Thư viện

Bác Hồ với thực hành tiết kiệm trong dịp Tết

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm và đề cao tiết kiệm. Người thường dùng hình ảnh “Sản xuất mà không tiết kiệm như gió vào nhà trống”. Người đặc biệt chú trọng kêu gọi, nhắc nhở cán bộ và nhân dân thực hành tiết kiệm trong dịp Tết.

Vào dịp sắp Tết Nguyên đán năm Ất Mùi, ngày 5-2-1955, Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua sản xuất tiết kiệm mùa xuân, gửi đồng bào và cán bộ các địa phương. Bác chỉ rõ hòa bình đã trở lại miền Bắc, nhiều nơi đang chuẩn bị giảm tô và cải cách ruộng đất, đó là những điều kiện để phát triển nông nghiệp.

Song khó khăn vẫn còn nhiều như hạn hán, sâu bọ, ruộng bị bỏ hoang, công trình thủy lợi bị hư hỏng. Vì vậy, Bác Hồ kêu gọi “Ra sức thi đua trong mùa xuân này” thực hiện 6 nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ tiết kiệm về mọi mặt.

Trong lời kêu gọi đồng bào tăng gia sản xuất và tiết kiệm, vào dịp Tết Đinh Dậu (1957), Bác viết: “Tôi thân ái chúc đồng bào và cán bộ vui vẻ ăn Tết trong phong trào thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm”.

Đầu năm 1958, Bác về tham gia chống hạn ở xã Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội. Khi ấy còn 1 tháng 10 ngày nữa mới đến Tết Nguyên đán (Mậu Tuất 1958), tại buổi nói chuyện với nhân dân trong xã, Bác góp ý: “Năm ngoái bà con ăn Tết mổ lợn, mổ bò… rồi thiếu trâu bò cày. Đấy là chưa kể rước sách linh đình, đồng bóng bói toán thật là lãng phí, ảnh hưởng không tốt đến thuần phong mỹ tục. Năm nay nhất định sửa. Tết năm nay phải là Tết vui vẻ, lành mạnh, tiết kiệm”.

Bác Hồ về thăm lại đồng bào Păc Bó - Cao Bằng, năm 1961Bác Hồ về thăm lại đồng bào Păc Bó – Cao Bằng, năm 1961

Vào dịp Tết, Bác thường xuống cơ sở để thăm tình hình nhân dân ăn Tết. Sáng 28 tháng Chạp năm Bính Thân, nghĩa là chỉ còn 2 ngày nữa là Tết Đinh Dậu (1957), Bác tiếp đoàn đại biểu xã Nhật Tân (Từ Liêm, Hà Nội) đến chúc Tết Bác và biếu Bác cây đào để đón xuân. Bác hỏi tình hình đón Tết của đồng bào.

Đồng chí Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chính xã thưa với Bác rằng, Tết năm ngoái nhân dân toàn xã ăn Tết rất phấn khởi, Tết năm nay còn phấn khởi hơn vì cải cách ruộng đất đã thắng lợi, nhân dân đã thực sự làm chủ ruộng đất nên đã chủ động chung nhau lợn, trâu, bò để mổ ăn Tết. Nghe vậy, Bác không vui và ân cần căn dặn: “Các chú tổ chức cho nhân dân ăn Tết phấn khởi đấy, nhưng phải nhớ tiết kiệm.Vì đất nước còn nghèo, lại vừa trải qua chiến tranh, còn phải làm nhiều việc lớn hơn”. Những người có mặt lúc đó đều thấm thía lời dạy của Bác. Mấy ngày sau, câu chuyện được gặp Bác và những lời cặn dặn của Người được các vị cao niên trong đoàn đại biểu kể lại cho dân làng nghe tại sân đình các thôn trong xã. Tết năm sau (1958) cả xã không còn mổ trâu bò ăn Tết nữa.

Bác Hồ không chỉ khuyên nhủ đồng bào ăn Tết Nguyên đán tiết kiệm, chính Người là tấm gương sáng. Nhân dân ta còn nhớ mùa xuân cuối cùng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Bác về trồng cây trên đồi Đồng Váng, thôn Yên Hồ, xã Vật Lại (Sơn Tây – Hà Nội ngày nay). Trước khi đi, Bác nhắc nhở các đồng chí phục vụ mang theo cơm nước. Bác cùng đồng bào và cán bộ trồng cây xong, lúc ấy gần 12 giờ trưa. Bác mời đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Chủ tịch tỉnh Hà Tây cùng Bác ăn Tết ngay trên chiếc chiếu trải trên đồi. Bữa cơm thân mật Bác cùng khách thưởng thức thật đơn giản, có bánh chưng, giò với dưa hành, canh nóng đựng trong phích. Hôm ấy là ngày mùng 1 Tết Kỷ Dậu 1969.

Ngày nay, mức sống của nhân dân ta đã được nâng lên rất nhiều, một cái Tết “to” cách đây nửa thế kỷ trước so với bây giờ thì quá bình thường, nhưng những lời căn dặn của Bác “Ăn Tết tiết kiệm” vẫn còn giữ nguyên giá trị giáo dục và có ý nghĩa biết bao trong bối cảnh hiện nay…

P.V (Tổng hợp)
baokhanhhoa.com.vn

Bác Hồ và ba mùa xuân đáng nhớ

(BNS) Trong những năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, Bác Hồ từng đón xuân ở nhiều nước như: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan… Trong đó, có ba mùa xuân đáng nhớ, đánh dấu những mốc quan trọng trên hành trình tìm đường cứu nước của Người và của cách mạng nước ta.

XUÂN 1930, XUÂN KHỞI ĐẦU CỦA ĐẢNG

Bác Hồ chúc TếtĐầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Thái Lan thì được tin Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội bị tan rã. Người lập tức từ Thái Lan về Trung Quốc để chuẩn bị việc hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến Thượng Hải, Người tìm gặp đồng chí Nguyễn Lương Bằng và một số đồng chí Việt Nam khác để tìm hiểu kỹ tình hình trong nước. Người cũng đã tìm cách liên lạc với các cơ quan của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hồng Kông, gặp các đồng chí Nhiêu Vệ Hoa, Lý Phú Xuân và Thái Sướng… để tham khảo ý kiến.

Để giữ bí mật, khi bàn bạc việc chuẩn bị hội nghị, Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Việt Nam lúc giả đánh “mạt chược” ở khách sạn, khi vờ xem đá bóng ở sân vận động. Sau những buổi bàn luận kỹ càng, Người đã quyết định triệu tập Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Nhận được tin, các đoàn đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và của An Nam Cộng sản Đảng lần lượt đến Hồng Kông vào những ngày giáp Tết. Hội nghị bắt đầu ngày mùng năm Tết Canh Ngọ (tức ngày 3-2-1930), khi không khí Tết ở Hồng Kông còn rộn ràng.

Sau năm ngày thảo luận sôi nổi và khẩn trương, hội nghị đã nhất trí tán thành hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Trước đây, các tổ chức này đã nhiều lần gặp nhau bàn việc hợp nhất, nhưng không thành vì có những ý kiến khác nhau và thiếu người có đủ uy tín đứng ra chủ trì. Hội nghị cũng đã nhất trí thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như một đại hội thành lập Đảng. Sự nhất trí cao và nhanh chóng của hội nghị là nhờ vào vai trò lãnh đạo, hướng dẫn của Nguyễn Ái Quốc. Nhờ uy tín và công lao to lớn của Người, Đảng ta đã ra đời, đảm nhận sứ mệnh cao cả và thiêng liêng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi.

Dịp này, để mừng Đảng ra đời và mừng xuân, Người đã đãi các đồng chí dự họp một bữa cơm Tết Nguyên đán trong không khí ấm tình đồng chí, đồng bào.
Tin mừng về việc thành lập Đảng làm cho nhân dân ta vô cùng phấn khởi, từ đó đồng tâm nhất trí đưa cách mạng vượt mọi thác ghềnh, không ngừng tiến lên.

XUÂN 1933: XUÂN HƯƠNG CẢNG THOÁT KHỎI NGỤC TÙ

Tháng 6-1931, Nguyễn Ái Quốc lúc đó lấy tên là Tống Văn Sơ, bị cảnh sát Anh bắt tại số nhà 186 phố Tam Lung (Cửu Long) và giam ở nhà tù của thực dân Anh ở Hồng Kông. Được tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, thực dân Pháp ở Việt Nam rất vui mừng. Chúng phái cả bầy mật thám sang chầu chực ở Hồng Kông, tìm mọi cách vận động chính phủ, tòa án và cảnh sát Anh trao Nguyễn Ái Quốc cho chúng. Chúng đưa tàu thủy chực sẵn ở Hồng Kông, nếu tòa án Anh ký lệnh “trục xuất” là chúng bắt ngay Nguyễn Ái Quốc và đưa về Việt Nam.

Nhưng thực dân Pháp đã thất bại, Nguyễn Ái Quốc đã được Lô-dơ-bai, một luật sư người Anh có thiện tâm, tìm mọi cách giúp đỡ. Qua Lô-dơ-bai, Người đã tiếp bà Xten-la Ben-xơn, một nhà hoạt động văn học và sân khấu, vợ của Phó thống đốc Hồng Kông. Cảm phục về thái độ và trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc, bà đã yêu cầu chồng mình giúp đỡ Người.

