Thư viện

“Bác Hồ làm chủ hôn cho đám cưới của chúng tôi”

Bac Ho lam chu hon cho dam cuoi chung toi anh
Gia đình bà Trần Thị Thái.

(DVT.vn) – Bà Trần Thị Thái , nguyên cán bộ Cục Cảnh vệ, kể về mối lương duyên với ông Lý, do Bác Hồ tác thành vào ngày đầu xuân năm 1946.

Vào năm 1946, khi nước nhà vừa giành được độc lập, dù bận trăm công, ngàn việc nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tổ chức hôn lễ cho một nữ cán bộ cảnh vệ. Sự kiện này khiến những người trong cuộc rưng rưng nước mắt nhớ mãi…

Bà Trần Thị Thái, nguyên cán bộ Cục Cảnh vệ cho biết, bà có rất nhiều kỉ niệm trong 15 năm được làm công tác bảo vệ, phục vụ Bác Hồ.

Sau ngày Cách mạng  Tháng Tám thành công, bà Thái được phân công về Nhà in Lao Động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ở 51 Hàng Bồ, Hà Nội. Công tác ở đây được ít ngày thì cuối năm 1945, ông Trần Danh Tuyền, công tác tại Ban Bảo vệ Thành ủy Hà Nội gọi bà Thái lên trao đổi ý kiến về công việc. Sau khi hỏi thăm về gia đình, nguyện vọng, ông Tuyên đi thẳng vào vấn đề: “Tổ chức đã thống nhất và phân công đồng chí sang nhận công tác mới. Đó là bộ phận bảo vệ và phục vụ Bác Hồ”.

Khi nghe ông giao nhiệm vụ, bà Thái không tin vào tai mình, trong lòng cứ xốn xang. Là một thanh niên tham gia hoạt động cách mạng, chưa bao giờ bà nghĩ mình lại có vinh dự được bảo vệ Bác Hồ – lãnh tụ vừa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đêm ấy bà nằm thao thức, không sao ngủ được.

Đến bây giờ, nhắc lại kỉ niệm này bà Thái vẫn còn xúc động. Bà kể: “Địa điểm mà hôm sau tôi được dẫn đến là ngôi nhà cách dốc Cống Vị (Hà Nội) chừng 300 m, bên bờ sông Tô Lịch, ngược về phía chợ Bưởi. Ở đây tôi được anh Cả (tên thân mật của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Thường vụ Trung ương Đảng) hướng dẫn công việc cụ thể. Để giữ bí mật, tôi đóng vai là người con gái trong gia đình.

Công tác được mấy ngày thì một hôm, anh Cả gọi tôi lên họp. Đang chuẩn bị vào nội dung cuộc họp thì tôi thấy một ông cụ mặc bộ quần áo ka-ki bước vào. Tôi sững người khi thấy đó chính là Bác. Bác vui vẻ cười, hỏi thăm mọi người. Vì ở đây chỉ có duy nhất tôi là nữ nên Bác hỏi chuyện tôi nhiều hơn. Bác không hài lòng vì thấy cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của tôi còn quá thiếu thốn và nói với anh Vũ Long Chuẩn (ông Vũ Kỳ, Thư ký của Bác), anh Nguyễn Văn Lý (đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác, sau này là Cục trưởng Cục Cảnh vệ) thu xếp chỗ ăn ở cho tôi kẻo ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi xúc động quá, nghĩ mình chưa làm được gì cho Bác, mà ngược lại, Bác lại chăm lo cho tôi rất chu đáo.

Thời gian ở đây, ngoài công tác, chúng tôi được Bác cho học thêm về chính trị và một số vấn đề  khác. Bác giao cho anh Chuẩn chuẩn bị chương trình. Chúng tôi rất đoàn kết và yêu thương nhau như anh em trong một gia đình. Đặc biệt, tôi biết anh Lý đã thầm yêu mình. Tôi ngượng mà chẳng dám tâm sự với ai.

Một buổi chiều, xe đưa Bác về, anh Lý và anh Chuẩn đi cùng Bác. Lát sau, Bác cho gọi tôi lên. Tôi lo quá không hiểu có chuyện gì để Bác bận lòng. Khi lên thấy Bác tươi cười, tôi đoán ra chuyện Bác hỏi. Bác chỉ cho tôi chiếc ghế và nói: “Cô ngồi xuống đây, tự nhiên. Bữa nay Bác nói chuyện lâu đấy”.

Tôi ngần ngại, phần thì lo lắng, phần thì ngượng. Bác hỏi tôi về chuyện gia đình, công tác và học tập. Rồi Bác nhìn tôi, nhìn anh Lý cười và hỏi: “Cô Thái có người thương chưa?”. Tôi xấu hổ, lung túng, ấp a ấp úng mãi mới trả lời Bác: “Dạ, thưa Bác! Con… con… con còn ít tuổi, chưa nghĩ đến ạ”.

Nói như vậy là chưa thật đúng với lòng mình, nhưng tôi nghĩ đất nước mới giành được độc lập, điều kiện còn khó khăn, bộn bề công việc, làm sao mình có thể lập gia đình được. Lúc trong đầu tôi đang ngổn ngang suy nghĩ thì Bác hỏi tiếp: “Cô năm nay bao nhiêu tuổi?”. “Dạ, thưa Bác! Năm nay con 20 tuổi ạ”, tôi đáp. Bác cười đôn hậu: “Hai mươi tuổi mà còn ít à. Bác làm mối cho được không?”.

Tôi đỏ bừng mặt, tay cứ vân vê tà áo, trong lòng vui mà không dám nói ra. Lát sau tôi  mới dám ngẩng lên nhìn  Bác và liếc sang anh Lý. Thấy tôi như vậy Bác cười và không nói về chuyện này nữa.

Ít hôm sau, anh Cả nói với tôi: “Bác hỏi thật đấy. Bác giới thiệu cô với chú Lý, ý cô thế nào?”. Đến lúc này tôi mới thưa thật: “Được Bác và các anh tác thành cho thì còn hạnh phúc nào bằng”.

Đám cưới của chúng tôi đã được Bác cho tổ chức đúng vào ngày Tết Dương lịch năm 1946. Khách mời có anh Cả, anh Văn (tên gọi thân mật của đồng chí Võ Nguyên Giáp), anh Tô (tên gọi thân mật của đồng chí Phạm Văn Đồng), chị Thanh và một số người khác. Anh Cả còn đưa đến một chiếc bánh ga-tô và một bó hoa hồng rất đẹp mà Bác đã dặn đặt cho lễ cưới. Trước buổi liên hoan, chị Thanh nói: “Thưa Bác! Hôm nay là ngày vui của chị Thái, anh Lý và cũng là ngày vui của cả nhà ta. Xin Bác làm chủ hôn cho ạ”.

Bác Hồ nâng cốc, đọc hai câu thơ rồi nói với chúng tôi: “Lễ cưới đơn giản nhưng vui vẻ, cốt là ở tấm lòng. Sau này đất nước ta giàu mạnh, đám cưới con các chú sẽ tổ chức đàng hoàng và vui hơn”.

Chúng tôi thấy như không còn khoảng cách giữa một vị Chủ tịch nước với chiến sỹ của mình, mà như người Cha đang lo công việc cho con cháu trong nhà. Vợ chồng tôi vô cùng xúc động, tự hào về ngày vui của mình. Mùa Xuân năm 1946 ấy là mùa Xuân đầu tiên đất nước ta giành được độc lập và cũng là mùa xuân đầu tiên của vợ chồng tôi”./.

TheoNguyễnĐứcQuý
(Ghi theo lời kể của bà Trần Thị Thái)
Báo Doanh nhân Việt Nam Toàn cầu
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Lần cuối Bác muốn vào miền Nam…

Cây vú sữa miền Nam bên nhà sàn của Bác

Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”. Năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Năm 1962, Bác tiếp đoàn đại biểu Mặt trận do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu ra thăm miền Bắc. Bác rất xúc động khi được nghe các đại biểu kể về tinh thần bất khuất, bám đất giữ làng của đồng bào miền Nam.

Giờ phút chia tay ai cũng bùi ngùi xúc động. Sau khi nhận những món quà của đồng bào miền Nam, Người xúc động nói: “Bác chẳng có gì tặng lại đồng bào miền Nam cả, Bác chỉ có cái này” –  Bác đặt tay lên trái tim mình và nói: “Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”.

Thay mặt 14 triệu đồng bào miền Nam, Đoàn yêu cầu Trung ương: “Phải cố gắng giữ gìn sức khỏe của Bác cho thật tốt, để đồng bào miền Nam có thể được gặp Người khi nước nhà hoàn toàn thống nhất”.

lan cuoi cung bac muon vao nam 2
Bác ôm hôn ông Nguyễn Văn Hiếu, Thư  ký Ủy ban Trung ương

Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Đó là ngày 20/10/1962.

Trước đó, năm 1946, khi kháng chiến nổ ra ở miền Nam, Bác khẳng định: “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Đầu Xuân 1955, đồng bào miền Nam gửi tặng Bác cây vú sữa. Cây vú sữa này được trồng trong vườn Phủ Chủ tịch, Bác thường dành thời gian buổi sáng và sau ngày làm việc buổi chiều để chăm tưới cho cây vú sữa. Năm 1958 khi Bác chuyển về ở và làm việc tại nhà sàn, Người gợi ý chuyển cây vú sữa trồng cạnh nhà sàn để hàng ngày Bác được nhìn thấy cây vú sữa của miền Nam, như luôn được gần đồng bào chiến sĩ miền Nam thân yêu.

Khi Đảng và Nhà nước có ý định dành tặng Bác phần thưởng cao quý nhất, Huân chương Sao Vàng, Bác không nhận và nói hãy chờ khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng.

Tình cảm của Bác đối với miền Nam, miền Nam đối với Bác thật da diết, đúng như Tố Hữu viết: “Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà – Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha…”

Nhiều lần, trong chiến tranh, Bác đề nghị cho Bác vào Nam nhưng vì an toàn và sức khỏe của Bác, Bộ Chính trị đều không đồng ý.

Vào mùa xuân năm 1968, Bác dưỡng bệnh ở Bắc Kinh theo lời mời của Đảng và Nhà nước Trung Quốc. Trước khi vào Nam công tác, đồng chí Lê Đức Thọ bay sang Bắc Kinh báo cáo tình hình và nhận chỉ thị của Bác. Sau công việc, Bác nói:

– Chú vào trong đó bàn với chú Hùng (tức đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục), bố trí để Bác vào thăm đồng bào miền Nam.

Để từ chối Bác, đồng chí Lê Đức Thọ nêu lý do, nếu Bác muốn vào Nam chỉ có thể đi đường hàng không từ Hà Nội qua Phnôm Pênh, mà như vậy, sẽ phải làm hộ chiếu và mọi người sẽ dễ dàng nhận ra Bác vì Bác để râu…

Nghe vậy, Người bảo:

– Thì Bác cạo râu đi!.

– Nhưng Bác cạo râu đi thì đồng bào miền Nam không còn nhận ra Bác nữa!

Câu trả lời này khiến Bác ngồi yên lặng hồi lâu và không giấu được nỗi buồn.

Lát sau, Bác lại bảo:

– Cho Bác đi theo đường biển! Bác sẽ cải trang làm một thủy thủ hoặc giấu Bác dưới gầm tàu!. Và Người vạch ra phương án lên đường rất chi tiết, rất tỉ mỉ.

Nhưng đồng chí Lê Đức Thọ vẫn từ chối chuyến đi mà Bác Hồ mong đợi, vì sức khỏe của Người không cho phép, với lời hứa: Bộ Chính trị sẽ cố gắng thu xếp để đồng bào miền Nam sớm được gặp Bác!

Nhưng hơn ai hết, Bác biết rằng, ước nguyện lớn lao ấy khó còn có thể thực hiện. Khi chia tay người học trò của mình, Hồ Chủ tịch đã ôm lấy đồng chí Lê Đức Thọ và rơi nước mắt – những giọt nước mắt dành cho đồng bào miền Nam yêu quý của Người, còn xót xa, nóng hổi đến hôm nay…

Theo Báo Doanh nhân Việt Nam Toàn cầu
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Thơ Bác Hồ gửi ông bà Phan Anh

Luật sư Phan Anh là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Sau đó, ông đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng các Bộ Kinh tế, Thương nghiệp, Ngoại thương và Phó Chủ tịch Quốc hội. Ông là người được Bác Hồ yêu mến và trọng dụng.

anhtho Bac Ho gui ong ba Phan AnhÔng bà Phan Anh.

Như luật sư Phan Anh từng tâm sự: “Năm 1947, theo Bác Hồ, tôi cùng gia đình rời Hà Nội lên chiến khu. Hai chữ chiến khu đối với người trí thức lúc đó chứa biết bao bí ẩn, lo âu. Việc lên chiến khu là cả một sự thử thách lớn, không kém gì cuộc trường chinh”. Nhưng trong hoàn cảnh biết bao gian khổ, khó khăn, thiếu thốn nhiều bề, ông và gia đình được sống trong tình yêu thương của Bác, của đồng chí, đồng bào. Vợ chồng ông, hai nhà trí thức đã đem hết tâm sức và trí tuệ cống hiến cho cách mạng.

Những ngày ở chiến khu, luật sư Phan Anh là người được Bác Hồ đưa đọc đầu tiên những bài thơ cảm tác về Việt Bắc, về quyết tâm kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Đọc thơ Bác gửi, ông đã có những bài thơ họa lại và dịch một số bài thơ chữ Hán của Bác ra tiếng Việt. Ông và gia đình cũng được Bác tặng thơ – món quà mà gia đình ông trân trọng gìn giữ như bảo vật quý giá.

Thời gian ở chiến khu, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác về thi đua tăng gia sản xuất, tự cung tự cấp, mỗi gia đình cán bộ đều cố gắng trồng trọt và chăn nuôi để cải thiện một phần cuộc sống. Nhân Ngày sinh nhật Bác 19 tháng 5, bà Hồng Chinh, phu nhân của luật sư Phan Anh gửi lên Bác một số sản vật do tự tay mình lao động làm ra để báo cáo về việc chấp hành lời kêu gọi của Bác và khả năng thực hiện tự túc của gia đình. Bác rất cảm động và viết mấy vần thơ cảm ơn:

Cảm ơn thím biếu mấy vòng tơ
Mong chú làm thêm mấy vần thơ
Canh mướp ngon lành nhờ các cháu
Có sao viết vậy, chớ cười nơ.

Tháng 12-1949, bà Phan Anh sinh thêm một con trai. Vui mừng trước tình hình đất nước đang có nhiều tiến triển, ông bà đặt tên con là Phan Tân Hội. Được tin, Bác gửi thơ chúc mừng:

Chú thím thêm một con
Các cháu thêm một em
Bác Hồ thêm một cháu
Nước nhà thêm một công dân
Tương lai thêm một chiến sỹ.

Sau này, Phan Tân Hội đã tự nguyện xung phong vào quân đội, đúng như lời thơ Bác mừng năm xưa.

Năm 1950, bà Phan Anh ốm nặng được ra nước ngoài điều trị. Biết bà bị bệnh hiểm nghèo, muốn chuẩn bị tư tưởng cho ông nếu tình hình xấu xảy ra, Bác đã gửi mấy vần thơ phỏng theo mấy câu trong Chinh phụ ngâm:

Điện thường tới, người chưa thấy tới
Bức rèm thưa từng dõi bóng dương
Bóng dương mấy lúc xuyên ngang
Lời nào mười hẹn chín thường đơn sai.

Đọc thơ Bác, Luật sư Phan Anh cảm động về tấm lòng, sự quan tâm của Bác về bệnh tình đáng ngại của bà, cũng đồng thời là những lời động viên ông. Nhưng thật may mắn, sau một thời gian điều trị, bà Phan Anh đã trở về. Biết tin, Bác đã viết thư cho ông, sửa lại câu thơ cuối cho thích hợp với hoàn cảnh mới:

….Tình càng ấm áp, nghĩa càng sâu xa.

Nhận được thơ Bác, ông Phan Anh đã gửi thư cảm tạ, bức thư đề ngày 4-6-1950:

Một bức thư trao một tấm lòng
Tấm lòng ưu ái thấm non sông
Tin nhà giảm bệnh mừng khôn xiết
Nợ nước ơn sâu biết mấy trùng
Gánh nặng đường xa thêm mạnh sức
Gan bền, chí vững quyết ra công
Bên tình, bên nghĩa đôi đường vẹn
Ghi tạc muôn năm một chữ đồng.

Ông bà Phan Anh đã trân trọng gìn giữ các bài thơ thể hiện tấm lòng thương yêu cán bộ, yêu thương con người, yêu thương gia đình ông của Bác. Luật sư Phan Anh đã đột ngột qua đời ngày 28/6/1990, dù chiều 27/6/1990, ông còn đăng đàn phát biểu và lẩy Kiều tại Kỳ họp thứ 7 (Quốc hội khóa VIII) khiến cả hội trường vỗ tay nhiệt liệt.

Được biết, bà Hồng Chinh đang gấp rút hoàn thành bộ hồi ký nhiều tập, viết về luật sư Phan Anh và những sự kiện lịch sử mà ông đã kể cho bà nghe, cũng như những sự kiện bà biết, trong đó có nhiều câu chuyện về Bác Hồ kính yêu.

Theo HaNoimoi.com.vn
Huyền Trang (st)
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với bài Quốc ca Việt Nam

Quảng trường Ba Đình ngày 2.9.1945. Ảnh: Tư liệu

Quốc ca Việt Nam ra đời đã được 67 năm – cùng với Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô Hà Nội – Quốc ca Việt Nam đã hòa vào máu thịt của mỗi người dân đất Việt.

Dù ở đâu trên trái đất này, nếu ai đó hát Quốc ca Việt Nam thì hãy tin rằng đó là người bạn, người đồng chí của chúng ta. Nhưng cũng ít ai biết rằng Quốc ca Việt Nam gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày sôi nổi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Chính Người đã lựa chọn và sửa chữa để trở thành bài ca bất diệt của nước Việt Nam mới.

Trong những ngày tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945, Hội nghị quốc dân đã được thành lập với Chủ tịch là Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch là Trần Huy Liệu. Hội nghị quốc dân đã nhất trí thông qua Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Thủ đô là Hà Nội – đất đế đô ngàn năm văn vật, xứ sở của rồng vàng và bóng nước Hồ Gươm. Quốc kỳ là lá cờ nền đỏ, giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Còn bài Quốc ca, Hồ Chủ tịch đã giao nhiệm vụ tuyển chọn cho một số người với yêu cầu: Quốc ca phải hào hùng, thể hiện ý chí của dân tộc, lời lẽ dễ hiểu, dễ phổ cập trong dân chúng.

Ban tuyển chọn Quốc ca đã trình lên Hội nghị quốc dân và Hồ Chủ tịch 3 bài là: “Cùng nhau đi Hồng binh” của Đỗ Nhuận, “Diệt phátxít” của Nguyễn Đình Thi và “Tiến quân ca” của Văn Cao, cả 3 bài hát đều có thể trở thành Quốc ca, vấn đề ở chỗ chỉ được phép lấy một bài thật tiêu biểu. Và Bác Hồ đã có sự lựa chọn chính xác, để thông qua Ban Thường vụ Hội nghị quốc dân và Ban Thường vụ Trung ương Đảng.

Về bài “Cùng nhau đi Hồng binh” thì Hồ Chủ tịch không đồng ý, tuy Người không nêu rõ lý do. Nhưng có lẽ “Cùng nhau đi Hồng binh” lời ca còn đơn giản, còn lặp lại điệp khúc nhiều lần. Cho dù bài hát có ngôn ngữ dễ hiểu, nôm na và dễ phổ cập.

Được Nguyễn Đình Thi sáng tác trong cao trào kháng Nhật cứu nước, “Diệt phátxít” là ca khúc rất được phổ biến lúc bấy giờ, nhất là đối với tầng lớp thanh niên, học sinh. Âm điệu và lời hát hào hùng, như một tiếng kèn xung trận thúc giục mọi người xông lên giết giặc cứu nước. Tuy nhiên, bài hát cũng không được Bác Hồ lựa chọn, theo Người thì ca khúc này lời hơi dài, khó phổ cập. Mặt khác, một số từ ngữ dùng vào Quốc ca là chưa thích hợp. Ví dụ như câu “Diệt phátxít cùng bầy chó đê hèn của chúng”. Có lẽ Người muốn quốc ca không những sâu sắc về nội dung, mà còn phải đẹp về lời ca, từ ngữ.

“Tiến quân ca” được Văn Cao sáng tác đầu năm 1945. Cùng với “Du kích ca”, “Tiến quân ca” như mang được cả hình ảnh những chiến sỹ giải phóng từ chiến khu trở về. Bài hát gợi lên không khí trang nghiêm, hào hùng của những đoàn quân theo nghĩa lớn, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Bài hát có nhịp điệu thong thả như một khúc quân hành, như hiệu lệnh cho cả dân tộc tiến lên theo cờ Đảng để giải phóng non sông. Mặc dù bận rất nhiều công việc, Bác Hồ đã xem xét và sửa chữa một cách cẩn thận bài “Tiến quân ca”. Người đã sửa chữa một số câu từ, như câu mở đầu của “Tiến quân ca”, nguyên bản là “Đoàn quân Việt Minh đi…”, Người đã sửa lại là “Đoàn quân Việt Nam đi…”; hoặc câu “Thề phanh thây uống máu quân thù…”, Người đã sửa lại “Đường vinh quang xây xác quân thù…”. Rõ ràng những câu chữa lại của Bác Hồ chính xác hơn, đẹp hơn và đáp ứng yêu cầu của bài Quốc ca Việt Nam.

Sau khi cân nhắc kỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và các vị trong Hội nghị quốc dân đã nhất trí lấy “Tiến quân ca” làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 2/9/1945, trong không khí tưng bừng của lễ Tuyên ngôn Độc lập, Quốc ca Việt Nam đã vang lên trong hàng triệu trái tim của con dân Việt Nam, báo hiệu một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Nhắc lại sự kiện này, cố nhạc sĩ Văn Cao đã nói: Đây là hạnh phúc lớn lao nhất của đời tôi, là niềm tự hào không bao giờ quên khi được lãnh tụ kính yêu sửa chữa một tác phẩm nghệ thuật của mình.

Quốc ca Việt Nam đã trở thành một phần máu thịt của Tổ quốc và chắc chắn còn trường tồn rất lâu dài với lịch sử dân tộc. Cũng như bài Mácxâye, Quốc ca Pháp đã có lịch sử trên 200 năm, mặc dù nước Pháp từ cách mạng tư sản 1789 đến nay đã có bao nhiêu thay đổi. Cùng với suy nghĩ như vậy, tin chắc rằng “Tiến quân ca” mãi mãi là Quốc ca Việt Nam theo cùng với dân tộc trong công cuộc xây dựng “đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

(Theo lời kể của cố nhạc sĩ Văn Cao và nhạc sĩ Lê Mây)

Theo Báo Lao động
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Mở rộng thành phố phải căn cứ vào…

– Mở rộng thành phố phải căn cứ vào thiên thời (mưa, gió, nắng…), địa lợi (địa chất, sông, hồ…) và nhân hoà (lợi ích của nhân dân, của Chính phủ) là ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kế hoạch mở rộng Thủ đô tại cuộc họp của Bộ Chính trị, ngày 29/8/1958.

“Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao/  Muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần càng phải cao”.

Đó là khái quát tinh thần của tập thơ bằng chứ Hán “Ngục trung nhật ký”(Nhật ký trong tù) mà Hồ Chí Minh sáng tác trong thời gian bị giam tại các nhà tù của các lực lượng quân phiệt Trung Hoa tại Quảng Tây, Trung Quốc bắt đầu từ ngày 29/8/1942 khi bị giam ở nhà lao Tĩnh Tây và kéo dài cho đến 24/9/1942. Tổng cộng có 22 bài thơ bắt đầu từ bài có câu thơ trên.

Ngày 29/8/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh với lưu học sinh VN tại CHDC Đức.Ngày 29/8/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh với lưu học sinh VN tại CHDC Đức.

“Nhân dân ta sẵn sức, sẵn của, sẵn lòng/ Cán bộ tận tuỵ và trong sạch thì mười việc thành công cả mười”

Đó là lời kết của bài báo “Sẵn tiền sẵn lòng, tát Biển Đông cũng cạn” của Bác Hồ (với bút hiệu ĐX) đăng trên báo “Cứu Quốc” ngày 29/8/1952 khi nói về cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí trong thời kỳ kháng chiến kiến quốc.

“Mở rộng thành phố phải căn cứ vào thiên thời (mưa, gió, nắng…), địa lợi (địa chất, sông, hồ…) và nhân hoà (lợi ích của nhân dân, của Chính phủ). Công tác quy hoach thành phố phải hợp lý, bảo đảm được cả về kinh tế, mỹ quan và quốc phòng, phải có kế hoạch vận động quần chúng tham gia, có ban phụ trách để chịu trách nhiệm, tránh lối làm đại khái, lãng phí”.

Đó là ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kế hoạch mở rộng Thủ đô tại cuộc họp của Bộ Chính trị, ngày 29/8/1958.

X&N
bee.net.vn

Bác nói gì khi biết bộ đội ta chiến thắng giặc dốt?

– “Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân. Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa ta vào nơi mù quáng. Bộ đội ta tiêu diệt được giặc dốt, tức là tiêu diệt được một lực lượng hậu thuẫn của thực dân… Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch!”

Năm 1948, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra trên toàn quốc đã bước vào năm thứ hai. Sau những trận chiến đấu ác liệt cuối năm 1946 đầu 1947 tại mặt trận Hà Nội, lực lượng kháng chiến lại phải đương đầu với cuộc tập kích của thực dân Pháp lên Bắc Kạn hòng mở rộng chiến tranh lên chiến khu Việt Bắc nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến…

Trong bối cảnh chiến tranh ác liệt ấy, Bác Hồ vẫn chỉ đạo và động viên công cuộc kiến quốc, quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, trau dồi văn hoá và tinh thần cho toàn dân.

Ngày 24/2/1948, nhận được thông báo của Bộ Quốc phòng là tất cả các binh sĩ trong các đơn vị bộ đội ở Khu II và Khu III đều biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ, Bác Hồ viết thư khen ngợi: “Đó là một thắng lợi to cho quân đội ta, cho Chính phủ ta và cho dân tộc ta. Dốt nát cũng là một kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm. Địch dốt nát tấn công ta về tinh thần, cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực.

Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân. Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa ta vào nơi mù quáng. Bộ đội ta tiêu diệt được giặc dốt, tức là tiêu diệt được một lực lượng hậu thuẫn của thực dân… Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch!”.

Cũng trong tháng 2/1948, Bác Hồ gửi thư cho Hội nghị Tư pháp toàn quốc nhấn mạnh đến phẩm chất của người cán bộ tư pháp. Thư viết: “Các bạn là trí thức… Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân.

Các bạn là viên chức của Chính phủ… Do đó, nhiệm vụ của các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ…

Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp (tức là chăm lo việc công, giữ gìn pháp luật), “chí công vô tư” cho nhân dân noi theo”.

Cũng trong tháng 2/1948, Bác Hồ viết thư cho “các cháu nhi đồng trai và gái… đề nghị các cháu làm một việc: tổ chức những đội Trần Quốc Toản”. Thư viết: “Trần Quốc Toản là ai? Tổ chức như thế nào và để làm gì?

Cách đây chừng 700 năm, quân Mông Cổ đánh chiếm gần nửa châu Âu, chiếm gần hết châu Á và lấy cả nước Trung Hoa. Lúc đó quân Mông Cổ đem 30 vạn lính đến đánh nước ta. Do ông Trần Hưng Đạo cầm đầu, tổ tiên ta trường kỳ kháng chiến trải qua 4, 5 năm đánh tan quân Mông Cổ, nước ta lại được độc lập. Trần Quốc Toản là cháu ông Trần Hưng Đạo, khi đó mới 15, 16 tuổi, cũng đi đánh giặc và lập nhiều chiến công.

Bác không phải mong các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản để đi đánh giặc và lập nhiều chiến công, nhưng mà cốt để tham gia kháng chiến bằng cách giúp đỡ đồng bào. Từ 5 đến 10 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành.

Khi học rảnh, mỗi tuần mấy lần cả đội đem nhau đi giúp đồng bào. Trước thì giúp các nhà chiến sĩ, nhà thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ…

Các cháu nên hiểu rằng: giúp đỡ đồng bào tức là tham gia kháng chiến. Và do đó, các cháu sẽ luyện tập cái tinh thần siêng năng và bác ái để sau thành người công dân tốt của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ trong thơ các nhà sư

Ảnh internet

Tôi dừng lại khá lâu trong phòng thờ Bác Hồ mà theo sư bà là gian thờ đặc biệt. Tôi chăm chú xem những bài thơ của sư bà viết về Bác.

GIAO HƯỞNG

Chùa Cần Linh dù tên chữ hàm nghĩa rất hay, rất đẹp, song người dân thành phố Vinh vẫn thích gọi là chùa Sư Nữ, bởi vì từ trước đến nay các nhà sư trụ trì đều là sư nữ.

Sinh thời, “quan đốc học” Nguyễn Tài Đại (1921- 2005) có lần bộc bạch với tôi: Năm 1945 chừng mới 20 tuổi, sư cô Thích Diệu Niệm đã về trụ trì chùa Cần Linh. Ngôi chùa vốn đẹp nổi tiếng, từ ngày có sư cô “sắc nước hương trời” về trụ trì, chùa càng rực rỡ giữa hữu tình sông nước trời mây, càng nổi tiếng trong tâm thức người đời. Rồi một đồn mười mười, đồn trăm, hầu như tháng nào anh Đại cũng rủ mấy bạn trai vào chùa vãng cảnh để “tiện thể” được ngắm dung nhan “hơn hẳn các mỹ nhân trong tranh ta lẫn tranh Tàu” của sư cô trụ trì, nhờ đó anh Đại biết sư Thích Diệu Niệm có tài làm thơ.

Mùa thu Bính Tý (1996) mấy chủ nhật liền tôi chủ định vãng cảnh chùa Sư Nữ. Trong dòng người đến chùa sáng chủ nhật ấy, tôi nêu nguyện vọng muốn được gặp sư bà Thích Diệu Niệm, người suốt đời gắn bó với ngôi chùa này. Một ni cô lẳng lặng đi vào trong, lát sau ni cô ấy trở ra chắp hai tay trước ngực:

– Sư bà Thích Diệu Niệm mời lữ khách vào tham quan nội thất.

Sáng ấy, sư bà Thích Diệu Niệm dẫn tôi đi xem các công trình kiến trúc của chùa. Chùa được dựng cuối thời Lê, có gần 100 pho tượng. Năm 1992, chùa được xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia.

Sư bà vui vẻ cho tôi biết: Chắp tay chào nhau cung kính không phải là đặc trưng của riêng nhà Phật, từ xưa cách chào này đã rất thông dụng trong xã hội Việt Nam. Hình ảnh chắp tay thể hiện ý nghĩa hiệp chưởng- liên hoa thủ. “Hiệp chưởng” (hai bàn tay chụm lại) biểu trưng cho sự hòa hợp bình đẳng, hiệp sức chung lòng vì mục đích tốt đẹp cao cả. “Liên hoa thủ” (bàn tay hoa sen), chắp tay là biểu trưng của nụ búp sen, tuy chưa nở nhưng vẫn đủ đầy đặc trưng tốt đẹp của hoa sen – loài hoa biểu trưng nhiều ý nghĩa trong giáo lý đạo Phật. Chắp tay xã giao là “trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật”, hiểu nôm na là chúc mọi người đạo đức vẹn toàn, được vậy thì sẽ tiến tới thành Phật! Sau ngày người Pháp sang đô hộ nước ta, họ mang theo động tác bắt tay, kiểu chào của người phương Tây, dần người mình chạy theo mốt của người Tây mà đánh mất cái đặc trưng rất đẹp của tổ tiên mình!

Tôi dừng lại khá lâu trong gian phòng thờ Bác Hồ mà theo sư bà là gian thờ đặc biệt. Tôi chăm chú xem hết những bài thơ của sư bà viết về Bác và về tu hành. Những bài thơ được thể hiện trên giấy khổ lớn, có bài đã lồng vào khung lớn, có bài được sư bà dán trực tiếp lên tường của gian thờ. Dường như đoán biết vị khách lãng du tìm hiểu nội dung những bài thơ là có chủ địch, sư bà cho phép tôi chép vào sổ tay cả 9 bài thơ: Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam, Ơn Bác Hồ, Kính viếng bà Hoàng Thị Loan từ mẫu, Kính viếng hương hồn liệt sĩ, Mùa Xuân đến, Đệ tử, Hòa đàm, Khuyên tu, Không đề.

Sư bà Thích Diệu Niệm đã viên tịch hơn 10 năm rồi, như một nén tâm nhang kính dâng hương hồn bà, tôi xin lược trích giới thiệu 4 khổ thơ thứ 1,4,5,9 và 2 câu kết bài thơ Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam của sư bà khả kính:

BÁC HỒ LÀ BỒ TÁT GIÁNG VIỆT NAM

Có chính sách của Bác Hồ bảo đảm
Được tự do tín ngưỡng hợp lòng dân
Cả Việt Nam Phật giáo vững tinh thần
Tin tưởng Bác như mùa xuân hoa nở…

Lời Di chúc của Bác Hồ ghi tạc
Đoàn kết nhau gánh vác lấy non sông
Có tài năng và đạo đức chung lòng
Xây dựng nước nhà thành công vững chắc.

Công và của bỏ ra không ngần ngại
Quyết treo gương bác ái giữa toàn dần
Nghiên cứu trong đạo đức với tinh thần
Hồ Chủ tịch chí công – nhân độ nhất…

Bác đưa lại tự do và hạnh phúc
Phá xích xiềng áp bức, chống xâm lăng
Là vĩ nhân văn hóa vượt tài năng
Dựng lại nước phải chăng tài bậc Thánh
Nhìn ảnh Bác, cảm thấy người đạo hạnh
Bác Hồ là Bồ Tát giáng Việt Nam.

Ngày 23/1/2010, tôi và một đồng nghiệp đến Ban Quản lý dự án tôn tạo, mở rộng Khu Di tích lịch sử – văn hóa Nam Đàn. Sau đó, chúng tôi cùng ông Nguyễn Vương Lộc, Phó giám đốc Sở VH-TT&DL Nghệ An, lên Khu Di tích Kim Liên dâng hương viếng Bác. Từ làng Chùa, Hoàng Trù quê ngoại, khi chúng tôi chuẩn bị lên xe sang làng Sen, Kim Liên quê nội, bỗng gặp một đám khách từ ngoài cổng đang tiến vào, người vận áo dài cà sa màu vàng dẫn đầu, tiếp sau là các vị tăng ni, phật tử vận áo dài màu nâu.

Người dẫn đường đưa đoàn khách từ Vinh lên cho hay: Đây là đoàn khách từ TP Hồ Chí Minh ra, là khách của cơ quan anh, người dẫn đầu vận áo dài cà sa màu vàng là Thượng tọa Thích Thiện Chiếu, phó Ban Từ thiện – xã hội trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Kỳ Quang 2, Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh. Đoàn ra Vinh mấy ngày, đầu chiều đoàn sẽ bay vào TP Hồ Chí Minh. Sáng nay, anh thay mặt cơ quan tháp tùng Thượng tọa Thích Thiện Chiếu và các thành viên trong đoàn lên dâng hương viếng Bác.

Từ giờ phút đó chúng tôi sáp nhập vào đoàn khách đến từ TP Hồ Chí Minh để cùng sang làng Sen, lên núi Động Tranh, xã Nam Giang viếng mộ bà Hoàng Thị Loan. Khi đoàn dừng nghỉ dưới chân núi Động Tranh, tôi thấy Thượng tọa Thích Thiện Chiếu sử dụng đầu ô-tô làm bàn và ông đứng viết. Lát sau Thượng tọa cùng với mọi người trong đoàn vào quán ngồi uống nước chè xanh, ăn kẹo lạc, Thượng tọa xúc động đọc bài thơ ông vừa sáng tác trên đường từ làng Chùa, làng Sen đến núi Động Tranh. Đọc xong, Thượng tọa đồng ý cho bấm ảnh bản gốc bài thơ để lưu giữ một kỷ niệm đáng nhớ được gặp vị Thượng tọa phương nam trên vùng đất thiêng liêng quê Bác.

SÁNG MÃI ƠN NGƯỜI

Chủ trương đoàn kết đến thành công
Tịch mặc vẫn yên quyết một lòng
Bác dạy tự do duy hữu nhất
Hồ công độc lập thị vô song
Chí linh hòa kiệt lừng Âu Á
Minh trí hùng anh giống Lạc Hồng
Vĩ tận ơn Người lưu sử sách
Đại đồng chủ nghĩ khắp non sông.

dvt.vn

Bác Hồ ở “thủ đô gió ngàn”.

(DVT.vn) – “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ”. Cái “nhà sàn đơn sơ” nơi Bác Hồ tiếp nhà thơ Tố Hữu năm 1947 ấy là ở đâu? Tân Trào hay Định Hóa?

HÀM CHÂU

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Vui sao một sáng tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn
Bác kêu con đến bên bàn
Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ…

Trước kia, đọc mấy câu thơ hết sức quen thuộc ấy của Tố Hữu, tôi thường tự hỏi: Vậy cái “thủ đô gió ngàn”, nơi “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ” ấy nằm ở đâu trong chiến khu Việt Bắc bao la? Phải chăng là ở Tân Trào, Sơn Dương?

Phải đến gần đây, sau bốn lần “về nguồn” thăm Định Hóa, tôi mới biết rõ chốn “suối dài xanh mướt nương ngô” kia chính là ở Định Hóa.

Sở dĩ Định Hoá được chọn làm “thủ đô xanh” – hay còn gọi là “thủ đô gió ngàn” – trong những ngày đầu kháng chiến, bởi vì trước hết đây là vùng núi non hiểm trở, quân Pháp khó sử dụng xe cơ giới đánh chiếm. Nhưng ta thì lại có thể sử dụng mạng đường mòn xuyên rừng và đường ngựa thồ chằng chịt để liên lạc với vùng Tây Bắc, trung du và đồng bằng nước ta, cũng như với các cơ sở bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở miền Hoa Nam lúc bấy giờ còn nằm dưới quyền kiêm soát của Tưởng Giới Thạch. Định Hoá không quá xa miền xuôi như vùng căn cứ Pác Bó (Cao Bằng), tiện cho việc kịp thời chỉ đạo cuộc kháng chiến trong cả nước.

Ngay từ năm 1906, nhà yêu nước Phan Bội Châu từ Quảng Châu trở về Định Hoá, đã có ý định xây dựng nơi đây thành căn cứ chống Pháp, nhưng không thành. Bởi vì, lúc bấy giờ, mới chỉ có địa lợi, chứ thiên thời chưa xuất hiện, và nhân hoà cũng chưa rõ nét. Phải đến thập niên 1940, thì mới hội đủ cả ba yếu tố đó.

Chúng ta còn nhớ, đến cuối tháng 8/1945, cách mạng mới thành công trong cả nước. Nhưng, riêng Định Hoá, thì sớm hơn nhiều. Rạng sáng 26/3/1945, Cứu quốc quân và tự vệ địa phương đã nổ súng đánh chiếm đồn lính khố xanh Chợ Chu. Rồi vào ngày 18/4/1945, 130 đại biểu đồng bào bảy dân tộc trong châu đã họp tại Bản Lác, bầu ra Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời .châu Định Hoá. Cán bộ và nhân dân Định Hoá luôn kiên trung với cách mạng.

Tập thể dục ở chiến khu.

Trong tám năm chống Pháp, Bác Hồ thay đổi chỗ ở nhiều lần quanh vùng Phú Đình (Định Hoá) và Tân Trào (Sơn Dương). Tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, hai xã này rất gần nhau, nằm hai bên ngọn núi Hồng. Bác thường “ung dung yên ngựa trên đường suối reo” qua lại trên con đường ngựa thồ vượt đèo De, ngọn đèo dài khoảng bốn ki-lô-mét. Nơi đây có cánh rừng phách, một loại cây thân gỗ khá lớn, lá rực vàng lúc thu sang, đã đi vào thơ Tố Hữu:

Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình…

Theo lời Bác dặn, những cái lán Bác ở phải đạt mấy tiêu chí sau đây:

Trên có núi,
Dưới có sông,
Có đất ta trồng,
Có bãi ta vui.
Tiện đường sang Bộ Tổng,
Thuận lối đến Trung ương.
Nhà thoáng, ráo, kín mái,
Gần dân, không gần đường.

Rất tiện cho công việc mà cũng rất đẹp, xét từ góc nhìn “phong thuỷ” cổ xưa hay sinh thái học hiện đại.

Trong bài Quê hương Việt Bắc, Nguyễn Đình Thi từng miêu tả ngôi nhà sàn của Bác Hồ ở Định Hóa bằng những câu thơ thật giản dị, sáng trong:

Một nhà sàn đơn sơ vách nứa
Bốn bên suối chảy cá bơi vui
Đêm đêm cháy hồng lên bếp lửa
Ánh đèn khuya còn sáng trên đồi

Nơi đây sống một người tóc bạc
Người không con mà có triệu con
Nhân dân ta gọi người là Bác
Cả đời người là của nước non…

Trong cuốn Những năm tháng bên Bác (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1985), đồng chí Hoàng Hữu Kháng kể:

“Chúng tôi làm cho Bác một cái “lầu”, tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí núi rừng ẩm thấp. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải, sang trái đều chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ.”

Bác Hồ và các đồng chí giúp việc.

Cái “lầu” mà đồng chí Kháng kể chính là ngôi nhà sàn ở Khuôn Tát, Định Hoá.

Qua cuốn Chiến đấu trong vòng vây (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1995), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho ta biết thêm: Bữa cơm của Chủ tịch nước lúc bấy giờ “phần lớn là sắn do cơ quan tăng gia, gạo chỉ loáng thoáng. Thức ăn duy nhất là măng rừng chấm muối”. Những hôm có khách, nếu săn thú trong rừng, câu cá ngoài suối chẳng được gì, thì Chủ tịch tiếp khách bằng “món đặc biệt trong ống tre, món thịt lợn thái nhỏ trộn với rất nhiều muối và ớt mà Chủ tịch thường dùng trên đường đi công tác.”

Năm 1947, những dãy núi chung quanh thung lũng Chợ Chu còn nhiều khỉ vượn. Cán bộ miền xuôi, nhất là thanh niên Hà Nội quen “sống vui phố hè” giữa “Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai”, những ngày đầu mới lên Định Hoá, nghe “vượn hót, chim kêu suốt cả ngày”, cảm thấy man mác một nỗi buồn nhớ thành phố, nhớ đồng bằng. Vẫn là tiếng “vượn hót, chim kêu” ấy thôi, nhưng Bác lại cảm thấy “hay”:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày.
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.

Bác Hồ chia vui với bà con thôn bản trong mùa gặt ở chiến khu.

Đúng là cảnh vật được cảm nhận qua tâm trạng con người. Như Nguyễn Du miêu tả, qua tâm trạng của Thuý Kiều trong những năm lưu lạc ê chề, thì “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”! Là nhà cách mạng từng trải, được tôi luyện qua lao tù ngục thất, quen nằm gai nếm mật, Bác Hồ luôn lạc quan. Hơn nữa, vào năm 1947, lực lượng cứu nước đã đông đảo, hùng mạnh hơn nhiều so với năm 1941, khi Bác mới về nước, ở trong hang Cốc Bó, thôn Pác Bó, “sáng ra bờ suối, tối vào hang”. Trong bài thơ Chúc năm mới, Đinh Hợi -1947, Bác viết những lời hào sảng:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông…

Bác vui vì thấy rõ:

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng…
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông…

Chính vì tin chắc vào sức mạnh quật cường của cả dân tộc nhất tề đứng dậy “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Bác mới có thể sáng tác nên bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc với âm hưởng lạc quan như vậy. Một số vị trí thức, nhân sĩ trong Chính phủ kháng chiến, lúc bấy giờ tuổi còn khá trẻ, như luật sư Phan Anh, xin được họa bài thơ này của Bác. Một không khí tin tưởng bao trùm khắp các cơ quan trung ương. Cuộc sống núi rừng với choé rượu cần, bát nước chè tươi, bắp ngô nếp nướng, và đôi khi có miếng thịt rừng quay, hóa ra cũng không đến nỗi buồn, mà còn có nét nào đó… “thật là hay”!

Giản dị như một nhà nông, Bác uống bát nước chè xanh với người dân.

Hai câu cuối nói lên tình cảm thuỷ chung của Bác: Sau ngày kháng chiến thành công, Bác sẽ trở lại thăm chiến khu xưa, không bao giờ quên những con người chất phác đã từng “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” với mình.

Bài thơ của một nhà cách mạng hiện đại, thế mà lại toát lên cốt cách thanh cao của một nhà hiền triết phương Đông cổ đại “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo hèn không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

dvt.vn

Phải thật lòng thương yêu đồng bào

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

TTCT – Khi mới giành được chính quyền về tay nhân dân, Đảng và Chính phủ phát động phong trào toàn dân tham gia diệt giặc đói. Hũ gạo tình thương (hũ gạo cứu đói) ra đời và được mọi gia đình hưởng ứng; khi chuẩn bị bữa ăn, trước khi cho gạo vào nồi nấu, người nấu tự bốc bớt một phần gạo cho vào hũ. Gạo trong hũ được định kỳ gửi đến chính quyền cách mạng để ủng hộ (cứu đói) những người dân thiếu đói.

Bác cũng tự nguyện thực hiện bằng việc mỗi tuần Bác báo cho bộ phận hậu cần cắt khẩu phần ăn không nấu, để Bác nhịn ăn một bữa, Bác thực hiện rất đều đặn và thường nhịn ăn vào bữa trưa. Biết chuyện, nhiều đồng chí Trung ương khuyên Bác làm như vậy ảnh hưởng đến sức khỏe, Bác cười hiền hậu nói: “Mình có đói mới hiểu nỗi khổ của người đói” và Bác kiên quyết thực hiện. Tiêu chuẩn khẩu phần ấy hằng tháng được chuyển đến cơ sở cứu đói của địa phương.

Năm 1946, khi dẫn đầu đoàn Chính phủ của ta sang Pháp đàm phán, biết người dân Pháp cũng còn rất nhiều người đói khổ, kể cả những nhân viên phục vụ nhà hàng cũng gom nhặt đồ ăn thừa của thực khách. Đoàn ta được đón tiếp và chiêu đãi trọng thị, đến bữa ăn Bác nhắc các thành viên trong đoàn: Ăn món nào thì ăn cho hết, thấy ăn không hết thì nên để lại nguyên món ăn đó, để cho người đói như thế cũng là một cách tự tôn trọng mình. Biết được thành tâm của Bác, không chỉ cán bộ trong đoàn ta xúc động mà các nhân viên phục vụ của Pháp rất cảm kích. Những việc như trên chính là đạo đức cách mạng, Bác luôn làm gương tiêu biểu nhất.

Đất nước ta trong những năm qua đã cơ bản giúp người dân xóa được nạn đói, giảm bớt nghèo, đây là thành tựu của toàn Đảng, toàn dân ta, các nước nghèo khác đang phải học tập cách làm của ta. Tuy nhiên người dân ta còn nghèo, nhiều gia đình còn rất khó khăn, rất cần những tấm lòng thương yêu, chia sẻ của những người có cuộc sống đầy đủ. Dân tộc ta có câu ngạn ngữ “Miếng khi đói bằng gói khi no”, sự giúp đỡ, ủng hộ dành cho người nghèo rất đáng trân trọng ghi nhận, nhưng phải thật lòng, không nên mang tính bố thí. Đồng thời với thực hành tiết kiệm, phải cùng chống lãng phí, chống ở tất cả mọi nơi, mọi việc làm, mọi sinh hoạt. Làm được như thế là góp phần giúp dân ta bớt nghèo, đó chính là hành động học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NGUYỄN KHẮC LUÂN (xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh)

tuoitre.vn

Giữ cái phúc của dân

TTO – Bác coi người cán bộ là đầy tớ của dân. Dân có phúc khi gặp người cán bộ biết lo cho dân. Còn cán bộ mà tha hóa về đạo đức thì đó là cái họa cho dân.

Bác Hồ là một tấm gương sáng về thực hành tiết kiệm. Với Bác tiết kiệm không có nghĩa là kiệt sỉ. Tiết kiệm phải phù hợp với tình hình thực tế, chi tiêu phải đúng lúc, đúng chỗ, phải đạt được hiệu quả cao!

Trong thời kì hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, Bác vẫn thường mặc chiếc áo len vừa cũ kĩ lại vừa bị rách. Bà Tống Khánh Linh khuyên Bác nên đổi chiếc áo khác nhưng Bác từ chối với lí do áo còn tốt. Cảm động quá, bằng bàn tay khéo léo của mình, bà Tống Khánh Linh đã mạng lại chiếc áo bị rách cho Bác.

Rõ ràng trong hoàn cảnh đó, tiết kiệm của Bác là đúng chỗ, và hiệu quả cao. Những người phục vụ khi thấy Bác vẫn mặc chiếc áo bông đã có nhiều miếng vá, ái ngại muốn Bác thay chiếc khác. Bác nói “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Hội phụ nữ cứu quốc Hà Động tặng Bác tấm áo lụa, trên ngực có thêu dòng chữ “Kính dâng Hồ Chủ tịch”. Bác cất đi không dùng, để tặng cho người có công với Tổ quốc!

Đến thăm làng Lỗ Khê (Đông Anh – Hà Nội), nơi có phong trào thi đua sản xuất giỏi, Bác căn dặn đồng bào: “Làm giỏi nhưng phải tiết kiệm giỏi”. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn thấy hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với bộ quần áo ka-ki màu sáng, cùng chiếc mũ cát-két và đôi dép cao su đã đi vào huyền thoại! Những người phục vụ vẫn thường thấy Bác mặc chiếc quần đùi cũ và chiếc áo may ô sờn vai…

Đề thi viết tháng thứ tư (từ 10-9 đến 10-10)

Sinh thời, Bác Hồ thường nhận được tặng phẩm như vải lụa, quần áo do các tầng lớp nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế gửi biếu, Bác đã dùng những tặng phẩm đó để tặng lại các cụ phụ lão, các anh em chiến sĩ, bộ đội, thương binh, bệnh binh và những người có nhiều thành tích trong học tập, lao động sản xuất, chiến đấu.

Trong khi đó, Bác vẫn mặc một chiếc áo bông đã được vá nhiều chỗ. Bác nói với các đồng chí phục vụ “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”.

Bạn hiểu thế nào về câu nói và về tấm gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh? Qua câu nói của Bác, bạn hãy viết lên những suy nghĩ của mình và liên hệ với thực tiễn ở địa phương, ngành mình… trong bối cảnh chúng ta đang thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí?

Bài dự thi không quá 1.000 chữ, gửi e-mail: theoguongbac@tuoitre.com.vn, hoặc qua bưu điện đến địa chỉ: Báo Tuổi Trẻ, 60A Hoàng Văn Thụ, Q.Phú Nhuận, TP.HCM.

TTO

Sáng ngày 24/7/1957, lúc đó Bác đang ở thăm Ba Lan, tại phòng lễ tân vào khoảng 9 giờ sáng, khi mặt trời đã lên cao mà ba chùm đèn với hàng trăm ngọn sáng trưng, Bác Hồ đã yêu cầu gặp Vụ trưởng lễ tân. Bộ trưởng Bộ ngoại giao nước bạn liền có mặt. Bác hỏi: “Chỗ tắt điện ở đâu?”. Lập tức mấy chiến sĩ bảo vệ đi tắt điện. Chủ tịch Ba Lan Zawasdzki nói giọng nghiêm trang: “Xin cảm ơn đồng chí Hồ Chí Minh. Tôi thành thật nhận khuyết điểm chưa nghiêm túc thực hiện chỉ thị tiết kiệm của Lênin”.

Khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà J.Xtin-sơn, nhà sử học Mỹ đã viết: “Tôi xin ca ngợi lời ca đẹp nhất về Người, tôi ngưỡng mộ Người bằng cả đầu óc khoa học của tôi, đồng thời bằng cả trái tim của người con gái hậu thế…. Hồ Chí Minh là một người cộng sản vĩ đại, là một siêu nhân. Người càng vĩ đại hơn ở chỗ Người là một con người bình dị…”.

Soi tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào thực tế hiện nay mà thấy chạnh lòng. Nhiều cơ quan đoàn thể thi nhau sắm xe hơi sang trọng đắt tiền, đập nhà cũ xây nhà mới. Nhiều lãnh đạo cũng thi “xem xe ai hơn xe ai” để bằng mọi cách mua xe đắt tiền, với tư tưởng “con gà tức nhau tiếng gáy”. Chính vì thế mới sinh ra tham ô, tham nhũng.

Có xe rồi phải biết ăn sang! Tôi từng chứng kiến nhiều hội nghị, tiệc tùng thấy có những vị lãnh đạo cứ nâng li liên tục, mồm hét lớn “Dzô! Dzô! Dzô!”. Họ uống rượu ngoại, bia hảo hạng, thứ ăn ê hề, thừa mứa… Như thế không chỉ là lãng phí mà còn thậm lãng phí.

Có thủ trưởng đứng trước cơ quan thì nói hay lắm, “tiết kiệm” lắm, nhưng thực tế là một người lãng phí có hạng. Lãng phí về sức khoẻ do chơi bời nhậu nhẹt; lãng phí về thì giờ do nói nhiều, bởi vì không có chuẩn bị trước; lãng phí tiền bạc của cơ quan vì “ tiếp khách”… Cán bộ xa hoa lãng phí, chắc chắn là phải phải dính tới gian trá, tham ô … Vậy, lớp trẻ, người dân học gì ở họ ? Hy vọng gì ở họ?

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt về thực hành tiết kiệm thật đáng để mọi người (trong đó có tôi) phải suy ngẫm…

ĐÀO SỸ QUANG
GV Trường Cao đẳng nghề Đồng Nai, P. Thống Nhất, TP. Biên Hòa

tuoitre.vn

Bác Hồ đi làm ruộng với nông dân

Bác sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhưng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò Bác sống ở quê giữa những người nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân. Những việc của nghề nông đối với Bác cũng không có gì xa lạ.

388.jpgBác Hồ tát nước với bà con Thanh Oai – Hà Đông. Ảnh: Tuấn Anh

Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, khi Người được bầu vào Ban chấp hành Quốc tế nông dân, có người thắc mắc, hoài nghi vì Bác khai trong lý lịch là xuất thân nhà nho, trí thức. Nghề nghiệp chính là thuỷ thủ, họ e rằng Bác sẽ không có điều kiện để am hiểu các vấn đề nông dân. Sau khi bế mạc Đại hội nông dân, các đại biểu đi thǎm một nông trang, thấy nông dân đang lao động, Bác cũng xắn quần xuống giúp một nông dân đang làm ruộng, việc nhà nông đối với Bác không gì khó khǎn, trong khi các đại biểu nhiều người đang lúng túng; thì Bác làm nhanh nhẹn như một nông dân thực thụ, trước con mắt thán phục của mọi người. Có ai biết một thời Bác ra đồng cùng người dân quê làng Sen làm lụng, hay những lúc đi trồng nho cùng những người nông dân nghèo khổ ở Bruklin nước Mỹ. Trên mặt trận báo chí công luận, Bác là người viết nhiều về nông dân, vạch mặt tố cáo sự bóc lột sức lao động người nông dân của địa chủ cường hào phong kiến, đẩy nông dân vào con đường bần cùng bằng sưu cao thuế nặng. Bác đã tìm ra và chính Người đã thực hiện cương lĩnh giải phóng người nông dân bằng cuộc cách mạng Tháng Tám lịch sử. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người Nga, một dân tộc đi đầu tiên phong, biến người nông dân lao động “thành người tự do”, nhưng nay họ chưa đi đến nơi đã tạm dừng. Còn người nông dân Việt Nam chúng ta luôn có Bác Hồ cùng đi bởi không chỉ tư tưởng Bác soi đường mà hình ảnh Bác dung dị bên người nông dân mãi mãi là chỗ dựa tinh thần để tự hào, tin tưởng và làm theo lời Người.

Cùng đổ mồ hôi với người nông dân mới quý hạt gạo, củ khoai, mới xót lòng khi bão lụt ập đến cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng. Ngay sau khi giành được chính quyền, tuy bận trǎm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khǎn, Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, trước hết phải lo cái ǎn để họ khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thǎm. Thế rồi, giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống cắt bǎng khánh thành chỗ đê vừa mới đắp. Bác đi xem kiểm tra một lượt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Người nhắc nhở phải tǎng cường gia cố mới an toàn. Bác vừa đi vừa nhún thử độ lún, Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tǎng cường thêm lực lượng để đầm thật kỹ mới bảo đảm lâu dài.

Thay mặt “Ban đời sống” mới nhà vǎn Nguyễn Huy Tưởng đến báo cáo với Bác là hoạt động của Ban dựa trên 3 nguyên tắc: dân tộc, dân chủ và khoa học, nghe xong, Bác liền nói: “Trong đồng bào ta chưa mấy người hiểu những từ chú nói mà hiện nay họ cần là cần cái này”, vừa nói Bác vừa chỉ tay vào bụng, “phải có cái ǎn đã, nếu không có ǎn không làm gì được. Hoạt động của ban “Đời sống mới” cũng phải tập trung cái đó đã, vận động bà con “lá lành đùm lá rách”, tǎng gia sản xuất, cứu đói”. Hậu quả nạn đói nǎm 1945 như một bóng ma ghê rợn phủ lên cuộc sống đói rách của người nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó khǎn thêm, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác đi xuống các địa phương như Ninh Bình, Thái Bình… để đôn đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, đắp đê phòng chống thiên tai… Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: “Các chú biết không, người xưa nói “dân di thực vi thiên”, có đồng chí tưởng Bác nói nhầm bèn chữa lại thưa Bác “dân dĩ thực vi tiên chứ ạ”, Bác cười và giải thích: “Bác nói “Dân dĩ thực vi thiên” người xưa dạy “dân lấy cái ǎn làm trời”, Đảng, Chính phủ phải lo cái ǎn cho dân không được để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục sinh nói với Hán Cao Tổ “Nhà vua lấy dân làm trời, dân lấy cái ǎn làm trời”. Bác dạy thật chí lý. Nǎm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên hỏi cụ thể. Bác hỏi, xã Hoà Nghĩa thiệt hại mấy người chết, nhà cừa trưởng học bệnh xá bị đổ bao nhiêu, khi nghe báo cáo con số thiệt hại cụ thể, Bác rất lo lắng và rơm rớm nước mắt nhất là biết có nhiều gia đình chết người và trôi nhà cửa. Bác cǎn dặn phải có phương án tỷ mỉ khắc phục hậu quả thiệt hại. Người chỉ thị Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại “trước hết phải lo cái ǎn, nơi ở cho người bị nạn, tuyệt đối không để một người bị đói”. Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia “chống trời” cùng nhân dân. Nhớ lần Bác về công trường Đại thuỷ nông Bắc-Hưng-Hải, Bác xuống công trường tham gia lao động như một người dân. Trên đường đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị. Bác hoà vào không khí lao động khẩn trương của công trường như tǎng thêm sức mạnh cho mọi người hǎng say quên mình trong không khí vui vẻ. Lần Bác về Hải Hưng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ tỉnh tổ chức đón Bác long trọng, Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: “Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp”~ Bác ǎn mặc quần áo như một lão nông thực sự Người đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mương, Bác vội xắn quần xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các “quan cách mạng” trong những bộ quần áo bảnh bao đang lúng túng hổ thẹn trước dân chúng; cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gương Bác. Bác không nói, không hô hào, nhưng Người đã làm cuộc “cách mạng” cho “các quan” trước muôn dân. Bác ǎn cơm chung với mọi người tại nơi đang đào mương. Thấy người xới cơm, xới bát nào cũng vơi, Bác nói vui: ” Chú xới cơm thế này thì công việc làm sao cho đầy được” Bữa ǎn có Bác thêm vui hẳn lên. Bác hỏi chuyện: “Các chú có biết nấu nướng không?”. Mỗi người kể theo cách hiểu của mình. Bác thừa hiểu chẳng có ai ở nhà thực sự giúp vợ nấu ǎn cả, nên nghe nói nấu nướng sao thì kể vậy. Rồi Bác kể chuyện hồi xưa Bác làm phụ bếp thế nào nên biết nấu nướng, Bác nói nghề nấu ǎn ai biết nấu kể là biết ngay, còn ai chỉ nghe hoặc nhìn thấy thì không thể bịp được người khác, vì kỹ thuật nấu ǎn quan trọng là chỗ này – Bác chỉ vào mũi, chứ không phải chỗ này – Bác chỉ vào mắt và tai. Bác nói tiếp, vì sao mọi người phải biết nấu ǎn là vì vừa giúp được “cô ấy” có thời gian học tập và nuôi dạy con cái, vừa rèn luyện mình, chữa cái bệnh hão, bệnh sĩ, bệnh gia trưởng thâm cǎn cố đế, cho việc bếp núc là của đàn bà. Hơn nưa khi tự mình nấu thì mình ǎn ngon hơn, thích ǎn món nào thì làm món ấy. Chuyện vui, nhưng Bác giáo dục đạo đức con người, đạo đức cộng sản trong cán bộ. Bác lo lắng quan tâm đến sự tiến bộ của cán bộ từ những việc làm bình thường nhất, nhưng chính đó là những xuất phát điểm của đạo đức chân chính, mà mọi người cán bộ muốn dân tin thì rõi vào để tự xem xét, rèn luyện hoàn thiện mình. Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mương chắn ngang đường, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi dày bóng lộn, Bác bảo: “Chú cứ đi đường ấy” nói rồi, Bác cởi dép lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nước chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi người cùng tát nước giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ǎn mặc bảnh bao cùng tát nước với Bác, nhưng đồng chí này không biết tát nước, đồng chí Bí thư tỉnh đỡ lời: “Thưa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ”. Bác cười và nói: “Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”.

Mỗi người dân chúng ta ai cũng được xem hình ảnh Bác đang đạp nước trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hoà mình với nỗi vất vả một nắng hai sương của người nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nước cũng là một công dân, một người lao động trong triệu triệu người không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh được ghi lại vào nǎm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nước, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để người đạp đỡ vất vả, mà nǎng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều: “Trǎm nǎm trông cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”. Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp được chỉ biết vỗ tay, và xin mắc nợ với Bác. Bác nói: “Muốn lao động đỡ mệt và có sức mạnh, thanh niên nên tổ chức vǎn nghệ”.

Nǎm 1958, Bác về Nam Định dự Hội nghị “Bàn về sản xuất, nông nghiệp”. Bác chǎm chú lắng nghe các bản báo cáo thành tích của các đơn vị. Bác chú ý bản báo cáo nói về cách làm các loại phân bón. Bác đứng lên nhìn khắp hội trường và hỏi to: “Chú nào gánh bùn đổ-cho hai sào lúa có đây không?”, không có ai đứng dậy. Một đồng chí cán bộ tỉnh uỷ báo cáo, là người nông dân đó không thuộc diện tham dự hội nghị này. Bác phê bình và yêu cầu cho người đó đến dự hội nghị ngay. Bác hỏi chị em phụ nữ ở đây có đội phân nữa không? Các đồng chí cán bộ tỉnh chưa dám báo cáo Bác ngay, may có chị đại biểu nữ đỡ lời: “Thưa Bác, chị em ở đây không quen gánh nên cái gì cung đội ạ”, Bác dặn: “Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe để đỡ cho chị em về lâu dài”.

Nǎm 1963, Bác về chống hạn ở Nghiêm Xuân (huyện Thường Tín) hôm đó Bác đến sớm, đồng bào còn vắng, tiện đường Bác xuống khu dân cư, hỏi thǎm dân- Bác vào một nhà dân thǎm và hỏi tết vừa qua gia đình đón, tết có vui không. Có cụ già hơn 60 tuổi thưa với Bác là ǎn tết không vui. Bác hỏi vì sao, cụ kể lại gia đình từ xưa có ngôi nhà gần đường, vừa qua Huyện có lệnh đuổi bà đi để mở đường không bồi thường, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ǎn tết không vui, người ra lệnh ấy là ông Chủ tịch huyện. Bác lắng nghe mà vẻ mặt không vui Bác bảo, làm người cán bộ như vậy là không xứng đáng không khác gì cường hào xưa. Sau đó Bác chỉ thị phải điều tra làm rõ ngay. Vị Chủ tịch kia bị kỷ luật. Lòng dân rất hả dạ và nhắc mãi chuyện đó như làm gương cho cán bộ đối với dân phải làm gì. Hơn nữa hôm đó Bác tham gia chống hạn với dân, trời nắng to có đồng chí cầm ô che cho Bác, Bác bảo: “Dân chịu được thì Bác cũng chịu được, chú làm như Bác là ông quan thời xưa”. Trên đường đi chống hạn giúp dân, Bác thấy đi trước Bác có xe công an còi inh ỏi dẹp đường, Bác cho dừng xe và lệnh cho xe công an dừng lại, Bác mới đi tiếp. Bác phê bình: “Bác xuống với dân để chống hạn mà các chú làm cho dân họ sợ thì xuống làm gì?”. Trong di sản tư tưởng của Bác, vấn đề giải phóng nông dân chiếm một vị trí quan trọng. Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, tiếp cận với nhiều xu hướng chính trị của loài người, Bác phân tích lựa chọn tiếp thu những gì tinh túy phù hợp với hoàn cảnh đất nước và vận dụng một cách sáng tạo những tinh hoa đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước nhà. Người đi đến kết luận vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam thực chất là vấn đề nông dân. Nông dân vừa là động lực nhưng cũng là đối tượng của cách mạng. Cho nên Bác dành nhiều trí tuệ, công sức và thời gian cho vấn đề nông dân. Từ tấm bé, xuất phát từ trực quan sinh động, trước cảnh người nông dân làng quê khổ cực vì bị áp bức, bóc lột mà nghèo đói, từ đó mới có nhận thức do mất nước, không có tự do và động cơ ra đi tìm đường cứu nước một phần cũng được xuất phát từ vấn đề nông dân. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác nói nhiều viết nhiều; đấu tranh không mệt mỏi cho vấn đề giải phóng dân tộc, cho quyền lợi người nông dân. Bác bênh vực, xây dựng cho mình một hệ thống quan điểm về vấn đề nông dân trong hệ tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Bác đứng về nông dân, bênh vực quyền ldi củá nông dân nhưng không sa vào nông dân chủ nghĩa, không quá tả, không xô bồ khi phân tích mặt tốt, mặt phải hoàn thiện của nông dân trong cách nạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Những nǎm tháng cuối đời Bác, tuy sức khoẻ yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La mã, Bác sửa lại “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa cho chặt chẽ hơn: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu” chữ “để lại” vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và Hợp tác xã. Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích luỹ để khoảng 7 – 10% thu nhập Hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích luỹ 5 – 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc dễ nhớ để làm theo.

hochiminhhoc.com

Hứa với dân

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước, mỗi việc làm của Bác Hồ đều hướng đến nhân dân. Với Người, đã nói là phải làm, đã hứa là phải thực hiện.

Có lần Người đã hứa với nhân dân một địa phương ở Việt Bắc là 2 giờ chiều hôm đó sẽ đến thăm và nói chuyện. Cán bộ và bà con đã tập hợp ở hội trường đông đủ. Nhưng một “sự cố” bất ngờ đã xảy ra. Chiều hôm đó trời mưa rất to. Ai cũng bảo là Bác Hồ không thể nào đến được. Nhưng đúng 2 giờ chiều, Bác xuất hiện trong tấm ni lông và quần xắn đến đầu gối, bước vào hội trường trong tiếng hoan hô vang dậy của bà con. Hôm ấy, nhiều người đã sung sướng chảy nước mắt vì xúc động.

Một lần khác, ghé qua một bản người Thái, một cô bé trong bản nói với Người là em muốn có một chiếc vòng bạc. Sau 9 năm kháng chiến thành công, không ai ở bản đó còn nhớ câu chuyện về cô bé. Bởi chuyện đó quá nhỏ bé, khó có thể nhớ đối với một vị Chủ tịch nước với bao công việc khó khăn, bộn bề. Nhưng Người đã trở lại bản người Thái đó để thực hiện lời hứa của mình là tặng em chiếc vòng bạc đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa.

Qua hai câu chuyện nhỏ này, ta càng thấy rõ lòng nhân ái và phẩm cách vĩ đại của Bác. Lời hứa với một cháu nhỏ, lời hứa trước sự chờ đợi của nhân dân của một vùng núi, vùng sâu, cũng hệ trọng như lời hứa trước một dân tộc. Nhân cách vĩ đại của Bác, không chỉ đem lại niềm tin cho nhân dân trong nước mà cả nhân dân thế giới. Chính vì có niềm tin đó mà nhân dân ta đã không ngại hy sinh gian khổ, người trước ngã, người sau xốc tới để đưa non sông về một mối, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.

Trong Di chúc để lại trước lúc đi xa, Bác căn dặn: “Đảng phải có kế hoạch kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân”. Đó cũng chính là một lời hứa trước nhân dân mà chúng ta hôm nay có trách nhiệm phải thực hiện cho bằng được như ý nguyện thiêng liêng của Người.

  • Bích Châu

baobinhdinh.com.vn