Thư viện

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình (phần cuối)

Đầu năm 1948 Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Tiểu đoàn chính quy mang phiên hiệu D350 (còn gọi là Tiểu đoàn Mèo – vì đại đa số là người Mèo) trên cơ sở lực lượng vũ trang của ông Sơn; quyết định bổ nhiệm Vương Quỳnh Sơn làm Tiểu đoàn trưởng.

Tiểu đoàn D350 trực thuộc Quân khu 10 – do Tướng Bằng Giang làm Tư lệnh Quân khu. Trong buổi ra mắt có sự tham dự của ông Tô Quang Đẩu Chủ tịch Khu 10, ông Trần Đức Trung Chủ tịch Hà Giang, Giám đốc Sở Công an… Được Bộ Quốc phòng uỷ quyền, trong buổi ra mắt Tiểu đoàn, ông Trần Đức Trung – Chủ tịch tỉnh Hà Giang đã trao thanh kiếm cho Tiểu đoàn trưởng Vương Quỳnh Sơn để thực thi nhiệm vụ.

a1. vuameo  p.cuoiKhu mộ Vương Chí Thành

 Bác Hồ cắt máu ăn thề và đổi họ, tên cho Thủ lĩnh Vương?

Sau cuộc gặp gỡ, ông Vương Chí Sình trúng đại biểu Quốc hội Khoá I (6-1-1946) và được giao trọng trách Chủ tịch Đồng Văn. Bác còn cử ông Võ Khải Ca – phái viên của Chính phủ, bên cạnh ông Vương làm Tham mưu Cố vấn giúp ông Vương quản lý mọi mặt ở địa phương. Đồng thời đổi lại tên châu Thường Kiệt, trả lại tên cũ là châu Đồng Văn cho đồng bào dễ nhớ, dễ gọi. Sau tham dự kỳ họp Quốc hội Khoá I, ông Vương còn ở lại Hà Nội chơi qua Giêng mới trở về Đồng Văn.

Về chính ngôn thì Việt Minh giao phó trách nhiệm Chủ tịch hành chính Đồng Văn cho ông Sình (gồm 4 huyện núi đá: Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Mèo Vạc). Nhưng theo thiết chế dòng họ của xã hội người Mèo thì cụ Vương Chính Đức vẫn là thủ lĩnh tối cao quyết định mọi vấn đề của người Mèo. Ông Sình chỉ là người thực thi nhiệm vụ theo ý kiến của thủ lĩnh.

Cần nhớ rằng, khi ông Sình có gia đình riêng ông chuyển ra nhà riêng ở Phó Cáo và mở cửa hàng tạp hoá để mưu sinh. Trước khi Nhật đảo chính Pháp không lâu, ông Thành có mua chức Lý trưởng Nam triều. Ông cũng không nằm trong bộ máy tham mưu của bố ông.

Sau ngày Hồ Chủ tịch kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), lúc này cụ Đức lâm bệnh nặng khó bề qua khỏi. Cụ viết thư nhắn Chủ tịch Hồ Chí Minh cho người lên Đồng Văn để nhận bàn giao lại vùng đất của người Mèo. Ông Mai Trung Lâm lại được cử lên để tiếp thụ ý kiến cụ Vương. Khi ông Lâm lên tới nơi, cụ Vương triệu tập thủ lĩnh (người cầm quyền các dòng họ) về Sà Phìn để bàn thảo.

Như trên đã nói, ông Sình dự họp với tư cách là người quản lý hành chính chứ không phải tư cách thủ lĩnh. Theo truyền thống của xã hội người Mèo không có tập tục cha truyền con nối. Ai giỏi nhất thì được tôn vinh làm thủ lĩnh – không phân biệt tuổi tác, nguồn gốc. Kết luận, cụ Vương giao ước với các dòng họ Mèo rằng: Ông Mai Trung Lâm là người Cụ Hồ cử lên thay mặt Cụ. Từ nay mọi việc nhất nhất phải nghe theo ông Lâm. Như vậy là cụ Đức bàn giao đất Đồng Văn cho ông Lâm chứ không phải ông Sình.

Ông Mai Trung Lâm là người hoạt động ở vùng Mèo nhiều năm nên hiểu rõ về phong tục, xã hội người Mèo. Ông không thể chỉ đạo, thống lĩnh lượng vũ trang Mèo một khi chưa được thủ lĩnh các dòng họ suy tôn, chấp thuận. Vì vậy ông giới thiệu ông Vương Chí Sình vào vị trí đó. Song cụ Đức không chịu, cụ nói rằng: ”Vương Chí Thành nó có tính khí đàn bà. Gặp việc lớn không dám quả quyết nên không giao được”.

Người dân tộc nói như dao chém cây, khó lòng thay đổi được. Đâm ra ông Lâm trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Ông đành phải nhận. Song với vai trò, vị trí mới, sau khi tiếp thụ lệnh của cụ Đức, ông giao nhiệm vụ đó cho ông Vương Chí Thành. Nghĩa là ông vẫn là người chỉ huy cao nhất, là cấp trên của ông Thành, nhưng không đứng ra trực tiếp giải quyết mọi vấn đề của người Mèo. Phương án tế nhị, khôn ngoan của ông Lâm cuối cùng đã được cụ Vương chấp nhận. Trong không khí vui vẻ, phấn khởi ông Lâm kết nghĩa anh em với ông Thành ngay sau đó.

Ông Vương Chí Thành cũng vui vẻ nhận thêm trọng trách mới, nhưng ra điều kiện: ”Khi nào đánh Tây, đuổi Nhật xong ông trả lại đất Đồng Văn cho Cụ Hồ”.

Mấy tháng sau, vào đầu năm 1947 cụ Vương Chính Đức từ trần ở tuổi 82. Lúc này ông Thành mới chính thức là người chỉ huy cao nhất của các dòng họ Mèo, đồng thời lãnh trách nhiệm cao nhất về hành chính ở Đồng Văn để lo toan công việc kháng chiến. Ông Vương Chí Sình có công lớn giải thoát cho thủ lĩnh các dòng họ Mèo bị thực dân Pháp giam ở Hỏa Lò năm 1936. Nhờ sự kiện đó, ông có uy tín với các thủ lĩnh và họ phải mang ơn cứu mạng của ông, nên ông được thủ lĩnh các dòng họ tôn vinh như vua.

Những tháng đầu năm 1947 và sau đó, tình hình thực tế diễn biến hết sức phức tạp. Các lực lượng thân Pháp, Nhật, Tưởng ở các tỉnh miền núi phía Bắc tranh nhau lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin đi theo chúng: Đồng thời chúng gầm ghè giữ miếng và xâu xé lẫn nhau. Để ngăn chặn quân Pháp đánh vào các khu căn cứ cách mạng, Việt Minh đã tổ chức chiến dịch và một số trận đánh lớn. Ở địa phận Đồng Văn do Vương Chí Sình cai quản, các lực lượng thù địch vẫn không thể lấy được tấc đất nào. Đồng Văn đứng vững, trước sóng gió của cuộc chiến.

Để tạo thế ”ỷ dốc” và khuếch trương thanh thế cho ông Vương, đe nẹt lũ cướp nước và bán nước, Việt minh phao tin rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cắt máu ăn thề kết nghĩa anh em với vua Mèo Vương Chí Sình. Rằng là Cụ Hồ đã đổi tên cho ông Sình là Thành (theo tiếng Việt có ý chí và trung thành). Thậm chí còn nói đổi cả họ cho ông Thành theo họ của ông Hồ – tức Hồ Chí Thành. Tin đó lan truyền nhanh như gió, râm ran thì thầm từ người nọ sang người kia, úp úp, mở mở.

Nếu bọn nào đụng vào ông Thành cũng tức là đụng vào ông Hồ. Như trên đã nói, trong thời gian này Việt Minh đã mạnh lên, giáng những đòn đau vào quân Pháp, diệt ác trừ gian. Chiến cuộc đã chuyển dần sang thế chủ động có lợi cho Việt Minh. Vì vậy bọn chúng rất e nể, càng không dám quấy nhiễu, liều mạng đánh vào quân ông Sình, sợ Việt Minh trừng trị.

Sau nhiều năm cùng cụ Vương Quỳnh Sơn bôn ba trên những chặng đường công tác, tôi đã hỏi cụ ít nhất là 2-3 lần về sự kiện ông Thành gặp Bác Hồ ở Hà Nội để xem cụ có sự nhầm lẫn nào chăng? Đến nỗi có một lần cụ phát cáu với tôi: ”Tao là người trực tiếp có mặt ở đó. Nhầm thế nào được”. Rồi cụ mỉm cười đôn hậu: ”Nhiều người chẳng hiểu biết gì về người Mèo, nhưng lại hay bày đặt ra những giai thoại. Kể nhiều thành quen tai cứ ngỡ rằng có thật. Những tin đồn đó chỉ có tính chính trị trong lúc bấy giờ mà thôi. Người Mèo chúng tao có những luật tục rất đặc thù. Giải thích thì dài dòng lắm. Bác Hồ là vị lãnh đạo hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán dân tộc Mèo. Bác còn là người rất tinh tế, lịch lãm và sáng suốt lắm. Làm gì có chuyện đổi họ, tên cho ông Vương. Cũng chẳng có lễ kết nghĩa anh em nào hết. Chỉ có một câu nói của Bác mà sinh ra lắm chuyện rắc rối thế? Câu chuyện gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ông chú tao còn kể đi, kể lại với con cháu (chính xác như tao đã kể với mày) sau này như một niềm vinh dự, tự hào của dòng họ Vương”.

a2. vua meo p. cui

 Kỷ vật Bác Hồ tặng thủ lĩnh Vương hiện giờ ở đâu?

Trước hết, xin nói về kỷ vật. Theo cụ Vương, Bác Hồ tặng ông Thành 2 kỷ vật. Thứ nhất là chiếc áo trấn thủ. Chiếc áo đó may bằng vải kaki ngoại dầy, chắc, màu vàng dịu chứ không vàng khè như màu quân phục của công an trước đây (khi chưa thay đổi mẫu mã và màu như hiện nay). Cuối thân áo có thêu dòng chữ: ”Hội Phụ nữ cứu quốc kính tặng”. Đường chỉ may trần theo ô quả trám có cải thêm sợi kim tuyến lóng lánh rất đẹp. Chiếc áo này Hội Phụ nữ tặng Bác, nhưng Bác dành tặng lại cho ông Vương Chí Thành.

Thứ hai là thanh đoản đao – chứ không phải thanh gươm như các bài viết từ trước đến nay. Bản thân tôi cũng ngỡ ngàng khi nghe chi tiết này. Theo mô tả của cụ Vương, thanh đoản đao dài chừng trên 60cm một ít. Nơi bản đao rộng nhất to gần bằng bàn tay người lớn trông giống như chiếc mã tấu, hay giống như binh khí của tướng lĩnh, anh hùng hảo hán. Cuối chuôi đao có đục một cái lỗ buộc sợi dây có gắn quả tua khá đẹp. Việc chế tác thanh đoản đao Bác giao cho Xưởng Quân giới của ông Trần Đại Nghĩa.

Theo yêu cầu của Bác, xưởng quân giới chọn loại thép xanh vừa cứng, vừa dẻo để rèn.Không biết cụ Vương có lý tưởng hoá lên, chỉ biết cụ bảo nó ánh lên chất thép xanh sáng loáng và cực kỳ sắc bén. Để 1 sợi tóc vào lưỡi đao thổi nhẹ là sợi tóc đứt làm đôi. Vỏ đao được làm bằng gỗ tốt, có vân, không bị nứt nẻ bởi thời tiết và qua thời gian.

Sau khi hoàn thành mang lên để Bác kiểm tra, Người vén tay áo viết vào 2 mặt vỏ bao 8 chữ nho. Một bên là ”Tận trung báo quốc”, bên kia là ”Bất thụ nô lệ” và bên dưới có chữ ký của Bác. Nét chữ rắn rỏi, bay bướm rất đẹp.

Nếu bạn có dịp thăm Dinh thự họ Vương ở xã Sà Phìn, Đồng Văn sẽ thấy những chữ đó được khắc vào phiến đá mặt tiền phần mộ của vua Mèo Vương Chí Thành. Ảnh của ông ở giữa, hai bên ảnh mỗi bên 4 chữ. Khu mộ của dòng họ Vương nằm ở bên phải cổng vào dinh thự, dưới bóng mát của rặng samu cổ thụ hàng trăm năm.

Điều tôi băn khoăn nhất là tại sao lại là thanh đao chứ không phải thanh bảo kiếm như mọi người thường nói? Điều này được cụ Vương giải mã như sau: Trong lịch sử hơn 3.000 năm chiến đấu chống các triều đại nhà Hán (Hán tộc) từ thời Chu Thương 1600 năm trước Công nguyên nhà Hán luôn đánh vào vùng Mèo để giành vùng đất đai màu mỡ lưu vực sông Hoàng Hà – cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Ngưới Mèo đã nhiều lần bị nhà Hán bội ước, lừa gạt, nhiều phen thua trận. Giặc Hán còn sát hại, tru di các họ Mèo, giết hết đàn ông ở nhiều vùng đất chúng cai trị nhằm đồng hoá tộc người Mèo. Nhưng người Mèo vẫn tồn tại với sức sống mãnh liệt và không chịu khuất phục.

Mối thù truyền kiếp đó đến mức cực đoan. Người Mèo thường làm nhiều điều đối ngược với người Hán: Hán dùng môi bạc, thìa bạc, Mèo dùng môi gỗ, thìa gỗ; Hán giỏi võ tay, Mèo giỏi võ chân (vì thế nên người Mèo múa khèn chứ không chỉ thổi, đặc biệt đôi chân rất dẻo). Thù sâu đến nỗi, khi chết đi người Mèo cho vào quan tài người chết một chiếc nỏ làm bằng ống trúc nhỏ bằng ngón tay (đặc biệt trong quan tài người chết không được cho một tí sắt nào vào) với ý nghĩa, khi xuống thế giới tổ tiên – nơi ”trời lạnh, đất tối”- ma người Mèo tiếp tục chiến đấu giết ma Hán.

Trong tục ngữ Mèo có câu: ”Lá chuối không là lụa, người Hán không là bạn”. Theo đó, vua chúa Hán dùng gươm, vua chúa Mèo dùng đao. Ở đây nếu có suy luận ra một chút thì ở chỗ, chứng tỏ Bác Hồ rất hiểu lịch sử dân tộc Mèo mới tặng đao chứ không phải là kiếm? Điều này với tôi là quá bí hiểm không thể tranh cãi được gì, chỉ biết ghi lại thôi.

Đầu năm 1949, cuộc kháng chiến 9 năm của dân tộc đã bước sang năm thứ 4. Quân cách mạng đã trưởng thành và lớn mạnh nhiều mặt. Các cuộc hành quân nhằm tiêu diệt các khu căn cứ địa cách mạng của Pháp thất bại, tiêu biểu là chiến cuộc Đông Xuân 1947. Pháp xoay sang mở chiến dịch đánh vào Cao Bắc Lạng. Khi đã nắm rõ ý đồ của địch ta mở chiến dịch Sông Lô. Chiến dịch chia làm 3 giai đoạn, bắt đầu từ 29/4 kéo dài tới 31/5/1949 mới kết thúc. Trong những năm trước đó tình hình diễn biến hết sức phức tạp. Pháp, Nhật, Tưởng và bọn thân chúng khi có cơ hội đã liên tục tấn công vào lực lượng của ta. Trong lúc loạn quân, loạn quan dải đất Đồng Văn vẫn giữ vững để khích lệ biểu dương lực lượng vũ trang Mèo và công lao Vương Chí Sình trong mấy năm song hành cùng cuộc chiến đấu của dân tộc, Bác Hồ cử ông Võ Nguyên Giáp và ông Bùi Công Trừng mang tặng ông Vương hai kỷ vật đã nêu ở phần trên tại thị xã Hà Giang.

”Vậy kỷ vật ấy hiện nay ai giữ, cụ có biết không?”. Cụ bảo: ”Biết mà không biết”. Lạ. Cụ bảo ông chú Sình có 3 con trai: Vương Đình Phú, Vương Đình Quang và Vương Đình Thọ. Năm 1990, Thọ nó xin phép Nhà nước được xuất cảnh đi Canada, nó mang theo chiếc áo trấn thủ Bác tặng bố nó. Khi ông chú tao mất (1962) nó mới 2 – 3 tuổi. Năm nó đi định cư ở nước ngoài nó chừng 40 – 41 tuổi gì đó. ”Thế còn thanh đoản đao”?. Cụ cười buồn. ”Về cái vụ này tao có đôi ba lần hỏi cơ quan chức năng. Nghe nói có cán bộ lên Sà Phìn hỏi mượn hay xin gì đó, bảo là để trưng bày ở bảo tàng. Chẳng rõ là ai, vì lắm cán bộ quá. Cũng chẳng thấy trưng bày ở bảo tàng nào. Chịu”. Bây giờ cụ đã thành người thiên cổ. Liệu có còn ai tâm huyết đi tìm kỷ vật có giá trị lịch sử như vậy? Thật tiếc thay!

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình(Phần 3) Thủ lĩnh Vương về Hà Nội – Hoàng Việt Hưng mắc kẹt

Theo đúng kế hoạch, khi xe ông Vương từ từ chậm lại trước cây số 17, một ông cụt tay cao lớn chặn xe hỏi lớn: ”Có phải xe của bác Vương không?”. Tài Hồ bảo đúng. Ông cụt tay đứng nghiêm chào: ”Tôi, Chu Phóng, Đại Đội trưởng Việt Minh nhận lệnh đón bác”.

Ông cụt tay đưa ông Vương vào một ngôi nhà dân gần đường. Đó là nhà một người Tày cơ sở cách mạng của ta. Khi ông Vương bước vào đã thấy ông Mai Trung Lâm ở đó. Ông Lâm đứng dậy chào hỏi, bắt tay rồi đưa ông Vương đến bàn nước. Sau khi hỏi sơ qua về sức khoẻ, ông Lâm hỏi: ”Bác có mang bàn đèn đi không?”. Ông Vương bảo có. ”Vậy thì bác lấy ra đi. Tôi tiêm thuốc cho bác hút”- ông Lâm vui vẻ nói. Tại đây, ông Vương chuyển sang xe của Việt Minh đi tiếp đến thị xã Tuyên Quang. Xe dừng, ông Lâm đưa ông Vương vào một ngôi nhà ven đường. Ông Trữ – Chủ tịch tỉnh Phú Thọ đã trực sẵn ở đó. Ông Lâm giới thiệu ông Trữ với ông Vương và bàn giao cho ông Trữ đưa ông Vương đi tiếp. Ông Trữ mang theo bảo vệ, sau khi thuốc nước xong xuôi, chia tay ông Lâm, ông đưa ông Vương qua Phú Thọ theo ngả đường về bến phà Trung Hà, Sơn Tây để về Hà Nội. Từ đây là khu vực an toàn không có trở ngại nào nữa. Về đến Hà Nội, ông Vương được ông Bùi Công Trừng – lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương đón tiếp, lo chỗ ăn nghỉ.

Quay lại sự việc Hoàng Quốc Chính phục kích nhằm vào ông Vương. Do biết được kế hoạch của Chính, Việt Minh đã nghi binh đánh lừa được Chính, đưa ông Vương đến cây số 17 an toàn. Chính rất điên tiết, liền nghĩ ra kế hiểm. Hắn cho quân bắn tin đến tai cụ Vương Chính Đức rằng Vương Chí Thành đã bị Việt minh giết chết. Nghe được tin này, cụ Vương bán tín bán nghi. Để ăn chắc cụ Vương giữ ông Hoàng Việt Hưng (do Việt Minh cử ở lại làm tham mưu, cố vấn cho cụ) quản thúc không cho đi đâu. Hoàng Việt Hưng giải thích rằng đó là âm mưu của Quốc dân đảng nói xấu, nhằm chia rẽ người Mèo với Việt Minh. Rồi ông cam đoan: ”Nếu Việt Minh giết ông Thành thì các ông cứ lột xác tôi”. Ông đề nghị cụ Đức cho người về Hà Nội để kiểm tra, xác minh cụ thể. ”Nếu thực sự ông Thành đã chết, tôi xin chết ngay trước mặt cụ”.

a1. vuameo  p.3Vua Mèo Vương Chính Đức trên Cao nguyên Đá Đồng Văn.

 Vấn đề đặt ra là làm thế nào về được Hà Nội và ai sẽ đi, bằng cách nào để tránh con mắt nhòm ngó của Chính? Ông Hoàng Việt Hưng giới thiệu với cụ Đức một người là điệp báo viên của tướng Tưởng chỉ huy Quân đoàn 52 đang tìm ngựa để về Hà Nội. Ông Hưng gợi ý cho hắn mượn ngựa, cử giám mã cưỡi ngựa đi cùng để chăm sóc ngựa. Bằng cách đó sẽ xuống được Hà Nội thực thi nhiệm vụ tìm gặp ông Thành. Ông Vàng Giống Sử chăn ngựa của cụ Vương được cử đi. Về Hà Nội, ông Sử đã gặp được ông Thành ở 12 Hàng Ngang – là hiệu bánh khảo nổi tiếng Hồng Thái – nơi ông Thành đang nghỉ. Ông bà Hồng Thái là bạn hàng thân thiết với ông Thành. Vợ ông thường cất bánh ở đây đưa lên cửa hàng tạp hoá của gia đình ông ở Phó Cáo để bán lẻ.

Gia đình ông bà Hồng Thái mở tiệc chia tay để ông Vương sang ở và làm việc với Chính phủ. Xong việc, ông Sử vội quay về báo tin cho cụ Vương đang sốt ruột chờ đợi ở nhà. Trước khi rời Hà Nội, Bác Hồ giao cho ông Sử 2 thùng trà ướp sen (đặc sản của đất Thăng Long) nói là quà của Chủ tịch biếu cụ Vương để ăn Tết Nguyên đán. Đồng thời kèm theo bức thư báo con trai cụ đã về Hà Nội bình yên cùng lời chúc Tết của Bác. Tới khi ông Sử về đến dinh thự gia đình cụ Vương ở Sà Phìn ông Hưng mới được giải oan.

Về Hà Nội chưa lâu, ông Vương biết tin Hoàng Quốc Chính và bè lũ quốc dân đảng đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Vậy Việt Minh lấy lực lượng ở đâu và diệt Chính thế nào trong khi quân của hắn còn khá mạnh?

Để trả lời câu hỏi này cần diễn giải một chút. Số là, trong lực lượng của Quốc dân đảng ở vùng biên giới có 2 lực lượng theo 2 phái. Một phái ”tạp pí lù” không đựợc tổ chức chặt chẽ, không được huấn luyện, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, trung thành ôm chân Chính để cướp bóc kiếm lợi lộc. Phái kia do Ba Viên cầm đầu là lực lượng lính khố đỏ từ bên kia biên giới mới về nước. Đội quân này có kỷ luật, chính quy, trang bị vũ khí đầy đủ và có năng lực chiến đấu. Được biết cụ Vương mạnh như thế mà đã ngả theo Việt Minh, thấy thái độ Ba Viên cũng quyết tâm theo Việt Minh về với Cụ Hồ, Mai Trung Lâm gợi ý: ”Ông về với Cách mạng là có lý và thức thời, góp công, góp sức giúp Hồ Chủ tịch cứu nước, cứu dân rất đáng được hoan nghênh, nhưng chẳng nhẽ về tay không hay sao?”.

Sau một hai đêm thức trắng suy nghĩ, Ba Viên cho gọi 2 quan một tên là Hải và Mai đến bàn việc. Phương án, kế hoạch binh biến, tác chiến được lên chi tiết thận trọng. Ba Viên cử Mai và Hải đến gặp Hoàng Quốc Chính bàn bạc phối hợp lực lượng đánh Việt Minh.

Được một lực lượng chính quy tham chiến còn gì mừng hơn. Chính khai chi tiết về lực lượng, dẫn Mai và Hải đi xem việc bố phòng, các địa điểm đóng quân và các hoạt động, canh gác của quân Chính. Cùng với dụng ý khoe lực lượng, Hải và Mai báo cáo đầy đủ với Ba Viên, đồng thời cùng nhau bàn kế hoạch diệt thật gọn quân Chính. Có thêm lực lượng, Chính đã mắc mưu Ba Viên nên chủ quan không cảnh giác. Chỉ một hai hôm sau, nhằm vào yếu tố bất ngờ, Ba Viên đã khởi sự, đưa quân đánh úp quân Chính. Đúng như kế hoạch, bè lũ Quốc dân đảng do Chính cầm đầu bị diệt gọn. Chỉ còn người duy nhất là Trịnh Đình Phách, người Tày ở Cao Bằng chạy thoát.

a2. Vua meo p.3Gia đình Thủ lĩnh Vương.

 Xung quanh chuyện thủ lĩnh Vương ở Hà Nội và cuộc hội kiến với Hồ Chủ tịch

Theo lệnh của Bác Hồ, ông Bùi Công Trừng đưa ông Vương đến biệt thự 51 – Trần Hưng Đạo. Biệt thự này là nơi ở của Cựu hoàng Bảo Đại khi ông này được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mời làm Cố vấn, cũng là nơi ông sống với bà Bùi Mộng Điệp – người đẹp Bắc Ninh – bà là thứ phi cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam. (Số nhà đó từ 10-1957 là trụ sở Báo Văn nghệ, hiện nay là trụ sở của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học – nghệ thuật Việt Nam).

Sau khi xem xét nội thất trong nhà, ông Vương đi vòng quanh nhà một lượt rồi không đồng ý ở đây. Ông cho rằng phố này vắng vẻ, ra vào dễ lộ mặt và không an toàn trong lúc ở Thủ đô còn rất phức tạp. Ông Trừng lại xin ý kiến của Bác, xếp ông Vương ở Phủ Chủ tịch cho ông yên tâm. Ông Vương từ chối và nói: ”Các ông không phải bận tâm sắp xếp nơi ăn nghỉ cho tôi, tôi tự lo được. Tôi về số nhà 12 Hàng Ngang – hiệu bánh khảo Hồng Thái là chỗ thân quen cho được tự do”. Rồi ông sốt ruột hỏi khi nào thì được gặp Cụ Hồ. Ông Trừng bảo: ”Bác đi đường sá xa xôi vất vả, cứ nghỉ vài ngày cho lại sức. Cụ Hồ lúc này bận nhiều công việc lắm.Tôi sẽ xin ý kiến Cụ rồi bố trí để bác được gặp vào thời gian sớm nhất”.

Vài hôm sau ông Vương bị ốm. Ông không phải đi bệnh viện mà Việt Minh cử bác sỹ đến thăm bệnh cho ông tại nơi ông đang ở. Bác sỹ vừa bắt mạch vừa dùng ống nghe, chẩn đoán bệnh rồi chào ông ra về. Một hai tiếng đồng hồ sau có một người mang đơn và thuốc đến cho ông. Anh ta tự giới thiệu tên là Lý Quang Hoa người của Việt Minh. Sau này ông Vương mới biết anh ta chính là Hoàng Văn Hoan (người đã làm tới chức Phó Chủ tịch Quốc hội phản bội chạy sang Trung Quốc sau này).

Trước khi nói về chuyện ông Vương hội kiến với Bác Hồ cần nhắc tới một nhân chứng trong cuộc gặp là ông Vương Quỳnh Sơn. Bà vợ cả của cụ Vương Chính Đức sinh cho ông 2 người con trai: Vương Chí Tình và Vương Chí Thành. Ông Vương Chí Tình có một con trai là Vương Đình Quý. Ông Quý chỉ có một con trai là Vương Quỳnh Sơn. Ông Sơn gọi ông Thành là ông chú. Thời gian này ông Sơn mới 18-19 tuổi. Việc ông có mặt ở Hà Nội là do Việt minh giới thiệu ông vào học Trường Quân sự (sau khi được cụ Vương Chính Đức đồng ý). Đó là trường Lục quân võ bị Trần Quốc Tuấn đóng ở phi trường (sân bay) Tông gần thị xã Sơn Tây.

Cùng học khoá I còn có 3 thanh niên Mèo nữa là ông Vương Quỳnh Anh – người anh cùng dòng họ với ông Sơn – cũng do Việt minh giới thiệu. Hai thanh niên Mèo khác là Dưong Mí Tường và Dương Mí Phụng do Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt cách) giới thiệu. Việt cách không phá phách phản động như Việt quốc (Quốc dân đảng). Việt cách có thiện cảm và có xu hướng ngả theo cách mạng. Nhưng học đến giữa chừng thì Tường và Phụng đào ngũ chạy về theo quân Tàu Tưởng. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho ông Võ Nguyên Giáp, ông Giáp giao cho ông Trần Tử Bình là lãnh đạo của nhà trường dẫn anh em ông Vương Quỳnh Sơn vào trường. Ông Bình bố trí ông Sơn vào học lớp C.

Khi đã có lịch gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Thành có ý nguyện cho gặp cháu ông là Vương Quỳnh Sơn. Lúc ông Thành đến Phủ Chủ tịch, đã thấy Bác Hồ ở đó. Bác đi xuống bậc thềm đến tận nơi tươi cười bắt tay ông Thành, chào hỏi thân tình, rồi dẫn lên phòng khánh tiết Phủ Chủ tịch. Khi đã an toạ, Bác hỏi thăm sức khoẻ cụ Vương Chính Đức, gia đình ông Thành, quá trình ông đi đường, việc ăn ở trong những ngày qua có được chu đáo… Rồi trao đổi tình hình và việc giới thiệu ông làm đại biểu Quốc hội khoá I (6/01/1946).

Trước đó, trong Tuần lễ vàng 4/9/1945, ủng hộ lời kêu gọi của Chính phủ, ông Vương Chí Sình đã đóng góp 22.000 đồng bạc trắng và 9 cân vàng. Nên nhớ rằng khi giành được chính quyền ngân khố quốc gia chỉ có 1,2 triệu đồng tiền giấy rách nát. Chỉ trong một tuần lễ nhân dân đã đóng góp cho chính phủ 20 triệu đồng và 370kg vàng.

Theo ông Vương Quỳnh Sơn, bản tính ông Sình trung thực, đã hứa là làm, nhưng ông kiệm lời, ít nói. Phong cách tiếp khách của Bác Hồ thì lại luôn thân tình, gần gũi, sao cho người đối thoại cảm thấy không có sự phân biệt cao thấp, kẻ trên người dưới. Nhưng ông Thành vẫn có sự e ngại, rụt rè. Ông luôn miệng gọi Bác Hồ là Cụ. Có lẽ Bác Hồ thấy việc xưng hô như thế bất tiện và không được thoải mái, tự nhiên.Vì vậy đột ngột Bác hỏi: ”Ông tuổi gì?”. Vương Chí Sình nói: ”Thưa Cụ, tôi tuổi hợi”. Ngẫm ngợi đôi phút Bác nói: ”Vậy là ông hơn tuổi. Tôi phải gọi ông là quan bác”. Bởi theo tiểu sử Hồ Chí Minh, Bác sinh năm canh dần 1890, như vậy kém ông Sình 3 tuổi. Rồi Bác nói thêm: ”Từ giờ trở đi đừng gọi tôi là Cụ nữa. Chúng ta là anh em”. Câu chuyện đơn giản chỉ có vậy. Sau này ông Sình còn kể lại nhiều lần với con cháu ông.

Cũng trong cuộc gặp gỡ này, Bác dặn dò, giao nhiệm vụ cho Vương Quỳnh Sơn làm công tác thanh vận. Sau khi tốt nghiệp trường Sỹ quan lục quân, Vương Quỳnh Anh được điều về Bộ Quốc phòng làm phái viên. Vương Quỳnh Sơn trở về Đồng Văn vận động thanh niên Mèo tham gia cách mạng, rồi thành lập lực lượng vũ trang.

Đầu năm 1948, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập tiểu đoàn chính quy mang phiên hiệu D350 (còn gọi là tiểu đoàn Mèo – vì đại đa số là người Mèo) trên cơ sở lực lượng vũ trang của ông Sơn, và quyết định bổ nhiệm Vương Quỳnh Sơn làm Tiểu đoàn Trưởng. Tiểu đoàn D350 trực thuộc Quân khu 10, do tướng Bằng Giang làm Tư lệnh quân khu. Trong buổi ra mắt có sự tham dự của ông Tô Quang Đẩu chủ tịch khu 10, ông Trần Đức Trung chủ tịch Hà Giang, Giám đốc Sở Công an… Được Bộ Quốc phòng uỷ quyền, trong buổi ra mắt tiểu đoàn, ông Trần Đức Trung – Chủ tịch tỉnh Hà Giang đã trao thanh kiếm cho Tiểu đoàn Trưởng Vương Quỳnh Sơn để thực thi nhiệm vụ.

