Thư viện

“Đoàn kết không phải ngoài miệng”

– Có 2 sự kiện đáng nhớ diễn ra trong ngày này, ngày 31/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm và kiểm tra cảng Hải quân Bãi Cháy và lên tàu T554. Bác đi thăm trận địa pháo của Đại đội 34 trên đảo Hòn Rồng trong vịnh Hạ Long.

Nói chuyện với các chiến sĩ, Bác động viên phải cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, an tâm với nhiệm vụ, tích cực học tập quân sự, chính trị, văn hoá, tăng gia sản xuất để cải thiện sinh hoạt, đời sống, sẵn sàng chiến đấu.

 31-3-1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phóng.jpg (89KB)Ngày 31/3/1959, Bác Hồ nói chuyện với đồng bào ngoài đảo Cát Bà, Cát Hải, Hải Phòng

Cũng trong chuyến đi này, Bác giao trách nhiệm cho lãnh đạo Tổng cục Hậu cần phải nghiên cứu, bảo đảm cung cấp sách báo và nước ngọt cho các chiến sĩ… Đây chính là địa bàn mà 6 năm sau đó, không lực của Mỹ đã ném bom ngay trong ngày đầu tiên khi phát động chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và cũng là nơi lập chiến công đầu bắn rơi và bắt sống phi công Mỹ (5/8/1964).

Cũng trong chuyến đi này, Bác đến thăm các đảo Cát Hải và Cát Bà, thăm hỏi một số cư dân trên đảo, thăm Trường huấn luyện Hải quân và buổi tối nói chuyện với cán bộ các ngành quân, dân, chính, đảng thành phố Hải Phòng.

Bác nhấn mạnh đến những bất cập của một thành phố cảng quan trọng nhất miền Bắc nhưng chưa phát triển đúng với yêu cầu mà mấu chốt là công tác quản lý. Do vậy “phải chống tư tưởng bảo thủ, chống chủ quan tếu, đồng thời chống bi quan…

Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí. Đoàn kết không phải ngoài miệng mà đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ… Kết quả công tác của địa phương là thước đo sự lãnh đạo của Đảng”.

Ngày 31/3/1960, Bác Hồ gửi thư tới Hội nghị Thể dục Thể thao trong đó viết: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khoẻ. Muốn giữ sức khoẻ thì nên thường xuyên tập thể dục, thể thao. Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp.

Câu nói “Yêu xe như con, quý xăng như máu” đã từng trở thành phương châm hành động của các chiến sĩ lái xe trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ mà đến nay vẫn chưa phải đã cũ. Bác đã nói câu đó vào tháng 3/1951, khi đến thăm đoàn xe đầu tiên của quân đội được thành lập trên cơ sở những chiến lợi phẩm trong Chiến dịch Biên giới và biên chế thành những đơn vị cơ giới vận tải.

Nói chuyện với các bộ và chiến sĩ đơn vị, Bác căn dặn: “Các chú đã thu được một số xe của địch, thế là tốt, vì các chú lấy xe của địch diệt địch, “Gậy ông lại đập lưng ông”. Đấy là cái vốn, các chú phải giữ gìn lấy. Vốn này sẽ phát triển nhiều thêm… Các chú phải giữ gìn xe, tiết kiệm xăng để phục vụ bộ đội. Xe xăng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Các chú phải chăm sóc xe, phải yêu xe như con, quý xăng như máu…”.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ với những tù binh Pháp

– Ngày 30/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân ta bắt trên các chiến trường để thể hiện thiện chí của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với dân các nước thuộc địa của Pháp.

Cần nói rằng chính sách đối với tù binh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán. Không đầy một tuần sau khi đưa ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” nhiều binh sĩ của quân đội Pháp đã bị bắt làm tù binh. Là người tha thiết không muốn cuộc chiến tranh bùng nổ, chủ trương hoà hiếu nhưng quyết tâm bảo vệ nền độc lập của mình, nhân ngày Thiên Chúa Giáng sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư “gửi các tù binh Pháp” (24/12/1946). Thư viết :

30-3-1959 HCM thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh.jpg (111KB)Ngày 30/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh

“Các bạn, tôi rất lấy làm phiền lòng vì thấy các người đang ở trong tình trạng như thế này. Tôi coi các người là bạn của tôi. Tôi biết rằng đó không phải là bởi các bạn, nhưng các bạn cũng như chúng tôi, đều là nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Bọn này vì quyền lợi ích kỷ riêng của họ, chỉ muốn đi chinh phục nước người khác.

Tôi mong nột ngày gần đây, hai dân tộc Pháp – Việt có thể cùng cộng tác trong vòng hoà bình và thân ái để mưu cầu hạnh phúc chung cho hai dân tộc. Trong khi chờ đợi, các bạn hãy yên lòng và sống dưới sự che chở của chúng tôi, cho đến khi hết chiến tranh, khi đó các bạn sẽ được tự do. Tôi chúc các bạn một ngày Noel vui và một năm tốt đẹp”.

