Thư viện

Hành trình trở về đất Mẹ của một huyền thoại

30 năm ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã đặt chân tới hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, tiếp xúc với nhiều luồng tư tưởng văn hóa của thế giới. Một hành trình dài và lâu kỷ lục, đem về cho dân tộc cẩm nang giải phóng đất nước và con người khỏi ách thực dân, phong kiến. Suốt hành trình đó, Người vừa đi vừa trải nghiệm, suy xét, tìm kiếm để rồi chuẩn bị cho cuộc trở về lịch sử. Ra đi đã khó nhưng trở về còn khó khăn, phức tạp hơn nhiều. Tuy nhiên Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua và trở về như một huyền thoại.

Nghiên cứu quá trình chuẩn bị về nước của Nguyễn Ái Quốc cần phải được xem xét trong một tổng thể, một quá trình, có mối liên hệ mật thiết với nhau; phân tích đầy đủ tính khách quan, chủ quan; lý giải hợp lý bản chất lịch sử của mỗi giai đoạn mới thấy hết được những khó khăn, phức tạp và sự chuẩn bị công phu, kiên trì của Người cho chuyến trở về lịch sử. Để thực hiện được hành trình về nước, Nguyễn Ái Quốc đã phải trải qua 4 chặng đường chông gai, với những thử thách nghiệt ngã, có lúc tưởng chừng không qua nổi.


hanh trinh 1Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác tại Tuyên Quang năm 1951

Từ Pháp sang Xô Viết

Thời kỳ hoạt động cách mạng ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tiếp thu luận cương của Lênin, có ít nhiều kinh nghiệm hoạt động cách mạng ở Thủ đô Paris. Nhưng với chừng đó vốn kiến thức và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn mà trở về nước thì rất khó khăn. Hơn nữa, thực dân Pháp và chế độ Nam Triều không cho phép hoạt động cộng sản tại Đông Dương. Do đó Người đã quyết định sang Xô Viết – quê hương của cách mạng. Chặng đường sang Xô Viết là một quyết định sáng suốt, một bước nhảy vọt về chất trong tiến trình trở về nước của Người. Vì từ đây, Người đã có đủ điều kiện củng cố lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin từ cơ sở gốc của nó. Người đã trực tiếp trải nghiệm xã hội tốt đẹp của nước Nga Xô Viết, hoạt động trong các tổ cộng sản bằng những thực tiễn sinh động. Trong hành trang trở về nước, Người đã tích lũy rất nhiều vốn kiến thức và hoạt động thực tiễn trên quê hương Lênin.

Trở về Quảng Châu, Trung Quốc

Đầu thập niên 20 thế kỷ trước, với nhãn quan chính trị sắc bén, Nguyễn Ái Quốc quyết định trở về Quảng Châu – trung tâm cách mạng của phương Đông. Tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn kết hợp với tư tưởng Mác – Lênin hội tụ nơi mảnh đất này hứa hẹn một tương lai tươi sáng cho chuyến trở về Tổ quốc Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc nếu như không có sự phản biến của Tưởng tháng 4 năm 1927.

Tuy thời gian ở Quảng Châu không dài (từ tháng 11 năm 1924 – tháng 5 năm 1927), nhưng Nguyễn Ái Quốc đã làm được nhiều việc cho chuyến trở về nước của mình sau này. Người đã gây dựng cho Tổ quốc những hạt nhân cách mạng đầu tiên. Chính những hạt giống đỏ cách mạng này đã đơm hoa kết trái cho sự nghiệp của Người trên khắp mảnh đất hình chữ S. Ở chặng đường thứ hai này, về tinh thần Nguyễn Ái Quốc thực sự đã trở về Tổ quốc với một đội quân cách mạng có đủ tầm trí tuệ, khác xa những vị tiền bối cách mạng. Phải khẳng định rằng tư tưởng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã trở về Tổ quốc trước khi Người trở về.

Từ Thái Lan đến Hồng Kông

Chuyến đi về nước qua Quảng Châu bị đóng cửa, Nguyễn Ái Quốc buộc phải quay trở lại châu Âu để tìm con đường mới. Qua phân tích tình hình, Người nhận thấy, tuyến đường duy nhất có thể về nước được là Thái Lan – Malaysia – Hong Kong, đặc biệt vùng Đông Bắc Thái Lan và Trung – Trung Thượng Lào có những cơ sở cách mạng tốt. Người quyết định về Thái Lan. Tại đây, do điều kiện khách quan, Nguyễn Ái Quốc phải ẩn nấp dưới một vỏ bọc để vận động quần chúng theo cách mới, phù hợp với thực tế địa phương. Tại đây có thuận lợi là gần Tổ quốc, nên những thông tin về tình hình đất nước thông qua cộng sự của Người luôn được cập nhật sát thực tế. Năm 1929, thực dân Pháp và Nam Triều đánh hơi thấy sự có mặt của Nguyễn Ái Quốc gần biên giới Đông Dương, chúng vội vã dựng lên bức thành là án tử hình vắng mặt Nguyễn Ái Quốc. Đấy là một thách thức cực kỳ nguy hiểm cho chuyến về nước lúc đó của Người. Cuối năm 1929 đầu năm 1930, biết được sự không thống nhất của các tổ chức cộng sản trong nước, vượt qua nguy hiểm Nguyễn Ái Quốc đi Hồng Kông để tổ chức hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản. Nhờ uy tín của Người, hội nghị hợp nhất thành công như một Đại hội sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ sự kiện đó, Người trở thành lãnh tụ tối cao vĩnh viễn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lúc này, Người chưa đặt chân về Tổ quốc nhưng sự nghiệp và tư tưởng của Người đã hòa vào hồn sông núi, như một chuyến trở về thực thụ.

hanh trinh 2Bức họa Bác Hồ về đến cột mốc 108 tại Pắc Bó ngày 28.1.1941

Từ Mát-xcơ-va về Pắc Bó

Thoát khỏi ngục Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc trở về Liên Xô, do điều kiện khách quan không cho phép Người trở về Tổ quốc ngay được, mà phải chờ thời cơ mới. Giai đoạn này, Người phải trải qua những thử thách cam go, đầy biến động bi hùng, kiên trì, nhẫn nại vượt qua để giữ mình, vững tin ở sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộcViệt Nam. Nghị lực và vận hội đã chiến thắng, khẳng định chân lý vĩ nhân là người biết chuyển họa thành may, chuyển bại thành thắng. Tranh thủ thời gian tĩnh để nghiên cứu, học tập, tiếp thu kiến thức mới, học hỏi kinh nghiệm xương máu ngay ở những người bạn, những người đồng chí, tất cả dồn cho ngày trở về Tổ quốc trong một tư thế mới, vận hội mới.

Tháng 9 năm 1939, tình hình thế giới và ở Việt Nam có nhiều biến động, đặc biệt là tình hình cách mạng Việt Nam, nội tình Đảng Cộng sản Đông Dương rất cần Nguyễn Ái Quốc, Quốc tế Cộng sản chấp nhận cho phép Người về nước. Từ tháng 9 năm 1939 – tháng 1 năm 1941, vượt hàng nghìn cây số, trải bao nguy hiểm, khó khăn, Nguyễn Ái Quốc mới đặt chân nơi cột mốc 108 biên giới Việt – Trung tại tỉnh Cao Bằng.

Người đã đi đến nơi, về đến chốn, trọn vẹn một hành trình, tìm được cái cần tìm, về đến nơi cần về. Lịch sử dân tộc Việt Nam ghi nhận chuyến trở về của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một mốc son sáng chói ghi tạc vào không gian, thời gian một sự kiện vĩ đại.

Sự trở về của Người, xét trong cả quá trình, là bàn đạp xoay chuyển về chất, mở ra những chân trời mới cho sự nghiệp, cuộc đời Người và lớn lao hơn là dẫn dắt đường đi cho dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên Độc lập – tự do. Muôn đời sau còn kể mãi chuyến trở về vĩ đại của vĩ nhân Hồ Chí Minh tại quê hương Cao Bằng.

Ngay sau khi Bác về nước, ngày 19/5/1941, giữa vùng núi rừng Pắc Bó, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời giữa lúc nhân dân Việt Nam đang rên xiết trong cảnh một cổ hai tròng, vận mệnh dân tộc đang trong cảnh nước sôi lửa bỏng. Với một quyết tâm được xác định rõ trong chương trình của mình “làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”, Mặt trận Việt Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Mặt trận Việt Minh chính là sợi dây nối liền chặt chẽ Dân – Đảng, Đảng – Dân, để ý Đảng thấm tới lòng dân, tạo ra khả năng cho Đảng có thể phát động một cuộc Tổng khởi nghĩa toàn dân trên địa bàn cả nước.

Công Thành
Theo http://daibieunhandan.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Trên ngực áo này không một tấm huân chương

36Ảnh Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh một lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất. Người luôn để lại tình cảm tốt đẹp, những ấn tượng sâu sắc cho ai từng được gặp hay với cả những thế hệ sinh ra khi Người đã lên tàu đi xa, chỉ biết về Người qua những câu chuyện kể, những trang sách, những hình ảnh hay những thước phim.

Bộ quần áo kaki của BH mặc trong ngày 2-9-1945Bộ quần áo Ka Ki của Bác Hồ mặc trong ngày 2/9/1945

Khi thăm nhà sàn của Bác hình tấm ảnh “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” phía dưới là dòng chữ: “Trên ngực áo này không một tấm huân chương và sau làn vải ngực áo này có một trái tim”, lòng tôi nghẹn ngào xúc động. Điều này khiến tôi nhớ những câu chuyện kể về Bác Hồ đã hai lần từ chối các vinh dự cao quý dành cho Người.

Tại phiên họp lần thứ 6, Quốc hội khóa II, ngày 8-5-1963, vào dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác, Quốc hội định tặng Người Huân chương Sao Vàng, là người đầu tiên được nhận huân chương cao quý nhất của đất nước. Người đã trình bày với Quốc hội rằng: “Tự xét chưa có công huân xứng đáng với sự tặng thưởng cao quý của Quốc hội, vì Tổ quốc đang tạm chia cắt làm đôi, trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng, đồng bào miền Nam đang hàng ngày, hàng giờ hy sinh xương máu, anh dũng đấu tranh, kiên quyết chống bọn cướp nước hại dân để giành lấy quyền tự do, quyền sinh sống”. Người đề nghị: “Miền Nam thật là xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng của Tổ quốc” và xứng đáng được tặng Huân chương cao quý nhất. Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng”.

Khi được tin Xô-viết tối cao Liên Xô quyết định tặng thưởng Huân chương Lê-nin, Huân chương cao quý của Nhà nước Liên Xô, Bác lại từ chối. Bức điện gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Đoàn Chủ tịch Xô-viết tối cao Liên Xô, Người trình bày lý do: “Toàn quân và toàn dân Việt Nam chúng tôi đang phải hy sinh xương máu để đánh Mỹ, cứu nước. Trong lúc đó, riêng tôi lại được hưởng vinh dự đặc biệt to lớn và nhận Huân chương Lê-nin thì lòng tôi không yên chút nào. Vì lẽ đó, tôi vô cùng cảm ơn các đồng chí, nhưng xin các đồng chí hãy tạm hoãn việc trao tặng phần thưởng cực kỳ cao quý ấy. Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại diện cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lê-nin vĩ đại”.

