên Xô có kịp đưa thêm tên lửa mới sang không.

Về phía Mỹ, Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược Mỹ không thể chấp nhận được việc chuyển nhiệm vụ chiến lược của các B-52 và cũng không thể chịu đựng được sự thiệt hại trong thời gian lâu hơn, dù cho tỷ lệ thiệt hại có thể thấp hơn nhiều trước khi có thể gây được tác động lớn đối với Bắc Việt trong trường hợp Mỹ sử dụng khả năng tác chiến nguyên tử của mình.

Quang Doãn (Giới thiệu)
qdnd.vn

Máy bay B-52 rơi trên bầu trời Hà Nội

Liên tục trong 12 ngày đêm, từ 18/12 đến 30/12/1972, Mỹ sử dụng lực lượng không quân chiến lược với máy bay B-52 làm nòng cốt, ném hơn 4 vạn tấn bom rải thảm xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên và các mục tiêu khác ở miền Bắc Việt Nam.

Nhiều điểm bị đánh đi đánh lại hàng chục lần như: cầu Long Biên, cầu Đuống, khu vực xã Yên Viên, nhà máy điện Yên Phụ, xã Uy Nỗ …

Quân và dân Thủ đô cùng các địa phương miền Bắc đã kiên cường giáng trả, đập tan cuộc tập kích đường không của Mỹ, bắn rơi nhiều máy bay B-52, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không 1972”.

Dưới đây là một số khoảnh khắc ghi lại những năm tháng hào hùng ấy:

Ngày 10/9/1972, Mỹ cho nhiều máy bay ném bom, bắn phá một số vùng dân cư thuộc thành phố Hà Nội. Các lực lượng vũ trang Thủ đô đã nổ súng chính xác, bắn rơi 2 máy bay, trong đó có một chiếc rơi tại chỗ. Trong ảnh: Xác 1 trong 2 chiếc máy bay bị bắn rơi. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN.

Phân đội X tên lửa bảo vệ Thủ đô – đơn vị đã góp phần bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 2.500 trên miền Bắc, luôn chiến đấu ngoan cường, mưu trí, góp phần cùng quân và dân Thủ đô bắn tan xác nhiều máy bay Mỹ. Ảnh: Nghĩa Dũng – TTXVN.

Ngày 27/6/1972, nhiều máy bay Mỹ đã ném bom bắn phá các khu vực đông dân, trường học, bệnh viện ở Thủ đô. Với tinh thần cảnh giác cao, quân và dân Hà Nội đã bắn tan xác 5 máy bay Mỹ, trong đó có chiếc thứ 3.700 bị bắn rơi trên miền Bắc. Trong ảnh: Xác chiếc máy bay thứ 3.700 trên miền Bắc bị bắn rơi ngày 27/6/1972. Ảnh: Ngọc Quán – TTXVN.

Đại đội 2, Đơn vị quyết thắng pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị tên lửa và không quân nhân dân, bắn rơi máy bay Mỹ trong ngày 25/10/1967. Ảnh: Lâm Đồng – TTXVN.

Đơn vị tên lửa X lập nhiều chiến công giòn giã, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, trong đó có ngày bắn rơi 3 chiếc. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN.

Đại đội 2, đơn vị quyết thắng Đoàn Tô Vĩnh Diện pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô, luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, nổ súng kịp thời, chính xác, góp phần cùng quân dân Thủ đô bắn rơi 3 máy bay Mỹ trong ngày 14/12/1967. Ảnh: Hữu Thứ – TTXVN.

Lực lượng dân quân Hà Nội nêu cao cảnh giác, ngày đêm luyện tập, sẵn sàng bắn rơi máy bay Mỹ. Ảnh: Văn Sắc – TTXVN.

Máy bay của không quân Việt Nam xuất kích tiêu diệt máy bay Mỹ. Ảnh: Tư liệu TTXVN.

Xác chiếc máy bay B-52 của Mỹ bị quân và dân Thủ đô bắn rơi ngày 22/12/1972. Ảnh: TTXVN.

Tự vệ Nhà máy Y Hà Nội ngày đêm nêu cao tinh thần cảnh giác, luyện tập sẵn sàng chiến đấu, bắn rơi máy bay Mỹ gây tội ác ở Thủ đô trong 12 ngày đêm tháng 12/1972. Ảnh: TTXVN.

Phụ nữ, trẻ em và người già tạm rời Thủ đô đi sơ tán trong những ngày giặc Mỹ đánh phá ác liệt cuối tháng 12/1972. Ảnh: TTXVN.

Đại đội 4 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, trừng trị máy bay Mỹ đến gây tội ác. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN.

Các chiến sỹ tự vệ Nhà máy thiết bị Bưu điện khẩn trương chuẩn bị tốt hầm hào chiến đấu (5/1972), sẵn sáng giáng trả máy bay Mỹ. Ảnh: Tư liệu TTXVN.

TTXVN/ Tin Tức
baotintuc.vn

Quân đoàn 1: Triển khai toàn diện, hoàn thành tốt các mục tiêu kế hoạch đề ra

Năm 2012, Đảng ủy Quân đoàn 1 có nhiều đổi mới về nội dung, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo; tích cực, chủ động triển khai toàn diện, hoàn thành tốt các mục tiêu kế hoạch đề ra. Từ đó, chất lượng huấn luyện, SSCĐ, rèn luyện kỷ luật, xây dựng đơn vị chính quy, xây dựng cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng có chuyển biến tiến bộ và đồng đều hơn năm 2011; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng được nâng lên; đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội được cải thiện. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được tiến hành thường xuyên, kịp thời dưới nhiều hình thức linh hoạt, bởi vậy, tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ toàn Quân đoàn có bản lĩnh chính trị vững vàng và tinh thần đoàn kết thống nhất cao.

Năm 2013, Nghị quyết lãnh đạo của Quân đoàn tập trung vào thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xây dựng đơn vị VMTD và xây dựng tổ chức đảng VMTD với các chỉ tiêu cụ thể, như: 100% quân nhân, viên chức quốc phòng không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; giảm 50% số vụ việc vi phạm so với năm 2012; không có tổ chức đảng yếu kém…

HỒNG THẠNH
qdnd.vn