Từ tháng 6 đến tháng 9-1931, tòa án họp chín phiên, vẫn quyết định đuổi Bác về Đông Dương. Luật sư Lô-dơ-bai chống án lên Hội đồng nhà vua Anh và nhờ luật sư Nô-oen Pơ-rit (Nowell’Pritt) ở Luân Đôn cãi hộ cho Nguyễn Ái Quốc.

Khoảng cuối tháng 1-1933, gần Tết Âm lịch, Hội đồng Nhà vua xóa án và ra lệnh cho phép Nguyễn Ái Quốc tự do, miễn là ra khỏi Hồng Kông.

Với sự giúp đỡ của Lô-dơ-bai và của vợ chồng Phó thống đốc Hồng Kông, Người đã rời Hồng Kông một cách an toàn. Đúng ngày 30 tháng Chạp năm Nhâm Thân (tức ngày 25-1-1933), Người đến Hạ Môn (Trung Quốc) nơi mà lãnh sự Anh và lãnh sự Pháp không có quyền can thiệp.

Tức tối vì không bắt được Nguyễn Ái Quốc, giận dữ đối với người Anh, các báo thực dân Pháp bịa đặt rằng, Nguyễn Ái Quốc mắc bệnh lao trong nhà lao Anh và đã chết (!).

Việc Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nhà tù của thực dân Anh là niềm vui, sự may mắn rất lớn cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta biết rằng, tháng 11-1929, thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn đã xử Nguyễn Ái Quốc vắng mặt với mức án tử hình. Chúng chỉ chờ bắt được Người là thi hành án. Thực dân Pháp cũng đã treo giải thưởng 75 ngàn đồng tiền Đông Dương (một số tiền rất lớn hồi đó) cho ai bắt được Người (1).

Thoát khỏi cảnh tù ngục, nhận lời mời của đồng chí và bầu bạn, Người đã lưu lại Hạ Môn nhiều tháng, vừa tìm cách bắt liên lạc với tổ chức, vừa tránh sự theo dõi của mật thám. Sau đó Người đi Thượng Hải.

Vào một ngày đầu xuân năm 1934, Người lên một chiếc tàu hàng Xô Viết ở Thượng Hải để đi Liên Xô. Sau khi tới cảng Vla-đi-vô-xtôc (Liên Xô), Người đến Mát-xcơ-va. Tại đây, Người đã gặp lại đông đảo đồng chí, bạn bè thân thiết trong niềm vui lớn.

XUÂN 1941: TỔ QUỐC VÀO XUÂN

Lúc còn ở Quế Lâm (năm 1940), Nguyễn Ái Quốc đã nhận định rằng thời cơ về nước đã tới. Đến cuối năm đó, Người cùng một số cán bộ Việt Nam rời Quế Lâm, đến Nam Ninh rồi đến Tỉnh Tây. Tại đây, Người đã cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên… mở lớp huấn luyện cán bộ trước khi về nước. Bốn mươi ba cán bộ cách mạng Việt Nam đã theo học lớp này tại làng Nậm Quang (Tỉnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Ngày 29 tháng Chạp năm Canh Thìn (tức ngày 26-1-1941), lớp học làm lễ bế mạc dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, trong khu rừng vắng vẻ rìa làng Nậm Quang. Hôm sau, ngày mùng một Tết Tân Tỵ, Nguyễn Ái Quốc cùng với anh em cán bộ đi chúc Tết bà con dân làng Nậm Quang.

Ngày mùng Hai tháng Giêng âm lịch, giữa lúc nhân dân Nậm Quang và khắp nơi đang vui vẻ ăn Tết thì Người lên đường trở về nước, với sự tháp tùng của các đồng chí: Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác. Đồng chí Lê Quảng Ba, trong bài viết “Bác Hồ về nước” kể: “Chúng tôi ăn cơm sớm đi chào bà con rồi lên đường”.

“Trong bộ quần áo chàm Nùng, Bác như gầy hơn. Ngước nhìn gương mặt sạm sương gió của Người, tôi thấy một dáng vẻ ung dung, điềm tĩnh rất thân quen. Tôi dẫn Bác theo những vệt đường mòn lượn giữa các nếp núi tiếp nối nhau ở vùng biên giới hướng về Cao Bằng. Bác cầm một cây gậy nhỏ, nhưng chỉ khi xuống dốc Bác mới chống. Chân Bác bước mau lẹ, dẻo như thanh niên”.

Hồi ký của T.Lan cũng kể lại tâm trạng của Nguyễn Ái Quốc lúc đó: “Xa rời Tổ quốc đã hơn 30 năm, đã mất bao nhiêu thời giờ và sức lực tìm liên lạc mà không được. Bao nhiêu năm thương nhớ đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động…” (2).

Sau đó ít ngày, Người đến ở hang Pắc Bó, với bí danh già Thu. Cũng trong mùa xuân này, Người đã sáng tác bài thơ tả cảnh Pắc Bó hùng vĩ:

Non xa xa, nước xa xa,
Nào phải thênh thang mới gọi là…
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Cũng tại đây, Người tiếp tục dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga ra tiếng Việt, để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Người cũng đã sáng tác bài thơ Tức cảnh Pắc Bó:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Tháng 5-1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đã xác định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương. Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi, lấy tên là Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng dân tộc và sinh tồn.

Với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, cách mạng Việt Nam chuyển hẳn sang một thời kỳ mới. Hơn 4 năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cũng chính từ đó, Tổ quốc ta bước vào một mùa Xuân mới – Xuân của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – từ sức xuân truyền thống của mình.

(Sưu tầm tài liệu và biên soạn theo “Chuyện xưa góp nhặt” của Nguyễn Trọng Thu – cán bộ tiền khởi nghĩa)
(1) Một tạ gạo chỉ 3 đồng
(2) T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, NXB Sự Thật, Hà Nội, tr 73

ĐOÀN MINH TUẤN
congan.com.vn

Tết kháng chiến

Năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước sang năm thứ hai. Trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc năm ấy, Bác Hồ kính yêu vẫn làm việc như mọi ngày và vẫn ăn ngày hai bữa cơm độn sắn như những bữa bình thường của một gia đình nông dân nghèo Việt Nam.

Đêm cuối năm, trời se se lạnh, mưa phùn không ngớt. Sáng ngày 30 Tết, Bác vẫn tranh thủ thời gian ngồi đọc tài liệu. Buổi chiều Bác đi họp Hội đồng Chính phủ. Sau khi họp xong, Bác lên ô tô đi đến Đài phát thanh để kịp đọc lời chúc mừng năm mới gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài.

Lúc bấy giờ, Đài Tiếng nói Việt Nam sơ tán về ở chùa Trầm thuộc tỉnh Hà Đông (nay là thành phố Hà Nội). Trời tối, gió rét, đường lầy lội, nhưng không quản vất vả, khó khăn Bác vẫn quyết tâm đi đến Đài kịp trước giao thừa. Có lúc xe của Bác bánh bị ngập bùn quá nửa, đi không được, phải xuống đẩy.

Đến gần 12 giờ đêm, trong lúc mọi nhà chuẩn bị đón giao thừa, mừng năm mới, đang quây quần sum họp bên bàn thờ tổ tiên, thì Bác cũng vừa đi đến Đài phát thanh. Bác vui vẻ thăm hỏi mọi người rồi đi thẳng đến Đài đọc lời chúc mừng năm mới. Giọng của Bác âm vang, qua làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam được truyền đến mọi nhà, mọi người.

Sau khi đọc xong, Bác Hồ lên xe trở về nhà. Xe chạy được một quãng cách chỗ ở 2 km thì bị tụt xuống hố, không chạy được nữa. Bác và anh em cùng nhau phải đi bộ dưới trời mua rét của đêm 30 Tết năm ấy.

Đến gần 3 giờ sáng, ngày mồng 1 Tết, Bác mới về đến nơi ở. Lúc bấy giờ thôn xóm đã im lìm trong đêm đầu năm.

Rửa chân tay xong, Bác cùng đồng chí giúp việc chưa đi ngủ mà còn giở cuốn sách của một nhà văn nổi tiếng của Pháp ra đọc.

Khoảng gần 5 giờ sáng ngày mồng một, lúc thôn xóm còn tĩnh mịch đã lên đèn, khói bếp các nhà đã lan tỏa, hòa vào sương sớm, Bác Hồ mới tắt đèn để lên giường nghỉ.

Đến 6 giờ 30 phút sáng, Bác lại trở đậy để làm việc như thường ngày.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Tết đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Năm 1941, sau 30 năm trời xa Tổ quốc để tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào, Bác Hồ bí mật trở về Pắc Bó (Cao Bằng) để trực tiếp cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

Bác Hồ về nước (28/1/1941)

Bác Hồ về Pắc Bó vào một ngày gần Tết. Và có lẽ đó là một trong những Tết đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Bởi vì, đây là lần đầu tiên sau những năm tháng ở nước ngoài, Bác Hồ được đón giao thừa trên mảnh đất của Tổ quốc, tuy còn gian khổ, khó khăn, nhưng ấm tình dân tộc, nghĩa đồng bào.

Vào dịp đón xuân mới năm 1961, TLan đã viết một bài báo nhan đề: “Bác ăn Tết với chúng tôi” kể về cái Tết năm 1941 như sau:

“Lớp huấn luyện vừa xong thì cũng vừa đến ngày Tết. Nhân lúc đi lấy củi trên rừng, Bác bàn với chúng tôi (trước khi làm việc gì, Bác cũng đưa ra bàn để chúng tôi phát biểu ý kiến).

– Dù chúng ta rất ít tiền, nhưng cũng phải “nhập gia tùy tục”. Đến Tết; chúng ta nên có một cuộc chiêu đãi đơn giản để tỏ lòng biết ơn người làng đã giúp đỡ chúng ta. Các chú nghĩ thế nào?

Chúng tôi đều tán thành ý kiến của Bác.

Sáng 30 Tết, chúng tôi làm mấy mâm cơm nếp và thịt lợn mời các vị phụ lão và những người tai mắt trong làng đến chén một bữa vui vẻ.

Để khỏi chạm với phong tục mê tín của dân làng, Bác dặn chúng tôi: “Mồng một Tết các chú phải ở trong nhà, không được đi ra ngoài. Nếu các chủ nhà mời ăn Tết, thì mỗi tổ cử một vài người đi thôi…”

Chúng tôi vào làng mượn rơm, mượn ván đế tổ chức “đại bản doanh” trong hang. Bác và các anh tổ trưởng thì bàn kế hoạch công tác. Tối hôm đó, trong lúc đồng bào đang vui Tết, chúng tôi từng nhóm bí mật về các địa phương bắt đầu hoạt động.

Các anh Quảng Ba và Hoàng Sâm ở lại Pắc Bó với Bác. Chỉ trong vài tuần chúng tôi đã xây dựng được một số cơ sở Việt Minh và trở về Pắc Bó báo cáo xin kế hoạch mới.

Từ đó, phong trào phát triển rất nhanh, chẳng bao lâu tổ chức Việt Minh đã xây dựng được nhiều căn cứ vững chắc của cách mạng. Cách một năm sau, tổ chức Việt Minh đã có khắp tỉnh Cao Bằng và lan đến các tỉnh lân cận. Chúng tôi lại được ăn Tết với Bác ở Pắc Bó, một cái Tết rất là vui vẻ.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Nhớ bài thơ chúc Tết Mậu Thân 1968 của Bác Hồ

(VOH) – Trong không khí ấm áp, hân hoan chào đón Tết cổ truyền dân tộc – Xuân Quý Tỵ 2013 cũng là thời điểm toàn Đảng, toàn dân kỷ niệm 45 năm Tết Mậu Thân 1968, quân và dân miền Nam đồng loạt tấn công Mỹ nguỵ ở các đô thị trong vùng bị địch còn tạm chiếm. Nhớ lại cách đây 45 năm trong đêm giao thừa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc Tết đồng bào chiến sĩ cả nước bằng bốn câu thơ:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta

Bác Hồ đọc thơ chúc tết. (ảnh tư liệu)

Sau lời chúc Tết, Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời đưa tin đồng bào, chiến sĩ miền Nam mở đợt tấn công vào kẻ thù ở nhiều nơi…Đồng chí Vũ Kỳ – thư ký riêng của Bác kể lại rằng, Bác đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước. Sáng chủ nhật 31/12/1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc tết vừa để Bác nghe, vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 01/01/1968, Bác gửi Thư chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác gửi lời chúc mừng đến các nước XHCN anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!. Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước luôn khăc ghi mãi lời Bác, Đại tá Đặng Xuân Tẻo, nguyên Chính trị viên Đội 4 – biệt động Sài gòn – đơn vị được giao nhiệm vụ đánh chiếm Đài Phát thanh Sài gòn năm 1968 nhớ lại:

Khi ấy Bác đang nghe qua Đài Tiếng nói VN,và khi đài phát xong câu cuối Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!, Bác nói khẽ: Giờ này, miền Nam đang nổ súng! Và Bác đã chỉ ra kẻ thù số một của dân tộc Lạc Hồng là đế quốc Mỹ trong khi chúng cố đưa quân ào ạt vào miền Nam, đánh phá bằng không quân ra miền Bắc XHCN…

Nếu mừng xuân của Bác trong năm 1968 là lời chúc đầu năm mới mang tính khẳng định lại nét truyền thống trên chiến trường chống Mỹ, Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua; thì đến tháng 3 năm 1968 Bác viết bài Không đề với tâm trạng rạo rực tin vui của một thi nhân.

Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào
Tiến lên !Chiến sỹ đồng bào
Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn…..

Những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ trong mỗi dịp Tết đều toát lên tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta trong một giai đoạn lịch sử, đặc biệt là năm Bác mừng xuân mới. Những vần thơ trong thư chúc Tết, được Bác tổng quát hoá tư tưởng lớn với ngôn ngữ giản dị, trong sáng tiếng Việt. Bà Lê Thị Thanh Hải, nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh – người chuyên nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh bày tỏ suy nghĩ của mình :

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy và truyền đi khắp mọi miền đất nước. Tinh thần mạnh mẽ của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam..Xuân Quý Tỵ 2013 đã đến, hòa chung không khí đón xuân mới và kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chúng ta được sống lại không khí hào hùng của dân tộc “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta” trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước; đồng bào và chiến sỹ ta lại được tận hưởng tư tưởng, tình cảm cao đẹp của Bác Hồ yêu nước, yêu dân, tin dân, tin cách mạng, tin vào thắng lợi qua những vần thơ Tết Xuân Mậu Thân, cho ta soi mình vào tâm đức tổ tiên, và ra sức học tập và làm theo tấm gương phong cách, đạo đức của Người. Đây chính là suy nghĩ của ông Kiều Bình Chung, Phó Bí thư thường trực quận ủy Tân Bình khi nghĩ về bài thơ chúc Tết Mậu thân 1968 của Bác kính yêu :

Thành Sang
voh.com.vn

Thơ chúc Tết của Bác – quà quý đầu xuân

(Chinhphu.vn) – Đã từ lâu, lặng đi trong thời khắc Giao thừa để lắng nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ đã trở thành tục lệ của đồng bào ta. Từ các cụ già râu tóc bạc phơ đến bầy em nhỏ, tất cả đều cảm thấy lòng lắng dịu khi nghe giọng nói ấm áp, thiết tha của Người đọc thơ chúc Tết.

Ảnh tư liệu

Và cả khi Người không còn nữa, Tết đến mọi nhà vẫn ước mong:

Bác ơi!
Tết đến. Giao thừa đó
Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần
Ríu rít đàn em vui pháo nổ
Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân …
(Tố Hữu)

Đúng vậy, có một món quà luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tặng đồng bào mình vào mỗi dịp Tết cổ truyền, đó là những bài thơ chúc Tết giản dị nhưng rất đỗi thân thương của Người. Có lẽ Người là vị lãnh tụ của một đất nước duy nhất trên thế giới thường xuyên có thơ Xuân, thơ chúc Tết vào mỗi dịp Tết cổ truyền của dân tộc.

Kể từ bài thơ chúc Tết đầu tiên khi Người trở về nước sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước năm 1942 cho đến lúc ra đi, Người đã viết hơn 20 bài thơ chúc Tết. Dễ nhớ, dễ thuộc là điều dễ nhận thấy trong các bài thơ chúc Tết của Người, nhưng điều khiến cho mỗi bài thơ Tết của Bác trở nên đặc biệt hơn những lời chúc Tết thông thường là bởi đó không chỉ là tấm lòng của Bác với nhân dân, đất nước mà còn là lời hiệu triệu, cổ vũ, động viên và cả sự tiên đoán thần kỳ tiền đồ tươi sáng của cách mạng. Mỗi bài thơ không chỉ là sự tổng kết thành quả của cách mạng trong năm cũ mà còn là chỉ dẫn cho những chặng đường tiếp theo của cách mạng.

Một nhà cách mạng Cuba đã từng nói: Bác Hồ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chính bằng thơ.

Trong 24 năm làm Chủ tịch nước, thường trước Tết 3 tháng, Bác đã nhắc nhở các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng chuẩn bị từ rất sớm: tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới. Những bản thảo còn lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy, viết mỗi bài thơ Người cũng dày công và kỹ lưỡng như thế nào. Có thể vì thế, những bài thơ chúc Tết của Người luôn vượt qua khuôn khổ những bài thơ chúc Tết đơn thuần.

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên… một loạt các sự kiện ghi dấu son lịch sử đã mang đến cho nhân dân cả nước một mùa xuân đầy hào khí của bài ca thắng lợi. Trong cái Tết đặc biệt này, Bác Hồ đã viết 3 bài thơ Xuân chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước, đó là các bài: Chúc Tết Bính Tuất – 1946,Mừng báo Quốc gia và Gửi chị em phụ nữ xuân Bính Tuất.

Lần đầu tiên nhân dân cả nước được hưởng một mùa xuân mới sau bao nhiêu năm đất nước chìm trong đêm trường nô lệ. Bác khẳng định:

Tết này mới thực Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba chén rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa
Mọi nhà vui đón Xuân Dân chủ
Cả nước hoan nghênh phúc Cộng hòa.

Từ năm 1945 đến năm 1954, thời kỳ “Toàn quốc kháng chiến – toàn diện kháng chiến”, trong mỗi bài thơ chúc Tết của Bác, chúng ta đều như nhìn thấy, nghe thấy diễn biến của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ, tràn đầy hào khí của dân tộc. Điều này có thể nhận thấy được ở thơ chúc Tết xuân Đinh Hợi – 1947:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Tháng 12/1967, Bác Hồ chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích tình hình, quyết định mở đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968, để giành thắng lợi quyết định.

