Thư viện

Khởi thảo bản “Tuyên ngôn Độc lập” lịch sử

– Ngày 28/8/1945, tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu giành nhiều thời gian để soạn thảo văn kiện lịch sử “Tuyên ngôn Độc lập”.

Trước đó ngày 25/8, từ ngoại thành Bác cùng Tổng bí thư Trường Chinh về ngôi nhà 35 Hàng Cân (cổng sau 48 Hàng Ngang của gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô) làm nơi trú đầu tiên trong nội thành.

Ngày 26/8, tại đây, bác triệu tập Thường vụ họp nêu vấn đề sớm công bố danh sách chính phủ và phải chuẩn bị một văn kiện “Tuyên ngôn Độc lập”. Cùng ngày đó, Bác tiếp Patti, sĩ quan tình báo Mỹ (OSS).

Ngày tiếp theo (27/8), Bác triệu tập Uỷ ban Giải phóng Dân tộc đề nghị mở rộng hơn nữa chính sách đại đoàn kết. Nhiều thành viên Việt Minh dự kiến trong chính phủ tự nguyện rút lui để đưa thêm nhiều nhân sĩ không đảng phái và có danh vọng tham gia và Bác được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Bác Hồ trên Lễ đài đọc Tuyên ngôn Độc lập

Sau tất cả những việc chuẩn bị chu đáo nhằm tạo cơ sở pháp lý, Bác chính thức bắt tay vào viết Tuyên ngôn Độc lập.  Ngày hôm sau, Bác mời Patti đến và cho người dịch bản thảo đầu tiên của Tuyên ngôn để tham khảo ý kiến. Và đến ngày 30/8 thì văn bản đã hoàn thành, một lần nữa vị Chủ tịch lại đọc để mọi người trong nhà tham góp ý kiến. Viết xong, Bác bày tỏ rằng trong đời mình đã biết nhiều nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy.

Hồi ức của Võ Nguyên Giáp viết: “Trong căn nhà nhỏ, thiếu ánh sáng của ngôi nhà sâu thẳm nằm giữa một trong ba mươi sáu phố phường cổ kính của Hà Nội, Bác ngồi làm việc, khi thì viết, khi thì đánh máy.

Những người giúp việc trong gia đình không biết ông cụ có cặp mắt sáng, chiếc áo nâu bạc thường để hở khuy ngực, hay hút thuốc lá, ngồi cặm cụi đó làm gì. Mỗi lần họ tới hỏi cụ có cần gì, cụ quay lại mỉm cười, chuyện trò đôi câu. Lần nào cụ cũng nói không có gì cần phải giúp đỡ. Họ không biết mình đang chứng kiến những giờ phút lịch sử.

Một buổi sáng, Bác và anh Nhân (Trường Chinh) gọi anh em chúng tôi tới. Bản Tuyên ngôn lịch sử đã thảo xong. Bác đang đọc để thông qua tập thể. Như lời Bác nói lại sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất của Người.

Hai mươi sáu năm trước (1919), Bác tới Hội nghị hoà bình Versaille, nêu lên những yêu cầu cấp thiết về dân sinh, dân chủ cho những người dân thuộc địa. Cả những yêu cầu tối thiểu đó cũng không được bọn đế quốc mảy may chấp nhận.

Người đã thấy rõ một sự thật là không thể trông chờ ở lòng bác ái của các nhà tư bản. Người biết chỉ  còn trông cậy vào cuộc đấu tranh, vào lực lượng của bản thân dân tộc mình.

Giờ phút này, Người đã thay mặt cho cả dân tộc, hái quả tám mươi năm đấu tranh. Bữa đó, chúng tôi đã nhìn thấy rõ niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng của Người…”

Và bản “Tuyên ngôn Độc lập” ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc dõng dạc trên Quảng trường Ba Đình vào chiều ngày 2/9/1945 trước đông đảo đồng bào khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

X&N

bee.net.vn

“Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”

 -Ngày 20/8/1945, trước lúc rời Tân Trào về Thủ đô, Bác mời một số nhà lãnh đạo như Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái… căn dặn: “Bây giờ có chính quyền, chắc các cô, các chú cũng muốn về Hà Nội. Nhưng chưa được đâu. Lênin đã nói: giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn. Bởi vậy một số các cô, các chú còn ở lại địa phương đây, giúp đỡ đồng bào, tổ chức cuộc sống sao cho tươi đẹp hơn, ấm no, văn minh hơn… Biết đâu, chúng ta còn trở lên đây nhờ cậy đồng bào lần nữa?”.

Thực tiễn lịch sử đã diễn ra đúng như những tiên liệu của người đứng đầu nhà nước cách mạng!

Ngày 20/8/1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhiều nhà tư bản đáng đầu tư tại Mỏ than Hòn Gai, giám đốc Công ty Điện và Nước Đông Dương. Đồng thời, người đứng đầu nhà nước Việt Nam cũng tiếp tục thuyết phục Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Marius Moutet cần phải tiến hành tổ chức trưng cầu dân ý ở Nam Bộ, thành lập cơ quan hỗn hợp Việt-Pháp để tổ chức việc bỏ phiếu, trên nguyên tắc cơ bản là nước Pháp phải công nhận nền độc lập của Việt Nam và Việt Nam bảo đảm những quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp.

fNgày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội.

Trong  văn bản “ghi nhớ” được soạn thảo ngay trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Vì Việt Nam và Pháp đã từng chịu đựng nhiều đau thương rồi, hai bên cần thiết phải trở lại với công việc. Muốn vậy, hai chính phủ cần phải làm dịu bớt tinh thần dân chúng bằng một hiệp định…Hai dân tộc chúng ta cần hợp tác thân ái với nhau như anh em để bình phục trở lại sau bao nhiêu năm đau khổ…Những lời hứa hẹn chung chung và những bản tuyên bố vô hiệu đều là những lời nói suông và lâu ngày nó sẽ làm nản lòng nhân dân cả hai dân tộc”.

Tháng 8/1962, Bác đến nói chuyện với lớp bồi duỡng cán bộ về công tác Mặt trận và căn dặn: “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng. Phải đi đường lối quần chúng, không được quan liêu, mệnh lệnh và gò ép nhân dân. Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân; tổ chức, giáo dục, động viên nhân dân xây dựng cuộc sống mới.

Chúng ta phải thật sự dân chủ với nhân dân và chuyên chính với bọn phản cách mạng, bọn phá hoại lợi ích của nhân dân. Phải thành thực lắng nghe ý kiến của người ngoài Đảng. Cán bộ và đảng viên không đựợc tự cao tự đại, cho mình là tài giỏi hơn mọi người; trái lại, phải học hỏi điều hay điều tốt cuả mọi người. Cuối cùng, Bác thân ái chúc các cô các chú nhiều thắng lợi trong công tác và thực hiện đúng khẩu hiệu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”.

X&N
bee.net.vn

Ngày 19/8

 – Ngày 19/8/1947, Nhân dịp lần đầu tiên kỷ niệm Cách mạng tháng Tám trong khung cảnh kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi đồng bào toàn quốc” và “Thư gửi đồng bào Việt Bắc”. 

Với đồng bào cả nước, Bác phân tích ích nghĩa lớn lao của sự kiện: “Cách mạng tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích của thực dân… đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hoà và thống nhất độc lập. Noi gương Cách mạng 1776 của Mỹ, Cách mạng đấu tranh tự chủ chống ngoại xâm. Cũng như Cách mạng 1789 của Pháp, Cách mạng Tháng Tám thực hành lý tưởng: Tự do-Bình đẳng-Bác ái. Theo gót Cách mạng 1911 của Tàu, cách mạng tháng Tám thực hiện chủ nghĩa: Dân tộc, dân quyền, dân sinh”.

dNgày 19/8/1945 ở Hà Nội.

Lá thư cổ vũ: “Nay cuộc trường kỳ kháng chiến phải tiếp tục cái nhiệm vụ vẻ vang của cách mạng tháng Tám: phải làm cho nền Dân chủ Cộng hoà chắc chắn, phải làm cho quyền thống nhất độc lập vững vàng…Chúng ta có cái chí quật cường không núng của dân tộc, chúng ta có sự đoàn kết của toàn dân. Chúng ta có cái lòng hy sinh cảm tử của chiến sĩ ở tiền tuyến. Chúng ta có cái sức nhẫn nại của đồng bào ở hậu phương. Đó là những vũ khí luôn luôn chiến thắng quân thù, không lực lượng nào chiến thắng được những vũ khí đó. Chúng ta dám trả cái giá cho thắng lợi, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Còn trong thư gửi đồng bào của căn cứ địa cách mạng được phân định hành chính là Khu I (Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Phúc Yên), Bác biểu dương: “Đồng bào Việt Bắc đã có một lịch sử cách mạng rất vẻ vang. Xưa kia cụ Hoàng Hoa Thám và những vị anh hùng khác đã dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp suốt mấy mươi năm. Gần đây Việt bắc là căn cứ địa oai hùng của Quân giải phóng để chống Nhật, kháng Pháp. Tên Việt Bắc đã lừng lẫy khắp cả nước, khắp thế giới. Có sự vẻ vang đó là vì toàn thể đồng bào Việt Bắc: Kinh, Thổ, Mán, Nùng, Mèo, v.v…ai cũng yêu nước, ai cũng không chịu làm nô lệ, ai cũng đoàn kết, ai cũng hăng hái ủng hộ cách mạng”.

Cũng trong thời gian này, Bác Hồ còn viết “Thư gửi Nhi đồng toàn quốc” căn dặn: “Việc gì có ích cho kháng chiến, cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Làm được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Tuổi các cháu còn nhỏ, thì các cháu làm những công việc nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to. Bác mong các cháu làm việc, học hành, cho xứng đáng là nhi đồng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, thống nhất và độc lập”. 

Ngày 19/8/1948, trong lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Bác nhắc lại tinh thần:“Noi gương Cách mạng 1776 của Mỹ cũng như Cách mạng 1789 của Pháp, theo gót Cách mạng 1911 của Tàu, nay cuộc trường kỳ kháng chiến phải tiếp tục cái nhiệm vụ vẻ vang của Cách mạng tháng Tám”.

Ngày 19/8/1949, trong “Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm cách mạng tháng Tám và Ngày Độc lập 2/9”, Bác viết: “Nước ta vừa độc lập được 5 năm, đã 5 năm nhân dân ta kháng chiến. Chúng ta quyết hy sinh cực khổ để cho nước nhà độc lập, thống nhất và con cháu ta được hưởng tự do, hạnh phúc muôn nghìn đời về sau”.

Còn trong “Thư gửi các cháu nhi đồng”, bác Hồ nêu rõ: “Ngày nay, người lớn kháng chiến để tranh độc lập thì mai sau các cháu phải giữ vững nền độc lập của ta. Vì vậy, các cháu phải cố gắng thi đua học tập và làm việc hơn nữa”.

Cùng ngày, trong bài báo “Thất bại và Thành công”, dưới bút danh “Lê Nhân”, Bác khẳng định cái nguyên lý: “Cán bộ được dân tin, dân phục, dân yêu, thì việc gì cũng thành công”..

X&N
bee.net.vn

Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa

 – Ngày 18/8/1945, trước tình thế cách mạng đã cấp bách Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa” nhắc lại “Bốn năm trước đây (1941), tôi có thư kêu gọi đồng bào ta đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc lập, Tự do…Vừa đây, Việt Minh lại triệu tập Việt Nam Quốc dân đại biểu Đại hội bầu ra Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên quyết đấu tranh cho nước được độc lập… Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ Lâm thời của ta lúc này.

Hãy đoàn kết chúng quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước. Như vậy thì Tổ quốc ta nhất định mau được độc lập, dân tộc ta nhất định mau được tự do. Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!” 

fKhông khí Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội hưởng ứng lời kêu gọi của Bác.

Cùng ngày 18/8/1945 thông qua cơ quan tình báo Chiến lược của Mỹ OSS, Chủ tịch Uỷ ban Giải phóng Dân tộc Hồ Chí Minh gửi thông điệp đến Chính phủ Pháp với đề nghị 5 điểm nhằm xác lập quan hệ Việt Pháp sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh: “1. Chính phủ Pháp công nhận Chính phủ Việt Minh; 2.Việt Minh công nhận quyền của Pháp trong vòng từ 5 đến 10 năm, sau đó Chính phủ Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam; 3. Trong 10-19 năm sau đó, Việt Nam hưởng quyền tự trị đối nội; 4. Chính phủ Pháp hưởng quyền ưu đãi trong kỹ nghệ và thương mại ở Việt Nam;  5. Người Pháp có thể làm cố vấn về ngoại giao”.

Cũng với phương thức này Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thông điệp cho các nước Đông Minh.

Cũng vào thời điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho Charles Fenn, sĩ quan OSS ở Côn Minh (Trung Quốc) người đã chắp nối quan hệ với người đứng đầu quân Đồng Minh ở vùng Hoa Nam, trong thư viết: “Chiến tranh đã kết thúc. Đây là điều tốt cho mọi người…Chiến tranh đã kết thúc thắng lợi. Nhưng chúng tôi, những nước nhỏ và phụ thuộc, không có phần đóng góp hoặc đóng góp rất ít vào thắng lợi của tự do, của dân chủ. Nếu muốn đóng góp một phần xứng đáng, chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu. Tôi tin rằng Ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn ủng hộ chúng tôi. Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi cũng sẽ đạt được mục đích của mình. Mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc sẽ được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng ta ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”.

Trong thư gửi cho người báo vụ viên OSS Frank Tan với nội dung tương tự, Hồ Chí Minh còn viết: “Ngày mai tươi sáng chúng ta sẽ gặp nhau, chúng ta trông chờ ngày đó”.

X&N
bee.net.vn

Việt Nam chiến đấu theo những lý tưởng dân chủ

 – Ngày 18/8/1945, trước tình thế cách mạng đã cấp bách Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa” nhắc lại “Bốn năm trước đây (1941), tôi có thư kêu gọi đồng bào ta đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc lập, Tự do…Vừa đây, Việt Minh lại triệu tập Việt Nam Quốc dân đại biểu Đại hội bầu ra Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên quyết đấu tranh cho nước được độc lập… Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ Lâm thời của ta lúc này.

Hãy đoàn kết chúng quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước. Như vậy thì Tổ quốc ta nhất định mau được độc lập, dân tộc ta nhất định mau được tự do. Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!” 

fKhông khí Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội hưởng ứng lời kêu gọi của Bác.

Cùng ngày 18/8/1945 thông qua cơ quan tình báo Chiến lược của Mỹ OSS, Chủ tịch Uỷ ban Giải phóng Dân tộc Hồ Chí Minh gửi thông điệp đến Chính phủ Pháp với đề nghị 5 điểm nhằm xác lập quan hệ Việt Pháp sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh: “1. Chính phủ Pháp công nhận Chính phủ Việt Minh; 2.Việt Minh công nhận quyền của Pháp trong vòng từ 5 đến 10 năm, sau đó Chính phủ Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam; 3. Trong 10-19 năm sau đó, Việt Nam hưởng quyền tự trị đối nội; 4. Chính phủ Pháp hưởng quyền ưu đãi trong kỹ nghệ và thương mại ở Việt Nam;  5. Người Pháp có thể làm cố vấn về ngoại giao”.

Cũng với phương thức này Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thông điệp cho các nước Đông Minh.

Cũng vào thời điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho Charles Fenn, sĩ quan OSS ở Côn Minh (Trung Quốc) người đã chắp nối quan hệ với người đứng đầu quân Đồng Minh ở vùng Hoa Nam, trong thư viết: “Chiến tranh đã kết thúc. Đây là điều tốt cho mọi người…Chiến tranh đã kết thúc thắng lợi. Nhưng chúng tôi, những nước nhỏ và phụ thuộc, không có phần đóng góp hoặc đóng góp rất ít vào thắng lợi của tự do, của dân chủ. Nếu muốn đóng góp một phần xứng đáng, chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu. Tôi tin rằng Ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn ủng hộ chúng tôi. Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi cũng sẽ đạt được mục đích của mình. Mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc sẽ được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng ta ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”.

Trong thư gửi cho người báo vụ viên OSS Frank Tan với nội dung tương tự, Hồ Chí Minh còn viết: “Ngày mai tươi sáng chúng ta sẽ gặp nhau, chúng ta trông chờ ngày đó”.

X&N
bee.net.vn

Bác với một số danh nhân

– Ngày 15/8/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới Thủ tướng J.Nerhu: “Nhân ngày tuyên bố Độc lập của Ấn độ, một ngày long trọng không riêng gì cho quý quốc, mà cho cả đại gia đình Á châu chúng ta, thay mặt dân tộc Việt Nam và riêng tôi nữa, trân trọng yêu cầu Ngài nhận và chuyển cho đại dân tộc Ấn Độ lời chúc tụng nhiệt liệt và lời chào mừng thân ái của chúng tôi. Tin tưởng vào mối cảm tình và tình đoàn kết giữa các dân tộc Ấn Độ và Á châu, dân tộc Việt Nam cương quyết tranh đấu cho được thống nhất và độc lập”. 

Cách đó 1 năm, tháng 8/1946, Bác đã gửi điện mừng tới ông J.Nerhu nhân sự kiện Ấn Độ giành được độc lập. Bác quen biết thân sinh của vị Thủ tướng Ấn Độ từ năm 1927 khi dự cuộc Đại hội chống chiến tranh ở Brussels (thủ đô Bỉ). Mối quan hệ đó được duy trì cho đến năm 1954, Thủ tướng Ấn Độ J. Nerhy là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên đến Hà Nội và tiếp đó là chuyến đi thăm của Bác sang Ấn Độ.

Bác và Thủ tướng Nerhu trên đường phố Delhi năm 1958Bác và Thủ tướng Nerhu trên đường phố Delhi năm 1958

Ngày 15/8/1958, được tin nhà bác học Pháp Joliot Curie từ trần, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Viện Hàn lâm Pháp và gia đình chia buồn.

Điện viết: “Giáo sư đã hiến tất cả cuộc đời quang vinh cua mình cho khoa học, cho sự nghiệp hoà bình và cho hạnh phúc nhân loại. Giáo sư mất đi là tổn thất lớn không những cho nhân dân Pháp mà còn cho cả nhân dân toàn thế giới”.

Vợ chồng Joliot và Marie Curie đều nhận Giải Nobel, cũng là những người nhiệt tâm ủng hộ nền độc lập Việt Nam và từng gặp Bác trong thời gian có mặt tại Paris 1946. Trước đó, tháng 3/1956, khi nghe tin bà  Irène Curie từ trần, một nữ bác học đã đoạt giải Nobel, Bác đã gửi điện chia buồn với Giáo sư Joliot Curie.

Tháng 8/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thư “Gửi hoạ sĩ Picasso” nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 80 của danh hoạ Pháp gốc Tây Ban Nha. Lá thư viết: “Đồng chí Picasso thuộc vào những con người luôn luôn trẻ, bởi vì những người ấy sôi nổi trong tâm hồn một tình yêu say mê đối với cái Thiện, cái Mỹ, với Hoà bình và Nhân loại.

Tình yêu ấy đã dẫn dắt Picasso đến với chủ nghĩa cộng sản và vì thế hoạ sĩ mãi mãi giữ được mùa Xuân. Con chim Bồ câu Hoà bình do Picasso vẽ, rất quen thuộc đối với nhân dân Việt Nam và nhân dân khắp trên thế giới, đã biểu hiện một cách rực rỡ lòng tin mãnh liệt của nhà nghệ sĩ lớn ấy vào sự vươn tới hoà bình không gì có thể ngăn cản nổi của nhân dân các dân tộc”.

Năm 1946 khi sang thăm nước Pháp, Bác đã thăm Picasso và được hoạ sĩ vẽ tặng một bức chân dung.

X&N

bee.net.vn

Thời điểm bế tắc của cuộc đàm phán Fontainebleau

– Ngày 12/8/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp và nói chuyện với Đoàn đại biểu Việt Nam đang dự Hội nghị Fontainebleau và bà con Việt kiều vào thời điểm cuộc đàm phán bế tắc và ở Việt Nam quân Pháp đẩy mạnh khiêu khích.

Bình luận về cuộc đụng độ giữa lực lượng vũ trang Việt-Pháp tại Bắc Ninh và cuộc oanh tạc bằng không quân của Pháp, khi trả lời tờ “Le Combat” (Chiến đấu), người đứng đầu nhà nước Việt Nam nói: “… Ý kiến của tôi là mặc dầu trách nhiệm về bên nào, vụ xung đột ấy cũng rất đáng tiếc”; còn về  Hội nghị Fontainebleau, Bác cho rằng: “Hội nghị chỉ có thể gián đoạn chứ không thể tan vỡ được. Tôi sẽ không khởi hành trước khi chúng ta có thể đi tới một sự thoả thuận”. Còn với tờ “Libération”(Giải phóng), Bác nói rõ “Tôi không đặt điều kiện cho việc nối lại cuộc Hội nghị Fontainebleau”.

dNgày 12/8/1954, Bác cùng Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng tiếp các vị trong Uỷ ban Quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành hiệp định Genève về Việt Nam.

Nhằm cứu vãn tình hình, trong ngày 12/8/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet bày tỏ quan điểm: “Điều trước tiên là chúng ta cần làm dịu đầu óc những người Pháp và những người Việt Nam… Cần làm cho cả hai bên đều hiểu những cái mà họ có thể giành được. Những vấn đề mà người Pháp cũng như người Việt Nam tha thiết nhất, đó là vấn đề độc lập dân tộc và vấn đề Nam Bộ…”. Sau khi cho biết sẽ gửi văn bản chính thức và tiếp tục thảo luận riêng, bức thư tỏ ý “Tôi chắc chắn rằng, với thiện ý chung và sự tin cậy lẫn nhau, chúng ta sẽ nhanh chóng đi đến một thoả thuận có lợi cho cả 2 dân tộc chúng ta”.

Cũng với mối quan tâm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho Tổng bí thư đảng Cộng sản Pháp Maurice Thorez yêu cầu các Bộ trưởng cộng sản Pháp trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ Pháp khi thoả thuận về vấn đề Việt Nam hãy ủng hộ quan điểm của Việt Nam và xác định “Số phận Việt Nam tuỳ thuộc nhiều vào cuộc thảo luận đó”.

Trả lời tờ “Franc-Tireur”, một lần nữa Chủ tịch Hồ Chí Minh khẩn thiết khẳng định: “Tôi không muốn trở về Hà Nội tay không. Tôi muốn khi trở về nước sẽ đem về cho nhân dân Việt nam những kết quả cụ thể với sự cộng tác chắc chắn mà chúng tôi mong đợi ở nước Pháp. Nước Việt Nam không chịu trách nhiệm về các cuộc xung đột đã xẩy ra. Cần phải tạo nên bầu không khí thuận lợi cần thiết cho cuộc cộng tác Việt-Pháp. Muốn thế, cần làm yên lòng người Việt cũng như người Pháp. Về phần chúng tôi, chúng tôi quyết định bảo đảm cho nước Pháp những quyền lợi tinh thần, văn hoá và vật chất, nhưng trái lại nước Pháp phải bảo đảm nền độc lập của chúng tôi”.

Đó là bằng chứng những nỗ lực của Việt Nam cho hoà bình và thân thiện, đồng thời cũng thể hiện nguyênlý ngoại giao mà Bác Hồ đã căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi lên đường sang Pháp “Dĩ bất biến ứng vạn biến”.

X&N
bee.net.vn

Sự nỗ lực không biết mệt mỏi vì độc lập

 – Ngày 10/8/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến trụ sở Đảng Cộng sản Pháp ở Paris thăm các nhà lãnh đạo như Maurice Thorez lúc này Phó chủ tịch nước và Jacques Duclos, Phó Chủ tịch Quốc hội. “Nhật ký Hành trình” đánh giá “Thế là Hồ Chủ tịch đã thăm đủ các lãnh tụ ba đảng to nhất nước Pháp”.

Trước đó một hôm, Bác đã đến thăm ông Maurice Schumann, Chủ tịch Đảng Cộng hoà Bình dân, tiếng Pháp gọi tắt là MRP. “Thủ tướng đuơng nhiệm Bidault là người thuộc đảng này. Ông Schumann còn trẻ, chừng 40 tuổi, dáng người cao lớn, nói năng trịnh trọng.

Trong những năm Pháp bị Đức chiếm, tướng De Gaulle ở Luân Đôn lo việc kháng chiến thì ông Schumann phụ trách tuyên truyền. Mỗi ngày ông nói tại đài vô tuyến điện, kêu gọi dân Pháp chống xâm lăng, ủng hộ tướng De Gaulle.

Sau khi Pháp được giải phóng, thì các ông Bidault, Gay, Michelet, Schumann… về tổ chức Đảng MPRR. Đảng này về mặt chủ nghĩa thì theo công giáo, về mặt xã hội thì theo tự do. Ông Schumann chuyện trò rất thân mật và cất chén rượu chúc mừng Cụ Chủ tịch mạnh khoẻ và Việt-Pháp thân thiện”.

hChủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bảo tàng Con người ở Pháp (Musée de l’ Homme) năm 1946.

Có thể nói, trong 4 tháng ở Pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không biết mệt mỏi đi gặp, đàm luận, vận động mọi chính khách trong và ngoài chính phủ, của mọi đảng phái, khuynh hướng kể cả các tướng lĩnh, đô đốc Pháp, các cựu chính khách như Cựu Bộ trưởng thuộc địa và Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut hay Justin Godhart… để vận động cho nền độc lập Việt Nam. Bác đã gặp các nhà bác học như vợ chồng Curie, danh họa Picasso, các văn sĩ như Aragon, Ilya Erenbourg.

Ngoài những người đồng chí trong Đảng cộng sản, Bác còn giữ những mối quan hệ với các đồng chí cũ trong Đảng Xã hội mà Marius Moutet, bộ trưởng Hải ngoại của nước Pháp đương thời, người đã cùng Bác ký bản Thoả ước 14/9/1946 chỉ một ngày trước khi kết thúc cuộc đi thăm nước Pháp nhằm cứu vãn hoà bình ở Việt Nam.

Có thể nói đây là mẫu mực của một nỗ lực ngoại giao cho mục tiêu độc lập dân tộc và hoà bình hữu nghị giữa các quốc gia.

X&N
bee.net.vn

Thư gửi Khải Định

 – Ngày 9/8/1922, tờ báo “Journal du Peuple” (Nhật báo Nhân dân) đăng “Thư gửi Khai Định” ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đây là thời điểm Vua bù nhìn Khải Định được thực dân Pháp đưa sang Pháp để tham dự Hội chợ quốc tế tổ chức tại Marseille và vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của dư luận, đặc biệt là của những trí thức yêu nước và cấp tiến người Việt tại Pháp như Phan Châu Trinh. Nguyễn Ái Quốc cũng lên tiếng.

Với một lối hành văn hài hước những sắc sảo, lá thư của Nguyễn Ái Quốc vạch trần tình cảnh của ông vua bù nhìn trong chuyến đến Mẫu quốc lần này: “Ngài đã đến đây – hay nói cho đúng hơn là người ta đã đưa Ngài đến, coi như một món hàng thuộc địa và có thể trưng bày ở Hội chợ”.

Tác giả lưu ý người đứng đầu một triều đình thủ cựu và lưu ý: “Ngài có thấy được nguyện vọng thiết tha mong muốn công lý, tự do và lao động của quần chúng rộng rãi của dân tộc Pháp hay không? Ngài có thấy được tình cảm yêu chuộng hoà bình và hữu nghị đang làm rung động trái tim quần chúng đó, mà qua những cuộc cách mạng giải phóng, giờ đây đã giải phóng mình khỏi ách của bọn vua chúa, để trở thành kẻ tự mình làm chủ mình đó không?”.

Vua Khải Định và thế tử Vĩnh Thụy ở Paris năm 1922Vua Khải Định và thế tử Vĩnh Thụy ở Paris năm 1922

Cuối bức thư, Nguyễn Ái Quốc cảnh tỉnh ông vua bù nhìn về một trào lưu mới của thời đại: “Hoà lẫn với tiếng sóng gầm vang, những tiếng thét dữ dội của nhân dân bị áp bức ở các nước này, cũng như của nhân dân nước Ngài, sẽ xé tan bầu không khí yên tĩnh bên tai Ngài.

Và nếu như Ngài có đôi chút óc tưởng tượng, Ngài sẽ thấy rằng ý chí của nhân dân – một ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực – một ý chí  còn mạnh hơn và dẻo dai hơn sóng cả, cuối cùng sẽ khoét hổng dần và đánh bật cái tảng đá bên ngoài có vẻ vững chắc là sự áp bức và bóc lột kia đi”.

Tờ báo Le PariaTờ báo Le Paria

Trước đó, ngày 1/8/1922, trên tờ “Le Paria” (Người Cùng Khổ) Nguyễn Ái Quốc còn viết bài: “Sở thích đặc biệt” để đả kích sự thiếu hiểu biết của một ông vua trị vì một đất nước đang là thuộc địa tối tăm của chủ nghĩa thực dân nhưng lại khuất phục sức mạnh của kẻ thù.

Cũng trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc còn viết vở kịch “Con Rồng Tre” (Dragon en bambou) được giới thiệu công diễn tại Câu lạc bộ Ngoại ô ví Khải Định chỉ là một ông vua không có quyền hành nằm trong bàn tay cai trị, uốn nắn của những nhà cai trị thuộc địa.

X&N
bee.net.vn

“Thiên thời, địa lợi, nhân hoà”

 – Ngày 8/8/1948, khai mạc Hội nghị Quân sự lần thứ 5 (họp đến 16/8/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Ở trong xã hội, muốn thành công phải có 3 điều kiện là: thiên thời, địa lợi và nhân hoà.

Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hoà. Nhân hoà là thế nào? Nhân hoà là mọi người đều nhất trí. Nhân hoà là quan trọng hơn hết.

Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là: phải trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung.

Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng. Tín là phải làm cho người ta tin mình… Tín cũng có nghĩa phải tin vào sức mình nữa, nhưng không phải tự mãn, tự cao. Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh.

Bác trao đổi công tác quân sự trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.Bác trao đổi công tác quân sự trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Nhân là phải thương yêu cấp dưới, đồng cam cộng khổ với họ… Đối với địch hàng ta phải khoan dung. Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống. Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng…

Công tác của người tướng là : 1. Đối với kỷ luật trong quân đội mệnh lệnh từ trên xuống dưới phải thấm tới mỗi đội viên. Chỗ nào mệnh lệnh không xuống tới thì chỗ đó hỏng. Báo cáo từ dưới lên thì phải cho thật thà, nhanh chóng, thiết thực… Phải thưởng phạt cho công minh…

2. Đối với binh sĩ, có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh họ sẽ hăng hái đánh…

3. Đối với dân, bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi

4. Đối với địch thì tuyệt đối chớ khinh địch. Tục ngữ có câu “Sư tử muốn bắt con chuột thì cũng phải dùng hết sức mình mới bắt được”, khinh địch thì nhất định sẽ thất bại. Ta biết rõ địch thì thắng. Nếu địch biết rõ ta thì sẽ thất bại. Cho nên phải hết sức giữ bí mật. Địch vận là làm sao phá được địch mà không phải đánh. Cái đó là việc chính trị…”.

X&N
bee.net.vn

Thời gian chứng minh sự thật được khẳng định ngay từ đầu

– Ngày 7/8/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia Đoàn Chủ tịch lễ tuyên dương công trạng của các đơn vị không quân và hải quân đã lập chiến công đánh thắng trận đầu vào các ngày 2/8 và 5/8 khi Không quân và Hải quân Mỹ dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” để khởi động cuộc Chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta.

Trong bài phát biểu tại buổi lễ, Bác biểu dương: “Các chú đã chiến đấu rất dũng cảm, đã bắn rơi tám chiếc máy bay Mỹ và bắn hỏng ba chiếc, vừa rồi lại nghe tin bốn chiếc máy bay Mỹ đến Biên Hoà bị hỏng. Các chú đã bắt sống phi công Mỹ, đánh duổi tàu chiến Mỹ ra khỏi vùng biển Tổ quốc ta. Như vậy là rất tốt”.

Bác cũng đồng thời đưa ra thông điệp: “Nhân dân ta rất yêu chuộng hoà bình, nhưng nếu đế quốc Mỹ và tay sai xâm phạm đến miền Bắc nước ta thì toàn dân ta nhất định sẽ đánh bại chúng”. 

Cùng ngày, Bác ký sắc lệnh tặng 10 tấm Huân chương Quân công tặng các đơn vị tham gia các trận đánh này.

Ngày 7-8-1965, Bác biểu dương các chiến sĩ xuất sắc nhân 1 năm Chiến thắng Hàm Rồng.jpg (3533KB)Ngày 7/8/1965, Bác biểu dương các chiến sĩ xuất sắc nhân 1 năm Chiến thắng Hàm Rồng.

Kể từ đó, miền Bắc đã chia lửa với chiến trường miền Nam bằng cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Mỹ kéo dài cho đến trận quyết chiến chiến lược đương đầu với “pháo đài bay” B52 của Mỹ, cuối tháng 12/1972 và buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris 1973.

Ngay sau khi cuộc Chiến tranh phá hoại của Mỹ được phát động, trong bài trả lời phóng viên Hãng thông tin Mỹ UPI được công bố ngày 9/8/1964. Bác đã khẳng định: “Tôi muốn nói với dư luận nhân dân ở nước Mỹ và toàn thế giới sự căm phẫn của toàn thể nhân dân Việt Nam trước những hành động xâm lược có tính toán từ trước của Chính phủ Mỹ đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi cũng muốn nói lên ý chí của toàn thể nhân dân Việt Nam, với sức mạnh được tăng cường gấp bội, quyết đấu tranh chống bọn xâm lược cho đến thắng lợi”.

Cần lưu ý rằng, câu hỏi của phóng viên UPI tại Nhật Bản đưa ra vào đúng ngày 5/8/1964 đề cập tới nguyên  nhân diễn ra cuộc đụng độ khởi động cuộc Chiến tranh phá hoại mà vào thời điểm đó chính quyền Mỹ tuyên truyền rùm beng đây chỉ là sự trả đũa đối với “sự kiện Vịnh bắc Bộ” khi cho rằng hải quân Việt Nam đã tấn công khiêu khích các tàu chiến của Hạm đội VII của Mỹ buộc Mỹ phải phát động chiến tranh.

Trong rất nhiều năm sau đó, các cơ quan báo chí và chính giới Mỹ đã nghi ngờ sự kiện vịnh Bắc Bộ chỉ là một thủ đoạn của các phần tử diều hâu trong chính giới Mỹ dựng lên để lấy cớ. Vì thế bài trả lời phỏng vấn đầu tiên của Bác đã vạch rõ đây là “hành động xâm lược có tính toán của Chính phủ Mỹ…” đã được thời gian chứng minh là một sự thật lịch sử.

Mới đây nhất, khi toàn bộ các lưu trữ lịch sử liên quan đến sự kiện diễn ra vào năm 1964 này đến thời hạn giải mật thì những tài liệu được công bố đã thừa  nhận “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” chỉ là một vụ bày đặt giả mạo để đánh lừa bộ máy lập pháp của nước Mỹ khi Quốc hội ra nghị quyết cho phép Tổng thống Mỹ Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara ra lệnh không quân và hải quân Mỹ tấn công miền Bắc nước ta.

X&N
bee.net.vn

“Tình yêu Tổ quốc là đạo đức tối cao”

– Ngày 6/8/1945, qua điện đài liên lạc với cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ đóng ở Côn Minh (Trung Quốc), Thiếu tá A.Thomas, người chỉ huy toán “Con Nai” đang tham gia Đại đội Việt-Mỹ hoạt động ở Chiến khu Tân Trào đã thông báo tới người đứng đầu Mặt trận Việt Minh, Hồ Chí Minh biết tin Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống thành phố Hirosima của Nhật Bản, sự kiện đó sẽ tác động mạnh mẽ vào tình hình Đông Dương, nơi phát xít Nhật đang chiếm đóng.

Trong sách “Why Vietnam?” (Tại sao Việt Nam?), đại tá tình báo Mỹ A.Patti nhận định:

“Vào ngày 6 tháng 8 vụ “Hiroshima” đã báo trước sự kết thúc của cuộc chiến tranh. Trước khi đó, ông Hồ chưa thực sẵn sàng, nhưng khi ông được Thomas cho biết sự sụp đổ của Nhật, ông đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng chân vững chắc ở những nơi ông muốn ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn.

Ông Hồ biết rằng ông phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ được vai trò lãnh đạo và đà phát triển của phong trào. Mặc dù còn rất yếu sau một cơn sốt rét và nhiều bệnh tật khác, ông cũng cho triệu tập một cuộc hội nghị các đại biểu Đảng và các lãnh tụ chính trị Việt Minh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bên lá cờ tổ quốc, Ảnh do một sĩ quan Anh chụp đầu năm 1946.Chủ tịch Hồ Chí Minh bên lá cờ Tổ quốc. Ảnh do một sĩ quan Anh chụp đầu năm 1946.

Còn trong hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết sau khi nghe được thông tin này, Bác ra chỉ thị và tung lực lượng giao thông nhanh chóng toả đi các địa phương để triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân ở Tân Trào.

Quan sát diễn biến của tình hình, tác giả sách “Why Vietnam?” cho rằng Hồ Chí Minh đã rất nhanh nhạy chớp thời cơ, chạy đua với thời gian để đạt được một mục tiêu rất thực tế.

Với Đại hội Quốc dân Tân Trào, “Ông Hồ đã lái Đại hội tới chỗ tán thành một chính sách thực tế là giành lấy chính quyền từ trong tay người Nhật và Chính phủ bù nhìn trước khi quân đội Đồng Minh vào Đông Dương và như thế với danh nghĩa là những người chủ của đất nước chúng ta hoan nghênh đón quân đội đó đến giải giáp Nhật…

Khi kết thúc Đại hội đáng ghi nhớ này, ông Hồ đưa ra lời kêu gọi hùng hồn với toàn thể nhân dân Việt Nam và ký vào bản kêu gọi với cái tên mà trước đây ông đã dùng khi bắt đầu cuộc  đời  đấu tranh cách mạng của  ông: “Nguyễn Ái Quốc”. Lời kêu gọi đánh vào tinh thần yêu nước của người Việt Nam và ông muốn cho họ biết ông vốn là “Nguyễn, người coi tình yêu Tổ quốc là đạo đức tối cao”.

X&N
bee.net.vn