Thư viện

Cảm tưởng về hình ảnh Bác Hồ về nước vào mùa xuân năm 1941

Vào năm 1941, sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước cho dân tộc, vượt qua biết bao khó khăn, trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua nổi, mong ước được trở về nước cùng đồng bào đấu tranh của Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Và khi vừa đặt chân lên mảnh đất quê hương, Người đã lặng đi bên cột mốc 108 biên giới Việt – Trung, mặt hướng về Tổ quốc, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, rồi Người cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt rưng rưng.

Bác Hồ về nước xuân Tân Tỵ

Tổ quốc – tiếng gọi thiêng liêng, luôn trong trái tim mỗi người dân. Đối với một con người không có tình cảm nào cao hơn, lớn hơn, thiêng liêng hơn tình yêu Tổ quốc. Lòng yêu nước, yêu Tổ quốc là cốt lõi trong tính cách và bản chất của dân tộc ta, nó là cội nguồn tạo nên sức mạnh, là máu chảy trong huyết quản mỗi người Việt Nam. Lòng yêu nước, yêu Tổ quốc càng sáng ngời qua tấm gương cuộc đời của Bác – một con người với tầm tư tưởng lớn, quyết ra đi tìm đường cứu nước, cả cuộc đời Người dành cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bác đã từng nói “Tôi luôn luôn là một người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thật sự của Tổ quốc tôi ”“Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi ”. Giữa lúc kế sách cứu nước của những nhà cách mạng tiền bối còn mờ mịt chưa có đường ra thì Bác đã làm ra điều kỳ diệu. Chỉ với hai bàn tay lao động và ý chí cứu nước mãnh liệt, giấu trong lòng nỗi đau xót, sự quyến luyến, Bác quyết ra đi cho một ngày trở lại. Chính từ nỗi đau dân nước, tình thương nhân loại là động lực bên trong thôi thúc Bác tìm đến lý tưởng cách mạng nhân đạo và khoa học của Mác – Lênin. Có thể thấy trong hành trình đi tìm một con đường mới cho dân tộc, Người đã chèo lái con thuyền sức mạnh của mình bằng tình yêu đất nước tha thiết. Trong cuộc hành trình đó, Người đã phải trải qua biết bao nhiêucông việc cực nhọc như làm bồi bàn, lao công quét tuyết, phụ bếp cho khách sạn… vất vả là vậy nhưng Người chưa bao giờ thôi nghĩ đến vận mệnh của đất nước. Trong tâm trí Người luôn luôn cháy bỏng tình yêu Tổ quốc đến tha thiết, hình bóng quê hương chẳng lúc nào phai mờ. Càng xa quê hương Người càng thấm thía nỗi khổ đau mà đồng bào đang phải gánh chịu.Người ăn không ngon, ngủ không yên mỗi khi nghĩ về Tổ quốc đang chịu nhiều thương đau. Trái tim giàu lòng yêu nước của Người cùng đau với nỗi đau của dân tộc trong cảnh nước mất, nhà tan. Có thấu hiểu tình yêu lớn lao mà Bác dành cho đồng bào, cho Tổ quốc, có đặt mình vào trong hoàn cảnh của Bác lúc bấy giờ mới thật sự hiểu hết tâm trạng bồi hồi, niềm xúc động của Người sau 30 năm xa sứ sở, chịu biết bao gian truân, khổ ải mới được đặt chân về với đất mẹ. Niềm vui ấy không thể nói hết bằng lời. Khi đặt bước chân đầu tiên lên dải đất quê hương, lòng bồi hồi, xúc động Người lặng đi trong phút giây thiêng liêng được về với Tổ quốc, với đồng bào. Phút giây đó, sau này được Người kể lại rằng“Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động”. Có niềm xúc động nào hơn niềm xúc động của một người con xa quê, xa đất nước mình hàng chục năm trời lại được trở về trong không khí của ngày Tết cổ truyền của dân tộc, khi tất cả những kỷ niệm, những thương nhớ và những giá trị truyền thống của dân tộc dường như đang sống lại, đang ùa về trong lòng.

Không quan cách, xa hoa, rộn rã, ồn ào, Bác trở về trong hình ảnh rất đời thường, bình dị, vĩ đại mà gần gũi thân thương, toả sáng mà ấm áp hiền hoà. Lúc ấy Bác mặc trang phục của người Nùng (một dân tộc sinh sống ở Cao Bằng), quần áo chàm, đầu thì đội mũ may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn vừa che kín râu. Hành lý mà Bác mang theo chỉ vẻn vẹn có một chiếc vali bằng mây nhỏ cũ kỹ đựng quần áo và chiếc máy đánh chữ xách tay. Hình ảnh đơn sơ, giản dị ấy cùng với với tấm lòng, trái tim giàu lòng yêu nước của Bác đã làm cho ta, mỗi người con đất Việt càng thêm mến phục và kính yêu Bác nhiều hơn, cảm nhận được sự hy sinh cao cả của Bác, sự bình dị, gần gũi của Bác. Và cũng thật xúc động khi Bác cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn. Đó quả là hình ảnh cảm động, Bác đã trân trọng, đã yêu quý từng tất đất của Tổ quốc đến nhường nào. Bước chân đầu tiên về đất mẹ cũng là giây phút Người lắng nghe sự sống của sinh thể đất nước đang phôi thai trong lòng mình. Nhà thơ Chế Lan Viên đã diễn tả lại hình ảnh ấy bằng những câu thơ đầy xúc động “Kìa! bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”. Bác về nước đúng vào mùa xuân, mùa tươi đẹp nhất của đất trời, mùa của trăm hoa đua nở, mùa của lộc biếc chồi xanh, vạn vật như khoác lên mình sắc áo mới hứa hẹn một tương lai tươi sáng ở phía trước.Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cả thiên nhiên đất trời như reo vui Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt/Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về… im lặng. Con chim hót/Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ (Thơ: Theo chân Bác của Tố Hữu). Sự kiện Bác Hồ về nước mùa Xuân năm 1941 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân của Người, vì đó là mùa xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Tổ quốc, kết thúc chặng đường dài sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động ở nước ngoài, để rồi từ đó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cùng Đảng ta đem lại những mùa xuân cho dân tộc, chấm dứt trăm năm nô lệ tăm tối.

Đã bảy mươi hai mùa xuân trôi qua nhưng hình ảnh khi lần đầu tiên Bác trở về với Tổ quốc sau 30 năm xa cách ấy vẫn mãi không phai nhòa trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Mỗi chúng ta đều không khỏi bồi hồi xúc động và thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu đã hy sinh trọn đời mình cho dân tộc, đã dành cả cuộc đời chăm lo cho hạnh phúc nhân dân mà không gợn chút riêng tư để đất nước hôm nay trọn niềm vui độc lập tự do và đổi mới phát triển. Công lao to lớn đó của Bác không có gì có thể so sánh được. Càng nhớ Bác Hồ, mỗi người chúng ta hôm nay càng phải thực hiện tốt hơn Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, tạo thành nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ toàn dân cùng thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, xứng đáng với lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu “Xây dựng một mước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”./.

Thu Hiền
sgtvt.gialai.gov.vn

Bác Hồ với tết cổ truyền của dân tộc

         Đầu năm 1946, trong thư gửi Tuổi trẻ Việt Nam Bác viết “Một năm mới khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm và người Việt Nam có quan niệm trong những ngày đầu năm mới, mùa mà vạn vật khoe sắc hương, thiên nhiên tươi đẹp, những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với mọi người. Từ ngày đất nước được độc lập, vào những ngày tết cổ truyền của dân tộc Bác luôn dành trọn những ngày nghỉ của mình đến thăm từng nhà, coi nhân dân ta chuẩn bị tết cổ truyền như thế nào, qua đó sẽ biết nhân dân ta có được hưởng cuộc sống ấm no, vui tươi chưa? Dù bận trăm công nghìn việc nhưng không bao giờ Bác quên đi thăm đồng bào, chiến sĩ.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

          Xuân Bính Tuất năm 1946, trong cuộc vi hành đêm 30 tết của mùa xuân độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình của một người đạp xích lô “Tết mà không có tết”, ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn còn chủ nhà đang nằm đắp chiếu mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ đi ra và dặn đồng chí thư ký hôm sau mang thuốc, quà của Người đến thăm hỏi và nhắc đồng chí thư kí ghi lại để báo cho đồng chí Chủ tịch ủy ban hành chính Hà Nội biết.

          Kể từ mùa xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm chủ tịch nước, mỗi khi tết đến xuân về Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước tết ba tháng Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc: Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới; nhắc Văn phòng chuẩn bị thiệp “Chúc mừng năm mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở những vùng rừng núi, hải đảo và cán bộ công tác ở nước ngoài; và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác do Văn phòng chuẩn bị cũng có khi là một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

          Tết năm 1962 nếu chỉ đi thăm các gia đình theo chương trình của Văn phòng bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Nguyễn Thị Tín – một người gánh nước thuê ở ngõ 16 Lý Thái Tổ, Hà Nội vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai, mùng một tết có cơm cho bốn đứa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động làm rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay Bác:

          – Cháu không ngờ Bác lại đến thăm…

          Chỉ nói được như vậy chị đã òa lên khóc nức nở.

          Vị chủ tịch nước đã an ủi chị:

          – Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

          Và Bác đã vào thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một nén hương. Bốn đứa nhỏ, đứa lớn nhất đang ngồi trên chiếc giường chia nhau một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi tết mà không có tết”. Cách đây hơn 15 năm, tết độc lập đầu tiên Bác đã chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ, đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ kháng chiến đã thắng lợi, hòa bình đã gần chục năm mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ngay thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng no ấm, vui tươi…

          Bác đã từng tâm sự với đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

          Ngày nay, nền kinh tế của nước ta đã phát triển hơn, đời sống của đại bộ phận nhân dân đã phần nào được nâng cao nhưng không có nghĩa là đã hết những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và rất cần sự chung tay giúp đỡ, chia sẻ của cả cộng đồng. Phát huy truyền thống “Tương thân tương ái”, “lá lành dùm lá rách” của dân tộc và cụ thể hơn là học tấm gương sáng ngời của Bác về lòng nhân ái, tình thương yêu con người, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc chăm lo đời sống của nhân dân. Trong những ngày lễ, tết Đảng, Nhà nước đã chỉ đạo các ban ngành hỗ trợ các gia đình chính sách, hộ nghèo đảm bảo kịp thời để tất cả mọi người đều được vui tết, đón xuân đầm ấm.

          Là một tỉnh vùng cao như Đăk Lăk với hơn bốn mươi dân tộc anh em cùng sinh sống. Mỗi dân tộc có một nét văn hóa riêng, phong tục tập quán riêng nhưng sự đoàn kết, thương yêu, chia sẻ luôn là mục tiêu chung của các dân tộc. Học tập tấm gương của Bác, hàng năm chuẩn bị cho tết cổ truyền của dân tộc các sở ban ngành cũng luôn quan tâm, tạo điều kiện để mọi người cùng được vui xuân, đón tết. Điển hình như Sở Y tế Đăk Lăk trong những ngày rộn rã đón sắc xuân, ban lãnh đạo, Công đoàn ngành cũng như các đơn vị trực thuộc không bao giờ quên việc đến thăm hỏi, chúc tết và tặng quà cho các gia đình chính sách, chiến sĩ đồn biên phòng, buôn làng kết nghĩa và các bệnh nhân phải nằm lại bệnh viện trong những ngày tết… Tết cổ truyền năm Qúy Tỵ 2013, riêng Văn phòng Sở Y tế và Công đoàn ngành Y tế tổ chức thăm hỏi, chúc tết tại buôn kết nghĩa, đồn biên phòng với gần 300 suất quà trị giá gần 70 triệu đồng. Giá trị của những món quà tuy nhỏ nhưng đã thể hiện tấm lòng chân thành của cán bộ, công nhân viên chức ngành y tế, góp phần động viên, an ủi, chia sẻ niềm vui với bà con, chiến sĩ cũng như người bệnh. Đây là một trong những hoạt động thiết thực nhằm thắt chặt hơn tình cảm của các dân tộc anh em, góp phần xây dựng Đăk Lăk ngày càng phát triển giàu mạnh./.

Bài & ảnh: Hồng Vân
(Trung tâm Truyền thông GDSK)
soytedaklak.gov.vn

Xuân Tân Tỵ 72 năm trước Bác Hồ về nước

Được Quốc tế Cộng sản đồng ý, mùa Thu năm Mậu Dần (1938), Nguyễn Ái Quốc từ Viện Nghiên cứu các vấn đề Dân tộc và thuộc địa (Liên Xô) lên đường trở về Tổ quốc.

Nhưng đến năm Kỷ Mão (1939) chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nên cuối năm ấy Người mới đến Côn Minh. Tháng 6/1940 Bác tới Quế Lâm, rồi về Tĩnh Tây và chọn Cao Bằng, nơi có phong trào cách mạng phát triển, liên lạc quốc tế thuận lợi để làm căn cứ địa cách mạng.

Bác Hồ về nước xuân Tân Tỵ

Trong thời gian lưu lại ở bản Nậm Quang (giáp huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), Người mở lớp huấn luyện cho 43 cán bộ, có các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Phùng Chí Kiên phụ giảng.

Đầu Xuân, mùng Một Tết Tân Tỵ (27/1/1941), Người và anh em cán bộ đi chúc Tết bà con hai thôn Nậm Quang và Nậm Tẩy. Người tặng mỗi nhà một tờ giấy hồng điều, có ghi bốn chữ Hán “Cung chúc tân Xuân”, tặng mỗi cháu nhỏ phong bao tiền mừng tuổi. Ai nấy phấn khởi, nhà nhà hân hoan.

Sáng mùng Hai Tết (28/1/1941) trời rét căm căm, sương mù dày đặc, Người và các đồng chí cùng đi tạm biệt Nậm Quang lên đường về nước sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước. Người xiết bao xúc động bởi hơn 10 nghìn ngày thương nhớ, đợi chờ nay đã thành sự thật.

Sau khi vượt cột mốc 108, đồng chí Lê Quảng Ba đưa Bác và anh em vào nhà ông Máy Lì, dân tộc Nùng, một cơ sở tin cậy của cán bộ ta ở làng Pác Bó. Được nghe cán bộ giới thiệu ông Ké (ông già) cũng là cán bộ ở dưới xuôi lên, ông Máy Lì mừng vui lắm, gọi con gái mang ra thau nước nóng mời ông Ké rửa mặt. Nghỉ ngơi một lát, chủ nhà bưng ra mâm cỗ mời ông Ké và Đoàn cán bộ vui Xuân “con Rắn”. Từ đáy lòng mình, ông Máy Lì chậm rãi nói: “Biết thế nào ông Ké và các cháu cũng đến nên già cố chờ, để hái lộc năm Tỵ này to hơn”. Bên mâm cỗ tết, mọi người trò chuyện râm ran. Riêng Bác vẫn lặng yên, vẻ mặt ưu tư vì sau 30 cái Tết vắng nhà nhưng không bao giờ có Tết, hôm nay lần đầu tiên trở về đất mẹ, sống lại ngày Tết cổ truyền.

Nghe ông Máy Lì mời rất thịnh tình, Bác nhìn mọi người và cầm đũa chỉ vào từng món ăn trên mâm, hỏi tên các món ăn bằng tiếng dân tộc. Thấy Bác nói và nghe tiếng dân tộc rất chuẩn làm cho ông chủ nhà xúc động, mến phục. Bữa cơm ngày Tết kết thúc lúc xế chiều. Trời tối dần, mọi người đi ngủ, bên ngoài sương xuống nhiều, Bác và ông Máy Lì vẫn rì rầm nói chuyện. Đêm ấy, Bác cứ thổn thức, gần sáng mới ngủ thiếp đi.

Sáng mùng 03 Tết, vừa ngủ dậy, Bác nói với đồng chí Lê Quảng Ba: “Đồng bào ở đây nghèo, nhà chật chội, ta đông người, ở đây mãi không tiện, ra rừng thôi”. Theo hướng dẫn của ông Máy Lì, Bác và anh em chuyển lên ở trong một hang đá bí mật, đó là hang Cốc Pó, phía sau hang núi đá là đất Trung Quốc, khi lâm sự có thể rút sang bên đó an toàn. Trong hang tuy âm u, tối tăm, ẩm thấp song địa hình xung quanh hùng vĩ nên thơ, có con suối trong xanh, có quả núi cao. Sau này Bác gọi là suối Lê-nin và núi Các Mác. Đồ tư trang của Bác lúc ấy chỉ có vài bộ quần áo, một va-li tài liệu, một máy chữ. Chỗ nằm của Bác là các cành cây ghép lại, trên trải liếp tre đan, vô cùng thiếu thốn gian khổ.

Hàng ngày, Bác ngồi làm việc trên tảng đá bên suối, dưới vòm cây xanh, có nhiều hoa rừng, bướm bay, chim hót. Từ địa điểm lịch sử này, Bác đã làm hai bài thơ bất hủ: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang/ Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng/ Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng/ Cuộc đời cách mạng thật là sang” và: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lê-nin, kia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà”.

Về Pác Bó ít ngày, Bác đã phát động tổ chức các hội quần chúng, thành lập các Đội Tự vệ, hình thành Mặt trận Thống nhất. Tháng 4/1941, Bác chủ trì hội nghị tiến tới thành lập Việt Nam độc lập Đồng Minh. Đến ngày 10/5/1941 với danh nghĩa là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Bác triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương bên con suối Khuổi Nặm, gần làng Pác Bó. Sau Hội nghị lịch sử này, Bác viết thư “Kính báo đồng bào” gửi đồng bào cả nước, kêu gọi toàn dân đoàn kết đánh đuổi giặc Pháp, phát xít Nhật.

Trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Bác và Đảng đã đưa phong trào cách mạng nước ta có những chuyển biến vô cùng to lớn. Chỉ sau 4 năm từ khi Bác về nước (28/1/1941 đến 19/8/1945), chính quyền cách mạng đã được thành lập trong phạm vi cả nước bằng một cuộc tổng khởi nghĩa giành thắng lợi từ Bắc vào Nam. Nước Việt Nam đã là một nước độc lập – đúng như dự đoán thiên tài của Bác Hồ năm 1942, một năm sau khi Người về nước ở Cao Bằng.

Qua 72 mùa Xuân từ Tân Tỵ đến Quý Tỵ dù phải trải qua 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta từng vượt qua bao hi sinh gian khổ, song cách mạng Việt Nam đã toàn thắng, hoàn thành mục tiêu “Độc lập dân tộc”, đang tiến hành công cuộc đổi mới, tiếp tục công cuộc xây dựng vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Ngày Bác Hồ về nước năm ấy đã trở thành dấu ấn kì diệu của lịch sử cách mạng Việt Nam, tạo nên bước ngoặt mới cho cách mạng nước ta.

Theo Quốc Sĩ/ Báo Người cao tuổi
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những bài thơ Xuân của Bác Hồ

Thơ Xuân là một phần “đặc biệt” trong thơ của Bác Hồ. Hơn thế, đó không chỉ vì Thơ, vì Tết, vì Xuân, mà là truyền thống của dân tộc, là tình cảm, là tấm lòng, là món quà đầu năm mới Bác Hồ gửi tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước, là những định hướng chiến lược, những lời đúc kết, đánh giá những thắng lợi trong năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ của năm tới, là những lời động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để xây dựng quê hương, đất nước…

12.

Tháng 12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp dưới sự chủ tọa của Bác, trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và thế giới, đã quyết định mở đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968). Tinh thần và quyết tâm của Bộ Chính trị chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền tới đồng bào và chiến sĩ cả nước qua thư Chúc mừng năm mới, ngày 1 tháng 1 năm 1968. Cuối thư, Người chúc đồng bào và chiến sĩ cả nước bằng những vần thơ Xuân quen thuộc:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

Bác đã theo dõi sát và động viên kịp thời từng chiến công của quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy giữa mùa Xuân ấy. Đặc biệt ở Huế, ngay từ đêm 31-1-1968, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đồng loạt tiến công vào 40 mục tiêu địch trong nội và ngoại thành phố Huế, thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi… Ngay trong những ngày sôi động ấy, Người đã gửi thư khen thành tích chiến đấu của quân và dân Huế đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi. Khi được tin tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ – trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân được giao nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy cánh Nam, tham gia chuyển thương binh và tiếp đạn – khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, đã xin được trang bị vũ khí, tiếp tục chiến đấu và đã chiến đấu vô cùng anh dũng, đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, Bác Hồ đã gửi thư khen và tặng 11cô gái sông Hương bài thơ:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường. 
Bác khen các cháu dân quân gái, 
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.

Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là những bông hoa thơm dâng Bác, làm xúc động lòng Người. Và, giữa mùa Xuân chiến thắng ấy, Người đã mượn cái cớ lâu rồi không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” với vần “thắng” bất ngờ và thú vị, gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

“Đã lâu chưa làm bài thơ nào, 
Đến nay thử làm xem ra sao. 
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy, 
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

Bài thơ đã nhanh chóng lan xa và làm xúc động lòng người. Nhà thơ Chế Lan Viên đã kể về niềm sung sướng, hạnh phúc khi được nghe bài thơ Xuân “độc đáo” này: “Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Pari năm 1968, khi bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong diễn văn của mình đã đọc một bài thơ tứ tuyệt của Bác thì cả hội trường trí thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy đã giàn giụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết nhường nào…”.

Tin thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam càng khẳng định sức mạnh lớn của quân dân ta trong những thử thách vô cùng quyết liệt của cuộc chiến đấu có một không hai này. Còn có công việc nào trọng đại hơn công việc đánh giặc giữ nước và niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa Xuân này, Bác viết bài thơ bằng chữ Hán “Mậu Thân Xuân tiết” (Tết Mậu Thân):

“Tháng tư hoa nở một vườn đây, 
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời. 
Trên trời mây đến rồi đi, 
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

Xuân này, đọc lại những vần thơ Xuân của Bác Hồ từ 41 Xuân trước càng thấy rõ hơn những lời tâm tình trong thơ Bác vừa tràn ngập sắc Xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: Ý chí cách mạng tiến công. Tinh thần ấy, ý chí ấy đã giúp Bác vượt lên những hạn chế của tuổi tác, giữ được sự hài hoà giữa vật chất và tinh thần, chan hoà và gắn bó làm một với phong trào cách mạng, với cuộc sống mới đang dựng xây và phát triển của non sông đất nước.

Theo TS. Chu Đức Tính (Bảo tàng Hồ Chí Minh)
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thơ Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ chúc TếtThơ Xuân có một vị trí “đặc biệt” trong thơ chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt bởi lời thơ ngắn gọn, ngôn từ và cách diễn đạt dễ hiểu như lời Người tâm sự: “Mấy lời thân ái nôm na, Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. Thêm nữa, bên cạnh những cảm xúc đẹp về mùa Xuân, Người còn làm thơ để mừng tuổi đồng bào. Gần 30 năm trời (1942 – 1969), cứ mỗi khi Tết đến Xuân về là đồng bào cả nước lại mong chờ những vần thơ chúc Tết của Bác như một món quà ý nghĩa. Món quà ấy là nguồn động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để  dựng xây quê hương, đất nước… Hơn thế, đằng sau thi hứng từ mùa Xuân, đằng sau nỗi niềm dân tộc, tấm lòng với đồng bào, mỗi bài thơ của Hồ Chí Minh còn là một bài học lớn khiến chúng ta phải suy ngẫm, noi theo.

Mùa Xuân với sức sống và vẻ đẹp của nó từ bao đời nay đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận của các thi nhân. Là thi sĩ ai lại không có một đôi vần thơ Xuân trong đời? Hồ Chí  Minh cũng vậy. Yêu đời, say mê cuộc sống, tâm hồn dễ xúc cảm trước cái đẹp của con người, thiên nhiên, tạo vật, vì thế, thơ Xuân chiếm một phần không nhỏ trong sự nghiệp sáng tác của Người. Có điều khác là, Xuân trong thơ Hồ Chí Minh không chỉ là mùa Xuân hiện hữu của đất trời mà còn là mùa Xuân chất chứa bao nỗi niềm dân tộc, Xuân bởi lòng người, Xuân của lịch sử và của mong ước tương lai. Đọc thơ Xuân của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy có hai mảng: Những bài thơ viết về mùa Xuân và những bài thơ viết nhân dịp mừng Xuân hay chính là thơ chúc mừng năm mới.

1. Thơ viết về mùa xuân

Nói đến thơ Xuân của Bác, chúng ta không thể không nhắc tới một bài thơ được coi là kiệt tác, Người viết ở chiến khu Việt Bắc năm 1948: Nguyên tiêu:

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, Xuân thuỷ tiếp Xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Vẻ đẹp của bài thơ này đã được các nhà nghiên cứu, nhà phê bình và những người yêu thơ Bác viết khá nhiều. Chỉ với bốn câu thơ, Bác đã khơi gợi trước mắt người đọc vẻ đẹp thơ mộng, tràn đầy, viên mãn của mùa Xuân trong không gian và thời gian. Đêm rằm tháng giêng, mặt trăng tròn sáng ngời soi tỏ dòng sông mùa Xuân, làn nước mùa Xuân, bầu trời mùa Xuân. Tưởng như rất quen thuộc nhưng cũng không khỏi bất ngờ bởi góc nhìn tươi mới của thi nhân:

Rằm Xuân lồng lộng trăng soi
Sông Xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

                                                                        (Bản dịch của Xuân Thuỷ)

Vẫn dòng sông ấy, màu nước ấy, vẫn mây trời ấy, dưới ánh trăng rằm, trong một đêm mùa Xuân lại mang một màu sắc mới: Mùa Xuân làm cho trăng thêm đẹp. Và trăng làm cho cảnh vật thêm hữu tình. Ánh trăng, mùa Xuân, sông nước, mây trời quyện hòa, chứa chan vào nhau, tô điểm cho nhau, cùng nhau khơi gợi tâm hồn thi sĩ, soi xuống con thuyền Người đang “đàm quân sự”. Có lần Người đã từng hẹn với trăng: “Việc quân đang bận xin chờ hôm sau”. Bàn xong việc quân trời đã nửa đêm nhưng Người chiến sỹ – thi sỹ ấy không thể lại một lần lỗi hẹn cùng trăng nữa. Trăng Xuân oà vào lòng người, người mở rộng lòng đón trăng, thưởng ngoạn chất Xuân sung mãn với tâm thế sảng khoái và lạc quan. Con thuyền bàn bạc việc quân đã trở thành con thuyền trăng trôi nhẹ trên sông, ẩn hiện trong màn khói sóng. Trăng là biểu tượng cao đẹp, sáng láng của tự do. Con thuyền bát ngát trăng cũng bát ngát niềm vui cao đẹp tin tưởng vào bình minh sáng rỡ của dân tộc. “Nguyên tiêu” là một bức tranh Xuân đẹp được vẽ nên từ những vần thơ đẹp. Viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, “Nguyên tiêu” mang phong vị Đường thi: Một con thuyền, một vầng trăng, có sông Xuân, nước Xuân, trời Xuân, khói sóng, không gian bao la yên tĩnh…Chỉ khác một điều, ở giữa khung cảnh thiên nhiên hữu tình ấy, nhà thơ không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thi phú mà “đàm quân sự”. Bài thơ vừa thể hiện tâm hồn, phong thái của một “tao nhân mặc khách” vừa thể hiện trí tuệ, cốt cách thanh cao của vị lãnh tụ thiên tài.

Không chỉ rung động trước vẻ đẹp của mùa Xuân. Xuân còn đi vào trong thơ Bác như là một nguyên cớ, là nguồn cảm hứng để người bày tỏ cái nhìn lạc quan, biện chứng về xu thế vận động, phát triển của lịch sử, của dân tộc. Trong bài Tự khuyên mình Người viết:

Nếu không có cảnh đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày Xuân
Nghĩ mình trong bước gian truân
Gian nan rèn luyện tinh thần thêm hăng.

Mùa Xuân ở đây được đặt trong mối tương quan đối lập với mùa đông. Đông về, giá lạnh, khắc nghiệt. Xuân tới, ấm áp, tươi vui. Bốn mùa luân chuyển: Hết Đông tất tới Xuân. Cuộc sống con người cũng vậy. Để có được ngày Xuân rạng rỡ, huy hoàng, đừng ngại gian truân, vất vả. Nắm được quy luật tất yếu của lịch sử, của xã hội, Bác luôn nhìn cuộc sống, nhìn cách mạng với một tinh thần lạc quan và lòng tin tưởng sâu sắc vào ngày thắng lợi.

Lấy Xuân để giãi bày, nhân lên niềm vui, niềm phấn khởi tới muôn người con đất Việt, năm 1968, Bác Hồ viết nhiều thơ Xuân nhất. Điều đặc biệt là chùm thơ Xuân ngày ấy (gồm 6 bài) được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân năm 1968. Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là nguồn thi hứng dạt dào với Người. Giữa mùa Xuân chiến thắng ấy, Người mượn  cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào,
Đến nay thử làm xem ra sao.
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy,
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao“.

Nghe như một lời bộc bạch giản dị, thân tình, nhưng chỉ với một “vần thắng” cho thấy cảm hứng mới thật mãnh liệt. Mãnh liệt và truyền cảm, câu thơ ấy đã đem đến niềm xúc động cho bao người, những người chiến sĩ, những đồng bào đang một lòng hướng tới Miền Nam ruột thịt. Với Bác, không có công việc nào trọng đại hơn việc đánh giặc giữ nước và không có niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa Xuân này, Bác viết:

“Tháng tư hoa nở một vườn đầy,
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

                         Mậu thân Xuân tiết (dịch thơ)

Hoà cùng niềm vui chiến thắng chung của dân tộc, trong mùa Xuân ấy, Bác Hồ cũng góp thêm một “chiến công” thầm lặng của mình. Đó là, khi sức khoẻ của Bác đã suy giảm nhiều so với những năm trước, thấy Người ho nhiều, để giữ gìn sức khoẻ cho Người, các bác sĩ đã đề nghị “hai chớ” (chớ hút thuốc, chớ uống rượu). Nhân dịp này, Bác Hồ đã “tự mình đề thơ làm chứng” về quá trình rèn luyện đó:

Thuốc không, rượu chẳng có mừng Xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân,
Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần”.

                   Nhị vật (dịch thơ, 1, tr.336)

Từ bỏ một thói quen đã lâu năm mà nỗi nhớ đi cả vào trong mộng thì quả không phải là điều dễ dàng. Nhưng, Người đã quyết tâm và thực hiện thành công. Đó là kết quả của ý chí và sự kiên trì. Và niềm vui phấn chấn tinh thần ấy lại được Người viết tiếp trong bài thơ “Vô đề”:

Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa Xuân” .

                                 Không đề (dịch thơ, 1, tr.341)

Cách mạng thành công, đất nước độc lập, nhân dân tự do chính là mùa Xuân tươi đẹp nhất trong trái tim thiêng liêng, ngời sáng của Hồ Chí Minh. “Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”, “Một năm là cả bốn mùa Xuân”, là nỗi niềm, là mong muốn khôn nguôi của Bác. Nỗi niềm riêng, mong muốn riêng cũng là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích Đảng ta phấn đấu đạt tới. Đây chính là nét đẹp tột đỉnh của nhân cách, trí tuệ Hồ Chí Minh.

Qua những vần thơ viết về mùa Xuân, chúng ta thấy ở Bác luôn có một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của một thi nhân cùng với một cốt cách, phong thái ung dung, tự tại của người chiến sĩ cách mạng kiên trung. Xuân khơi nguồn cảm hứng thơ. Thơ lấy Xuân làm nguyên cớ. Xuân tự đất trời và Xuân tự lòng người hòa quyện, tâm hồn thi sĩ và tinh thần chiến sĩ kết tụ, Bác để lại cho đời những vần thơ vừa rung động, tràn ngập sắc Xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: Ý chí cách mạng.

2. Thơ chúc mừng năm mới

Thủ tướng Phạm Văn Đồng có lần đã viết “Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người nào hết. Ngót ba mươi năm bôn ba bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần tuý phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em. Chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất…”. Không chỉ có thế, mỗi dịp Tết đến, Người luôn có một món quà mừng tuổi ý nghĩa có thể gửi tới tất cả đồng bào của mình đó là những bài thơ chúc mừng năm mới. Lấy thơ làm quà “mừng Xuân”, Người cũng mượn thơ để “kêu gọi”, khích lệ đồng bào và khẳng định niềm tin vào một tương lai rạng ngời của dân tộc:

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,
Nǎm cũ qua rồi, chúc nǎm mới:
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong !
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi !
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong nǎm này
Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!
Nǎm này là nǎm Tết vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới.

                                  (Thơ chúc Tết Xuân Nhâm Ngọ – 1942, 2, tr.210)

Theo thơ chúc Tết của Bác, chúng ta như được dịp ôn lại lịch sử của dân tộc, được dịp nhìn lại những năm tháng kháng chiến của toàn dân vừa trường kỳ gian khổ vừa thắng lợi vẻ vang. Xuân 1946, Xuân đầu tiên nước nhà được độc lập. Cách mạngTháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên… một loạt các sự kiện ghi dấu son lịch sử đã mang đến cho nhân dân cả nước một mùa Xuân đầy hào khí của bài ca thắng lợi. Vui cái vui của đồng bào, trong cái Tết đặc biệt này, Bác Hồ đã có đến ba bài thơ Xuân chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước: Chúc Tết Bính Tuất – 1946, Mừng Báo Quốc gia, Gửi chị em phụ nữ Xuân Bính Tuất (3, tr.169).

Bác chúc đồng bào cả nước:
Trong nǎm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công,
Kháng chiến mau thắng lợi.

Việt Nam độc lập muôn nǎm!

Đối với Bác, với nhân dân ta, mùa Xuân 1946 này mới thực sự là mùa Xuân dân chủ cộng hoà, Tết này mới thực sự là Tết độc lập, tự do:

Tết này mới thực Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba chén rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa
Mọi nhà vui đón Xuân Dân chủ
Cả nước hoan nghênh Phúc Cộng hoà.

Ca bài ca chiến thắng, Bác không quên nhắc nhở mọi người phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng cần, kiệm, liêm, chính để xây dựng đất nước:

Năm mới Bính Tuất
Phụ nữ đồng bào
Phải gắng làm sao
Gây đời sống mới

………….

Cần, kiệm, liêm , chính
Giữ được vẹn mười
Tức là những người
Sống “Đời sống mới”

Từ năm 1945 đến năm 1954, thời kỳ “Toàn dân kháng chiến – toàn diện kháng chiến”, trong mỗi bài thơ chúc Tết của Bác, chúng ta đều như nhìn thấy, nghe thấy diễn biến của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ. Đó là hào khí của dân tộc:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công
!

                            (Thơ Chúc năm mới Xuân Đinh Hợi – 1947)

Theo Đỗ Thị Kiều Nga / Tạp chí nghiên cứ văn hóa
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Pác Bó đón Bác Hồ về nước

Mùa xuân năm 1941, nhân dân Pác Bó vinh dự và tự hào thay mặt nhân dân cả nước đón Bác Hồ tại mốc 108 biên giới Việt -Trung sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước trở về Tổ quốc; ngày 28/01 (tức ngày mùng 2 tết Âm lịch năm Tân Tỵ); cùng về nước với Bác có đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Đặng Văn Cáp và Thế An.

Nơi Bác đặt chân đầu tiên khi trở về là Pác Bó, Pác Bó có nghĩa là đầu nguồn nước, nơi ấy có dòng suối lớn, nước trong vắt, thoát ra từ hang núi đá lớn, Bác đặt tên là suối Lê – Nin. Hang đá Bác ở là một ngọn núi đá cao, Bác đặt tên là núi Các Mác. Ngày đầu tiên đồng chí Lê Quảng Ba đưa ông Ké (“ông ké”- theo tiếng địa phương có nghĩa là cụ già – là cách gọi Bác Hồ một cách thân thiện của người dân Pác Bó) về nghỉ tại nhà ông Lý Quốc Súng dân tộc Nùng. Nhà có hai gian cũ và làm thêm một gian mới để đón khách, khách và chủ cùng quây quần bên mân cơm ngày Tết của gia đình họ Lý. Sau bữa cơm chủ nhà đã thu xếp chỗ ăn ở và làm việc cho đoàn cán bộ nhưng ông Ké bảo Lê Quảng Ba: Ta có nhiều người, ở lại nhà ông Lý làm phiền chủ nhà quá, thôi nên dứt khoát “sáu sán” thôi.

Sáng sớm hôm sau ông Lý dẫn ông Ké và mấy anh em cán bộ lên hang Pác Bó. Trước cảnh sắc một sáng xuân của Tổ quốc Bác ngâm khe khẽ bài thơ mới sáng tác:

Non xa xa nước xa xa
Nào phải thêng thang mới gọi là
Đây suối Lê – nin kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà

Trong bối cảnh cuộc sống còn gian khó, đất nước sống dưới ách áp bức của các thế lực thực dân phong kiến, nhưng ở mảnh đất Pác Bó người dân Cao Bằng đã gíac ngộ hướng về cách mạng và bảo vệ cách mạng. Tại Pác Bó Bác tự sắp xếp nơi nằm nghỉ, chỗ nấu cơm, nơi câu cá lúc nhàn rỗi, chỗ đun nước uống mà chè là lá cây ổi, kê bàn đá mộc mạc tự nhiên để dịch lịch sử cách mạng Liên Xô làm tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng… Từ đó ở khu Pác Bó có một ông Ké mặc bộ quần áo chàm, quần sắn cao, tay cầm gậy, dáng đi nhanh nhẹn nhưng ưng dung, thoải mái vui vẻ tiếp các cán bộ về thỉnh thị và báo cáo. Bác hoà mình vào hoàn cảnh mới hết sức tự nhiên, tâm hồn của Bác luôn ung dung lạc quan, với cuộc sống gian khó mà Bác vẫn có những vần thơ bất hủ.

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang

 Khi về Pác Bó, Bác đã mở nhiều lớp đào tạo huấn luyện cán bộ, gắn họat động cách mạng với thực tiễn tại cơ sở, tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh, các Hội cứu quốc các giới do 43 cán bộ đã được huấn luyện làm chủ chốt, mở rộng tổ chức ra các xã, châu Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình hoạt động rất có kết quả, từ kết quả này đồng chí Vũ Anh triệu tập hội nghị tổng kết thí điểm tại Coọc Mu (Hà Quảng) vào tháng 4/1941 đó là những thực tế sinh động cho nội dung Hội nghị Trung ương lần thứ 8.

Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An bên bàn đá tại
khu di tích lịch sử Pác Bó

Ở hang Pác Bó hơn một tháng Bác cho cán bộ chuyển cơ quan sang lán Khuổi Nặm (suối nước), địa điển này tiện lợi đi lại không phải lội qua suối, nếu có động dễ thoát nhanh chóng. Tại đây Bác lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản trịêu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, Hội nghị khai mạc sáng 10/05/1941, Hội nghị đã đề ra chủ trương, nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là Hội nghị có tầm quan trọng lịch sử, quyết định đường lối chính sách của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn dân, đề ra chủ trương tổ chức Việt Nam Độc Lập đồng Minh, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Sau Hội nghị Bác tự tay thảo ra bức thư ”Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào, toàn dân đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đây phong trào cách mạng ngày càng lan rộng trong chiến khu Việt Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ dân tộc ta liên tiếp giành được thắng lợi vẻ vang trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

(Nguồn: www.caobang.gov.vn)

Bác Hồ làm gì trong mồng 1 Tết Độc lập đầu tiên?

Ngày 2/2/1946 ứng vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất, Tết Độc lập đầu tiên. Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký của Bác viết: “Sáng dậy sớm, chưa tới giờ làm việc Bác đã bảo lấy giấy ra khai bút…

4.1Bác Hồ làm gì trong mồng 1 Tết Độc lập đầu tiên

Bác đọc cho viết: Hôm nay là mồng Một Tết, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà… và cuối thư có mấy câu thơ kèm theo cả khẩu hiệu: “Trong năm Bính Tuất mới/ Muôn việc đều tiến tới/ Kiến quốc mau thành công/ Kháng chiến mau thắng lợi!/ Việt Nam độc lập muôn năm”.

“Thư chúc mừng năm mới” được đăng toàn văn trên báo Cứu Quốc (ra vào ngày mồng 3 Tết) trong đó còn kêu gọi: “Trong khi đồng bào ở hậu phương đốt hương trầm để thờ phụng Tổ tiên, thì các chiến sĩ ở tiền phương dùng súng đạn để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào ở hậu phương rót rượu mừng xuân, thì các chiến sĩ ở tiền phương tuốt gươm giết giặc… Chúng ta quyết không để cho bọn thực dân trở lại đè nén chúng ta”.

Cũng dịp này nhân báo “Quốc gia”, cơ quan của một số trí thức Hà Nội ra số Xuân, Bác gửi thơ mừng: “Tết này mới thật Tết dân ta/ Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia/ Độc lập đầy vơi ba chén rượu/ Tự do vàng đỏ một rừng hoa/ Muôn nhà chào đón xuân Dân chủ/ Cả nước vui chung phúc Cộng hoà/ Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc/ Những người chiến sĩ ở phương xa”. Và trong thơ gửi báo “Tiếng gọi phụ nữ” Bác cũng nhấn mạnh: “Năm mới Bính Tuất/ Phụ nữ đồng bào/ Phải gắng làm sao/ Gây “Đời sống mới”…”.

Gặp Chủ tịch Uỷ ban Hà Nội Trần Duy Hưng đến chúc Tết, vị Chủ tịch nước thuật lại câu chuyện đi thăm một số gia đình nghèo đêm 30 Tết và nhắc nhở lãnh đạo thành phố cùng các đoàn thể và các nhà hảo tâm phải lo cái Tết cho người nghèo đều được hưởng Tết đầu tiên nước nhà độc lập.

Sau đó Bác ghé thăm đồn Cảnh sát Hàng Trống và đến Nhà Hát lớn Thành phố để chúc Tết đồng bào và đọc lời “Chúc mừng năm mới”. Buổi trưa Bác ăn Tết cùng anh em Vệ Quốc đoàn ở Bắc Bộ Phủ.

Chiều, Bác thăm các nhà thương Đồn Thuỷ (nơi bệnh binh của Pháp đang điều trị), Phủ Doãn (vốn là bệnh viện “làm phúc” dành cho bệnh nhân nghèo) và đến ban quà Tết cho các cháu mồ côi trong Trại An Tư Viện và nhà Ấu Trĩ Viên.

X&N
Theo http://bee.net.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tết Quý Tỵ của Bác Hồ

9.1tet quy ti cua bac ho

Ngày 28 tháng 1 năm 1953 là ngày rằm tháng chạp năm Nhâm Thìn… 

Buổi sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và nói chuyện với Hội nghị Tổng kết Chiến dịch Tây Bắc. Chủ tịch nước “biểu dương bộ đội đã thấm nhuần quyết tâm của Trung ương Đảng, ra sức tiêu diệt nhiều sinh lực địch, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nghiêm khắc chỉ ra những khuyết điểm: “Cán bộ yêu thương chiến sĩ chưa đúng mức. Nhiều đơn vị thực hiện chưa đúng chính sách chiến lợi phẩm, sử dụng bừa bãi, không cân bằng, dân chủ, làm việc còn… quan liêu, đại khái”.

Chủ tịch nước mời đại biểu của Đại đoàn 308 Quân Tiên Phong – Đại đoàn đầu tiên được thành lập, từ tháng 8 năm 1949, mới 4 năm mà đã trưởng thành, lập công xuất sắc lên nhận phần thưởng, mỗi Trung đoàn của Đại đoàn là 25 Huy hiệu…

Ngày 22 tháng chạp năm Nhâm Thìn, tức ngày 6 tháng 2 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự khai mạc và nói chuyện với lớp chỉnh huấn cán bộ, Đảng, quân, dân, chính của các cơ quan Trung ương. Trong bài nói chuyện, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh đến những ưu điểm và khuyết điểm của các cán bộ Đảng và Chính phủ, trong đó có những quan điểm chưa đúng với tầng lớp trí thức…  28 tháng chạp, gần đến Tết Quý Tỵ, các báo trên khu vực Việt Bắc, khu 5, Nam Bộ… đã đăng “Thơ chúc Tết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Mừng năm Thìn vừa qua,
Mừng Xuân Tỵ đã tới.
Mừng phát động nông dân,
Mừng hậu phương phấn khởi.
Mừng tiền tuyến toàn quân,
Thi đua chiến thắng mới.
Mừng toàn dân kết đoàn
Mừng kháng chiến thắng lợi
Mừng năm mới nhiệm vụ mới
Lực lượng mới, thành công mới.
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,
Mừng phe dân chủ hòa bình thế giới!

Khoảng rằm tháng Giêng năm Quý Tỵ, trên Báo Cứu Quốc số 2282, ra vào cuối tháng 2 năm 1953, có bài viết “Động lực của cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ký bút danh Đ.X.Trung. Trong bài viết, Người giải thích: “Tùy theo tính chất cách mạng ở mỗi nước mà quyết định động lực của cách mạng. Tính chất của cách mạng nước ta là cách mạng dân chủ mới, cho nên động lực cách mạng của nước ta bao gồm: Giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc”.

Được báo cáo là đồng chí Vũ Kỳ đã dự chỉnh huấn xong, đang chờ nhiệm vụ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp đồng chí Vũ Kỳ, giao nhiệm vụ thành lập một Đội Thanh niên Xung phong mới, nhận sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Chính phủ, mà Chủ tịch nước là người chỉ đạo cụ thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh giao hạn “sau 1 tuần hoặc 10 ngày Đội trưởng Vũ Kỳ phải về báo cáo những việc đã làm với Chủ tịch nước”.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho Đội trưởng Vũ Kỳ, ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cấp một “giấy chứng minh” đánh máy, nội dung như sau:

Giấy chứng minh.

Đồng chí Vũ Kỳ, 30 tuổi, người cao 1 mét 56. Phụ trách Thanh niên Xung phong, được phép đi đến những nơi cần cho công việc.

Hồ Chí Minh”.

Tết năm ấy là một mùa Xuân mới với đồng chí Vũ Kỳ, một năm mới của Đội Thanh niên Xung phong mới.

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan
Theo Thanhtra.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Có một mùa xuân đặc biệt trong đời Bác Hồ

mx đặ biệt 1
Bà con Pác Bó, Cao Bằng vô cùng xúc động được gặp lại
Chủ tịch Hồ Chí Minh sau 20 năm xa cách (20-2-1961).

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây;
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay.

Lịch sử Đảng ta, lịch sử cách mạng Việt Nam còn ghi lại những sự kiện quan trọng gắn liền với hoạt động của Bác Hồ từ Xuân Tân Tỵ 1941 ở Pác Bó. Ngày 28-1-1941, Bác về đến Cao Bằng, chừng mươi ngày “ông Ké” sống với đồng chí, thăm, chúc Tết đồng bào, ngày 8-2-1941, trong sương giá buốt lạnh của miền núi đá biên cương, Người vào sống và làm việc trong hang Pác Bó. Núi rừng hoang vu, hang sâu ẩm ướt lạnh lẽo, hoạt động bí mật, sinh hoạt kham khổ, thiếu thốn “cháo bẹ, rau măng” nhưng tình cảm, ý chí khôi phục giang sơn đất nước giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu dân theo con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin của Bác thật nhiệt huyết và lãng mạn:

Non xa xa nước xa xa,
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà”.

Để “vạch con đường đánh Nhật, Tây”, cũng tại núi rừng Khuổi Nậm, Pác Bó, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8, họp từ ngày 15 đến 19-5-1941. Hội nghị này đã quyết định về đường lối, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạo bước chuyển cơ bản trong chuyển hướng chiến lược cách mạng, chuẩn bị lực lượng và phương pháp lãnh đạo toàn dân đấu tranh tiến tới cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc, sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, thống trị.

Vấn đề có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn vô cùng quan trọng, không chỉ ở thời kỳ Đảng hoạt động bí mật chưa lãnh đạo chính quyền mà vẫn có giá trị cho ngày nay là Bác Hồ đã truyền dạy cho cán bộ của Đảng những kinh nghiệm và bài học về phương pháp công tác, phương thức hoạt động cách mạng. Sự thật, đó chính là bàn chỉ nam, những vấn đề có tính nguyên tắc cho tổ chức và hoạt động của Đảng ta. Những điều to tát ấy lại được Bác truyền thụ cho cán bộ rất giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp trình độ, điều kiện hoạt động của cán bộ lúc bấy giờ. Bác đã chọn lúc hội nghị kết thúc, trước lúc chia tay các đồng chí Trung ương và Xứ ủy, bên bờ suối trong rừng Khuổi Nậm căn dặn mọi người về cơ sở hoạt động phải ghi nhớ bốn điều: Một là, đoàn kết thương yêu nhau, gắn bó mật thiết với dân. Hai là, giữ bí mật, giữ nghiêm kỷ luật. Ba là, phải hiểu sâu, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng theo đường lối, chủ trương của Đảng. Bốn là, thực hiện đúng phương pháp công tác: Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Bác Hồ của chúng ta đã trải 30 năm bôn ba ở nước ngoài để khi trở về đất nước, Người tiếp tục tạo ra những nhân tố để đưa cách mạng đến thành công. Chúng ta còn nhớ, từ năm 1925 Bác Hồ đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào yêu nước và phong trào công nhân. Người đã tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng đầu tiên ở nước ngoài và sau đó tiến tới thành lập các tổ chức cộng sản đầu tiên. Năm 1930, Người thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam và tổ chức hội nghị thành lập, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là nhân tố đầu tiên, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đó cũng là sáng tạo lớn đầu tiên của Bác. Phải đến hơn mười năm sau, tại Pác Bó, Cao Bằng, từ mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ đã thực hiện “ba sáng tạo” lớn tiếp theo sau khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ba sáng tạo lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ 1941 đến tháng 8 năm 1945 là: Sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất (thành lập Mặt trận Việt Minh); Sáng lập lực lượng vũ trang nhân dân (thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân); sáng lập chính quyền của nhân dân (Ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc).

Có thể nói, từ mùa Xuân ấy, xuân 1941, Bác về, Tổ quốc ta, dân tộc ta, Đảng ta do Bác trực tiếp chỉ đạo mới thật sự thực hiện được một chiến lược lớn là đặt cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đứng về phe Đồng minh chống phát-xít. Cũng từ Cao Bằng, cách mạng Việt Nam đã liên lạc với lực lượng Đồng minh. Từ khi Cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta đứng về phe Đồng minh cũng đã được sự ủng hộ của phe Đồng minh. Đó là cơ sở thực tế và pháp lý quốc tế quan trọng để đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tuyên ngôn thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định và tuyên bố trước toàn thế giới: Một dân tộc gan góc chống xâm lược mấy mươi năm và đã đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc ấy phải được tự do, dân tộc ấy phải được độc lập.

Vậy là, từ mùa Xuân năm 1941, Cao Bằng có vinh dự được đón Bác Hồ sau 30 năm Người ra đi tìm đường cứu nước trở về, được Bác chọn làm căn cứ địa cách mạng đầu tiên, cho đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và tiếp tục mở đường đi tới những thắng lợi huy hoàng cho cách mạng Việt Nam. Cao Bằng là nơi hiện thực hóa những tư tưởng chiến lược về cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ mùa Xuân ấy, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do Bác Hồ trực tiếp lãnh đạo đã chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu. Để rồi đến mùa Xuân 1975 hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, là mùa Xuân vĩnh hằng của dân tộc ta.

Theo Baomoi.com
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và mùa xuân cách mạng 72 năm trước (*)

Tháng 10-1938, Bác Hồ từ Nga trở lại Trung Quốc. Giữa năm 1940, xe tăng của phát xít Hit-le tràn vào Pa-ri, và ngày 20-6-1940, nước Pháp đầu hàng. Đang ở Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Bác chủ trương chuyển hướng hoạt động đến biên giới Việt – Trung, rồi về hẳn trong nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Trưa ngày 8-2-1941, đồng chí Vũ Anh ra đón Bác ở chân một ngọn núi đá cạnh mấy đám ruộng vừa mới gặt xong. Mặt trời đã ngả sang chiều thì Bác và các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Thế An, Đặng Văn Cáp đã về bên này cột mốc biên giới. Khi đến cột mốc 108 – cột mốc bằng đá như một tấm bia, hai mặt có khắc chữ Trung Quốc và chữ Pháp – Bác dừng lại, cúi đọc những chữ khắc sâu trong đá, rồi hướng tầm mắt nhìn vọng hồi lâu tới dải đất Tổ quốc trùng điệp.

Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, qua nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, Bác Hồ về Tổ quốc vào mùa Xuân Tân Tỵ 1941.

Khi ra đi từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Bác 21 tuổi, đến khi trở về 51 tuổi, tóc đã hoa râm, song tầm vóc chính trị vượt xa các nhà lãnh đạo cách mạng ở trong nước lúc bấy giờ.

Pác Bó thay mặt Đất Mẹ, đón người con vĩ đại nhất của dân tộc, sau 30 năm xa cách, lần đầu tiên vui Xuân trên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc.

“Ôi sáng Xuân nay, Xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về…Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”

                                     (Tố Hữu)

Pác Bó là nơi đặt chân đầu tiên của Bác khi về nước, và sau đó vẫn là nơi đóng cơ quan của Bác cho đến lúc Bác chuyển về Tân Trào (4 tháng 5 năm 1945).

Pác Bó là một bản nhỏ thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nằm sát biên giới Việt – Trung, cách thị xã Cao Bằng gần 60 km. Nhân dân trong vùng chủ yếu là người Nùng.

Tài sản của Bác sau bao nhiêu năm đi khắp năm châu bốn biển, giờ đây vẫn chỉ một chiếc va-li con, trong đựng một ít tài liệu quan trọng và một chiếc máy chữ của các đồng chí trong nước gửi cho trước đây.

Trong sương giá lạnh của miền núi đá biên cương, Bác sống và làm việc trong hang Pác Bó. Trong hang, có dòng suối chảy về xuôi và dãy núi đá xanh. Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đó đã được Bác thể hiện trong bài thơ “Pác Bó hùng vĩ”:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”.

Từ suối Lê-nin, từ núi Mác, ánh sáng cách mạng đã tỏa rộng muôn nơi…

Câu đối dưới đây Bác làm ngay trong rừng sâu Pác Bó đã nói lên mong muốn và quyết tâm của Bác đối với dân, với nước từ những ngày đầy gian khó:

– Nước mới quyết làm cho nước mới
– Non sông Hồng Lạc gấm thêu hoa. (1)

Ở Pác Bó, cuộc sống tuy vô cùng khó khăn, kham khổ, nhưng Bác vẫn ung dung, thanh thản, luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của cách mạng:

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

Tư thế của nhà thơ là tư thế đứng trên đầu mọi gian khó, hiểm nguy. Bài thơ đã làm sống lại cuộc đời của một nhà hoạt động chính trị bí mật trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước. Năm 1961, về thăm lại Pác Bó, Bác xúc động cảm tác:

“Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật Tây;
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”

Bài thơ bốn câu ngắn gọn đã phác họa con đường lịch sử 20 năm của dân tộc.

Cũng chính tại Pác Bó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (từ 10 đến 19-5-1941) do Bác triệu tập và chủ trì, họp ở rừng Khuổi Nậm, đã nhận định thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để tập hợp lực lượng toàn dân. Hội nghị đã hoàn chỉnh đường lối cứu nước giải phóng dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Rõ ràng, Bác Hồ về Tổ quốc mùa Xuân 1941 là một sự kiện vô cùng quan trọng cho cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, năm 1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Mười ba năm sau, năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, dẫn tới Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương (20-7-1954). Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược từ ngày 23-9-1945 đã kết thúc. Hòa bình được lập lại trên miền Bắc nước ta. Ba mươi tư năm sau, năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một mùa Xuân vĩnh viễn cho đất nước.

NGUYỄN XUYẾN
thuathienhue.edu.vn

—————————

(*) Bìa viết này được đăng vào năm 2011 nên Vkyno xin sửa lại tiêu đề cho phù hợp với hiệu niên

Bác với Đảng – Những mùa xuân ghi nhớ

Xây dựng ĐảngSau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều, và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Mỗi độ Xuân về, mỗi người Việt Nam lại bồi hồi nhớ lời Bác Hồ dặn về “Chào Xuân”:

Năm cũ lịch cũ vừa qua,
Năm mới lịch mới lại tới!

Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều, và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khi. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa Xuân, mà lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày Xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm, nên tục ngữ có câu “nhất niên chi kế, thi ư Xuân” (suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân). Cũng vì thế cho nên năm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ, sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân.

Với ý nghĩa của ngày Xuân như vậy, Bác đã đưa đến cho Đảng ta cuộc đời gắn với mùa Xuân: Ngày Xuân 3-2-1930, Bác đã sáng lập Đảng ta. Và sau đó vài ngày (khoảng từ ngày 5 đến ngày 8), Bác đã “đãi” một bữa cơm Tết Nguyên đán vừa tiết kiệm, vừa linh đình để chúc mừng ngày Đảng chào đời. Bắt đầu từ Xuân và mãi mãi về sau, cứ mùa Xuân đến là mùa Xuân mừng Đảng ra đời, là mùa Xuân để Đảng sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm.

Và từ khi về nước (28-1-1941) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, cứu dân, cứ ngày Xuân đến, Bác Hồ đã đưa đến cho toàn dân hưởng cảnh Xuân vui vẻ, đón Xuân, mừng Xuân bằng những lời chúc Xuân ấm áp, mang nặng nghĩa “Xuân sinh” và đặc biệt mang đến cho mọi người “kế hoạch hoạt động và sống còn” cho cuộc sống. Mùa xuân 1942, Bác Hồ đã đưa đến cho toàn dân cảnh đón Xuân, mừng Xuân, vui với Xuân với những lời thơ chúc Tết đầu tiên của Người:

Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi,
Năm cũ qua rồi, chúc năm mới.
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong,
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi.
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt minh ta càng lấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm này,
Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!
Năm nay là năm rấtt vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới “.

Và cũng mùa Xuân này, Bác Hồ đã chỉ rõ bổn phận của người dân Việt Nam qua cuốn “Lịch sử nước ta” mà Bác viết cho dân, cho nước vào tháng 2-1942:

“Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hoà…
Trên vì nước, dưới vì nhà,
ấy là sự nghiệp, ấy là công danh”…

Ngày 6-1-1946, ngày quốc dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hội đầu tiên của nước nhà, Bác Hồ – lãnh tụ của Đảng, lãnh tụ tối cao của dân tộc đã trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,4%. Đó là Xuân “đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ”; là Xuân “đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dựng quyền dân chủ của mình”; là Xuân “mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

Đúng vào lúc giao thừa của Tết cổ truyền dân tộc năm 1947 – Tết đầu tiên sau khi nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược theo lời hiệu triệu “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, lần đầu tiên nhân dân ta được trực tiếp nghe lời chúc Tết của Bác Hồ trên Đài Tiếng nói Việt Nam đặt tại chùa Trầm huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, nay là tỉnh Hà Tây, vào lúc gần 24 giờ ngày 21-1-1947 (tức ngày 30 Tết Nguyên đán) :

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy núi sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng,
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông,
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập nhất định thành công”.

Mùa Xuân năm 1951, Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II. Đó là Đại hội:

“- Xây dựng một Đảng Lao động Việt Nam rất mạnh mẽ,
– Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
– Xây dựng Việt Nam dân chủ mới
– Góp sức vào việc giữ gìn dân chủ thế giới và hoà bình lâu dài”.

Bằng sức mạnh của dân tộc, đất nước trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Xuân 1960, Xuân “mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh. Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ”- Xuân cho ta niềm tự hào lớn lao về Đảng, như Bác Hồ đã nói tại lễ kỷ niệm Đảng 30 tuổi:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình
Đảng ta là đạo đức là văn minh,
Là thống nhất độc lập, là hoà bình ấm no”.

Và bắt đầu từ Xuân này, nhân dân ta thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược trên đất nước Việt Nam, như Bác Hồ đã có thơ chúc Tết:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên.
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Xuân Mậu Thân năm 1968, đã đi vào lịch sử, đó là mùa Xuân Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân dân miền Nam tạo ra một bước ngoặt lịch sử trong cuộc chiến tranh, buộc địch phải lùi vào chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường. Cuộc Tổng tiến công này là bước tập dượt cho cuộc Tổng tiến công toàn thắng mùa Xuân năm 1975. Vì thế, đất nước vào Xuân 1968 với khí thế như Bác Hồ đã có thơ chúc Tết:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên !
Toàn thắng ắt về ta”.

Cuộc tổng tiến công của quân dân miền Nam, với chiến dịch mang tên người anh hùng dân tộc vĩ đại Hồ Chí Minh, mùa Xuân 1975, đã đánh bại đế quốc Mỹ, đưa giang sơn Việt Nam thu về một mối, cả nước chung sức chung lòng bảo vệ nền độc lập thống nhất và đi lên CNXH. Như lời chúc Tết của Bác Hồ năm 1969:

‘Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn”.

Mùa Xuân năm 2000, đó là mùa Xuân cuối cùng của thế kỷ XX, thế kỷ mà với dân tộc Việt Nam, đất nước Việt nam dưới sự dẫn dắt của người anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; đó là mùa Xuân, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh kỷ niệm 70 tuổi, tổng kết đợt 1 của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thật sự là Đảng cầm quyền, tiếp tục lãnh đạo dân tộc, đất nước và cùng với đất nước, dân tộc bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ mà đất nước đã độc lập thống nhất, đi vào xây dựng cơ đồ Việt Nam đàng hoàng, to đẹp và văn minh.

Xuân 2001, mùa Xuân Đảng ta tiến hành Đại hội IX – Đại hội phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; Xuân cả nước một lòng vượt qua khó khăn, tất cả để năm đầu tiên của thế kỷ mới với Nghị quyết IX của Đảng soi sáng sẽ giành thắng lợi to lớn và toàn diện. Xuân đầu tiên Đảng, dân tộc thực hiện hành trang mà Bác Hồ chuẩn bị cho mọi người làm hành trình đi trong thế kỷ mới “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Tới Xuân 2006, Đảng ta tiến hành Đại hội X – Đại hội đánh dấu thời điểm có ý nghĩa trọng đại: đất nước đã qua 5 năm đầu tiền của thế kỷ XXI thực hiện đường mối đổi mới; Xuân thứ 60, nhân dân ta hưởng dụng quyền dân chủ và quyền lợi của một người dân độc lập, tự do.

Năm 2010 đã đi qua, năm mà đảng ta kỷ niệm nhiều sự kiện trọng đại của đất nước: kỷ niệm 80 năm ra đời và trưởng thành của Đảng, 1000 năm Thăng Long đông đô Hà Nội, 35 năm giải phóng miền nam thống nhất đất nước, 120 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, năm 5 học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người,…Trong niềm vui hân hoan đó, nhân dân trong cả nước ra sức thi đua lao động xây dựng đất nước tiến lên theo con đường CNXH mà Bác và Đảng đã vạch ra.

Chỉ còn không ít giờ nũa, một mùa xuân mới lại về. Xuân mới, lịch mới năm 2011 này, Đảng ta “sắp đặt và lên kế hoạch hoạt động cho cả năm” mà mở đầu là diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (01/2011), kỷ niệm 81 năm thành lập Đảng (03/02/1930-3/02/2011), năm đầu tiên của thập kỷ thứ hai giai đoạn 2010-2020…những kế hoạch trên một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, tinh thần chiến đấu của nhân dân ta vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc; giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, niềm tự hào dân tộc đã tạo nên bởi những mùa Xuân dựng nước, giữ nước. Để Xuân Tân Mão này – năm bản lề của giai đoạn phát triển kinh tế 2010-2020 và cũng là năm Đảng ta kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của trong hoàn cảnh đất nước đang không ngừng đổi mới, đang phấn đấu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; lại thêm một năm chí Đảng đã quyết, lòng dân đã đồng, kiên quyết, kiên trì tiêu diệt “giặc nội xâm”, “giặc quốc nạn”, “giặc trong lòng”, loại giặc quan liêu, tham nhũng, lãng phí ở bộ phận người có chức, có quyền đã biến chất đang làm băng hoại đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống nhân văn của dân tộc, đang là thách thức lớn nhất của công cuộc đổi mới đất nước, làm mất thanh danh uy tín của Đảng, Nhà nước, làm xói mòn lòng tin của dân chúng vào Đảng, là nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ ta. Vì vậy, bước vào mùa Xuân 2011 này, chúng ta như được thúc giục bởi lời chúc Xuân Mậu Thân 1968 của Bác Hồ:

“Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta”./.

Bá Dương
busta.vn

Những bài thơ xuân của Bác Hồ 40 năm về trước

Người là niềm tin tất thắng    Thơ Xuân là một phần “đặc biệt” trong thơ của Bác Hồ. Đặc biệt bởi lời thơ ngắn gọn, ngôn từ và cách diễn đạt dễ hiểu như lời Người tâm sự, đó là: Mấy lời thân ái nôm na, Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân. Đặc biệt bởi lối viết nôm na, kêu gọi ấy, trong mỗi câu, mỗi bài đều chan chứa ý thơ, tràn đầy sắc xuân, vừa độc đáo, hào hùng, vừa ấm áp thương yêu. Hơn thế, đó không chỉ vì thơ, vì Tết, vì xuân, mà là truyền thống của dân tộc, là tình cảm, là tấm lòng, là món quà đầu năm mới Người gửi tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước, là những định hướng chiến lược, là những lời đúc kết, đánh giá những thắng lợi trong năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ của năm tới, là những lời động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để xây dựng quê hương, đất nước…

     Xuân này, chúng ta kỷ niệm bốn mươi xuân – Xuân Bác Hồ viết nhiều thơ xuân nhất (1968 -2008). Điều đặc biệt là chùm thơ xuân ngày ấy (gồm 6 bài) được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968. Có thể nói, đây là một trong những thời điểm đặc biệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, thời điểm mà sự vươn lên của mỗi con người, mỗi chiến công, mỗi khoảng đất của Tổ quốc, mỗi bước đi của thời gian đang dần trở thành lịch sử, thành hùng văn về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam.

     Tháng 12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và thế giới, đã quyết định mở đợt Tổng tiến công và nổi dây Tết Mậu Thân (1968).

     Tinh thần và quyết tâm của Bộ Chính trị chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền tới đồng bào và chiến sĩ cả nước qua thư Chúc mừng năm mới, ngày 1 thăng 1 năm 1968. Sau khi điểm lại những thắng lợi của quân và dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc trong năm 1967, Người chỉ rõ “Sang năm nay, bọn Mỹ xâm lược ngày càng bị động, càng lúng túng, quân và dân ta thừa thắng xông lên, nhất định giành được nhiều thắng lơi to lớn hơn nữa”. Cuối thư, Người chúc đồng bào và chiến sĩ cả nước bằng bằng những vần thơ xuân quen thuộc:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

     Thật tài tình! Chỉ với một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, vừa ngắn gọn, dễ hiểu, Bác Hồ đã cho chúng ta cả một bài ca chiến thắng, một dự đoán thiên tài về sự tất thắng của quân và dân ta trong trận đánh lịch sử mừng xuân này. Điệp khúc “thắng trận”, “toàn thắng” vừa động viên khích lệ, vừa thôi thúc lòng người, dục giã mỗi bước chúng ta đi. Ở câu cuối, sự đột ngột ngắt câu, chuyển dòng, lời thơ như một mệnh lệnh để cả dân tộc muôn người như một, cùng hăng hái tiến lên, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược… Vâng lời Bác, toàn dân ta đã cùng lên đường ra trận, quyết chiến đấu và chiến thắng.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi sát và động viên kịp thời từng chiến công của quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy giữa mùa xuân ấy. Đặc biệt ở Huế, ngay từ đêm 31-1-1968, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đồng loạt tiến công vào 40 mục tiêu địch trong nội và ngoại thành phố Huế, thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi… Ngay trong những ngày sôi động ấy, Người đã gửi thư khen thành tích chiến đấu của quân và dân Huế đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi. Khi được tin, tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ – trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân được giao nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy cánh Nam, tham gia chuyển thương binh và tiếp đạn – khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, đã xin được trang bị vũ khí, tiếp tục chiến đấu và đã chiến đấu vô cùng anh dũng cảm, đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, Bác Hồ đã gửi thư khen và tặng 11cô gái sông Hương bài thơ:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái,
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.

     Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là những bông hoa thơm dâng Bác, làm xúc động lòng Người. Và, giữa mùa xuân chiến thắng ấy, Người đã mượn cái cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” với vần “thắng” bất ngờ và thú vị, gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

“Đã lâu chưa làm bài thơ nào,
Đến nay thử làm xem ra sao.
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy,
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

     Bài thơ đã nhanh chóng lan xa và làm xúc động lòng người. Nhà thơ Chế Lan Viên đã kể về niềm sung sướng, hạnh phúc khi được nghe bài thơ xuân “độc đáo” này: “Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Pari năm 1968, khi bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong diễn văn của mình đã đọc một bài thơ tứ tuyệt của Bác thì cả hội trường trí thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy đã ràn rụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết nhường nào…”.

     Tin thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dây đồng loạt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam càng khẳng định sức mạnh lớn của quân dân ta trong những thử thách vô cùng quyết liệt của cuộc chiến đấu có một không hai này. Còn có công việc nào trọng đại hơn công việc đánh giặc giữ nước và niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa xuân này, Bác viết bài thơ bằng chữ Hán “Mậu Thân Xuân tiết” (Tết Mậu Thân):

“Tháng tư hoa nở một vườn đây,
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

     Hoà cùng niềm vui chiến thắng chung của dân tộc trong mùa xuân chiến thắng ấy, Bác Hồ cũng góp thêm một “chiến công” thầm lặng của mình. Đó là, từ năm 1966, khi sức khoẻ của Bác Hồ đã suy giảm nhiều so với những năm trước, thấy Người ho nhiều, để giữ gìn sức khoẻ cho Người, các bác sĩ đã đề nghị “hai chớ” (chớ hút thuốc, chớ uống rượu). Về chuyện này, theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ, Bác Hồ tâm sự, nếu bỏ được thì tốt, nhưng vì Bác đã hút thuốc lá đã nhiều năm, nên đó là một việc không dễ, và Người đề nghị: các chú phải giúp Bác bỏ tật xấu này. Sau đó, Bác Hồ định ra kế hoạch bỏ thuốc lá, rồi nghiêm túc thực hiện. Người giao thuốc cho đồng chí giúp việc quản lý, mỗi ngày chỉ hút ba lần và hút giảm dần: tuần đầu mỗi lần hút 2/3 điếu, tuần thứ hai hút 1/2 điếu, tuần thứ ba hút 1/3 điếu, tuần thứ tư chỉ một vài hơi. Người bỏ luôn cả cà phê sáng và nhờ đồng chí thư ký uống hộ. Người bảo: cà phê ngon, nhưng uống thì Bác lại nhớ thuốc lá. Khi bỏ thuốc, Người cũng thôi uống rượu.

      Vui niềm vui của riêng mình, giữa mùa xuân chiến thắng ấy, Bác Hồ đã “tự mình đề thơ làm chứng” về quá trình rèn luyện này. Đó là bài Nhị vật bằng chữ Hán:

“Thuốc không, rượu chẳng có mừng xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân,
Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần” .

     Từ bỏ một thói quen đã lâu năm mà nỗi nhớ đi cả vào trong mộng thì quả là bỏ không phải là điều dễ dàng. Nhưng, Người đã quyết tâm và thực hiện thành công. Đó là kết quả của ý chí và sự kiên trì. Và niềm vui phấn chấn tinh thần ấy lại được Người viết tiếp trong bài thơ “Vô đề” bằng chữ Hán:

“Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân” .

      Xuân này, đọc lại những vần thơ xuân của Bác Hồ 40 xuân trước càng thấy rõ hơn những lời tâm tình trong thơ Bác vừa tràn ngập sắc xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: ý chí cách mạng tiến công. Tinh thần ấy, ý chí ấy đã giúp Người vượt lên những hạn chế của tuổi tác, giữ được sự hài hoà giữa vật chất và tinh thần, chan hoà và gắn bó làm một với phong trào cách mạng, với cuộc sống mới đang dựng xây và phát triến của non sông đất nước.

     Vui đón Xuân về, đọc lại những vần thơ xuân của Bác để nhớ mãi ơn Người, nguyện học tập và làm theo lời Người để mỗi cuộc đời mãi mãi: Một năm là cả bốn mùa xuân!

T.s. Chu Đức Tính
Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

lichsuvietnam.vn