Với công lao như Hồ Chí Minh, mà Người còn thấy chưa đủ để nhận bất kỳ một sự khen thưởng nào?! Cho đến trước khi từ giã thế giới này trái tim Bác vẫn chỉ có phập phồng một nỗi nhớ miền Nam, chỉ có trăm nỗi ưu lo cho dân nước sau ngày thống nhất. Trên lồng ngực Người vẫn chỉ có chiếc áo ka ki đã bạc màu vì dạn dày sương gió  mà không hề có tấm huy chương nào. Với Người Huân chương lao động, Huân chương Chiến công hay Huân chương Độc lập, Huân chương Sao vàng hay Huân chương quốc tế Lê-nin? Những tấm Huân chương sáng lòa vinh quang và là dấu ấn của một thời lịch sử? Người xứng đáng với tấm huân chương nào hay tất cả? Nhưng có lẽ với Người chỉ có một tấm Huân chương cao cả hơn cả, phù hợp hơn cả nhưng vô cùng giản dị và trường tồn cùng với dân tộc, với non sông đất nước, đó là: Huân chương Nhân dân. Đó là tình cảm của cả dân tộc Việt Nam đối với Người. Tình cảm của các thế hệ nhân dân nhân dân Việt Nam với vị lãnh tụ kính yêu của mình.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Bác Hồ từng hoạt động cách mạng tại Lào

Những năm làm phóng viên thường trú tại Thủ đô Viêng Chăn, tôi có nhiều dịp gặp nhà văn lão thành Lào Xu-văn-thon Bu-pha-nu-vông. Ông kể cho tôi nghe chuyện Bác Hồ đến thăm lớp học chính trị của Lào sơ tán tại Phu La, Tuyên Quang sau sự kiện thành lập Neo Lào Ít-xa-la và Chính phủ kháng chiến của Pa-thét Lào năm 1950. Sau khi hỏi thăm sức khỏe, tình hình học tập của mọi người, Bác Hồ nói: “Tôi biết tiếng Thái và tiếng Lào, nhưng lâu rồi không nói. Tôi cũng đã từng nhiều lần ngủ qua đêm ở chùa In-pông, Thủ đô Viêng Chăn…”. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ từng bôn ba đến rất nhiều nước trên thế giới, nhưng trước đó tôi chưa một lần nghe nói Bác đã hoạt động ở Lào.

Tôi trao đổi câu chuyện của nhà văn Xu-văn-thon với ông Xi-xa-nạ Xi-xán, một lão thành cách mạng, tác giả của Quốc ca Lào, người có nhiều năm gần gũi với Chủ tịch Xu-pha-nu-vông và Tổng bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Ông cho biết: Những năm đồng chí Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Thái Lan, Người đã nhiều lần triệu tập các đồng chí Lào ở Viêng Chăn tới Noỏng Khai (Thái Lan) để nghe báo cáo tình hình ở Lào. Người đã chỉ đạo các đồng chí Lào đẩy mạnh tuyên truyền, giác ngộ nhân dân về tinh thần yêu nước và xây dựng cơ sở. Người đã từ Thái Lan sang Pắc Xế, rồi lên Xa-vẳn-na-khệt, đến Xiềng Vang, phía nam thị xã Thà Khẹt, tỉnh Khăm Muộn để trực tiếp tìm hiểu thực tế tình hình đời sống nhân dân Lào.

Đọc hai tác phẩm Cay-xỏn Phôm-vi-hản Tiểu sử và sự nghiệp và Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài của PGS, TS Đức Vượng, nguyên Chánh Văn phòng Hội đồng lý luận Trung ương, hiện là Viện trưởng Viện khoa học nghiên cứu nhân tài, nhân lực, có nhiều chi tiết giúp tôi sáng tỏ điều ấp ủ tìm hiểu trong nhiều năm qua. Ngày 25-4-1928, Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản mới có quyết định cử Nguyễn Ái Quốc trở về Đông Dương hoạt động. Để che mắt bọn mật thám, cuộc hành trình về phương Đông phải qua nhiều nước, mãi tới tháng 7-1928, Người mới tới Băng Cốc. Rời Băng Cốc, Người ngược lên phía bắc tới bản Pa-ma-khạp (tỉnh Phít-xa-nu-lốc), bản Noon-gon (tỉnh U-đon Tha-ni), bản Na-choọc, tỉnh Na-khon Phạ-nôm, sát bờ sông Mê Công…

Trong những ngày hoạt động ở Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc dành nhiều thời gian tuyên truyền, giác ngộ lòng yêu nước cho kiều bào ta, chọn ra những người tiên tiến nhất để đào tạo họ trở thành những cán bộ nòng cốt. Những ngày hoạt động ở Na-khon Phạ-nôm, Người đã đi đò qua sông Mê Công sang tỉnh Khăm Muộn, Lào. Đến bản Xiềng Vang, xã Xiềng Mương, huyện Noỏng Bốc, Người gặp gỡ bà con người Lào và người Việt sinh sống ở đây. Nói chuyện với bà con, Người căn dặn người Lào và người Việt phải đoàn kết giúp đỡ nhau, chung sức chung lòng đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi Lào, ra khỏi Việt Nam, giải phóng hai nước thoát khỏi ách nô lệ. Người phổ biến kinh nghiệm cho bà con về việc tổ chức các đoàn thể yêu nước và đoàn thể cách mạng tại Lào.

Theo báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, Người ở Thái Lan đến tháng 11-1929, sau đó Người đến Lào hoạt động một thời gian. Tại Lào, Người nhận xét “dân cư rất phân tán, hầu hết theo đạo Phật”. Từ Lào, Người rất muốn về Việt Nam hoạt động nhưng không thể do bọn mật thám của thực dân Pháp hoạt động mạnh. Không về nước được, Người tới Hồng Công (Trung Quốc) để thống nhất ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930. Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp tháng 10-1930 thông qua Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Hòa nhịp với cao trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, từ những năm 1930, những cán bộ ở Lào từng được Nguyễn Ái Quốc đào tạo và những cán bộ giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lê-nin do Người truyền bá, đã lãnh đạo phong trào đấu tranh ở Viêng Chăn, Bò Nèng, Phôn Tịu, Thà Khẹt, Pắc Xế, Xiêng Khoảng. Công nhân làm đường Lạc Xao đấu tranh ủng hộ cao trào Xô-viết Nghệ-Tĩnh năm 1931. Tháng 9-1934, Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời Lào, sau thời gian bị địch khủng bố phân tán, được củng cố để lãnh đạo nhân dân tiếp tục đấu tranh. Tháng 2-1935, Xứ ủy lâm thời Lào họp, cử đại biểu đi Ma Cao dự đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 9-1935, Đảng bộ Lào có hai Tỉnh ủy là Viêng Chăn và Xa-vẳn-na-khệt và các tổ chức đảng ở Bò Nèng, Phôn Tịu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tuy bị địch khủng bố gắt gao, phong trào đấu tranh vẫn lan rộng, lực lượng cách mạng phát triển, dẫn tới việc thành lập Đảng Nhân dân Lào, tiền thân là Đảng Cộng sản Đông Dương.

Về câu chuyện Bác Hồ từng hoạt động ở Lào, PGS,TS Đức Vượng còn cho biết, ngày 9-7-2009, trong chuyến đi công tác tại Lào, ông đã đến bản Xiềng Vang, xã Xiềng Mương, huyện Noọng Bốc, tỉnh Khăm Muộn để khảo sát nơi mà Nguyễn Ái Quốc đã đến gây dựng cơ sở cách mạng tại Lào. Nơi đây, Đảng và Nhà nước Lào đang xây dựng Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghĩa cử cao đẹp của Đảng và Nhà nước Lào quyết định xây dựng Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh theo nguyện vọng của cán bộ và nhân dân các bộ tộc Lào, bày tỏ sự biết ơn và ghi nhận những cống hiến to lớn của Người đã khai sáng và dày công vun đắp cho quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt-Lào thủy chung, trong sáng.

Nguyễn Thế Nghiệp Theo qdnd.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm tháng sáu trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng oanh liệt và phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh có biết bao nhiêu sự kiện quan trọng là bấy nhiêu ngày được ghi trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Tháng 6 là tháng có nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Kỷ niệm 97 năm ngày Văn Ba – Bác Hồ ra đi tìm được cứu nước (5/6/1911- 5/6-2008); 85 năm ngày Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp, bắt đầu cuộc hành trình trở về Tổ quốc để lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước (13/6/1923 – 13/6/2008); 83 năm ngày báo Thanh niên, tờ báo do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên và cũng là Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2008); 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2008). Xâu chuỗi lại, chúng ta thấy cả 4 ngày kỷ niệm trong tháng 6 đều thấy liên quan đến sự kiện xảy ra cách đây đúng 100 năm- sự kiện Nguyễn Tất Thành tham gia phong trào chống thuế của nông dân Trung kỳ năm 1908. Liên tưởng như thế bởi vì theo lô gích, sự kiện sau chính là kết quả tất yếu của sự kiện trước.

Trong thời gian sống cùng cha ở Huế, Nguyễn Tất Thành đã tham gia biểu tình của nông dân 6 huyện Thừa Thiên Huế đòi giảm sưu, giảm thuế, do bị mất mùa liên tiếp trong 3 năm. Đây là một hoạt động yêu nước đầu tiên của Nguyễn Tất Thành. Anh đã chứng kiến thực dân Pháp thẳng tay đàn áp những người nông dân hiền lành. Hàng vạn người tay không tham gia biểu tình chỉ với một yêu sách nhỏ là đòi giảm thuế. Họ đi tay không, không có khí giới. Họ chỉ yêu cầu giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là “đồng bào”. Nhưng bọn thực dân Pháp dùng khủng bố đại quy mô để trả lời họ. Chúng giết hơn một nghìn người cầm đầu và những người bị nghi là có dính dáng đến việc đó. Nhà tù chật ních người… Hầu hết những phần tử trí thức yêu nước đều bị bắt bỏ tù. Nhiều học giả nổi tiếng được nhân dân kính mến, cũng bị chém đầu. Thực dân Pháp gọi phong trào ấy là “án đồng bào cắt tóc” vì nông dân dùng hai tiếng “đồng bào” để gọi nhau.

Sự kiện nông dân Trung Kỳ nổi dậy năm 1908, mà Nguyễn Tất Thành được tận mắt chứng kiến và tham gia, đã để lại trong anh dấu ấn không thể phai mờ. Nguyễn Ái Quốc viết lại sự kiện này trong bài báo đầu tiên nhan đề: Vấn đề dân bản xứ, đăng trên báo L’ Humanité (Báo Nhân đạo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp), ngày 2-8-1919. Trong bài, khi tố cáo, lên án chính sách cai trị, những thủ đoạn đàn áp, cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương và sự phản kháng của nhân dân An Nam, Nguyễn Ái Quốc đã dẫn ra vụ nổi dậy của nông dân Trung Kỳ năm 1908: “Buộc phải bị kiềm chế bởi sức mạnh, nhân dân An Nam, mà lịch sử chân chính đã khởi đầu từ hơn 3000 năm, từng lúc từng lúc như có những đợt cồn cào chống đối, biểu hiện bằng những mưu toan nổi dậy rộng khắp, hoặc bằng hành động của những con người tuyệt vọng, như những cuộc biểu tình ôn hoà năm 1908… Đó là những cuộc phản kháng vô hiệu mà mỗi lần đều đem lại những trận đàn áp đẫm máu”.