Ảnh tư liệu

Năm 1968, Bác Hồ viết nhiều thơ xuân nhất. Điều đặc biệt là chùm thơ xuân gồm 6 bài được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là nguồn thi hứng dạt dào với Người. Giữa mùa Xuân chiến thắng ấy, Người mượn cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ, là thư ký của Người, chép bài thơ Không đề gửi một đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào
Đến nay thử làm xem ra sao
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao.

Chỉ một vần “thắng”, mãnh liệt và truyền cảm, câu thơ đã đem đến niềm xúc động cho bao người, những người chiến sĩ, những đồng bào đang một lòng hướng tới miền Nam thân yêu, ruột thịt.

Vần “thắng” của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Năm 1969, sức khỏe Bác giảm sút nhiều nhưng Bác vẫn làm thơ chúc Tết và cũng là bài thơ chúc Tết Bác tự đọc – món quà cuối cùng cũng là lời tiên đoán thần kỳ về con đường giải phóng đất nước trước lúc Bác đi xa.

Hơn 6 năm sau bài thơ Chúc Tết năm 1969, ngày 30/4/1975, những lời tiên đoán của Bác về một mùa Xuân đại thắng đã trở thành sự thật. Thành quả cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc đã không nằm ngoài sự tiên đoán trong bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người, đó là khi Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!

Nguyễn Chiến
chinhphu.vn

Thơ Bác gọi xuân sang

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ đã viết: “Từ ngày đất nước có Cụ Hồ làm Chủ tịch, dân tộc Việt Nam có thêm một phong tục mới, mỗi lần Xuân đến. Đó là giao thừa đón nghe lời Bác đọc Thơ Xuân!”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội.Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội.

Từ xưa, trong truyền thống văn hoá của dân tộc mình, mỗi dịp tiễn đưa năm cũ, đón chào năm mới, các cụ ta thường làm thơ khai bút, hoặc viết những bài thơ, những câu đối để mừng Xuân, đón Tết!

Việt Nam là một dân tộc yêu thơ ca. Những đỉnh cao văn hoá của chúng ta cũng là những tác phẩm của các nhà thơ nổi tiếng: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu… Nhà thơ Huy Cận đã viết: “Tháng ngày con mẹ lớn khôn. Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha”. Thơ ca là tâm hồn dân tộc, và Bác Hồ kính yêu của chúng ta là người đã phát huy truyền thống văn hoá ấy, sáng tạo ra một loại thơ Chúc Tết, sáng tạo ra một phong tục mới đầy thi vị, gắn bó cả dân tộc trong giờ phút đón chào năm mới!

Chúc mừng năm mới, có lẽ là phong tục tập quán của nhiều dân tộc. Nhưng chúc mừng năm mới bằng một bài thơ, đó là nét độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong giờ phút giao thừa thiêng liêng, năm cũ đã qua, năm mới đang đến, đất trời giao cảm, muôn vật như ngưng đọng lại trong giây phút, trong lòng mỗi người như cũng đang chờ đón những điều tốt lành, những ước mơ, hy vọng. Ai cũng mong muốn cho gia đình mình, cho đất nước mình, năm mới cố gắng mới, thắng lợi mới, mong muốn cho xuân này hơn hẳn những xuân qua. Thì chính trong cái giờ phút rạo rực, thiêng liêng ấy, nhân dân cả nước ta lại hồi hộp đón chờ và sung sướng lắng nghe lời thơ của Bác chúc Tết đồng bào.

Thơ Chúc Tết của Bác Hồ thường ngắn gọn, súc tích, mang phong vị của thể thơ truyền thống. Bác tổng kết những thắng lợi của năm cũ và nêu lên nhiệm vụ của năm mới, tuy vậy những bài thơ Chúc Tết thường cũng chỉ có từ 4 đến 10 dòng. Bác viết bằng một thứ ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, song vẫn chan chứa những ý thơ và tràn đầy những cảm hứng lớn lao của lịch sử.

Mùa xuân 1941, Bác Hồ trở về Pác Bó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và bài thơ “Mừng Xuân 1942” chính là bài thơ mở đầu cho những bài thơ Chúc Tết của Bác Hồ. Dấu ấn lịch sử của một thời còn ghi lại trong những vần thơ, hình ảnh cờ đỏ sao vàng và Việt Minh lần đầu xuất hiện trong thơ Bác: “… Chúc đồng bào ta đoàn kết mau. Chúc Việt Minh ta càng tiến tới. Chúc toàn quốc ta trong năm nay. Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới”.

Đến nay, Bác còn để lại cho chúng ta tất cả 22 bài thơ Chúc Tết. Bài nào Bác cũng chỉ viết từ 4 đến 10 câu. Nhân đón Xuân Quý Tỵ năm 2013, chúng ta cùng nhau đọc lại hai bài thơ Chúc Tết Năm Tỵ của Bác.

 Thơ Chúc Tết  Xuân Quý Tỵ 1953

Mừng năm Thìn vừa qua
Mừng Xuân Tỵ đã tới
Mừng phát động nông dân
Mừng hậu phương phấn khởi
Mừng tiền tuyến toàn quân
Thi đua chiến thắng mới
Mừng toàn dân kết đoàn
Mừng kháng chiến thắng lợi
Mừng năm mới nhiệm vụ mới
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào
Mừng phe dân chủ hoà bình thế giới  

                                         Hồ Chí Minh

Thơ Chúc Tết Xuân Ất Tỵ 1965

Chào mừng Ất Tỵ Xuân năm mới
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi
Đấu tranh anh dũng cả nước một lòng
Chủ nghĩa xã hội ngày càng thắng lợi
Hoà bình Thống nhất ắt hẳn thành công

                                                   Hồ Chí Minh

Những bài thơ Chúc Tết của Bác là tình cảm của Người gửi đến toàn dân. Đây cũng là những lời dặn dò, những ước mong của Bác trong không khí thiêng liêng của một năm mới đang đến. Và đó cũng chính là phong cách Hồ Chí Minh giản dị mà gần gũi, yêu dân và trọng dân. Người luôn đến với chúng ta trong mỗi căn nhà, trong mỗi trái tim Việt Nam.

Ăng-ghen đã nói: “Lịch sử là một nhà thơ lớn nhất”. Và nếu chúng ta đem xếp thứ tự những bài thơ Chúc Tết của Bác Hồ lại, thì đó cũng chính là một biên niên sử quan trọng nhất của Cách mạng Việt Nam.

Trong bài “Việt Nam mãi mãi có Người”, một nhà báo nước ngoài đã viết: “Tình yêu của nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu xa vô tận, và chúng ta có thể cảm thấy điều đó ở từng người Việt Nam”.

Mối liên hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước và đồng bào của mình là một mối liên hệ đặc biệt. Đó chính là niềm tin tưởng sắt đá, lòng biết ơn vô hạn, là sự kính trọng… nhưng trên tất cả, Bác Hồ là người Bác, người Ông thân thiết nhất của tất cả chúng ta!.

Nhà thơ Vũ Cao đã viết:

“Cho con ước tự bây giờ
Mỗi năm vào buổi giao thừa mỗi năm
Bác về cùng với nhân dân
Đọc Thơ Tết lấy một lần, hãy đi!”
Giờ phút Giao thừa đã đến!
Mừng năm Thìn vừa qua
Mừng Xuân Tỵ đã tới…

Chúng ta cảm thấy như Bác đang đọc Thơ Chúc mừng Năm Mới của Mùa Xuân này và Người lại đang cùng với nhân dân đi trồng cây làm cho đất nước càng ngày càng Xuân!

Bùi Công Bính
baonamdinh.com.vn

Những đêm giao thừa Bác đến với người nghèo

Xuân Tân Tỵ, năm 1941, Bác mới được đặt chân trở về giữa lòng Tổ quốc thân yêu sau đúng 30 năm trời ra đi tìm đường cứu nước (1911-1941). Hành trang theo Bác trở về vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ và tập tài liệu Con đường giải phóng tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm.

Tấm thiệp chúc tết cuối cùng của Bác Hồ

Mùa Xuân năm ấy, từ hang Pác Bó đã ra đời một bài thơ xuân tuyệt đẹp của Bác Hồ:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước với một sắc màu khác lạ làm gợi nhớ đến một thời Nghiêu Thuấn xa xưa. Vào thời khắc mọi gia đình quây quần bên nhau chuẩn bị đón giao thừa thì vị Chủ tịch nước xắn quần, bước thấp bước cao đến các ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, phố Hàng Lọng… để được chính mắt nhìn thấy cảnh Tết vừa, Tết nghèo của bà con lao động Hà Nội mới vừa thoát khỏi ách thực dân phong kiến.

Chính trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên đó, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết.

Cũng đêm Ba mươi Tết Bính Tuất đó, đúng giờ giao thừa, khi Đài Tiếng nói Việt Nam truyền khi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui Xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước, được hưởng một mùa Xuân mới mẻ, giao thừa nghe đọc thư chúc Tết của Bác Hồ:

“Hỡi đồng bào cả nước!

Hôm nay là mùng một Tết năm Bính Tuất, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào năm mới muôn sự tốt lành” .

Cuối thư là một bài thơ ngắn:

“Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc chóng thành công
Kháng chiến mau thắng lợi”

Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài.

Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội. Chiều mùng hai Tết năm 1961, Bác đến Văn Miếu dự buổi bình thơ Xuân của các cụ. Mùng hai Tết năm 1962, Bác đến thăm các cháu học sinh miền Nam ở Hải Phòng. Chiều 29 Tết năm 1963, Bác cải trang thành một cụ già theo cháu đi chợ hoa và chợ Đồng Xuân… Tất cả đều bí mật bất ngờ và do đó bao giờ cũng tạo hiệu quả lớn.

Như Tết năm 1960, nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đưa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác:

– Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm…

Chỉ nói được vậy, chị đã oà lên khóc nức nở.

Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị:

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”. Cách đây 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hoà bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta.

Vũ Kỳ – Thư ký Bác Hồ kể chuyện.
Việt Nam – Hồ Chí Minh

Bác Hồ chúc Tết những người con Đà Nẵng

Sinh thời, cứ mỗi độ Xuân về, Bác Hồ thường lặng lẽ đi thăm hoặc gửi quà Tết, thiệp Xuân đến nhiều cán bộ, nhân dân. Từng lá thư, từng cánh thiệp Xuân, từng câu đối… được Người gửi đi, như một lời động viên, khích lệ, cầu mong bao điều tốt đẹp cho mỗi người, dẫu họ là Bộ trưởng hay một thường dân. Nhân dịp Tết đến, Xuân về, chúng tôi xin giới thiệu một số thiệp chúc Tết của Bác dành cho những người con Đà Nẵng mà ít người được biết…

Chính phủ Cụ Hồ - ông Hiến (áo trắng ngồi ngoài cùng bên phải). 				Ảnh tư liệuChính phủ Cụ Hồ – ông Hiến (áo trắng ngồi ngoài cùng bên phải). Ảnh tư liệu

1. “Thân gửi ông Lê Văn Hiến!”

Tôi nhiều lần được gặp và làm việc cùng ông Phan Vịnh, anh trai ông Phan Diễn – nguyên Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, mỗi lần gặp, ông thường nhắc đến “bố tôi” và “ba tôi”. Ông gọi “ba tôi” là để chỉ ông Phan Thanh – dân biểu danh giá nhất Trung kỳ, là cha ruột của ông và ông Diễn; “bố tôi” là để chỉ ông Lê Văn Hiến – vị Bộ trưởng Bộ Tài chính lừng danh của cách mạng Việt Nam, người chưa từng qua một trường đại học nào. Và, ông Vịnh đã cho tôi xem nhiều di vật của “bố tôi” lẫn “ba tôi”, trong đó tôi chú ý đến tấm thiệp chúc Tết của Bác Hồ dành cho Bộ trưởng Hiến vào năm 1951.

Có lần, trong một bữa ăn tối sau phiên họp Hội đồng Chính phủ, Hồ Chủ tịch có ra một câu đối vui: “Giáp phải giải Pháp”. Ông Tôn Quang Phiệt liền đối lại “Hiến tài hái tiền”. Cái hay của câu đối không chỉ ở vần, ở chữ, hai chữ đầu nói lái sẽ ra hai chữ cuối, mà còn ở chỗ nói được hai nhiệm vụ quan trọng của cách mạng lúc đó là: Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp phải “giải giáp” quân Pháp; Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến phải “hái ra tiền” cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc! Trong suốt 12 năm liền (1946-1958), với cương vị là Bộ trưởng Tài chính, Lê Văn Hiến quả thật đã đạt được những thành quả đáng kinh ngạc cho nền tài chính non trẻ Việt Nam. Ông đã tổ chức phát hành “Giấy bạc cụ Hồ”, phát hành công phiếu kháng chiến, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hiện tiết kiệm gạo để nuôi quân… Chính ông là người có sáng kiến phát hành “Giấy bạc cụ Hồ”, đúc đồng bạc bằng vàng ròng, nhất là nêu danh bộ đội nào có chiến công oanh liệt vào serie giấy bạc đặc biệt, để phát hành trong toàn quốc… Vì vậy, nhân dịp Tết năm 1950, cụ Hồ đã gửi thiệp chúc mừng ông Hiến với nội dung sau: “Thân gửi ông Lê Văn Hiến – Bộ trưởng bộ Tài chánh. Chúc năm mới kháng chiến Thắng lợi, Tài chánh phát đạt”… Và, ông Hiến đã giữ nó như một báu vật của riêng mình. Hiện nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh đang lưu giữ, trưng bày tấm thiệp này.

2. Thân tặng chú Lang!

Tôi có may mắn được ông Nguyễn Văn Lang (tức Lang Đen) giao phó việc viết cuốn hồi ký “Một người Việt da đen” cho ông. Chàng “trung phong của đội bóng đá Đà Nẵng” và là “danh thủ bóng đá Trung kỳ” ngày ấy, sau này tập kết ra Bắc, được Đảng giao nhiều nhiệm vụ quan trọng: Giám đốc mỏ Apatite Lào Cai, Giám đốc mỏ than Hòn Gai… Nhiều lần được gặp Bác Hồ và rất được Người yêu mến!

Về lá thư và tấm thiệp Tết mà ông Lang được Bác Hồ tặng, được ông kể lại như sau: “Ngày 23-9-1958, Bác Hồ đến thăm mỏ Apatite Lào Cai. Sau khi thăm mỏ một vòng, Bác quay sang hỏi tôi: “Sau khi Bác thăm mỏ về, cháu sẽ làm những gì?”. “Thưa Bác, hôm nay Bác sẽ gặp cán bộ, công nhân viên khu mỏ và nhân dân các dân tộc xã Cam Đường, Bác sẽ có những lời chỉ bảo, từ lời dạy của Bác, cháu sẽ phát động phong trào thi đua làm theo lời Bác để hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 1958 này ạ!”. “Thế là tốt!”. “Đến lúc nào thì các cháu không cần mời chuyên gia nước ngoài nữa?”. “Thưa Bác, đến hết năm 1962, chúng cháu sẽ tự lực được!”. Thực hiện lời hứa với Bác, năm đó, chúng tôi vượt gấp hai lần kế hoạch được giao so với năm 1957. Tin vui đó đến với Bác, vì vậy, Tết năm 1959, Bác gửi cho chúng tôi một lá thư do Người tự tay viết: “Thân ái gửi công nhân và cán bộ Mỏ Apatite Lào Cai! Bác vui lòng khen các cô, các chú đã làm đúng lời hứa, đã thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch 100%. Mong các cô, các chú tiếp tục cố gắng hơn nữa, để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch năm nay. Bác hỏi thăm các đồng chí chuyên gia. Chúc các cô, các chú đoàn kết chặt chẽ và tiến bộ nhiều!”. Riêng tôi, Bác gửi tặng một tấm thiệp Xuân trên đó in hình một cành mai và ghi rõ “Thân tặng chú Lang! Bác Hồ”, tiếc thay tấm thiệp bị lạc mất cách đây vài năm. Đó là kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên được!”.

Một số thiệp chúc Tết của Bác Hồ. 							     Ảnh tư liệuMột số thiệp chúc Tết của Bác Hồ. Ảnh tư liệu

3. “Tặng cháu Lý!”

Còn nhớ, sắp Tết năm 1958, một cuộc chiến truyền thông vô tiền khoáng hậu đã nổ ra giữa chính quyền Hà Nội và chính quyền Ngô Đình Diệm, xung quanh việc chính quyền Diệm sử dụng những nhục hình thời trung cổ “điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung” đối với Trần Thị Lý.

Từ khi được giải thoát và đưa ra Hà Nội, Trần Thị Lý rất nhiều lần được gặp Bác Hồ. Tình cảm của Bác dành cho nữ Anh hùng Trần Thị Lý thì nhiều người đã biết song qua từng tấm thiệp Xuân mà Người “gửi cháu Lý”, được chị nâng niu như báu vật thì ít người biết đến. Trước khi qua đời tại Đà Nẵng, một lần chị Lý đã xúc động kể cho chúng tôi: “Tôi còn nhớ chiều Xuân 1968, tôi được vào thăm Bác. Các chú cho tôi đến trước giờ hẹn, Bác đang làm việc trên một chiếc bàn đơn sơ. Tôi rón rén lại, Bác bảo: “Lý đó à? Cháu chờ Bác làm việc xong, một lát thôi!”. Tôi thưa với Bác: “Thưa Bác, Bác làm việc nhiều quá. Tuổi Bác ngày càng cao, Bác giữ gìn sức khỏe để vào thăm đồng bào miền Nam!”. Bác xúc động nói: “Bác phải làm việc nhiều thì miền Nam mới mau thống nhất, Bác sẽ vui nhiều, khỏe nhiều!”. Lần gặp đó, tôi lại được Bác tặng chiếc thiệp Xuân này!”. Đó là tấm thiệp Xuân năm 1968 có in bài thơ “Xuân này, hơn hẳn mấy Xuân qua…”. Hiện nay, tại nhà riêng của chị Lý, còn lưu giữ 3 tấm thiệp chúc Tết của Bác Hồ dành cho chị vào các Tết 1967, 1968 và 1969.

Từ hiện thực cuộc sống hôm nay, từ những cánh thiệp Xuân, cùng phong cách bình dị, xuất phát từ trái tim và nhân cách lớn như Bác Hồ tặng cho những người con Đà Nẵng, mới hay rằng: Có một cách chúc Tết vừa đậm đà tính dân tộc, vừa thể hiện trọn vẹn tình yêu thương, sự giản dị, nghĩa tình sâu sắc của một nguyên thủ quốc gia dành cho mọi người.

