Thư viện

Bến cảng Sài Gòn – nơi mở đầu hành trình vĩ đại của Người

(Dân trí) – Từ bến cảng Sài Gòn, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao. Suốt 30 năm bôn ba Người đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Ngày 31/5, Thành ủy TPHCM đã phối hợp với Ban tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch tổ chức hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”.

Hơn 500 đại biểu là cán bộ lãnh đạo Đảng và nhà nước, cán bộ lão thành cách mạng, đại diện các tầng lớp nhân dân đến tham dự hội thảo

Tham dự hội thảo có ông Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng; ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; ông Đinh Thế Huynh, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TPHCM; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an…

Khai mạc hội thảo, ông Đinh Thế Huynh phát biểu: “Cách đây 100 năm, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Sài Gòn, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước. Đó là thời điểm sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta bế tắc về đường lối, như trong đêm tối không có đường ra. Biết bao cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước bị thực dân đàn áp, bị dìm trong bể máu và đều thất bại”.

Trong bối cảnh lịch sử đó, Bác Hồ đã ra đi với đôi bàn tay trắng, ra đi để tìm kiếm một con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Ông Đinh Thế Huynh nhìn nhận: “Đó là sự mở đầu cho một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao, quả cảm và sáng tạo suốt 30 năm đi tìm chân lý, tìm con đường giải phóng cho cả dân tộc Việt Nam”.

Từ bến cảng Sài Gòn, Người đã ra đi tìm đường cứu nước (ảnh tư liệu)

Phát biểu báo cáo đề dẫn hội thảo, Phó bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua cho biết: “Mục đích của hội thảo là nhằm nâng cao nhận thức và tôn vinh công ơn trời biển của Bác Hồ, khẳng định ý nghĩa lịch sử và thời đại của sự kiện Bác Hồ ra đi ngày 5/6/1911 như một mốc son trong lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng; khẳng định lựa chọn sáng suốt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam”.

Ông Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tương Văn hóa Trung ương cũng đồng tình với ý kiến trên. Theo ông thì ngày 5/6/1911 là ngày có ý nghĩa lịch sử trọng đại, bởi vì “đó là ngày từ cảng Sài Gòn, Người đã ra đi tìm đường cứu nước và đã tìm được con đường đúng”.

Với ý nghĩa quan trọng này, hội thảo đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các cán bộ lãnh đạo Đảng và nhà nước, các cán bộ lão thành cách mạng, các nhà khoa học… Đến ngày hội thảo khai mạc, ban tổ chức đã nhận được 137 bài tham luận, trong đó có tham luận của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười và nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu.

Các tham luận xoay quanh 4 nội dung chính là: Bối cảnh lịch sử của đất nước và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Sự lựa chọn của Người khi Người chọn ra đi từ thành phố Sài Gòn; Hành trình tìm đường cứu nước vĩ đại trong suốt 30 năm của Người; Quyết tâm vững bước theo con đường cách mạng mà Người đã chọn.

Bác bắt đầu ra đi tìm đường cứu nước bằng chính sức lao động của đôi bàn tay mình trên con tàu Amiral Latouche Tre1ville (ảnh tư liệu)

Trong tham luận của mình, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nhấn mạnh, chúng ta phải kiên trì đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân lựa chọn; để kiên định và kiên trì con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn thì trong mọi hoạt động của Đảng, phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam.

Ông cho rằng: “Đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là một cuộc đấu tranh để xây dựng cái mới và loại trừ cái cũ không còn phù hợp, là sự nghiệp mãi mãi của các thế hệ Việt Nam. Chúng ta khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi, tiếp tục thực hiện con đường cách mạng vinh quang đó tới đích”.

Trong tham luận “Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: “Ngay sau khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người khẳng định, đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất thật rộng rãi, dùng máy móc trong công nghiệp và trong nông nghiệp… Đó là con đường phải đi của chúng ta, con đường công nghiệp hóa nước nhà”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao đổi cùng nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu bên lề hội thảo
Cũng trong tham luận này, Thủ tướng chia sẻ: “Lịch sử có những sự trùng hợp thú vị. Từ thành phố này, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Và Thành phố này cũng là một nơi khởi phát mạnh mẽ những tìm tòi con đường đổi mới, đưa nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, dẫn đến quyết định lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ VI. Trong 25 năm qua, TPHCM luôn giữ được vai trò tiên phong trong tiến trình đổi mới theo đường lối của Đảng”.

Và Thủ tướng gửi gắm nhiệm vụ cho lãnh đạo TPHCM: “Cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, các dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, xây dựng nền nông nghiệp sạch, đi đôi với đầu tư phát triển nhanh kết cấu hạ tầng và tăng cường chất lượng quản lý đô thị, tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc. Đồng thời, Thành phố phải rất coi trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đi đầu trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tri thức.”.

Thủ tướng tin tưởng từ thành công đó của TPHCM sẽ tạo tác động lan tỏa góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở cả khu vực phía Nam và trong cả nước. Ông cho rằng: “Đây là sứ mệnh rất vẻ vang của Đảng bộ và quân dân Thành phố mang tên Bác. Chúng ta tin tưởng rằng Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phát huy truyền thống tốt đẹp, làm tốt hơn nữa vai trò tiên phong của mình trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Khi đọc tham luận của mình, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải xúc động: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả cuộc đời Người hiến dâng trọn vẹn cho tổ quốc, cho nhân dân. Lúc ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng, lúc trở về gây dựng cả một giang sơn gấm vóc, nhưng là để lại cho muôn đời con cháu mai sau. Còn đối với người thì “sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức phúng điếu linh đình để lãng phí tiền bạc và thời giờ của nhân dân”. Nguyễn Tất Thành – Nguyển Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người vô cùng bình dị và thật là vĩ đại”.

Ông thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP hứa: “TP nguyện xây dựng đảng bộ thật sự trong sạch, vững mạnh để vững bước theo con đường Người đã chọn, để xứng đáng được mãi mãi là thành phố mang tên Hồ Chí Minh”.

Tùng Nguyên
dantri.com.vn

Sáng mãi con đường vì dân, vì nước

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011)

oOo

(GD&TĐ) – Năm nay chúng ta kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 –5/6/2011). 100 năm trước đây, trên con tàu L’Amiral Latauche Trasvill, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời bến cảng Nhà Rồng với hoài bão mãnh liệt ra đi tìm đường giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân. Sự kiện này là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử dân tộc. Tuy sớm thể hiện lòng yêu nước thương dân từ thuở còn đi học, nhưng đến thời điểm quyết tâm rời xa Tổ quốc tìm đường cứu nước, người thanh niên yêu nước có chí lớn và đầy nhiệt huyết Nguyễn Tất Thành đã dứt khoát chọn lẽ sống của đời mình là vì dân vì nước. Và Người đã dâng trọn đời mình cho lẽ sống cao đẹp này. Có thể nói ngày Bác Hồ rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước là điểm khởi đầu sự nghiệp cách mạng to lớn của Người – sự nghiệp của một lãnh tụ cách mạng, người anh hùng giải phóng dân tộc.

(ảnh minh họa: Internet)(ảnh minh họa: Internet)

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, người Việt Nam chúng ta không bao giờ quên được trang đen tối cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi đất nước ta chìm đắm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Không chịu khuất phục, bao người con ưu tú của đất nước như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… bằng cách lựa chọn của mình, đều đã tìm đường cứu nước nhưng đã không thành công. Bài học thất bại của những nhà yêu nước lớp trước đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài tìm hiểu để lựa chọn, xác định một con đường đúng đắn có thể đập tan xích xiềng nô lệ của thực dân, giải phóng đất nước, mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình, mang lại ấm no hạnh phúc cho đồng bào mình.

Trên hành trình tìm đường cứu nước của mình, nhà yêu nước Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba qua châu Âu, châu Mỹ, châu Á, châu Phi, đã sống, làm việc, hoạt động ở gần 30 nước. Chính sự trải nghiệm và tầm nhìn được mở rộng như vậy cộng với tài năng thiên phú, khả năng tự học, tự nghiên cứu cao và trái tim vốn giàu tình thương yêu con người, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến một nhận thức quan trọng: Chính chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân đẩy người lao động cần lao ở các nước thuộc địa cũng như chính quốc rơi vào cuộc sống lầm than. Từ đó Người đã tìm đến với Chủ nghĩa Mác – Lê nin, xác định được con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn. Sau này, Nguyễn Ái Quốc, khi đó đã là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhớ lại: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức, những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Với việc tìm đến với Chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã phất lên ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội cho cách mạng Việt Nam.

Tìm hiểu sâu thêm tư tưởng, tình cảm và con đường mà Hồ Chí Minh đã đi, chúng ta có thể hình dung chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh đã được hình thành và dựa trên nền tảng của một chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc, một tình yêu thương con người bao la như biển cả. Người nói nhiều đến nhân dân, nhân dân đất nước mình và nhân dân thế giới. Đối với nhân dân đất nước mình, Người hay dùng từ “đồng bào” rất đỗi thân thương. Khi đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Lễ Quốc khánh đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945, Người dừng giữa chừng và bằng giọng trầm ấm thân thiết hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Kể cả khi nói và khi viết về nước hoặc về dân, Người thường gắn liền nước với dân, dân với nước, yêu nước gắn với thương dân, thương dân nước mình và yêu thương nhân loại với cái tâm hướng tới một thế giới đại đồng, thế giới xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Yêu nước thương dân nên phải làm cách mạng để giành độc lập tự do cho đất nước, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đó là mục đích, là lẽ sống, là con đường mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn, đã đi và đã truyền lửa cho lớp lớp cháu con tiếp bước. Chúng ta có thể điểm qua những dấu ấn, những sự kiện quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh kể từ khi Người tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, nghĩa là sau khi Người đã xác định được con đường đúng đắn cứu dân, cứu nước. Cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp. Ngày 21/6/1925 Báo Thanh niên được thành lập; Báo do Người sáng lập nhằm chuẩn bị đường lối chính trị cho một tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Năm 1925, Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; và khi điều kiện chín muồi, ngày 3/2/1930, Người đã chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản thành một Đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Mùa xuân năm 1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Tháng 8/1945, Cách mạng thành công thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện. Sau thành công của Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân ta tiếp tục tiến hành thắng lợi kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Hồ Chủ tịch. Các sự kiện nêu trên đã ghi dấu trong lịch sử dân tộc và khẳng định tính đúng đắn của con đường cứu nước, cứu dân mà Hồ Chí Minh đã chọn và sau đó đã suốt đời đi theo hy sinh, phấn đấu để biến ước mơ, hoài bão, lý tưởng vì nước, vì dân của mình trở thành hiện thực.

Đã 100 năm kể từ ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và 42 năm kể từ ngày Người mãi mãi đi xa. Xin kính dâng Người một nén tâm nhang. Tháng 5 đến rồi, khắp đất nước mình, khói hương đang mang mang dâng lên tưởng nhớ Người. Với công lao như trời biển với dân, với nước, Người đã hiển thánh trong lòng dân tộc. Dù Người đã đi xa nhưng hình ảnh của Người, sự nghiệp của Người vẫn còn mãi mãi. Chúng con vẫn hằng soi vào tấm gương trong của Người để tâm hồn mình thêm trong sáng và để được tiếp thêm sức mạnh bước tiếp trên con đường mà Người đã tìm ra và đi trọn cuộc đời. Con đường vì dân vì nước của Người sẽ sáng mãi, cuốn hút, thúc giục toàn dân tộc bước tiếp, hướng tới một ngày mai tươi sáng, vì một Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng  văn minh, có thể sánh vai cùng các cường quốc năm châu như điều Người hằng mong ước.

TS. NGUYỄN DANH BÌNH

gdtd.vn

Sự kiện Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước – Ý nghĩa lịch sử và thời đại

(ĐCSVN) – Ngày 5/6/1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, Chủ tịch Hồ Chí Minh – lúc này mang tên Nguyễn Tất Thành, bắt đầu cuộc hành trình ra nước ngoài tìm đ­uờng cứu nước, cứu dân. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh vì sự sinh tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam. Nhìn từ góc độ hội nhập quốc tế, bài viết hy vọng làm sáng tỏ thêm ý nghĩa lịch sử và thời đại của sự kiện lịch sử vĩ đại này.

1. Từ tuổi 13, Nguyễn Tất Thành đã khát vọng “muốn đi ra n­ước ngoài, xem n­ước Pháp”, “muốn làm quen với nền văn minh Pháp”, như­ng không chỉ để thỏa mãn ­ước mơ hiểu biết của tuổi trẻ, mà là “muốn tìm xem ẩn giấu đằng sau” những gì đã làm nên văn minh và sức mạnh của phư­ơng Tây; muốn “xem cho rõ” sự “làm ăn ra sao” của những cư­ờng quốc mà các nhà yêu n­ước Việt Nam đương thời kì vọng có thể giúp đất n­ước mình thoát khỏi ách thống trị thực dân; và, “sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” [1] .

Với hành trang chủ nghĩa yêu nư­ớc-nhân văn Việt Nam và mục đích xác định tr­ước, bằng lao động, Người bắt đầu cuộc hành trình sang ph­ương Tây tìm con đ­ường mới để cứu n­ước cứu, dân.

Bến cảng Nhà Rồng hôm nay

Trong khoảng thời gian này, không chỉ có Nguyễn Tất Thành phát hiện ra cái mới, muốn làm quen, đi tìm và học cái đã tạo nên văn minh, sức mạnh của ph­ương Tây để trở về m­ưu độc lập, tự cư­ờng cho dân tộc, giải phóng cho đồng bào của mình. Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là những ng­ười tiên phong nh­ư vậy.

Mang chung hành trang là chủ nghĩa yêu n­ước – nhân văn Việt Nam và cùng mục đích, nh­ưng giữa hai Cụ Phan với Nguyễn Tất Thành có những khác nhau. Một bên là tìm, học cái mới mà dân tộc ch­ưa có và xem đó nh­ư một chỗ dựa, một cứu cánh; một bên là muốn tìm hiểu giá trị thật của cái mới và cả cái ẩn giấu đằng sau nó; bên này chỉ mới tiến đến ở sự tiếp nhận, còn bên kia là đến tận nơi xem cho rõ cách làm. Cho dù có cùng hành trang, cùng mục đích, nhưng sự khác nhau về tầm nhìn và phư­ơng pháp của họ đã tạo ra kết quả khác biệt. Bên này, là tiếp nhận và đ­ưa về cái mới mà dân tộc ch­ưa có nh­ưng không biết nó đã bắt đầu trở nên lỗi thời so với sự phát triển của lịch sử nhân loại. Bên kia với sự khảo sát trực tiếp, phân tích, so sánh giữa lý thuyết với kết quả thực tế của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới (đã có đến thời điểm đó) để lựa chọn nhằm tiếp nhận những giá trị chung và mới của nhân loại đặng tìm ra con đ­ường cứu nư­ớc, cứu dân thích hợp với hoàn cảnh cụ thể của nư­ớc nhà và t­ương thích với sự vận động, xu thế phát triển mới trong quá trình tiến hóa của loài ngư­ời. Cũng vì vậy, những cố gắng cao nhất của hai cụ Phan cũng chỉ làm bùng phát một phong trào dân tộc, nuôi dưỡng ngọn lửa yêu nước trong nhân dân, bởi những cái đ­ược cho là chư­a có và đ­ược xem là mới đối với dân tộc mà hai Cụ đư­a về đã bị lịch sử nhân loại và chính phong trào cách mạng dân tộc vư­ợt qua.

Bằng lao động và hòa vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới, cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành đ­ược tiến hành trong gần một thập kỷ ở n­ước ngoài không chỉ để biết thế giới mà chính là quá trình học tập, khảo sát, nghiên cứu kỹ l­ưỡng nhằm thấu hiểu để chọn lọc và tiếp thu những giá trị văn hóa-văn minh của nhân loại. Thông qua quá trình của cuộc hành trình vĩ đại đến với các dân tộc, chủng tộc ở các châu lục, đặc biệt là trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng ở nhiều n­ước đã nâng cao trí tuệ, làm giàu văn hóa và mở rộng thế giới quan cho Ng­ười – từ tầm mức dân tộc đến nhân loại. Đó là cơ sở giúp cho Người thấu hiểu đ­ược sự t­ương đồng và khác biệt giữa triết lý ph­ương Đông và phư­ơng Tây; đã nhận thấy nguồn gốc trực tiếp nỗi khổ đau chung của các dân tộc thuộc địa và những người lao động, không phân biệt chủng tộc, màu da, trên hành tinh này và đi tới khẳng định: Vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con ngư­ời không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con ng­ười Việt Nam mà là của các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới.

Bằng trực tiếp khảo sát tại quê h­ương của các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Anh và Mỹ), với trí tuệ thiên tài của mình, Nguyễn Tất Thành đã phát hiện và tiếp nhận “những lời bất hủ” mang giá trị chung của nhân loại về quyền dân tộc và quyền con ng­ười đ­ược ghi trong Tuyên ngôn độc lập của n­ước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp. Đồng thời, Ng­ười cũng thấy rõ hạn chế giữa lý thuyết và thực tế mà nổi bật là tính chất “không đến nơi” của các cuộc cách mạng này.

Những kết luận trên đây không phải chỉ là kết quả của sự trải nghiệm. Chỉ với tầm trí tuệ không ngừng đ­ược nâng cao, trên cơ sở đ­ược làm giàu về các giá trị văn hóa-văn minh nhân loại và với một tầm nhìn thế giới trong phân tích lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn, Nguyễn Tất Thành mới có thể đúc rút thành những kết luận khoa học đúng đắn có giá trị quan trọng nh­ư vậy. Do đó, Ng­ười không chỉ dừng lại ở phân tích lý luận và thực tiễn để chọn lọc và thâu thái các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, mà còn trên cơ sở các kết luận đó, tìm lời giải đáp những vấn đề đang đư­ợc đặt ra trong lịch sử tiến hóa của loài ngư­ời. Đây chính là sự chuẩn bị – cả trên ph­ương diện lý luận và thực tiễn để Ngư­ời, không chỉ đi từ DÂN TỘC đến NHÂN LOẠI trong nhận thức các giá trị văn hóa – văn minh mà còn tiến tới năng lực phát hiện và nắm bắt đư­ợc quy luật tiến hóa của lịch sử nhân loại, xu thế của THỜI ĐẠI bằng thế giới quan khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Đi từ Dân tộc đến nhân loại, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin là quá trình từ nhận thức cảm tính đến khoa học. Với thế giới quan khoa học và cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiệnnhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển trong tiến trình đi lên của loài ng­ười và đi tới khẳng định: “Muốn cứư n­ước và giải phóng dân tộc không có con đ­ường nào khác con đ­ường cách mạng vô sản”[2] .

Amiran Latutsơ Tơrêvin là tên con tàu đưa Bác Hồ rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước

Đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản và chỉ rõ “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành đ­ợc thắng lợi hoàn toàn”[3] , Người đã chỉ rõ: cách mạng giải phóng dân tộc phải hư­ớng đích tới sự giải phóng triệt để đối với con người theo quy luật tiến hóa tự nhiên của lịch sử nhân loại. ĐỘC LẬP DÂN TỘC phải đưa tới TỰ DO – HẠNH PHÚC cho con ng­ười. Với con đư­ờng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chỉ ra, cách mạng Việt Nam hàm chứa sâu sắc các nội dung Dân tộc – Nhân loại và Thời đại, và do đó, với đ­ường lối đúng đắn thuận theo quy luật tiến hóa của nhân loại, đ­ược sự ủng hộ của toàn dân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, cách mạng Việt Nam đã hội đủ các yếu tố Thiên thời – Địa lợi- Nhân hòa đảm bảo cho sự thắng lợi.

Với tất cả các ý nghĩa đó, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà nội dung là giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng con ng­ười là triết lý phát triển Việt Nam. Đây là nội dung căn bản nhất của t­ư tư­ởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, chi phối mọi hoạt động lý luận và thực tiễn của cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, đem lại tự do, hạnh phúc cho con ngư­ời. Tìm ra con đ­ường cứu n­ước đúng đắn là công lao vĩ đại đầu tiên, là cống hiến lý luận sáng tạo hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là di sản có giá trị vĩnh hằng đối với cách mạng Việt Nam.

3. Đi ra n­ước ngoài để “xem xét họ làm thế nào” nhằm “trở về giúp đồng bào chúng ta” – với những những hoạt động và kết quả trên đây, có thể nhìn nhận quá trình đó của Nguyễn Tất Thành, trên nền tảng giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thực chất là quá trình hội nhập quốc tế để nghiên cứu, lựa chọn, tiếp nhận, vận dụng và phát triển các giá trị tinh hoa văn hóa văn minh nhân loại nhằm tìm ra con đ­ường đi lên cho dân tộc, hư­ớng tới mục tiêu vì sự giải phóng con người. Chính từ mục tiêu và bản chất của toàn bộ quá trình tiếp biến các giá trị văn hóa văn minh đó đã mặc định t­ư t­ưởng và sự nghiệp cách mạng mà Ng­ười lãnh đạo thực hiện ở Việt Nam cũng nh­ư những đóng góp của Ngư­ời với dân tộc và nhân loại thấm đậm giá trị văn hóa văn minh. Giá trị cao cả và đích thực của t­ư t­ưởng, sự nghiệp ấy chính là ở chỗ: Ng­ười đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập cho dân tộc, xây dựng xã hội mới vì tự do và hạnh phúc của con ng­ười Việt Nam, đồng thời góp phần cùng các dân tộc đấu tranh loại trừ chủ nghĩa thực dân – một trở lực lớn trên con đ­ường tiến tới văn minh của nhân loại, đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh xây dựng một thế giới mới hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử loài ng­ười.

Những giá trị văn hóa-văn minh đó càng thêm sâu sắc khi Ng­ười chủ tr­ương cách mạng bắt đầu bằng sự giác ngộ nhân dân, làm cho nhân dân hiểu rõ các quy luật phát triển của xã hội, nhận rõ mục đích đấu tranh và con đ­ường giải phóng, tin chắc vào sự thắng lợi mà kiên quyết tự đứng lên làm cách mạng và xây dựng xã hội mới xóa bỏ áp bức, bóc lột và tạo ra những điều kiện phát triển toàn diện đối với con người. Ng­ười cho rằng: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu n­ước mạnh, mọi ng­ời Việt Nam đều phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia xây dựng n­ước nhà”[4] .

Xuất phát từ các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, lấy văn hóa soi đ­ường cho quốc dân đi, đem văn minh chống lại dã man, vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc và con ng­ười d­ưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nghiệp văn hóa – văn minh vĩ đại ở Việt Nam, trong đó kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng với phát triển và hoàn thiện con ng­ười. Giá trị cao cả nhất của văn hóa – văn minh là h­ướng tới và đ­ưa đến sự giải phóng toàn diện, phát triển và hoàn thiện con ngư­ời, như­ng sự sâu sắc của giá trị cao cả đó là làm cho con ng­ười tự đứng lên giải phóng bằng chính sự phát triển và hoàn thiện của mình.

Bác Hồ làm phụ bếp trên con tàu đã đưa Người ra đi tìm đường cứu nước năm 1911

Lấy thống nhất thay vì loại trừ bằng sự giác ngộ, đoàn kết toàn dân nhằm “đem sức ta giải phóng cho ta” và không ngừng phát triển văn hóa làm cho nhân dân đồng thuận để “tự lực, tự c­ường” trong xây dựng xã hội mới là đường lối và cũng là ph­ương pháp cách mạng thấm đậm nội dung văn hóa-văn minh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng, thực hiện ở n­ước ta. Giải phóng dân tộc, giải phóng con ng­ười bằng sự phát triển và hoàn thiện con ngư­ời ở tầm cao văn hóa-văn minh như­ thế đã tạo ra nguồn năng l­ượng và động lực tổng hợp cực kì mạnh mẽ từ mỗi ngư­ời dân đến toàn dân, để làm nên mọi thắng lợi của dân tộc ta trong lịch sử hiện đại. Đó là bí quyết thành công của cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút từ giá trị tinh hoa văn hóa-văn minh của dân tộc và nhân loại vận dụng vào n­ước ta. Điều đó cắt nghĩa trong mọi hoàn cảnh lịch sử, Ngư­ời luôn chủ trư­ơng nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, đẩy mạnh giáo dục đạo đức và nhân cách cho toàn dân đi đôi với mở cửa tiếp thu tinh hoa văn hóa-văn minh nhân loại.

Xã hội mà Ng­ười chủ trư­ơng xây dựng là sự kết hợp giữa việc kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa-văn minh dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa-văn minh nhân loại, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nư­ớc- nhân văn Việt Nam và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đối với cá nhân, đó là văn hóa-văn minh để làm ng­ười, làm việc, để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự nhân loại; là xóa bỏ tham nhũng, l­ười biếng, phù hoa xa xỉ và làm cho mọi ngư­ời dân Việt Nam, từ già đến trẻ, đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình được h­ưởng.

Xã hội mà Ng­ười chủ tr­ương xây dựng là một xã hội đạo đức có điểm xuất phát từ chính nội dung văn hóa-văn minh của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa để giải phóng con người. Bởi vậy, Ng­ười đòi hỏi đội ngũ tiên phong là Đảng Cộng sản phải “là đạo đức, là văn minh” và người làm cách mạng và xây dựng xã hội văn hóa- văn minh phải có văn hóa và đạo đức cách mạng. Ng­ười th­ường nói: “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con ngư­ời thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa”[5] . Đó là đạo đức làm ngư­ời, hoàn thiện con người, đạo đức vì thắng lợi của sự nghiệp vĩ đại là giải phóng con ng­ười và xây dựng xã hội đem lại tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi ng­ười. Cũng chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là gốc, đạo đức cách mạng là đạo đức hành động và Ngư­ời không chỉ để lại một hệ thống quan điểm về đạo đức để toàn Đảng, toàn dân học tập mà còn là một tấm gương ngời sáng, một kiểu mẫu về đạo đức, về văn hóa-văn minh, về sự nhất quán giữa t­ư t­ưởng và hành động, giữa nói và làm. Dẫn dắt cả dân tộc đi vào cuộc cách mạng hư­ớng tới sự giải phóng và hoàn thiện con ng­ời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của sự toàn mỹ về văn hóa-văn minh, về đạo đức và nhân cách: yêu thư­ơng đồng bào và nhân loại; triệt để cách mạng nh­ưng rất nhân văn; uyên bác mà cực kì khiêm tốn; nguyên tắc chiến l­ược nh­ưng rất linh hoạt về sách l­ược; nhìn xa trông rộng như­ng rất thiết thực cụ thể; vĩ đại mà rất mực bình dị… Đó là chuẩn mực giá trị con người của dân tộc Việt Nam.

Suy cho cùng, con đư­ờng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt dân tộc thực hiện đã đư­a tới những thắng lợi vĩ đại đối của dân tộc, đồng thời cũng là những đóng góp vào giải quyết khát vọng lớn lao nhất, mục tiêu văn hóa-văn minh nhất của nhân loại là cải tạo thế giới để giải phóng con ngư­ời. Sự tôn vinh Ngư­ời là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất là một vinh danh kép phải được hiểu trên cùng một ý nghĩa: giá trị cao nhất của văn hóa-văn minh, của đạo đức và nhân cách là đ­ưa tới giải phóng, hoàn thiện con ng­ười và giải phóng, hoàn thiện con ng­ười chính là đỉnh cao của giá trị văn hóa-văn minh, đạo đức và nhân cách.

4. Với những biến cố lịch sử trong một thế kỉ qua, từ sự bế tắc trong đ­ường lối cứu n­ước hồi đầu thế kỉ XX, với sự hy sinh của biết bao bậc tiên liệt cho nhiệm vụ mở lối, tìm đ­ường cho dân tộc, đến thực tiễn của những thắng lợi đã đạt đ­ược trong trong cuộc tranh đấu giành và bảo vệ quyền dân tộc cơ bản cũng như­ trong xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo con đư­ờng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn, chúng ta càng thấu hiểu thêm ý nghĩa lịch sử và thời đại của sự kiện đi ra thế giới (với phư­ơng h­ướng và pháp mới) để thâu thái những giá trị văn hóa-văn minh nhân loại, mư­u tìm con đ­ường cho sinh tồn và phát triển của dân tộc mà Ngư­ời đã thực hiện.

Trên ý nghĩa đó, ngày 5/6/2011, không chỉ là là sự kiện đặc biệt đánh dấu sự khởi đầu của quá trình đi ra thế giới tìm con đư­ờng cứu n­ước cứu, cứu dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là sự kiện mở ra quá trình Việt Nam từng b­ước hội nhập vào dòng tiến hóa theo xu thế mới của nhân loại dư­ới sự dân dắt của Ng­ười. Trong quá trình đó, trên cơ sở tiếp nhận những giá trị văn hóa-văn minh nhân loại và nắm bắt đ­ược xu thế phát triển của loài ng­ười trong thời đại mới, thông qua con đ­ường cách mạng mà Ng­ười đã lựa chọn, Việt Nam đã kết hợp thành công sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo nên sức mạnh tổng hợp (cả lực, thế, thời) đ­ưa tới những thắng lợi lịch sử cho cách mạng Việt Nam trong một thế kỉ qua. Mặt khác, trong quá trình đó, dân tộc ta đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, làm cho thế kỷ XX trở thành thế kỉ phi thực dân hóa, thúc đẩy lịch sử loài ng­ười tiến lên theo h­ướng tiến bộ. Bởi vậy, kiên trì con đ­ường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn không chỉ đơn nhất là giữ vững mục tiêu Độc lập – Tự­ do – Hạnh phúc cho dân tộc và con ngư­ời Việt Nam mà còn là giữ vững các nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng nư­ớc ta (thiên thời-địa lợi-nhân hòa) để đất n­ước (có lực, thế, thời mới) tiếp tục tiến b­ước mạnh mẽ nhằm hoàn thiện những mục tiêu vì dân tộc, vì con ngư­ời Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên hành tinh của chúng ta.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giá trị trên đây, sự kiện lịch sử Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đ­ường cứu nư­ớc càng có ý nghĩa thực tiễn. Với đường lối đổi mới của Đảng, trên thực tế, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới theo t­ư t­ưởng Hồ Chí Minh để thâu nhận các giá trị văn hóa-văn minh nhân loại và nắm bắt xu thế phát triển của loài ng­ười nhằm vận dụng và tiến hành thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐH đất nư­ớc, tạo ra các điều kiện để thực hiện ngày một hoàn chỉnh các nội dung của tiêu chí Độc lập – Tự do – Hạnh phúc cho dân tộc và con ngư­ời Việt Nam. Bởi vậy, cần phải nắm vững thế giới quan, phư­ơng pháp Hồ Chí Minh để không chỉ thâu nhận đ­ược các giá trị văn hóa-văn minh, nắm bắt đư­ợc xu thế phát triển của loài ngư­ời mà còn vận dụng phù hợp với thực tiễn của đất nư­ớc. Chỉ có nh­ư vậy mới giải quyết tốt các mối quan hệ dân tộc-giai cấp, quốc gia-quốc tế, dân tộc-thời đại, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại, liên tục tạo lập lực-thế-thời mới, đư­a đất nư­ớc phát triển vững chắc thực hiện các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Một thế kỉ đã trôi qua nh­ưng sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đư­ờng cứu nư­ớc, cứu dân vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và nghĩa thời đại. Ngày nay, trong hành trình hội nhập cùng nhân loại đi đến t­ương lai, chúng ta càng tin tư­ởng và kiên trì phấn đấu trên con đ­ường Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chỉ ra, quyết tâm đ­ưa ngọn cờ của Ngư­ời đến đích thắng lợi./.

[1] Tr­ước khi thực hiện ý định ra n­ước ngoài, Nguyễn Tất Thành đã tâm sự với một ng­ười bạn: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem n­ước Pháp và các n­ước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Hơn m­ười năm sau, trả lời một nhà báo về lí do đi ra nư­ớc ngoài, Ng­ười cho biết: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi đ­ược nghe ba chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”.

Một lần khác, Ng­ười nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này th­ường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình khỏi ách thống trị của Pháp. Ng­ười này nghĩ là Anh, có ng­ười lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra n­ước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Thực hiện ý chí của mình, ngày 2-6-1911, Ng­ười xin việc làm trên tàu AmiranLatusơ Tơrêvin đang đậu ở bến Nhà Rồng. Ngày 3/6/1911, Ng­ời bắt đầu làm việc trên tàu này với thẻ làm việc mang tên Văn Ba. Ngày 5/6/1911, tàu Amiran Latutsơ Tơrêvin rời bến Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành bắt đầu cuộc hành trình đi ra thế giới tìm con đư­ờng mới để cứu nư­ớc cứu dân.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2000, tập 9, tr314
[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2000, tập 12, tr305
[4] Hồ Chí Minh , toàn tập, tập 4, sđd, tr36
[5] Hồ Chí Minh , toàn tập, tập 10, sđd, tr485

PGS. TS Phạm Hồng Chương (Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)

dangcongsan.vn

Hồ Chí Minh và hành trình cứu nước

Bến cảng Nhà Rồng, nơi Bác Hồ bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Ảnh: Lê Toàn

(baodautu.vn) Năm 2011, tròn 100 năm kể từ ngày Người khởi xướng con đường đấu tranh cho độc lập, tự do, chúng ta cùng nhìn lại con đường Người đã chọn, trở thành ngọn cờ vẫy gọi cả dân tộc vùng lên, chung sức, đồng lòng, phá tan xiềng xích thực dân, đế quốc, giành lại quyền tự chủ, giành lại giống nòi, giang sơn gấm vóc Việt Nam.

Lối đi riêng đến phương trời mới

Một ngày đầu mùa hạ năm 1911, ở tuổi 20, ấp ủ biết bao hoài bão và lòng tin, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu hành trình cứu nước.

Như bao người yêu nước đương thời, Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh quyết định xuất dương nhằm xem xét, tìm hiểu thế giới, quan sát cuộc sống của các dân tộc, nhất là những dân tộc bị áp bức, đọa đày, để từ đó tìm ra con đường cho dân tộc Việt Nam tự giải phóng mình.

Trân trọng, khâm phục tâm huyết của các bậc tiền bối, nhưng vượt thoát khỏi phương sách cứu nước nhờ vào trợ giúp của nước ngoài hay xu hướng cải lương, Hồ Chí Minh đã tự xác định lối đi riêng bằng nhận thức và bằng linh cảm của chính mình.

Trong mười năm đầu của cuộc hành trình, cùng con tàu của Hãng Năm Sao (Pháp) mang tên Amiran Latouche Tréville, Hồ Chí Minh bôn ba qua nhiều lục địa. Cuối năm 1917, khi chiến tranh thế giới (thực chất là cuộc chiến tranh giữa các nước đế quốc) ở thời kỳ ác liệt nhất, Hồ Chí Minh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động. Ngày 18/6/1919, các nước họp Hội nghị Hoà bình tại Versaille, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam (gồm 8 điểm và ký tên Nguyễn Ái Quốc), đòi chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.

Nhưng các nước đế quốc không hề để ý tới những yêu cầu trên. Điều này cho thấy, những lời tuyên bố của Mỹ và các nước đế quốc khác về tự do, dân chủ, tự trị, độc lập hoàn toàn chỉ là sự lừa bịp. Hồ Chí Minh nhận ra rằng, muốn được độc lập và tự do thật sự, các dân tộc bị áp bức phải dựa vào sức mình là chính; người Việt Nam phải tự giải phóng mình.

Thời gian ở Pháp, Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến mạnh mẽ mang tính bước ngoặt về nhận thức, tư tưởng. Người biết đến Cách mạng Tháng Mười Nga và bắt gặp Chủ nghĩa Lênin.

Người tự bạch: “… Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

Chuẩn bị cho cuộc cách mạng dân tộc giải phóng

Ủng hộ Cách mạng Tháng Mười, tin theo Chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tán thành Quốc tế thứ ba do Lênin lập ra (1920). Trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên là sự kiện lớn đánh dấu bước ngoặt trong quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh; từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với Chủ nghĩa Cộng sản.

Cuộc gặp gỡ ấy được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (người đồng chí thân thiết – học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh) mô tả một cách hình ảnh: “Tia lửa chân lý lóe bừng khi đọc luận cương của Lênin, đã gặp những chất liệu được chuẩn bị sẵn trong tư tưởng và tâm hồn Hồ Chí Minh để cháy thành ngọn lửa của lý luận về cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, theo luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc gắn với cách mạng xã hội chủ nghĩa”.

Những việc làm quan trọng nhất của Hồ Chí Minh ở Paris những năm 1920 đánh dấu sự bắt đầu hình thành và đi vào cuộc sống của một chiến lược cách mạng vừa có ý nghĩa dân tộc, vừa có ý nghĩa quốc tế. Hồ Chí Minh lập ra “Hội những người Việt Nam yêu nước”, tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” và ra báo “Người cùng khổ” (Le Paria). Đồng thời, thông qua những trang viết trần trụi về thực tế cuộc sống, với những chi tiết khốc liệt, không lý luận, không triết lý trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Hồ Chí Minh đã “vạch mặt” được đối tượng của cách mạng, chỉ ra phương hướng đấu tranh của dân tộc và nhân loại bị áp bức.

Tiếp đó, Người tiến hành một cuộc vận động cách mạng kiên trì, gian khổ trên phạm vi quốc tế cũng như ở trong nước; truyền bá những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin và con đường của cách mạng Việt Nam do Người đề xướng tới công nhân, nông dân và những người Việt Nam yêu nước thông qua “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên” và tờ báo của Hội (Quảng Châu, Trung Quốc – 6/1925).

Những “hạt giống đỏ” được gieo mầm từ lớp huấn luyện Quảng Châu trở thành hạt nhân trong phong trào đấu tranh cách mạng của dân tộc những năm sau đó. Và các bài giảng của Hồ Chí Minh tại lớp huấn luyện Quảng Châu đã được tập hợp lại rồi in thành cuốn “Đường kách mệnh”, xác định đối tượng, vai trò của cách mạng thuộc địa đối với cách mạng chính quốc và khả năng thắng lợi của cách mạng thuộc địa.

Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và những luận điểm được trình bày trong Đường kách mệnh đã trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức, tạo những điều kiện cần thiết cho sự ra đời của một đảng vô sản ở Việt Nam.

Mùa Xuân năm 1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, ra tuyên bố thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Lời kêu gọi thành lập Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đã được Hội nghị thông qua và trở thành Cương lĩnh của Đảng, là ngọn cờ tập hợp, đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Trở về Tổ quốc, đưa dân tộc đến bến bờ độc lập, tự do

Trở về nước vào dịp Tết Tân Tỵ (Xuân 1941) qua cửa ngõ Cao Bằng trên biên giới Việt Nam – Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng chuẩn bị và tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (họp từ ngày 10 đến 19/5/1941, tại Pác Bó, Cao Bằng), nhằm giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và dân chủ. Đây là hội nghị có tính chất bước ngoặt, hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc.

Theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh – 19/5/1941) đã được thành lập. Kể từ đây, diễn ra một quá trình chuẩn bị khởi nghĩa vô cùng sôi sục dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Hồ Chí Minh. Các khu căn cứ địa cách mạng hình thành; đoàn thể cách mạng quần chúng lần lượt ra đời; lực lượng vũ trang cách mạng cũng được thành lập, sẵn sàng đón thời cơ.

Những ngày đầu tháng 8/1945, khi thời cơ xuất hiện, Hồ Chí Minh quyết định triệu tập Quốc dân Đại hội vào trung tuần tháng 8, dù các đại biểu chưa về đủ. Ngày 13/8, Trung ương Đảng ra lệnh khởi nghĩa và chỉ trong hai tuần, cuộc Cách mạng tháng Tám “long trời lở đất” đã nổ ra và giành thắng lợi trên khắp cả nước. Thành quả lớn nhất của cuộc cách mạng là nền độc lập, tự do của dân tộc và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Trong buổi lễ trọng đại của dân tộc và dưới nắng vàng của buổi chiều Thu ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới: “…Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do, độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Lời tuyên ngôn bất hủ đó là lời khẳng định giá trị của độc lập, tự do, cũng chính là lời hiệu triệu toàn thể dân tộc Việt Nam chung sức, đồng lòng, kề vai, sát cánh quyết tâm giữ vững thành quả của Cách mạng tháng Tám 1945.

Kể từ mùa Thu lập nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta luôn giữ vững tinh thần đoàn kết, đạp bằng mọi khó khăn, gian khổ, kiên trì kháng chiến chống Thực dân Pháp ròng rã 9 năm trường và làm nên thiên sử vàng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”.

Nhưng Pháp bại, Mỹ lại thừa cơ nhảy vào với âm mưu thâm độc chia cắt vĩnh viễn nước ta, chà đạp lên nền độc lập, tự do, sự toàn vẹn của non sông gấm vóc Việt Nam. Trận đụng đầu lịch sử với thế lực hùng mạnh nhất hành tinh ấy, thắng lợi cuối cùng thuộc về nhân dân ta, với mốc son Đại thắng mùa Xuân (30/4/1975)- ngày hội thống nhất non sông – ngày vui trong nước mắt dâng trào – ngày mà triệu triệu con tim Việt Nam tha thiết gọi tên Hồ Chí Minh, hình ảnh vĩ đại của Người như rực sáng trong “ngày vui đại thắng”.

Lê Quang Lạng
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

baodautu.vn

Tới Milan tìm lại dấu chân Bác

(Dân trí)- Trong cái lạnh xứ châu Âu, gần 80 năm sau, PV Dân trí có dịp đến quán ăn nhỏ trên con phố Pasubio tại thành phố Milan, Italia nơi Bác Hồ thường xuyên sống và làm việc trong những năm 1930, khi Người từ Paris sang Milan gặp các đồng chí Quốc tế Cộng sản.

Từ Việt Nam, tôi luôn bồi hồi trong suốt chặng đường từ Hà Nội sang Milan- thành phố vốn nổi tiếng là “Kinh đô thời trang thế giới”, cùng tên tuổi lừng danh của hai đội bóng Inter Milan và AC Milan.

Ngay khi đặt chân đến Milan, tôi bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp cổ kính cũng như sự sạch sẽ ngoài sức tưởng tượng của thành phố này. Các cửa hàng thời trang, những trung tâm thương mại luôn tấp nập người mua bán. Những con phố lát đá hàng trăm năm đen thẫm in dấu chân triệu triệu người, đến rồi đi.

Thật bất ngờ và may mắn hơn cả, khi chúng tôi được anh Phan Lến, một Việt kiều đã có thâm niên hơn 30 sinh sống tại Milan dẫn đến thăm quán ăn nhỏ trên con phố Pasubio yên bình tại thành phố Milan, nơi Bác Hồ thường xuyên sống và làm việc trong những năm 1930, khi Người từ Paris sang Milan gặp các đồng chí Quốc tế Cộng sản.

Dưới đây, là một số hình ảnh PV Dân trí ghi lại từ quán ăn trên phố Pasubio, Milan:

Nhà số 10 phố Pasubio

Góc tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân viên của quán tự hào khi nói về lịch sử ngôi nhà với PV Dân trí và một số Việt kiều tại Italia

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính quyền thành phố Milan đã gắn bên ngoài ngôi nhà này một tấm biển bằng đá, ghi rõ “Ngôi nhà này là nơi Hồ Chí Minh thường lui tới trong thời gian ở nước ngoài của Người vào những năm 1930 để bảo vệ tự do cho nhân dân”.

Theo những nhân viên phục vụ tại quán ăn cho biết, ngôi nhà có từ năm 1880. Những năm gần đây, mỗi khi có người Việt Nam đặt chân đến Milan đều ghé thăm địa chỉ này.

Vũ Văn Tiến

dantri.com.vn

Anh phụ bếp và tư tưởng cách mạng (*)

TTO – Mỗi một câu chuyện nhỏ về anh Ba ngày ấy, giờ đọc lại, chúng ta đều thấy toát lên tinh thần, con người và sự nghiệp vĩ đại của Người. Điều đó giải thích vì sao sau bao nhiêu năm thăng trầm của cuộc đời, những người bạn đã từng sống và làm việc với Người lại vẫn nhớ rõ hình ảnh anh Ba, anh phụ bếp kỳ lạ ấy đến thế…

>> 5-6-1911: Chuyến ra đi lịch sử
>> Theo dấu chân anh Ba

……………………………..

Ông Thanh, thư ký công đoàn thủy thủ Vinh, giới thiệu tôi với ông Nam. Sau khi chào hỏi, tôi đi ngay vào câu chuyện về anh Ba.

Ông Nam là một người làm bánh rán có tiếng trong thành phố. Ông ta ở trong Ban Chấp hành Công đoàn cứu quốc hải ngoại. Ông có năm người con trai, hai người đi bộ đội và hai người vào tự vệ; người con thứ năm học ở trường đại học Hà Nội; cô Nam, con gái trẻ đẹp 18 xuân xanh và con út của ông bà Nam làm cứu thương.

Ông Nam kể:

“Trước tôi làm việc ở tiệm ăn Các–lơ–tông, một tiệm sang có tiếng ở Luân Đôn. Người làm bếp độ trăm người đủ các hạng. Có cả người Pháp, người Anh, người Đức, người Nga, người châu Á và tôi người Việt Nam. Chính ông Ét-cốp-phi-e, ông vua đầu bếp, được huân chương danh dự, điều khiển nhà bếp. Về ông Ét-cốt-phi-e, có một chuyện đáng kể lại: Tài nấu bếp của ông ta, thế giới đều biết. Những chủ quán lớn nhất trên thế giới trả tiền rất nhiều để mời ông ta làm chủ bếp. Khi có những yến tiệc lớn, người ta mời ông đến làm thức ăn và điều khiển nhà bếp. Lần vua Đức sang thăm Luân Đôn, vua Anh mời ông Ét-cốt-phi-e phụ trách bữa tiệc. Và tất nhiên với một số lương rất hậu. Ông già Ét-cốt-phi-e kiêu hãnh trả lời: “Tôi là người Pháp. Tôi không nấu cho kẻ thù của dân tộc tôi”.

“Vâng, bây giờ chúng ta nói chuyện anh Ba. Vào khoảng một năm trước đại chiến, một hôm, tôi gặp ở phòng lau chùi thìa, nĩa, một người Á đông trẻ tuổi. Tôi không để ý đến anh ấy vì tôi tưởng anh ấy là người Trung Quốc. Đến ngày thứ ba, chính anh ấy đến nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt Nam. Cố nhiên tôi rất sung sướng được gặp một người đồng hương. Từ ngày ấy, chúng tôi trở nên đôi bạn thân.

“Ai đưa anh đến đây, đến nước Anh?” – Tôi hỏi anh Ba.

“Tôi đến đây một mình để học tiếng Anh”.

“Hay đấy, nhưng tiếng Anh rất khó học. Đã hai năm tôi ở thành phố này mà không biết hơn, ngoài hai chữ Yes và No (vâng và không).”

“Phải học chứ. Chúng ta sẽ cùng nhau học.”

“Trước khi đến đây, anh làm ở đâu?”

“Hôm thứ nhất, tôi nhận việc cào tuyết trong một trường học. Một công việc rất mệt nhọc. Mình mẩy tôi đẫm mồ hôi mà tay chân thì rét cóng. Và cuốc được đống tuyết cũng rất khó khăn vì tuyết trơn. Sau tám giờ làm công việc này, tôi mệt lử và đói bụng. Tôi đành phải bỏ việc. Ông hiệu trưởng là một người tốt. Ông ấy trả cho tôi cả ngày làm việc sáu đồng và vừa nói vừa cười: “Chính thế, công việc này quá sức anh”.

Hai ngày sau tôi tìm được một việc khác. Lần này thì phải đốt lò. Từ năm giờ sáng, một người nữa với tôi chui xuống hầm để nhóm lửa. Suốt ngày chúng tôi đổ than thay than trong lò. Ở đây thật đáng sợ. Luôn luôn ở trong cảnh tranh tối tranh sáng. Tôi không biết người ta làm cái gì ở tầng trên, vì không bao giờ tôi lên đấy. Người bạn tôi là một người âm thầm, có lẽ anh ta câm. Suốt hai ngày làm việc, anh ta không hề nói một tiếng. Anh vừa làm việc vừa hút thuốc. Khi nào anh ta cần tôi làm việc thì anh ta ra hiệu. Nhưng không nói một tiếng. Trong hầm hết sức nóng, ngoài trời hết sức rét, và không có đủ quần áo, tôi luôn bị cảm. Vì vậy, tôi nghỉ việc luôn hai tuần lễ. Với số tiền để dành, tôi trả tiền phòng, tiền bơ và bánh mì, và sáu bài học chữ Anh. Khi chỉ còn sáu hào nữa, tôi đến sở tìm việc ở Sô–hô, và người ta đưa tôi đến đây”.

Công việc làm từ tám giờ đến mười hai giờ và chiều từ năm giờ đến mười giờ. Hàng ngày, buổi sáng sớm và buổi chiều, anh Ba ngồi trong vườn hoa Hay–đơ (Hyde), tay cầm một quyển sách và một cái bút chì. Hàng tuần vào ngày nghỉ, anh đi học tiếng Anh với một giáo sư người Ý. Ba thường khuyên tôi nên học như Ba, nhưng tôi hết sức lười, bây giờ tôi mới tiếc.

Mỗi ngày có một người dọn dẹp đồ đạc. Những người phục vụ, sau khi dọn chỗ khách ăn, phải dọn bát đĩa bỏ tất cả chén bát và thức ăn lẫn lộn vào trong một cái thang điện đưa xuống bếp. Lúc bấy giờ người dọn dẹp phải để đồ đạc riêng một bên, bát đĩa để riêng một bên để người ta đem đi rửa. Khi đến lượt anh Ba, anh làm rất cẩn thận. Đáng lẽ vứt thức ăn thừa vào một cái thùng, đôi khi còn cả phần tư con gà, những miếng bít-tết to tướng… thì anh giữ gìn sạch sẽ và đưa lại cho nhà bếp. Chú ý đến việc này, ông già Ét-cốp–phi–e hỏi anh: “Tại sao anh không quẳng thức ăn thừa vào thùng, như những người kia?”

“Không nên vứt đi. Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy.”

“Ông bạn trẻ của tôi ơi, anh nghe tôi…”, ông Ét-cốt–phi–e vừa nói vừa cười và có vẻ bằng lòng, “…tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp. Làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền. Anh bằng lòng chứ?”

Và ông Ét-cốt–phi–e không để cho anh Ba phải rửa bát nữa mà đưa anh vào chỗ làm bánh, với một số lương cao hơn.

Thật là một việc lớn xảy ra trong nhà bếp, vì chính là lần đầu tiên mà ông “vua bếp” làm như thế. Anh Ba rất giàu tình cảm. Một hôm tôi gặp anh cầm tờ báo và chảy nước mắt. Tôi hỏi anh vì sao buồn thế. Anh đưa cho tôi tờ báo và giải thích: “Anh xem đây. Đây là tin tức ông thị trưởng Coóc (Cook), một nhà đại ái quốc Ailen. Ông ta bị bắt và bị người Anh bỏ tù. Ông ta tuyệt thực. Không những ông không ăn uống, mà còn không nói năng, không cử động nữa. Ông nằm nghiêng một phía im lìm như thế hơn bốn mươi ngày. Da thịt và áo quần phía ấy thối hết. Và ông chết, chết vì Tổ quốc. Can đảm biết bao! Dũng cảm biết bao! Một dân tộc có những người như ông Coóc sẽ không bao giờ đầu hàng.

Chúng ta cũng thế, chúng ta có những người can đảm như ông thị trưởng Coóc. Anh có biết chuyện cụ Tống Duy Tân không? Tôi kể cho anh nghe: Cụ Tống Duy Tân là một nhà đại trí thức, đấu tranh dũng cảm chống bọn xâm lược Pháp. Cụ bị bắt và nhốt vào trong một cái cũi để gửi đến Bộ Tổng tư lệnh Pháp. Ngồi trong cũi, Cụ vẫn làm thơ yêu nước. Khi hết giấy, cụ bẻ gẫy quản bút, lấy cật tre làm dao, và mổ bụng, cắt ruột tự tử. Trong những tờ giấy tìm thấy trong cũi, cuối những bài thơ, người ta còn đọc những chữ: “Thà chết còn hơn đầu hàng”.

Tôi tôn kính tất cả những Tống Duy Tân. Tôi sùng kính tất cả thị trưởng Coóc. Cái chết của họ làm cho tổ quốc họ sống lại, lòng can đảm của họ bất diệt.”

Thế giới đại chiến bùng nổ. Người Pháp ở Luân Đôn nhận lệnh động viên. Nhiều người khóc, nhất là những người đàn bà Pháp.

Người Đức bị bắt nhốt vào trại tập trung. Họ cũng khóc. Lính Anh bị đưa ra mặt trận, cha mẹ, vợ con họ đều khóc.

Anh Ba đến nói với tôi:

“Xin từ biệt anh Nam.”

“Anh đi đâu?”

“Tôi đi Pháp.”

“Không nói chơi chứ? Nước Pháp đang có chiến tranh. Anh đến Pháp làm gì?”

“Tôi đi xem. Tôi sẽ viết thư cho anh.”

Anh Ba bắt tay tôi, chúng tôi hôn nhau. Và cứ thế anh Ba đi, không hành lý. Chiến tranh tiếp tục. Lính Anh bị thương trở về. Cả những người lánh nạn Bỉ cũng đến. Các công việc đều đình trệ. Lôi–Gioóc (Loyd George) lật đổ At–quish (Asquish) và lên làm thủ tướng. Số người nhà bếp của chúng tôi chỉ còn lại một nửa. Đồng vàng và đồng bạc không lưu hành ở Pháp nữa. Quân Đức đã tiến đến sông Mác–nơ (Marne). Nước Pháp bị ngạt thở vì khói lửa chiến tranh. Ở Anh, các thức ăn, thức dùng đều bị Chính phủ hạn chế.

Sau khi rời Luân Đôn, anh Ba viết thư cho tôi. Đại ý thế này:

“Tôi đã gặp nhà ái quốc Phan Chu Trinh. Anh biết không? Ông bị án tử hình. Nhờ hội Nhân quyền và ông Giô–rét (Jaurès) can thiệp, ông Phan được thả và sang Pa–ri. Tôi cũng gặp luật sư Phan Văn Trường và những người khác. Tôi nói với họ: Trong khi vua Duy Tân nổi dậy ở Huế, nhân dân Thái Nguyên và nhiều nơi khác khởi nghĩa, thì chúng ta phải làm gì chứ?”

Từ ngày ấy. Tôi không biết gì về anh Ba nữa…

TRẦN DÂN TIÊN
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Trẻ, 2005

(còn tiếp)

……………………………

(*): tiêu đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online

Theo dấu chân anh Ba

TTO – Những mẩu chuyện về anh Ba thuở ấy chỉ là những mẩu chuyện góp nhặt. Góp nhặt nhưng độ chân xác của nó được tất cả mọi người tin tưởng, vì chính bản thân con người Hồ Chủ tịch và tinh thần, tư tưởng của Người mồn một trong từng câu chuyện…

>> 5-6-1911: Chuyến ra đi lịch sử

“Tôi là thanh niên, tôi làm được…” (*)

Theo địa chỉ ông Mai mách, anh Trần, người cộng tác trẻ của tôi, đến gặp ông Dân ở Nha Trang. Đây là những điều anh Trần ghi chép: “Ông Dân sáu mươi hai tuổi, chủ một cửa hàng nhỏ sạch sẽ và đông khách, nhà đông con. Ông ta tiếp tôi niềm nở và kể chuyện:

“Tôi có hai con trai đi Vệ quốc quân và một con gái đi cứu thương. Nhà tôi còn ba con nữa; hai mươi hai, hai mươi và mười sáu tuổi, đều là đoàn viên của đoàn Thanh niên cứu quốc. Cả ba đứa đều muốn đi Vệ quốc quân. Khi nào Tổ quốc cần đến chúng nó, tôi sẵn sàng hiến con cho Tổ quốc. Có lẽ điều đó dễ làm cho mẹ cháu buồn, nhưng đàn bà thì bao giờ chẳng thế. Tôi cũng nên nói để ông rõ là bà nhà tôi cũng là đoàn viên phụ nữ cứu quốc. Còn tôi, thủ quỹ của Việt Minh địa phương. Cả gia đình tôi đều làm việc nước. Cả làng này đều thế. Ai cũng là Việt minh, Việt minh, Việt Nam, Việt Nam, Việt minh – Không thể có Việt Nam mà không có Việt minh”.

Ông Dân có tài nói. Ông bắt chuyện này sang chuyện khác rất thần tình. Kéo ông về câu chuyện mà tôi đặc biệt chú ý không phải là dễ. Nhưng sau đó tôi đã thành công.

“Có chứ, tôi còn nhớ anh Ba ấy. Chắc chắn tôi còn nhớ anh ta mặc dầu cách đây đã ba mươi năm.

Tôi ở với ông chủ của tôi ở Xanh A–đơ–ret (Saint–Adresse), một ngoại ô của Ha–vơ–rơ. Một hôm, ông chủ già dẫn về một người trẻ tuổi, gầy yếu, quần áo lôi thôi nhưng có vẻ lanh lợi. Tên anh ta là Ba. Ở nước ngoài mà gặp được một người đông hương thì lập tức người ta dễ trở thành bạn thân. Chúng tôi cũng vậy.

Chúng tôi ở một biệt thự có vườn hoa. Ông chủ già khi rảnh việc thì ở câu lạc bộ thành phố. Bà chủ thường đến nhà người con gái, vợ một nhân viên của công ty. Một bà nấu bếp, một người tốt, nếu anh khéo nịnh thì bà ta cho anh ăn ngon, nhưng khi bà ta cáu thì như một mụ yêu tinh. Một cô sen xinh xinh hay làm dáng, có một “bà mẹ hay ốm” – “Bà mẹ ốm” chính là một chàng thủy thủ. Để đi gặp tình nhân, chị ta lừa chúng tôi luôn và nói là đi thăm mẹ ốm. Trong nhà tất cả là sáu người.

Đồ đồng đánh bóng, đồ đạc lau xong, bàn ghế sạch bụi, thế là ông chủ bà chủ bằng lòng và rất tốt, luôn mồm một điều “con” hai điều “con”. Nhưng phần lớn công việc do cô sen làm. Chị ta muốn cho chóng xong để đi gặp “bà mẹ ốm”.

Vì vậy chúng tôi có rất nhiều thì giờ rảnh. Anh Ba dùng thì giờ chăm bón hoa với người làm vườn hoặc giở những tờ báo có ảnh trong tủ sách ra xem. Sau khi đến được ba ngày, anh hỏi tôi: “Anh Dân, anh có biết chữ quốc ngữ không?”. Tôi hơi thẹn nhưng trả lời thành thật: “Không, tôi không biết”. Anh Ba liền giảng giải và khuyến khích tôi học. Tôi làm theo lời anh. Anh Ba cũng thế, anh học tiếng Pháp với cô sen. Ngày nay tôi đọc được và viết được chính là nhờ anh Ba. Để trả ơn, thỉnh thoảng tôi dẫn anh Ba đi xem chiếu bóng hoặc xem xiếc.

Chúng tôi ở với nhau được một tháng. Một buổi chiều người chủ già đi làm về, nói với anh Ba: “Có một chuyến tàu đi vòng quanh châu Phi. Không có hành khách. Chỉ có hàng hóa. Anh có muốn nhận làm bồi cho các sĩ quan trên tàu ấy không? Họ không đông lắm đâu, và đều là những người tốt, anh sẽ thấy anh không đến nỗi vất vả ở trên tàu. Đồng ý chứ?”

Anh Ba vui vẻ nhận lời. Sau tôi nói với anh: “Ba ơi, khí hậu ở châu Phi rất nóng, nóng hơn ở bên ta. Và một chiếc tàu chở hàng rất tròng trành, rất dễ làm cho anh say sóng. Đi như thế anh dại dột lắm, nhất là một thân một mình, bầu bạn không có…”. Anh Ba nói với tôi: “Anh không nên nói như thế. Tôi là thanh niên, tôi khỏe, tôi chịu được khổ. Và tôi muốn đến xem các nước”.

Ngày hôm sau anh Ba đáp tàu đi, anh có viết thư cho tôi hai ba lần, kể cho tôi nghe vô số chuyện, nói đến người da đen, người Ả-rập, nói đến xứ Tê–nê–ri–pho, xứ Lít–bon, đến những con vẹt… Anh cũng cho biết là người nấu bếp trên tàu cũng là một đồng hương tên là Bốn … Không để cho ông Dân nói hết câu, tôi hỏi: “Ông có biết ông Bốn ấy không?”

“Có, tôi biết. Tôi biết chắc chắn. Anh ta là một người ngớ ngẩn, có khi như là một người điên. Về già, anh ta trở nên khôn ngoan hơn. Anh ta làm việc như một con bò. Anh ta lĩnh được rất nhiều tiền. Nhưng mỗi lần tàu cập bến, anh ta tiêu xài trong hai, ba ngày thì hết sạch số tiện kiếm được trong hai ba tháng. Chả bài bạc gì. Anh ta chỉ thích đi theo gái. Anh ta xấu như con quỷ, nhưng anh ta bắt tình nhân với một cô gái nhảy… Và khi nào hết xu, nàng đuổi anh ra cửa”.

“Bây giờ anh ấy ở đâu?”

“Ông đến Quỳnh Lâm và hỏi Bốn Sẹo thì ở đấy ai cũng biết. Bây giờ anh ta đã khôn ngoan hơn và được mọi người mến”. Để kết luận cuộc phỏng vấn của tôi, tôi hỏi ông Dân:

“Ông có biết anh Ba hiện nay thế nào không?”

“Không, tôi rất tiếc là không biết”.

“Ông có muốn tôi nói cho ông biết không?”

“Còn gì bằng nữa!”

“Ông quay lại xem, anh Ba ấy đây kìa”. Tôi vừa nói vừa chỉ chân dung Hồ Chủ tịch treo trên bàn thờ giữa những bình hoa, bình hương, đèn nến. Ông Dân quay đầu, mở to đôi mắt, há miệng gãi tai. Và ông bật lên như một cái lò xo và kêu:

“Hồ Chủ tịch! Hồ Chủ tịch của chúng ta! A-di-đà-phật! Nhưng làm sao anh biết? Anh nói thật đấy chứ? Ờ, ơ, lạ quá nhỉ. Hồ Chủ tịch là anh Ba ấy ngày xưa. Hay quá nhỉ! Tôi sẽ kể điều đó cho bà nhà tôi nghe, cho các cháu nghe. Chúng nó sẽ mừng biết mấy! Cha của chúng nó được quen biết Cụ Hồ ngày xưa…”

Nhờ anh Ba, tôi trở nên một người khá

Tôi lại tìm đến ông Bốn. Tính tình ông Bốn hoàn toàn khác với ông Dân, và cũng không giống như anh Bốn trai trẻ mà ông Dân đã nói. Đấy là một ông già hơn 60 tuổi, hiền lành. Với một giọng nhè nhẹ, ông kể lại đời mình cho tôi nghe và những mối quan hệ giữa ông với anh Ba hồi ấy. Ông nói:

“Lúc còn trẻ, tôi đi vòng quanh thế giới làm nghề nấu bếp ở trên tàu. Tôi kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng tôi không gửi một xu nhỏ về cho gia đình. Tôi chạy theo một cô gái nhảy, có bao nhiêu nó nướng hết.

Tôi đi nhiều, nhưng tôi không thấy gì, không học gì. Tôi hoàn toàn dốt đặc, không biết đọc, chẳng biết viết. Một lần đi trên một chiếc tàu nhỏ chở hàng, tôi có người bạn đồng hương trẻ tuổi, tên là Ba. Sau những giờ làm việc, anh Ba viết và đọc sách. Chính anh đã khuyên tôi học chữ quốc ngữ. Anh Ba có một lối thuyết phục người rất giỏi. Nhờ những lời khuyên bảo và sự giúp đỡ của anh Ba, tôi trở nên một người khá.

Chiếc tàu nhỏ rời Ha–vơ–rơ. Đỗ lại ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, An Giê Ri, Tuy Ni Di và những cửa bể Đông châu Phi cho đến Công Gô. Đến đâu anh Ba cũng để ý xem xét. Mỗi lần tàu cập bến, thế nào anh Ba cũng kiếm cách đi thăm thành phố. Khi trở về, anh có những ảnh và những hộp diêm đầy túi. Anh thích thu thập những thứ ấy.

Đến Đa–ca, biển nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả ca–nô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen Pháp phải bơi ra chiếc tàu. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng biển cuốn đi.

Cảnh tượng ấy mọi người coi là thường. Nhưng điều đó làm cho anh Ba hết sức cảm động, anh khóc. Ngạc nhiên, tôi hỏi tại sao? Anh Ba buồn rầu trả lời tôi:

“Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo. Ở đâu chúng nó cũng thế. Ở ta, tôi cũng thấy chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu.”

Chiếc tàu của chúng tôi chở rượu ngon của Boóc–đô và An–giê–ri cho những thuộc địa khác. Tất cả mọi người trên tàu dùng rượu đó. Vì rượu rất nhiều. Tôi đã trông thấy nhiều thủy thủ say rượu suốt chuyến tàu. Chỉ cần dùi một lỗ nhỏ vào thùng rượu, ấn một ống cao su nhỏ vào đấy, hút thật mạnh để đầu ống kia vào một cái chai. Và như thế tha hồ mà uống. Nhưng anh Ba không bao giờ uống rượu và khuyên tôi không nên làm như thế.

Anh Ba rất tốt với mọi người và không bao giờ cãi cọ với ai. Nhưng anh Ba hơi khác thường. Mỗi ngày, anh dậy thật sớm để xem mặt trời mọc. Và trong những đêm trăng, anh hầu như không ngủ, anh đi đi lại lại trên tàu, ngắm trời ngắm bể. Chúng tôi đậu lại ở Tê–nê–rít–pho vào lúc hoàng hôn, biển lặng sóng, hòn đảo giống như một cái chụp đèn khổng lồ để trên mặt biển, phía trên lóng lánh, phía dưới xanh xanh. Chỉ có thế thôi, mà anh Ba ngây người. Anh nhắc đi nhắc lại: “Bốn, anh nhìn kìa! Đẹp quá! Hùng vĩ quá!”

Đến lúc trở về Ha–vơ–rơ, nhớ lời khuyên của anh Ba, tôi không đến thăm cô gái nhảy nữa. Tôi còn đi một vài chuyến, dành được ít tiền thì tôi trở về nước, mở một cửa hàng nhỏ, và lấy vợ. Nghĩ đến tình bạn giữa chúng tôi, tôi đã đặt tên cho đứa con đầu lòng của tôi là Ba, điều đó làm cho những người chung quanh lấy làm lạ. Việc đó cách đây đã ba mươi năm. Ngày giờ đi chóng quá.”

Ông Bốn ngừng lại. Tôi hỏi tiếp:

“Thế còng ông bạn Ba của ông, sau đấy đi đâu?”

“Ba cũng rời chiếc tàu, nói là đi Anh”.

“Tại sao đi Anh?”

“Ba nói để học tiếng Anh”.

“Thế ông có được tin tức của anh Ba không?”

“Có, hai ba lần gì đấy, anh Ba kể cho tôi nghe đã gặp ở Luân Đôn một người đồng hương tên là Nam”.

“Ông có biết ông Nam không?”

“Có, hầu hết chúng tôi biết nhau, vì chúng tôi đều ở cả trong tổ chức”.

“Tổ chức gì?”

“Trước kia là một hội kín, nhưng từ khi nước ta độc lập thì công khai. Chính là công đoàn hải ngoại”.

“Và từ bấy đến nay, anh Ba ấy không viết thư cho ông sao?”

“Rất tiếc là không. Vài năm sau, nghĩa là sau đại chiến Thứ nhất, thỉnh thoảng một ông bạn lại đến nhà tôi đem theo một gói to tướng sách báo và nói với tôi: “Ông Ba nhờ ông giữ hộ những thứ này, trong vài ngày một người bạn tên là X. Sẽ đến lấy”. Cứ thế kéo dài trong mấy năm. Nhưng từ khi cửa hàng của tôi bị người Pháp khám xét thì không thấy anh Ba gửi nữa. Được gặp anh Ba, thì nếu mất nửa gia tài, tôi cũng vui lòng”…

TRẦN DÂN TIÊN
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Trẻ, 2005

(còn tiếp)

……………………………..

(*): các tiêu đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online

5-6-1911: Chuyến ra đi lịch sử

Nguyễn Ái Quốc

TTO – Đã 96 năm kể từ ngày 05-6-1911, ngày chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành bước lên con tàu thủy với hai bàn tay trắng, trái tim nóng bỏng nỗi đau mất nước và quyết tâm sắt đá: khôi phục lại nước Việt, bảo vệ nền độc lập và cuộc sống tự do cho mọi người.

Ước vọng quá lớn với một chàng trai 21 tuổi. Nhưng đã thành hiện thực. Chàng trai đã đi vào lịch sử, viết nên lịch sử.

96 năm sau, nước Việt Nam không chỉ có độc lập, tự do, dân Việt không chỉ có cơm ăn, áo mặc, được học hành như ước vọng của Người. Những năm đầu TK 21 này, nước Việt Nam đã có một vị thế mới.

Lại nhớ lời Người: “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Bác ơi, ngày này chúng cháu muốn nhắc lại vài câu chuyện về anh Ba thuở ấy. Để biết rằng con đường sáng lạn mà cả dân tộc đang đi đã bắt đầu từ bước chân cô đơn của Người như thế nào….

TTO xin trích đăng lại một số mẩu chuyện ghi lại những bước hoạt động đầu tiên của Người, trích trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của tác giả Trần Dân Tiên – NXB Trẻ 2005.

………………………………….

Ra đi với hai bàn tay (*)

…Một vị trí thức ở Sài Gòn kể lại cho tôi:

“Trong khi còn học ở trường Chasseloup–Laubat, tôi gặp một người thanh niên ở Trung bộ vào Sài Gòn ở nhà một người bạn. Vì cùng một lứa tuổi, cho nên chúng tôi lập tức trở nên đôi bạn thân. Tôi đưa anh đến trước tiệm cà phê của Pháp xem đèn điện, xem chiếu bóng và máy nước. Những cái đó trước kia anh chưa hề thấy.

Một hôm tôi mời anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh mới nếm mùi kem.

Sau ít hôm, anh đột nhiên hỏi tôi: “Anh Lê, anh có yêu nước không?”

Tôi ngạc nhiên và đáp: “Tất nhiên là có chứ!”

“Anh có thể giữ bí mật không?”

“Có”.

“Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?”

“Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?”

“Đây, tiền đây” – Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn tay – “Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?”

Bị lôi cuốn vì lòng hăng hái của anh, tôi đồng ý. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ về cuộc phiêu lưu, tôi không có đủ can đảm để giữ lời hứa.

Vài ngày sau, tôi không gặp lại anh bạn nữa. Tôi đoán là anh ta đã đi ngoại quốc. Anh ta đi bằng cách nào? Tôi không biết. Về sau, tôi chỉ biết người thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết ấy là Cụ Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Chủ tịch của chúng ta ngày nay”.

Anh phụ bếp kỳ lạ

Ông Mai ở Hải Phòng, nhân viên cũ trên một chiếc tàu Pháp của hãng “Vận tải hợp nhất” đã cho chúng tôi biết những điều mà ông Lê không rõ.

Ông Mai kể lại:

“Vào khoảng cuối năm 1911 hay 1912 – tôi không nhớ đúng nữa – tôi làm việc ở phòng ăn của các sĩ quan trên tàu. Tàu chúng tôi cặp bến Sài Gòn để lấy hàng và đón khách.

Một buổi trưa, một người trai trẻ lên tàu. Sau một phút ngập ngừng, anh ta hỏi xin việc.

Chúng tôi trả lời là không có việc và có chăng nữa, chúng tôi cũng không có quyền nhận anh ta. Chúng tôi cười vì chàng trai có vẻ một anh học trò, không phải là người lao động như chúng tôi. Chúng tôi nói nhỏ với nhau: “Một người như thế có thể làm được công việc gì trên tàu?”.

Tôi không hiểu tại sao tôi thấy thương hại anh ta và tôi nói: “Đi theo tôi, tôi sẽ dẫn anh đến gặp chủ tàu. Có lẽ ông ta sẽ có việc cho anh làm”.

Chủ tàu hỏi: “Anh có thể làm việc gì?”

“Tôi có thể làm bất cứ việc gì!” – Chàng trai trả lời.

“Được, ta sẽ lấy anh làm phụ bếp. Sáng mai anh đến đây nhận việc”.

Chàng trai ấy xưng tên là Ba. Vì tôi đã giúp anh ta việc nhỏ ấy, cho nên anh ta rất thân với tôi, và cũng vì anh ta rất dễ mến tôi cũng rất thân với anh ấy. Việc gì tôi làm được là tôi cố làm để giúp anh ta, vì anh ta chưa biết gì cả. Vả lại, anh ấy có can đảm và nhẫn nại. Phụ bếp trên tàu, mỗi ngày anh ta phải làm từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch sẽ nhà bếp lớn trên tàu, tối đốt lửa trong các lò. Sau đó đi khuân than, rồi xuống hầm lấy rau, thịt cá, nước đá v.v…

Công việc khá nặng nhọc vì dưới bếp rất nóng và trong hầm rất rét. Nhất là khi vừa phải vác một bao nặng vừa leo lên những bậc thang trong khi tàu tròng trành.

Xong công việc ấy, phải dọn cho bọn chủ bếp Pháp ăn. Sau đấy, nhặt rau, rửa chảo nồi và đun lò lại. Công việc kéo dài suốt ngày.

Nhà bếp lo cho bảy, tám trăm người cả nhân viên và hành khách. Có nhiều cái chảo bằng đồng lớn và nặng quá, đến nỗi anh Ba phải kéo lê trên sàn. Và những cái nồi cao quá, anh phải leo lên ghế để chùi nồi. Luôn luôn nghe tiếng:

“Ba, đem nước đây!”

“Ba, dọn chảo đi!”

“Ba, thêm than chỗ này, thêm than chỗ kia!”

Suốt ngày, anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi than. Người ta thấy anh Ba phải dùng hết tinh thần và sức lực để làm cho xong công việc, và hơn nữa vì chưa quen việc. Anh phải gọt xong đống củ cải và khoai tây. Anh không biết làm thế nào. Tôi dạy cho anh. Tôi còn nhớ một lần gọt măng tây. Đây là lần đầu tiên anh Ba thấy măng tây. Anh ta bắt đầu gọt trơ trụi, thì vừa lúc tôi đến. Tôi hối hả quẳng xuống bể tất cả măng đã gọt và tôi bày cho anh ta phải làm như thế nào. Nhờ thế không xảy ra việc gì.

Mỗi ngày, chín giờ tối, công việc mới xong. Anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi chúng tôi nghỉ hoặc đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến mười một giờ hoặc nửa đêm. Về thứ bậc, anh Ba là người dưới chúng tôi, chúng tôi là những người có chức vị, còn anh Ba chỉ là người phụ bếp. Nhưng vì anh Ba hiểu biết – anh giúp những người bạn mù chữ của tôi viết thư về cho gia đình họ và anh không bao giờ nói tục, vì vậy anh Ba được tất cả chúng tôi yêu mến.

Một lần, dọc đường, anh Ba suýt chết đuối. Biển nổi sóng. Làn sóng to như những quả núi chồm lên đổ xuống. Hầu hết mọi người say sóng. Như mọi ngày, anh Ba đi lên đi xuống từ bếp đến hầm. Không thể vác những rổ rau lên vai vì tàu tròng trành, anh phải buộc rổ rau vào dây sắt để kéo đi, chuyến thứ hai một ngọn sóng lớn thình lình phủ lên sàn tàu và cuốn xuống biển mọi vật trên sàn tàu. Cả những rổ rau và anh Ba nữa. Anh bị đẩy vào giữa cột buồm và dây xích, nhờ vậy mà thoát chết.

Cái gì đối với anh Ba cũng mới, anh phải học tất cả. Ví dụ mới đầu anh không ăn được bánh mì và bơ. Ăn xúp thì anh dùng nĩa.

Vài ngày sau tàu rời bến, có hai hành khách – hai người lính trẻ tuổi giải ngũ về Pháp. Tôi không hiểu tại sao hai anh này đã trở nên bạn thân của anh Ba. Họ giúp anh nhặt rau và buổi tối họ cho anh mượn những quyển sách nhỏ, dạy cho anh đọc và viết. Và anh Ba lại dạy họ quốc ngữ và thỉnh thoảng dấm dúi cho họ cốc cà phê. Anh nói với tôi với một vẻ ngạc nhiên: “Anh Mai, cũng có những người Pháp tốt, anh ạ”.

Hồi ấy, Bùi Quang Chiêu, kỹ sư canh nông vào làng Tây, đi tầu hạng nhất cùng gia đình. Ông ta đưa con sang Pháp học. Trông thấy Ba, ông ta gọi anh lại và thân mật bảo:

“Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn…”. Anh Ba lễ phép cảm ơn ông Chiêu, nhưng không nói đồng ý hay không.

Đến Mác–xây, chúng tôi lĩnh lương. Mỗi nhân viên Việt Nam được từ một trăm đến hai trăm quan, thêm vào đấy tiền thưởng của hành khách. Anh Ba là phụ bếp, chỉ được mười quan. Anh ta được ít lương, nhưng anh học được nhiều chuyện mới lạ. Coi tôi là bạn thân thiết nhất, anh ta nói với tôi tất cả những điều anh trông thấy và suy nghĩ.

“Ơ! Ở Pháp cũng có người nghèo như bên ta!”.

Trông thấy những gái điếm đến làm tiền trên tàu, Ba nói với tôi:

“Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta, sao thế anh Mai?”

Tàu điện đối với anh Ba là một chuyện kỳ lạ.

Lần đầu tiên anh ta trông thấy những “cái nhà biết chạy” ấy. Cái gì cũng làm anh ta chú ý, vì cái gì đối với anh ta cũng mới cả. Luôn luôn anh ta nói

“Lần đầu tiên, tôi mới thấy cái này…”

Công việc trong ngày xong, tôi cho anh ta mượn bộ áo quần, và chúng tôi đi đến tiệm cà phê ở đường Ca–nơ–bia. Không cần phải nói, đây là lần đầu tiên anh ta vào tiệm cà phê và cũng là lần đầu tiên người Pháp gọi anh bằng “ông”.

Sau những ngày đầu tiên ở Mác–xây, anh Ba tóm tắt cảm tưởng của mình bằng mấy chữ:

“Người Pháp ở Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông dương”.

Chúng tôi đi theo tàu lên Ha–vơ–rơ (Havre) để sửa chữa. Chúng tôi được đưa sang làm việc ở một chiếc tàu khác, trở về Đông Dương. Anh Ba không muốn trở về. Ông chủ đem anh về nhà. Từ đấy, tôi không được tin tức gì của anh Ba nữa…

Không bao giờ tôi đoán rằng người bạn nhỏ của tôi, người phụ bếp, anh Ba ngây thơ, siêng năng và ngoan ngoãn ấy, lại trở thành Chủ tịch Chính phủ ta, người xây dựng nên nước Cộng hòa chúng ta”.

TRẦN DÂN TIÊN

Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Bác Hồ – NXB Trẻ 2005

(còn tiếp)

………………………………………………..

(*): các tiêu đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online

Nhìn từ cuộc hành trình vĩ đại của Bác Hồ

Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”


QĐND – Ngày 31-5, tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc Hội thảo khoa học: “Chủ tịch Hồ Chí Minh – hành trình tìm đường cứu nước”, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011). Cuộc hội thảo do Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức.

Tôn kính và trách nhiệm

Tham dự hội thảo có nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; Đinh Thế Huynh, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an.

Toàn cảnh Hội thảo.

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười; Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương… gửi tham luận khoa học tham gia hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Đinh Thế Huynh nêu rõ tầm vóc lịch sử của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 100 năm trước và mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng to lớn của hội thảo; sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà nghiên cứu đối với sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Đua, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: Với lòng tôn kính và trách nhiệm cao, các tác giả của các tham luận đã dày công nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi những tư liệu và nội dung khoa học phong phú. Các tham luận khoa học thực sự là nguồn tài liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các tác giả đã tập trung nghiên cứu, làm rõ ý nghĩa lịch sử của sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) ra đi tìm đường cứu nước trên 4 mảng nội dung lớn: Quyết chí tìm đường cứu nước, bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; từ thành phố Sài Gòn, Người ra đi tìm đường cứu nước; cuộc hành trình vĩ đại; vững bước trên con đường Người đã chọn.

Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, tham luận của đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư đã phân tích sâu sắc những cơ sở lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo tư tưởng của Người, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, gắn với triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tạo thêm động lực, niềm tin thúc đẩy thực hiện việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

“Vững bước trên con đường Người đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” là tiêu đề bản tham luận mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày, thu hút sự chú ý của các đại biểu dự hội thảo (toàn văn tham luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng trên số báo ra ngày hôm nay).

Trong tham luận của mình, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ niềm vinh dự, tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên, người dân thành phố được mang tên Người. Đồng chí đề cập những giải pháp cụ thể, vận dụng tư tưởng của Người xây dựng Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong sạch, vững mạnh; trong đó chú trọng các giải pháp bồi dưỡng, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố “đầu tàu” của cả nước. Lòng tôn kính đối với công lao trời biển của Bác chính là cội nguồn sức mạnh, hun đúc ý chí, nghị lực để Đảng bộ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX.

“Xây dựng Quân đội nhân dân, phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay” là tiêu đề tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi tới hội thảo. Với cách tiếp cận khoa học, xuyên suốt chiều dài hình thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã nêu bật những giá trị to lớn trong tư tưởng của Bác Hồ về quân sự và quân đội nhân dân. Những tư tưởng vĩ đại đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để quân đội không những ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, mà còn làm tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó… (Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu đến bạn đọc toàn văn tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh trên số báo ra ngày 2-6).

Quyết chí tìm đường cứu nước

Tham luận của các tác giả: Phan Đình Trạc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An; Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Trọng Xuất, Tổng Thư ký Ban biên soạn Công trình lịch sử Nam Bộ kháng chiến… và nhiều tác giả khác đã phân tích, tìm hiểu động cơ, động lực thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Các tác giả tập trung phân tích, lý giải trên phương diện khoa học lịch sử những yếu tố về quê hương, gia đình, xã hội…, góp phần hình thành trí tuệ, ý chí, khát vọng ra đi tìm đường cứu nước của Người.

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trao đổi với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu tại hành lang hội thảo.

Linh mục Nguyễn Công Danh, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam nhấn mạnh đến phẩm chất yêu nước, thương nòi của Bác. Phẩm chất ấy hình thành và phát triển ngay từ khi Người còn là một cậu bé ở vùng quê Nam Đàn. Linh mục nhấn mạnh: “Nhận thức “Hiếu với cha không bằng hiếu với nước” như lời dặn của cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc trước khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, đã trở thành phương châm hành động của Người, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết”. Xúc cảm trước hành trình cứu nước vĩ đại của Người, Linh mục đã trình bày ca khúc “Tiếng hát từ Thành phố mang tên Người” (Nhạc Cao Việt Bách, lời Đăng Trung), được cả hội trường nhiệt liệt hoan nghênh.

Từ tấm gương về ý chí, khát vọng của Người, các nhà nghiên cứu đã liên hệ, vận dụng, đề xuất những hình thức, giải pháp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bồi dưỡng thế hệ trẻ của đất nước hiện nay. Đó là giáo dục nhân cách, lối sống, xây dựng đạo đức làm người, đi đôi với học tập, bồi dưỡng kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Thời khắc lịch sử

PGS,TS Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu rõ trong tham luận: Sự xuất hiện của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Người đã xuất hiện đúng lúc, ra đi đúng thời cơ, chọn con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Lê Hưng Quốc, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh đã hệ thống hóa và lý giải vấn đề một cách lô-gic những quyết định phi thường của Bác ngay từ khi lựa chọn thời điểm rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước.

Đồng chí Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương với cách tiếp cận các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian, đã chứng minh ý nghĩa lịch sử trọng đại của ngày 5-6-1911. Mốc thời gian ấy đã mở ra một trang sử hiện đại đối với con đường cách mạng Việt Nam, vốn trước đó hoàn toàn bế tắc.

Tham luận của nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã vận dụng phương pháp luận khoa học để phân tích, lý giải tầm vóc, ý nghĩa to lớn của sự kiện Bác Hồ rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước. Sau 100 năm nhìn lại, ý nghĩa của thời khắc lịch sử ấy vẫn vẹn nguyên tính thời sự, là niềm tin, động lực để Đảng ta, nhân dân ta lấy đó làm cơ sở, tiền đề tiếp tục vững bước thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Và cuộc hành trình vĩ đại

Tham luận của các nhà nghiên cứu đều khẳng định, hành trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là cuộc hành trình vĩ đại của lịch sử. Từ cuộc hành trình ấy, Người đã tìm ra ánh sáng chân lý từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin vận dụng sáng tạo vào cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chính Người đã mở lối, khai phá, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi thời kỳ tăm tối của lịch sử, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

PGS, TS Phạm Hồng Chương (Viện Nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng) dưới góc độ tiếp cận của văn hóa, cho rằng: Giá trị cao nhất của văn hóa – văn minh là giải phóng con người, làm cho con người biết tự đứng lên để giải phóng mình. Hồ Chí Minh quan niệm giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng sự phát triển. Tư tưởng của Người về sức mạnh đoàn kết để giải phóng dân tộc đã tạo ra nguồn năng lượng, động lực cực kỳ mạnh mẽ từ mỗi người dân, từ sự đoàn kết của toàn dân, tạo nên sức mạnh vô song để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Để có được sức mạnh ấy, giá trị văn hóa – văn minh trong người cộng sản chính là đạo đức, nhân cách và tài năng, dũng khí…

Vững bước trên con đường Người đã chọn

Nghiên cứu con đường cứu nước của Bác để rút ra bài học lý luận và thực tiễn bổ ích, góp phần làm giàu thêm tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước là phương châm xuyên suốt của hội thảo. Với phương pháp tiếp cận đó, tham luận của các tác giả đã trình bày dưới góc nhìn chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng – an ninh… Mỗi lĩnh vực đều có tư tưởng của Người soi rọi. Vận dụng, thực hiện thắng lợi tư tưởng của Người trên thực tiễn chính là “chìa khóa” thành công của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập.

TS Nguyễn Công Bình, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh với tham luận “Từ sự ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc cách đây 100 năm, nghĩ về định hướng XHCN ngày nay”, đã nêu các giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN. Theo TS Nguyễn Công Bình, định hướng XHCN ngày nay là sự tích lũy sức mạnh và sự năng động xã hội, nhưng không để phân hóa xã hội mà phải giải quyết các mâu thuẫn xã hội bằng chính sách, pháp luật thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với an sinh xã hội. Chăm lo cho người nghèo, thực hiện thắng lợi công cuộc xóa đói, giảm nghèo hiện nay chính là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng của Bác trong thực hiện nền dân chủ xã hội theo định hướng XHCN.

Dưới góc nhìn giáo dục truyền thống, tham luận của Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu những hình thức, biện pháp nhằm phát huy ý nghĩa lịch sử, chính trị, văn hóa của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục truyền thống cách mạng.

Không chỉ gói gọn trong các tham luận, cuộc hội thảo thực sự là một đợt sinh hoạt chính trị lớn của toàn Đảng, toàn dân thông qua sự tương tác của truyền thông. Những tham luận của các tác giả sẽ được tuyên truyền, phổ biến sâu rộng để các cấp, các ngành tiếp cận, làm cẩm nang cho công tác tuyên truyền, giáo dục, vận dụng vào từng chương trình hành động nhằm mang lại hiệu quả thiết thực.

Hội thảo đã nhận được 137 bản tham luận của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, các đồng chí lão thành cách mạng, các nhà khoa học, cán bộ quản lý trong cả nước. Mỗi tham luận là một công trình khoa học, dưới những góc độ khác nhau, nêu bật tầm nhìn thời đại của Bác, thể hiện lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Người, rút ra những bài học thực tiễn vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau. Có 16 tham luận được trình bày tại Hội thảo.

Bài và ảnh: Đào Văn Sư – Phan Tùng Sơn

qdnd.vn

“Làm bất cứ việc gì để sống và để đi…”

 Ngày 2/6/1911, Nguyễn Tất Thành, xuống tàu Amiral Latouche Tréville của Hãng Năm sao (Charges Réunis) đang chuẩn bị rời bến cảng Sài Gòn qua cảng Marseille của nước Pháp, để xin việc.

Sách “Những mẩu chuyện về đời của Hồ Chủ tịch” kể lại rằng, trước đó, Nguyễn Tất Thành đã bàn với một người bạn về ý định ra nước ngoài: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta.

Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không? Khi người bạn hỏi lấy đâu ra tiền mà đi, anh Thành vừa nói vừa giơ 2 bàn tay: Đây, tiền đây! Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.

Ngày 2/6/1911, Bác đã lên con tàu này để xin việc làm.Ngày 2/6/1911, Bác đã lên con tàu này để xin việc làm.

Ngày 3/6/1911, Nguyễn Tất Thành chính thức được nhận việc tại tàu Đô đốc Latouche Tréville của Hãng Vận tải Hợp nhất với cái tên mới là Văn Ba.

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trong phận sự của một thuỷ thủ mang tên “Văn Ba” làm việc trên chiếc tàu “La Touche Tréville” của Hãng Vận tải Hợp nhất rời bến cảng Nhà Rồng ở Sài Gòn, khởi đầu hành trình đi tìm đường cứu nước.

Nói về sự lựa chọn con đường đi sang Pháp, trong một cuộc trao đổi với nhà báo Nga Oxip Manđenxtam (12/1923), Bác cho biết: “Năm tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên được nghe ba chữ Pháp “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn sau những chữ ấy”.

Một lần khác, trả lời nhà văn Mỹ Lui Xtơrông, Bác kể: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Ra đi vào Mùa hè nóng bỏng năm 1911 từ một cửa biển cực nam của Tổ quốc (Sài Gòn) để đúng 30 năm sau, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh mới trở về Tổ quốc từ một địa đầu núi rừng phía Bắc. Tại Pác Pó (Cao Bằng), Bác làm một bài thơ nhắc đến 2 bàn tay của mình: “Non xa xa/ Nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà!”.

Chặng hải trình đầu tiên sau khi rời cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) vào ngày 5/6/1911, tàu “Đô đốc La Touche Tréville” ghé cảng Singapore (8/6), cảng Colombo, Sri Lanka (14/6), Cảng Sa’id, Ai Cập (30/6) và đến cảng đầu tiên của nước Pháp, cảng Marseille (6/7/1911).

X&N
bee.net.vn