Một cuộc biểu tình ôn hòa, với những đề nghị thỉnh cầu tối thiểu nhất, lại bị đàn áp dã man. Sau này, trong nhiều bài viết và báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đều dùng những chữ “ôn hòa”, “thỉnh cầu tối thiểu” để viết về tính chất, mức độ cuộc nổi dây của nông dân Trung Kỳ. Sự kiện tham gia vào phong trào chống thuế của nông dân 6 huyện tỉnh Thừa Thiên Huế đã đánh dấu một mốc quan trọng trong cuộc đời của Nguyễn Tất Thành. Cùng với hàng loạt phong trào yêu nước của nhân dân bị thất bại, sự kiện nông dân biểu tình đòi giảm sưu cao, thuế nặng đã tác động đến suy nghĩ của anh. Anh đã thấy sức mạnh của quần chúng nhân dân. Hành động của dân chúng đã vượt ra khỏi khả năng lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước tiến bộ, như sau này anh nhận định: “Quần chúng căn bản là có tinh thần nổi dậy, nhưng còn rất dốt nát. Họ muốn giải phóng, nhưng họ chưa biết cách nào để đạt được mục đích ấy”. Làm thế nào để các cuộc khởi nghĩa của đông đảo các tầng lớp nhân dân không bị đàn áp, bị chết chóc, tù đầy. Đó là câu hỏi đã làm cho Nguyễn Tất Thành trăn trở, suy nghĩ. Đây cũng là sự kiện tác động trực tiếp nhất đến Nguyễn Tất Thành để anh càng nung nấu quyết tâm đi ra nước ngoài xem người ta làm như thế nào, sau đó trở về giúp đồng bào mình. Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành, với tên mới Văn Ba, xuống làm phụ bếp trên chiếc tàu buôn của Pháp Đô đốc Latúsơ Tơrêvin, bắt đầu cuộc hành trình đi tìm chân lý. Cuộc lên đường này đã đánh dấu một quyết định táo bạo, nhưng hết sức đúng đắn của anh thanh niên yêu nước Ngưyễn Tất Thành, người sớm có chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào.

Rời Tổ quốc, hành trang theo Người là tấm lòng yêu nước, thương dân, quyết tìm cách cứu dân tộc khỏi bị nô lệ, lầm than. Lênh đênh bốn biển, từ Pháp sang Mỹ, sang Anh rồi lại trở lại Pháp. Làm đủ mọi nghề để kiếm sống, để thâm nhập đời sống của giai cấp công nhân, hòa mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc. Tại Pari, thủ đô của nước Pháp, trung tâm chính trị, văn hóa của châu Âu, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp, hoạt động trong Ủy ban vận động ủng hộ Cách mạng Tháng Mười của Đảng Xã hội Pháp. Cũng tại Pari, vào một ngày tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã được đọc Luận cương của V.I Lênin về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Luận cương của V.I. Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Sau này khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: ” Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Đến với Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với Luân cương của V.I Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã dứt khoát lựa chọn con đường, và cùng với những người cách mạng chân chính của nước Pháp, Nguyễn Ái quốc đã đã bỏ phiếu tán thành việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế thứ ba-Quốc tế Cộng sản, và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành Người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Những hoạt động xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc được Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đánh giá cao. Trung ương Đảng Cộng sản Pháp cử Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản. Điều này phù hợp với nguyện vọng cháy bỏng của Nguyễn Ái Quốc là muốn đến nước Nga, trung tâm của phong trào cách mạng thế giới để học tập kinh nghiệm lý luận và thực tiễn, chuẩn bị cho hành trình trở về tổ quốc. Và ngày 13-6-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rời nước Pháp, để đến Mátxcơva, nước Nga. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên có mặt trên đất nước Lênin, nơi nhân dân Liên Xô đã được tự do và đang xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, bình đẳng. Trên đất nước Lênin, quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Người đã học tập được kinh nghiệm xây dựng Đảng, và từng bước hoàn thiện việc khai phá con đường cứu nước.

Từ nước Nga Xô viết, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục vạch ra lộ trình của con đường cứu nước, Người trở về Quảng Châu, Trung Quốc, trung tâm của phong trào cách mạng châu Á, từng bước thực hiện tâm nguyện của mình: “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Tại Quảng Châu, Trung Quốc, từng bước thực hiện kế hoạch đã được vạch ra, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho sự ra đời một Đảng Mác xít ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã mở Lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị đào tạo đội ngũ cán bộ, chuẩn bị cho sự ra đời một chính Đảng. Cùng với việc đào tạo đội ngũ cán bộ, Nguyễn Ái Quốc chủ trương xuất bản báo chí làm phương tiện tuyên truyền. Và ngày 21-6-1925, Báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo ra số đầu tiên. Báo Thanh niên là tờ báo đầu tiên trong lịch sử báo chí vô sản nước ta góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam vào đầu năm 1930.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã từng bước lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cách mạng Tháng tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chính quyền non trẻ vừa ra đời, chưa có thời gian củng cố, thì lại phải đối phó với muôn vàn khó khăn: nạn đói nạn dốt, thù trong giặc ngoài. Và cả dân tộc Việt Nam lại phải bước vào cuộc trường chinh kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau Chiến thắng Việt Bắc Thu Đông năm 1947, để động viên mọi lực lượng phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27-3-1948, Ban Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ thị Phát động phong trào thi đua ái quốc. Chỉ thị vạch rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến thiết chóng thành công”.

Nhân dịp kỉ niêm 1000 ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước nhằm động viên toàn dân tập trung sức lực cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Như vậy một sự kiện lịch sử nữa được Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định vào tháng 6-1948. Điểm qua một số mốc kỷ niệm trong tháng 6, chúng ta thấy một sự chỉ đạo nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là việc phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, đánh giá cao vai trò của đông đảo nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Người đã nhìn thấy điều này từ khi tham gia phòng trào chống thuế năm 1908: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917″. Sau này Người viết: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta, thì chúng ta phải đi mau”. Đi mau bằng cách tham gia vào các phòng trào thi đua yêu nước. Sức mạnh của quần chúng, truyền thống yêu nước, ý thức tự lực, tự cường của dân tộc phải được tập hợp, tổ chức và động viên vào vào sự nghiệp cách mạng. Bởi vì “Tinh thần yêu nước cũng như thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất dấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”. Cùng với những văn kiện đã đi vào lịch sử như Bản Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến(1946), Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát đi ngày 11-6-1948, đã đi vào lòng người như lời hịch cứu nước, bởi mục đích của thi đua là để: “Diệt giặc đói khổ, diệt giặc dốt nát, diệt giặc ngoại xâm”, làm cho “Dân tộc độc lập. Dân quyền tự do. Dân sinh hạnh phúc”. Để đạt được mục đích đó không có con đường nào khác là: “Dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân. Để gây hạnh phúc cho dân”.

Khơi dậy truyền thống yêu nước của dân tộc ta từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tạo nên sự gắn kết tự nhiên giữa yêu nước và thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Thi đua là yêu nước, vì yêu nước phải thi đua. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có hàng trăm phong trào thi đua của các ngành, các cấp, các giới được phát động và động viên được toàn dân tham gia. Thi đua yêu nước đã đã góp phần làm nên những kỳ tích của nhân dân ta trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, trong công cuộc kiến thiết nước nhà. Ngày nay thi đua yêu nước vẫn sẽ là nội lực quan trọng giúp nhân dân ta giữ vững nền độc lập nước nhà, đưa nước ta ra khỏi cảnh đói nghèo, kém phát triển. Mục đích của thi đua là để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, như Nghị quyết của Đảng ta đã đặt ra.

Trong tình hình mới, điều kiện mới, phong trào thi đua yêu nước cần phải được tổ chức thường xuyên, có phát động, có kiểm tra, tổng kết, đúc rút kinh nghiêm, phổ biến sáng kiến, để động viên khen thưởng kịp thời; khen thưởng đúng người, đúng việc. Tránh phô trương, hình thức khi phát động gây lãng phí tốn kém không cần thiết.

Phong trào thi đua yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và phát động 60 năm về trước đã góp phần quan trọng đánh thắng giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, rất cần nhưng phong trào thi đua trong toàn quốc, trong từng ngành, từng giới, tạo nên nội lực đẩy mạnh công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, xóa đói giảm nghèo, đưa nước ta ra khỏi những nước kém phát triển, vững bước sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hàng mong muốn.

Nhớ lại những sự kiện tháng 6 trong cuộc đời hoạt động của Bác Hồ kính yêu, hiểu được ý nghĩa lớn lao sâu sắc của mỗi sự kiện đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, để tiếp tục đi theo con đường của Người, đó chính là một cách thiết thực nhất để góp phần thực hiện cuộc vận động: Học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh./.

Theo Phạm Thị Lai

baotanghochiminh.vn

UB Dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

 – “Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do môt người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải: “1. Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại, 2. Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức, tóm lại, phải vị tha, không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm “Tổ quốc trên hết” ở mọi nơi, mọi lúc… làm việc không biết mệt mỏi”, “xem thường cái chết”, “thuận theo hoàn cảnh”, “suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động”, “dựa vào sức mạnh của dân”, “xem thường danh vị, ngôi thứ, tiền bạc”, “không cục bộ”, “không kiêu ngạo” và “Kiên trì và nhẫn nại”. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại thì những khó khăn sẽ làm anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền”. Quan điểm Nguyễn Ái Quốc về phẩm chất “người cách mạng mẫu mực” viết trên báo “Thanh Niên” xuất bản tại Quảng Châu số ra ngày 18/9/1926.

dẢnh 1: 18/9/1945 Hồ Chí Minh tiếp các nhà tư sản có tiếng ở HN, tại Bắc Bộ phủ.

“Dòng sông lặng ngắt như tờ/ Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo/ Bốn bề phong cảnh vắng teo/ Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan/ Lòng riêng riêng những bàn hoàn/ Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng/ Thuyền về trời đã rạng đông/ Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi”. Bài thơ “Đi thuyền trên Sông Đáy” Bác sáng tác trên thuyền đi từ Khâu Lâu xuôi theo Sông Đáy về huyện Sơn Dương.

“Nam Bộ kháng chiến trước nhất. Chịu đựng gian khổ lâu nhất. Lại cách xa Chính phủ Trung ương nhất. Hoàn cảnh rất khó khăn. Nhưng sức kháng chiến ngày càng mạnh mẽ và có nhiều thành tích rất oanh liệt, vẻ vang.  Đó là vì đồng bào và bộ đội có lòng yêu nước rất nồng nàn, chí căm hờn giặc rất sâu sắc, lòng tin tưởng vào thắng lợi rất vững bền. Cho nên càng gian khổ, lại càng hăng hái. Chính như câu tục ngữ nói: Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Dù ở xa, nhưng lòng tôi và Chính phủ rất gần Nam Bộ”. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 6 năm Nam Bộ Kháng chiến, công bố ngày 18/9/1945.

Cùng ngày, trong bài báo “Chiến sĩ nấu bếp Hoàng Cầm”, đăng trên báo “Nhân Dân”, Bác động viên:“Dưới chế độ dân chủ của nước ta, bất kỳ ai làm việc gì mà cố gắng thi đua vượt mức thì tức là anh hùng… Nhiệm vụ của người nấu bếp cũng quan trọng như nhiệm vụ của người chỉ huy, vì “thực túc thì binh cường”, cơm no thì thắng giặc”.

dẢnh 2: Ngày 18/9/1946 trên tàu Dumont D; Urvilee trở về Tổ quốc.

Ngày 18/9/1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp khoảng 30 nhà công thương có tiếng ở Hà Nội, động viên các nhà hằng sản đóng góp cho “Tuần lễ Vàng” để “tỏ rõ cho thế giới biết người Việt Nam đồng lòng yêu nước”. (ảnh 1)   Ngày 18/9/1946, từ quân cảng Tulon, chiến hạm Dumont D’ Urville nhổ neo đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước kết thúc chuyến thăm Pháp kéo dài 4 tháng. Trên tàu còn có một số trí thức Việt kiều theo Bác về phục vụ đất nước như: Bác sĩ Trần  Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa”  (ảnh 2)…

X&N
bee.net.vn

Hồ Chí Minh bí mật đến Lư Sơn

Mùa hè năm 1959, cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được tổ chức tại Lư Sơn. Lúc bấy giờ, đối với quốc tế là một tin tức tuyệt mật. Nhưng lại có một vị nguyên thủ quốc gia của nước ngoài một mình đến Lư Sơn. Người ấy là ai? Người ấy đến Lư Sơn có công việc gì? Câu chuyện bí mật xảy ra cách đây hơn 50 năm đến nay cần được biết rõ.

Một mình lên Lư Sơn

Tháng 8/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm Liên Xô, lúc về qua Bắc Kinh, nghe ông Trần Nghị nói Mao Trạch Đông và các đồng trí khác đều đang họp tại Lư Sơn, Hồ Chí Minh quyết định một mình đến Lư Sơn. Theo nhật lý của ông Dương Thượng Côn và hồi ký của các nhân vật có liên quan thời kỳ bấy giờ, Hồ Chí Minh ngồi máy bay hàng không dân dụng Trung Quốc cất cánh tại sân bay Bắc Kinh, sáng sớm ngày 9/8, khoảng độ 10 giờ sáng hôm đó đã đến sây bay Thập Lý Phố của thành phố Cửu Giang. Khi Hồ Chí Minh vừa ra khỏi máy bay, các ông Dượng Thượng Côn, Uông Đông Hưng đã đón chờ từ lâu liền mang hoa đến, ông Dương Thượng Côn nói to lên: “Chúc Chủ tịch mạnh khoẻ, Mao Chủ tịch cử chúng tôi đến đón Bác”.

dHồ Chủ Tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai

Vì ở Lư Sơn đang có “cuộc họp bí mật”, nên ở Bắc Kinh Hồ Chí Minh đã nói trước là không tổ chức nghi thức đón tiếp, không đưa tin, không xuất hiện công khai. Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh thấy ông Dương Thượng Côn đặc trách xuống núi đón, người liền nói: “Là người cùng một nhà, đã nói trước rằng đừng có xuống núi đón tiếp cơ mà” và tươi cười hai tay nhận lấy bó hoa tươi.

Tiệc đón tiếp

Hai xe cùng lúc chạy theo hướng Lư Sơn, Dương Thượng Côn và Hồ Chí Minh ngồi xe thứ nhất, Uông Đông Hưng, Trình Tiên Hỷ và phiên dịch Việt Nam ngồi xe thứ hai. 12 giờ trưa, hai xe cùng đỗ tại toà biệt thự số 394, Dương Thượng Côn mời Hồ Chí Minh xuống xe, nghỉ ngơi tại đây. Nào ngờ Hồ Chí Minh lắc đầu và kiên quyết nói rằng: “Hiện giờ tôi đi gặp Mao Chủ tịch, tôi muốn sớm được gặp ông ta”.

Hôm ấy tại phòng khách gác 2 biệt thự số 180, đều bày đủ các món ăn, đồng thời bày thêm hai chai rượu Mao Đài. Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo khác mời Hồ Chí Minh ngồi ở chỗ thượng toạ, Hồ Chí Minh nhìn vào Mao Trạch Đông vừa cười vừa nói: “Ở đây đều là đồng chí anh em cả, ai lớn tuổi thì ngồi thượng toạ”. Mao Trạch Đông với giọng vùng Thiệu Sơn nói to rằng: “Được được, đồng chí Chu Đức lớn tuổi nhất ngồi thượng toạ, liền sau đó là Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Dương Thượng Côn… ngồi theo thứ tự.

Hồ Chí Minh nâng cốc, thay mặt Nhà nước và nhân dân Việt Nam cám ơn những người cộng sản Trung Quốc, và nói rằng: “Chúng ta vừa là đồng chí, vừa là anh em thật sự”. Câu nói ngắn gọn của Hồ Chí Minh làm xúc động nhiều người”.

Sáng sớm đã đột nhiên “mất tích”

Buổi chiều hôm đó, Hồ Chí Minh từ biệt thự số 180 trở về biệt thự số 394. Thể theo quy định thống nhất của cuộc họp, những người quản lý nói chung không ngủ tại toà biệt thự. Trình Tiên Hỷ không ngủ tại toà biệt thự này. Sáng hôm sau, khi anh Hỷ bước vào toà biệt thự 394 cảm thấy rất kỳ lạ, không thấy Bác Hồ, kể cả anh phiên dịch và vệ sĩ cũng tìm không thấy. Đang lúc anh Hỷ nóng ruột cầm điện thoại định hỏi rõ nguyên nhân, thì anh phiên dịch được người lái xe đưa về nhà, nói rằng Bác Hồ một lúc nữa sẽ về, đừng nóng ruột. Vậy Bác Hồ sáng sớm đi đâu, anh phiên dịch nói luôn một câu tiếng Trung Quốc rất mẫu mực là: “Hãy tạm thời giữ bí mật”.

Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đang ở trước cửa số nhà biệt thự 124 ngay cạnh con đường có cây thông, Bác đang nói chuyện với Lưu Thiếu Kỳ chăng? Không, Bác đang một mình ngồi trên ghế đá ngay trước cửa. Vì Hồ Chí Minh không cho phiên dịch trình bày, cũng không cho phép anh vệ sĩ đi báo cáo, còn Lưu Thiếu Kỳ và thư ký của ông ta vì tối thức khuya, nên chưa ai thức dậy, còn các nhân viên khác đều không nhận ra Hồ Chí Minh, anh quản lý Bành Dục Viêm mấy lần đều hỏi, có cần gọi thủ trưởng thức dậy không, Bác đều tỏ ý không cần thiết, vì chẳng có việc gì cả, ngồi tại đây chờ đồng chí Lưu Thiếu Kỳ ngủ dậy cũng chẳng sao.

Hồ Chí Minh nói tiếng Trung Quốc lưu loát, ăn mặc giản dị, trên đầu lại đội chiếc mũ vải màu ghi, người ta khó mà nhận ra ông già gầy còm này là một nguyên thủ nước ngoài. Khoảng độ 30 phút, Lưu Thiếu Kỳ ngủ dậy, cậu Viêm mới thông báo tình hình này, thư ký riêng mới mở cửa ra ngó nhìn, vào báo cho Lưu Thiếu Kỳ ra ngoài cửa mời Hồ Chủ tịch vào trong nhà.

Lưu Thiếu Kỳ cùng Hồ Chí Minh xem kịch Giang Tây

Tối ngày 11/8, Trình Tiên Hỷ đưa Hồ Chí Minh đến kịch viện nhân dân Lư Sơn xem vở kịch Truy ngưthuộc loại kịch của tỉnh Giang Tây. Vì quãng đường rất gần, Hồ Chí Minh không lên xe, mấy người cuốc bộ đến kịch viện. Khi đến kịch viện, đã trông thấy Lưu Thiếu Kỳ đứng đợi trước cửa. Khi thấy Hồ Chí Minh, Lưu Thiếu Kỳ liền bước đến gần nói: “Hồ Chủ tịch, Mao Chủ tịch dặn dò tôi đến cùng với Chủ tịch xem vở kịch này”. Tiếp đó, Hồ Chí Minh đi trước, bước vào kịch viện. Vở kịch Truy ngư là vở kịch xuất sắc của Đoàn kịch tỉnh Giang Tây, về lối hát, động tác và ánh đèn đều thuộc loại hạng nhất. Hồ Chí Minh chăm chú xem, cho tới lúc nghỉ nửa buổi, mới hỏi Lưu Thiếu Kỳ: “Về kịch Giang Tây với Kinh kịch, cách hát rõ ràng có khác nhau, song động tác múa trong vở kịch thì khác nhau không nhiều?” Ngày thường, Lưu Thiếu Kỳ ít khi bỏ thì giờ đi xem phim, còn xem kịch lại càng ít, nên đành thú thật nói rằng: “Tôi rất ít đi xem kịch, nghe nói các động tác trong Kinh kịch là hay nhất trong các loại kịch, nên các loại kịch khác cũng phỏng theo Kinh kịch”. Hồ Chí Minh liền gật đầu nói: “Loại kịch Giang Tây chưa được trình diễn ở Việt Nam, song Việt kịch của Quảng Đông thì ở Việt Nam được người ta hoan nghênh, Việt kịch tương đối chú trọng cách hát”.

Bị các đồng chí nữ đòi ăn kẹo cưới

Chiều ngày 12/8, đội quân nữ giới xông vào, trong đó có bà Thái Xướng vợ Lý Phú Xuân, bà Đặng Dĩnh Siêu vợ Chu Ân Lai, bà Khang Khắc Thanh vợ Chu Đức, bà Vương Quang Mỹ vợ Lưu Thiếu Kỳ cùng một số người nữ khác, nét mặt của các bà tươi cười, ai nấy đều mời Hồ Chí Minh ở lại thêm vài ngày nữa tại Lư Sơn.

Hồ Chí Minh nói: “Được được, khi nào Việt Nam thống nhất, tôi sẽ ở Lư Sơn trên nửa năm hay một năm gì đó”.

Bà Thái Xướng nói một cách lắt léo rằng: “Xin đừng đến một mình nhé”.

“Lẽ tất nhiên, tôi sẽ mời một số đồng bào cùng tôi sang đây ở”.

“Không, chỉ mời Bác và phu nhân”.

Bác cười, rồi nói thư thả: “À, té ra Đặng Dĩnh Siêu góp ý kiến trên hội đồng phụ nữ không muốn làm chiếc áo bông sợi tơ cho tôi là như thế này đấy”.

Một bà nhanh nhảu nói rằng: “Đúng vậy, bây giờ Bác nên lấy một bà vợ cách mạng, đừng có cứ bóc lột bà Đặng Dĩnh Siêu mãi”, trong phòng vang lên tiếng cười khà khà.

Hồ Chí Minh lâu nay vẫn sống một mình. Bao năm nay nhiều đồng chí Việt Nam và Trung Quốc đều quan tâm đến việc hôn nhân của Bác. Song khi còn trẻ, Bác đã có chí hướng: Tổ quốc không độc lập không thống nhất sẽ không kết hôn. Như vậy, những người bạn cũ quen biết lâu năm như Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu đành phải thường xuyên quan tâm đến sự mặc ấm cúng của anh cả này. Năm 1957, bà Đặng Dĩnh Siêu đã tự mình làm chiếc áo bông sợi tơ cho Bác.

Các đồng chí nữ luôn miệng nói đùa rằng: “Khi Hồ Chủ tịch sang đây lần nữa, chúng tôi phải đòi bác cho ăn kẹo cưới”.

6 giờ 30 phút sáng ngày 13/8, chiếc xe con đỗ ngay trước cửa toà biệt thự số 394. Trước lúc chia tay, Hồ Chí Minh tặng cho mỗi người làm việc trong biệt thự một cuốn sổ tay có mang chữ ký của Bác và huy hiệu kỷ niệm “Việt Trung hữu hảo”, đồng thời chụp ảnh kỷ niệm chung với mọi người làm việc ở đây.

(Trần Thiện – Xưa & Nay, số 331, 5 – 2009)
bee.net.vn

Dấu ấn văn hoá xứ Nghệ trong cuộc đời Hồ Chí Minh

Mỗi một con người, dù người đó là ai – là một người bình thường hay là một vĩ nhân, đều có một quê hương. Quê hương là nơi mỗi chúng ta được sinh ra và đón nhận những dấu ấn đầu đời. Những dấu ấn, cảm nhận đó đi sâu vào trong tiềm thức của mỗi chúng ta, từ đó hình thành nên những tâm tư tình cảm, tư tưởng, phong cách của mỗi con người trong cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta cũng vậy, Bác được sinh ra và sống những năm tháng tuổi thơ ở quê hương xứ Nghệ. Đây là một miền quê nghèo, người dân quanh năm phải chống chọi với thời tiết khắc nghiệt để sinh sống và chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương.