Trong suốt những năm tháng chiến tranh gian khổ và đầy hy sinh Bác cũng thực hiện một chính sách nhân dân đối với các tù binh của quân đôi Pháp, nuôi dưỡng trong hoàn cảnh chính những chiến sĩ của mình còn đói, rét, thiếu thuốc men… Do chính sách binh vận tốt nên nhiều tù binh Pháp và đoàn quân Lê dương cũng như những lính thuộc địa đã tình nguyện đi theo kháng chiến.

Sau Chiến dịch Biên giới (1950) cả 2 viên đại tá chỉ huy cấp binh đoàn là Lepage và Charton đều bị quân ta bắt sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đích thân đến nơi giam giữ để an ủi.

Hồi ức của Đại tá Hoàng Thế Dũng người tháp tùng Bác, kể lại rằng, khi giải thích những khó khăn của tù binh Pháp gặp phải, Bác, trong vai cố vấn chính trị của Mặt trận, nói: “Các ông biết chiến tranh là chiến tranh. Nhưng quân đội Việt Nam chỉ làm chiến tranh trong các trận đánh thôi. Sau trận đánh, đối với quân đội bại trận, quân đội Việt Nam coi binh sĩ của nó như là nhân dân Pháp. Sự thiếu thốn chỉ là vì hoàn cảnh…”.

Và trong một lần thăm tù binh Pháp, Bác đã cởi tấm áo khoác của mình cho một sĩ quan ốm yếu của đối phương mà người nhận không hề biết rằng người nhường tấm áo rét cho mình là người đứng đầu Việt Minh đang tổ chức kháng chiến.

X&N
bee.net.vn

Hồ Chí Minh và viên tướng Mỹ

 Ngày 29/3/1945, Hồ Chí Minh gặp Tướng Mỹ Claire Chennault, Tư lệnh không đoàn số 14 của Mỹ, cũng là người đại diện cao nhất của Đồng Minh ở vùng Hoa Nam, Trung Quốc để thoả thuận sự hợp tác chống phát xít Nhật ở Đông Dương.

Cuộc gặp này được bố trí bởi Trung uý hải quân Charles Fenn, công tác tại cơ quan Cứu trợ mặt đất của Mỹ ở Trung Hoa (AGAS), người đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Hồ Chí Minh cách đó 10 ngày (18/3/1945).

Sau này, trong cuốn sách viết về tiểu sử chính trị của Hồ Chí Minh xuất bản bằng tiếng Anh vào năm 1973 của Ch.Fenn, được trích dẫn lại trong cuốn “Tại sao Việt Nam?”(Why Vietnam?) của Đại tá Archimedes Patti, chi tiết này được đánh giá như một bước ngoặt quan trọng vì sự xác lập được mối quan hệ đồng minh giữa Việt Minh và Hoa Kỳ cũng như xác lập được vị thế “đứng về phía Đồng Minh” trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít của Hồ Chí Minh nói riêng và lực lượng Việt Minh nói chung.

Tháng 8-1945, tạ Hà Nội,Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp ảnh kỷ niệm với đơn vị OSS củ (90KB)Tháng 8/1945, tạ Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp ảnh kỷ niệm với đơn vị OSS.

Ch.Fenn cho biết, ông đã được nghe nói về một người An Nam tên gọi là “Hu Tze-ming” đã giúp cho viên phi công Mỹ tên là trung uý Shaw, nằm trong số 9 viên phi công trên những phi cơ tham gia các cuộc không kích ở vùng sông Sài Gòn bị quân Nhật bắn hạ. Trung uý Shaw được Việt Minh cứu sống và Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Phạm Văn Đồng tổ chức đưa viên phi công này qua Côn Minh (Trung Quốc) để giao lại cho Đồng Minh.

Thực hiện đề nghị của Hồ Chí Minh, Ch.Fenn đã bố trí cuộc gặp này và thuật lại trong hồi ức của mình: “Chelnault rất cảm ơn ông Hồ về việc người phi công được cứu thoát, ông Hồ đáp lại bao giờ ông cũng sung sướng được giúp đỡ người Mỹ và đặc biệt là giúp tướng Chelnault mà ông ta hết mực ca tụng. Họ trò chuyện về đội “Hổ Bay” (biệt danh của các đơn vị tinh nhuệ trong Tập đoàn không quân số 14 của viên tướng này)… Họ bàn chuyện cứu các phi công bị nạn.

Không ai nói gì đến người Pháp hoặc nói chuyện chính trị. Tôi thở phào khi mọi người sắp từ biệt nhau. Lúc đó ông Hồ nói rằng ông muốn xin một vật kỷ niệm nhỏ… và tất cả cái mà ông ta muốn chỉ là một cái ảnh của tướng Chelnault.”

