Thư viện

Bác Hồ và hạnh phúc của dân

Tại sao dân ta ai cũng gọi Hồ Chủ tịch là Bác Hồ, kể cả ngay từ sau Cách Mạng Tháng Tám, nghĩa là khi bác mới có 55 tuổi.

Một nhà văn cho biết: Lần đầu tiên Hồ Chí Minh xưng bác và gọi cháu là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10/5/1947. Bác viết: “Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: Biết giữ kỉ luật, siêng học siêng làm, yêu Chúa yêu nước. Bác hôn các cháu”. Và ký với Hồ Chí Minh, chứ không với Bác Hồ. Ba tháng sau, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỉ niệm Cách mạng Tháng Tám, năm 1947″, danh xưng Bác Hồ xuất hiện và từ đó được sử dụng. Song phải nhấn mạnh: Hồ Chí Minh chỉ xưng bác trong hai trường hợp quan hệ. Thứ nhất, trường hợp bác – cháu, với nhi đồng. Điều này không có gì là chướng.

Ở tuổi 55 khi lên làm Chủ tịch nước, đối với người Việt thuở đó Hồ Chí Minh đã là một người già. Phóng viên báo chí thường gọi là Cụ Chủ tịch, cũng như Chủ tịch gọi những người trạc tuổi mình là cụ. Trong bối cảnh ấy, xưng hô bác – cháu của Hồ Chí Minh với nhi đồng là tự nhiên… Cuối thư gửi nhi đồng, Hồ Chí Minh thường hôn các cháu. Trong một bức thư, còn hôn các cháu rõ kêu, một cử chỉ rất Tây được diễn đạt rất Việt. Trường hợp xưng bác thứ hai của Hồ Chí Minh là trong quan hệ với những người kém tuổi mình. Bác ở đây không phải là bác – cháu, mà là bác – cô/chú”.

Như vậy việc toàn dân gọi Bác Hồ không phải là chủ ý của Bác mà chính là từ lòng thật sự kính yêu Bác của tuyệt đại đa số nhân dân, từ các bậc trí thức cao niên cho đến các cháu bé ở vùng núi cao. Bác tôn trọng mọi người trên tinh thần Đại đoàn kết toàn dân tộc, nhưng diều đặc biệt là Bác thực sự quan tâm đến những người nghèo khổ nhất trong xã hội.

Đồng chí Vũ Kỳ kể rằng: Trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết… Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc.

Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài. Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội… Nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đứa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác: – Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm… Chỉ nói được vậy, chị đã òa lên khóc nức nở. Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị: – Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai… Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”.

Cách đó 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hòa bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”. Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói: “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta” (Thư ký Bác Hồ kể chuyện, NXB Chính trị quốc gia, 2008).

Chưa có ai bảo Bác kê khai tài sản nhưng Bác là vị lãnh tụ hiếm hoi công khai tài sản. Tất cả tài sản ấy nhân dân ta và cả các khách quốc tế đều biết rõ khi viếng thăm ngôi nhà sàn của Bác.

Trong bốn đức được Bác Hồ nhiều lần nhấn mạnh Cần Kiệm Liêm Chính, Bác đã giải thích chữ Liêm như sau: “Liêm là trong sạch, không tham lam… Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM. Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư… Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”… Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân… Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”. (Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, tr.640-641).

Bác để lại những câu nói nổi tiếng về tự do cho nhân dân: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.8, tr.216); “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.4, tr.56).

Chúng ta đang bàn chuyện sửa đổi Hiến pháp. Phải chăng không nên thiếu các quyền tự do được ghi trong điều 10 Hiến pháp 1946 mà Bác Hồ là người đã đích thân chỉ đạo.

NGUYỄN LÂN DŨNG
nongnghiep.vn

Bác Hồ xem Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài

Tháng 6 năm 1956, đoàn Ca kịch liên khu 4, tiền thân của Nhà hát Cải lương Trung ương bây giờ, được lệnh vào Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Trung ương.

Khỏi phải nói là anh em nghệ sĩ cũng như cán bộ, công nhân viên trong Nhà hát phấn khởi đến nhường nào. May mắn, đêm ấy sân khấu biểu diễn dựng ở ngoài trời mà thời tiết như chiều lòng người, rất đẹp, thật mát mẻ và dễ chịu.

Trước buổi biểu diễn, đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng bê một chiếc ghế tựa tới đặt ở hàng đầu để Bác ngồi xem. Đêm ấy vở diễn Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài đã được diễn với một không khí nghiêm túc cộng với sự nỗ lực hết mình của tất cả diễn viên. Và lẽ đương nhiên, buổi diễn đã thành công rực rỡ trong tiếng vỗ tay vang dội của mọi người. Như mọi lần, vở diễn kết thúc, Bác lên sân khấu động viên và khen tặng anh chị em. Tặng hoa cho các diễn viên xong, Bác giơ tay ra hiệu mọi người im lặng rồi đột nhiên Người nói:

– Một đôi Sơn Bá, Anh Đài

Chữ tình đáng trọng, chữ tài đáng thương.

Mọi người chưa kịp ngạc nhiên vì câu thơ xuất thần của Bác thì Bác đã chỉ tay vào diễn viên đóng vai bố của Chúc Anh Đài, tiếp:

Chỉ vì lão già dở dở ương ương

Làm cho đôi lứa dở dang không thành

Đánh cho phong kiến tan tành

Để bao nhiêu Anh Đài, Sơn Bá lại thành lứa đôi.

Đọc xong câu thơ cuối cùng, Bác choàng tay, âu yếm ôm vai hai diễn viên đóng Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài. Mọi người đứng hết cả dậy và tiến đến vây quanh Bác, sung sướng và xúc động trong tiếng vỗ tay như sấm…

HOÀNG AN
qdnd.vn

Thiên tai là đồng minh giặc đói, giặc dốt

Trong số những mối lo toan thường trực của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho dân cho nước, bão lụt – hạn hán – hỏa hoạn… chiếm một vị trí quan trọng.

 Bà Mađơlen Rípphô, nữ nhà báo Pháp, có lần dẫn lời một đồng chí được sống gần gũi với Bác: Hồ Chí Minh rất ít ngủ. Người bận lo toan tới những chiến sỹ, những thanh niên xung phong đang xông pha ngày đêm dưới bom đạn quân thù. Và tất nhiên có nhiều đêm Người mất ngủ vì bận lo lắng, suy nghĩ tới những nạn hạn hán, mùa lũ đang đe dọa nhấn chìm đồng ruộng, người dân, cả nơi thôn quê đến chốn thị thành.

Thien tai 1
Bác Hồ thăm nông dân huyện Đại Từ (Thái Nguyên) đang gặt lúa đông xuân, năm 1953.

Nghe tin lũ lớn ở Kiến An, năm 1955, gây thiệt hại lớn về người và của, Bác Hồ cho gọi đồng chí phụ trách lên nắm tình hình. Nghe báo cáo những con số thiệt hại, nước mắt Bác rơm rớm. Bác liền chỉ thị cho Thành ủy Hải Phòng phải sớm có phương án tỉ mỉ khắc phục hậu quả, mà trước hết là không để cho một người dân nào bị đói… Cứ đến mùa nước lũ, kỳ hạn hán, Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia chống hạn, chống lũ cùng dân. Có lần, Bác đến công trường Đại Thủy nông Bắc Hưng Hải tham gia lao động như một người dân thực thụ. Trên đường, thấy một chị đẩy xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị… Người hòa vào khí thế lao động khẩn trương của công trường, làm tăng thêm niềm vui, sức mạnh cho cả một biển người đang lao động quên mình ở một công trình thủy lợi lớn trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ.

Giai đoạn trước năm 1945, Việt Nam nói chung và miền Trung nói riêng sống dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến bù nhìn. Trước những thiên tai dồn dập do bão lụt, hạn hán gây ra, tuy đã có tìm một số giải pháp phòng ngừa và cứu hộ, họ đã không toàn tâm toàn ý, thậm chí ở nhiều nơi và nhiều lúc, chính quyền đã bỏ mặc dân chúng. Các soạn giả cuốn sách Lũ lụt ở các tỉnh miền Trung trong hai thế kỷ XIX – XX (2002) có cho bạn đọc biết thêm: “Ngay cả việc cứu hộ cũng triển khai chậm và không toàn diện, chỉ tập trung vào mục tiêu duy nhất là chống đói kịp thời, nên dân chúng thường phải chịu cảnh điêu đứng kéo dài trước nạn thiên tai”. Cách mạng Tháng Tám (1945) gắn với tên tuổi Hồ Chí Minh, đã mở ra một chương khác!