(Còn nữa)

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình(Phần 2) Vương Chính Đức về với Cách mạng

Vùng đất người Mèo do Vương Chính Đức cầm đầu vừa đánh dư đảng quân Cờ đen, vừa đánh quân Pháp buộc chúng không thể vào được đất Đồng Văn.

Mãi tới năm 1900, Pháp huy động một lực lượng lớn phối hợp với địa phương quân khố xanh Tày, Thái từ Bảo Lạc Cao Bằng đánh sang. Trận chiến gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Vương Chính Đức bị vỡ trận buộc phải rút lui để quân Pháp chiếm cứ Đồng Văn.

Rút vào rừng sâu, ông củng cố lực lượng, liên tiếp quấy rối và đánh cho quân Pháp thất bại nặng nề. Những năm đầu thế kỷ XX, người Mèo ở Đồng Văn và Nam Vân Nam – Trung Quốc khởi nghĩa vũ trang rầm rộ – tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa từ 1909-1913. Sau gần 4 năm không thu phục được vùng đất dữ, quân Pháp bị hao binh tổn tướng. Trong khi quân của Vương Chính Đức thắng lợi giòn giã, buộc Pháp phải hoà đàm.

Hiệp ước Pháp – Mèo do tướng Jenera Pecneucin và Vương Chính Đức ký tháng 10/1913 có các điều kiện lợi thế cho người Mèo. Trước hết Pháp phải triệt thoái toàn bộ quân ra khỏi Đồng Văn – kể cả địa phương quân do Pháp chỉ huy, trả lại cho người Mèo cai quản theo chế độ tự trị bên cạnh một đại lý Pháp và một khung hành chính đại diện cho Nam triều mang ý nghĩa tượng trưng.

a1. vua meo p.2Khu nhà Vương được bao bọc giữa những dãy núi của Cao nguyên Đá Đồng Văn.

 Năm 1905, khi thuốc phiện trở thành hàng hoá và là nguồn thu lớn của Pháp (có tài liệu nói nguồn lãi từ thuốc phiện chiếm gần 1/3 tổng thu của Pháp ở Đông Dương) nên Anh quốc cũng muốn tranh giành mối lợi này. Nhưng trong khi Anh đang mải thôn tính Miến Điện thì Tỉnh trưởng Vân Nam vốn có quan hệ từ trước với Pháp đã liên kết với toàn quyền Đông Dương lập Công ty Á phiện Việt Điền để chia nguồn lợi này.

Giá thuốc phiện bấy giờ là 1 đồng bạc trắng/1 lạng cân tiểu ly = 37,5 g. Toàn quyền Đông Dương giao cho Sở Đoan chính Đông Dương làm đại diện thu mua, đồng thời đưa bàn đèn dạy dân cách hút thuốc phiện. Riêng Đồng Văn sản lượng thuốc phiện lúc cao nhất lên tới 20 tấn/năm. Chính nhờ thuốc phiện mà Vương giàu lên nhanh chóng, củng cố quyền lực, mua sắm vũ khí, nuôi được binh sỹ. Thắng lợi của Vương trước quân Pháp đã làm át bóng thổ ty người mèo là Dương Tụ Nghĩa đang sở hữu đất Mèo Vạc – vốn trước đó rất mạnh có mưu đồ thâu tóm quyền lực muốn cai quản cả vùng cao nguyên đá. Do thế lực về cả kinh tế và quân sự của Vương ngày một tăng nên quân Pháp nhượng bộ và hy sinh quyền lợi thả lỏng vùng đất Vương quản lý.

Tiếp đến, một sự kiện đáng nhớ là người Mèo toàn Đông Dương còn có cuộc nổi dậy đánh Pháp từ năm 1918-1921. Trước tình hình không thể kiểm soát được vùng Mèo, và nguy cơ mất nguồn thu lớn từ thuốc phiện, ông Vương được Pháp phong chức Chánh quan Mèo, và được đưa vào làm thành viên của công ty Việt Điền. Song do việc phân phối quyền lợi từ nguồn thu thuốc phiện có nhiều man trá, do chính sách nô dịch, o ép vô lý nên người mèo Đồng Văn có xu hướng ly khai và chuẩn bị vũ trang chống Pháp.

Thông qua bọn mật thám, Việt gian, Pháp nắm được tình hình. Năm 1936 thống sứ Bắc Kỳ tổ chức đấu xảo ở thị xã Hà Giang, mời cha con Vương Chính Đức và thủ lĩnh các dòng họ Mèo đến dự. Chúng lừa bắt được tất cả đưa về nhốt tại Nhà tù Hoả Lò. Đây là lần thứ 2 thủ lĩnh mèo Đồng Văn bị Pháp bắt. Để lấy lòng Vương Chính Đức, Pháp cho ông và con trai Vương Chí Thành tại ngoại ở Hà Nội. Pháp muốn nắm Vương Chính Đức để thu phục đất Đồng Văn phục vụ âm mưu chia để trị.

Sau sự kiện Nhật hất cẳng Pháp (9/3/1945) đến trước Cách mạng Tháng Tám tình hình hết sức khẩn trương. Các lực lượng thân Pháp, Nhật, Tưởng, Việt Nam Quốc dân đảng (còn gọi là Việt quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (còn gọi là Việt cách) hoạt động ráo riết. Quân Tưởng Giới Thạch dồn người Mèo các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây áp sát biên giới Việt Nam. Để lấy lòng người Mèo, Đờ mông Ba Gia Trưởng Phòng nhì mật thám Đông Dương nấp dưới danh nghĩa chủ sân Quần ngựa Hà Nội thực hiện âm mưu, Đờ mông Ba gia ”thầy dùi” cho chính quyền Pháp cách chức một số quan Nam triều nhằm lôi kéo Vương Chính Đức hợp tác chống Tưởng và Nhật.

Sau đảo chính vài ngày, quân Nhật đánh lên các tỉnh miền núi phía Bắc và đổ bộ vào đất Đồng Văn. Quân Pháp đã không thông tin cho người Mèo biết. Chúng lặng lẽ rút sang bên kia biên giới. Chính quyền tay sai do Hoàng Phủ Toại (người Tày ở Nước Hai, Cao Bằng) đứng đầu cũng chuồn theo chân bọn buôn lậu thuốc phiện. Thành ra người Mèo vừa phải phòng ngự, ngăn không cho quân Tưởng tràn vào, vừa phải nổ súng chống quân Nhật vừa tới. Trong thế mắc kẹt, Vương Chính Đức hết sức lúng túng. Khi đó cũng là lúc Cách mạng Việt Nam có chuyển biến mạnh mẽ chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân ”ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm”, nhất tề nổi dậy cướp chính quyền về tay nhân dân.

Thấy được vai trò của Vương Chính Đức và lực lượng vũ trang Mèo, Bác cử đại diện của Việt minh là ông Hoàng Việt Hưng, ông Sơn Tùng và ông Thất Tinh đi từ Cao Bằng qua Đường Thượng – Bắc Mê vào Đồng Văn để gặp thủ lĩnh họ Vương bàn việc Việt Minh giúp người Mèo chống Pháp, Nhật và Tưởng. Họ đưa ra 8 điều lệnh của Việt minh bàn với ông Đức. Sau khi suy nghĩ ông Đức đã nhận ra những điều đó đúng với mục đích chiến đấu của người Mèo, đồng thời mở ra lối thoát cho cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang Mèo. Việt minh còn cử ông Việt Hưng ở lại làm tham mưu cho ông Đức. Sau cuộc gặp gỡ này, ông Vương thở dài nhẹ nhõm, ngửa mặt lên trời mà rằng: ”Người Mèo ta xưa nay khắc đánh kẻ thù không có ai giúp đỡ. Nay có Việt minh, có Cụ Hồ giúp, ta còn mong gì hơn nữa…” Rồi ông nói với thuộc hạ: ”Việt Nam ta giờ đã có vua là Cụ Hồ, ta phải theo Cụ”. Cũng từ đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên cho toàn bộ cao nguyên núi đá gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh là Châu Thường Kiệt do ông Vương Chính Đức đứng đầu. Cũng từ đây cuộc chiến đấu của người Mèo hoà vào cuộc kháng chiến của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 Kế hoạch đưa Vua Mèo về Hà Nội

Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Cộng hoà công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Lúc này, tình hình đất nước cực kỳ cam go. Thù trong, giặc ngoài đe doạ nền độc lập của Nhà nước công nông non trẻ. Hồ Chủ tịch thành lập Chính phủ lâm thời, tập hợp mọi lực lượng yêu nước có thể tranh thủ, hợp tác. Trong nhiều thành phần, tầng lớp xã hội, Bác rất quan tâm tới đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Một trong những nhân vật ấy là cụ Vương Chính Đức – người thủ lĩnh Mèo nổi tiếng với những chiến tích đánh quân Pháp, Nhật, Tưởng giữ vững vùng đất Đồng Văn mấy chục năm qua.

Với lòng trân trọng, Bác viết thư cho Việt minh mang lên Đồng Văn mời cụ Vương về Hà Nội để bàn việc nước. Lúc này cụ Vương đã tuổi cao (81 tuổi) sức yếu không thể đi được nên ủy quyền cho con trai là Vương Chí Thành đi thay để đến tiếp kiến Cụ Hồ.

a2. vuameo p.2Hiện nay, các hậu duệ và con cháu họ Vương
đều sinh sống xung quanh khu vực nhà Vương.

Vương Chí Thành là con trai thứ 2 của cụ Vương với bà cả – có tên Mèo là Vàng Seo Lử (Vang T´sia Lưv). Viết theo chữ và nghĩa Hán là Vương Chí Thành. Âm hán đọc Thành là Sình, vì thế ông có 2 tên mà các tài liệu lúc thì viết là Sình, lúc viết là Thành đều được, không sai.

Thời kỳ này rất hỗn quân, hỗn quan, nào Nhật, Tưởng, Pháp. Các đảng phái lợi dụng nấp dưới các thế lực thù địch với cách mạng mọc lên như nấm sau mưa. Việt quốc là đám hung hăng nhất.

Ở Hà Giang có Hoàng Quốc Chính lợi dụng tình hình, theo gót quân Tưởng vào giải giáp quân Nhật. Chính là uỷ viên của Quốc dân đảng, đóng trụ sở tại thị xã Hà Giang. Quân của Chính cũng là một thứ ”tạp pí lù” nhưng lúc này vẫn còn mạnh không thể coi thường. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho ông Vương, Việt minh cử ông Mai Trung Lâm lên Hà Giang nhằm 2 mục đích: 1. Phân hoá các lực lượng đối lập, ta chủ trương tập trung vào kẻ thù chính (sau này ông Lâm là Đại tá Chỉ huy trưởng Công an vũ trang khu Tây Bắc, sau nữa là Chỉ huy trưởng Công an vũ trang Hà Giang – nay là bộ đội biên phòng) đến đàm thoại với Hoàng Quốc Chính; 2. Thực hiện kế hoạch đưa ông Vương về Hà Nội an toàn.

Là lần đầu tiên tiếp xúc với Việt minh, nên Chính chuẩn bị thật ”chu đáo”. Hắn tổ chức tiệc tại thị xã Hà Giang, cho mời quan quân, tướng lĩnh của quân Tưởng Giới Thạch đến dự. Sự bày binh bố trận cho hoành tráng là để thị uy cán bộ Việt minh. Lúc này, ông Vương Chí Thành từ Đồng Văn đi Hà Nội đang dừng chân nghỉ ở nhà riêng tại thị xã phía bên kia cầu. Từ lâu đã nghe tiếng ông Vương nhân dịp may này hắn mời ông cùng dự tiệc nhằm vào 2 mục đích: Phô trương lực lượng uy hiếp ông Lâm và lấy lòng, lôi kéo ông Vương, ngăn cản không cho ông Vương về Hà Nội và âm mưu giết cho được ông Vương. Hắn nói dối có lực lượng tới mấy trung đoàn, rồi nói với ông Vương: ”Hiện nay Việt minh đang bắn giết khắp nơi, bác đừng đi vội. Để khi nào tôi dẹp yên bọn đó thì tôi với bác cùng về Hà Nội”. Nhưng thực chất hắn đã nảy ra ý định và có kế hoạch cho người phục kích giết chết ông Vương rồi vu cho Việt minh.

Trong bữa tiệc, hắn giới thiệu ông Lâm với ông Vương, có ý phô trương là quân mình rất mạnh nên Việt minh phải lên đàm phán. Động thái này không che mắt được ông Vương. Nhân lúc tan tiệc quân quan còn say sưa, ông Vương giả ra bàn nước phía xa – nơi ông Lâm đang ngồi. Ông hỏi nhỏ và nhanh: ”Ông có đúng là người của Việt minh không?”. Ông Lâm nói đúng và hỏi nhanh: ”Bác đang ở đâu? Tôi có thể gặp bác vào lúc nào?”. Ông Vương bảo: ”Nhà tôi ở ngay bên kia cầu. Cái nhà to cửa thẳng vào đầu cầu. Ông đến lúc nào cũng được”.

Sớm tinh mơ hôm sau, ông Lâm thức dậy vươn vai khởi động vài cái trước khi tập thể dục, rồi chạy thẳng sang bên kia cầu cách đó không xa, bà Vương ra mở cửa. Ông chạy vào phòng ông Vương khi ông Vương vẫn còn nằm chưa dậy. Ông bàn nhanh kế hoạch: ”Tốt nhất là bác xin được giấy giới thiệu của Tướng quân Tưởng Chỉ huy Quân đoàn 52 đang đóng tại Hà Giang, nói là về Hà Nội để bàn bạc và giúp Tướng Lư Hán. Có giấy đó, Chính không dám ngăn, không dám đụng tới bác. Bằng không, việc về Hà Nội bác đừng đi ngựa, vì rất nguy hiểm. Bọn Chính đang cố ngăn không cho bác xuống Hà Nội, nếu bác cứ cố đi nó sẽ phục kích giết chết bác. Chúng tôi đã lường trước tình huống này. Biết được đoạn nào bọn nó tăng cường lực lượng và đang phục kích. Chúng tôi đã có phương án bảo vệ bác. Bác lấy xe của thằng Kỳ mà đi”. (Kỳ là con một nhà giàu ở Hà Nội lên buôn bán ở Hà Giang – thân gia đình Ông Vương – đang bị mắc kẹt vì chiến sự giữa Việt minh và Quốc dân đảng chưa về được Hà Nội).

Ông Vương bảo: ”Nhưng tài của nó sợ không dám đi”. Ông Lâm nói: ”Bác cho gọi thằng tài Hồ dân nghiện thuốc phiện ở thị xã đến. Nó đang đói thuốc vì chiến sự bọn buôn lậu thuốc phiện không đến bán được. Bác cho nó hút thật đã, rồi biếu nó kha khá là nó đi ngay. Bác đi xe nó lái chỉ cần vượt ra ngoại vi thị xã đến cây số 17 – đường Hà Giang – Hà Nội sẽ có người đưa bác về Hà Nội”. Cảm thấy chưa thật yên tâm, ông Lâm dặn: ”Cứ làm đúng như thế ông bác nhé”. Nói xong, ông tức tốc chạy qua cầu trở về thị xã. Theo cách đó, ông Vương Chí Thành đã thoát ra khỏi thị xã Hà Giang bằng xe của Kỳ do tài Hồ lái…

(Còn nữa)

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình(Phần 1) Hoàn cảnh, xuất thân và quá trình trở thành Thủ lĩnh vùng Mèo Đồng Văn

Đại đoàn kết dân tộc là trụ cột quan trọng bậc nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời là phương châm chiến lược của cách mạng Việt Nam. Có vô vàn những câu chuyện, sự kiện, văn bản… về sự quan tâm, tình cảm Bác dành cho đồng bào dân tộc thiểu số và vùng dân tộc miền núi, chiến khu Cách mạng Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái; về những nhân sỹ, trí thức, người tài năng, nổi tiếng theo Bác về với Cách mạng. Trong đó chuyện cha con Vua Mèo Vương Chí Sình là câu chuyện dài nhiều tình tiết ly kỳ, hấp dẫn nhất, đã làm tốn bao giấy mực.

a1. vuameo
Vua Mèo Vương Chính Đức.

 Tác giả loạt phóng sự tư liệu lịch sử này thấy mình có trách nhiệm phải chia sẻ, công bố những tư liệu đã cố gắng tìm hiểu, ghi chép, đối chiếu qua các văn bản, tài liệu lịch sử, cá nhân có liên quan với các sự kiện… mà hầu hết lần đầu tiên được công bố đối với bạn đọc. Tác giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ sự thật điều mà lịch sử, xã hội và bạn đọc luôn trông đợi…

Nói tới khái niệm ”vùng Mèo” phải được hiểu không chỉ có 4 huyện núi đá Hà Giang, mà còn bao gồm một phần đất phía Nam tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc giáp Việt Nam. Sau cuộc khởi nghĩa chống nhà Thanh thất bại, quân binh Mèo rút lui về miền Nam Vân Nam Trung Quốc lập Thủ phủ Khai Hoa (hoa nở – tiếng mèo: Pas Tơv kha). Nhà Thanh tiếp tục truy đuổi chiếm phủ Khai Hoa rồi đổi tên thành Khai Hoá (khai mở văn minh). Nghĩa quân rút về Đường Thượng (nay thuộc huyện Yên Minh – Hà Giang) tôn Sùng Chứ Đa làm thủ lĩnh.

Sùng Chứ Đa tự xưng là Thuận thiên Chủ, chia xã hội Mèo thành 4 cấp: Thiên chủ, nguyên soái, đầu binh và trưởng thôn. Xoá hết chế độ dòng họ Mèo do người cầm quyền dòng họ là thủ lĩnh, Sùng tập trung quyền lực vào cá nhân. Do vậy không được lòng thủ lĩnh các dòng họ khác. Họ bàn nhau lật đổ Sùng, giao cho họ Đào đang sống ở Phó Cáo thực hiện.

Họ Đào là họ của vợ Sùng nên dễ tiếp cận với lãnh chúa hơn. Họ Đào thuê hiệp thợ đang xây dinh thự cho Sùng và đã giết được Sùng vào mồng 2 Tết năm 1827.

a2. vua meo
Vương Chí Sình và con trai.

Đương thời Sùng Chứ Đa sử dụng một thanh niên trai trẻ thông minh là Vàng N´jiên N´tor (Vàng Zền Tơ) làm Đổng lý văn phòng. Khi Sùng bị hạ sát, Zền Tơ chạy sang Pa Pú thuộc huyện Ma Lập Pha, Vân Nam Trung Quốc lánh nạn. Tại đây, Tơ được nhà họ Lý thương tình gả con gái cho. Khi tình hình đã êm ắng, họ chuyển về đất Sà Phìn – nơi lối rẽ Xà Phìn đi Lũng Cú. Họ có 2 con trai là Vàng Pá Tro và Vàng Giống Lồng (nhiều sách viết là Vàng Dúng Lùng – vì nghe âm tiếng Mông rất khó, tôi phải nhờ cụ Sơn đọc từng nguyên âm, phụ âm để ghi, cụ Sơn có tên Mèo là Vàng Giống Sính). Viết và đọc theo chữ và âm Hán Vàng Giống Lồng là Vương Chính Đức – sinh năm 1865 tại Pá Tró (tức con gấu) Sà Phìn.

Lúc ông Zền Tơ mất, Đức mới 12-13 tuổi. Nhà Đức nghèo xơ xác. Ngày ngày Đức đi lang thang gặp đám ma, đám cưới thì xin vào thổi khèn, múa võ để kiếm cơm. Bộ quần áo lanh bố mẹ may cho rách te tua, Đức lấy đá đột thành lỗ rồi dùng dây rừng túm lại che chỗ rách. Tới khi rách quá Đức mới chịu về nhà để mẹ vá cho, rồi lại biến đi. Để buộc chân Đức quy gia, bà Lý mang sính lễ sang bản Lũng Hòa, Sà Phìn hỏi con gái nhà họ Sùng làm vợ Đức. Song chứng nào tật nấy, ngay cả khi đã có con, gia đình cũng không ngăn được máu giang hồ của Đức. Đức có tài thổi khèn, múa võ rất giỏi, nên đi đâu cũng được yêu mến chào đón (chả thế mà ông có tới 3 bà vợ).

Khi quân Cờ đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc rút đi năm 1885 chỉ còn 3 nhóm tàn quân ở lại: Lương Tam Kỳ giữ đất Tả Châu Định Hoá,Tuyên Quang. Hoàng Sùng Anh chiếm giữ Bảo Thắng, Bảo Nhai, Bảo Sen, Lào Cai, Yên Bái. Hà Quốc Trường chiếm đất Hà Giang.

Khi quân Pháp tấn công lên vùng dân tộc nhằm mở rộng bộ máy cai trị, chúng gặp phải sự kháng cự quyết liệt của lực lượng các thủ lĩnh Mèo, Thái, Tày.

Một trong số đó là thủ lĩnh mèo Vừ Phái Lồng – chiếm cứ một dải đất rộng lớn từ Nam Vân Nam Trung Quốc sang vùng núi đá Hà Giang. Sau khi đánh bại chúa Bảo Lạc lấy lại vùng đất của người Mèo, ông đã cho mở đường đi Mông Tự -Vân Nam, đường Bách Xác Quảng Tây xuống Cao Bằng, Hà Giang lưu thông buôn bán. Dân Mèo khi ấy thừa thãi hàng hoá, làm ăn phát đạt, no đủ.

a3. vuameo
Gia đình Vua Mèo Vương Chính Đức.

a4. vuameo
Bờ tường vững chãi bao quanh nhà Vua Mèo.

Khi biết tin quân Pháp sẽ trở lại đánh lên Hà Giang, Hà Quốc Trường lo sợ cho mời Vừ Phái Lồng đến để bàn phối hợp đánh Pháp. Sau khi đánh bật quân Pháp khỏi vùng Mèo, Hà Quốc Trường đã phản bội giết chết Vừ.

Do chủ quan, tin vào sự thành thực của Trường, Vừ cưỡi la chỉ có 2 hộ vệ đủng đỉnh từ Linh Cảm bên kia sông Nho Quế đến gặp Trường. Vừa xuống la trước cửa thành Đồng Văn, ông bị lính của Trường chém chết.

Sau khi Vừ chết, Trường cho tàn quân Cờ đen mà đa phần là dân đầu trộm đuôi cướp, lục lâm thảo khấu tràn xuống vùng Mèo bắt bớ, cướp của, chém giết, hãm hiếp, cướp trẻ con mang sang Trung Quốc bán lấy tiền uống rượu, áp đặt chế độ hà khắc, đàn áp và phá bỏ các tập tục truyền thống của người Mèo.

Không chịu nổi sự o ép, các thủ lĩnh Mèo tập hợp lại thành lập Đảng ”Hươu Nai” dưới sự lãnh đạo của Vàng Dí Tủa. Nghĩa quân rút vào rừng sâu, dựa vào thế núi non hiểm trở chống lại Hà Quốc Trường. Vương Chính Đức là một trong những thủ lĩnh dòng họ của nghĩa quân đó. Ông là thủ lĩnh giỏi khèn, giỏi võ, can trường, thông minh được nghĩa quân tin cậy, thán phục. Ở trong rừng sâu thiếu thốn, đói khát nên có một lần Vàng Dí Tủa đang đêm ghé qua nhà thăm vợ con.

Thấy chồng ốm yếu, vợ Tủa mời thầy thuốc đến thăm bệnh. Do ăn nhiều thứ củ, quả, lá rừng nên Tủa mắc đường tiêu hoá, chướng bụng. Sau khi tẩy độc, thầy thuốc dặn ông giữ gìn kiêng khem nghiêm nghặt, ăn uống từ từ từng tí một. Lúc đó đang mùa ngô chín (từ cụ Sơn dùng), thương chồng, vợ Tủa luộc ngô và đồ mèn mén để ông ăn và mang vào rừng. Do quá đói ông đã ăn quá no, nên đứt ruột mà chết.

Sau cái chết của Vàng Dí Tủa, Vương Chính Đức được suy tôn lên làm thủ lĩnh. Lên cầm quyền, thủ lĩnh họ vương khôi phục lại thiết chế dòng họ truyền thống của xã hội Mèo, dựa vào sự cố kết các dòng họ trong sự thống nhất chặt chẽ. Ông củng cố lực lượng, không chịu thế bị động trong rừng sâu. Một mặt ông chuẩn bị tấn công, đồng thời chỉ thị, truyền lệnh cho các dòng họ Mèo rằng: Khi nghĩa quân nổ súng, các gia đình Mèo có quân Trường ở, hãy vùng dậy dùng mọi vũ khí, dụng cụ, tìm mọi cách giết chúng. Khi nghĩa quân nổ súng tiến vào Linh Cảm bên kia sông Nho Quế, chỉ trong vài đêm quân của Trường bị sát hại nhanh chóng bằng tên độc, súng kíp, cắt cổ… Các toán quân đầu đuôi, sau trước không ứng cứu được cho nhau.

Hà Quốc Trường cùng vợ con chạy thục mạng về Quảng Tây bên kia biên giới (có tài liệu nói là Trường bị giết chết). Chấm dứt mộng xưng hùng xưng bá, mưu toan chiếm dải đất từ châu Vân Sơn, Vân Nam Trung Quốc kéo dài tới các huyện núi đá Hà Giang. Ngoài ra, ông Vương còn có công bang giao, gắn kết với người Mèo ở Trung Quốc, tích trữ lương thảo, súng đạn tính kế lâu dài. Cuộc chiến vũ trang đánh Pháp của người Mèo hai bên biên giới Việt – Trung từ 1909 – 1913 là một mimh chứng cho tầm nhìn chiến lược của ông.

(Còn nữa)

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Quý trọng dân, tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chuyện kể rằng: Ngày 2 tháng 9 năm 1945, sau khi Bác Hồ đọc xong bản Tuyên ngôn Độc lập, ra về trên 1 chiếc xe màu đen, cửa kính hơi thấp. Một phóng viên đón đường, ghé máy ảnh sát vào cửa kính định chụp ảnh Bác. Bác Hồ xua tay không cho chụp và nói: “Chú quay máy ra ngoài kia mà chụp nhân dân!”.

quy-trong-danẢnh Chủ tịch Hồ Chí Minh (in lụa) được Đoàn chiếu bóng tỉnh Ninh Bình tặng cho nhân dân  Châu Thới để thờ tại Đền thờ Bác Hồ tháng 10/1972 (hiện nay, ảnh được lưu giữ trong phòng trưng bày hiện vật và hình ảnh của Bác tại Khu Di tích lịch sử – văn hóa Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu)

Thế mới biết Bác Hồ quý trọng nhân dân biết nhường nào. Theo Bác Hồ, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Bác khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”. “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo”.

Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn “Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căm ghét và lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân: “Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.

Nhân dân là nguồn bổ sung lực lượng vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân.Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao người con ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, lãng phí, quan liêu, tham nhũng… vì nó là “Kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta…”.

Bác còn dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ…”. Tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về nhân dân. Bác thương yêu và quý trọng nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại là vô hạn, và không bao giờ thay đổi.

Bác Hồ đã từng nói: “Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất…”. Bác Hồ khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân, đó là tư tưởng được Bác Hồ vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của tư tưởng quý trọng dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Bởi nhân dân là động lực, là trung tâm trong “chiến lược phát triển toàn diện”, trong công cuộc xây dựng xã hội mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Võ Hoàng Nam
Nguồn: Liên hiệp Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu
Thu Hiền (st)/ Theo http://www.baclieu.gov.vn

bqllang.gov.vn

Bác với miền Nam

Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng Người (12/1957)

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu), cứ mỗi dịp kỷ niệm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong lòng mỗi người dân Việt Nam lại trào lên niềm tự hào muốn dâng lên Bác Hồ kính yêu những thành quả kiến thiết đất nước sau ngày giải phóng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho miền Nam ruột thịt những tình cảm sâu nặng. Tấm lòng thương nhớ miềnNam của Người thể hiện từ việc chǎm sóc các cháu thiếu nhi miền Nam tập kết, đến việc vun trồng cây vú sữa của đồng bào kính tặng Người… Những năm tháng miền Nam chìm trong máu lửa, tấm lòng của Người luôn đau đáu hướng về miền Nam thân yêu bởi“Miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Trong thời điểm vận nước nguy nan, kẻ thù dùng đủ mọi âm mưu và với nhiều vũ khí tối tân để chia cắt đất nước ta, âm mưu tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam nhưng Hồ Chủ tịch khẳng khái tuyên bố: “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy cam go, quyết liệt, miền Nam là tiền tuyến “Thành đồng Tổ quốc”, miền Bắc là hậu phương vững chắc, tập trung sức người sức của “Tất cả, tất cả vì miền Nam ruột thịt!”. Miền Nam chiến đấu ngoan cường, hy sinh gian khổ, Bác nhiều lần nghẹn ngào, quặn đau khi được báo cáo về sự hy sinh mất mát của đồng bào miền Nam. Nhưng lòng quyết tâm của Người đã truyền lửa mạnh mẽ cho cả nước: “Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào/ Tiến lên! chiến sỹ đồng bào/ Bắc – Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”.

Nỗi trăn trở về miền Nam, về ngày nước nhà hoàn toàn giải phóng luôn canh cánh bên Bác. Miền Nam chưa giải phóng, Bác coi là chưa làm tròn nhiệm vụ. Bởi vậy, khi được tin kỳ họp VI, Quốc hội khoá II (5-1963) quyết định tặng Bác Huân chương Sao Vàng – Huân chương cao quý nhất của nước ta, Bác nói: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ra sẽ sung sướng, vui mừng”. Đến khi nhân dịp kỷ niệm 50 nǎm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, Đảng, Chính phủ Liên Xô quyết định trao tặng Bác Huân chương Lê-nin – Huân chương cao quý nhất của Liên Xô, Bác cũng đề nghị : Đảng, Chính phủ Liên Xô hoãn việc trao Huân chương đó, chờ đến ngày đất nước ta hoàn toàn độc lập, Bác thay mặt đồng bào cả nước nhận Huân chương cao quý đó.

Sức khoẻ Bác ngày một giảm nhưng Bác không muốn đồng chí, đồng bào phải lo lắng. Vì thế, Bác không bao giờ nói về bệnh tật của mình. Cứ sau cơn mệt nặng, lúc tỉnh dậy, câu hỏi đầu tiên của Bác là: “Hôm nay, đồng bào miền Nam đã thắng đến đâu?” Và Người vẫn yêu cầu cho nghe tin tức đặc biệt là tin miền Nam và những tin tức quan trọng trên thế giới. Những ngày Bác nằm trên giường bệnh, Bác vẫn mở đài lắng nghe từng bước trên tiền tuyến. Trước đó, Người vẫn nhắc tới việc thu xếp để vào Nam. Bác có hỏi 2 đồng chí cán bộ: “Các chú có thể chuẩn bị cho Bác sớm vào thăm đồng bào miền Nam được không?”. Tiếc rằng nguyện vọng đó chưa một lần thực hiện được thì Bác đã đi xa. Cho đến khi từ giã thế giới này, trái tim Người vẫn đau đáu nỗi nhớ miền Nam, chỉ một lòng mong mỏi đến ngày Bắc – Nam sum họp, đất nước hoàn toàn thống nhất.

Không phụ công mong mỏi của Người, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử quân và dân ta đã “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 30/4/1975, chỉ vài giờ sau khi quân ta cắm là cờ đỏ sao vàng trên nóc Dinh Độc Lập, trên sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam đã vang lên lời ca vui hạnh phúc: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng. Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông. Ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng chiến đã thành công. Việt Nam Hồ Chí Minh, Việt Nam Hồ Chí Minh, Việt Nam Hồ Chí Minh, Việt Nam Hồ Chí Minh”… Lời bài hát đã thể hiện được mong muốn của muôn triệu trái tim người dân Việt Nam, được có Bác trong ngày hội của non sông, được kính dâng lên Người chiến thắng vẻ vang của dân tộc, để Bác có thể yên lòng vì miền Nam ruột thịt đã được sống trong hòa bình, đã sạch bóng quân thù.

bac-voi-mien-nam-b
Hình ảnh Bác Hồ trong ngày vui đại thắng

Cho đến những ngày cuối tháng Tư năm 2013 – lần thứ 38 đất nước ta  kỷ niệm ngày Đại thắng mùa Xuân 1975, vui niềm vui thống nhất, non sông thu về một mối và chúng ta càng nhớ tới Bác Hồ muôn vàn kính yêu với tấm lòng bao la biển trời của Người vì nước vì dân… Mỗi lần kỷ niệm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước lòng dân ta càng thêm nhớ Bác, như được thấy Bác đang chung vui cùng niềm vui của cả dân tộc, của non sông đất nước đã hoàn toàn thống nhất đang ngày càng phát đi lên cùng các cường quốc năm châu.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

“Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”

Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy.

– Trong một bức thư chia buồn gửi tới Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam, Bác đã nói: “Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”.

Ngày 11/1/1946, từ Thái Bình Bác đi thăm tỉnh Nam Định. 7 giờ sáng, đông đảo nhân dân đã tề tựu trước Uỷ ban Hành chính thành phố nghe vị Chủ tịch nước nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói.

Sau đó Bác đến thăm và chia quà cho trẻ em ở Trại mồ côi Nam Định. Tại đây, Bác cảm động nói với bà Phước: “Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”.

Tình cảm của một người Cha trong gia đình đời thường, một năm sau đó (1/1947) được Bác thể hiện như một lời tâm tình trong bức điện gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam. Đó cũng là một bức điện chia buồn khi Bác được tin người con trai của Bác sĩ Tụng vừa hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp. Thư viết :

“Thưa Ngài, Tôi được báo cáo rằng, con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để gìn giữ đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc… Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc Ngài sẽ ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng…”

X&N
Vkyno (st)

“Đối với dân, ta đừng có làm trái ý dân”

Ngày 5/1/1946 là ngày hôm trước cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

– Ngày 5/1/1946 là ngày hôm trước cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

Sáng ngày hôm đó báo chí nhất loạt đăng “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó viết “Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu.

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình. Ngày mai, dân ta sẽ bảo cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng : … một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn. Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam đã kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chống bọn thực dân, kiên quyết tranh quyền độc lập…”

[links(left)]Chiều hôm đó, tiếp xúc với 2 vạn cử tri Hà Nội tập hợp tại sân vận động Việt Nam học xá (nay là khu vực Đại học Bách khoa), ứng cử viên Hồ Chí Minh tuyên bố: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua thì toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Rời cuộc tiếp xúc, vị Chủ tịch nước đến thăm chùa Bà Đá và trụ sở Hội Phật giáo Cứu quốc đặt ở chùa Quán Sứ nơi phật tử đang tổ chức cầu nguyện cho nước Việt Nam độc lập.

Tại đó, Bác trịnh trọng tuyên bố: “Đối với dân, ta đừng có làm trái ý dân. Dân muốn gì ta phải làm nấy. Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, mhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Nếu cần, hy sinh cả tính mạng tôi cũng không từ”.

Sau bữa cơm chay, Bác còn tranh thủ về thăm làng Bưởi nơi có nghề giấy nổi tiếng và thăm địa điểm bầu cử tại khu vực này, dặn dò mọi người tổ chức bầu cử tốt và khích lệ nhân dân gìn giữ nghề làm giấy truyền thống để phục vụ đất nước.

X&N
Vkyno (st)

Trọng dân, một tư tưởng lớn của Bác Hồ

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng ngày 11-2-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng”. Người chỉ rõ sự cần thiết phải củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng: Không có quần chúng thì không có lực lượng. Không có Đảng thì không có người lãnh đạo, hướng dẫn, chỉ đường. Người nhấn mạnh: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng”. “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn”.

Nói về trách nhiệm của Đảng đối với Tổ quốc và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa phải lo tính công việc lớn như đổi mới nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành nền văn hóa tiên tiến, đồng thời luôn luôn quan tâm đến những công việc nhỏ như tương, cà mắm, muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Người khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”. “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo. Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn “những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân. Người nói: “Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.
Theo Bác Hồ, Đảng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng nhân dân và hướng dẫn nhân dân, tổ chức thành lực lượng, thành phong trào hành động cách mạng trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Còn các tầng lớp của nhân dân phải tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức. Nhân dân là nguồn bổ sung vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân. Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao những phần tử ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.

Khi Quốc hội tín nhiệm bầu Người làm Chủ tịch nước – Người trả lời các nhà báo: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận” (1). Người căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan liêu, móc ngoặc, tham nhũng… vì nó “là kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta. Người dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”(2). Trước lúc đi xa Bác Hồ đã căn dặn toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên rằng: Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng coi việc “làm đầy tớ” của nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự và niềm hạnh phúc.

Bác Hồ từng nói: Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất theo triết học phương Đông như Bác Hồ khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”.

Những lời dạy của Bác Hồ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng…”, “Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân…” là một tư tưởng lớn của Bác Hồ về trọng dân xuyên suốt từ ngày thành lập Đảng đến nay. Tư tưởng yêu nước, thương dân, trọng dân, suốt đời vì cách mạng, vì nhân dân mà hy sinh phấn đấu, không ham danh lợi, với một lối sống chân thực, giản dị, khiêm nhường của Bác Hồ là tấm gương đạo đức vô cùng trong sáng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chúng ta học tập và noi theo.

Tô Phương
Vknyo (st)

Bác Hồ với miền Nam

Tình cảm của Bác Hồ với đồng bào miền Nam là ý chí độc lập dân tộc, là khát vọng thống nhất nước nhà.

Miền Nam được Bác Hồ coi như quê hương thứ hai của mình. Vì ở đó in dấu những kỷ niệm của thầy giáo Nguyễn Tất Thành tại ngôi trường Dục Thanh, là nơi Bác đã ra đi tìm đường cứu nước khởi đầu cho sự nghiệp cách mạng. Mảnh đất Nam bộ còn có một ý nghĩa thiêng liêng khác là nơi người cha thân yêu của Người, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc sống những năm tháng cuối đời và an nghỉ.

Xuyên suốt tư tưởng chỉ đạo cách mạng miền Nam của Người là độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, để Bắc Nam xum họp một nhà, giang sơn thu về một mối. Khi một ngày miền Nam còn chìm trong khói lửa là một ngày Bác ăn không ngon, ngủ không yên. “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một… “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Có những thời điểm, thế nước ngàn cân treo sợi tóc. Người vẫn theo dõi sát sao tình hình diễn biến chiến sự tại miền Nam và đưa ra những chỉ đạo sâu sát kịp thời. Người quan tâm tới từng chi tiết nhỏ trong mỗi trận đánh, qua các bản báo cáo, bản tin trên báo, trên đài phát thanh. Biết tin có đoàn miền Nam ra, Người đều gặp hỏi han tỉ mỉ, ai có thành tích Bác động viên, khen ngợi kịp thời, và gửi quà tặng. Khi có người bị thương nặng, Bác đến tận giường bệnh thăm hỏi và trực tiếp căn dặn y bác sỹ hết lòng cứu chữa…

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, một lần nữa vấn đề thống nhất nước nhà được khẳng định: “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam là một. Nhân dân ta nhất định vượt qua tất cả mọi khó khăn thực hiện kỳ được thống nhất đất nước, Nam Bắc một nhà”. Chân lý đó thực tế đã được chứng minh sự đúng đắn sáng suốt của Bác cùng Trung ương Đảng. Ở chiến trường miền Nam quân và dân ta đã đập tan “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Trước sự lớn mạnh của quân ta, hòng cứu vãn tình thế, Mỹ ào ạt đổ quân vào chiến trường miền Nam thực hiện “chiến tranh cục bộ”. Tàn ác hơn, đế quốc Mỹ và chư hầu cho máy bay bắn phá miền Bắc và ý đồ thâm hiểm của chúng là đưa miền Bắc “trở về thời kỳ đồ đá”. Mục đích làm cho miền Bắc không chi viện được cho miền Nam hòng bóp chết cách mạng miền Nam. Đúng lúc đó, một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi: “Kiên quyết bảo vệ nền độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹån lãnh thổ của nước Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của nhân dân ta. Đế quốc Mỹ phải tôn trọng Hiệp định Geneve, phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, phải chấm dứt ngay cuộc tiến công vào miền Bắc. Đó là biện pháp duy nhất, không có giải pháp nào khác. Đó là câu trả lời của nhân dân ta và Chính phủ ta cho đế quốc Mỹ”.

Đáp lại tình cảm thiêng liêng của Người, mỗi chiến sỹ trước khi ra trận đều khắc sâu hình bóng của Bác nơi trái tim mình. Đại tá Đỗ Tấn Phong, anh hùng quân đội kể: Mỗi lần nhận nhiệm vụ hay trước một trận đánh lớn, nhớ tới Bác Hồ là tôi lại thấy như được tiếp thêm sức mạnh. Khi đấu tranh với kẻ thù, người chiến sỹ có trái tim, trái tim mang hình Bác thiêng liêng rực rỡ. Có chiến sỹ bị địch bắt, tên gác ngục đưa ảnh Bác ra và hỏi có biết là người trong ảnh ai không, chiến sỹ ấy đã rất tự hào nói với kẻ thù đó là Bác Hồì kính yêu. Đó là anh hùng Nguyễn Văn Thương, 6 lần bị địch cưa sống chân, nhưng nhất quyết không khai với kẻ thù dù chỉ một lời. Đó là tấm gương của cựu tù Phú Quốc Nguyễn Thế Nghĩa, trong tù thiếu thốn trăm bề và bị địch tra tấn dã man, được tin Bác mất đã tự tay mình cắt máu vẽ chân dung của Bác và cờ Đảng để đồng đội trong tù làm lễ truy điệu Bác và mang lá cờ Đảng bằng máu trước ngực mình trong những buổi lễ kết nạp đảng viên mới…

Trong toàn bộ di sản tư tưởng mà Người để lại, những ý kiến chỉ đạo, những bài nói bài viết gửi đồng bào, chiến sỹ miền Nam luôn chiếm một vị trí đặc biệt, là tình nhân ái bao la, mối quan tâm sâu sắc và niềm tin mãnh liệt của Bác dành cho đồng bào miền Nam. Đối với Người, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc luôn là mong ước cháy bỏng. Khi được tin Quốc hội tặng thưởng huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Người đã cảm ơn Quốc hội và nói: “Trong khi miền Bắc ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội để ủng hộ đồng bào miền Nam, thì đồng bào miền Nam đã anh dũng chiến đấu để bảo vệ công cuộc xây dựng hoà bình ở miền Bắc. Cho nên nhân dân miền Bắc từng giờ từng phút nhớ đến đồng bào miền Nam. Gần 20 năm trường, hết đấu tranh chống thực dân Pháp, lại đấu tranh chóng Mỹ – Diệm, đồng bào miền Nam thật là xứng đáng với danh hiệu thành đồng Tổ quốc và xứng được tặng thưởng Huân chương cao quý này. Vì lẽ đó tôi xin Quốc hội đồng ý thế này: Chờ đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc- Nam xum họp một nhà, Quốc hội cho phép đồng bào miền Nam trao tặng cho tôi Huân chương cao quý này. Như vậy toàn dân ta sẽ sung sướng vui mừng”.

Trước lúc đi xa, trong Bản Di chúc, Bác đã dành những tình cảm, niềm tin mãnh liệt cho đồng bào miền Nam, cho sự nghiệp giải phóng đất nước thống nhất Tổ quốc. Đó chính là những lời cổ vũ cho quân và dân Nam bộ đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược như ước nguyện của Người: “Còn non còn nước còn người, thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Ước nguyện của Người đã được quân và dân miền Nam thực hiện một cách trọn vẹn. Ngày 30.4.1975 lịch sử, lá cờ quyết chiến quyết thắng của quân giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Non sông đã liền một giải. Đồng bào Nam Bắc xum họp một nhà.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin dùng tri thức

Bác HồSau tuyên ngôn Độc lập, ngày 3-9-1945 Chính phủ họp để cụ thể hóa chương trình hành động 6 điểm, nhiệm vụ hàng đầu diệt giặc đói, giặc dốt, còn nguy hiểm hơn giặc ngọai xâm. Tháng 10-1946, nói chuyện với đông đảo giới trí thức cả nước, Bác Hồ nhắc lại: Đói, dốt còn nguy hiểm hơn giặc ngọai xâm, đói không đánh giặc được, dốt thì mất nước, kiến thiết nước nhà cho dân giàu nước mạnh càng cần trí thức…

Luật sư Phan Anh, nguyên Bộ trưởng Bộ Thanh Niên trong Chính phủ Bảo Đại- Trần Trọng Kim, sau Cách mạng tháng tám được cử làm Bộ trưởng Quốc phòng, rồi Bộ trưởng Ngoại thương mà không phải đảng viên cộng sản. Ông Phan trả lời người bạn Na Uy rằng: Mấu chốt là Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tín nhiệm đối với trí thức. Tính ra có hơn một năm trời mà có 4 lần thay đổi trong Chính phủ.

Lần đầu, từ Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân đại hội ở Tân Trào cử ra ngày 25-8-1945 về Hà Nội mở rộng thành phần mang tên Chính phủ Lâm thời ra mắt ngày 2-9-1945, có 15 bộ trưởng thì 9 bộ trưởng thuộc tầng lớp gọi là trí thức tiểu tư sản.

Lần hai, 20 vạn quân lính Tàu Tưởng vượt biên giới vào Việt Nam theo quyết định của Hội nghị Postdam (7-1945), để giải giáp quân đội Nhật. Chúng kéo cả vợ con nhếch nhác, cả các tổ chức đảng phái phản động để chống phá cách mạng nước ta với mục tiêu trước mắt: “Diệt cộng, cầm Hồ”. Rủi cho chúng, Việt Nam đã có chủ, Chính phủ cụ Hồ ra mắt và tuyên bố độc lập trước thế giới ngày 2-9 rồi. Trong tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chính Minh đã tỏ rõ bản lĩnh “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của mình. Thực tài tình và bất ngờ khi người mời thủ lĩnh Việt Cách (Việt Nam Cách mạng đồng minh) Nguyễn Hải Thần chuyên nghề xem bói bốc thuốc bên Vân Nam vào ghế Phó Chủ tịch Chính phủ liên hiệp Lâm thời ngày 1-1-1946.

Lần ba, để “danh chính ngôn thuận” khẳng định chủ quyền độc lập, trong muôn vàn khó khăn, lần đầu tiên nước ta tổ chức tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946. Thực hiện sách lược “Tạm hòa với Tưởng” Hồ Chủ tịch đề nghị Quốc hội dành cho tổ chức Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng) và Việt Cách 70 ghế, chấp nhận 2 ghế quan trọng giao cho người không phải đảng phái – Bộ Nội vụ do Cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức bộ trưởng (Bác đã tính trước, mời cụ từ Quảng Ngãi ra Hà Nội). Bộ Quốc phòng do ông Phan Anh giữ chức. Cựu hoàng Bảo Đại được mời giữ chức cố vấn tối cao. Mặc dù sau đó, một số thành viên trong chính phủ đã tự đào thải mình, chạy theo quân Tưởng về nước như “Phó chủ tịch” Nguyễn Hải Thần, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam…

Lần bốn, ngày 3-11-1946 tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I, Bác Hồ tuyên bố thành phần chính phủ đoàn kết, toàn dân, tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái, đó là Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Các nhân sỹ trí thức được giữ trọng trách trong Chính phủ gồm các Bộ: Nội vụ – Huỳnh Thúc Kháng, Giáo dục – Nguyễn Văn Huyên, Giao thông công chính – Trần Đăng Khoa, Y tế – Hoàng Tích Trí, Tư pháp – Vũ Đình Hòe, Canh nông – Ngô Tấn Nhơn, Cứu tế – Chu Bá Phượng… Hầu hết những người được “chọn mặt gửi vàng” sau này đều xứng đáng với sự tin cậy của Bác.

PHÚC KHÁNH (ST)
xaydungdang.org.vn

Bác Hồ với nông dân!

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề nông dân – một lực lượng to lớn của cách mạng.

Ngày 10-10-1923, Đại hội Quốc tế Nông dân đầu tiên, khai mạc tại gian phòng lớn An-đrây-ep-xki ở Điện Krem-li. Ngày 12-10, dưới đầu đề “Tại Đại hội Nông dân toàn thế giới”, báo Pra-vđa đưa tin: “Tại phiên họp thứ hai, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt Đông Dương phát biểu ý kiến. Diễn giả chỉ ra rằng nông dân Đông Dương bị hai tầng áp bức, một là với tư cách nông dân nói chung, hai là với tư cách nông dân một nước thuộc địa”.

Trong bài phát biểu tại một phiên họp của đại hội, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia…”. Cả đại hội đã sôi nổi vỗ tay, tán thành ý kiến của Người.

Bác Hồ dùng thử máy cấy tại trại thí nghiệm lúa thuộc Sở Nông lâm Hà Nội, năm 1960Bác Hồ dùng thử máy cấy tại trại thí nghiệm lúa
thuộc Sở Nông lâm Hà Nội, năm 1960
.

Và chính trong Đại hội này, đã tiến hành bầu các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Nông dân. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc một nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng, thay mặt nông dân châu Á đã được bầu vào đoàn chủ tịch. Lúc đó Bác của chúng ta 33 tuổi.

Năm 1927, khi viết cuốn “Đường Kách mệnh”, ở mục “Ai là những người Kách mệnh” Bác Hồ viết:

“Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết. Khi trước tư bản bị phong kiến áp bức cho nên nó cách mệnh. Bây giờ tư bản lại đi áp bức công nông, cho nên công nông là người chủ cách mệnh”…

Mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu tiên ấy, Bác đã sống với những người nông dân miền núi và giác ngộ họ làm cách mạng. Đồng thời những người nông dân nghèo khổ và bị áp bức ấy đã chở che, giúp đỡ Bác và các đồng chí của mình. Pác-Bó, Cao Bằng đã vinh dự trở thành “Đại bản doanh” đầu tiên của cách mạng nước ta.

Rồi trong những năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Định Hoá (Thái Nguyên), Tân Trào, Chiêm Hoá (Tuyên Quang) đã trở thành an toàn khu của cách mạng. Những người nông dân đã che chở, bảo vệ, nuôi dưỡng lực lượng kháng chiến, cũng như hàng chục triệu người nông dân trong cả nước vừa đánh giặc vừa góp gạo nuôi quân, góp phần làm nên chiến thắng.

Tháng 11-1949, trong Thư gửi Hội nghị cán bộ Nông dân cứu quốc toàn quốc, Bác viết:
“Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thực sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân. Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh”.

Trong Di chúc của mình Bác dặn dò:

“Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.     

*

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ kể lại: Tết Kỷ Dậu 1969 – Cái Tết cuối cùng của Bác, Bác vẫn bảo tổ chức cho Bác đi thăm nông dân. Bác hỏi:

– Chú Kỳ! Các chú đã chuẩn bị cho Bác đi thăm những đâu? Mồng 1 Tết này, chúng ta xuất hành phương nào?

Thấy Bác hỏi, tôi rất lo lắng vì năm ấy Bác đã 79 tuổi, lần khám sức khỏe gần nhất Hội đồng bác sĩ đã nói Bác cần tránh đi lại nhiều và tránh những xúc động mạnh. Bác lại hỏi:

– Chú có nhớ Bác phát động Tết trồng cây năm nay là năm thứ mấy rồi không?

– Thưa Bác, năm thứ 10 ạ!

– Đúng! Nhân dịp kỷ niệm 10 năm Tết trồng cây, các chú bố trí cho Bác đi trồng cây ở một địa phương có nhiều thành tích…

Mặc dù biết sức khỏe của Bác không được tốt, nhưng chúng tôi cũng không ngăn được lòng mong muốn của Bác đến với nông dân. Và Tết năm ấy, sau khi đi thăm bộ đội phòng không, không quân, khoảng 11 giờ trưa Bác mới đến được xã Vật Lại, Ba Vì. Trồng cây đa xong, Bác vui vẻ cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn. Bác rất vui, trò chuyện với bà con nông dân, với các cụ phụ lão và các cháu thiếu nhi. Bác dặn đồng chí nữ bí thư đảng ủy xã: Phải dân chủ với dân, phải để cho dân phê bình cán bộ, đảng viên.

Thật là cảm động khi nhìn thấy Bác Hồ vui vẻ ngồi giữa những người nông dân như một cụ già trồng cây hiền từ ngồi cùng con cháu. Và chúng ta còn cảm động hơn nữa, khi biết lúc ấy trong Di chúc của mình Bác Hồ đã viết:

“Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các Hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Nhà báo Mỹ Đa-vit Han-bớt-stem đã viết:

“Ông Hồ thường mặc bộ quần áo đơn giản… Địa vị càng cao, ông càng giản dị, trong sạch hơn. Ông luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam”.

Mùa xuân này, khi đời sống của những người nông dân đã đổi mới khác xưa. Nước Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Nhiều con cái của những người nông dân đã trở thành những giáo sư, tiến sĩ, những cán bộ lãnh đạo đất nước. Trong niềm vui ấy, lòng chúng ta càng nhớ đến Bác kính yêu – Người xây dựng nên nước Việt Nam mới, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và của dân tộc, người suốt đời quan tâm, gần gũi với nông dân và nông thôn Việt Nam./.

Vũ Thái
baonamdinh.com.vn