Viên tướng Mỹ vốn rất hãnh diện với diện mạo và những chiến tích của mình đã đưa ra một sấp ảnh khổ 8X10cm và đề nghị Hồ Chí Minh chọn lấy một chiếc. “Ông Hồ cầm lấy một chiếc và hỏi tướng Chelnault có vui lòng cho xin chữ ký? Chelnault liền viết ở dưới tấm ảnh “Bạn chân thành của Anh. Claire L.Chelnault”.

Sau này cả hai viên sĩ quân tình báo của đơn vị OSS (Cơ quan tình báo chiến lược), tiền thân của CIA sau này, là Ch.Fenn và A.Patti, đều đánh giá rằng nhà cách mạng Việt Nam đã khôn khéo sử dụng tấm ảnh có lời đề tặng này để gây thanh thế đối với các nhà lãnh đạo Trung Hoa cũng như lực lượng người Việt đang có mặt tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

 Hơn thế từ cuộc gặp mặt này những mục tiêu của Hồ Chí Minh đã được thực hiện nhằm xác lập vị thế của Việt Minh và những sự hỗ trợ cụ thể (chủ yếu là phương tiện thông tin, vũ khí, tin tức tình báo) giữa hai bên góp phần vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tháng Tám giành độc lập cho dân tộc Việt Nam gắn với cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít Nhật.

Về sau này, trải qua nhiều biến thiên của thời cuộc, kể cả việc Mỹ tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, 2 cựu sĩ quan Mỹ này vẫn giữ được sự trân trọng đối với cá nhân cũng như sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Chelnault đã cảm ơn việc cứu phi công Mỹ và hỏi Việt Minh có sẵn sàng giúp cứu phi công Đồng Minh bị rơi ở Đông Dương không? Hồ Chí Minh trả lời rằng “bổn phận của những người chống phát xít là làm tất cả những việc có thể làm được để giúp đỡ Đồng Minh”.

Trước khi chia tay, viên tướng Mỹ đã tặng Hồ Chí Minh một tấm chân dung của mình kèm theo lời đề tặng “Bạn chân thành của ông”. Sau cuộc gặp này nhiều hoạt động chuẩn bị được thiến hành và tháng 5/1945, Hồ Chí Minh về nước đưa theo 2 báo vụ viên và một số thiết bị liên lạc về chiến khu Việt Bắc.

X&N
bee.net.vn

“Mỗi người làm việc bằng hai”

– Ngày 28/3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo bế mạc Hội nghị Chính trị đặc biệt. Đây là hội nghị theo quy định của Hiến pháp,  cho phép Chủ tịch nước được triệu tập nhằm bày tỏ ý chí của nhân dân trước những vấn đề trọng đại của đất nước và những ý kiến của Hội nghị sẽ được chuyển cho Quốc hội, Hội đồng Chính phủ và các cơ quan hữu quan khác thảo luận và ra quyết định (điều 67 Hiến pháp 1959).

Hội nghị Chính trị đặc biệt có 325 đại biểu chính thức và hơn 300 đại biểu dự thính đại diện cho các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo và các tầng lớp nhân dân, nhân sĩ trí thức tiêu biểu cùng đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc và Việt kiều, họp tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa khai mạc vào sáng 27/3 và bế mạc vào ngày 28/3/1964.

3-1960 - Hồ Chủ tịch thăm Trường thiếu nhi các dân tộc vùng cao ở Thái Nguyên.jpgTháng 3/1960, Hồ Chủ tịch thăm Trường thiếu nhi các dân tộc vùng cao ở Thái Nguyên

Hội nghị được triệu tập vào thời điểm 19 năm sau Hiệp định Giơnevơ ký kết, miền Bắc đã giải phóng nhưng tổng tuyển cử chưa thực hiện được và cuộc chiến tranh giải phóng đang diễn ra ở miền Nam Việt Nam, đồng thời nguy cơ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc của đế quốc Mỹ có nguy cơ trở thành hiện thực.

Trong báo cáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới… là 10 năm đấu tranh gian khổ và thắng lợi vẻ vang…

Chúng ta vô cùng tự hào với miền Nam anh hùng của dân tộc ta, 10 năm qua ở  miền Nam là 10 năm đấu tranh oanh liệt, 10 năm thắng lợi vẻ vang. Suốt 20 năm trời, đồng bào miền Nam ta đã không ngừng đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc. Hết chống thực dân Pháp, lại chống đế quốc Mỹ, lực lượng yêu nuớc miền Nam đã vượt mọi gian khổ khó khăn, càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng. Thật xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”.

Báo cáo phân tích tình hình trong nước và quốc tế, đưa ra những đường lối cơ bản để thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, góp phần bảo vệ hoà bình thế giới.

Còn trong phát biểu bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và kêu gọi: “Đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân, tất cả các vị đại biểu đều nhất trí và quyết tâm cùng với toàn dân nâng cao hơn nữa chí khí cách mạng, ra sức thi đua yêu nước, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên, vượt qua mọi gian khổ, khó khăn giành những thắng lợi rực rỡ hơn nữa…

Tôi đề nghị các cụ và các đồng chí sẽ đem tinh thần nhất trí, ý chí cách mạng và lòng tin tưởng quyết tâm của tất cả chúng ta ở Hội nghị này đến nhân dân cả nước ta, biến thành một sức mạnh vĩ đại, một sức phấn khởi mới, hăng hái tiến lên !”

Từ sau Hội nghị này một phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” đã được phát động và trong lịch sử sự kiện này được coi là một “Hội nghị Diên Hồng” thứ hai.

X&N
bee.net.vn

“Dân cường thì quốc thịnh”

– Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp của Hội đồng Chính phủ bàn về nhiều nội dung quan trọng: tổ chức các bộ như Bộ Xã hội, Bộ Ngoại giao; sắc lệnh Tự do cá nhân, sắc lệnh tạm thời về Tự do báo chí, tình hình tài chính, việc Trung Hoa muốn mua và mượn đường sắt của Việt Nam.

Cùng ngày báo “Cứu Quốc” đăng bài “Sức khoẻ và Thể dục” trong đó Bác Hồ kêu gọi đồng bào cả nước tập thể dục.

Bài báo viết: “Giữ gìn dân chủ nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ.

Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người yêu nước. Việc đó không tốm kém, khó khăn gì. Gái, trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi ngày, lúc ngủ dậy, tập một ít thể dục. Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khoẻ.

Bộ Giáo dục có Nha thể dục, mục đích là để khuyên và dạy cho đồng bào tập thể dục, đặng giữ gìn và bồi đắp sức khoẻ.

Dân cường thì quốc thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”.

1949 Bác và đội bóng chuyền trong Chiến khuTấm ảnh chụp Bác Hồ với anh em cầu thủ đều là những “quan chức” của Chính phủ năm 1949: (Từ trái sang phải. Hàng ngồi: Nguyễn Lương Bằng , (?), Lê Văn Hiến, Bác Hồ, Nguyễn Khánh Toàn , (?), Trần Công Tường (?)- . Hàng đứng : (?), Trần Duy Hưng, Bùi Công Trừng). Những dấu hỏi (?) là những nhân vật chưa xác định được danh tính, mong bạn đọc nếu biết thì cung cấp, hay sửa lỗi.

Cùng trong ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập trong Bộ quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục, đến nay, ngày 27/3 hàng năm đã trở thành Ngày truyền thống của Ngành Thể dục Thể thao nước ta.

Trong đời sống, Bác Hồ không chỉ tự mình tập tành mà còn vận động và lôi cuốn những người gần gũi mình vào những sinh hoạt thể thao tập thể. Trong sách “Nhật ký của một bộ trưởng”, tác giả là Bộ trưởng Tài chính trong Chính phủ Kháng chiến Lê Văn Hiến thuật lại: “Ngày 12/1-/949… Sau câu chuyện bên đống lửa hồng, Hồ Chủ tịch đưa tất cả anh em ra sân volley ball (bóng chuyền), rồi chia ra hai phe đánh bóng.

Hồ Chủ tịch và 5 anh em một bên, mình và 5 anh em khác một bên. Cuộc đánh bóng này là cuộc đặc biệt. Hồ Chủ tịch với cái quần cụt, có vẻ “cầu sĩ” nhanh nhẹn và hoạt động lắm. Buổi đánh bóng chiều nay thật vui…”.

X&N
bee.net.vn

“Người đảng viên phải thế nào?”

– Ngày 25/3/1951, báo “Nhân Dân” đăng bài viết với đầu đề “Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?” ký bút danh C.B. Đây là bài báo được Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mới được bầu vào cương vị Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương, vừa tổ chức thành công tại Chiến khu Việt Bắc.

Sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới (1950), nhu cầu thúc đẩy cuộc kháng chiến và với mối liên hệ với các Đảng cộng sản của các nước xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đảng của những người cộng sản phải ra công khai, sau khi đã “tuyên bố tự giải tán” từ tháng 11/1945.

Đại hội Đảng lần thứ II được triệu tập và dẫn đến quyết định trở lại công khai lãnh đạo toàn diện cuộc kháng chiến và kiến quốc, nhưng với tên gọi mới là “Đảng Lao động Việt Nam”(3/3/1951).

Bác Hồ chụp ảnh vói các cháu thiếu nhi trên Chiến khu Việt BắcBác Hồ chụp ảnh với các cháu thiếu nhi trên Chiến khu Việt Bắc

Quyết định chọn tên này là do đề nghị của Bác và cũng phải trải qua những tranh luận quyết liệt. Bài báo này xác định bản chất và những sắc thái mới của tổ chức cách mạng này trong bối cảnh lịch sử mới, nhằm trả lời câu hỏi: “Thế nào mới xứng đáng là người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam?”.

Bài báo xác định “Đảng Lao động Việt Nam sẽ gồm những công nhân, nông dân và lao động trí óc yêu nước nhất, hăng hái nhất, cách mệnh nhất” và là “những người kiên quyết phụng sự lao động, những người chí công vô tư, làm gương mẫu trong cuộc kháng chiến kiến quốc. Như thế là rõ.

Ai mà không như thế, thì không xứng đáng là người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Nói chung, người đảng viên ở bất kỳ đâu, bất kỳ làm việc gì, bất kỳ địa vị và hoàn cảnh nào, cũng phải luôn luôn:  Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải ra sức tham gia công việc kháng chiến; phải gần gũi dân chúng, thương yêu giúp đỡ dân chúng, tổ chức là lãnh đạo dân chúng; phải giữ vững đạo đức cách mệnh là chí công vô tư…

Nói tóm lại, người đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo.

Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ. Đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam”.

Đến nay vừa tròn 60 năm, nhắc lại bài báo như thấy một tấm gương để người nay soi vào!

X&N
bee.net.vn

Cuộc hội kiến trên Vịnh Hạ Long

– Ngày 24/3/1946 đã diễn ra cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cao uỷ Pháp D’ Argenlieu trên tuần dương hạm “Émile Bertin” đậu trên Vịnh Hạ Long.

Vào thời điểm ký kết Hiệp định Sơ bộ 6/3, diễn biến chính trường nước Pháp có những thay đổi mạnh mẽ. Đảng Xã hội Pháp đã thay thế Tướng De Gaulle trên chính trường.

Phái “diều hâu” ở Đông Dương đứng đầu là Cao uỷ – Đô đốc D’ Argenlieu tìm mọi cách phá hoại hoà hoãn, đặt Chính phủ Pháp vào những việc đã rồi, với Việt Nam là dung dưỡng các phần tử khiêu khích và tách Nam Bộ thành lập chính phủ tự trị.

Ngày 24/3/1966, Bác nói chuyện tại Đại hội thi đua bảo đảm giao thông vận tải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lượcNgày 24/3/1966, Bác nói chuyện tại Đại hội thi đua bảo đảm giao thông vận tải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

Và trong nội bộ tìm cách gạt các nhân vật chủ trương thực hiện Hiệp định Sơ bộ. Trong bối cảnh và ý đồ ấy, D’ Argenlieu đã đề nghị tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng địa điểm được mời đến lại là trên một chiến hạm đậu tại Vịnh Hạ Long.

Bác nhận lời và ngày 24/3/1946 từ sân bay Gia Lâm, bằng một chiếc thuỷ phi cơ, Bác cùng Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam và Thứ trưởng Bộ nội vụ Hoàng Minh Giám bay đến điểm hẹn: Tuần dương hạm “Émille Bertin”

Đô đốc D’Argenlieu đã tiếp đón với hình thức trọng thị để tỏ rõ quyền lực tối cao của mình ở Đông Dương cũng là để gạt bỏ ảnh hưởng của Tướng Leclerc, người có khuynh hướng hoà hoãn đã tham gia quá trình dẫn đến ký kết Hiệp định Sơ bộ mà Đô đốc cho rằng đã nhượng bộ Việt Minh quá nhiều. Hạm đội Pháp đã duyệt binh vừa để chào mừng vừa để thị uy sức mạnh của vũ khí.

Cuộc thảo luận xoay quanh việc thúc đẩy những cuộc tiếp xúc cao cấp giữa hai bên trong đó có cuộc gặp thượng đỉnh mà vị Chủ tịch nước Việt Nam yêu cầu sẽ phải được diễn ra tại thủ đô nước Pháp nhằm ngăn chặn những mưu đồ của các phần tử thực dân muốn phá hoại những nỗ lực hoà bình và tranh thủ chính giới tiến bộ ở Pháp.

Cũng trong cuộc tiếp xúc này mà nội bộ giữa hai viên đô đốc và tướng Pháp càng trở nên căng thẳng. Leclerc sau khi tỏ rõ sự bất đồng với D’Argenlieu, không bao lâu sau bị điều động rời khỏi Đông Dương. Còn viên đô đốc thực dân thì đòi hỏi phải có một cuộc hội nghị sơ bộ ở Đà Lạt nhưng đã phải chấp nhận một chuyến thăm viếng chính thức của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sang thăm hình thức Cộng hoà Pháp.

Trên máy bay trở về Hà Nội, Bác nói với viên tướng Pháp Salan, người đi tháp tùng đoàn cảm nghĩ về cuộc găp này: “Nếu đô đốc (D’Argenlieu) muốn đem tàu bè ra lung lạc tôi thì ông ta đã lầm to. Những tàu đó không thể nào đi ngược các dòng sông của chúng tôi!”.

Nhận xét sau cuộc hội kiến này, chính viên Đô đốc D’ Argenlieu đưa ra nhận xét: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có một bản lĩnh vững vàng. Ông biết mình muốn điều gì và chỉ đạo hoạt động của mình một cách kiên nhẫn… Chủ tịch có được cái kỹ thuật của một lãnh tụ cách mạng, cũng là cái kỹ thuật của đảng đã đào tạo nên ông” (P.Devillers. “ Paris-Sài Gòn- Hà Nội”, tr.295).

X&N
bee.net.vn

“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ”

– Ngày 23/3/1949, báo “Cứu Quốc” đăng nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Walter Briggs, phóng viên của nhiều tờ báo ở Mỹ. Cuộc phỏng vấn này không thực hiện trực tiếp mà qua văn bản.

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1946

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1946

Trả lời câu hỏi điều kiện nào Việt Nam chấp nhận sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc, Bác khẳng định: “Độc lập và thống nhất thực sự của Việt Nam”;

Hỏi “Cụ có phải là một người cộng sản nữa không?”, Bác trả lời: “Tôi luôn luôn là người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thực sự của Tổ quốc tôi”;

Hỏi: “Việt Nam công khai tuyên bố trong 24 vị thành viên của Chính phủ có 4 vị là cộng sản, thế thì 4 vị ấy có ảnh hưởng đặc biệt hay cũng như các vị khác”, Bác trả lời: “Tất cả các bộ trưởng Chính phủ Việt Nam đều cộng đồng phụ trách và ảnh hưởng bình quân”;

Hỏi: “Một khi độc lập thì Việt Nam sẽ đứng với Nga và các nước đồng minh với Nga hay là với dân chủ phương Tây?”, Bác trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bàu bạn”;

Hỏi: “Một khi độc lập đã thành công, về mặt quốc tế, Cụ sẽ đưa Việt Nam đứng với Nga và các nước đồng minh của Nga hay là với dân chủ phương Tây, hay là theo chính sách độc lập của mình?”, Bác trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn”….

Có thể nói đây là quan điểm nhất quán mà ngay sau khi Cách mạng tháng 8/1945 thành công và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, người đứng đầu nhà nước đã tuyên bố “Nước Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên thế giới, không muốn gây sự với ai…”(1945-1946), và nó tiếp tục được khẳng định ngay cả khi chiến tranh đã bùng nổ và vào thời điểm phỏng vấn đang diễn ra ác liệt.

Cũng trong tháng 3/1949, trả lời phỏng vấn của nhà báo Standley Harrison của báo “Telepress” (đăng trên Cứu Quốc ngày 26/3/1949), Bác cũng khẳng định: “Pháp công nhận Việt Nam thống nhất thực sự và độc lập thực sự thì chiến tranh sẽ lập tức chấm dứt”.

Trả lời câu hỏi: “Vì lẽ gì mà Việt Nam thành công về mặt quân sự?”, Bác trả lời: “Vì toàn dân đại đoàn kết để chống thực dân Pháp và để tranh lấy thống nhất và độc lập thật sự cho Tổ quốc mình”.

Hỏi: “Khi ngoại thương Việt Nam đã khôi phục, thì Việt Nam sẽ giao dịch với các nước dân chủ nhân dân những gì?”, Bác khẳng định: “Việt Nam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà”.

X&N
bee.net.vn

Bác và nhà báo Úc W.Burchett

– W.Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét: “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng.

Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13/3/1954 bằng trận tấn công vào cứ điểm Him Lam và kết thúc đợt 1 bằng việc đánh trên đồi Độc lập (15/3) và bức hàng cụm cứ điểm Bản Kéo.

Giữa đợt 1 và đợt 2 (bắt đầu từ 30/3), tại căn cứ địa Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Úc Wilfred Burchett người sau này tiếp tục gắn bó phản ánh và ủng hộ nhân dân ta cho đến cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ngày 22/3/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956.Ngày 22/3/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956.

Mối quan tâm của dư luận lúc này là sau khi chiến trận đã bùng nổ, với những diễn biến vô cùng ác liệt và thực dân Pháp được can thiệp Mỹ hỗ trợ cũng thể hiện cũng đang say máu quyết huy động lực lượng vào trận quyết chiến này với tất cả các vũ khí hiện đại thì liệu khả năng chiến thắng của lực lượng kháng chiến sẽ ra sao?

Trong hồi ức của mình, nhà báo Úc đã thuật lại cách giải thích của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam kháng chiến: “Bác Hồ đặt ngửa chiếc mũ trên bàn, đưa những ngón tay gầy guộc theo vành chiếc mũ và nói: “Tình hình thế này, đây là những ngọn núi mà lực lượng chúng tôi đang chiếm giữ. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ. Đó là nơi đóng quân của người Pháp với những đội quân thiện nghệ nhất mà họ có tại Đông Dương. Và họ sẽ không bao giờ rút ra được”.

“Vậy đây chính là Stalingrad ở Đông Dương?” Burchett hỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Căn cứ vào điều kiện ở đây thì đúng như vậy. Nói khiêm tốn thì đó là một điều gì đó giống như thế”.

W.Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét: “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng.

Trong những cuộc gặp gỡ tiếp theo với nhân cách vĩ đại này, sự ấm áp, giản dị, cách thể hiện rõ ràng xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp và sự thấu hiểu trọn vẹn chủ đề khiến ta có ấn tượng vô cùng sâu sắc. Bất cứ ai được Hồ Chủ tịch tiếp đều bình luận về những phẩm chất ấy và cao hơn hết là cảm giác của họ ngay lập tức như người trong nhà của Chủ tịch”.

X&N

bee.net.vn

Ý kiến của Bác Hồ tại phiên họp của Bộ Chính trị

 – Những phát biểu của Bác tại các phiên họp của Bộ Chính trị thường được bút lục trong biên bản lưu trữ. Dưới đây là một vài ý kiến phát biểu của Bác trong các cuộc họp rơi vào ngày 21/3 của một số năm. Tuy tình hình ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng những tinh thần cơ bản liên quan đến mục tiêu phát triển và phương thức lãnh đạo vẫn còn nhiều điều gần gũi với ngày hôm nay.

Ngày 21/3/1958, tham dự phiên họp của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch nhà nước, trong phát biểu kết luận, Bác nhấn mạnh đến việc Trung ương cần kiên quyết đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chú trọng đến các khâu nước, phân và công cụ. Không nhất thiết đưa ra chỉ tiêu mỗi huyện một hợp tác xã mà tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể có huyện có vài ba, có huyện chưa cần lập, cán bộ hợp tác xã nên dùng người của địa phương.

Về công nghiệp phải chú trọng khâu kiểm tra. Vấn đề thu mua “phải chú trọng tuyên truyền, giáo dục, tổ chức chu đáo thì nông dân mới đồng tình…về giá cả phải định cho phải chăng, không nên hạ”.

Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956

Ngày 21/3/1962, cũng trong một phiên họp Bộ Chính trị bàn về công tác chuẩn bị cho Hội nghị trung ương về công nghiệp, Bác phát biểu: “Phần nói nông nghiệp còn nhẹ quá. Công nghiệp nặng phải có, nhưng 8 năm thiếu gang thép ta vẫn xoay xở được, còn mất mùa một năm thì chúng ta méo mặt, mất mùa thì gang thép cũng không làm được”.

Bác cũng phê bình: “Ta có họp, có nghị, có quyết rồi giao cho ai phải giao trách nhiệm rõ ràng, ai làm đựơc thì khen, thấy ai làm sai không có thái độ rõ ràng, làm không được thì cách chức ngay (tỉnh Thái Bình được thưởng hơn 700 huân chương, huy chương mà không thấy phạt một ai), ý tôi còn nhu nhược với vấn đề này”.

Ngày 21/3/1964, cũng tại trong một lần họp Bộ Chính trị, Bác nêu ý kiến: quân và dân ta rất tốt, thiên thời địa lợi cũng không khó khăn lắm, nhưng công việc không chạy do lãnh đạo có sức ỳ lớn, phối hợp chưa chặt chẽ, chưa tốt, chỉ đạo chưa thống nhất. Bác còn phê bình tình trạng thiếu lương thực, hàng hoá kém phẩm chất, hình thức xấu, giá cả đắt đỏ, thiếu cán bộ cụ thể chịu trách nhiệm và phải coi vấn đề củng cố chi bộ là một trọng tâm.

X&N
bee.net.vn

“Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”

– Ngày 20/3/1947, dưới bút danh “Tân Sinh”, Bác hoàn thành cuốn sách “Đời Sống Mới” và giao cho Uỷ ban Trung ương Vận động Đời sống mới xuất bản rộng rãi. 

“Đời Sống Mới” có thể được coi là cuộc vận động văn hoá đầu tiên được phát động cùng với sự ra đời của chế độ mới, ngay sau khi nước nhà độc lập, ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nêu lên những “nhiệm vụ cấp bách”, ngoài những mục tiêu chống nạn đói, nạn dốt, tổ chức tổng tuyển cử, bỏ các loại thuế bất hợp lý, ban hành tự do tín ngưỡng… đã nhấn mạnh: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”.

Ngày 20/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lại đình Tân TràoNgày 20/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lại đình Tân Trào

Và ngày 3/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập “Ban Trung ương vận động Đời sống mới” nhằm giáo dục cán bộ và nhân dân tư tưởng cần, kiệm, liêm, chính, xoá bỏ những tư tưởng và tập quán lạc hậu của chế độ thực dân và phong kiến để lại và tham gia cuộc vận động này có vai trò của Hội Văn hoá Cứu quốc.

Ngay trong hoàn cảnh chiến tranh đã bùng nổ trên cả nước, phải tập trung sức lực cho công cuộc kháng chiến, nhưng mục tiêu xây dựng con người Việt Nam mới vẫn là một tư tưởng nhất quán .

Trong lời tựa, Bác viết: “Trong lúc kháng chiến, chúng ta phải đồng thời kiến quốc. Thực hành “Đời sống mới” là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc”.

Giải thích thế nào là “Đời sống mới”, tác giả nêu rõ: “Không phải là cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà hay thì phải làm… Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của Đời sống mới”.

Cuốn sách được viết dưới dạng những câu hỏi và câu trả lời đề cập tới nhiều lĩnh vực của đời sống, nhiều tầng lớp xã hội. Để trả lời câu hỏi “Thực hành Đời sống mới khó hay dễ?”, tác giả trả lời: “Nói dễ thì dễ. Nói khó thì khó. Tục ngữ có câu: “Việc đời không gì khó, chỉ sợ chí không bền”.

4 năm sau đó, ngày 20/3/1951 cái tinh thần này một lần nữa đã được Bác nhắc lại như một châm ngôn hành động cho thế hệ trẻ Việt Nam. Gặp gỡ phân đội Thanh niên Xung phong C12 đang làm nhiệm vụ tại Nà Cù thôn Nà Tu, xã Cẩm Giàng, Bạch Thông, Bắc Kạn, Bác tặng 4 câu thơ: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”.

X&N
bee.net.vn

Một dự báo tài tình

– Ngày 19/3/1924, trên Tập san “Inprekorr” (bản tiếng Pháp) của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đăng bài “Đông Dương và Thái Bình Dương” (kèm theo các phụ đề: “Lò lửa của cuộc chiến tranh sắp tới – Nước Pháp muốn khai thác các thuộc địa – Các thuộc địa Pháp sống lay lắt như thế nào – Người An Nam bi bóc lột nặng nề thêm”).

Đây là những bài viết của Nguyễn Ái Quốc vào thời điểm mới đến đất nước Xô viết để học tập lý luận với tư cách là một đảng viên thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp. Chỉ là một bài báo (một phần còn được gửi qua Pháp đăng trên báo “Le Paria”(Người cùng khổ) nhưng tư duy phân tích và dự báo đã cho thấy tầm nhìn của người viết.

19-3-1957 HCM tặng huy hiệu Bình dân học vụ cho các chiến sĩ diệt dốt có thành tích xuất sắNgày 19/3/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huy hiệu Bình dân học vụ cho các chiến sĩ diệt dốt có thành tích xuất sắc.

Vào thời điểm đó, ở Đông Dương Pháp đang đẩy mạnh cuộc Khai thác Thuộc địa lần thứ Hai và trên bình diện kinh tế thế giới vẫn chưa xuất hiện nguy cơ khủng hoảng trong các nước tư bản phát triển.

Vậy mà trong bài báo của mình, từ thực tiễn của Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã dự báo ngày trong câu mở đầu: “Lò lửa của cuộc chiến tranh thế giới sắp tới…” .

Bài báo phân tích rằng Đông Dương cũng như các xứ thuộc địa đều có liên quan chặt chẽ đối với giai cấp công nhân châu Âu và đó là “vấn đề mà tất cả mọi người vô sản nói chung đều phải quan tâm đến…

Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc đã tiến tới một trình độ hoàn bị gần như là khoa học. Nó dùng những người vô sản da trắng để chinh phục những người vô sản các thuộc địa. Sau đó nó lại tung những người vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác.

Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở các thuộc địa để thống trị nhưng người vô sản da trắng (do vậy) những hành động đế quốc chủ nghĩa ấy không những chỉ nguy cho riêng vận mệnh của giai cấp vô sản Đông Dương và Thái Bình Dương, nó còn nguy cho cả vận mệnh của giai cấp vô sản quốc tế nữa”.

Và bài báo kết luận: “Vì đã trở thành một trung tâm mà bọn đế quốc tham lam đều hướng cả vào nhòm ngó, nên Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương, tương lai có thể trở thành một lò lửa chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản sẽ phải nhai lưng ra gánh… Những cuộc chiến tranh khác sẽ nổ ra nếu giai cấp vô sản không cảnh giác”.

Thực tiễn cho thấy những dự báo ấy đã trở thành hiện thực hơn 17 năm sau đó (1924 – 1941). Trận tập kích bất ngờ bằng không quân của phát xít Nhật vào Trân Châu Cảng của Mỹ diễn ra vào ngày 8/12/1941 khiến Mỹ lâm trận và tuyên chiến. Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ.

Vậy mà trước đó gần 7 tháng, vào trung tuần tháng 5/1941, Bác chủ trì Hội nghị 8 của Đảng, và trong nghị quyết đã đưa ra nhận định “Chiến tranh Thái Bình Dương sẽ bùng nổ. Phe phát xít nhất định thất bại”…

Và trong bài “Thế giới đại chiến và phận sự dân ta” Bác viết vài ngày sau khi Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, người đứng đầu tổ chức cách mạng đã kêu gọi “Dân ta phải mau mau tổ chức lại… Muôn người một lòng. Nhân cơ hội này mà khôi phục lại Tổ quốc, mà làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập! Hỡi đồng bào! Cơ hội giải phóng đến rồi, mau mau đoàn kết lại!”

X&N

bee.net.vn