Chính vì vậy, con người xứ Nghệ luôn có những đức tính cần, kiệm, yêu lao động, đặc biệt là tinh thần yêu nước nồng nàn, sự đoàn kết, yêu thương, nhân ái. Bên cạnh đó, con người ở đây còn có tinh thần lạc quan, ham học hỏi để khắc phục thiên nhiên, cải tạo cuộc sống. Mang đậm dấu ấn văn hoá của núi Hồng, sông Lam, những làn điệu dân ca, câu hò ví dặm….đã tạo nên những nét độc đáo, riêng biệt không thể lẫn với bất cứ vùng nào. Sống trong một miền quê trù phú về văn hoá, tiếp xúc và cảm nhận được những tình cảm quê hương – từ nhỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được lắng nghe những điệu hò, câu ví qua giọng hát của bà, của mẹ, tiếp xúc với những tình cảm của xóm làng. Lớn lên được sự chỉ bảo, dạy dỗ nghiêm khắc của cha, sự yêu thương của mẹ và nhất là sự kèm cặp của ông ngoại, nên dấu ấn văn hoá xứ Nghệ càng thấm sâu vào trong tư tưởng, tình cảm của Người. Dấu ấn xứ Nghệ ấy trong Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp một phần rất lớn trong việc hình thành phong cách của Người.

Cụ thể, dù bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước; dù trong lao tù của thực dân, đế quốc hay trong gian khổ của cuộc trường kỳ kháng chiến nhưng lúc nào Người cũng luôn đau đáu nỗi nhớ về quê hương – nơi có những người thân yêu nhất của mình. Với Người, tình cảm quê hương là những gì thiêng liêng nhất:

Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình.

Những cán bộ, nhân viên, chiến sỹ…có vinh dự được sống gần gũi với Người đều có chung một nhận xét: Từ thuở niên thiếu cho đến lúc về già, từ người thanh niên yêu nước đến khi trở thành lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mang đậm phong cách quê hương xứ Nghệ qua từng lời nói, việc làm.

Trong tư tưởng tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giản dị đơn sơ trong cuộc sống là sự chí công vô tư, vượt lên hết thảy mọi sự ham muốn vật chất đời thường và đó cũng là sự cần, kiệm trong cuộc sống – một đức tính tốt đẹp của người dân xứ Nghệ.

Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Thủ đô, cuối năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch. Lúc đầu Thường vụ Trung ương Đảng sắp xếp cho Người ở tại ngôi nhà trước đây của Toàn quyền Pháp – một ngôi nhà sang trọng và đầy đủ tiện nghi. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khước từ và chọn cho mình một ngôi nhà của một người thợ điện để làm việc cho gần gũi với anh em và các đồng chí của mình. Sau này nơi ở của Người ngôi nhà sàn đơn sơ giữa vườn cây, ao cá giản dị đã đi vào huyền thoại.

Những đồng chí có dịp được ở gần Người, khi tận mắt chứng kiến bữa ăn của một vị Chủ tịch nước đều nhận xét: Người vẫn nhớ những món ăn đạm bạc của quê hương. Trên mâm cơm vẫn bát canh, quả cà, miếng cá kho hoặc miếng thịt kho, tuyệt nhiên không thấy những món ăn đặc sản, xa cách với người lao động.

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Dùng cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm nào, bởi vì Cụ trọng công đức của người lao động đã làm ra hạt lạc, hạt gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hoà ở một con người”.

Cách ăn mặc của Người cũng giản dị, thanh tao từ quần áo Người mặc, đôi dép cao su Người đi đều đã mang đậm dấu ấn cần, kiệm của văn hoá xứ Nghệ.

Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay vẫn lưu giữ bộ quần áo kaki Người mặc lúc sinh thời. Trước đây, khi thấy Người mặc bộ quần áo kaki cũ, các đồng chí phục vụ có ý đề nghị thay bộ mới hơn, Người nói “Dân ta còn nghèo, đang khó khăn nhiều, Bác có bộ quần áo này là đầy đủ lắm rồi”. Xí nghiệp May 10 của Tổng cục Hậu cần gửi biếu Bác bộ quần áo kaki mới, Bác nhận, song Người gửi lại để xí nghiệp làm phần thưởng thi đua cho anh em công nhân.

Trên cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn dành thời gian để tăng gia sản xuất, trồng rau, nuôi cá…quanh ngôi nhà Bác ở là một khu vườn với nhiều loại cây, hoa trái, trong đó có hàng dâm bụt – gợi nhớ quê nhà.

Như vậy, chỉ với những gì xung quanh thể hiện qua cách ăn, ở, mặc và sinh hoạt ta cũng đã thấy ở trong Chủ tịch Hồ Chí Minh có thấp thoáng dấu ấn quê hương, đó là sự giản dị, cần, kiệm, trọng lao động. Qua những hành động đó ta còn thấy được tình cảm sâu sắc của Người đối với quần chúng nhân dân, một tình yêu san sẻ không muốn sống “trên mức sống của một người dân bình thường”.

Tình nhân ái và yêu thương mọi người còn thể hiện rất nhiều qua những cử chỉ và hành động của Người, nhưng ở đây tôi chỉ muốn nhắc đến cái khái quát cao nhất đó là trong tư tưởng để Người đi đến hành động: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc, đó là nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, ai cũng có ăn, có mặc và ai cũng được học hành. Từ những mong muốn đó mà Người đã ra đi tìm đường cứu nước, vượt qua mọi gian khổ hi sinh. Tính nhân ái đó không chỉ thể hiện cho dân tộc Việt Nam mà cho những người dân lao động khổ cực trên thế giới, đi đến đâu, bất cứ nơi nào Người cũng cảm thấy đau xót trước những người dân mất nước, nô lệ lầm than. Tình nhân ái, và một tình cảm trân trọng tất cả những người xung quanh mình, đó còn là sự nâng niu tình cảm con người, sự bao dung khi đối với những người mắc sai lầm trong quá khứ, từ đó mà khơi gợi lại cho họ những đức tính tốt đẹp, hướng họ đến cái chân – thiện – mỹ.

Tinh thần lạc quan, ham học hỏi của con người xứ Nghệ, cũng được thể hiện rõ nét hơn qua cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng ta biết rằng, với tình yêu nước nồng nàn, để tìm đường cứu nước làm cho dân có ăn, có mặc và ai cũng được học hành, Người đã ra đi bằng hai bàn tay trắng, không kể giá lạnh của băng tuyết Người vẫn miệt mài làm việc như bồi bàn, quét tuyết, chụp ảnh… để có tiền hoạt động cách mạng. Rồi khi bị trong tù thì tinh thần của Bác vẫn không hề bị nao núng. Vượt qua những gian khổ ấy là nhờ người có một niềm tin vững chắc ở phía trước, một tinh thần lạc quan yêu đời. Những vần thơ với những trăn trở về thiên nhiên, quê hương đất nước là một bằng chứng về tinh thần lạc quan của Người. Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nhỏ đã rất ham học hỏi và đức tính đó là một trong những truyền thống của quê hương. Sau này cũng vậy, dù ở đâu trong hoàn cảnh nào Người cũng luôn tranh thủ học ngoại ngữ, đọc sách và nghiên cứu những vấn đề trên thế giới. Chính điều đó đã cho Người một kiến thức uyên bác về thế giới và về thời cuộc.

Như vậy, văn hoá xứ Nghệ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu một cách có chọn lọc. Những tinh hoa văn hoá ấy đã ăn sâu vào trong tiềm thức của Người, là một phần rất quan trọng trong việc hình thành phong cách Hồ Chí Minh. Vì thế, ở Hồ Chí Minh, bất cứ làm việc gì, khi còn trẻ hay đã già, trong phong cách ứng xử, sinh hoạt, làm việc, tư duy…vẫn mang đậm dấu ấn văn hoá quê hương. Có được điều đó cũng bởi từ rất sớm Người yêu tha thiết mảnh đất xứ Nghệ giàu truyền thống, yêu tha thiết những người dân lam lũ nhưng lạc quan yêu đời. Trước khi rời khỏi thế giới này, Bác vẫn nhớ da diết về quê hương xứ Nghệ của mình. Trong nhạc phẩm “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” của nhạc sĩ Trần Hoàn vẫn để lại một tình cảm xúc động cho chúng ta “…Chuyện kể rằng Bác đòi nghe câu Ví, nhớ làng Sen từ thửa ấu thơ…Bác muốn nghe một câu hò xứ Nghệ, bởi làng Sen day dứt trong tim…”.

Qua con người Hồ Chí Minh, chúng ta – những người dân Xứ Nghệ càng thêm tự hào và thêm yêu quê mình – một xứ Nghệ đã in đậm trong trái tim và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất./.

Theo Ngô Thị Vân – Gv Khoa Xây dựng Đảng
Truongchinhtrina.gov.vn
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn

Những giờ phút cuối đời của Bác Hồ

Suốt 45 năm say mê theo đuổi sự nghiệp điện ảnh, hai tác phẩm mà đạo diễn Phạm Quốc Vinh mãn nguyện nhất và mãi mãi không thể quên là “Những giờ phút cuối đời Bác Hồ” và “Bác đi chiến dịch”.

Năm 1989, khi UNESCO chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, ông Vinh đang chuẩn bị nghỉ hưu thì được Điện ảnh Quân đội và Bảo tàng Hồ Chí Minh giao một trách nhiệm trọng đại trong đời làm điện ảnh: Hoàn thành bộ phim về những giây phút cuối cùng của Bác Hồ ở thời điểm sau 20 năm kể từ ngày Bác ra đi.

Suốt 20 năm trước đó, những thước phim tư liệu do 2 nhà quay phim quân đội Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà thực hiện về những ngày cuối cùng của Bác cho đến khi các chuyên gia Liên Xô (cũ) thực hiện kỹ thuật gìn giữ, bảo quản thi thể của Người đã được cất giữ, bảo quản cẩn mật, và lúc này cần phải dựng lại thành phim hoàn chỉnh để lần đầu tiên công bố trước nhân dân.

Trước khi bắt tay làm phim, ông Vinh đã tìm gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Vũ Kỳ – Thư ký của Bác, để tìm thêm tư liệu cần thiết. Và từng dòng ký ức dần hiện ra…

Bác bắt đầu lâm bệnh ngày 12/8/1969. Hôm ấy, trời Hà Nội đã vào thu, se lạnh. Hay tin phái đoàn nước ta từ cuộc đàm phán Paris về, Bác chủ động đến thăm, làm việc.

Đến ngày 28/8, sức khỏe của Bác bắt đầu suy giảm nghiêm trọng, từ nhà sàn Người phải chuyển xuống tầng trệt. Tuy vậy Người vẫn không ngừng lo toan cho vận mệnh quốc gia, cho cuộc sống của nhân dân…

Đương khi nước sông Hồng dâng cao, sợ cơn lũ có đột biến, các đồng chí gần gũi chăm sóc ngỏ ý muốn đưa Bác tới nơi an toàn, nhưng Bác nói: “Tôi không thể xa dân”.

Các vị lãnh đạo Đảng lúc ấy hằng ngày túc trực bên giường Bác. Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỗi ngày vào thăm Bác ba lần. Trong cuốn sổ tay, đại tướng ghi rõ từng ngày:

– 24/8/1969 trở đi Bác mệt nặng.

– 26/8/1969: Khi vào thăm, giơ tay chào, Bác chào lại rồi bảo: “Chú về nghỉ”.

– 28/8/1969: Buổi chiều Bác hỏi việc chuẩn bị Quốc khánh 2/9 và dặn đồng chí Phạm Văn Đồng tổ chức lễ kỷ niệm cho thật vui, thật tốt. Tối có bắn pháo hoa nữa.

Dù cuộc sống chỉ còn gang tấc, Bác vẫn muốn ra dự lễ để gặp đồng bào năm, mười phút.

Bác đã trao đổi với đồng chí Lê Văn Lương và đồng chí Vũ Kỳ rất cụ thể: “Bác sẽ buộc khăn che cổ, Bác ra ngồi sẵn trong đoàn chủ tịch rồi mới kéo màn che của hội trường và bắt đầu cuộc mittinh. Bác sẽ nói sao cho đồng bào không biết là Bác đau”.

Thế nhưng, trên lễ đài kỷ niệm Quốc khánh ngày 2/9/1969 Người đã không thể có mặt! Bác Hồ đã trút hơi thở cuối cùng lúc 9 giờ 47 ngày 2/9/1969, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho tất cả nhân dân VN đến tận hôm nay.

Đến sáng 1/9/1969, Bác đã rất mệt. Phải đến 16 giờ cùng ngày 2 quay phim Nguyễn Thanh Xuân, Trần Anh Trà mới lần đầu tiên được vào hẳn phòng bệnh để ghi hình Bác trong những giờ phút cuối cùng quanh sự vây bọc, canh nom, lặng im, thương xót, cảm động của các vị lãnh đạo trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương…

Cho đến sáng 2/9/1969, khi tất cả các đồng chí cách mạng, học trò, người thân cận… sờ lên ngực, lên trán Bác và… cùng bật khóc!

Đạo diễn Phạm Quốc Vinh.
Ông Vinh kể lại: “Thanh Xuân giơ máy lên mà nước mắt cứ giàn giụa làm ướt cả thước ngắm của máy quay. Trong giây phút đó anh ấy chỉ còn biết để ống kính góc rộng và cứ thế giơ lên bấm máy”.

Tất cả đã lùi xa 20 năm nhưng ông Vinh vẫn ngỡ như giây phút lịch sử ấy mới vừa xảy ra hôm qua. Trong vai trò một đạo diễn, ông cùng các đồng sự phải chọn lọc những tư liệu, cảnh quay súc tích, đắt giá nhất của 2 nhà quay phim Thanh Xuân, Anh Trà và của chính ông quay được hình ảnh Bác trong những năm trước đó để làm một bộ phim để đời.

Từ những tư liệu cũ, ông Vinh thổi vào sự sáng tạo và với niềm rung cảm chân thành trong tim ông.

Với những cảnh Bác nằm bên dưới ngôi nhà sàn, đôi mắt nhìn đăm đăm ra xa, khi miền Bắc đương mùa nước lụt, ông Vinh liên tưởng ngay những thước phim tư liệu cũ ông quay những năm trước khi Bác còn khỏe, trong cảnh nước lụt mênh mang Người xắn quần, chân thấp chân cao bước lên cầu Long Biên để cùng bà con chống lụt.

Rồi ông chợt nghĩ đến những gì đã mãi mãi trở thành lần cuối cùng của đời Bác: bài viết cuối cùng về “người tốt việc tốt” Bác còn để lại, cây đa cuối cùng Bác trồng ở xã Vật Lại (Ba Vì, Hà Tây), buổi sinh hoạt vui cuối cùng với các cháu thiếu nhi… Cảnh ngôi nhà sàn đã buông rèm, căn phòng với giường chiếu đơn sơ của Người giờ trở nên trống lạnh với những kỷ vật nằm im, lưu giữ lại một phần lịch sử…

Kết thúc phim, ông Vinh muốn nhấn mạnh sự sống mãi của Hồ Chủ tịch trong lòng nhân dân VN bằng hình ảnh cuộc sống bình dị, thường ngày của Bác quanh ngôi nhà sàn thân yêu khi bài hát Bác Hồ, một tình yêu bao la cất lên.

“Những giờ phút cuối đời Bác Hồ” của đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã được Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trực tiếp duyệt ngày 17/4/1989; sau đó phim được tặng các bạn bè quốc tế và từ đó đến nay được chiếu thường xuyên tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Thủ đô.

Năm 1990, chỉ với hơn 20 bức ảnh tư liệu của nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp tại chiến dịch biên giới năm 1950 cộng với một vài cảnh tài liệu do Phan Nghiêm quay được cùng năm đó, đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã sử dụng lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để dựng nên những cảnh phim rất sinh động trong Bác Hồ đi chiến dịch Biên giới.

Một số nhà phê bình đánh giá đây là bộ phim tài liệu vào loại đặc biệt nhất trong các phim tài liệu VN do đạo diễn đã tìm được cách làm phim rất sáng tạo trong bối cảnh nguồn tư liệu có được quá ít ỏi.

Từ năm 1960 đến nay, đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã thực hiện tổng cộng 101 bộ phim, trong đó có 71 phim nhựa 35mm; năm phim nhựa 16mm.

Những tác phẩm mà ông trong vai trò biên kịch và đạo diễn đến nay vẫn còn nguyên giá trị như: Tiếng hát những người chiến thắng (1974), Ngọn cờ chiến thắng, Phía nam sông Hậu (1975), Chiến thắng Tà Xanh (1979), Lính Mỹ lại đến Hà Nội (1989), Bác nhớ miền Nam (1992), Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1993), Chiếu văn chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2004)…

Hiện đã ở tuổi 79, nhưng ông vẫn còn hợp tác với Điện ảnh Quân đội làm phim tài liệu về đề tài chiến tranh cách mạng…

Những cuốn phim tư liệu nay xếp chật trong ngôi nhà đạm bạc của ông ở phố Đội Cấn (Ba Đình, Hà Nội) và được bảo quản bằng cách cứ 2 – 3 tháng lại một lần rang gạo bỏ vào các túi để chống ẩm!

Theo Đoài Sơn
Tuổi trẻ Chủ nhật
dantri.com.vn

Bác Hồ lần đầu về thăm quê

(Dân trí) – Ngày 14/6 năm Đinh Hợi này là chẵn 50 năm ngày Bác Hồ về thăm quê lần thứ nhất, cũng là ngót 100 năm từ ngày Bác rời quê hương làng Sen bôn ba đi khắp góc bể chân trời.

Bác Hồ về thăm quê ở Kim Liên, Nghệ An ngày 8-12-1961

Nghe tin Bác về thăm quê, không riêng dân làng Sen quê nội, Hoàng Trù quê ngoại mà nhân dân cả huyện Nam Đàn, cả tỉnh Nghệ An đều náo nức mong chờ. Thời điểm đó miền Bắc mới được giải phóng, vừa bước qua thời kỳ 2 năm khôi phục kinh tế và văn hoá, hàn gắn vết thương chiến tranh; đời sống nhân dân còn nghèo, cơm ăn còn bữa có bữa không, áo quần chưa thật lành, nhưng đã hạnh phúc trong độc lập, tự do. Tin Bác về, từ trẻ em đến người già, ai ai cũng náo nức, phấn khởi, mặc những bộ quần áo đẹp nhất, mới nhất đi đón người con quê hương – lãnh tụ kính yêu của mình.

Buổi sáng ngày tháng sáu ấy trời nắng chan hoà. Những tia nắng như cùng reo vui chiếu rọi lên từng nét mặt chan chứa vui sướng tự hào cuồn cuộn đổ về Nam Đàn, về Kim Liên.
Bác kia rồi! Trong bộ quần áo ka ki bạc màu, đôi dép cao su mòn gót, Bác tươi cười vẫy chào nhân dân. Cả rừng người hò reo mừng đón Bác.

Một đồng chí lãnh đạo tỉnh Nghệ An trịnh trọng mời Bác đi vào nhà khách mới được xây cách đấy không lâu, nhưng Bác ngăn lại:

– Tôi xa nhà, xa quê đã lâu nay mới có dịp trở về, tôi phải về thăm nhà tôi trước đã. Nhà tiếp khách là để dành cho khách, tôi có phải là khách đâu!

Nói rồi Bác rẽ đi về lối nhà mình. Đến trước chiếc cổng tre dẫn lối đi vào nhà ngang thấy hàng chữ ghi trên tấm bảng nhỏ “nhà Bác Hồ”, Bác quay lại bảo với mọi người:

– Đây là nhà Cụ phó bảng chứ có phải là của Bác Hồ đâu!

Đúng vậy. Ngôi nhà gỗ 5 gian lợp tranh là của dân làng Kim Liên xuất quĩ công mua và dựng mừng quan đại khoa Nguyễn Sinh Sắc vừa thi đậu Phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901. Người anh của Cụ là Nguyễn Sinh Trợ cùng bỏ tiền dựng 3 gian nhà nhỏ dùng làm nhà ngang, mừng người em sắp vinh qui bái tổ.

Bác đứng tần ngần, nhìn bao quát 2 ngôi nhà, sân vườn. Khi nghe tiếng người cán bộ hướng dẫn mời Bác đi vào nhà, Bác ngập ngừng trong vài thoáng rồi thong thả đi dọc theo hàng rào bước đến góc vườn rẽ phải, theo hàng rào dâm bụt đi thẳng vào sân:

– Các chú mở lối đi vừa rồi là sai, cổng nhà Cụ Phó bảng ở hướng đông này chứ!

Bác dừng lại giữa sân, như muốn thu toàn bộ cảnh quan vào đôi mắt. Người chỉ cho những người đi theo đâu là nơi trồng cây ổi, chỗ nào có cây thanh yên đã mọc trên mảnh vườn xưa của nhà Bác. Bác đi vào nhà lớn, đi hết năm gian, đi đến đâu Bác chỉ cho mọi người vị trí đặt, để các đồ vật theo ký ức của Người.

Ở gian thứ nhất có kê bộ phản lớn làm nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc tiếp khách. Chính tại nơi đây, Nguyễn Sinh Cung đã được nghe không ít cuộc đàm đạo của các chí sĩ yêu nước, những người đồng chí hướng với thân phụ mình. Bàn thờ được đặt ở gian thứ 2. Chiếc bàn thờ này không có chân mà nó được đỡ trên 2 tấm gỗ đóng ống vào cột nhà. Bàn thờ là một tấm liếp bằng nứa trên trải chiếu mộc. Đồ thờ đều làm bằng gỗ mộc không sơn son thiếp vàng. Gian thứ 3 được quây kín thành một gian buồng giành cho chị gái bác là Nguyễn Thị Thanh tức Bạch Liên. Gian thứ 4 giành riêng để Cụ Phó bảng đọc sách, nghỉ ngơi. Ngoài bộ phản còn có một cái án thư. Gian thứ 5 cũng được kê một bộ phản dành riêng cho 2 anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung. Bác chỉ cho mọi người biết chiếc võng đay được mắc ở đâu, cái rương gỗ đựng thóc kê ở vị trí nào, cái tủ 2 ngăn đựng chén bát được đặt ở đâu… Đi hết nhà lớn, Bác bước xuống nhà ngang, ngày trước dùng để nấu nướng và để đồ.

Bác lại đi ra sân, đứng ngắm lại ngôi nhà đã gắn bó một giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời Bác. Ngôi nhà này là một kỷ vật chứng kiến quá trình lao động, học tập và trưởng thành từ năm mười một tuổi đến năm mười sáu tuổi của Bác, là nơi ghi dấu những cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước, về nhận thức xã hội và ghi dấu những hoạt động cứu nước bước đầu của Người.

Đã 50 năm trôi qua, những ai được vinh dự có mặt trong giờ phút thiên liêng của buổi sáng ngày 14/6/1957, hẳn không quên lời Bác:

– Tôi xa quê đã 50 năm rồi. Thường tình người ta xa nhà, lúc trở về thì mừng mừng tủi tủi. Nhưng tôi không tủi mà chỉ thấy mừng. Bởi, khi tôi ra đi, nhân dân ta còn nô lệ, bị bọn phong kiến đế quốc đè đầu cưỡi cổ. Bây giờ tôi về thì đất nước đã được giải phóng, nhân dân đã được tự do.

Quê hương nghĩ nặng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình

Nguyễn Hoàng Tửu
(ghi theo Vũ Kỳ)
dantri.com.vn

Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh

SGTT – Trong bài Bác Hồ ở Indonesia năm 1959 trên tuần báo Quốc Tế, cựu trung tướng Soehario Padmodiwirio đã kể với ký giả Đỗ Ngân Phương rằng, trong thời gian hai tuần Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Indonesia, ông (lúc đó mang quân hàm đại tá) đã được đích thân Tổng thống Sukarno cử đi bảo vệ.

Sự cẩn thận của Tổng thống Sukarno có lý do riêng của mình. Bởi, ngay tối hôm đầu tiên đến Jakarta, vị thượng khách của Tổng thống Sukarno đã làm ông một phen “đứng tim”.

Vi hành trong đêm

Tổng thống Soekarno che dù cùng Hồ Chủ tịch tại Bandung, nhân chuyến thăm Indonesia của Bác Hồ năm 1959 Ảnh: T.L

Ngày 27.2.1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Jakarta, bắt đầu chuyến thăm chính thức Indonesia. Đây là quốc gia thứ ba theo đường lối dân tộc chủ nghĩa mà Hồ Chủ tịch đi thăm, sau Ấn Độ và Miến Điện.

Ngay tối hôm đó, sau lễ đón chính thức, lúc trở về nghỉ ở tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Jakarta, Hồ Chủ tịch đã nói với ông Hoàng Tuý, một cán bộ tổng lãnh sự quán, rằng ông muốn đến thăm một gia đình Việt kiều ở Jakarta. Đó là một gia đình Việt kiều có nhiều gắn bó với quê hương, thông qua cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam.

“Thưa Bác, tại sao lại phải đến ngay lúc này? Bác mới sang còn mệt, chờ sáng mai cũng được mà”, ông Hoàng Tuý hỏi lại.

“Nhưng đúng lúc này bà con lại rất mong mình. Vả lại, chú đừng có lo. Mình lặng lẽ đi, không để ai biết cả, sẽ không có chuyện gì đâu”, Hồ Chủ tịch vừa nhìn thẳng vào ông Hoàng Tuý vừa đáp, như đọc được nỗi lo lắng trong mắt nhà ngoại giao trẻ tuổi.

Khi ông Hoàng Tuý đưa Hồ Chủ tịch tới gia đình Việt kiều đó, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt ông là cả gia đình đang quây quần bên chiếc radio, nghe tường thuật lại về chuyến thăm của vị nguyên thủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. “Khỏi phải nói họ đã từ ngỡ ngàng đến mừng rỡ thế nào, khi thấy Bác Hồ”, ông Hoàng Tuý kể lại.

Sau khi thăm hỏi, Hồ Chủ tịch mời cả gia đình về tổng lãnh sự quán. Khi họ tới, Hồ Chủ tịch đã nói với các nhân viên phục vụ người Indonesia: “Mời các bạn về nghỉ. Đây là việc trong nhà của chúng tôi”.

Tất cả mọi người trong tổng lãnh sự quán, kể cả vị tổng lãnh sự, đều phải vào vai phục vụ. Đun nước, pha trà, bày bánh kẹo, hoa quả…

Hôm sau, một nhân viên bảo vệ người Indonesia trong tổng lãnh sự quán nói với ông Hoàng Tuý: “Tôi phục Ông Cụ quá! Anh biết đấy, cũng như ở mọi cơ quan đại diện ngoại giao, các nhân viên phục vụ ở đây đều là sĩ quan an ninh cả đấy. Tôi quý Việt Nam thì không sao. Chứ những người khác, khi Ông Cụ rời khỏi đây, họ sẽ đến hoạnh hoẹ, hạch sách cái gia đình Việt kiều đó”.

Viên sĩ quan an ninh cũng kể lại với ông Hoàng Tuý rằng ngay sau khi nhận được tin Hồ Chủ tịch “vi hành” tối hôm đó mà không có xe cảnh sát bảo vệ, Tổng thống Sukarno đã gọi điện khiển trách bộ trưởng Nội vụ.

“Tổng thống Sukarno chỉ thay đổi thái độ, thậm chí cười tươi, khi sáng hôm sau, những tờ báo lớn của Indonesia trên bàn của ông đều giật những cái tít lớn, ý đại loại như Hồ Chí Minh quá tin tưởng vào nền an ninh của Tổng thống Sukarno”, ông Hoàng Tuý kể lại, và cho biết thêm tình hình Indonesia lúc đó khá phức tạp.

Ứng xử với học giả và báo giới

Nhà ngoại giao trẻ tuổi Hoàng Tuý cũng đã mục sở thị về những sự linh hoạt khác trong ứng xử thường ngày của Hồ Chủ tịch. Có hai câu chuyện mà ông thường kể lại cho học trò và con cái.

Từ trái sang (hàng ngồi): Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổng thống Soekarno, giáo sư Sjafei Soemardja tại học viện kỹ thuật Bandung năm 1959. Ảnh: Flickr

Một lần, Hồ Chủ tịch được mời đến giao lưu với giới học giả ở Jakarta. Đứng trên bục diễn giả, Hồ Chủ tịch đọc bài nói chuyện được chuẩn bị sẵn bằng tiếng Việt, chờ, thông dịch viên dịch sang tiếng Anh. Sau chừng dăm phút, ông Hoàng Tuý đã nhận thấy dưới các hàng ghế cử toạ nhiều khuôn mặt tỏ ra lơ đãng, thậm chí có những mái đầu bạc trắng đã hơi ngoẹo sang một bên, “Thôi, hỏng rồi”, ông thầm nghĩ.

“Các vị buồn ngủ lắm phải không?” Hồ Chủ tịch đột nhiên bật ra một câu tiếng Anh, Cả hội trường tự nhiên đầy tiếng lao xao.

“Nói chuyện với các học giả như các vị mà lại nói theo công thức, lại qua giọng đều đều của thông dịch viên nữa, các vị không buồn ngủ mới lạ”, Hồ Chủ tịch nói tiếp.

Những cánh tay giơ lên đặt câu hỏi. Cuộc trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh giữa Hồ Chủ tịch và giới học giả Indonesia đã diễn ra cực kỳ rôm rả. “Hồ Chí Minh đã chuyển bại thành thắng”, một vị học giả quen biết nói nhỏ vào tai ông Hoàng Tuý.

Một lần khác, trong một cuộc họp báo quốc tế, một phóng viên Mỹ đứng lên đặt câu hỏi: “Thưa ông Hồ Chí Minh, ông đánh giá về vai trò của Mỹ trong khối SEATO (tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á, gồm Úc, Pháp, Anh, New Zealand, Pakistan, Philippines, Thái Lan và Mỹ?”

Trước đó, Tổng thống Sukarno, dù thể hiện sự ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong sự nghiệp thống nhất đất nước, vẫn đề nghị Hồ Chủ tịch không nhắc đến tên nước Mỹ trong các phát biểu của mình trên đất Indonesia. Đơn giản bởi vì lúc đó Chính phủ của Sukarno đang nhận viện trợ của Mỹ.

“Ông là phóng viên của hãng nào?”, Hồ Chủ tịch hỏi lại.

“UPI”, phóng viên Mỹ dõng dạc xướng tên hãng.

“Thưa ông, SEATO là một tổ chức của Đông Nam Á. Vậy sự có mặt của những nước không thuộc Đông Nam Á trong tổ chức này có hợp lý không?”, Hồ Chủ tịch tiếp tục.

Phóng viên UPI im lặng.

Hồ Chủ tịch hướng ánh mắt về phía các phóng viên Liên Xô và Đông Âu. Một số tiếng “không” vang lên từ phía đó.

“Các vị là phóng viên của những hãng nhỏ mà trả lời được câu hỏi này. Thế mà ông phóng viên của một hãng hàng đầu trên thế giới lại không biết”, Hồ Chủ tịch khẽ lắc đầu.

Phóng viên UPI lặng lẽ bước ra khỏi phòng họp báo.

“Tôi đã được nghe nhiều chuyện về cách ứng xử của Bác Hồ với người Pháp, người Liên Xô, hay người Trung Quốc, nhưng những điều tận mắt chứng kiến như trên khiến tôi tin người ta đã đúng khi nói rằng có một phong cách Hồ Chí Minh”, ông Hoàng Tuý kết luận.

HUỲNH PHAN

sgtt.vn

70 năm, Người về chỉ lối

Đúng vào ngày này 70 năm về trước (28-1-1941), Bác Hồ về nước. Từ mọi hoạt động của Người trong năm Tân Tỵ lịch sử ấy đã tạo nên những nền tảng đầu tiên cho cuộc cách mạng vĩ đại nhất của lịch sử dân tộc

Phải đến 30 năm kể từ năm 1911 – thời điểm người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành xuất hành rời Bến Nhà Rồng đi tìm đường cứu nước – Bác mới có thể đặt chân lên địa đầu biên giới phía Bắc. Cũng sau chừng ấy thời gian, đất nước mới đến được thời cơ cách mạng.

Bác Hồ làm việc tại Pắc Bó (Cao Bằng) trong những năm 1940. Ảnh: TƯ LIỆU

Như vậy là mùa Xuân 1941 đã đến với Tổ quốc VN bằng tin vui lớn – Bác về, như một ánh lửa, một ngọn lửa sưởi ấm không gian đất nước, rồi bùng lên thành một rừng lửa thiêu cháy toàn bộ cơ đồ chủ nghĩa thực dân đặt lên đầu lên cổ 25 triệu dân ta sau ngót 80 năm nô lệ. Năm 1941, ngay sau khi về nước, Bác đã chọn hang Cốc Bó (đầu nguồn) làm nơi ở đầu tiên. Và dĩ nhiên, với một người xa nước, xa nhà trong suốt 30 năm thì nơi đây, dẫu chỉ là suối và hang, vẫn là nơi duy nhất gợi biết bao là cảm xúc, để Bác có thể “tức cảnh” mà có hai bài thơ vào tháng 2-1941:

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà

Sớm ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Ngay sau Tết Tân Tỵ 1941, Bác đã khai bút bằng 2 bài thơ “tức cảnh” và “sinh tình” là thế, như là một cách Bác nói với mình và về mình; để rồi ngay sau đó là hàng chục bài thơ khác Bác viết cho đồng chí, đồng bào như một cách huấn luyện, tuyên truyền đưa quần chúng vào trường học cách mạng đã ra đời, như: Ca công nhân, Ca dân cày, Ca binh lính, Kêu gọi phụ nữ, Kêu gọi thiếu nhi, Trẻ chăn trâu, mỗi bài trên dưới 20 câu với chữ nghĩa nôm na, vần điệu dễ nhớ, đọc chỉ vài lần là thuộc…

Người yêu nước lớn – Nguyễn Ái Quốc, nhà cách mạng vĩ đại – Hồ Chí Minh bất cứ lúc nào cũng có thể làm thơ trong một giao cảm lớn với nhân dân và Tổ quốc.

Năm 1941, hơn 3 tháng sau khi về nước, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII. Vào tháng 5, trên một cái lán có tên Khuổi Nậm, hội nghị đã quyết định chiến lược giải phóng dân tộc với hàng loạt công việc trọng đại và cụ thể, như thành lập Mặt trận Việt Minh (thường gọi tắt là VN Độc lập Đồng minh); xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang, thành lập Đội VN Tuyên truyền Giải phóng quân… tiến tới tổng khởi nghĩa toàn quốc.

Năm 1941 – chẵn 70 năm về trước, tính tới Xuân Tân Mão 2011 này, đã đến với dân tộc VN sự kiện Hồ Chí Minh về nước; để từ mọi hoạt động của Người trong năm Tân Tỵ lịch sử ấy mà tạo nên những nền tảng đầu tiên cho một cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Đó là khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Việt Minh, với hạt nhân trung tâm là Đảng, và người anh hùng số 1 vừa là lãnh tụ của Đảng vừa là của dân tộc, có tên Nguyễn Ái Quốc, lúc này đang trong vai một ông ké cách mạng mang bộ y phục người Nùng. Ông ké ấy trong bận rộn với bao công việc trọng đại của đất nước vẫn rất mực ung dung trong những bài thơ khai bút viết cho mình; và rất mực gần gũi, thân thiết viết cho đồng bào mình ở một nơi, được gọi là đầu nguồn (Cốc Bó) – nơi 20 năm sau, vào ngày 20-2-1961, cũng vào mùa Xuân, Bác sẽ lại có thơ về nó:

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh _Nhật, Tây
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay.

Mùa Xuân này, vào những ngày này, cả dân tộc hãy hướng về nguồn Cốc Bó và cột mốc biên giới có số hiệu: 108 – nơi in dấu chân đầu tiên của Bác, nơi cả dân tộc chờ đón Bác sau 30 năm xa xứ…

GS Phong Lê

nld.com.vn

Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (28-1-1941/28-1-2011)

Thấm thoắt, 70 năm đã trôi đi với biết bao biến cố, đổi thay vĩ đại trên quê hương Việt Nam. 70 năm trước, vào một ngày xuân năm 1941 (ngày 28-1), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng một số cán bộ thân cận từ nước ngoài trở về đến Pác Bó, một bản biên giới thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng (Cao Bằng). Sau ngót 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân, Người trở về đúng thời điểm lịch sử, vạch ra phương châm chuyển hướng chỉ đạo chiến lược lãnh đạo cách mạng đi đến Cách mạng Tháng Tám thành công…

Nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân vừa có cuộc hành quân về nguồn Pác Bó, thấy như đâu đây, đất rừng Pác Bó quê hương vẫn còn ấm dấu chân Người.

Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!

QĐND – Chúng tôi quyết định thực hiện chuyến hành quân về nguồn Pác Bó khi tâm trạng còn lâng lâng hạnh phúc với niềm vui vừa có gần chục ngày tham gia tuyên truyền về diễn biến và thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Niềm vui ấy, khiến chúng tôi quên khuấy nỗi lo đặt ra khi khởi bước lên đường là cả tổ phóng viên, chưa có ai biết đường lên Pác Bó. Xe đến thị xã Cao Bằng, đứng trước bốn năm ngã rẽ, chúng tôi mới bối rối thực sự. Đành gọi điện, hỏi thăm các đồng nghiệp ở Báo Cao Bằng. Đúng là “khôn ngoan chẳng lọ thật thà”, vì Ban biên tập Báo Cao Bằng vui vẻ cử hẳn nữ phóng viên Hoàng Hồng Xiêm, một người con Pác Bó, rất am hiểu lịch sử quê hương, làm người dẫn đường kiêm “hướng dẫn viên” đưa chúng tôi về với mảnh đất cội nguồn cách mạng.

Ban đầu, Hồng Xiêm tỏ ra bẽn lẽn trước các “nhà báo lính” mà cô chưa quen. Thấy cô họ Hoàng, chúng tôi hỏi câu chuyện làm quà: “Nghe nói ở Pác Bó có hai dòng họ là họ Hoàng và họ Dương. Trong thời gian Bác Hồ về đây, họ Dương nổi tiếng với những chiến công bảo vệ Bác khỏi những đợt đi càn của lính Tây, lính dõng; còn họ Hoàng thì đùm bọc, chở che, đưa cơm nuôi dưỡng cán bộ các lớp học do Bác Hồ mở trong hang?”. Nghe câu hỏi ấy, Hồng Xiêm hào hứng hẳn lên, hỏi lại: “Các anh đã tìm hiểu về Pác Bó, có nghe tên nữ lão thành cách mạng Hoàng Thị Hoa bao giờ chưa?”. “Cụ Hoàng Thị Hoa, cô chị cả của ba chị em Hoa, Khìn, Bách hằng ngày vẫn đưa cơm cho Bác Hồ?”. “Đúng, chính xác, em chính là cháu nội bà Hoàng Thị Hoa”.

Tranh sơn dầu "Bác Hồ về nước" của hoạ sĩ Trịnh Phòng (ảnh chụp lại).

Trời đất! Chúng tôi nghe nữ nhà báo Hồng Xiêm trả lời mà như một tiếng reo mừng thắng lợi. Ba chị em nhà cụ Hoàng Thị Hoa chính là những lão thành cách mạng từng nuôi dưỡng, bảo vệ Già Thu (tên Bác Hồ khi về Pác Bó) còn sống. Và trong thâm tâm, chúng tôi hy vọng chuyến đi về nguồn lần này sẽ được gặp ba chị em, ba cụ bà lão thành cách mạng đã tham gia nuôi dưỡng Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong buổi đầu cách mạng còn trứng nước ấy. Không ngờ, người dẫn đường cho chúng tôi lại chính là cháu gái của cụ Hoa. Cô cháu gái là niềm tự hào của cả họ vì đã tốt nghiệp hai trường đại học, nay đang là một trong những phóng viên xông xáo của Báo Cao Bằng. Càng đặc biệt hơn, Hồng Xiêm rất thích thú với công việc sưu tầm tư liệu lịch sử về vùng quê cách mạng Cao Bằng.

“Các anh có biết vì sao Bác Hồ chọn đất Cao Bằng để về nước xây dựng căn cứ địa cách mạng đầu tiên?”, nữ đồng nghiệp Hồng Xiêm “kiểm tra” chúng tôi. Cái này thì chúng tôi cũng đã được đọc hồi ký của một số lão thành cách mạng. Đại thể, từ cuối năm 1940, trong nước bắt đầu những ngày cách mạng sục sôi, tình thế cách mạng phát triển thuận lợi, khởi nghĩa giành chính quyền đã trở thành khả năng thực tế. Trong năm bùng nổ ba cuộc khởi nghĩa: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương. Hai cuộc do đảng bộ địa phương lãnh đạo, một cuộc do binh sĩ yêu nước tự nổi dậy, thể hiện ý chí quật khởi của dân tộc, tinh thần tiến công cách mạng quả cảm của những người cộng sản. Các cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng Đảng ta đã rút ra được nhiều bài học quý về tổ chức và chỉ đạo đấu tranh vũ trang. Thời gian này cũng là lúc Thế chiến II đã bùng nổ, thực dân Pháp tham chiến nhưng chính phủ ở chính quốc phút chốc đầu hàng làm tay sai cho phát xít Đức; ở Đông Dương, chúng mở cửa rước quân Nhật vào. Nhân dân ta một cổ giữa hai tròng dưới gót giày đàn áp của đế quốc. Tình hình cấp bách đó, Bác Hồ đi đến quyết định sẽ về hẳn trong nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Bác đã chọn, quyết định về Cao Bằng và điểm dừng chân sẽ là Pác Bó…

“Không! Nếu thế thì đơn giản quá. Để Bác đi đến quyết định chọn Cao Bằng là nơi trở về lãnh đạo cách mạng, tổ chức Đảng và nhân dân Cao Bằng đã có cả một quá trình vận động, tạo nên các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để trở thành địa điểm được Bác chọn đấy các anh ạ” – Hồng Xiêm giải thích và không hề giấu giếm vẻ tự hào. Sự thực là từ cuối tháng 2-1940, được tin Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người. Sau gần 3 tháng, đến tháng 5-1940, đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác. Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh-Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái 2 cán bộ về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường xá.

Nhưng cuối tháng 6-1940, xảy ra sự kiện quân Nhật ném bom khiến đường giao thông Côn Minh-Lào Cai bị tắc nghẽn. Bác Hồ đóng vai thầy cúng đi kiểm tra tình hình thì thấy phong trào cách mạng của quần chúng ở khu vực giáp biên này chưa cao, nên đề nghị các đồng chí trong đoàn tìm hướng khác. Đầu tháng 1-1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tĩnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng. Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua lối Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và đội ngũ cán bộ ở đây khá vững vàng.

Năm 1961, khi trở lại thăm Cao Bằng, Bác Hồ đã viết những lời đầy xúc động: “Tôi luôn luôn nhớ đến những ngày tôi công tác ở tỉnh ta, cùng mấy đồng chí trong tỉnh trèo đèo lội suối, ở núi, nằm hang. Khi thì cùng 5, 7 anh chị em bí mật tuyên truyền, huấn luyện tổ chức; khi thì cùng các anh em du kích đánh Nhật, chống Pháp, trừ Việt gian; anh em no đói có nhau, đồng lòng một chí. Do đó mà đào tạo những cán bộ quân sự và chính trị. Tôi không bao giờ quên những ngày gian nan cực khổ đó”. Thăm lại hang Pác Bó, Bác viết bài thơ: “Hai mươi năm trước ở hang này/Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây/Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu/Non sông gấm vóc có ngày nay”.

Nghiên cứu báo cáo của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Bác Hồ nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước lại kề sát biên giới lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi; nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối được phong trào giữa Thái Nguyên với toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”.

Từ nhận định đó, ngày 6-1-1941, Bác Hồ cùng các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đường về bản Nậm Quang (Tĩnh Tây, Trung Quốc). Tại đây, Bác đã mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho hơn 40 cán bộ từ trong nước cử sang. Lớp học kết thúc đúng vào ngày 30 Tết Tân Tỵ năm 1941. Cũng trong ngày hôm đó, Bác bàn kế hoạch về nước. Người quyết định đi qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Lúc này, ở dọc biên giới, quân Pháp cho bọn lính dõng tay sai tăng cường lùng sục, bắt bớ. Để chắc chắn, Đoàn cán bộ về nước chia làm ba nhóm. Hai nhóm về trước nắm tình hình địch và tổ chức khảo sát đường đi. Ngay khi hai nhóm này lên đường thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây, Trung Quốc) để chờ tin, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi.

Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển, khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ một chiếc va li nhỏ được đan bằng mây tre để đựng quần áo và một chiếc máy chữ xách tay. Những người bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ về nước, ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, đồng chí Lê Quảng Ba còn có các đồng chí: Hoàng Văn Lộc, một cán bộ người dân tộc Tày, có kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp là một thanh niên rất khỏe, giỏi võ và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đường tắt.

Trong bức tranh “Bác Hồ về nước” nổi tiếng của họa sĩ Trịnh Phòng, chúng ta thấy Bác Hồ mặc bộ quần áo đặc trưng của đàn ông dân tộc Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu. Hồi ký của đồng chí Vũ Anh sau này kể rằng: Đó chính là sự ngụy trang rất tinh tế của Bác Hồ. Trước hôm về nước, Bác phân tích: “Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ”. Bác cũng tự lo cho mình một bộ trang phục của “chàng rể già người Nùng”.

Sáng sớm 28-1-1941, tức ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12 giờ trưa thì đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt-Trung, thuộc xã Trường Hà (Hà Quảng, Cao Bằng). Dừng chân ở cột mốc, đứng bên phía khắc dòng chữ An Nam (Pháp) với số hiệu 108, Bác lặng người vì xúc động. Tổ quốc đây rồi! Mảnh đất quê hương mà trong suốt 30 năm qua, Người luôn nghĩ đến không ngừng nghỉ, dù chỉ một phút giây. Đứng trên đỉnh núi, nhìn hai bên biên giới chỉ cách nhau bước chân, cùng màu xanh thẳm mà sao lòng Người nôn nao, bồi hồi, xúc động.

Nhà báo Hồng Xiêm dẫn đường đưa chúng tôi vượt qua hàng nghìn bậc đá, đến bên cột mốc cũ 108, sát cạnh đó là cột mốc mới mà ta và bạn vừa tiến hành cắm. Cột mốc mới mang số hiệu 675. Bất chợt, bốn câu thơ Tố Hữu vang lên trong mỗi chúng tôi: “Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!/Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người/Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ/Mà đến bây giờ mới tới nơi”.

——————-

Bài và ảnh: Nhóm phóng viên CTĐ, CTCT
Bài 2: Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

qdnd.vn