LƯU ANH RÔ
baodanang.vn

Kỷ niệm đi chợ Tết cùng Bác Hồ của người cận vệ già

Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”.

Ông là Lê Minh Thưởng (SN 1940), ở xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Với ông, 10 năm được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ là quãng thời gian hạnh phúcvà thấy mình sống có ích nhất. Ông nói mình đã học được rất nhiều điều hay tốt đẹp từ vị cha già của dân tộc. Ông vẫn luôn tự hào khi kể cho con cháu nghe về công việc một thời gắn bó.

Hạnh phúc cả đời vì được bảo vệ Bác

Ấn tượng đầu tiên khi gặp ông là sự nhanh nhẹn, giọng nói to rõ ràng, phong thái khoẻ khoắn, dù đã vào tuổi “xưa nay hiếm”.

Ông Lê Minh Thưởng, người có quãng thời gian 10 năm làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có bố là đảng viên, anh trai là liệt sĩ từ thờikháng chiến chống Pháp, học xong cấp 2, năm 1958, chàng thanh niên Lê Minh Thưởng xin đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự nhưng không trúng. Năm 1959 ông được tuyển vào đội công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Tháng 4/1959 ông được triệu tập về học ở trường C500.

Tháng 4/1960 ra trường, ông nhận được quyết định về công tác ở Cục cảnh vệ (Cục cảnh vệ lúc đó có mật danh là K10) với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và công tác ở đó cho đến ngày Bác qua đời.

Khi được hỏi về thời gian tham gia bảo vệ Bác Hồ, ông Thưởng xua tay bảo: “Công lao gì đâu, tôi là người may mắn và hạnh phúc khi được Đảng và Nhà nước giao cho nhiệm vụ đó. Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước. Được làm công việc đó là hạnh phúc cả đời đối với tôi mà không có gì so sánh được”.

Bức hình ông Thưởng chụp lưu niệm với Bác và các các cán bộ lãnh đạo trung ương nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ mà ông xem là kỷ vật vô giá.

Vừa nói ông vừa dẫn chúng tôi vào gian phòng lưu niệm để giới thiệu về những kỷ vật vô giá mà ông còn cất giữ được. Trên gian tường là tấm hình ông chụp lưu niệm với Bác và các các cán bộ lãnh đạo trung ương nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ.

Ông chỉ tay giới thiệu tên từng người trong bức hình, Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa, ông Thưởng bế một cháu bé trong lòng ngồi bên phải Bác Hồ, rồi lần lượt xung quanh là các ông Nguyễn Chí Thanh, Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng, Tố Hữu, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Xuân Thuỷ, Vũ Kỳ, Trần Quốc Hoàn…

Vừa giới thiệu ông Thưởng vừa lấy tấm khăn bông lau tấm hình và nói: “Với tôi tấm hình này là vô giá. Dù có nghèo đói nhưng giả sử có người trả mua cả chục cây vàng tôi cũng không bán đâu”. Rồi ông rưng rưng hai hàng nước mắt như đang được sống lại giây phút được ngồi cạnh Bác để chụp hình.

Miền ký ức ùa về, ông Thưởng nhớ lại quãng thời gian 10 năm làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Năm 1960 ông được đưa về cục cảnh vệ, bảo vệ Đại hội Đảng lần thứ 3. Đến tháng 9/1960 ông được điều về bảo vệ Bác Hồ, ban đầu mới chỉ bảo vệ vòng ngoài, dần dần mới được tiếp xúc với Bác nhiều hơn.

Ông Thưởng đang chỉ vị trí mình ngồi trong tấm hình chụp cùng Bác và các vị lãnh đạo Trung ương thời ông còn làm nhiệm vụ bảo vệ Bác.

Ông nói: “Vào làm công việc ở đây không dễ, phải cần cù khiêm tốn, chịu khó và kỷ luật tốt. Bác đã từng nói với tôi rằng biết thì nói, không biết thì hỏi, đừng im lặng giấu dốt. Im lặng có thể là giấu dốt hoặc tự cao tự đại”.

Quãng thời gian 10 năm bảo vệ Bác, ông Thưởng đã có hàng trăm nghìn kỷ niệmvà câu chuyện về Bác. Ông nhớ lại, Tết năm 1964 đưa Bác đi chợ  Đồng Xuân, Bác gọi ông Hoàng Quốc Thịnh, Bộ trưởng Bộ nội thương đến báo cáo tình hình chuẩn bị nhân dân ăn tết và tình hình kinh tế-lương thực-thực phẩm của cả nước. Sau đó Bác gọi ông Trần Duy Hưng lúc đó là Chủ tịch UBND TP Hà Nội và hỏi “Các chú chuẩn bị ăn tết cho nhân dân thủ đô như thế nào?”.

Công việc xong xuôi, Bác nói mọi người cùng đi chợ Đồng Xuân sắm tết. Để không bị phát hiện, mọi người phải hóa trang cho Bác, và một người nữa giống như Bác, phòng trường hợp xấu có thể xảy ra. Ông Thưởng có nhiệm vụ đi xem đường trước. Hôm đó trời mưa, lúc vào chợ, Bác đi xem quầy lương thực, thực phẩm.

“Lại hàng thực phẩm tự do, Bác hỏi cô bán thịt 1 cân bao nhiêu tiền nhưng lại nói giọng Nghệ An. Cô bán thịt cứ nhìn chằm chằm vào mặt Bác vì nghe giọng nói trầm ấm quen quen. Nếu không có sự nhanh trí của đồng chí Phạm Lệ Ninh (Trưởng phòng bảo vệ Bác) thì chắc chắn Bác sẽ bị lộ, mà nếu biết Bác có mặt ở chợ thì khu chợ sẽ xôn xao lên mất. Lúc đó nhanh như chớp, đồng chí Ninh nhảy vào đứng che mặt Bác, đẩy Bác ra và vào hỏi lại bằng giọng Bắc. Thế là cô bán thịt không để ý nữa, thật là may”.

Đặc biệt là lần về Thanh Hoá. Lúc đầu Bác ngồi xe có kính đàng hoàng, nhưng sau Bác lại sang xe CTAL 69 (không có kính) ngồi. Lúc đó dân có mặt rất đông, người dân ùa vào mong được gặp Bác. Các chiến sĩ cảnh vệ có nhiệm vụ bảo vệBác phải nỗ lực giải quyết mãi mới được.

Đến khi Bác vào thăm xưởng sản xuất nông cụ Thanh Hoá, những công nhân làm việc tại đây khi biết Bác vào thăm, mặc dù quần áo đang bụi bẩn nhưng vì muốn được tận mắt thấy Bác, được nắm tay Bác nên đã bỏ dụng cụ làm việc chạy ào về phía Bác.

Những người đi theo bảo vệ Bác như ông Thưởng phải vô cùng vất vả mới đưa được Bác ra khỏi nơi ấy. Ông Thưởng còn vinh dự hàng chục lần được đi cùng Bác về các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An … công tác, rồi đi về các vùng nông thôn, cùng bà con tuốt lúa, cấy cày.

Niềm vui cuối đời của ông Thưởng là đọc báo…

Học tập tấm gương của Bác suốt đời

Trong thời gian 10 năm được gần gũi, bảo vệ Bác, những chuyện “quốc gia đại sự” ông không được biết. Nhưng trong đời thường ông đã được Bác dạy nhiều điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, không biết thì phải hỏi, đừng giấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”.

Sau khi Bác Hồ mất, ông Thưởng còn ở lại sửa sang mọi thứ ở phủ Chủ Tịch một năm. Sau đó ông được điều về công tác ở Cục Cảnh sát hình sự. Năm 1980, ông chuyển về phòng cảnh sát hình sự Nghệ Tĩnh với chức vụ Đội trưởng đội săn bắt cướp (SBC).

Công tác tại đơn vị này, ông Thưởng đã cùng đồng đội lập rất nhiều chiến công hiển hách, phá nhiều vụ án lớn, bắt những tên cướp nổi tiếng cả trong Nam ngoài Bắc như Phương trọc; Toọng (Trương Hiền), một tội phạm nổi tiếng ở thành Vinh nhiều lần qua mặt được các cơ quan công an; Nguyễn Đức Lợi, Đậu Kim Sơn, hai tên giang hồ khét tiếng; Sáu côi (tên thật là Thành), tên ăn cướp trên tàu hoả; Công Minh (trú tại Nghi Phú), chuyên ăn cướp đường dài, hoạt động rộng khắp cả nước… .

… và chăm sóc cây cảnh trong vườn nhà.

Năm 1990, ông Thưởng về nghỉ hưu với hàm Trung tá. Suốt cuộc đời hoạt động ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương cao quý như Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất. Đặc biệt quý giá hơn cả là tấm Huy hiệu Bác Hồ ông được chính tay Bác tặng năm 1968.

Nhưng phần thưởng cao quý nhất đối với ông chính là những bài học mà ông học được ở Bác trong 10 năm được gần Bác. Ông Thưởng cũng nhận ra nhiều thói quen của Bác, ví như trong tiệc tùng Bác không bao giờ uống bia rượu, những lúc tiếp khách Bác cũng nâng ly nhưng không uống. Những lúc đi công tác làm việc ở đâu, Bác không bao giờ cho phép tổ chức tiệc tùng đình đám, tránh lãng phí tiền của nhân dân.

Ông tâm sự: “Người là lãnh tụ, là kho tàng vĩ đại của dân tộc ta. Dù có học suốt đời cũng không thể thấm nhuần hết đạo đức của người”. Chính vì vậy mà dù trong lúc đang công tác hay lúc đã về hưu ông luôn định hướng cho thế hệ trẻ phải luônhọc tập và làm theo tấm gương của Bác.

Ngay ở trong gia đình mình, ông cũng luôn định hướng cho các con, cháu học tậpnhững công việc của Bác từ nhỏ. Thời gian rảnh rỗi, ông Thưởng lại gọi con cháu tụ họp lại để kể những câu chuyện những việc làm bình dị của Bác để các con các cháu học tập.

Ông Thưởng bên người vợ yêu quý của mình.

Giờ đây, khi đã tuổi cao sức yếu nhưng ông Thưởng vẫn chăm chỉ làm việc. Thú vui tuổi già của ông là chăm sóc những cây cảnh, đọc báo xem tin tức hàng ngày. Nhìn vườn nhà ông, nhiều người không khỏi trầm trồ khen ngợi, dưới bàn tay của ông, cây cảnh đâm chồi nảy lộc mơn mởn. Đặc biệt là gia đình ông đang sở hữu 5 cây thị di sản được xem là đồ gia bảo của dòng họ.

Tính đến tết Quý Tỵ này, ông Lê Minh Thưởng đã bước qua 73 mùa xuân. Trong quãng thời gian đó, ông có quyền tự hào về mình vì đã cống hiến rất nhiều cho xã hội, đất nước.

PHẠM HÒA
Theo Infonet

news.zing.vn

Nơi Bác Hồ đến chúc Tết Độc lập đầu tiên

Năm 1946, Hà Nội, Tết Độc lập đầu tiên, vừa qua 80 năm nô lệ, tủi nhục, đói nghèo….Lại cùng mới thoát khỏi nạn đói, lụt năm rồi. Lại còn nạn “Tàu Vàng” quân Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch, xác xơ rách nát, ăn vạ, ăn cắp định chây lỳ…Và tiếng súng “Nam bộ kháng chiến” đã nổ, báo cho một tình huấn khó có thể tránh được, cả nước phải đi vào cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ.

noi

Là người cầm lái con thuyền cách mạng,  là Chủ tịch nước, Bác muốn thông qua Hà Nội, tiếp xúc với những người dân chân thật nhất – không phải ai đó bố trí, giới thiệu – để hiểu dân “ăn Tết” thế nào? Đối với Chính phủ ra sao? Bác mời Chủ tịch thành phố Hà Nội là bác sĩ Trần Duy Hưng, mà không yêu cầu cán bộ Thành ủy cùng đi. Bác sĩ Trần Duy Hưng, một thầy thuốc, huynh trưởng hướng đạo sinh, người đã kề cận bên Bác nhiều năm, đã được Bác gọi đùa là “Bác gái HỒ CHÍ MINH”…

Đêm 30 ấy, Hà Nội mưa lất phất và rét, cái rét cuối Đông, đầu Xuân rất Hà Nội… đồng chí lái xe và bảo vệ đưa “Bác gái” và Chủ tịch nước đến phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến),  một phố “ văn hóa ca trù”,  nôm na dân gọi là phố “cô đào hát”, “cô đầu”, với tên gọi thời Pháp thuộc là phố Khâm Thiên ….Bác xuống xe bảo tắt đèn đi rồi tìm đường đi vào ngõ Hàng Đũa. Ngõ này, nay vẫn còn. Năm ấy, mặt đường nhấp nhô, không được sạch, đèn đường công cộng không tới, đồng chí bảo vệ phải bật đèn pin….

Đến một ngôi nhà lụp xụp sâu trong ngõ, Bác Hồ bảo Chủ tịch thành phố Hà Nội “ta vào đây”…

Người nhà chẳng biết khách là ai. Hỏi thăm ông chủ nhà đang ốm nằm trên chõng tre, đắp chiếu rách, Bác được biết ông làm nghề kéo xe tay…Khi biết khách là Chủ tịch nước, một phụ nữ lay lay người ốm: “Cụ Hồ đến thăm gia đình đấy…” Chủ nhà lật chiếc chiếu, ho sù sụ, định ngồi dậy. Bác ra hiệu cho đồng chí bảo vệ kéo chiếc chiếu lên, che kín cho ông chủ. Nhìn quanh ngôi nhà một lát, Bác kéo tay Chủ tịch Trần Duy Hưng đi ra ngoài. Hai người yên lặng cho đến khi lên xe…

Trước khi xe nổ máy, Bác nói với mọi người mà như nói với riêng mình “ba mươi Tết mà chẳng có Tết”….Chủ tịch Trần Duy Hưng ngồi im lặng, bỏ cặp kính xuống, lau mấy giọt nước mắt….Hối hận không kịp mang theo quà gì, dù biết “món quà quí” Bác Hồ đã tặng gia đình rồi.

Tiện đường xe, Bác đến số nhà 51 phố Găm BetTa, nay là Trần Hưng Đạo. Bấm chuông, người nhà ra thưa: “Dạ, Cố vấn Thụy đang ốm”. Bác bảo đồng chí bảo vệ đưa một bọc giấy hồng,  trong đó có một lọ mắm quí gửi biếu cố vấn. “Để Cố vấn nghỉ ta đi thôi”.

Xe chạy từ từ qua các phố, chỗ sáng, chỗ tối, phố nhỏ, phố lớn. Bác “chỉ huy” rẽ vào đâu, dừng lại đâu là theo ý Bác. Loanh quanh một lúc, xe đến phố Hàng Vải, dừng lại trước một ngôi nhà lớn. Nghe tiếng có người đến, vào giữa đêm 30, chủ nhà bật đèn cổng, thấy có xe ô tô, lố nhố, lo sợ. Khách vào nhà, đèn trong nhà được bật sáng chiếu rõ bàn thờ khói hương nghi ngút, chậu quất, chậu cúc, lọ cắm cành đào, bộ sa lông, tủ, bàn ghé gỗ quí…..Chủ nhà nhận ra khách, quá bất ngờ, hốt hoảng xen lẫn mừng vui, chắp tay, quì xuống đất “lạy Cụ! Thưa Cụ Hồ! Con có tội gì xin Cụ thương cho, Cụ dạy bảo cho …” Chủ tịch Thành phố Trần Duy Hưng đỡ chủ nhà đứng dậy. Bác nói “nghe nói ông là viên chức nhà băng, nhưng thanh liêm, lại có lòng tốt, tôi và bác sĩ Trần Duy Hưng đến chúc Tết gia đình. Bây giờ, nước nhà được độc lập rồi, làm việc cho Chính phủ là làm việc cho dân, cho nước, đã thanh liêm, phải thanh liêm hơn…..”. “Dạ, dạ, con xin nghe lời Cụ”. Bác đứng lên, nhìn căn phòng sang trọng, gật gật đầu với các thành viên trong đình, nắm chặt hai bàn tay mình giơ lên, tạm biệt…Và tiếp tục cuộc “vi hành”, “xuất hành” đầu năm….

Cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ có thể đã “đưa” số phận những con người được gặp Bác, được Bác đến chúc Tết, tặng quà năm ấy đi những con đường khác nhau, chìm trong dĩ vãng….Nhưng câu chuyện về Bác năm ấy được bác sĩ Trần Duy Hưng kể lại, chúng ta thật “ thấm thía”, học được một gì đó ở Bác….

Ngày nay, thực hiện di chúc thiêng liêng của Bác. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, đặc biệt một bộ phận dân nghèo. Tuy điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng với mong muốn “đêm 30 có Tết cho người nghèo”, Chính phủ đã chi ra hàng ngàn tỷ đồng . Thế nhưng…..Một bộ phận “công bộc” của dân, đã cắt, xén  hoặc chìa tay ra để chia phần với người nghèo…

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhưng một bộ phận “công bộc” lại đi ngược với chủ trương lớn này. Thật đáng xấu hổ… cần phải được xử lý một cách nghiêm minh.

(Theo tư liệu của Ban lịch sử Hà Nội và Viện HỒ CHÍ MINH)

http://thanhtra.quangnam.gov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và những ngày Tết đáng nhớ tại Hà Nội

Sinh thời, Bác Hồ kính yêu đã nhiều lần đón Xuân cùng nhân dân Hà Nội. Trong những ngày Tết cổ truyền, hòa trong dòng người đi hái lộc, du Xuân, Bác đến xông nhà, chúc phúc đầu Xuân, mang may mắn đến cho các gia đình, nhất là những gia đình nghèo còn gặp nhiều khó khăn.

4. BH va những
Bác Hồ đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sỹ cảnh vệ Xuân Quý Mão 1963

Tết Bính Tuất năm 1946

Trong cái Tết độc lập đầu tiên, vào đêm giao thừa, Bác đến thăm một số gia đình lao động nghèo và một số nhân sỹ trí thức ở Hà Nội. Sau đó, Bác cải trang như người dân thường đến thăm đền Ngọc Sơn, hòa trong niềm hân hoan của nhân dân đón khoảnh khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới.

Tết Bính Thân năm 1956

Ngày mồng 1 Tết, Bác đến thăm anh em miền Nam tập kết xa nhà và thăm Trường Cán bộ dân tộc thiểu số. Sau đó, Bác đi chúc Tết đại biểu nhân dân của Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội.

Tết Đinh Dậu năm 1957

Sáng mồng 1 Tết, Bác về thăm và chúc Tết một số gia đình cơ sở cách mạng cũ ở thôn Phù Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm (nay là quận Tây Hồ, Hà Nội) như gia đình cụ Công Ngọc Phan, các gia đình ông Môn, bà Kinh, bà Phó Ái.

Nói chuyện với nhân dân trong thôn, Bác chúc đồng bào đoàn kết, đoàn kết quân và dân, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Sau đó Bác đến thăm và chúc Tết một đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô, căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải thực hiện đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, luôn cảnh giác giữ gìn ý chí chiến đấu, tác phong và kỷ luật quân đội, tiết kiệm, giúp đỡ nhân dân, cố gắng học tập và rèn luyện.

Tết Mậu Tuất năm 1958

Những ngày đầu Xuân năm 1958, Bác đến thăm và chúc Tết một số cơ quan, đơn vị bộ đội tại Hà Nội. Tại Nhà máy cơ khí Hà Nội (nay là Nhà máy chế tạo công cụ số 1), sau khi đi thăm khu tập thể công nhân, Người yêu cầu các chi bộ Đảng, công đoàn và đoàn thanh niên cần phải quan tâm cải thiện nhiều hơn nữa đời sống người lao động, phối hợp chặt chẽ vận động công nhân thi đua thực hiện tốt kế hoạch nhà nước năm 1958.

Đến thăm Khu Việt Nam học xá (nay là Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), Bác nói với các sinh viên “Học để mà hành, học để phục vụ nhân dân, không phải để làm quan, mà phải trau dồi cả đức, cả tài, không có đức thì vô dụng, không có tài thì làm gì cũng khó.”

Tết Canh Tý năm 1960

Bác thăm công viên Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất) và trồng cây đa tại công viên mở đầu phong trào “Tết trồng cây” do Bác phát động.

Từ đó “Tết trồng cây” đã trở thành truyền thống tốt đẹp của nhân dân Hà Nội và cả nước trong những ngày đón Xuân.

Tết Tân Sửu năm 1961

Đêm giao thừa, Bác đi thăm và chúc Tết gia đình một công nhân Nhà máy gỗ Cầu Đuống; gia đình một cán bộ công đoàn Nhà máy cơ khí Hà Nội; gia đình một Việt kiều mới về nước; gia đình một xã viên hợp tác xã thủ công nghiệp người Hoa; gia đình bác sỹ Hồ Đắc Di và gia đình giáo sư Tôn Thất Tùng.

Ngày mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ ở một đơn vị công an vũ trang và một đơn vị bảo vệ Thủ đô; cán bộ công nhân Nhà máy dệt kim Đông Xuân, Nhà máy rượu Hà Nội, Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà…

Tết Nhâm Dần năm 1962

Tối 30 Tết, Bác cùng đồng chí Nguyễn Lam – Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, Nguyễn Khai – Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Trần Duy Hưng-  Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội, đến thăm Câu lạc bộ thiếu nhi và vui Tết với các cháu.

Sau đó, Bác cùng đoàn đi chúc Tết gia đình công nhân Nguyễn Văn Mộc – Chiến sỹ thi đua 5 năm liền của Nhà máy cao su Sao Vàng; cụ Đỗ Văn Điện – Ủy viên Ban đại diện phụ lão khu phố Hai Bà Trưng; giáo sư, thạc sỹ Đặng Văn Chung – Phó Giám đốc Trường đại học y dược; gia đình ông Dương Kỳ Nghiệp – cán bộ miền Nam tập kết; ông Vương Tước Cường – công nhân; Hoa kiều, nhà tư sản Nguyễn Chương Hồng – Giám đốc Xưởng cơ khí Công ty hợp doanh Đồng Tháp và một số gia đình lao động ở phố Lý Thái Tổ.

Tiếp đó, Bác đến thăm cán bộ, công nhân Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đang chuẩn bị cho buổi phát thanh đặc biệt đón giao thừa.

Tết Quý Mão năm 1963

Sáng 29 Tết, Bác thăm chợ Tết Đồng Xuân. Bác đi theo đường Nguyễn Thiệp vào cổng sau của chợ. Người chăm chú quan sát cảnh mua bán tấp nập, dừng chân xem ông đồ viết câu đối Tết, có lúc hỏi giá hàng…

Khi đến thăm chợ hoa, Bác định mua một bó hoa huệ nhưng đồng chí cảnh vệ sợ lộ bí mật nên trả giá rất rẻ để rút lui. Bác nói vui: “Trả giá như chú, cả ngày đi chợ cũng chả mua được gì.”

Tối giao thừa, Bác đi thăm và chúc Tết một số gia đình, đơn vị bộ đội ở Hà Nội; thăm gia đình Anh hùng Lao động ngành công nghiệp Mai Đình Cường; gia đình cụ Võ Thị Xuân, 72 tuổi; ông Phạm Công – Việt kiều mới về nước; nhà tư sản dân tộc Nguyễn Văn Thức và gia đình ông Hồ Đắc Điềm – nhân sỹ trí thức.

Mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân Nhà máy ôtô Hòa Bình; bà con xã viên hợp tác xã Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp (huyện Thanh Trì), một đơn vị bảo vệ Thủ đô, một đơn vị Cảnh sát Nhân dân quận Hoàn Kiếm và Cục cảnh vệ-Bộ Công an.

Tết Giáp Thìn năm 1964

Tối 30 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ công nhân tại Khu tập thể Nhà máy cao su, Nhà máy xà phòng, Nhà máy thuốc lá; Khu tập thể cán bộ miền Nam tập kết ở phố Phan Đình Phùng và một số gia đình ở Hà Nội; gia đình công nhân Nhà máy nước Phan Huy Nhật; Trưởng ban bảo vệ khu phố Nguyễn Văn Tố; nhà khoa học Nguyễn Xiển; giáo sư bác sỹ Trần Hữu Tước; Việt kiều Phan Văn Chúc.

Sáng mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết Huyện ủy, Ủy ban hành chính huyện Đông Anh; thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân trạm biến thế điện và hợp tác xã nông nghiệp Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, là đơn vị có nhiều thành tích trong phong trào sản xuất và tiết kiệm.

Nói chuyện với bà con nông dân hợp tác xã Lỗ Khê, Bác căn dặn phải chú ý phát triển hoa màu, chăn nuôi, trồng nhiều cây và chăm sóc cây tốt, đẩy mạnh vệ sinh phòng bệnh.

Bác khen câu khẩu hiện bằng thơ ở trên đình làng: “Đón Xuân mở hội làm giàu/ Mừng Xuân cần kiệm lúa màu tốt tươi.”

Sau đó, Bác thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Sở Công an Hà Nội.

Tết Ất Tỵ năm 1965

Bác tham gia Tết trồng cây với nhân dân hợp tác xã Phú Diễn, xã Trần Phú, huyện Từ Liêm. Bác chúc Tết bà con xã viên, nghe đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã báo cáo tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương.

Bác nhắc nhở hợp tác xã cần phải đẩy mạnh sản xuất hơn nữa và chỉ dẫn tỷ mỉ cách đào giếng nước, xây dựng công trình vệ sinh cho bà con nông dân.

Tết Bính Ngọ năm 1966

Mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Đại đội 27, bộ đội công binh Quân khu 3. Bác khen ngợi đơn vị năm qua đã đạt được nhiều thành tích trong phục vụ chiến đấu, xây dựng các công trình quốc phòng, bắn rơi máy bay Mỹ, góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân và toàn quân ta, và căn dặn bộ đội phải dũng cảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn để giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, đoàn kết tốt, giữ gìn vũ khí trang bị tốt, thực hành tiết kiệm.

Tết Đinh Mùi năm 1967

Sáng mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết một số đơn vị bộ đội phòng không và không quân bảo vệ Thủ đô. Sau khi nói chuyện với cán bộ chiến sĩ, Bác đến thăm Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Đoàn Sao Đỏ). Bác khen ngợi thành tích của cán bộ chiến sỹ và căn dặn: “Các chú phải học tập rèn luyện hơn nữa. Càng học tập, càng tiến bộ thì đánh địch càng giành thắng lợi.”

Bác tặng quà Tết cho cán bộ chiến sỹ và chúc Không quân nhân dân “Đoàn kết, học tập tiến bộ, đánh giỏi, đạt nhiều thắng lợi mới.”

Tết Kỷ Dậu năm 1969

Đây là cái Tết cuối cùng nhân dân Hà Nội được đón Tết với Bác Hồ kính yêu. Ngày 30 Tết, Bác gửi tặng lẵng hoa cho một số cơ quan, đơn vị ở Hà Nội như khối 30 khu phố Đống Đa, Phân đội 5 Đoàn công an vũ trang bảo vệ Thủ đô.

Sáng mồng 1 Tết, Bác đến sân bay Bạch Mai thăm Quân chủng Phòng không- Không quân. Buổi trưa, Bác đến xã Vật Lại (huyện Ba Vì) khai Xuân, trồng cây trên đồi của xã, để lại màu xanh tươi và mùa xuân xanh mãi bất diệt./.

Theo TTXVN/Vietnam+
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn