Thư viện

Bác Hồ với ngành giáo dục

Bác rất quan tâm đến con trẻ – Vũ Kỳ kể

Untitled

Bác Hồ yêu các cháu, hiểu các cháu, tin tưởng các cháu. Vì đó là tương lai của dân tộc. Đó là những mầm, những búp trên cành…

Tình yêu đó thấm đậm chất người.

Một sự tình cờ đầy ý nghĩa – sau Ngày sinh của Bác Hồ là sắp đến Tết Thiếu nhi Quốc tế 1-6.

07 giờ ngày 27.

Bác gọi chị Thu Trà đến hỏi về tình hình có một số cháu học sinh miền Nam nghịch ngợm, quấy phá mà Bác được nghe báo cáo. Việc đó là có thật.

Nhưng Bác hỏi về khía cạnh khác: Các cô, các chú dạy dỗ thế nào? Bởi lúc ba má các cháu gửi ra ngoài Bắc thì các cháu đều ngoan và ba má các cháu đều tin tưởng ở hậu phương.

Bác nhắc phải chú ý đến việc các cháu thiếu tình cảm gia đình, phải tìm cách bù đắp.

Rồi Bác kết luận: Lỗi các cháu một phần thì lỗi của người lớn chúng ta mười phần.

Quả nhiên, sau này đưa các cháu đến với sự chăm sóc của các gia đình cán bộ khác thì các cháu đỡ hẳn chuyện gây gổ, nghịch ngợm. Phần Bác cũng nhận chăm sóc một cháu trai, hai cháu gái, con đồng chí Nguyễn Hữu Thọ

Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam.

Bác luôn luôn coi trẻ em cũng là một nhân cách, một thực thể đáng tôn trọng, chứ không chỉ đáng yêu mến.

Nhớ hồi năm 1957, một hôm Bác hỏi tôi chuyện riêng tư:

– Chú Kỳ này! Có bao giờ chú đánh con không?

Tôi ấp úng vì quả là lúc giận quá tôi cũng có đánh các cháu.

Không dám giấu Bác, tôi thú thật:

– Thưa Bác! Khi nóng giận cũng có lúc tôi đánh dọa vài roi ạ.

Bác vẫn không cao giọng, nhưng nghe thấy nghiêm khắc hơn:

– Thế là dã man đấy, chú ạ.

Tôi suy ngẫm thấy rất đúng.

Bác nhìn nhận khuyết điểm, nhược điểm của con người một cách bình tĩnh như hiểu cái lẽ tự nhiên “bàn tay có ngón dài ngón ngắn vậy”. Tấm lòng Bác mở rộng, bao dung cho tất cả…

Bác không nói trẻ em hư, không nói con người hỏng, mà nhận xét có một số chậm tiến, có một số cụ thể có lúc nào đó, ở chỗ nào đó chưa tốt, chưa hay lắm. Cái chưa hay, chưa tốt ấy cần được uốn nắn một cách chân tình và kịp thời.

(Trích theo sách của Hoàng Giai: Ai yêu các nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh, Nxb.Thanh niên, H.1999, tr.134-136)

Bác nhớ các cháu – Đoàn Văn Luyện kể

Bh GD 1

Tháng chạp năm 1968, các dũng sĩ thiếu niên miền Nam đang học ở Tả ngạn thì có mấy chú đưa xe ô tô đến đón về Hà Nội. Luyện, Thu, Nết, Phổ, Mên, Hoà,… chưa hiểu có chuyện gì. Về thủ đô hôm trước thì năm giờ chiều ngày hôm sau có xe đến đón đi.

Vào đến sân Phủ Chủ tịch mới biết là được vào gặp Bác Hồ.

Vừa bước chân xuống xe, đã nom thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở một cái ghế gỗ dài kê trước cửa nhà, tất cả chạy ào tới chào Bác.

Bác cháu trò chuyện với nhau. Sau đó hai Bác bảo:

– Thôi, các cháu vào ăn cơm với hai Bác!

Bữa cơm không có thịt cá gì nhiều nhưng rất ấm cúng. Các dũng sĩ thiếu niên được ngồi ăn cùng với Bác Hồ và Bác Tôn. Nết, người nhỏ quá, cái đầu chỉ lấp ló cạnh bàn, được Bác gắp thức ăn cho luôn.

Vừa ăn, bác cháu vừa nói chuyện rất vui. Ăn xong, hai Bác cho mỗi cháu một bông hồng, một quả táo, một quả lê và ba quyển sách “Người tốt, việc tốt”. Sau đó, Bác Hồ bảo:

– Các cháu lại cả đây hôn hai Bác rồi ra về.

Các dũng sĩ hôn hai Bác xong, Bác Hồ lại dặn:

– Các cháu về trường cố gắng học tập cho giỏi.

Tất cả đều rất cảm động. Đoàn Văn Luyện lên tiếng thưa với Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu cứ tưởng hai Bác gọi các cháu về có việc cần.

Bác Hồ cười hiền từ và bảo:

– Hai Bác nhớ các cháu cho nên gọi các cháu về để hai Bác gặp hỏi chuyện.

Nghe Bác nói, Luyện và các bạn cảm động, muốn trào nước mắt. Hai Bác tuổi đã cao, trăm nghìn công việc, vậy mà hai Bác vẫn nhớ đến các cháu miền Nam. Luyện nghĩ: “Mình được ở ngoài Bắc mà hai Bác còn lo và thương như vậy, các bạn còn ở trong Nam, hai Bác còn lo và thương biết chừng nào!…”

(Trích trong sách: Bác Hồ kính yêu, Nxb. Kim Đồng, H.1979, tr 151-152.)

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo quan niệm của Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, người sáng lập ra Đảng ta. Trong quá trình rèn luyện, dẫn dắt Đảng ta lãnh đạo phong trào cách mạng, Người rất quan tâm đến việc truyền bá, giảng dạy và học tập lý luận. Ngay từ ngày đầu của phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Không có lý luận cách mạng thì không có cách mạng vận động… Việc học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận… là những việc cần kíp của Đảng. Vì vậy, giảng dạy và học tập lý luận là nhiệm vụ rất quan trọng đối với cách mạng.

Hồ Chí Minh là người đầu tiên của nước ta quan tâm tới lý luận cách mạng và thực hành kiên trì, bền bỉ việc giáo dục lý luận chính trị cho các thế hệ người Việt Nam yêu nước. Người đã để lại cho cách mạng Việt Nam cả một di sản to lớn về giáo dục lý luận chính trị. Đó là cả một hệ thống quan điểm của Người về khái niệm giáo dục chính trị, về vị trí và mục đích của giáo dục lý luận chính trị, cũng như về nội dung, phương châm, phương pháp giáo dục lý luận chính trị.

Nói về phương pháp dạy và học lý luận chính trị Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một số phương pháp cơ bản, chủ yếu như sau:

Thứ nhất, dạy và học lý luận chính trị phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải biết tự động học tập, phải lấy tự học làm cốt.

Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự học trong công tác giáo dục lý luận chính trị. Người cho rằng: Học tập ở trường của đoàn thể không phải như học ở các trường lối cũ, không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập. Phải giành nhiều thời gian cho khâu tự học của học viên, bao gồm tự nghiên cứu làm đề cương, thảo luận, tranh luận… theo sự hướng dẫn của giáo viên.

Như vậy, bằng phương pháp này của Hồ Chí Minh nếu được thực hiện tốt ở các trường Chính trị nói chung, Trường Chính trị Hậu Giang nói riêng thì sẽ chuyển từ phương pháp cũ, từ cách truyền thụ kiến thức một chiều – thầy giảng, trò ghi, sang cách tổ chức quá trình nhận thức năng động của người học. Người học và người dạy cùng làm việc trên lớp, trong thảo luận hoặc người học tự làm việc theo hướng dẫn của giảng viên.

Thực hiện phương pháp này bắt buộc người học phải chuẩn bị kỹ nội dung qua các khâu học tập trên cơ sở giáo trình, giáo khoa và tài liệu tham khảo có liên quan. Người nói: phải khiêm tốn, thật thà trong học tập, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói là không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập. Mặt khác cũng phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ phải hoàn thành cho được… nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.

Thực hiện phương pháp này cũng đòi hỏi người giảng viên phải có sự đầu tư và chuẩn bị thật chu đáo từ khâu soạn bài giảng, thực hiện bài giảng, thảo luận… Đồng thời, người giảng viên phải không ngừng cập nhật, bổ sung kiến thức về lý luận cũng như thực tiễn để không ngừng nâng cao tri thức của người thầy. Như vậy mới có thể “biết mười dạy một” mà những điều dạy đó lại phải là kết quả của sự chọn lọc, gợi mở hướng dẫn cho học viên biết tự động học tập nâng cao hiểu biết. Người dạy: Trong khi giảng dạy cần phải khơi dậy tính chủ động của người học. Đặc biệt là gợi ý để trao đổi những kinh nghiệm công tác (cả kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại), từ đó gom lại thành bài học quý. Bởi vì mỗi cán bộ ở các lĩnh vực công tác khác nhau đều có những bài học kinh nghiệm bổ ích, nếu biết tập hợp lại và đem ra trao đổi sẽ làm cho hiệu quả công tác của các đồng chí khác cao hơn, tránh những sai lầm đã gặp phải.

Hai là, trong dạy và học lý luận chính trị, phải thực hành phương pháp “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”

Đối với phương pháp này Người yêu cầu người học cần phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì cần phải đặt câu hỏi Vì sao?  đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyêt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Chỉ có như vậy mới tránh được bệnh giáo điều và việc học mới có ích cho cách mạng.

Đối với người dạy Hồ Chí Minh cho rằng, không phải ai cũng làm công tác huấn luyện được, muốn huấn luyện được người khác phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc… Về chuyên môn, để trở thành người huấn luyện lý luận giỏi thì người dạy phải nắm chắc lý luận trong giảng dạy cần xác định nội dung cốt lõi, nội dung chính, trọng tâm cần nắm vững và vận dụng; có như vậy mới khắc phục được tình trạng phiến diện chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng, tình trạng chung chung, đại khái, chỉ biết rừng mà không biết các loại cây cụ thể. Đồng thời trong huấn luyện phải chú ý vào rèn  phương pháp, kỹ năng, tạo cho người học nắm được bản chất linh hồn của các quan điểm lý luận, có thể độc lập, tự chủ xử trí đúng công việc trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ba là, công tác giáo dục lý luận chính trị phải thiết thực, cụ thể, phù hợp với đối tượng, với thực tiễn.

Hồ Chí Minh cho rằng công tác giảng dạy phải xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước, của địa phương phù hợp với từng đối tượng cán bộ công tác ở cơ quan, ban ngành cấp tỉnh, cấp huyện, thị… Theo Người, việc huấn luyện cốt yếu ở thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều. Việc cốt yếu là phải làm cho người đọc thấu hiểu vấn đề. Nhưng thấu hiểu vấn đề cũng có nhiều cách: có cách thấu hiểu thật tỷ mỉ, nhưng dạy theo cách đó tốn rất nhiều thì giờ. Trái lại, cũng có cách dạy bao quát mà vẫn làm cho người học thấu hiểu được vấn đề.

Giảng viên cần hiểu rõ và nắm chắc nhu cầu nhận thức của người học và mối liện hệ giữa nội dung học tập với chức trách, nhiệm vụ của người học và thực tiễn địa phương, đơn vị công tác của họ. Đồng thời Hồ Chí Minh cũng lưu ý rằng giảng dạy và huấn luyện phải gắn lý luận với thực tế trong quá trình giảng dạy. Phải dạy người học cả kỹ năng tiếp cận và phương pháp thực hành để vận dụng lý luận đó vào cuộc sống và thực tế công tác của họ. Nếu chỉ dạy lý luận mà không dạy thực hành thì mới chỉ đạt một nử a yêu cầu mà thôi. Người viết, lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy.

Điều kiện có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị là đội ngũ và chất lượng giảng viên làm công tác đào tạo.

Hồ Chí Minh cho rằng: không phải ai cũng huấn luyện được nhất là người huấn luyện của Đoàn thể cần phải có trình độ hiểu biết chuyên sâu. Người đã đặt vấn đề “phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó”, người huấn luyện phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc…

Hồ Chí Minh cho rằng, do chức năng của mình, một đặc trưng, phẩm chất của người giảng dạy lý luận chính trị là phải không ngừng học tập, người giảng viên phải có lòng đam mê, khiêm tốn học tập, không có thái độ kỳ thị, học thêm mãi, biết kết hợp và làm giàu trí tuệ của mình. Người giảng viên nào tự cho mình là đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nát nhất và người đó không thể làm công việc giảng dạy được. Người giảng viên lý luận chính trị phải thực hiện học không biết chán, dạy không biết mỏi. Nếu ngưng học tập thì kiến thức lý luận đó sẽ trở nên cũ, xơ cứng, nó không phản ánh thực tiễn sinh động nên làm cho việc dạy và học không có hiệu quả.

Năm là, tổ chức quản lý học viên trong quá trình đào tạo.

Muốn huấn luyện lý luận chính trị trước hết phải có tổ chức, có lãnh đạo sâu sát tỉ mỉ và chu đáo.

Tổ chức huấn luyện phải bám sát cả yêu cầu số lượng và chất lượng; đồng thời, Hồ Chí Minh quan tâm đến cách thức tổ chức lớp. Người chỉ ra một khuyết điểm cần sữa chữa ngay trong việc huấn luyện, đó là “tham làm nhiều mà không chu đáo”. Rõ ràng nhất là trong việc mở lớp huấn luyện: lớp quá đông; Mở lớp lung tung… Người căn dặn: chúng ta mở lớp nào phải cho ra lớp nấy, lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận, đừng mở lớp lung tung.

Người phê phán việc mở lớp lung tung, chồng chéo lẫn nhau và lớp học quá đông, tốn sức, tốn của của Đảng, Nhà nước và nhân dân mà kết quả lại không đâu vào đâu. Người cho rằng: chúng ta không được mở lớp tràn lan. Vì mở nhiều lớp sẽ thiếu người giảng nên người đi giảng lúc nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như chuồn chuồn đạp nước, dạy không chu đáo được. Thậm chí có người giảng sai lại có hại cho học sinh, hại cho đoàn thể. Mặt khác, lớp đông sẽ có sự chênh lệch lớn về trình độ của người học, nên nhận biết của họ không đều. Do vậy, phải mở lớp nào cho ra lớp đó, lựa chọn người dạy và không mở lớp tràn lan.

Các lớp huấn luyện phải được tổ chức thường xuyên; chương trình, giáo trình phải có tính hệ thống theo từng mức độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. “ Sắp xếp thời gian và bài học phải logic, mạch lạc với nhau mà không xung đột với nhau”. Phải xem giáo dục lý luận là công việc thường xuyên của Đảng, của đoàn thể; là nhu cầu thường trực của cán bộ, đảng viên, gắn liền với quá trình hoàn thiện nhân cách nói chung.

Đối với người học, Hồ Chí Minh cho rằng, vì nhiệm vụ cách mạng mà ai cũng phải học lý luận. Đối tượng cần huấn luyện bao gồm: Cán bộ, hội viên của đoàn thể, cán bộ các ngành chuyên môn của chính quyền và nhân dân. Trong đó huấn luyện cán bộ là quan trọng nhất, vì cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Cán bộ tốt thì thành công, cán bộ không tốt thì hỏng việc.

Sáu là, để giáo dục lý luận chính trị đạt hiệu quả cao cần chuẩn bị tốt các phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập của đội ngũ giảng viên và học viên.

Ngoài nguồn lực con người như là nhân tố quyết định, hiệu quả giáo dục lý luận chính trị còn phụ thuộc vào phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc dạy và học. Đó là các loại giáo trình, giáo khoa, lớp học, phương tiện hỗ trợ giảng dạy…

Theo Hồ Chí Minh, tài liệu là một trong những yếu tố giữ vai trò cơ bản và có ý nghĩa quyết định đến kết quả, chất lượng giáo dục lý luận chính trị.

Hồ Chí Minh cho rằng: “Phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác – Lênin làm gốc. Tài liệu phải được lựa chọn, xếp đặt lại, vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp với từng hạng. Tài liệu không thích hợp thì học không có lợi gì.

Người còn chỉ ra rằng, ngoài những tài liệu có sẵn như trên, còn có những tài liệu thiết thực khác. Đó là những kinh nghiệm do những người đi học mang đến, kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Những kinh nghiệm đó đem trao đổi, gom góp lại tức là những bài học quý, không phải cứ chờ đồng chí cấp trên đến nói chuyện thì mới là bài, là học. Việc trao đổi gom góp kinh nghiệm này phải có tổ chức hẳn hoi chứ không phải mạnh ai nấy nói.

Tóm lại, Hồ Chí Minh vạch rõ: “Chúng ta làm cách mạng nhằm mục đích cải tạo thế giới, cải tạo xã hội. Muốn cải tạo thế giới và cải tạo xã hội thì trước hết phải tự cải tạo bản thân chúng ta”. Phải cố gắng học tập để cải tạo mình, cải tạo tư tưởng của mình và giúp vào việc cải tạo xã hội; phải nâng cao nhận thức chính trị để có lập trường vững vàng và xem xét đúng đắn các vấn đề quốc tế cũng như trong nước. “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Tất cả các đảng viên phải cố gắng học tập, coi việc học tập lý luận và chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình.

Truong chinh tri hau giang
Tam trang (st)
bqllang.gov.vn

Vai trò và mục đích của giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta một hệ thống những tư tưởng, quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng Việt Nam. Trong đó, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và xây dựng một nền văn hoá, giáo dục Việt Nam. Sinh thời, Người luôn xem phát triển giáo dục, nâng cao dân trí xã hội là một triết lý, một tư tưởng, một ước vọng. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành(1).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, cũng như quan niệm của Người về vai trò của giáo dục không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên“, có tri thức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ… Khi nhìn nhận vai trò của giáo dục đối với sự hình thành nhân cách của con người, Bác Hồ khẳng định:

Thiện, ác nguyên lai vô định tính
Đa do giáo dục đích nguyên nhân”
Nghĩa là: Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên
Dạ bán (Nửa đêm) – Nam Trân dịch

Hồ Chí minh luôn coi giáo dục có vai trò quan trọng không chỉ đối với việc giáo dục tri thức, học vấn mà còn góp phần hình thành nên nhân cách, phẩm chất đạo đức của mỗi con người. Người nói: Mỗi con người đều có thiện và ác trong lòng, ta phải biết làm cho phần tốt ở  trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là thành quả của một quá trình tiếp thu, chắt lọc và phát triển tinh hoa văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại. Do vậy, ở tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục luôn có sự thống nhất hữu cơ giũa lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục, vừa mang hơi thở của cuộc sống hiện tại, vừa chứa đựng khát vọng về một tương lai. Mục đích cao cả của Hồ Chí Minh – mục đích mà Người nguyện suốt đời phấn đấu – là mong cho dân tộc, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi, đối với Người: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì(3). Suốt đời, Bác Hồ luôn mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ, đó là – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Và để xây dụng chủ nghĩa xã hội, theo Người, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, con người xã hội chủ nghĩa ở đây theo Người, cần phải: “…có học thức. Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày, học phải đi đôi với hành”(2).

Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên” trong thời đại mới. Và như vậy, “con người xã hội chủ nghĩa’, con người toàn diện, “nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày. Trong thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31 – 8 – 1960, Chủ tich Hồ Chí Minh đã viết: Văn hoá giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuôc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà….Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và của Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện “tài”, rèn “đức” cho tất cả đối tượng. Đối với trẻ em, Bác căn dặn các giáo viên phải: Giáo dục cho các cháu biết thế nào là đoàn kết, ham học, ham làm, nhưng phải làm sao cho các cháu giữ được tính chất của trẻ con. Phải làm sao cho trẻ em có kỷ luật nhưng vẫn vui vẻ, hoạt bát chứ không phải là khúm núm, đặt đâu ngồi đấy. Thông điệp của Bác để lại cho thế hệ trẻ là vẻ vang, vinh dự nhưng cũng là một trong trách lớn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(4).

Tại Đại hội Thanh niên Thủ đô ngày 30 tháng 9 năm 1967, Bác cũng căn dặn: “Thanh nên phải ra sức học tập chính trị, văn hoá và khoa học kỷ thuật. Học có tốt, hành mới tốt. Học và hành tốt mới làm tròn nhiệm vụ người thanh niên cách mạng…”. Hồ Chí Minh xem học tập chính là để làm người tốt, việc tốt có ích cho nhân dân và dân tộc, vì vậy, “Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tốt để sau này góp phần vào việc mở mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.

Để tào tạo một con người có ích cho xã hội, theo Hồ Chí minh cần phải giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục về tài và đức. Bởi, theo Người, có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người. Để giáo dục tốt cả đức lẫn tài Bác nhắc nhở giáo viên: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức. Tài là văn hoá, chuyên môn; đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức… cho nên thầy giáo cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”(5).

Đối với cán bộ, Hồ Chí Minh xem việc học tập là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Mục đích trọng tâm và xuyên suốt trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới. Nhưng do yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phù hợp. Ở thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng, Người tập trung vào việc triển khai các lớp huấn luyện tại Quảng Châu, Trung Quốc nhằm nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ về con đường cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Đến giai đoạn toàn quốc kháng chiến và xây dựng nền dân chủ, Người kêu gọi sửa đổi giáo dục cho phù hợp với việc đào tạo nhân tài kháng chiến kiến quốc. Tất cả giáo dục tập trung phục vụ kháng chiến kiến quốc. Bước sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, mục đích giáo dục lại gắn liền với tình hình mới. Đó là thời kỳ rất cần những con người làm chủ xã hội, làm chủ sản xuất, biết quản lý cơ quan, xí nghiệp, trường học…

Về phương pháp giáo dục, Hồ Chí Minh không để lại cho chúng ta một tác phẩm chuyên khảo, một hệ thống lý luận hoàn chỉnh nào về phương pháp giáo dục, nhưng qua những việc làm thiết thực như: Những bài viết ngắn gọn, súc tích, những lời nói, quan điểm giáo dục của Người đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực. Trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam nói chung cũng như các vấn đề liên quan đến giáo dục nói riêng, Người luôn xác định nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục. Nguyên tắc này được Người sử dụng xuyên suốt trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên… trong suốt tiến trình của cuộc cách mạng.

Từ nhận thức sâu sắc về vai trò và mục đích của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời mình để việc chăm lo, mở mang, xây dựng và phát triển một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa – một nền giáo dục mà mọi người đều được học, được tham gia, phát huy hết khả năng của mình, không phân biệt nam nữ, tuổi tác, giai cấp, dân tộc…

Tiếp tục kế thừa và quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp to lớn và cao cả đó của Người, trong những năm qua Đảng ta luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục. Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, khoá VIII đã xác định nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là: “Nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khoẻ, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”. Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”.

1. Năm 1946, khi trả lời câu hỏi của các nhà báo về điều mong muốn của mình.
2. Hồ Chí Minh toàn tập. NXB CTQG 1995, 1996 tập 4, tr.56; tập 12, tr.505
3. HCM: Toàn tập, t.10, Nxb CTQG, H., 1995, tr 306.
4. Trong Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945.
5. Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, năm 1959; dẫn theo “Hồ Chí Minh- Toàn tập”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tập 9, tr. 492.

Theo Lê Văn Tuyên/GV. Khoa Xây dựng Đảng
Truong CHính trị Hậu Giang
Tâm trang
(st)
bqllang.gov.vn

Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục

BH tham 1 lop binh dan hoc vu

Bác Hồ thăm một lớp bình dân học vụ

Từ lâu, đạo học và truyền thống “tôn sư trọng đạo” đã trở thành một nếp văn hoá đi sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta phải đối đầu với ba thứ giặc “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Trong đó, giặc dốt là thứ giặc nội xâm vô cùng nguy hiểm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nhanh chóng tiêu diệt thứ giặc này và vai trò của những người làm công tác giáo dục, những người dạy chữ càng quan trọng hơn lúc nào hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:“Không có thầy giáo thì không có giáo dục… không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế – văn hoá”. Trong thời kỳ hội nhập, những vấn đề về chất lượng giáo dục, đạo đức người giáo viên… đang đặt ra những vấn đề cần suy nghĩ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục một lần nữa soi đường cho thế hệ hôm nay tiếp bước.

Cách mạng Tháng Tám đã mở đầu việc học của toàn dân của một nước độc lập, đã nêu một bài học mẫu mực về xây dựng một “xã hội học tập”, tiêu diệt giặc dốt.  Đạo học, truyền thống hiếu học của dân tộc ta ngày càng có nhiều điều kiện và cơ hội phát triển. Đi lên từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá muốn vươn ra biển lớn, sánh vai với thế giới luôn luôn phát triển càng cần phải học – học đi đôi với hành như Bác Hồ dạy. Hưởng ứng phong trào Nha bình dân học vụ của Chính phủ, toàn dân ta, ở cả thành thị và nông thôn đều nô nức tham gia bình dân học vụ diệt giặc dốt, coi việc đi học, biết chữ là yêu nước. Đẩy lui bóng tối của chính sách ngu dân trước đây của chế độ thực dân – phong kiến, việc học, cao trào học tập trong toàn dân là một trong những thành công khởi nguồn sống động cho công cuộc giải phóng con người của Cách mạng Tháng Tám. Trong suốt chặng đường phấn đấu lâu dài phát triển giáo dục của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà. Người coi: “Giáo dục là cốt sách hàng đầu” trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Người luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn nhân dân ta phải chăm lo đến sự nghiệp giáo dục, Người căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đó là tinh thần, là tình cảm rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục và đạo tạo nước ta. Phát biểu tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội (tháng 10 năm 1964), Người nói:“Người thầy giáo tốt, người thầy giáo xứng đáng là người thầy vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương. Song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang, nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng Chủ nghĩa Xã hội được. Vì vậy nghề thầy giáo rất quan trọng, rất vẻ vang. Ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sữa chữa”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nền giáo dục cách mạng, người giáo viên có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho nước nhà, là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hoá có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Muốn thực hiện được nhiệm vụ ấy, bản thân các thầy, cô giáo phải trở thành một lực lượng mạnh mẽ. Những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục không được bằng lòng với kiến thức đã có, mà phải thường xuyên tích luỹ kiến thức. Người thầy được ví như người chở đò, chèo lái con thuyền kiến thức đưa các thế hệ học sinh qua sông, không chỉ vun đắp tri thức cho thế hệ trẻ mà còn bồi đắp nhân cách, giáo dục phẩm chất làm người theo câu nói của người xưa: “Tiên học lễ, hậu học văn”.  Ngày nay, trên cả nước ta vẫn còn không ít nơi chưa có điều kiện phổ cập giáo dục từ bậc học thấp nhất, đa số tập trung ở những vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Ở những nơi đây, người thầy được coi là những người “cõng chữ” lên vùng cao. Đã có biết bao tấm gương người thầy hết lòng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục những vùng khó khăn, đó là những tấm gương sáng về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – đạo đức người thầy.

CT HCM thăm trường ĐSPHN 21.10.1964cùng tổng thống Mali Mô đi bô Cây ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống Mali Môđibô Câyta
đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội(ngày 21/10/2012)

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9 năm 1910 đến trước tháng 2 năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, trong những năm 1925 – 1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyệnchính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước, trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chínhcủa các khóa học. Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo. Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Trong quá trình đổi mới đất nước, để hội nhập nhanh hơn chúng ta nhận thấy việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài là những nội dung không thể thiếu trong chiến lược phát triển giáo dục, bởi quan tâm phát triển giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, bởi “nhân tài là nguyên khí quốc gia”… Những lời nhắc nhở của cha ông ta từ thuở dựng nước cho đến ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Hôm nay, chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” là một liệu pháp mạnh, đã và đang được ngành giáo dục cũng như toàn xã hội ủng hộ, trở thành phong trào sôi nổi và đã bước đầu thành công. Chính phủ cũng đã có những đề án để nâng cấp giáo dục phổ thông, từng bước nâng những ngành học, trường học cụ thể có truyền thống và khả năng bắt nhịp với trình độ đào tạo hiện đại, trở thành ngành, trường vươn lên chuẩn đại học quốc tế… Nhìn lại chặng đường giáo dục của nước nhà, nhìn lại những thành tựu mà cả nước đã đạt được trong giáo dục, không thể không phủ nhận công lao của những người thầy, những nhà giáo, những người làm công tác giáo dục.

Công cuộc đổi mới đất nước đang đặt ra nhiều yêu cầu cần nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất nhà giáo, hơn lúc nào hết chúng ta cần xây dựng được đội ngũ những người làm công tác giáo dục có đầy đủ phẩm chất, năng lực, vừa “hồng”, vừa “chuyên” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra. Có được những thế hệ giáo viên tốt là điều khẳng định chắc chắn nhất, cụ thể nhất sự đi lên của tri thức, trình độ phát triển giáo dục của dân tộc và góp phần quan trọng cho thắng lợi của công cuộc hội nhập quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước hôm nay./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với sự nghiệp trồng người

Nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám dưới chế độ Dân chủ Cộng hòa đã phát triển dưới ánh sáng của một mục tiêu cao cả như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra:

“Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà”.

Mục tiêu ấy bao hàm ý nghĩa: Cần xây dựng tư tưởng: Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân (không phải học để làm quan hay làm giàu cho cá nhân). Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng, cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân.

Trong thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng ngày 31/10/1955, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục: “Mỗi một cấp giáo dục cần nhận rõ nhiệm vụ của mình trong lúc này:

Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà.

Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế.

Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công. Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe cho các cháu.

Tôi cũng mong các gia đình hãy liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân”.

Đến với Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ hai ngày 7/5/1958, Bác nói: Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình”.

Bác dạy học sinh, sinh viên phải có 6 cái yêu:

Yêu Tổ quốc: Yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu, mạnh. Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động (chân tay và trí óc), ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Yêu nhân dân: Mình phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, chia sẻ những lo lắng, vui buồn, những việc làm nặng nhọc với nhân dân.

Yêu chủ nghĩa xã hội: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.

Yêu lao động: Muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, thì phải yêu lao động, vì không có lao động thì chỉ là nói suông.

Yêu khoa học và kỹ thuật, bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỹ thuật.

Bác nêu rõ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

“Thời đại chúng ta là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại anh hùng, mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng (không phải là anh hùng cá nhân). Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Cũng năm 1958, ngày 13/9, mở đầu một năm học mới, Bác đã nhấn mạnh về nhiệm vụ các nhà trường: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lại cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang”.

Đáp lòng mong mỏi của Bác, giai đoạn ấy chúng ta đã có những bậc thầy mẫu mực về trí tuệ và đạo đức được vinh danh và kính trọng ở các trường trong và ngoài nước, như Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư Nguyễn Thúc Hào, Giáo sư Đỗ Tất Lợi, Giáo sư Nguyễn Tài Thu và nhiều giáo sư khác, đến nay vẫn là những tấm gương sáng cho các thế hệ thày giáo trẻ noi theo.

Đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, Bác không chỉ quan tâm đến những vấn đề lớn như mục đích, mục tiêu, phương châm, tính chất của giáo dục, mà còn để ý đến cả những vấn đề phương pháp cụ thể.

Trong bài nói tại Hội nghị Tổng kết phong trào thi đua Dạy tốt, Học tốt của ngành Giáo dục phổ thông và sư phạm tháng 8/1963, Bác căn dặn: Về học tập và giảng dạy, phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất. Về lao động, cần chú ý tổ chức cho thích hợp với lứa tuổi và sức khỏe của học sinh.

Về giảng dạy, tránh lối dạy nhồi sọ. Chương trình dạy học hiện nay còn có chỗ quá nhiều, quá nặng. Về học tập, tránh lối học như vẹt. Ngoài ra, cần chú ý tránh nói tiếng nước ngoài quá nhiều, những tiếng ta có thì không nên dùng tiếng nước ngoài. Bài dạy phải chuẩn bị cho tốt và cần chọn lọc những bài thích hợp với tuổi của học sinh. Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội.

Với một nền giáo dục có định hướng cách mạng, có mục tiêu được xác định rõ ràng, được tổ chức hợp lý theo những nguyên tắc khoa học tiên tiến và thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh nước ta, nền giáo dục Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám được xây dựng trên những phương châm dân tộc- khoa học- đại chúng, đã từ bỏ được những tật xấu của lối giáo dục ngu dân chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, xây dựng được một nền giáo dục nhân dân.

Nền giáo dục theo ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám để lại cho chúng ta nhiều bài học lớn.

Thứ nhất, giáo dục cũng như mọi công cuộc khác, cần phải xác định rõ mục đích, mục tiêu. Riêng giáo dục phổ thông cần để cao mục tiêu giáo dục làm người: người công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt, có ý thức giác ngộ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa xã hội nhân văn, có tinh thần dân tộc, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, việc xây dựng mô hình nhà trường các cấp, việc thiết kế chương trình, viết sách giáo khoa, ấn định nội dung, phương pháp dạy và học phải đáp ứng được mục đích, mục tiêu chung đã định. Từ bỏ lối dạy tham lam nhồi sọ, lý thuyết suông, khắc phục lối học vẹt, học không kết hợp với hành, học chỉ để đạt những tiêu chí thi cử hình thức.

Thứ ba, muốn phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước cũng như sự phát triển mỗi con người, thì bất cứ nền giáo dục nào cũng phải bám sát thời đại và những hoàn cảnh, điều kiện, nhu cầu riêng của đất nước để phát triển cho đúng hướng và có hiệu quả.

Thứ tư, trong tình hình hiện nay của thế giới và nước nhà, thì một cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam đang là một yêu cầu cấp thiết.

Trong thư nhân dịp khai giảng năm học mới 2011 – 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã rất có lý khi đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục cần “đổi mới căn bản và toàn diện”.

Ngày 2/9/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi dự lễ khai giảng năm học mới tại Trường Quốc học Huế yêu cầu phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế; tập trung đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục…

Thứ năm, các trường sư phạm, nhất là sư phạm đại học chính là “máy cái” để khởi động sự nghiệp cải cách.

Hiện nay, mỗi năm, ngành sư phạm cho ra lò hàng ngàn giáo sinh. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn còn nhiều hạn chế trước đòi hỏi ngày càng mạnh mẽ của sự phát triển đất nước.

Theo chương trình “Phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm từ năm 2011-2020”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra mục tiêu đến năm 2015, 100% giảng viên trường đại học sư phạm đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó ít nhất 25% đạt trình độ tiến sỹ và phấn đấu năm 2020, ít nhất 50% giảng viên các trường đại học sư phạm đạt trình độ tiến sỹ.

Để đáp ứng mục tiêu này, cần sự nỗ lực rất lớn của ngành giáo dục, sự hỗ trợ, chung sức của toàn xã hội, của các bộ, ngành để có thể thực hiện được nhanh chóng công cuộc “đổi mới căn bản và toàn diện” giáo dục.

Theo chinhphu.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Thấm nhuần tư tưởng của Người về GD-ĐT

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chăm lo cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được Người thể hiện rõ  trong mọi chính sách, chủ trương về GD.

Ngay khi cách mạng Tháng 8 thắng lợi, Người đã khai sinh cho nền GD mới, tiến bộ; một nền GD dân tộc, nhân dân, khoa học, dân tộc và đại chúng. Và trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn “những ngày trứng nước” của chính quyền mới, bên cạnh hai nhiệm vụ diệt giặc đói và giặc ngoại xâm, Người còn đặt ra nhiệm vụ diệt giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ cấp bách nhất của Chính phủ lâm thời bấy giờ với vận mệnh của dân tộc. Ngay tại phiên họp thứ nhất của Hội đồng Chính phủ, ngày 3/9/1945, Người đề nghị “mở chiến dịch để chống nạn mù chữ”, và ngày 4/10/1945, Người ra “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”. Bởi Người “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Phát động phong trào chống nạn mù chữ, Người mong muốn mỗi người dân đều “Biết học, biết viết chữ quốc ngữ” để “Nâng cao dân trí”, “Giữ vững nền độc lập” và “Làm cho dân mạnh nước giàu”. Nhờ vậy, từ chỗ 95% dân số mù chữ trước Cách mạng Tháng 8, dân tộc ta đã vươn lên trở thành một dân tộc có văn hoá, khoa học, đủ khả năng để bảo vệ và xây dựng đất nước.

Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đặt niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ của dân tộc. Trong Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường (tháng 9/1945): Người dạy: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Đặc biệt trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, Người đã một lần nữa khẳng định: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”. Đồng thời, Người căn dặn: “Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Những căn dặn đó của Người cũng là những nội dung hoạt động chủ yếu của nhà trường XHCN chúng ta trong quá trình GD-ĐT, dù ở thời kỳ nào, dưới hình thức nào. Thấm nhuần tư tưởng của Người và thực hiện những căn dặn mà Người để lại trong Di chúc, trong suốt 40 năm qua, ngành GD&ĐT nước nhà đã không ngừng phấn đấu vươn lên, đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, nâng cao chất lượng GD – ĐT, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ XHCN, bước đầu đưa Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và tiến tới “sánh vai các cường quốc năm châu” như mong đợi của Người.

Có thể nói những căn dặn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân trong Di chúc là kết tinh của toàn bộ tư tưởng của Người. Đối với tư tưởng về GD, sinh thời Người đặc biệt chú trọng đến GD toàn diện với sự cân bằng cả về GD đức lẫn tài và mối quan hệ giữa hai mặt đó trong sự hoàn thiện nhân cách của con người mới – con người XHCN. Người từng dạy: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Đồng thời Người còn chỉ rõ: “Việc giáo dục gồm có: đức, trí, thể, mỹ”. Nền GD toàn diện ngày nay chúng ta hướng tới không nằm ngoài lời dạy của Người, thể hiện qua sự vận dụng sáng tạo kết hợp với chắt lọc sự tiên tiến của các nền GD trong khu vực và trên thế giới. Tư tưởng GD toàn diện của Người đã chỉ ra cho chúng ta thấy được mô hình chung của con người phải đào tạo trên những định hướng chính về các mặt phẩm chất và tài năng cùng mối liên hệ giữa các mặt đó với nhau để cùng hoàn thiện nhân cách. Đó là cơ sở tư tưởng và lý luận để chúng ta vạch ra chiến lược con người cho thế kỷ 21, trước mắt là đến năm 2010, trong đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định nòng cốt thực hiện là ngành GD&ĐT.

Trong tư tưởng về phương pháp GD, Người đặc biệt chú ý đến vấn đề tự học và học tập suốt đời. Người quan niệm: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt”. Điều này tương đồng với quan điểm của Lênin: “Học, học nữa, học mãi”. Tư tưởng tự học của Người có thể quy thành 5 vấn đề:

1 – Trong việc tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn.

2 – Phải tự mình lao động để tạo điều kiện cho việc tự học suốt đời.

3 – Muốn tự học thành công, phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại.

4- Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để tự học.

5- Học đến đâu, ra sức luyện tập thực hành đến đó.

Đây là cống hiến to lớn và quý báu của Người vào lý luận dạy – học của nước ta mà trong suốt bao năm qua ngành GD&ĐT đã triển khai thực hiện một cách hiệu quả. Ngày nay, xã hội chúng ta là một xã hội học tập, học tập không ngừng. Đảng và Nhà nước đã xác định GD là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho GD là đầu tư cho tương lai của nước nhà; chỉ có đẩy mạnh GD&ĐT mới có thể đưa đất nước sớm “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong đợi. Riêng đối với ngành GD, không những ngày càng đẩy mạnh đổi mới GD, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng lấy người học làm trung tâm mà việc học đi đôi với hành đã thực sự được chú trọng, qua đó góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng GD-ĐT nước nhà thời gian qua.

Bên cạnh đề cao việc “tự học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn luôn nhắc nhở những người làm công tác GD phải nhận thức đúng đắn “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Tư tưởng lớn này tạo ra sức mạnh để huy động tất cả mọi lực lượng chính quyền, đoàn thể, gia đình và xã hội tham gia xây dựng sự nghiệp GD, không chỉ bằng mặt vật chất, mà chủ yếu là để xây dựng mặt con người mới cho thế hệ trẻ – những người kế thừa xây dựng XHCN vừa “hồng” vừa “chuyên”. Còn nhớ sinh thời mặc dù bận trăm công ngàn việc, Người vẫn quan tâm theo dõi chỉ đạo cụ thể, sát sao các phong trào thi đua, như phong trào “dạy tốt, học tốt”, “người tốt, việc tốt”. Tư tưởng “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” của Người đã được Đảng, nhân dân ta và ngành GD&ĐT vận dụng một cách sáng tạo thành phong trào xã hội hoá GD đang phát triển sôi nổi và rộng khắp trên phạm vi cả nước hiện nay trên cơ sở xây dựng mối quan hệ giữa ba lực lượng GD: Nhà trường – Gia đình – Xã hội.

Trên cả nước, mạng lưới cơ sở GD không ngừng được mở rộng; các loại hình GD ra đời đáp ứng như cầu xã hội; các trung tâm học tập cộng đồng, các cơ sở GD thường xuyên ngày càng được mở rộng với sự tham gia của toàn xã hội. Công tác xã hội hoá chưa bao giờ được coi trọng và đẩy mạnh như ngày nay. Để làm được điều đó, chính là nhờ chúng ta đã nhận thức đúng đắn được quan điểm của Người: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngày 2/9/1969, Người đi vào thế giới Người Hiền với lời nhắn gửi đến toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong bản Di chúc lịch sử. Bản Di chúc thực sự là kết tinh toàn bộ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ngày nay chúng ta không ngừng học tập, noi theo; trong đó có những quan điểm, những lời căn dặn quý báu của Người về sự nghiệp GD-ĐT nước nhà mà ngành GD-ĐT ngày nay đã và đang thực hiện theo để sớm đưa nền GD nước ta đạt tới sự tiên tiến, toàn diện, có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Người đã dặn.

Mai Thành Chung
gdtd.vn

Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục, khuyến học – khuyến tài

(Dân trí) – Nhân dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những câu nói của Người về sự nghiệp giáo dục và khuyến học, khuyến tài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và xây dựng nền giáo dục dân chủ mới. Sinh thời, Người đã từng nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…”. Dưới đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những câu nói của Người về sự nghiệp giáo dục và khuyến học, khuyến tài.

* Đồng bào bây giờ phải biết chữ hết để trả lời cho thế giới biết nước ta là nước văn minh, ai cũng biết chữ.

(Bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá. Ngày 20/2/1947. Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, tr.60).

* Biết chữ, biết tính, thì làm việc gì cũng dễ dàng hơn. Một người không biết chữ, biết tính thì như nửa mù, nửa quáng. Biết rồi ta học thêm.

(Đời sống mới. 1947. Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, tr.99)

* Người có học mới có tiến bộ. Càng học càng tiến bộ.

(Đời sống mới. 1947. Hồ Chí Minh toàn tập, t5, tr99)

* Nếu không học tập văn hoá, không có trình độ văn hoá thì không học tập được kỹ thuật, không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế nước nhà; Nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hoá, kỹ thuật mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi.

(Nói chuyện tại Đại hội Liên hoan Thanh niên tích cực ngành Đường sắt ngày 25/7/1956. Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, tr.221)

* Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

(Thư gửi đồng bào đã thanh toán nạn mù chữ. Ngày 21/12/1956. Hồ Chí Minh toàn tập. t.8, tr.281)

* Ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động, mà còn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình.

(Học tập không mỏi, cải tiến không ngừng, Báo Nhân dân, ngày 14/3/1960. Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr.105).

dantri.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà giáo dục vĩ đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai sinh và đặt nền móng cho nền giáo dục mới của Việt Nam. Theo quan niệm của Người, nền giáo dục trong chế độ mới là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục của dân, do dân, vì dân. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” – tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Ai cũng phải được học hành

Đề cập về một số nội dung cơ bản của giáo dục, theo Hồ Chủ tịch: Nền giáo dục phải bảo đảm cho mọi người đều được đi học. Mỗi con người sinh ra đều có quyền bình đẳng, trong đó có quyền bình đẳng về giáo dục. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy giáo dục có vai trò và sức mạnh cực kỳ to lớn. Trong một văn kiện trình bày yêu sách của nhân dân ta dưới thời Pháp thuộc, Người đã bàn về việc thành lập các trường giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ. Có những thời kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp làm công tác giảng dạy. Những năm đầu thế kỷ XX, Người dạy học ở Trường Dục Thanh (tỉnh Phan Thiết).

Ngay sau ngày 2/9/1945, Người đã gửi thư cho các em học sinh nhân ngày khai trường năm học đầu tiên của một nước độc lập. Người luôn tin tưởng và mong muốn các thế hệ học sinh không ngừng cố gắng học tập và rèn luyện tốt để mai sau trở thành những người có ích cho Tổ quốc.

Việc mở mang giáo dục là việc làm bức thiết có quan hệ đến con đường phát triển của dân tộc. Người chủ trương phát triển giáo dục cho mọi người nhằm từng bước nâng cao mặt bằng dân trí của cả dân tộc, góp phần phát triển kinh tế – xã hội. Đó là nền giáo dục dân chủ, bình đẳng, bảo đảm cho mọi người được đi học. Người đặc biệt chú ý tới việc học của các tầng lớp nhân dân lao động vốn phải chịu thiệt thòi nhiều nhất bởi chính sách “ngu dân” của chế độ thực dân phong kiến. Tư tưởng nhân nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hòa quyện vào lòng dân, tạo thành một cao trào chống mù chữ vào cuối năm 1945.

Muốn dân giàu, nước mạnh, dân trí phải cao

Với tầm nhìn của một nhà cách mạng, một nhà giáo dục lớn, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự phát triển giáo dục ở các vùng xa xôi hẻo lánh, nơi cư trú của đồng bào ít người còn lạc hậu về nhiều mặt. Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện được điều đó thì các dân tộc đều phải bình đẳng và đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Nội dung giáo dục phải toàn diện, coi trọng xây dựng cho người học lý tưởng cao đẹp, biết sống vì Tổ quốc, vì nhân dân và có thái độ quý trọng lao động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ cho chúng ta thấy mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và cách mạng, giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước, đồng thời là người tìm kiếm, phát hiện và giới thiệu nhiều tiến bộ mới của nền giáo dục kiểu mới mang tính khoa học, nhân đạo, tính dân chủ cao, bảo đảm cho sự phát triển toàn diện những năng lực sẵn có của con người. Nền giáo dục mới phải thực hiện dạy và học theo mục tiêu: học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Muốn cho dân giàu, nước mạnh, dân trí phải cao. Khi dân trí cao sẽ xuất hiện nhiều nhân tài tham gia xây dựng đất nước. Người luôn đánh giá cao vai trò của các thầy, cô giáo với sự nghiệp giáo dục. Sự nghiệp giáo dục phải được xã hội hóa. Giáo dục nhằm đào tạo thế hệ cách mạng mai sau là sự nghiệp to lớn, do đó cần phải huy động sức mạnh vật chất, tinh thần của toàn Đảng, toàn dân.

Với cách nhìn biện chứng, Hồ Chí Minh cũng phê phán việc phát triển giáo dục một cách tùy tiện, thiếu kế hoạch như đào tạo tràn lan, dẫn đến tình trạng có ngành thì quá thừa, có ngành lại quá thiếu. Những khuyết điểm đó làm mất tính chất xã hội hóa của nền giáo dục. Ngày nay, trong thời kỳ khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, công tác giáo dục, đào tạo nhằm phát huy nguồn lực con người là một nhân tố có ý nghĩa quyết định cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta.

Lam Thanh
Theo chutichhochiminh.net
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Ấn tượng những lần gặp Bác Hồ đến thăm trường

QĐND Online – Tôi có may mắn được nhiều lần gặp Bác Hồ, đặc biệt những lần Bác đến thăm trường học ở Hà Nội. Mỗi lần gặp Bác là một lần để lại ấn tượng sâu sắc, giúp tôi thêm vững bước.

Năm 1946, khi còn là học sinh trường Trung học Phan Chu Trinh (hồi đó đóng ở đường Nguyễn Thái học hiện nay). Ngươi dân lúc đó truyền nhau gọi là trường của mặt trận Việt Minh đỡ đầu. Lúc đó tôi chỉ là học sinh học lớp đầu cấp trung học, ở tuổi 15 rời quê hương Bắc Ninh ra Hà Nội, ở nhà người quen ở phố Hàng Đào để đi học bằng tàu điện.

Bác Hồ đến thăm trường Chu Văn An ngày 18-12-1954

Chúng tôi bất ngờ và phấn khởi khi được Bác Hồ đến thăm trường, mà lại thăm lớp học Nhạc của chúng tôi. Sau những reo hò hân hoan chào Bác, chúng tôi yên lặng nghe Bác nói chuyện. Tôi chỉ nhớ được Bác nói: nước nhà được độc lập rồi, tương lai đang cần các cháu học tập tốt để xây dựng đất nước sánh vai cùng bàn bè năm Châu trên thế giới…

Do thực dân Pháp cố tình gây hấn, xâm chiếm nước ta một lần nữa, trường học được hơn một tháng thì phải tạm thời đóng cửa, trẻ con phải sơ tán ra ngoài vùng kháng chiến, tiếp tục học tập, thanh niên ởi lại tham gia đội tự vệ, chuẩn bị sẵn sàng chiến đầu bảo vệ Thủ đô.

Trong vùng kháng chiến, chúng tôi tiếp tục học trong điều kiện khó khăn. Khi trở thành giáo viên, dạy học ở trường Sư phạm sơ cấp Khu học xá Trung ương đào tạo giáo viên cho các vùng, tôi lại may mắn được tham dự lớp học về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Đảm nhận bàn giao khu vực các trường học phía Bắc Hà Nội, hàng ngày cùng sĩ quan Pháp lần lượt đến các trường xem xét làm các thủ tục bàn giao. Nhiệm vụ không chỉ ghi lại các vi phạm trái hiệp định mà còn để nắm chắc tình hình, biết sau ngày 10-10-1954, khi đoàn quân chiến thắng chính thức vào tiếp quản Thủ đô, có thể sớm chuẩn bị khai giảng năm học mới 1954-1955.

Tại ngôi trường Chu Văn An (lúc đó còn tạm học ở trường Phan Đình Phùng hiện nay do trường Chu Văn An quân Pháp dùng làm trại lính cũ chưa thể học được).

Một lần nữa tôi lại vinh dự đón Bác Hồ về thăm trường. Bác vào cổng phụ, đến thăm khu vệ sinh, nhà ăn tập thể của cán bộ rồi mới đi thăm vài giờ học. Nghe Bác nói chuyện tại sân trường, tôi còn nhớ mãi câu: “Học không phải để đi làm quan mà học để phụng sự Tổ quốc, làm bất cứ việc gì, ở đâu mà Tổ quốc cần… các cháu phải học tập tốt để xây dựng nước Việt Nam độc lập sánh vai cùng các cường quốc năm Châu trên thế giới.”

Làm theo lời Bác dạy, học xong THPT có người học tiếp nhưng cũng khống ít người xung phong lên miền núi vừa học vừa đi dạy thanh toán mù chữ hay làm trong các ngành nghề cống hiến tuổi xuân và cuộc đời cho đất nước.

Lần thứ ba được gặp Bác là khi đang công tác dưới mái trường Trưng Vương vào năm 1958. Lúc đó, cả nước đang thực hiện phong trào xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa năm học 1957-1958, thực hiện học đi đôi với hành, học tập kết hợp với lao động sản xuất, thay mặt nhà trường chuẩn bị món quà tặng Bác, tôi chọn bàn thấm làm bằng gỗ và một nồi nhôm đúc thủ công từ phế liệu nhôm.

Bác đã trả lại khi biết trường đã đúc thủ công được 49 cái, và nói “Bao giờ sản xuất được 490 cái thì Bác nhận”. Thoáng buồn vì Bác chưa nhận nhưng suy ngẫm học tập phải thực sự kết hợp với lao động sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho xã hội mới rèn được con người lao động kiểu mới.

Ấn tượng sau ba lần gặp Bác, đến bây giờ khi đã gắn bó cả cuộc đời với giáo dục, i nhận ra:dù bận trăm công nghìn việc, bao giờ Bác cũng đặc biệt quan tâm đến giáo dục, thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, thậm chí đặt giặc dốt trước cả giặc ngoại xâm.

Bác luôn quan tâm đến giáo dục động cơ học tập, không phải học để làm quan, người học phải khát vọng học để xây dựng đất nước sánh vai cùng bạn bè năm Châu trên thế giới. Như vậy “Đức dục” phải lên hàng đầu rồi mới đến khối lượng kiến thức.

Con người mới phải biết phát huy năng lực tự học, tư duy sáng tạo, độc lập suy nghĩ và học suốt đời. Câu chuyện “Cái nồi nhôm” tuy giản dị nhưng sâu sắc, học phải đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, như vậy giáo dục mới phát huy nhiệm vụ của mình.

Bài, ảnh: Nguyễn Đức Thuần
qdnd.vn

Chủ Tịch Hồ Chí Minh với việc giáo dục lịch sử dân tộc

Chủ Tịch Hồ Chí Minh – Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới – là biểu tượng của truyền thống kiên cường bất khuất trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Cả cuộc đời Người luôn luôn kiên định: ”Tôi chỉ có một ham muốn ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc ai cũng được học hành”.

Hồ Chí Minh chưa bao giờ lấy sự nghiệp văn chương làm cứu cánh, cũng như Người chưa bao giờ chủ định làm một nhà sử học. Nhưng qua những bài báo, qua lời phát biểu, qua những di sản tinh thần đó để lại cho chúng ta thấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh là người quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục lịch sử cho thế hệ sau.

Trước tiên, cần phải thấy được Hồ Chí Minh có đầy đủ tố chất của một nhà nghiên cứu sử học. Sinh ra trong một gia đình Nho học có truyền thống khoa bảng, được thừa hưởng một di sản văn học lịch sử phong phú của dân tộc, từng đi khắp năm châu, thêm vào đó là tác phong luôn đi sâu, đi sát với thực tế đời sống, là người từng trực tiếp chứng kiến biết bao những sự kiện đổi thay lớn lao của nhân loại, của đất nước, cho nên các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có sức thuyết phục và làm lay động lòng người và phản ánh được nhiều vấn đề lớn lao của thời đại. Không chỉ đi nhiều, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn là người ham học, ham hiểu biết, thông thạo nhiều ngoại ngữ Anh, Pháp, Hoa,… và uyên thâm Hán học, thông kim, bác cổ, hiểu biết sâu sắc về văn hoá phương Đông và phương Tây, lại được trang bị phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác- Lê nin.

Nói như nhà sử học nổi tiếng đời Đường (Trung Quốc) Lưu Tử Huyền (tức Lưu Tri Cơ) thì một người viết sử phải có ba sở trường: Tài, Học, Thức. Như thế thì Nguyễn Ái Quốc có đầy đủ các sở trường đó để trở thành một nhà sử học hiện đại. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã lấy các đề tài lịch sử như ”Kịch con rồng tre”, “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”… để tuyên truyền thức tỉnh đồng bào. Hoặc cũng có khi người trực tiếp viết các bài báo về lịch sử.

Không chỉ nghiên cứu những vấn đề mới mẻ ở phương Tây, Nguyễn Ái Quốc còn tìm hiểu cả những vấn đề xa xưa như Nho giáo và Khổng Tử từ những năm tuổi đời còn rất trẻ. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, Trung Quốc dấy lên phong trào phê phán Khổng giáo, chính phủ Trung Hoa dân quốc ban hành xoá bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử. Bằng cách nhìn khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã phân tích những mặt tích cực đồng thời chỉ ra những hạn chế của Khổng Tử do thời đại mang lại. Người nhận xét: “…Nhưng cách đây 20 thế kỷ, chưa có chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc chưa bị áp bức như chúng ta ngày nay, cho nên bộ óc Khổng Tử không bao giờ khuấy động vì các hoc thuyết cách mạng. Đạo đức của ông là hoàn hảo nhưng nó không thể dung hợp được với các trào lưu tư tưởng hiện đại, giống như một cái nắp tròn, làm thế nào để có thể đậy kín được cái hộp vuông?”. Và Người đã thẳng thắn chỉ ra: “với việc xoá bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử, chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái tim với tinh thần dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lê nin .

Trở về đất nước sau hơn 30 năm xa cách, Người bí mật hoạt động ở Pác Pó (Cao Bằng). Tại đây, Người đã dịch ”Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô”.

”Sáng ra bờ suối tối vào hang.
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng.
Cuộc đời cách mạng thật là sang.”

Đặc biệt, trong thời gian vào khoảng cuối năm 1941; tại Cao Bằng, Hồ Chí Minh đã viết tập ”Lịch sử nước ta”. Đây là tập diễn ca lịch sử viết ra làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu Việt Bắc và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân nhằm giáo dục, phát huy lòng yêu nước, yêu truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, góp phần chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám năm 1945. Tập “lịch sử nước ta” được diễn đạt bằng thể thơ lục bát dễ thuộc, dễ nhớ, gồm 198 cầu Tác phẩm này được in nhiều lần vào các năm 1942, 1947, 1949… Quyển sách trình bày lịch sử nước ta từ thời Hồng Bàng, trải qua các triều đại như Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn và cho đến tận phong trào Việt Minh lúc đó. Từ trong lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã tìm được phương thức ”dựa vào dân để có sức mạnh”. Người khẳng định anh hùng làm nên sự nghiệp cao cả vì biết dựa vào dân, Người đánh giá cao vai trò của cá nhân và khẳng định vai trò quyết định của nhân dân.

Bằng cách viết ngắn gọn, súc tích, Người đã nêu lên những tấm gương sáng cho mọi tầng lớp học tập, noi theo như ”Người già như ông Lý Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn đánh Đông dẹp Bắc, thiếu niên như Trần Quốc Toản, mới 15 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên. Phụ nữ như Bà Trưng, Bà Triệu ra tay khôi phục giang san…” và Người nhận xét: “lịch sử ta dạy cho ta bài học: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

Không chỉ là người biên soạn lịch sử, luôn quan tâm đến việc giáo dục lịch sử cho thế hệ sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người rất trân trọng các nhà sử học. Những người có may mắn được gần gũi Bác kể lại: Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước còn đang gay go, quyết liệt, ,bên cạnh đầu giường Bác nằm luôn đặt quyển sách ”Cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Nguyên thế kỷ XIII” của soạn giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm và trước khi đi xa, Người còn gửi lời hỏi thăm đến các tác giả của cuốn sách.

Mặc dù không phải là một nhà sử học chuyên nghiệp nhưng thông qua các tác phẩm để lại và hoạt động cách mạng cứu nước, cứu dân, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã dùng lịch sử để tuyên truyền cách mạng, khơi dậy truyền thống bất khuất cứu nước, cứu nòi đã có hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Bác căn dặn phải biết ơn tổ tiên, cội nguồn và giữ vững non sông đất nước. Mỗi người dân Việt Nam đều thuộc lòng câu nói nổi tiếng giản dị mà sâu sắc của Người:

”Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” .

Theo Nguyễn Quang Hà, Tạp chí Khoa Giáo tháng 4/2005

cpv.org.vn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về GD truyền thống lịch sử dân tộc trong nhà trường

(GD-TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:

 “Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Bởi theo Người, “Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân ta là con Rồng, cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yêu dân trị nước tiếng để muôn đời”.

Tư tưởng đó là kết quả của một quá trình tự nhận thức, đúc rút kinh nghiệm qua lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc ta, từ năm 2079 TCN – thời kỳ vua Hùng dựng nước đến khi thành lập Mặt trận Việt Minh, toàn bộ quá trình này đã được Người tổng kết trong tác phẩm “lịch sử nước ta”.

Đã có biết bao thế hệ ngã xuống, bao nhiêu máu và nước mắt đã đổ, mỗi tấc đất quê hương đều là sự hòa trộn của tinh khí tổ tiên, của những nỗi đau đời, của khát vọng,…tất cả tạo thành truyền thống. Và qua quá trình bôn ba tìm đường cứu nước Người nhận rõ hơn giá trị của tự do và càng tự hào về truyền thống lịch sử của dân tộc mình. Trên mỗi chặng đường cứu nước, Người luôn chú trọng việc giáo dục lịch sử dân tộc, khơi gợi lòng yêu nước của đồng bào.

Người nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”. Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ rằng “…tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm…”. Chính vì vậy “bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước…”

Nói như vậy để thấy rằng Bác rất quan tâm đến việc giáo dục truyền thống lịch sử cho mọi người, đặc biệt là truyền thống lịch sử địa phương. Công việc giáo dục ấy bao gồm nhiều kênh, từ “giải thích”, đến “tuyên truyền” rồi “tổ chức” và “lãnh đạo”. Mục đích cuối cùng là “làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước”.

Một giờ học ngoại khoá của học sinh trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc tại khu di tích lịch sử văn hoá Căng - Đồn Nghĩa Lộ   Một giờ học ngoại khoá của học sinh trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc tại khu di tích lịch sử văn hoá Căng – Đồn Nghĩa Lộ (Yên Bái)

Kế thừa tư tưởng này của Người, trong suốt thời gian qua vấn đề giáo dục truyền thống lịch sử địa phương đã được quan tâm và đẩy mạnh trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Bởi lẽ, thế hệ trẻ chính là những chủ nhân tương lai của đất nước. Sự sinh tồn, phát triển của một dân tộc nói chung và của địa  phương nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào thái độ và cách ứng xử của những thế hệ tương lai đối với quá khứ của dân tộc mình, của địa phương mình.

Trong xu thế hội nhập, sự hòa trộn giữa những nền văn hóa tất yếu đưa đến nhiều hệ quả khác nhau và cả những hậu quả khó tránh. Có một thực tế đáng buồn là có một bộ phận không nhỏ giới trẻ đã quay lưng với quá khứ, với lịch sử, thậm chí sẵn sàng phủ nhận quá khứ, phủ nhận truyền thống bằng một lối sống hời hợt, a dua, lệch lạc, sự hiểu biết của học sinh về lịch sử địa phương còn rất hạn chế.

Theo kết quả điều tra về lịch sử địa phương do giáo viên dạy Sử ở trường TH&THCS Trần Phú, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái cho thấy: Với những câu hỏi đơn giản như: “Tỉnh Yên Bái có bao nhiêu huyện, thị xã, thành phố?” chỉ có 15% số học sinh được hỏi trả lời đúng, hoặc “Lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Yên Bái là ai?” chỉ có 20% số học sinh được hỏi trả lời đúng, số học sinh còn lại lơ mơ hoặc không biết. Đây cũng là tình trạng chung ở các trường. Vấn đề này đã được các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên mổ xẻ. Đó không chỉ là vấn đề nan giải của ngành giáo dục mà còn của toàn xã hội.

Trước thực tế ấy, việc giáo dục truyền thống lịch sử  và lịch sử địa phương cho thế hệ trẻ càng trở nên cấp thiết. Một trong những môi trường giáo dục tiên quyết chính là trường học. Bởi đây là môi trường có nhiều điều kiện để tích hợp mọi phương pháp, đặc biệt là những phương pháp mang tính trực quan, sinh động, chẳng hạn: minh họa qua tranh ảnh, sách báo; qua máy chiếu; tổ chức ngoại khóa, các cuộc thi tìm hiểu; qua các trò chơi dân gian…

Nhờ các phương pháp, hình thức trên mà việc giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương trở nên sinh động, bớt khô cứng, máy móc, đọng lại trong tư duy học sinh ấn tượng tốt đẹp về mảnh đất quê hương với rất nhiều điều thú vị về những câu chuyện lịch sử, về phong tục tập quán của các dân tộc anh em được gìn giữ từ lâu đời, về các danh lam thắng cảnh của địa phương…Những kiến thức lịch sử đang hiện hữu xung quanh chúng ta chính là một nguồn tư liệu quý giá, cái chính là phải làm sao để những điều thường nhật ấy trở nên lấp lánh sắc mầu lịch sử. Vai trò đầu tiên thuộc về nhà trường mà cụ thể là những giáo viên trực tiếp giảng dạy.

Trước tiên, giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung giảng dạy trước khi lên lớp, sau đó hướng dẫn học sinh học bài về nhà để học sinh có định hướng tìm tòi, sưu tầm các tài liệu phục vụ cho bài học. Để đạt được mục tiêu bài học, giáo viên cần chuẩn bị tốt các giáo cụ trực quan (tranh ảnh, biểu đồ, bản đồ, sa bàn…), làm chủ các phương tiện dạy học hiện đại, phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh.

Bên cạnh đó, giáo viên cần phải tự nâng cao kỹ năng tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp như: tổ chức các trò chơi dân gian, các hoạt động ngoại khóa, phối hợp với các đơn vị quản lý di tích, danh thắng trên địa bàn tổ chức cho học sinh tham quan, tìm hiểu, lao động ngoại khóa tại các di tích lịch sử, văn hóa. Qua đó, tạo môi trường giáo dục thân thiện, tích cực, kéo học sinh về gần hơn với các giá trị truyền thống lịch sử. Việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường với các đơn vị trên đã mang lại hiệu quả thiết thực.

Lấy mô hình ở thị xã Nghĩa Lộ là một ví dụ, nhiều năm nay Phòng giáo dục thị xã đã chủ động phối hợp với Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tổ chức cho học sinh các trường đến tham quan, lao động ngoại khóa kết hợp với nghe thuyết minh, kể chuyện về lịch sử địa phương, về danh nhân. Hiệu quả trông thấy là học sinh tỏ ra rất hứng thú khi tham gia các hoạt động này bởi các kiến thức lịch sử đã trở nên sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp thu. Từ đó học sinh sẽ có ý thức tôn trọng, bảo vệ các di tích, danh thắng, đồng thời lòng tự tôn, tự hào được nâng lên, việc quảng bá truyền thống lịch sử địa phương ra bên ngoài là tất yếu.

Ngày nay, việc giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc trong đó có lịch sử địa phương càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Trong xu thế hội nhập, nếu không biết giữ bản sắc văn hóa dân tộc thì sẽ bị hòa tan, bị nhấn chìm. Bởi vì đối với một dân tộc, lịch sử là điểm tựa, là kim chỉ nam để tồn tại và phát triển. Quá khứ, hiện tại và tương lai là một dòng chảy liên tục, cái mới sẽ ra đời trên mảnh đất truyền thống. Tôn trọng lịch sử là một tiêu chí của sự đổi mới. Như Bác Hồ đã từng căn dặn: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”./.

Thu Phong – Phạm Duyên
(Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái)

gdtd.vn

Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh qua “Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”

Ngày 21-10-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống Mali Môđibô Câyta đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Người đã nói chuyện với các thầy cô giáo, sinh viên và cán bộ, công nhân viên của trường. Bài viết nêu một số kiến giải bước đầu về triết lý giáo dục Hồ Chí Minh từ “Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của Người và qua đó muốn khẳng định triết lý giáo dục Hồ Chí Minh không phải chỉ thể hiện ở lời nói mà là cơ sở định hướng cho hoạt động thực tiễn giáo dục và xây dựng con người.

chu-tich-ho-chi-minh-ve-tham-truong-dhsphn-lan-thu-nhat-19571.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh trong một lần về thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ảnh tư liệu.

1. Trường Sư phạm phải là “trường mô phạm”

Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm rất lớn đối với đối với ngành Sư phạm và sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà.

Ngày 10 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 45 thành lập Ban Đại học Văn khoa tại Hà Nội – tiền thân trực tiếp của Trường ĐHSP Hà Nội. Trong đó, Chủ tịch Chính phủ khẳng định việc đào tạo giáo viên trung học là “rất nên cần thiết” để nâng cao nền văn hóa Việt Nam, “xứng danh với một nước độc lập và để theo kịp bước các nước tiên tiến trên hoàn cầu”. Sự kiện này đã hiện thực hóa triết lý “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Tiếp sau đó, Chính phủ cho thành lập ngành Sư phạm (1946) và Trường Sư phạm Cao cấp – Trường ĐHSP Hà Nội (1951).

Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều lần tới thăm và nói chuyện với cán bộ, giáo viên, sinh viên của Trường ĐHSP Hà Nội, thể hiện sự quan tâm tin tưởng đặc biệt của Người đối với trường sư phạm. Năm 1957, Người tới thăm và căn dặn cán bộ giáo viên về cách dạy dỗ phải xuất phát từ tình yêu thương, kiên nhẫn thuyết phục học trò,…. Năm 1960, tới thăm Trường, Người giáo dục sinh viên phát huy tinh thần phấn đấu trong học tập và cống hiến cho cách mạng. Năm 1964, Người tới thăm Trường cùng với Tổng thống Môđibô Câyta và phu nhân cùng đoàn đại biểu nhà nước Cộng hòa Mali. Sự kiện này cũng khẳng định được vị thế, vai trò của trường sư phạm trong chính sách giáo dục quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.

Mở đầu Bài nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc tự phê bình: “Vì bận nhiều việc, Bác ít đến thăm nhà trường”, sau đó, Người nêu lên những vấn đề mang tính triết lý giáo dục như sau:

– Giáo viên sư phạm cần phải xung phong gương mẫu đi đầu trong việc học tập cũng như trong mọi việc. Trong đó có nhiệm vụ phát triển giáo dục miền núi (“đưa cái hiểu biết văn hóa lên cho đồng bào”). Người khẳng định việc này đã có kết quả tốt và“đó đều là công lao của nhà trường, của các cô giáo, thầy giáo”.

– Sứ mệnh cao cả của trường sư phạm cần phải thực hiện là “làm thế nào để nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước”. Từ “mô phạm” được hiểu là khuôn phép, mẫu mực, chuẩn mực để người khác tôn trọng và dựa vào đó mà noi theo. Khi Người nói “trường mô phạm” là nói đến con người – chủ thể – trong Nhà trường, đó chính là cán bộ, giáo viên, công nhân viên, học sinh, sinh viên. Điều này có nghĩa là Người đòi hỏi ở những chủ thể của Nhà trường phải (và phải phấn đấu để đạt được) là khuôn mẫu, chuẩn mực về cả đạo đức, tác phong, trình độ chuyên môn, tinh thần sáng tạo, tiên phong gương mẫu về mọi mặt. Đây là cái đích phấn đấu của tất cả mọi người trong Nhà trường. Bởi thế, đối với Trường ĐHSP Hà Nội, triết lý đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được coi là di sản tinh thần to lớn, là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của Nhà trường và thực tiễn phát triển 60 năm qua đã chứng minh “sự dẫn đường” bởi triết lý giáo dục đó của Người. Hiện nay, khẩu hiệu hành động của Trường ĐHSP Hà Nội là: “Mô phạm – Sáng tạo – Cống hiến”.

Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh về trường sư phạm “phải là trường mô phạm” cần phải được coi là tuyên ngôn về ngành sư phạm Việt Nam và các trường sư phạm cần coi đó là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của nhà trường. Đến nay triết lý còn nguyên giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn mang tính thời đại. Trước yêu cầu của sự phát triển đất nước hiện nay, đề nghị Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm hơn nữa đối với ngành sư phạm, đặc biệt tạo nhiều cơ chế đặc thù, mở ra những cơ hội phát triển thực sự mới cho mạng lưới các trường sư phạm, thúc đẩy hệ thống giáo dục quốc dân hội nhập quốc tế.

2. Phong trào thi đua phải thực chất, hiệu quả

Trong Bài nói chuyện, điều đầu tiên nói về ưu điểm của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người đã khẳng định: “Một là tất cả mọi người, các cô giáo, thầy giáo, các cán bộ, công nhân viên cũng như các cháu học sinh đều có tinh thần khắc phục khó khăn làm tròn nhiệm vụ. Đó là một điều tốt… Một ưu điểm nữa là phong trào thi đua “Hai tốt” ở đây làm khá. Bác nói rằng khá, chứ chưa phải trăm phần trăm tốt đâu nhé”.

Sức sống của phong trào thi đua “Hai tốt” (dù được triển khai cách đây nửa thế kỷ – 1961) tự nó đã khẳng định tính hiệu quả trong toàn ngành giáo dục. “Hai tốt” đơn giản chỉ là “dạy tốt, học tốt” nhưng bao chứa tất cả ý chí quyết tâm, lòng nhiệt huyết, tận tụy, sự nỗ lực cố gắng, phấn đấu bền bỉ, sự hy sinh, năng lực sáng tạo, chủ động, và cả niềm tin, sự kỳ vọng,… của hai chủ thể chính đó là nhà giáo và học trò. “Hai tốt” không phải là một phong trào mang tính hình thức nảy sinh từ tư duy các nhà quản lý mà là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn giáo dục của toàn ngành mà trực tiếp được bắt đầu nhân rộng, phổ biến từ một mô hình thi đua đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn ở một trường học tại địa phương – Trường THCS Bắc Lý (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).

Sau này, trong bức thư cuối cùng gửi cho ngành giáo dục cả nước (10/1968), Người nhấn mạnh quyết tâm và kỳ vọng vào hiệu quả toàn diện của phong trào: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật”.

Từ kết quả của phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” với sự định hướng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể nêu lên nội dung triết lý giáo dục của Người: Phong trào thi đua chỉ có sức lan tỏa và phát huy hiệu quả thiết thực khi nó được bắt đầu từ mô hình của thực tiễn, đối tượng thực hiện rõ ràng, mục tiêu có tính xuyên suốt, dễ hiểu, phương thức tổ chức thực hiện cụ thể, sáng tạo, sinh động và việc kiểm tra đánh giá, tổng kết đơn giản (bởi hiệu quả thực hiện phải dễ thấy qua người thực(Thầy – Trò), việc thực (Dạy – Học),…

Hầu hết các phong trào thi đua sau này được ngành giáo dục phát động thực chất là cụ thể hóa hoặc dưới hình thức khác cho phù hợp với điều kiện thực tiễn nhưng về bản chất vẫn nhằm mục đích cơ bản nhất là “dạy tốt, học tốt”.

3. Trường sư phạm phải là thành trì vững chắc của đạo đức xã hội

Trong Bài nói chuyện, Người nêu mục tiêu giáo dục phải đạt được là đào tạo con người phát triển toàn diện cả về tài và đức: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

– Khi Người nêu yêu cầu trong dạy và học “phải biết chú trọng cả tài lẫn đức” cũng có nghĩa đặt ra nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục toàn diện. Tuy nhiên, việc Người đưa ra định nghĩa về “đức” và nhận định vai trò của đạo đức cách mạng thì không có nghĩa là hạ thấp vai trò của “tài”. Bởi trong mỗi thời điểm lịch sử nhất định, việc giáo dục toàn diện cho con người là nhiệm vụ cơ bản nhưng nhấn mạnh một mặt nào đó cũng là do xuất phát từ nhiệm vụ kinh tế – xã hội. Hồ Chí Minh dùng khái niệm “đạo đức cách mạng” để giải thích về “đức” và coi đó “là cái gốc, rất là quan trọng” nhằm phân biệt với đạo đức truyền thống được hình thành trong xã hội cũ. Theo Người, nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng con người mới với đạo đức mới (có nội dung cốt lõi là “triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”). Như thế, nhiệm vụ giáo dục phải gắn liền với thực tiễn đời sống xã hội, đào tạo con người phải nhằm mục đích phụng sự Tổ quốc và Nhân dân.

– Yêu cầu chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng được Người nêu lên ở Trường ĐHSP Hà Nội cho chúng ta thấy tư tưởng cốt lõi về đào tạo ngành sư phạm phải đặc biệt chú trọng đến nội dung giáo dục đạo đức bởi nghề dạy học “rất là quan trọng, rất là vẻ vang”. Người khẳng định: “Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”. Điều này không chỉ đặt ra ở phương diện triết lý giáo dục mà trong thực tiễn, đòi hỏi mỗi cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên phải thấu triệt và không ngừng nỗ lực hiện thực hóa yêu cầu này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu lên những yêu cầu cụ thể:

– Yêu cầu về lý tưởng sống phụng sự Tổ quốc và Nhân dân, “quyết tâm phải làm tròn nhiệm vụ”, phải hòa mình vào thực tế sinh động đầy khó khăn, gian khổ để qua đó hiểu biết thêm thực tiễn giúp cho giáo dục thực chất.

– Yêu cầu đối với quan hệ xã hội trong Nhà trường trước hết “phải đoàn kết”: “Đoàn kết thật sự, giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa trò và trò, giữa cán bộ và công nhân. Toàn thể nhà trường phải đoàn kết thành một khối, đoàn kết phải thật sự trăm phần trăm chứ không phải chỉ là đoàn kết miệng”. Trong mối quan hệ giữa trò với trò phải đảm bảo tinh thần bình đẳng, phải “thật sự coi nhau như anh em, chị em ruột thịt trong một nhà”, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không được có ý ganh ghét, đố kỵ, hống hách,…

– Yêu cầu về phẩm chất Nhà giáo: Các cô giáo, thầy giáo cần “phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc” nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng”, thường xuyên “thi đua phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm” để trở nên mẫu mực, chuẩn mực; “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. … Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo – là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng”.

Thực tiễn đời sống xã hội hiện nay đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến đạo đức trong ngành giáo dục. Gần đây, tình trạng vi phạm đạo đức nhà giáo và bạo lực học đường ngày càng gia tăng và trở nên nghiêm trọng. Vấn đề giáo dục đạo đức hơn bao giờ hết trở thành mối quan tâm trước hết của toàn xã hội.

Từ những chỉ dẫn sâu sắc mang tính triết lý giáo dục trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu tại chính ngôi trường đại học đầu tiên của ngành sư phạm, chúng tôi đề nghị, Bộ Giáo dục – Đào tạo cần đề cao hơn nữa về vai trò và sứ mệnh của các trường sư phạm, đặc biệt các trường Đại học Sư phạm phải được coi là thành trì vững chắc nhất bảo vệ, giữ gìn, giáo dục và phát huy nền tảng đạo đức xã hội.[2] Bởi trước đây, đã có thời kỳ, Trường ĐHSP Hà Nội được coi như “một loại trường Đảng”, có sứ mệnh như là “pháo đài bảo vệ chủ nghĩa xã hội” và thực tế thông qua những thành quả đào tạo đã phát huy tốt vai trò đó trong toàn ngành giáo dục và toàn xã hội.

Thay đổi nhận thức là một bước cơ bản để thay đổi hành động. Đạo đức nhà giáo đại diện cho nền tảng của đạo đức xã hội. Quan tâm tới sự phát triển toàn diện trong giáo dục, đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức với những chính sách ưu tiên cụ thể, kịp thời cho chủ thể giáo dục (thầy – trò) cũng như việc xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm đạo đức nhà giáo sẽ là cơ sở thực sự tin cậy để xây dựng nền tảng đạo đức xã hội, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước.

4. Triết lý “trồng cây” – “trồng người” và tổ chức giáo dục trong nhà trường

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Tết trồng cây vào mùa xuân với ý nghĩa “làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Lợi ích của trồng cây thì ai cũng hiểu nhưng triết lý sâu xa trong việc trồng cây chính là sự nghiệp trồng người: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Trong bài nói chuyện, sau khi nhắc nhở về kết quả làm vệ sinh và trồng cây còn hạn chế, Người đặt yêu cầu: “Các cô, các chú và các cháu phải làm cho vườn của trường thành một vườn hoa, vườn cây tươi đẹp”.

Nếu hiểu việc trồng cây liên hệ tới sự nghiệp trồng người thì ở đây Hồ Chí Minh đã cho chúng ta những chỉ dẫn cụ thể, sinh động. Nếu “tham trồng cây nhiều, nhưng không chăm bón cho tốt” thì sao mà đạt kết quả tốt được. Điều đó cũng như trong công tác đào tạo, không phải cứ tham về số lượng, mà không đảm bảo về điều kiện đào tạo cho tốt, như về đội ngũ, về cơ sở vật chất, thiết bị,… thì không thể đảm bảo chất lượng được và đương nhiên không đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Chính vì thế, nhất định phải đảm bảo tốt về điều kiện để “trồng cây nào thì phải chăm bón cho tốt cây đó. Như thế, hơn là tham trồng nhiều mà kết quả ít”.

Từ triết lý “trồng cây” – “trồng người” của Hồ Chí Minh có thể nhận thấy rằng: Đối với việc trồng người (sự nghiệp giáo dục – điều kiện để tạo nên con người) thì không thể cho phép người ta tạo ra phế phẩm, dù chỉ ở trong suy nghĩ.

Điều đặc biệt, chỉ trong một đoạn ngắn nhắc nhở việc trồng cây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 4 từ “phải”: “phải chăm bón cho tốt cây”, “phải làm cho vườn trường thành một vườn hoa, vườn cây tươi đẹp”, “phải làm”, “làm thì phải có tổ chức”. Triết lý sâu sắc của Người ở đây là: kể từ việc trồng cây đến việc trồng người, nhất định con người phải là chủ thể, phải chủ động thực hiện và khi thực hiện thì phải đảm bảo điều kiện, phải có trách nhiệm, phải đạt hiệu quả và có tác động thúc đẩy môi trường – xã hội phát triển. Điều này không chỉ khẳng định chân lý: Con người là chủ thể của lịch sử, của xã hội mà còn thể hiện rõ quan điểm của Hồ Chí Minh: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.

Về công tác tổ chức giáo dục trong nhà trường, Người chỉ rõ: “Làm thì phải có tổ chức… Có tổ chức thì nhất định làm được tốt”. Về phương pháp học tập, đối với người học “không nên học gạo, không nên học vẹt” mà “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau” [4;331]. Để phương pháp dạy và học thực sự hiệu quả, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đối với cả giáo viên và học sinh phải đảm bảo kỷ cương nền nếp: “Cần phải giữ gìn kỷ luật cho tốt, phải sạch sẽ, gọn gàng. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do, chống lề mề, luộm thuộm”.

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là một hệ thống quan điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của con người và toàn xã hội. Trong đó có những tư tưởng đi trước thế giới, trở thành chân lý được nhân loại tiến bộ thừa nhận và tiếp tục thực hiện tư tưởng của Người[3].Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục chứa đựng kho tàng triết lý sâu sắc, đó là kết quả của sự thẩm thấu và phát triển những tinh hoa, cốt lõi của nền văn hóa dân tộc cùng với những tri thức tiến bộ của văn minh nhân loại. Kho tàng triết lý ấy cần được tiếp tục khai thác nhằm xây dựng cơ sở lý luận có tính chất nền tảng, kim chỉ nam của triết lý giáo dục Việt Nam hiện đại, góp phần vào nội dung của chủ thuyết phát triển Việt Nam đang được đầu tư nghiên cứu. Hiện thực của triết lý giáo dục Hồ Chí Minh chính là ở cuộc đời và sự nghiệp của Người.

NCS. Nguyễn Bá Cường
Đại học Sư phạm Hà Nội

hochiminhhoc.com