Tính sơ bộ từ năm 1947 tới năm 1959, có tới 13 bức thư, bài viết của Bác Hồ khen ngợi, động viên, chia sẻ hoặc nhắc nhở, chỉ bảo cán bộ, đồng bào, chiến sỹ trực tiếp hoặc gíán tiếp liên quan tới việc chống thiên tai bão lụt… Trên thế giới, có lẽ hiếm hoi những lãnh tụ quan tâm một cách thường xuyên, cụ thể, khoa học, và đau đáu đối với vấn đề an dân trước thiên tai, như Bác Hồ của chúng ta?!

Riêng với Nghệ An là một tỉnh lớn của miền Bắc, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa và quốc phòng; là tỉnh đất rộng, người đông, tài nguyên khá phong phú, nhân dân có truyền thống anh dũng, cần cù. Mặc dầu vậy, Nghệ An là tỉnh thường xuyên phải đối phó, chống đỡ và khắc phục hậu quả nhiều trận bão lụt, hạn hán hiếm có trong lịch sử; rồi cháy nhà, cháy rừng, lũ ống, lũ quét, mưa đá… Trước rất nhiều khó khăn, thách thức ấy, Bác vẫn yêu cầu: “Đồng bào và cán bộ phải có quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh ta thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”.

Năm 1961, được tin vụ cháy ở thị xã Vinh gây thiệt hại tới tài sản của đồng bào, Bác Hồ gửi thư tỏ ý rất phiền lòng, đồng thời khen ngợi đồng bào, bộ đội, công an, cán bộ thị xã đã hết sức tham gia chữa cháy, giúp đỡ bà con bị nạn. Cũng năm này, lần về thăm quê thứ hai, sáng ngày 09/12/1961, nói chuyện với cán bộ và đồng bào tỉnh nhà, Bác khen: “Đã đấu tranh vượt qua những khó khăn do hạn và lụt năm ngoái để lại, và đẩy mạnh sản xuất tiến lên”. Nhưng, Bác cũng nghiêm khắc với Nghệ An khi phải nói câu “Thủy lợi ở Nghệ An còn kém lắm”, và kém là do hợp tác xã kém! Về việc trồng cây gây rừng của tỉnh nhà, trực tiếp liên quan tới môi trường, Bác cũng nêu nhiều nhận xét, đề nghị thẳng thắn, đến nay còn có giá trị về phương pháp luận!

Bác Hồ quan niệm, thời kháng chiến bọn Pháp và Nhật xâm chiếm nước ta nên chúng ta coi chúng là giặc và phải đánh đổ chúng đi; nay miền Bắc tạm hòa bình, phải tập trung chống thiên tai, chống nghèo đói, chống lạc hậu. Mà muốn chống thiên tai thì phải làm tốt công tác thủy lợi để chống hạn chống úng kịp thời. Lũ lụt là “giặc”, chúng đồng minh với giặc đói, giặc dốt, bởi thế Người phát động phong trào đắp đê giữ đê cũng như một chiến dịch và tổ chức thi đua, những chiến sỹ hoặc những nhóm có thành tích đặc biệt, đều được Bác và Chính phủ khen thưởng, nêu gương kịp thời…

Bước sang thế kỷ XXI, môi trường toàn cầu càng trở nên xấu đi, thiên tai càng hung hãn khôn lường. Tìm hiểu và ôn lại những câu chuyện, những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm chống lại, làm hạn chế thiên tai mục đích bảo vệ tính mạng và của cải người dân, là việc làm luôn có tính thời sự, cần đi sâu hơn nữa. Cũng qua đó, ta thấm thía thêm giá trị nhân văn vì con người trong đạo lý sống, đạo lý làm người của một Danh nhân!

Kim Hùng
Theo http://baonghean.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tột bậc là tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Bác viết “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Bác hiểu rất rõ độc lập cũng chỉ là phương tiện để thực hiện tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tự do, hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đích của nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước…

……………………………………..

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc năm 1918. Ngày 28 tháng 6 năm 1919, các nước thắng trận và bại trận đã họp Hội nghị tại Versailles, Pháp, để ký kết các hòa ước chính thức, cũng như phân chia các quyền lợi cho các nước thắng trận.

Các nước thắng trận bao gồm Anh, Pháp, Nga, Ytalia, Mỹ. Các nước bại trận bao gồm Đức, Áo – Hungary, và Thổ Nhĩ Kỳ.

Tại Hội nghị Versailles này, bên cạnh các đoàn đại biểu chính thức, còn có đại diện các dân tộc bị áp bức, đến dự Hội nghị để yêu cầu độc lập và tự do cho dân tộc mình, như đại diện cho người Aixơlen, người Ấn Độ, người Triều Tiên, người Arập… Khi đó người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Pháp, đã tự tổ chức nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pa-ri, và tại các tỉnh ở Pháp. Ông Nguyễn Ái Quốc đã đến Hội nghị Versailles với danh nghĩa đại diện cho tổ chức này.

Tại Hội nghị Versailles, ông Nguyễn Ái Quốc đã phát cho các đại biểu dự Hội nghị “Bản yêu sách của dân tộc Việt Nam gửi đến Hội nghị Versailles”. “Bản yêu sách” này bao gồm 8 điểm rất ôn hòa, yêu cầu Chính phủ Pháp trao trả một số quyền tự do, dân chủ cơ bản tối thiểu cho nhân dân Việt Nam.

“Bản yêu sách” nổi tiếng của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc gửi Hội nghị Versaillé năm 1919 đó, bao gồm 8 điểm là:

1 – Ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam.

2 – Cải cách nền pháp lý Đông Dương, cho người Việt Nam cũng được bảo đảm về mặt pháp lý như người Âu, bỏ hẳn Tòa án đặc biệt, công cụ để khủng bố những người Việt Nam lương thiện nhất.

3 – Tự do báo chí và tự do tư tưởng.

4 – Tự do lập hội và tự do hội họp.

5 – Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do ra nước ngoài.

6 – Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh.

7 – Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp.

8 – Phải có đại biểu thường trực người Việt Nam do người bản xứ bầu ra, ở bên cạnh Nghị viện Pháp để trình bày nguyện vọng của người bản xứ”.

Sau “Bản yêu sách 8 điểm” gửi Hội nghị Versailles, lần đầu tiên dư luận ở Pháp, và ở Việt Nam biết đến cái tên Nguyễn Ái Quốc, một thanh niên Việt Nam trẻ tuổi đấu tranh cho độc lập, tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.

Và cũng từ đó, mật thám Pháp bắt đầu để ý, theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của ông Nguyễn Ái Quốc. Bởi vì, với Nhà nước thực dân độc tài, phản dân chủ, thì mọi tiếng nói đòi tự do, dân chủ cho người dân Việt Nam đều bị coi là nguy hiểm cho Nhà nước thực dân.

Nhưng tất cả những yêu sách ôn hòa đó của Nhóm người Việt Nam yêu nước của ông Nguyễn Ái Quốc đều không được Chính phủ Pháp, cũng như các nước trong Hội nghị Versailles quan tâm, để ý. Từ đó, ông Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng rằng không thể trông cậy vào các nước khác, “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.

Bây giờ nhìn lại Bản yêu sách 8 điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị Versailles năm 1919, chúng ta thấy rằng tư tưởng của Bác Hồ về một thể chế tôn trọng những quyền tự do, dân chủ cho người dân được hình thành từ rất sớm. Khi đó Bác Hồ mới 29 tuổi, và mới sang Pháp được 8 năm. Trong số các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, thì Bác Hồ là người duy nhất sống ở nước ngoài tới 30 năm.

Bác ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, tại bến Nhà Rồng, Sài Gòn, và chỉ đến năm 1941 mới trở về nước, để lãnh đạo Đảng, nhân dân đấu tranh giành chính quyền. Bởi vậy Bác là người hiểu rất rõ những hạn chế, xấu xa của chế độ tư bản, thực dân, nhưng đồng thời Bác cũng hiểu được rất rõ các giá trị của nền văn minh phương Tây, của chế độ tự do, dân chủ phương Tây.

Chính bởi vậy, vào năm 1946, khi Bác Hồ chỉ đạo soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bản Hiến pháp 1946 đó chứa đựng rất nhiều giá trị tiến bộ của nền dân chủ phương Tây. Bác Hồ đã lãnh đạo Đảng và nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân, nhưng những giá trị của nền văn minh phương Tây, thì cần phải khiêm tốn học hỏi. Đó chính là tính biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điều 10 của Hiến pháp 1946 qui định: “Công dân Việt Nam có quyền: – Tự do ngôn luận. – Tự do xuất bản. – Tự do tổ chức và hội họp. – Tự do tín ngưỡng. – Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Nội dung của điều 10 này rất giống một phần nội dung 8 điểm mà Bác Hồ đã gửi Hội nghị Versailles cách năm 1946 đó 27 năm.

Hiện nay trong cả nước đang dấy lên phong trào “lao động, học tập gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là phong trào rất hay, rất cần thiết, nhưng theo tôi thiển nghĩ thì chưa đủ. Bởi vì đạo đức Hồ Chí Minh chỉ là một nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Một diểm nhất quán và hết sức quan trọng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là về xây dựng một Nhà nước công bộc của dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”. Trong thư “Gửi các ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện, và làng” tháng 10 năm 1945, Bác viết “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Như vậy, Bác hiểu rất rõ độc lập cũng chỉ là phương tiện để thực hiện tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tự do, hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đích của nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước.

Chừng nào còn có kẻ đánh bạc cả triệu đôla, nhưng cả triệu người dân còn thiếu thốn nhiều bề, chừng nào còn có cán bộ hách dịch, xếch mé với dân, không làm tròn trách nhiệm là công bộc của dân, chừng nào người dân còn chịu oan khuất, phải đi khiếu kiện kêu cầu công lý, chừng nào bộ máy hành chính còn hành dân, thì chừng đó, tư tưởng Hồ Chí Minh còn chưa được quán triệt trở thành hành động trong thực tế.

Bây giờ nhìn lại Bản yêu sách 8 điểm của Bác Hồ cách đây gần 100 năm, và bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Bác Hồ về xây dựng một thể chế tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân.

Từ đó chúng ta thấy rõ rằng cần phải từ phong trào lao động, học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay, nâng cao lên thành phong trào học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước công bộc của dân.

Theo Minh Tuấn (Tokyo, Nhật Bản) – Dân trí

Tuổi trẻ Online

Chuyện về gia đình được Bác Hồ tặng áo lụa

Chúng tôi về thành phố Nam Định vào một ngày thu giữa tháng 9. Tiết trời trong veo và thanh bình khiến cho tôi càng háo hức sải bước tìm đến gia đình vốn được Bác Hồ ngợi khen là “Một nhà trung hiếu – Muôn thuở thơm danh”. Đó là gia đình ông Tạ Quang Tám (trú tại số nhà 87, đường Trần Thánh Tông, thành phố Nam Định).

Bốn người con cùng hi sinh trong một trận đánh

Tranh thủ thời gian đợi gia chủ về, tôi đã kịp bắt chuyện với những người hàng xóm trong con phố nhỏ nơi vợ chồng ông Tám sinh sống. Dường như chỉ nhắc đến cái tên Tạ Quang Tám, những người dân nơi đây ai cũng có thể kể vanh vách về những chiến công của gia đình ông cũng như những kỉ niệm xúc động liên quan đến câu chuyện gia đình ông được Bác Hồ tặng áo và viết thư ngợi khen vì sự hy sinh cao cả cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đang tiếp chuyện với người hàng xóm làm nghề thợ hàn ở căn nhà đối diện, bỗng từ xa tôi nhìn thấy một người đàn ông dáng nhỏ thó từ từ đạp xe tiến dần về phía ngôi nhà số 87. Người hàng xóm nói với tôi đó là người tôi đang cần tìm gặp. Tôi ngỡ ngàng khi biết rằng dù đã ở tuổi 83 nhưng ông Tám còn khá khỏe khoắn, sáng sáng vẫn đạp xe đi tập thể dục và thăm thú bà con, bạn bè.

gdBức trướng thêu nội dung bức thư của Bác Hồ.

Biết nhà có khách, ông Tám vồn vã mời tôi vào tiếp chuyện. Đến căn nhà nhỏ nơi vợ chồng ông cùng cô con gái cả sinh sống có lẽ điều khiến mỗi vị khách khó quên nhất là những tấm bằng Tổ quốc ghi công xếp kín trên tường, cạnh đó là bức trướng thêu trọn nội dung bức thư Bác Hồ khen tặng gia đình ông. Rót xong chén nước mời khách, giọng ông như chùng xuống, lần giở dòng hồi tưởng nhớ về những ngày tháng đã qua của gia đình.

Gia đình ông vốn có truyền thống cách mạng. Cụ thân sinh ra ông là Tạ Quang Yên (người gốc ở Huế) – một nhà Nho yêu nước trong những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công đã hăng hái tham gia Hội Liên Việt, còn mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Nuôi hoạt động trong Hội Phụ nữ cứu quốc. Gia đình ông có 9 anh chị em (8 anh em trai và 1 chị gái). Thừa hưởng tinh thần yêu nước từ cha mẹ, 9 anh chị em sớm được giác ngộ và hăng hái tham gia các hoạt động chiến đấu tại địa phương. Người anh cả là ông Tạ Quang Trường sau khi tham gia giành chính quyền thành công trong Cách mạng Tháng Tám đã hòa mình vào đoàn quân Nam tiến lên đường vào Nam chiến đấu. Noi gương người anh cả, bốn người anh kế tiếp của ông cũng hăng hái chiến đấu trong Trung đoàn 34.

Đến tháng 3 năm 1947, Bộ Chỉ huy Quân đội Pháp ở Đông Dương quyết định mở cuộc hành quân giải vây cho quân của chúng ở Thành phố Nam Định và đã huy động một lực lượng lớn từ Hà Nội theo đê sông Hồng tiến xuống. Bốn người anh của ông Tám khi ấy đã cùng các đồng đội đón đầu, đánh chặn địch, buộc chúng phải chuyển hướng tấn công và đã anh dũng hi sinh. Đón nhận tin cả bốn đứa con trai yêu quý cùng ra đi một ngày, bố mẹ ông dường như qụy ngã.

“Cha tôi như phát điên lên. Tôi không thể quên được ánh mắt của cha tôi lúc ấy, vừa đau đớn quằn quại, vừa rực lửa căm hờn. Có lẽ vì người đã chứng kiến sự hi sinh của quá nhiều đồng đội, đồng bào và giờ đây là những đứa con mình rứt ruột sinh ra. Mẹ tôi vẻ ngoài có phần điềm tĩnh hơn. Nhưng tôi biết nước mắt mẹ chảy ngược vào trong, bà không khóc nổi bởi nỗi đau ấy có lẽ không có gì diễn tả hết”, ông Tám nghẹn ngào, khóe mắt đỏ hoe.

Vượt qua nỗi đau mất 4 đứa con, cha mẹ vẫn tiếp tục động viên ông và cậu em trai út là Tạ Quang Mười tham gia Cách mạng. Ngày đó, ông được giao nhiệm vụ làm liên lạc, nắm bắt tình hình, thăm dò đường đi lối lại và truyền lệnh của cấp trên cho các đơn vị của Trung đoàn 34 để các đồng đội chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh khai hỏa mở màn cho cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Nam. Người em trai của ông sau này cũng tham gia vào Sư đoàn Cao xạ. Anh chiến đấu anh dũng và hi sinh tại Vĩnh Linh (Quảng Trị) vào năm 1972. Ghi nhận những hi sinh đóng góp của gia đình ông, thân mẫu của ông là cụ Nguyễn Thị Nuôi đã được tặng danh hiệu Bà mẹ Nam Hà và năm 1994 cụ đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Giữ áo Bác tặng giữa lòng địch

Tự hào về truyền thống gia đình, ông Tám lại kể cho tôi nghe về món quà mà ông nói là vô giá và quý trọng nhất của gia đình. Năm 1947, khi biết tin về sự hy sinh anh dũng của bốn người anh của ông, nhân ngày Quốc khánh 2/9/1947, cụ thân sinh của ông đã được Bác Hồ tặng một áo lụa và gửi thư khen. Năm ấy, ông Tám 17 tuổi và đã tham gia làm liên  lạc cho Trung đoàn 34. Ngày gia đình ông được vinh dự về thôn Ngọc Tỉnh (thuộc huyện Xuân Trường, Nam Định ngày nay) để đón nhận quà và thư của Bác Hồ, ông vẫn đang đi làm nhiệm vụ. Qua lời của cha mẹ, ông vẫn nhớ như in cảm xúc tự hào ấy.

gd2Ông Tạ Quang Tám bên những tấm huân chương của gia đình.

Ông Tám được cụ thân sinh kể lại, trong buổi lễ mít tinh tuyên dương các anh hùng liệt sĩ được Tỉnh đội Nam Định tổ chức năm 1947, bức thư và tấm áo lụa Bác Hồ tặng được rước trang trọng trong buổi lễ và được cán bộ tỉnh trao cho gia đình ông. Tấm áo lụa cổ cao màu vàng, 5 tà trước đó là quà của nhân dân tặng Bác Hồ. Bên ngực phải có thêu chữ: “Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Kim Sơn, Ninh Bình”, ngực trái có ghi dòng chữ Hồ Chủ Tịch tặng kèm theo chữ ký của Bác. Gia đình ông trân trọng và coi đó như một báu vật. Cha ông chỉ mặc tấm áo vào những dịp trang trọng nhất. Ngày quân đội Pháp đánh chiếm Thái Bình và Nam Định, cả gia đình tìm mọi cách để cất giấu tấm áo. Lũ tay sai gián điệp trong lòng địch nhanh chóng đánh hơi được gia đình ông được nhận kỷ vật của Bác Hồ nên ngày đêm cho quân săn lùng. Song với tài khéo léo và nhanh nhẹn của mẹ ông, tấm áo đã được cất giấu an toàn. Kẻ địch gian manh nhưng không hề biết được rằng mẹ ông Tám đã sẵn sàng xé phăng tấm chăn bông để nhét tấm áo vào giữa rồi khâu kín lại. Cứ vậy, tấm áo nằm trong lõi chiếc chăn đã sưởi ấm cho gia đình ông qua bao mùa đông giá lạnh.

Đến năm 1956, tỉnh đội Nam Định đã mượn chiếc áo Bác tặng đem đi triển lãm ở một số nơi và sau đó chuyển về cho một Bảo tàng trong tỉnh. Lúc đầu, ông Tám cũng có ý định giữ món quà đó cho riêng gia đình, song ông lại quyết định dành tặng cho bảo tàng để đông đảo người dân được chiêm ngưỡng tấm áo. Bởi đó không chỉ là một tấm áo lụa đơn thuần mà còn là minh chứng cho sự hy sinh lớn lao của bao thế hệ người Việt Nam vì nền độc lập dân tộc.

Khi được hỏi về bức thư Bác Hồ gửi, ông Tám vô cùng luyến tiếc cho biết, bức thư ấy đã không may lưu lạc trong những ngày sơ tán. Thời gian gia đình sơ tán ở Thái Bình, cha ông đã cho thư vào một túyp thuốc rồi chôn tại chợ Gốc (Thái Bình) để quân địch không tìm thấy được. Sau ngày chiến tranh, gia đình đã nhiều lần về chợ Gốc, lật tung nhiều ngóc ngách nhưng vẫn không tài nào tìm lại được nơi đã cất giấu bức thư. Mặc dù bị thất lạc nhưng ông Tám vẫn nhớ như in bức thư được Bác đánh máy với nội dung: “Kính gửi cụ Tạ Quang Yên ở Nam Định: Tôi rất cảm động được báo cáo rằng cụ có 8 người con trong đó 6 người tham gia kháng chiến, mà bốn người đã oanh liệt hy sinh vì Tổ quốc. Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi và tặng cụ mấy chữ: Một nhà trung hiếu, muôn thuở thơm danh. Nhân dịp này tôi xin biếu cụ 1 chiếc áo mà đồng bào đã biếu tôi. Chúc cụ mạnh khỏe và sống lâu”.

Sau này, để lưu giữ những lời vàng ngọc ấy cũng như nhắc nhở con cháu về truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình, ông Tám đã thuê người thêu toàn bộ nội dung bức thư lên một tấm vải lụa màu đỏ và treo trang trọng trong nhà. Phía trên bức trướng là tấm ảnh Bác Hồ với nụ cười hiền hậu.

Giờ đây đã ở tuổi xưa nay hiếm, nối tiếp truyền thống của gia đình, những ngày tháng còn lại của cuộc đời mình, ông Tám vẫn tích cực tham gia các hoạt động của địa phương để sống sao cho xứng đáng với niềm tin yêu và phần quà mà vị lãnh tụ kính yêu trao tặng.

Phạm Hạnh
Theo Báo Nam Định
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Bức thư huyết lệ

8 giờ đêm – một đêm Tháng Chạp năm 1946 – bác sĩ Vũ Đình Tụng phải mổ một trường hợp chiến thương quá đặc biệt và rất đau lòng: Một chiến sĩ “sao vuông” rất trẻ, tuy vết thương nặng, đạn xé tung cả một khúc ruột mà miệng vẫn mỉm cười, cái nụ cười quá quen thuộc và thân thương đối với bác sĩ. Anh tự vệ Thủ đô ấy, người chiến sĩ gan góc ấy lại chính là Vũ Văn Thành, con trai út của bác sĩ.

Suốt ngày hôm ấy, tôi đã phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ nhưng đến trường hợp con tôi, thần kinh tôi căng lên một cách kinh khủng. Mấy người giúp việc khuyên tôi nên nghỉ tay, nhưng tôi vẫn cố kìm mình để giữ bình tĩnh gắp mảnh đạn cuối cùng trong thân thể người con. Xong việc, tôi loạng choạng rời khỏi bàn mổ.

Các bác sĩ và những người giúp việc đã cố gắng nhiều, nhưng vết thương do quân thù gây ra quá nặng đã cướp đi mất Thành, con trai của tôi, anh của Thành là Vũ Đình Tín, tự vệ chiến đấu cũng vừa bị mất sau ngày Tổng khởi nghĩa, tôi đau đớn đến bàng hoàng.

Một buổi chiều trời rét lắm, sau đêm Nôen cuối cùng ở Bệnh viện Bạch Mai, bị bom đạn tàn phá, vào lúc tôi mổ xong một ca thương binh nhẹ thì bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trân trọng trao cho tôi một bức thiếp của Hồ Chủ tịch. Tôi cảm động quá. Mới đầu tôi cứ ngỡ là một mệnh lệnh mới của Người. Nhưng thật không ngờ, đó lại là một bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao của Bác chia đau thương với gia đình tôi. Khi đó, Bác gọi tôi là “Ngài”.

“Thưa Ngài,

Tôi được báo cáo rằng: Con giai Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.  Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ. Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây, chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài, và gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.

Tháng 1-1947

Hồ Chí Minh”

Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình đang có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác. Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở thành nhỏ bé trong cái tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với cả dân tộc. Tôi nhủ mình sẽ phải làm tốt công việc để xứng đáng với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác.

Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh xã hội của nước Việt Nam mới.

(Ghi theo lời kể của Bác sĩ Vũ Đình Tụng)

 Theo Báo Nghệ An
Tâm Trang (st)

cpv.org.vn

Một lần được chụp ảnh với Bác Hồ

Sau cần lái máy bay, phi công Trần Văn Đông đã có gần 3000 giờ bay “cưỡi mây, vượt gió”. Mấy chục năm cầm lái, nhưng với ông hạnh phúc nhất là khoảng thời gian 3 năm lái chuyên cơ phục vụ Bác Hồ.

Sinh năm 1935 tại Hưng Hòa, Hưng Nguyên, Nghệ An, 18 tuổi chàng thanh niên Trần Văn Đông vào bộ đội và được biên chế về Đại đội 910, Tiểu đoàn 351, Trung đoàn 52, Sư đoàn 320. Tháng 2 năm 1956, từ Trường Văn hóa Kiến An, Hải Phòng, Trần Văn Đông cùng với 17 học viên khác được cử đi học lái máy bay tại Trường Không quân số 2 ở thành phố Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc. Về nước đúng lúc Trung đoàn Không quân vận tải 919 thành lập (1-5-1959), cũng thời điểm đó Liên Xô tặng cho ta hai chiếc máy bay IL14. Trần Văn Đông được chọn vào tổ bay lái hai chiếc máy bay này.

Máy bay IL14 là máy bay quân sự nhưng thời gian đầu, do có Hiệp định Giơ-ne-vơ nên ta cải trang chúng thành những chiếc máy bay dân dụng vận chuyển hành khách. Tổ bay là bộ đội nhưng mang mặc dân sự có nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, các thành viên của Ủy ban Quốc tế đi giám sát đình chiến… Một điều đặc biệt là từ năm 1960 đến 1963, phi công Trần Văn Đông được giao nhiệm vụ cùng với tổ bay lái chiếc IL14 số hiệu 58482 chuyên chở Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi công tác. Những ngày tháng phục vụ Bác, phi công Trần Văn Đông có khá nhiều kỷ niệm với Người. Và câu chuyện được cùng Người chụp ảnh lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất khiến ông “sung sướng” mãi đến hôm nay.


mot lan duco chup anh voi Bác HoPhi công Trần Văn Đông (người đứng phía sau, bên trái Bác Hồ)

Chuyện là, tháng 3 năm 1963, sau khi tổ bay của Trần Văn Đông đón Bác từ Bắc Kinh về đến sân bay Gia Lâm, Bác nói: “Bác cháu ta đi công tác với nhau nhiều lần, hôm nay Bác định chụp chung với các cháu một bức ảnh để làm kỷ niệm, các cháu có đồng ý không?”. Đây vốn là mong ước ấp ủ rất lâu của tổ bay nhưng chưa ai dám đề đạt với Bác cả. Nhanh miệng, phi công Trần Văn Đông nói: “Chúng cháu muốn lắm nhưng không dám thưa với Bác”. Người phê bình hóm hỉnh: “Muốn mà không nói thì làm sao Bác biết được. Hôm nay Bác gãi đúng chỗ ngứa của các cháu rồi”. Kể đến đây, ông Đông chỉ lên bức ảnh giới thiệu cho chúng tôi tên của những người trong ảnh. Thật lạ lại có một em bé đứng ngay cạnh Bác. Giải thích cho thắc mắc đó của chúng tôi về em bé trong ảnh, ông nói: “Đó là con một đồng chí làm việc ở ga hàng không sân bay Gia Lâm. Lúc chúng tôi chụp ảnh em bé chạy qua tôi gọi lại và xin phép Bác cho em bé đứng vào hàng. Bác mỉm cười đặt tay lên vai em bé”. Đơn giản vậy thôi nhưng điều đó cũng khiến Trần Văn Đông và cả tổ bay càng thêm kính phục tác phong giản dị và gần gũi của Người.

Sau lần được chụp ảnh đó, phi công Trần Văn Đông không được cùng đi với Bác chuyến nào nữa. Ông chuyển sang lái chiếc IL14 khác. Vì sau này, khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, Không quân của ta được Liên Xô cung cấp thêm một số chiếc IL14 nữa. Những chiếc máy bay này không cần phải ngụy trang như trước. Họ được giao nhiệm vụ quân sự là vận chuyển vũ khí, quân trang, đạn dược chi viện cho miền Nam qua các sân bay căn cứ rồi sau đó vận chuyển bằng đường bộ vào chiến trường. Ông Đông tâm sự: “Dù không tiếp tục phục vụ Bác, nhưng tôi đã học được ở Người nhiều đức tính đáng quý. Ở vị trí nào tôi cũng nhớ lời Người dặn chúng tôi, đó là trung thực và hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Những bài học, những câu chuyện khi được ở cùng Người có thể “thất lạc” theo thời gian và tuổi tác của những người trong cuộc. Song với phi công Trần Văn Đông, thì một lần được chụp ảnh cùng Bác mãi mãi là kỷ niệm, là dấu ấn không bao giờ quên trong cuộc đời của một người lính bay.

Trang Thanh – Văn Phú
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Gặp người dân tộc Ba-na được Bác Hồ đổi tên

“Tên Chút là không được. Người chú cao to, thông minh thế này sao lại tên là Chút? Từ nay Bác đặt tên chú là Đinh Văn Thắng, có nghĩa là thắng lợi hoàn toàn” – Trung tá cách mạng về hưu người Ba-na, ông Đinh Văn Thắng, tự hào nhớ lại.

Hẳn rằng với bất kỳ người dân Việt Nam yêu nước nào, được gặp Bác Hồ là cả một vinh dự lớn lao, là kỷ niệm sâu sắc cả cuộc đời. Riêng với ông Đinh Văn Thắng, cuộc gặp ấy còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi trong lần gặp đó, ông đã được Bác Hồ đặt tên. Giờ đây, khi đã sắp chạm gót bên kia cuộc đời, sức khỏe yếu, trí nhớ lúc có lúc không, nhưng ông vẫn luôn tin rằng những ngày ông được gặp Bác, được Bác đổi tên, được Bác gắp thức ăn cho… là những ngày may mắn nhất đời mình.

Thời tiết Tây Nguyên đã bắt đầu vào mùa mưa, những cơn mưa đầu mùa đột ngột khiến người ta thêm uể oải, đặc biệt đối với người già. Thật vậy, đã mấy ngày nay toàn thân ông Thắng mệt mỏi, ông cũng chẳng buồn ăn cơm, cả ngày chỉ nằm bất động dưới sàn nhà. Vậy nhưng khi chúng tôi hỏi chuyện về Bác Hồ thì mọi mệt mỏi trong ông dường như biến mất, ông như được tiếp thêm sinh lực…

Ông nói ông là người dân tộc Ba-na sinh ra tại huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai, Kon Tum cũ. Cũng như bao nhiêu người Ba-na khác, ông không có họ, cũng chẳng biết mình sinh ngày, tháng, năm nào và chỉ được cha mẹ đặt cho cái tên có độc nhất một chữ: Chút.

Thuở thiếu niên, ông Chút may mắn được bộ đội Việt Nam tuyên truyền, giảng giải, động viên giác ngộ cách mạng. Đến năm 1948, ông được thoát li ra Bắc học chính trị. Và trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1959, ông và đồng đội liên tục được gặp Bác Hồ tại cơ quan Z10 Trung ương (ông không nhớ chính xác địa điểm).

Một hôm, Bác bỗng nhiên hỏi: “Các chú ở đây có ai là người dân tộc thiểu số không?”.Mọi ánh mắt nhìn đều đổ về ông Chút. Một cảm giác ngại ngùng xen lẫn hạnh phúc lan tỏa trong người ông. Kể từ đó, ông là người may mắn thường xuyên được nói chuyện trực tiếp với Bác mỗi lần Bác tới thăm.

nguoi ba na
Ông Đinh Văn Thắng bồi hồi nhớ lại những ngày được gặp Bác Hồ

Ông Kể, mỗi lần tới thăm Bác đều hỏi han, quan tâm ông rất nhiều như: Bố mẹ chú ở quê có khỏe không? Nhà chú trồng có nhiều lúa không? Chú đã bắt được con nai chưa? Con cọp trên đó nhiều không?…

Không chỉ quan tâm, hỏi han về gia đình và cuộc sống trước đây của ông Thắng và bà con xóm làng, Bác cũng luôn giành những câu hỏi hài hước cho ông Thắng:

– Chú có vợ chưa?

– Dạ thưa bác cháu chưa lấy vợ ạ?

– Chú có con chưa?

– Dạ cháu chưa có vợ thì làm sao mà có con được ạ?

– Có người chưa có vợ cũng có con đấy thôi. Chú lớn tuổi rồi nếu có con, con chú cũng lớn lắm rồi.

Rồi Bác hỏi ngày sinh của ông Chút. Ông trả lời không biết, bởi cha mẹ không nhớ. Từ đó, Bác lấy ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là năm sinh tháng đẻ cho ông.

Không chỉ vậy, những lần được ăn cơm chung với Bác, ông và những đồng đội của mình đều được Bác quan tâm, gắp từng chút thức ăn và Bác nói: “Các chú còn trẻ phải ăn nhiều cho khỏe”, khiến ai cũng cảm động.

Tất cả những ký ức về Bác, ông không quên một chi tiết nhỏ nào. Có lần Bác nói với ông:“Tên Chút là không được, người chú cao to, thông minh thế này sao lại tên Chút? Từ nay Bác đặt chú tên là Đinh Văn Thắng – có nghĩa là thắng lợi hoàn toàn”. Kể từ đó, cái tên Thắng gắn với ông suốt cuộc đời. Và đến bây giờ về làng Đê Tar, xã Kon Chiêng, Mang Yang, Gia Lai hỏi đến ông Thắng được Bác đặt tên, ai cũng biết.

Chuẩn bị tham gia chiến đấu ở chiến trường ác liệt, điều khiến ông Thắng băn khoăn và thắc mắc nhất là cơ sở của ông và đồng đội là gì? Bác liền nói: “Cơ sở chính là dân, phải gần dân, lấy dân là gốc, định hướng tư tưởng cho dân…” Rồi Bác động viên: “Khi nào đất nước thống nhất, Bác sẽ đến thăm bà con dân tộc Tây Nguyên, Bác sẽ vào tận nhà chú.”

Trước sự quan tâm tận tình của Bác kính yêu, ông Thắng không còn bất cứ một e ngại gì trước Bác. Ông liền buột miệng “sao Bác không lấy vợ?”. Trước câu hỏi thật thà của chàng trai Ba-na, cả Đại đội bỗng trầm xuống, e ngại. Đại đội trưởng hất ánh nhìn về ông như muốn nói: “Sao cậu lại hỏi ngớ ngẩn thế hả?”. Đến lúc này, toàn thân ông run lên bần bật, khuôn mặt tím tái vì sợ hãi.

Bác điềm đạm cười: “Cảm ơn chú đã quan tâm đến đời tư của Bác. Nếu Bác muốn lấy vợ thì nước nào Bác cũng có, ở Pháp người ta cũng yêu, ở Nga người ta cũng yêu… nhưng với Bác Việt Nam là cao cả nhất, nước Việt Nam còn nhiều đau khổ nên Bác chỉ nghĩ đến Việt Nam.

Bây giờ đồng bào miền Bắc còn khó khăn thiếu thốn đang ra sức lao động sản xuất để ủng hộ miền Nam. Đồng bào miền Nam thì còn đau khổ dưới ách xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai bán nước. Khi nào đất nước thống nhất, Nam Bắc một nhà, khi đó Bác sẽ lấy vợ, sẽ có nhiều con cháu. Lấy vợ đơn giản thôi, mình già sẽ lấy vợ già, trẻ sẽ lấy vợ trẻ.”

Nghe xong, cả đơn vị cùng cười vui vẻ, còn ông Thắng như nhẹ cả người: Không ngờ Bác lại bao dung và giản dị đến thế! Tất cả tình cảm Bác đều dành cho dân tộc Việt Nam.

Phút chia tay Bác để vào Nam chiến đấu, ông Thắng được Bác dặn kỹ: “Thống nhất đất nước, chú cố gắng sắp xếp đi thăm Hà Nội, nếu Bác còn sống thì nói chuyện vui vẻ, nếu Bác mất thì đi để thăm Thủ đô.”

Ấy vậy mà khi đất nước chưa kịp thống nhất Bác đã chìm sâu trong giấc ngủ ngàn thu. Còn ông, sau khi giải phóng, ông về lại nơi mình sinh ra để tiếp tục làm cán bộ xã giúp bà con chống Fulro và làm ăn. Đến nay, mong ước được một lần được ra thăm Hà Nội như lời hẹn với Bác, ông vẫn chưa thực hiện được!

Thiên Thư
Theo http://dantri.com.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ ở bản Mạy

QĐND – Tháng Tư, đất nước Triệu Voi đã chớm mùa mưa. Trong tiết trời dìu dịu mát, từ Savanakhẹt, chúng tôi vượt sông Mê Kông đến Nakhon Phanom của Thái Lan thăm ngôi nhà Bác Hồ từng ở để hoạt động cách mạng trong những năm 1928-1929.

Bản Mạy đây rồi ư? Ngôi nhà Bác ở tại đất Thái mà tôi từng nghe, từng đọc từ thời học cấp một đây rồi ư? Cái tên Thầu Chín, bí danh của Bác thời ấy lại âm vang trong lòng chúng tôi. Chợt thấy xôn xao mảnh vườn xanh tốt chở che ngôi nhà bé nhỏ, vách gỗ ngói ta có chiếc rèm tre che nắng, che gió trước cửa chính ra vào. Ngôi nhà, mảnh vườn thuần Việt này còn lưu giữ những kỷ niệm về một thời hoạt động cách mạng bí mật của Bác Hồ kính yêu tại Thái Lan.

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Nakhon Phanom -Thái Lan. Ảnh: Đông Hà

Những nén hương thơm được thắp lên trên chiếc tủ thờ quá đơn sơ để tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cảm xúc trong tôi mỗi lúc càng trào dâng khi tận mắt thấy những kỷ vật của Bác còn lưu giữ trong ngôi nhà. Vẫn thế! Một cuộc sống giản dị thanh cao, những tiện nghi bị lược bỏ đến tối thiểu, còn lại mênh mang tấm lòng yêu nước thương dân, còn lại chí khí phẩm chất của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Có thể kể ra ngay mấy đồ vật Bác dùng thuở ấy: Vài bộ áo quần vải thường xếp trong chiếc tủ cao chưa tới một mét, tấm phản gỗ Người từng ngả lưng sau những giờ làm việc miệt mài, mấy cái xoong nhỏ bằng đồng để bên cạnh chiếc kiềng ba chân. Danh mục đồ dùng nếu đếm chắc chỉ đủ một bàn tay.

Năm 39 tuổi, Bác đóng vai nhà sư Hạnh Đa để hoạt động cách mạng tại Thái Lan. Tôi dừng khá lâu trước bức ảnh Người trong tấm áo cà sa màu vàng đang đi khất thực thời ấy để hình dung thêm những gian lao, hiểm nguy mà Bác đã trải qua trên Đường Kách mệnh.

Những hình dung về Bác kính yêu càng sáng thêm qua những hồi ức của ông Võ Trọng Tiêu, người đang coi giữ ngôi nhà lịch sử này. Khi Bác về bản Mạy với cái tên Thầu Chín thì ông Tiêu mới 7 tuổi. ông sinh năm 1922 tại Thái Lan nhưng quê gốc ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Gần chín mươi tuổi, ông mới được nhập quốc tịch Thái. Cũng lạ, gần chín thập kỷ qua con người mang dòng máu Việt này không thuộc quốc tịch nào cả nên dù đã có con trai là thiếu tướng công an và con gái là bác sĩ làm việc tại Việt Nam, ông vẫn chưa một lần thực hiện được khát vọng về thăm Tổ quốc, quê hương.

ông Tiêu kể: Những ngày đầu về bản Mạy, Bác ở chung nhà và ăn uống với gia đình ông. Sau đó, vì không muốn làm phiền gia đình, nên Bác cùng các đồng chí của mình xin phép được làm ngôi nhà riêng để ở và sinh hoạt. Đêm đêm, cậu bé Tiêu được Thầu Chín cho ngủ chung. Thường thì khi ngủ dậy Tiêu chẳng thấy Bác đâu nữa. Bác đi đâu, về đâu trong nhà không mấy ai biết. Trong hồi ức của ông Tiêu thì Bác thời ấy người gầy mảnh, da trắng, mặc quần vận. Bàn ghế, tủ đựng áo quần hiện còn lưu giữ ở đây là do tự tay Bác đóng. Vườn nhà có hai cây dừa và cây khế ngọt do Bác trồng. Hiện nay, ai đến đây cũng đều thích ăn khế Bác trồng và muốn chụp ảnh trước cây để làm kỷ niệm. Chiều chiều, khi thôi làm việc Bác cùng các đồng chí của mình đá bóng theo kiểu vòng tròn. Chú bé Tiêu là người xăng xái đi nhặt bóng. Có lúc Bác chơi trò kéo co với các cháu là con của các gia đình cách mạng Việt Kiều gửi vào học chữ quốc ngữ. Một bên là cậu bé Tiêu với ba em học trò, còn bên kia là Bác. Bác cười bảo: Tám chân đấu với hai chân, coi thử ai thua, ai thắng nào. Mùa mưa đến, Bác với mấy đồng chí của Người đi bắt cá. Bốn người lội bì bõm từ thửa ruộng này qua thửa ruộng khác, cá bắt được bỏ chung trong một chiếc giỏ. Về nhà, Bác cười hỏi: Đố mấy chú tôi bắt được bao nhiêu con cá? Tất cả, ngớ ra không ai trả lời được. Bác đổ cá từ giỏ ra, vui vẻ nói, con cá nào bị ngắt đuôi là do tôi bắt đó. Ai cũng bật cười trước cái mẹo của Bác. Cá bắt được, con nào chết thì kho ăn trước, con nào sống thì để lại làm nước mắm. Bác thích ăn những món dân dã đồng quê và hằng ngày nấu nước lá vằng để uống.

Không chỉ nhân dân Việt Nam yêu quý Bác Hồ mà nhiều người Thái Lan cũng rất kính trọng Bác. ông Tiêu cho biết, người Thái vẫn thường đến đây thắp hương cho Bác. Trong 76 tỉnh của Thái Lan đã có dân của 74 tỉnh về thăm ngôi nhà Bác từng ở tại bản Mạy và theo ông Tiêu kể thì một vị tổng chỉ huy quân đội Thái Lan khi đến đây thắp hương cho Bác đã giơ ngón tay cái lên rồi nói: Bác Hồ là người có một không hai trên thế giới này!

Ngôi nhà nhỏ Bác từng ở tại bản Mạy không chỉ là di tích lịch sử quý giá gắn với cuộc đời cách mạng sôi động của Hồ Chí Minh mà còn là nhịp cầu nối tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt -Thái. Ngay cạnh ngôi nhà nhỏ này, có Làng hữu nghị Việt -Thái và nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh Đường Quốc Hiệp, năm nay bốn mươi tuổi, nhân viên coi giữ giới thiệu nhà lưu niệm nói với chúng tôi: Bác Hồ là vĩ nhân của Việt Nam và thế giới nhưng rất giản dị. Dù Bác đã xa rời nơi này rất lâu nhưng người dân bản Mạy vẫn luôn luôn thấy hình bóng Người ở đây. Trong ngôi nhà nhỏ, trong hàng dừa cây khế, trong mỗi trái tim người dân bản Mạy luôn có hình ảnh Bác Hồ tỏa sáng.

Nguyễn Hữu Quý
qdnd.vn

Bác Hồ với giai cấp công nhân

anh BH ve nha may det ND
Bác Hồ về thăm Nhà máy Dệt Nam Định

Trong sự nghiệp hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến giai cấp công nhân như là động lực mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tiến bộ. Do vậy, từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã nhận ra vai trò lịch sử to lớn của giai cấp công nhân, đó chính là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất, là giai cấp tiên phong trong công cuộc cách mạng làm thay đổi chế độ, giành độc lập và xây dựng đất nước.

Sau khi trở thành người cộng sản, trong nhiều việc lớn chuẩn bị cho dân tộc trên lộ trình cách mạng lâu dài, thì việc tìm kiếm những hình thức nhằm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân Việt Nam hay đặt nền móng xây dựng những cơ sở đầu tiên cho tổ chức Công đoàn nước ta chiếm một phần không nhỏ trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Những ngày đầu chuẩn bị thành lập Đảng, Bác Hồ đã khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng của mình. Trong hoàn cảnh lịch sử nước ta thuở ấy là một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế lạc hậu, chậm phát triển, lực lượng giai cấp công nhân còn nhỏ bé, song Bác vẫn khẳng định bản chất giai cấp của Đảng là bản chất của giai cấp công nhân thể hiện rõ tầm nhìn xa của một nhà tư tưởng lớn. Đây cũng là một trong những nguồn gốc sâu xa đưa đến những thắng lợi vẻ vang của Đảng ta trong công cuộc đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lấy độc lập tự do cho dân tộc. Và trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, giai cấp công nhân Việt Nam được Bác và Đảng rèn luyện, giáo dục đã dần dần ý thức được trách nhiệm to lớn và nặng nề của mình đối với dân tộc và tự giác trở thành lực lượng lãnh đạo, nòng cốt trong khối liên minh công, nông và đội ngũ trí thức.

Từ những năm 1920, Bác Hồ đã rất chú ý đến chức năng bảo vệ quyền lợi cho người lao động, một chức năng quan trọng nhất của tổ chức Công đoàn. Từ những cơ sở Công hội đầu tiên trên đất Pháp, những hội tương tế mang nặng tính chất phường hội thị dân, từ những “đốm lửa” Công hội Đỏ đầu tiên của Tôn Đức Thắng ở Sài Gòn – Chợ Lớn đầu những năm 1920, cùng với sự xâm nhập của tư tưởng xã hội chủ nghĩa vào nước ta qua Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; từ những năm 1926 phong trào công nhân phát triển như gió lốc, đặc biệt theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc nêu ra ở Quảng Châu, những học trò ưu tú của Người như Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự đã phát động phong trào vô sản nổi tiếng, làm cho tổ chức Công hội ở Bắc và Trung Kỳ thực sự lan rộng, phát triển mạnh mẽ như nấm mọc sau cơn mưa rào. Đó cũng chính là bối cảnh để Đông Dương Cộng sản Đảng giao trọng trách cho đồng chí Nguyễn Đức Cảnh triệu tập Hội nghị thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28/7/1929, tại số 15 Hàng Nón, Hà Nội – là tiền thân của tổ chức Công đoàn ngày nay. Đại hội còn quyết định ra Báo Lao động và Tạp chí Công hội Đỏ làm cơ quan ngôn luận của tổ chức mình.

Trong chuyến thăm và nói chuyện với cán bộ, giáo viên và học viên Trường Cán bộ Công đoàn vào ngày 19/01/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Công đoàn phải tuyên truyền đường lối, chính sách chung của Đảng, vì Đảng mình là Đảng của giai cấp vô sản. Đường lối chung là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được, Đảng mà không có giai cấp công nhân cũng không làm được gì. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”.

Trong bài nói chuyện tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II vào tháng 02 năm 1961, Bác Hồ khẳng định: “Phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật cũng là vấn đề quan trọng. Phải nhận rằng đại đa số công nhân ta đều cần cù, thông minh và có nhiều sáng kiến hay… Nếu Công đoàn biết khuyến khích, áp dụng, cải tiến và phổ biến rộng rãi những sáng kiến ấy thì năng suất lao động sẽ nâng cao không ngừng”. Người còn chỉ ra rằng: “Công đoàn phải có biện pháp thiết thực để nâng cao trình độ văn hóa và kỹ thuật của công nhân, phải tùy khả năng cộng với cố gắng mà nâng cao dần đời sống vật chất của họ; phải chú ý bảo vệ sức khỏe, bảo vệ an toàn lao động và tăng cường công tác vệ sinh…”.

Từ những lời dạy ấy, chúng ta nhận thấy rõ ràng, trách nhiệm của giai cấp công nhân ngày nay càng nặng nề hơn, những thành tựu về khoa học kỹ thuật đã giúp con người dần dần giải phóng sức lao động chân tay, phát huy hiệu quả của lao động trí óc, giai cấp công nhân, do vậy phải không ngừng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Tổ chức Công đoàn các cấp không ngừng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, dấy lên nhiều phong trào thi đua lao động sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao góp phần làm giàu cho đất nước. Những thành quả về các ngành công nghiệp điện, khai thác dầu, chế biến nông lâm thủy hải sản, hàng tiêu dùng và công nghệ vi sinh, công nghệ thông tin… đã góp phần đóng góp không nhỏ của giai cấp công nhân. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò trách nhiệm của giai cấp công nhân.

Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách quan tâm thiết thực đến người lao động, nhất là đối với giai cấp công nhân như đã ban hành Luật và các văn bản dưới luật quy định về chế độ lao động, an toàn lao động, bảo hiểm xã hội… Đời sống của lực lượng công nhân không ngừng được cải thiện. Lực lượng công nhân của nước ta đã phát huy được tính cần cù, sáng tạo và thông minh, nhanh chóng tiếp thu được những tiến bộ của nhân loại khi tham gia các công trình lớn có sự chuyển giao khoa học công nghệ của các nước tiên tiến mang lại nhiều hy vọng và tự hào cho giai cấp mình, xứng đáng với sự quan tâm của Đảng và Bác Hồ.

Với bản chất cách mạng, sự kiên định, vững vàng về chính trị, giai cấp công nhân nước ta là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, là cơ sở chính trị – xã hội căn bản của Đảng, chỗ dựa vững chắc của Nhà nước, giữ vai trò nòng cốt trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp trực tiếp và to lớn vào sự phát triển chung của đất nước, góp phần tạo nên tầm vóc mới, thế và lực mới của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.

Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Đặng Ngọc Tùng đã nhận định: Trong những năm đổi mới, tổ chức và hoạt động của Công đoàn đã vận động, tập hợp ngày càng đông đảo công nhân, viên chức, lao động vào tổ chức Công đoàn, đi tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động; tích cực đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, lãng phí, tham nhũng, các biểu hiện vi phạm pháp luật lao động. Các phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Sáng kiến, tiết kiệm”, “Phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn”… do Công đoàn phát động đạt nhiều hiệu quả cụ thể, thiết thực. Đặc biệt, tổ chức Công đoàn đã và đang triển khai thực hiện tốt các cuộc vận động do Mặt trận tổ quốc Việt Nam phát động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”…

Có thể nói, tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn kiên định: Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chủ tịch và quan điểm của Đảng, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát huy sức mạnh của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, của tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với giai cấp công nhân trên toàn thế giới; chống lại mọi âm mưu chia rẽ tổ chức Công đoàn, chia rẽ giai cấp công nhân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nguyễn Thị Mỹ Phương
Theo
www.lđldct.org.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Tình cảm của Bác với các Thương binh – Liệt sỹ qua thư và những lời nói

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh - Ảnh gdtd.vn

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh

1. Trong thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” ngày 27-7-1947, Bác viết:

            “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang san, sự nghiệp, mồ mả đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp; cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa; của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập; ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh.

            Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu.

            Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người anh hùng ấy.

            Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ăn một bữa, để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp các chiến sĩ bị thương.

            Ngày 27-7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh.

… Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm sẻ áo của đồng bào, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn.

            Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa mà chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127,00)”.

            2. Trong thư gửi anh em thương binh và bệnh binh tháng 7 năm 1948, Bác viết:

            “Các đồng chí đã hy sinh một phần xương máu vì Tổ quốc, chẳng may bị thương, bị bệnh trước khi quân thù hoàn toàn bị tiêu diệt, kháng chiến được hoàn toàn thành công.

            Chắc các đồng chí không khỏi phân vân. Nhưng các đồng chí nên một mặt nuôi lại sức khỏe, một mặt cố gắng học tập. Khi đã khôi phục sức khỏe, các đồng chí sẽ hăng hái tham gia công tác tăng gia sản xuất, để giúp ích cho Tổ quốc, cũng như các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên những người chiến sĩ kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận. Tôi cùng đồng bào luôn nhớ đến các đồng chí”.

            3. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh về việc đón thương binh về làng tháng 7 năm 1951, Người cũng nhắc lại:

            “Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân. Anh em đã làm tròn nhiệm vụ, anh em không đòi hỏi gì cả.

            … Song đối với những người con trung hiếu ấy. Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng?

            … Mỗi xã phải tùy theo sự cố gắng và khả năng chung mà đón một sốp anh em thương binh …

            … Như thế thì đồng bào mỗi xã được thỏa mãn lòng ao ước báo đáp anh em thương binh, mà anh em thương binh thì được yên ổn về vật chất và vui vẻ về tinh thần và có dịp tham gia hoạt động có ích cho xã hội”.

            4. Trong thư gửi phụ nữ nhân ngày 8-3-1952, Bác viết:

            “… Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc …

… Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ, cùng vợ con của liệt sĩ.

            … Các bà mẹ chiến sĩ và các chị em đã giúp thương binh, đã hòa lẫn lòng yêu thương không bờ bến, mà giúp chiến sĩ và chăm sóc thương binh như con em ruột thịt của mình”.

            5. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh – Cựu binh ngày 27-7-1952, Người cũng nhắc anh em thương binh là:

            “Về phần anh em thương binh, bệnh binh:

            – Phải hòa mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân.

            – Phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật.

            – Chớ bi quan, chán nản, phải luôn luôn cố gắng. Ngày nay anh em sẽ tùy điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất …

            – Đồng bào sẵn sàng giúp đỡ, anh em có quyết tâm thì anh em nhất định dần dần tự túc được”.

            6. Diễn từ trong buổi lễ đặt vòng hoa ở Đài Liệt sĩ ngày 31-12-1954:

            “… Các liệt sĩ hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt sĩ đã ghi sâu vào lòng toàn dân và non sông đất nước.

            Các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng chí khí dũng cảm của các liệt sĩ thấm nhuần vào tâm hồn của toàn quân và dân ta trong cuộc đấu tranh đặng giành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong nước.

            Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm đỏ thắm.

            Tiếng thơm của các liệt sĩ muôn đời lưu truyền sử xanh.

            Một nén hương thanh.

            Vài lời an ủi”.

            7. Trong buổi đón giao thừa ở Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội năm 1956, Bác nói:

            “Các chú tàn nhưng không phế”.

            8. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh ngày 27-7-1956, Bác Hồ viết:

“… Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”.

            9. Trong thư gửi anh em thương binh, bệnh binh Trại an dưỡng Hà Nam tháng 6-1957, Bác viết:

“… Các chú là những chiến sĩ đã được quân đội nhân dân rèn luyện về đạo đức và kỷ luật cách mạng, là những người con đã hy sinh một phần xương máu để bảo vệ nước nhà. Vậy các chú cần phải giữ vững truyền thống tốt đẹp và vẻ vang của quân đội cách mạng là: giữ gìn kỷ luật, đoàn kết chặt chẽ, thật sự đoàn kết, thương yêu giữa anh em thương bệnh binh với nhau, giữa thương, bệnh binh với cán bộ và nhân dân giúp việc ở Trại, giữa thương, bệnh binh trong Trại với đồng bào chung quanh”.

            10. Trong thư gửi anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ngày 27-7-1959, Bác Hồ cũng đã căn dặn:

            “… Trong năm qua, các gia đình liệt sĩ và anh em thương binh, bệnh binh đã đóng góp khá nhiều vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

            Nhiều gia đình liệt sĩ đã hăng hái tham gia Tổ đổi công và Hợp tác xã nông nghiệp và đã đạt được thành tích khá trong việc sản xuất và tiết kiệm. Tôi chúc các gia đình ấy trở thành những gia đình cách mạng gương mẫu …”.

            11. Trong diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng (ngày 5-1-1960), đoạn nói về thương binh liệt sĩ, Bác Hồ đã nói như sau:

“… Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta …

            … Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ chuyển lại cho chúng ta…”.

            12. Trong Di chúc thiêng liêng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã căn dặn biết bao điều hệ trọng về công tác Lao động – Thương binh và Xã hội:

            “Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, than niên xung phong …), Đảng, Chính phủ và đồng bào ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

            Đối với các liệt sĩ, thì mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

            Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền cùng Hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

(Bản viết tháng 5-1968, Bộ Chính trị khóa VI công bố ngày 19-8-1989).

            Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Qùa Bác tặng miền Nam

bác hồ với các anh hùng và chiến sĩ thi đua miền Nam ảnh Tư liệu Bác Hồ với các anh hùng và chiến sĩ thi đua miền Nam (Ảnh tư liệu)

Năm 1962, đồng chí Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Bác Hồ đã tổ chức đón tiếp ngay hôm Đoàn đến Hà Nội, tại vườn hoa sau Phủ Chủ tịch – nơi Người thường đọc báo vào các buổi chiều. Thấy đoàn xe chở đoàn miền Nam vừa vào khỏi cổng cơ quan Phủ Chủ tịch, Bác liền rảo bước ra đón. Mọi người xuống xe, quây tròn chung quanh Bác, nhưng không có một tiếng, một lời nào. Các đồng chí trong Đoàn quá xúc động không kìm giữ được đã bật khóc thành tiếng. Qua phút gặp gỡ ban đầu, Bác hỏi thăm tình hình sức khoẻ mọi người. Bác hỏi cặn kẽ về tình hình miền Nam. Bác đặc biệt quan tâm hỏi tỉ mỉ về đời sống, tinh thần chiến đấu của đồng bào và lực lượng vũ trang giải phóng. Đồng chí Nguyễn Văn Hiếu thay mặt Đoàn báo cáo Bác tất cả và đầy đủ để Bác nghe. Đồng chí cũng đã thưa lên Bác ước mơ, nguyện vọng của đồng bào, chiến sĩ miền Nam đang mong chờ ngày thắng lợi, nước nhà thống nhất để đón Bác vào thăm. Cuối cùng đồng chí Hiếu thay mặt đồng bào và chiến sĩ miền Nam dâng lên Bác gói quà với giọng nghẹn ngào: “Thưa Bác, đây là tấm lòng của đồng bào chiến sĩ miền Nam tặng Bác…!”, Bác cảm động ôm hôn đồng chí Hiếu. Quà của miền Nam tặng Bác là một bình cắm hoa bằng vỏ đạn pháo cỡ lớn của quân giải phóng và một cái gạt tàn thuốc lá bằng xác máy bay giặc Mỹ bị ta bắn rơi. Nhìn gói quà tặng, đồng chí Xuân Thủy quay về phía Bác nói: “Thưa Bác, Bác có quà tặng đồng bào chiến sỹ miền Nam không ạ?”. Nghe câu hỏi, tất cả mọi người nhìn đồng chí Xuân Thủy như có ý trách và nhìn Bác chờ đợi. Bác nhìn các đồng chí trong đoàn miền Nam một lượt, rồi chậm rãi nói: “Có, Bác có quà tặng đồng bào và chiến sỹ miền Nam đây!”. Nói xong, Bác dùng ngón tay trỏ chỉ vào trái tim của mình. Đồng chí Hiếu quá cảm động, ôm chầm lấy Bác, giọng nói đứt quãng trong tiếng nấc: “Thưa Bác… thưa Bác… thưa Bác…!”.

Theo ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn