Thư viện

Bác Hồ ở Ai Cập

 – Ngày 8/6/1946, trên đường sang thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại ở Ai Cập. Máy bay cất cánh từ thành phố Habagna (nay thuộc Pakistan) hạ cánh xuống Le Caire (Cairo) thủ đô Ai Cập từ ngày 7/6/1946.

Ngày hôm sau (8/6) theo phép lịch sự Bác và tướng Salan (người thay mặt Chính phủ Pháp tháp tùng) đến thăm Vua Ai Cập nhưng Ngài đi vắng. Viên quan nội vụ đại thần tiếp, mời cà phê và cùng ngày viên quan này theo phép xã giao lại thăm vị khách từ Việt Nam tới tại nơi nghỉ.

Cũng trong ngày, Bác thăm Viện Khảo cổ Ai Cập và được giáo sư viện trưởng người Pháp Prioton hướng dẫn. Ngày nay Viện đã trở thành một bảo tàng có tiếng trên thế giới, đặc biệt với loại hình hiện vật là xác ướp nên còn được gọi là Bảo tàng Xác ướp. Chiều, Bác và những người cùng đi thăm “thành phố Ma” là khu phụ cận thành phố, nhà mồ của những người đã chết được quy hoạch như một khu phố của người sống.

Sau đó, Bác đi thăm những kim tự tháp nổi tiếng của các pharaon Ai Cập và con Nhân sư khổng lồ với lời nhận xét “Bàn chân nó cao quá đầu người đứng. Đêm trời sáng trăng, trông vào tượng đá, thì thấy có vẻ nghiêm trang và thần bí lắm”. Hôm sau (9/6), Bác lại tiếp tục đi thăm kim tự tháp Sekherat cũng rất nổi tiếng.

Nhớ lại, cách đó 35 năm, tháng 6/1911, Bác đã từng đặt chân lên Cảng Xaít (Port Said) của Ai Cập trên hành trình đầu tiên của tàu Đô đốc Latouche Tréville khởi hành từ Bến Nhà Rồng ngày 5/6. Và 22/9/1946 trên chặng đường trở về nước từ Pháp bằng chiến hạm Dumont d’ Urville, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng mấy Việt kiều theo Bác về nước như bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… lại lên cảng Xait thăm.

Có thể nói, trong đời hoạt động của mình, Bác rất thích thăm thú các danh lam thắng cảnh và khảo sát đời sống của các quốc gia. Bác tham gia các nhóm du lịch đi nhiều nước và thăm nhiều di tích lịch sử. Ngay trước khi đến Ai Cập, lúc dừng chân ở Ấn Độ, Bác cũng thăm Lâu đài Delhi Cate, Lăng tẩm của Hoàng hậu Taj Mahan của thế kỷ XVII.

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chất vấn tướng Salan cùng đi: “Tại sao không báo cho tôi biết tin này trước khi lên đường? Thật là một âm mưu phi pháp! Tướng quân này, các vị đừng biến Nam Bộ thành một thứ Alsace-Loren (vùng đất của Pháp bị cắt cho Đức trong Đại chiến I) mới, nếu không chúng ta đi đến cuộc chiến tranh trăm năm đấy !…”.

X&N
bee.net.vn

“Người tốt việc tốt”

 – Ngày 7/6/1968, Bác mời một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đến bàn về cách làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”. Trong buổi làm việc Bác đưa ra một số quan điểm của mình:

“Các chú vẫn thường nói: nhân dân ta rất anh hùng, ra ngõ gặp anh hùng. Điều đó rất đúng. Có thể trong mỗi nhà đều có anh hùng, như thế ra ngõ mới gặp anh hùng chứ! Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm của ông cha ta, ta cũng thấy điều đó. Cứ mỗi lần có thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình… Nhưng dù sao, số người và tập thể được công nhận là anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua, được tặng huân chương, huy chương chỉ là một số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con người hàng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà… Cho nên Bác nghĩ: cần có những phần thưởng để khuyến khích, động viên, cổ vũ mọi người hăng hái làm tròn nhiệm vụ”.

Tháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí minh thăm bộ đội miền Nam tập kết đang huấn luyện tại tỉnh Nghệ AnTháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí minh thăm bộ đội miền Nam tập kết đang huấn luyện tại tỉnh Nghệ An

“Những chiến công và thành tích nổi bật thì ai cũng có thể thấy được. Còn những việc nhỏ, bình thường thôi nhưng ích nước lợi dân thì hay bị xem thường. Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không? Từng giọt nước nhỏ thầm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao giọt nước nhỏ hợp lại thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc…”

“Về loại sách này, các chú không nên tham viết dài. Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên. Các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân, nên kèm theo nhiều tranh vẽ dễ hiểu mà đẹp, nhưng đừng vì vẽ nhiều mà giá quá đắt.

Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…”.

“Trước kia, thực dân Pháp còn cai trị nước ta, có những trí thức Việt Nam rất thông thuộc lịch sử, địa lý và các chuyện thần thoại của các nước Pháp, của Hy Lạp, của La Mã. Nhưng khi hỏi đến các vị anh hùng là tổ tiên, ông cha mình, hỏi đến địa lý nước mình thì mù tịt. Nay ta độc lập, tự do rồi, cố nhiên ta không đào tạo nên những con người như thế. Tuy vậy, Bác vẫn nhắc các chú điều này… Coi chừng có nhiều người Việt Nam không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình”.

X&N
bee.net.vn

“Công tư đều lợi. Chủ thợ đều lợi…”

– Ngày 5/6/1953, Bác viết bài “Chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ” (ký tên là Đ.X) đăng trên tờ “Cứu Quốc” xác định những nguyên lý cho sự phát triển với 4 chính sách cơ bản là:

“1. Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên Đảng, Chính phủ và nhân dân ta phải ra sức phát triển và ủng hộ nó.

Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị. Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ.

Đó cũng là lực lượng cần thiết cho công cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp nó phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đa số nhân dân.

Tháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường xây dựng nhà máy điện Vinh, Nghệ AnTháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường xây dựng nhà máy điện Vinh, Nghệ An.

2. Chủ thợ đều lợi. Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ quyền lợi của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức. Chủ và thợ đều tự giác, tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.

3. Công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và các thứ cần dùng khác để cung cấp cho nông dân. Nông dân thì ra sức tăng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân. Do đó mà càng thắt chặt liên minh công nông.

4. Lưu thông trong ngoài. Ta ra sức khai thác lâm thổ sản để bán cho nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng”.

Đây có thể coi là văn bản đầu tiên, Bác đề cập tới những nguyên lý kinh tế vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập dân tộc đang tiến dần tới đỉnh điểm ác liệt. Con đường phát triển đất nước đang đòi hỏi phải sớm có một lý luận giữa lúc những quan điểm du nhập từ “nước bạn” về con đường xây dựng kinh tế đang từng bước ảnh hưởng vào đội ngũ cán bộ Việt Nam.

X&N
bee.net.vn

“Lương y phải kiêm từ mẫu”

 – Ngày 4/6/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ chứng kiến lễ tuyên thệ của Phó Giám đốc Ngân hàng Quốc gia, nghe báo cáo chiến thắng ở khu III của “Chiến dịch Quang Trung” lần đầu tiên quân đội ta đánh công kiên ở đồng bằng dẫn đến cái chết của con trai Thống chế De Lattre de Tassigny tại mặt trận Ninh Bình.

Chính phủ cũng thông qua chủ trương và văn bản điều lệ của thuế nông nghiệp.

Tổng kết phiên họp, Bác nêu lên 2 kết quả: “1. Thành công của phiên họp là đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng, nhất là vấn đề kinh tế-tài chính. Đó là một sự chuyển hướng lớn. 2. Muốn thực hiện được công tác quan trọng trên thì trong nội bộ tư tưởng phải thông suốt, phải dựa vào dân và thực hành dân chủ”.

Cũng trong tháng 6/1951, Bác gửi thư cho Hội nghị tình báo với lời căn dặn: “Tình báo là tai mắt. Tai phải tỏ, mắt phải sáng. Mọi công tác, nhất là công tác tình báo phải tránh chủ quan, khinh địch, hiếu danh và cá nhân chủ nghĩa”.

Ngày 4/6/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học buổi tối của bà con phố Hàng Vôi đặt tại trường Nguyễn Du phố Lý TháiNgày 4/6/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học buổi tối của bà con phố Hàng Vôi đặt tại trường Nguyễn Du phố Lý Thái

Tháng 6/1953, Bác viết thư cho Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc với những huấn thị: “Sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khoẻ đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công… Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh, để làm tròn nhiệm vụ ấy, cán bộ y tế cần phải: thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt, cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y phải kiêm từ mẫu”.

Cũng trong tháng 6/1953, trong thư gửi Hội nghị cán bộ Tổng cục Cung cấp, Bác căn dặn: “Phải luôn luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm. Phải thật lòng thương yêu binh sĩ. Phải chỉnh đốn tổ chức và công tác và mở rộng dân chủ”.

Còn trong thư gửi “Lớp chỉnh huấn cơ quan”, phân tích vì sao phải chỉnh huấn, Bác cho rằng vì: “Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác như: tự tư tự lợi, sợ khó sợ khổ; không yên tâm công tác, ham địa vị danh tiếng; lãng phí, tham ô, quan liêu, mệnh lệnh”.

X&N
bee.net.vn

“Làm bất cứ việc gì để sống và để đi…”

 Ngày 2/6/1911, Nguyễn Tất Thành, xuống tàu Amiral Latouche Tréville của Hãng Năm sao (Charges Réunis) đang chuẩn bị rời bến cảng Sài Gòn qua cảng Marseille của nước Pháp, để xin việc.

Sách “Những mẩu chuyện về đời của Hồ Chủ tịch” kể lại rằng, trước đó, Nguyễn Tất Thành đã bàn với một người bạn về ý định ra nước ngoài: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta.

Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không? Khi người bạn hỏi lấy đâu ra tiền mà đi, anh Thành vừa nói vừa giơ 2 bàn tay: Đây, tiền đây! Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.

Ngày 2/6/1911, Bác đã lên con tàu này để xin việc làm.Ngày 2/6/1911, Bác đã lên con tàu này để xin việc làm.

Ngày 3/6/1911, Nguyễn Tất Thành chính thức được nhận việc tại tàu Đô đốc Latouche Tréville của Hãng Vận tải Hợp nhất với cái tên mới là Văn Ba.

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trong phận sự của một thuỷ thủ mang tên “Văn Ba” làm việc trên chiếc tàu “La Touche Tréville” của Hãng Vận tải Hợp nhất rời bến cảng Nhà Rồng ở Sài Gòn, khởi đầu hành trình đi tìm đường cứu nước.

Nói về sự lựa chọn con đường đi sang Pháp, trong một cuộc trao đổi với nhà báo Nga Oxip Manđenxtam (12/1923), Bác cho biết: “Năm tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên được nghe ba chữ Pháp “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn sau những chữ ấy”.

Một lần khác, trả lời nhà văn Mỹ Lui Xtơrông, Bác kể: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Ra đi vào Mùa hè nóng bỏng năm 1911 từ một cửa biển cực nam của Tổ quốc (Sài Gòn) để đúng 30 năm sau, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh mới trở về Tổ quốc từ một địa đầu núi rừng phía Bắc. Tại Pác Pó (Cao Bằng), Bác làm một bài thơ nhắc đến 2 bàn tay của mình: “Non xa xa/ Nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà!”.

Chặng hải trình đầu tiên sau khi rời cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) vào ngày 5/6/1911, tàu “Đô đốc La Touche Tréville” ghé cảng Singapore (8/6), cảng Colombo, Sri Lanka (14/6), Cảng Sa’id, Ai Cập (30/6) và đến cảng đầu tiên của nước Pháp, cảng Marseille (6/7/1911).

X&N
bee.net.vn

Lời hứa với thiếu nhi của Bác 60 năm trước

– Ngày 1/6/1950, báo “Sự Thật” đăng “Thư gửi thiếu nhi toàn quốc” trong đó Bác viết: “Ngày 1/6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới… Vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người cướp của. Vì vậy người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến…”.

Và người lãnh đạo cuộc kháng chiến đã hứa với các cháu: “Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cũng cố gắng làm cho các cháu đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”.

 01-6-1969 bản thảo bài báo Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên,nhi đồng,bút danh TL.jpgNgày 1/6/1969, bản thảo bài báo Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, bút danh TL.

Quan tâm đến trẻ em với Bác Hồ là một nhiệm vụ của cách mạng. Ngay từ năm 1941, khi Mặt trận Việt Minh mới thành lập, Bác đã coi trẻ em là một lực lượng của cách mạng.

Trên báo “Việt Nam Độc lập”, Bác đăng bài thơ “Trẻ con”, trong đó có đoạn: “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn biết ngủ, học hành là ngoan/ Chẳng may vận nước gian nan/ Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng… Vậy nên con trẻ nước ta: Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh!/ Kẻ lớn cứu quốc đã đành/ Trẻ em cũng phải ra dành một vai/ Bao giờ đánh đuổi Nhật Tây/ Trẻ em ta sẽ là bày con cưng”.

Năm 1942, Bác viết bài thơ “Trẻ chăn trâu” đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” (21/11/1942): “…Chăn trâu mấy trẻ con con/ Cùng nhau hát xướng véo von trên gò/ Vì ai ta chẳng ấm no?/ Vì ai, ta đã phải lo cơ hàn?/ Vì ai, cha mẹ nghèo nàn?/ Vì ai, nhà cửa, giang san tan tành?/ Vì ai, ngăn cấm học hành?/ Vì ai, ta phải chịu vành dốt ngây?/ Ấy là vì Nhật vì Tây… Cùng nhau đánh đuổi Nhât Tây/ Anh em ta mới có ngày vinh hoa/ “Nhi đồng Cứu quốc” hội ta/ Ấy là lực lượng, ấy là cứu sinh/ Ấy là bộ phận Việt Minh/ Dân mình khắc cứu dân mình mới xong”.

Ngày 15/5/1961, Bác viết thư gửi thiếu niên và nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong với câu kết luận: “Mai sau các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Lá thư cũng đề cập tới nội dung mà sau đó trở thành một cuộc vận động giáo dục sâu rộng “5 điều Bác Hồ dạy”, đó là: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt/ Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ/ Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

Sau này nhiều lần Bác viết về thiếu nhi với tình yêu và trách nhiệm dành cho thế hệ tương lai của đất nước. Ngày 1/6/1969, nhân Ngày Quốc tế thiếu nhi cuối cùng trong cuộc đời mình, Bác viết bài báo“Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”:

“Nói chung trẻ con ta rất tốt… Thiếu niên và nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ. Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

X&N
bee.net.vn

Những chuyện ít biết về Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

 – Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn – tiền thân của trường Sĩ quan Lục quân 1 (Đại học Trần Quốc Tuấn) – là đơn vị đầu tiên vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước hiếu với dân”. Nhân kỷ niệm 65 năm lễ khai giảng khóa 1 của ngôi trường đào tạo cán bộ chính quy đầu tiên của nước Việt Nam mới (26-5-1946 – 26-5-2011), xin giới thiệu với bạn đọc bài viết về những chuyện ít biết của đơn vị này.

Tiền thân của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

Ngay từ năm 1924, Bác Hồ đã cử nhiều thanh niên, học sinh Việt Nam sang du học ở Quảng Châu, Trung Quốc rồi Trường đại học Phương Đông Matxcơva… Cho đến ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Trung ương đã cho thành  lập Trường Quân chính kháng Nhật.

Từ sau ngày 2-9 cho tới cuối năm 1945, theo chỉ thị của Bác để phù hợp với tình hình thực tế, trường đã 2 lần đổi tên: Trường Quân chính Việt Nam và Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam. Trong vòng nửa năm với 7 khóa huấn luyện, nhà trường đã cung cấp 1.500 cán bộ trẻ cho lực lượng vũ trang và các địa phương.

Ngày 17-4-1946, theo chỉ thị của Người, nhà trường được đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn với nhiệm vụ: đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội trong thời gian 6 tháng.

dHiệu trưởng Hoàng Đạo Thuý đón nhận lá cờ thêu 6 chữ vàng của Bác Hồ

Để đáp ứng yêu cầu huấn luyện, Người bổ nhiệm đồng chí Hoàng Đạo Thuý làm Hiệu trưởng cùng Chính trị uỷ viên Trần Tử Bình. Các đồng chí Vương Thừa Vũ, Vũ Lập phụ trách huấn luyện. Trường rời từ Hà Nội (khu Việt Nam Học xá, nay là Đại học Bách khoa) lên đóng quân tại sân bay Tông, thị xã Sơn Tây.

Lễ khai giảng khoá 1 và lá cờ thêu những chữ vàng

Chủ nhật 26-5-1946, nhà trường làm lễ khai giảng khoá 1. Hồ Chủ tịch cùng Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Anh và một số đại biểu đến trường từ sớm.

Tránh nghi lễ đón tiếp, Bác đi thẳng vào doanh trại xem bố trí nơi ăn chốn ở. Đến nhà bếp, thấy anh em ăn thừa Người đã phê bình là lãng phí cơm gạo, nhất là khi dân ta vừa qua nạn đói khủng khiếp đầu 1945. Tiếp thu ý kiến Bác, ngay hôm sau, cơm thừa còn sạch được tận dụng ủ làm tương cho bộ đội ăn.

Trong không khí trang nghiêm của buổi lễ, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên nền nhạc hùng tráng của bài “Tiến quân ca”. Từ trên lễ đài Hồ Chủ tịch bước xuống tiến về phía hàng quân, trao cho nhà trường lá cờ thêu những chữ vàng “TẶNG TRƯỜNG VÕ BỊ TRẦN QUỐC TUẤN “TRUNG VỚI NƯỚC – HIẾU VỚI DÂN” – 1946”.

Học viên Bùi Minh Trân, một chiến sĩ của Nam bộ, thay mặt 288 học viên khoá 1 đón nhận lá cờ.

Phát biểu với cán bộ, học viên, Người nói: “Trung với Nước, Hiếu với Dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Đáp lời Người, Giám đốc Hoàng Đạo Thuý nói: “…Thế kỷ 13, Nguyên-Mông là một đế quốc lật đất, nghiêng trời, chiếm từ bể Đông đến giữa châu Âu. Họ bảo nước ta là to bằng bàn tay ếch. Ba lần họ cất quân sang xâm lược nước ta. Ba lần tướng Trần Quốc Tuấn đã dựa vào thế đất và lòng người đuổi quân giặc phải tháo chạy. Cụ Chủ tịch lấy tên Trần Quốc Tuấn đặt tên cho trường ta, ý Cụ mong cho chúng ta trở thành học trò của Trần Quốc Tuấn”.

Với khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi để chiến trường không đổ máu”, mặc nắng mưa, mặc ngày đông tháng giá, học viên khoá 1 đã hăng say, miệt mài học rèn.

dTrường  Đại học Trần Quốc Tuấn hôm nay tại TP Sơn Tây, Hà Nội (Ảnh: VECI)

dMột góc khuôn viên của trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Ảnh: VECI)

Cuối khoá, nhà trường tổ chức diễn tập hành quân dài ngày từ Sơn Tây, qua Đồn Vàng, lên Phú Thọ, Việt Trì, có sự phối hợp giữa bộ đội và dân quân, nâng cao công tác chỉ huy, kỹ-chiến thuật, công tác chính trị, dân vận. Sau diễn tập, học viên có thêm kinh nghiệm tổ chức hành quân dã ngoại, tình cảm quân dân thêm sâu đậm.

Tháng 10-1946, vừa từ Pháp về, Bác lên thăm trường. Người vui vẻ nói chuyện với anh em: “Sau khi ở Pháp về, nhớ những đồng chí trẻ của mình ở đây, đồng chí già liền lên thăm ngay và dặn anh em mấy điểm: Một là phải kỷ luật. Hai là phải quần chúng hoá. Ba là phải thực tế. Bốn là phải ham học, ham làm. Năm là phải quyết tâm, chịu khó. Sáu là không lúc nào tự cho mình là  đủ, không kiêu, không nịnh.Bảy là phải đoàn kết, thân ái tự phê bình, phê bình và khuyến khích lẫn nhau”.

Bác tặng nhà trường 16 chiếc huy hiệu để trao cho 15 học viên đỗ xuất sắc và học viên đỗ cuối cùng trong kỳ thi tốt nghiệp.

Ngày 8-12-1946, Võ bị khoá 1 làm lễ tốt nghiệp. Toàn bộ học viên tốt nghiệp được điều động về ngay các đơn vị, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp sẽ nổ ra vào ngày 19-12-1946.

Khóa 2 : Theo thầy Nguyễn Sơn hành quân vào khu IV

Ngày 16-2-1947, Võ bị khóa 2 với 340 học viên được khai giảng tại thị xã Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Sơn – nguyên Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Miền Nam, người đã chiến đấu trong Bát Lộ Quân và tham gia “Vạn lý trường chinh” ở Trung Quốc – được chỉ định làm Hiệu trưởng.Sau đó, đồng chí lại được giao nhiệm vụ Khu trưởng Khu IV nên khóa 2 theo thầy hành quân vào Khu IV. Học viên được biên chế thành các đại đội chuyên sâu: C1 quân sự, C2 chính trị, C3 dân quân. Ngày 28-7-1947, nhà trường làm lễ mãn khóa 2 và ngày 8-8-1947 hành quân ra Bắc.

Khóa 2 + 3 và 4 chữ vàng “Trung dũng, Quyết thắng”.

Giữa tháng 4-1947, khóa 3 được khai giảng tại Bắc Cạn. Thầy Hoàng Đạo Thuý lại được chỉ định làm Hiệu trưởng. Là một nhà giáo, nhà sử học, xã hội học, có kinh nghiệm trong công tác hướng đạo sinh và đã kinh qua đào tạo khóa 1, thầy Thuý giảng về Binh pháp Tôn Tử, về lịch sử ông cha giữ nước, về chiến thuật, chiến lược quân sự, về cả thông tin “moóc-xơ”… Trong khóa học, ngày 1-5-1947, thầy Thuý được vinh dự kết nạp vào Đảng.

Để thống nhất trong đào tạo và bổ sung kiến thức chiến thuật cấp trung đoàn, các  khóa 2 và 3 được hợp nhất. Trong buổi lễ, Tổng bí thư Trường Chinh đến thăm.
Sau đó, khóa 2 tiến hành trao cờ “Trung với nước, Hiếu với dân”  cho khóa 3. Đây là lá cờ truyền thống mà khóa 1 đã trao cho khóa 2 trước khi hành quân vào Khu IV. Hai đồng chí Vũ Khổng Tước (khóa 2) và Nguyễn Đôn Tự (khóa 3) vinh dự thay mặt 2 khóa trao và nhận lá cờ.

Khi chương trình huấn luyện gần kết thúc, ngày 7-10-1947, giặc Pháp nhảy dù xuống khu vực gần trường. Nhà trường biên chế thành trung đoàn E79 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hoàng Đạo Thuý và Chính trị viên Lê Đình đã đánh thắng trận Đầm Hồng và trận tập kích Yên Thịnh, phá vỡ kế hoạch hợp điểm của địch ở Bản Thi.

Ngày 28-10-1947, lễ bế giảng được tổ chức tại đình Nghĩa Tá. Khóa 2 và 3 của nhà trường vinh dự đón nhận 4 chữ vàng của Bác “Trung dũng, Quyết thắng”.

Tô thắm thêm những chữ vàng

65 năm trôi qua, các cựu giáo viên, học viên khoá 1-2-3 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, nhiều đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT (nhà tình báo chiến lược Phạm Ngọc Thảo, thiếu tướng Kim Tuấn – Tư lệnh Quân đoàn 3, đại đội trưởng trinh sát Nguyễn Ngọc Bảo…), nhiều đồng chí được phong hàm cấp tướng…

Kế thừa truyền thống vẻ vang của thế hệ cha anh là Trường Sĩ quan Lục quân 1 – Đại học Trần Quốc Tuấn, đơn vị AHLLVTND. Với những chiến công hiển hách trong sự nghiệp giải phóng chống Mỹ cứu nứớc và bảo vệ Tổ quốc, họ đã góp phần tô đẹp thêm những chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã trao tặng.

Trần Kiến Quốc
bee.net.vn

Bác nói về chính sách với đồng bào dân tộc thiểu số

– Ngày 19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự hop Hội đồng Chính phủ bàn về Dự án ngân sách lương thực của quân đội, vấn đề lập Nha Dân tộc Thiểu số và vấn đề tài chính.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku. Thư có đoạn viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Muờng hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xêđăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…

d4/1960 Bác Hồ chủ trì phiên họp HĐCP tại Phủ chủ tịch

Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta. Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “Nha Dân tộc thiểu số” để săn sóc tất cả đồng bào.

Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non, để ủng hộ Chính phủ ta.

Chúng ta phải thương yêu nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

Trước đó, ngày 23/11/1945 nói chuyên với đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang, vốn là căn cứ địa của cách mạng về thăm Thủ đô Độc lập, Bác đã biểu dương: “Trước khi nước ta được độc lập, các đồng bào trên đó, ai nấy đã nhiệt tâm yêu nước, yêu nòi, đã gắng sức giúp anh em Việt Minh trong cuộc vận động giải phóng rất nhiều. Chính tôi có đi qua các miền anh em ở, tới đâu cũng nhận thấy anh em Thổ, Mán ai nấy đều một lòng mong Tổ quốc độc lập, oán ghét bọn giặc xâm lăng… Tôi nhờ anh chị em về nói với đồng bào trên ấy biết rằng đồng bào Kinh và Chính phủ rất thương mến đồng bào Mán, Thổ, coi như anh chị em trong một nhà, và khuyên anh chị em gắng sức để đi tới thái bình để cùng chung hưởng”.

Và ngày 3/12/1945, phát biểu tại Hội nghị các dân tộc thiểu số Việt Nam, Bác khẳng định chính sách của Nhà nước ta là: “ 1. Dân tộc bình đẳng; Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình trước sẽ được sửa chữa đi; 2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt; a) về kinh tế sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng; b) Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc. Các dân tộc được bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình”…

Có thể nói đó là tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với vấn đề các dân tộc thiểu số trên đất nước ta.

  X&N
bee.net.vn

Sửa đổi Hiến pháp

– Ngày 18/4/1958, tại phiên họp buổi chiều của Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ban sửa đổi Hiến pháp báo cáo trước toàn thể đại biểu quá trình xây dựng và nội dung bản dự thảo “Hiến pháp sửa đổi”.

Bác hứa với Quốc hội “sẽ tiếp tục cố gắng hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ quan trọng mà Quốc hội đã trao cho và làm cho nước ta có một bản Hiến pháp xứng đáng với những thắng lợi và những tiến bộ vẻ vang của nhân dân ta”.

Hai năm sau, ngày 15/4/1960, trong bài diễn văn kết thúc kỳ họp thứ 12, cũng là kỳ họp kết thúc nhiệm kỳ Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá kỳ họp thứ 8 “có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng” vì nó triển khai việc sửa đổi Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để đến kỳ họp tiếp theo, kỳ họp thứ 9 vào cuối năm 1959, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp sửa đổi và ban hành vào ngày đầu tiên của năm 1960.

4-1959 HCM chủ tọa phiên họp HN trung ương lần thứ 16.jpg (56KB)Tháng 4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp HN trung ương lần thứ 16.

Cần lưu ý rằng, ngay tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I, diễn ra vào tháng 11/1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, cũng là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nhưng đáng tiếc rằng, Bản Hiến pháp này chưa kịp ban hành thì chiến tranh bùng nổ trên toàn quốc (19/12/1946).

Vì thế, cho dù Bản Hiến pháp 1946 được đánh giá như một nội dung mẫu mực của một bộ luật cơ bản xác lập thể chế Dân chủ – Cộng hoà, không chỉ xác lập một sự tiến bộ vượt bậc trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam mà còn xác định một thể chế tiên tiến trong nền chính trị của thế giới, nhưng nó chưa bao giờ được chính thức ban hành.

Vì thế, bản Hiến pháp sửa đổi được tổ chức soạn thảo tại kỳ họp thứ 8 và thông qua tại kỳ họp thứ 9 chính là bản Hiến pháp đầu tiên được ban hành!

Điểm lại những dấu ấn của Quốc hội khoá I: cuộc Tổng tuyển cử tổ chức vào ngày 6/1/1946 bầu ra 333 đại biểu, được bổ sung không qua bầu cử 70 đại biểu dành cho 2 đảng đối lập với Việt Minh là Việt Quốc và Việt Cách. Đại biểu trẻ nhất 22 tuổi (chính là nhà văn Nguyễn Đình Thi) và cao tuổi nhất là 64 tuổi (cụ Ngô Tử Hạ, nhân sĩ công giáo).

Có 4 đảng chính trị là Dân chủ, Xã hội và 2 đảng trên cùng Nhóm Mác xít (bộ phận công khai của Đảng Cộng sản tự giải tán từ 11/1945). Sau những biến cố chiến tranh đã có 116 đại biểu bị tước quyền, còn lại 287 đi theo kháng chiến đến ngày kết thúc thắng lợi.

Nổi bật là những tấm gương của các đại biểu đã hy sinh trở thành những vị liệt sĩ trong Quốc hội: Luật sư, một trí thức công giáo ở Gia Định bị thực dân giết hại ngay trong tháng 7/1946; Bác sĩ Huỳnh Bá Nhung ở Rạch Giá, nhà cựu học Lê Thế Hiểu đại biểu Quảng Trị, bác sĩ Nguyến Văn Luyện, và học giả Nguyễn Văn Tố, vị Trưởng ban thường trực Quốc hội (chủ tịch) đầu tiên, bị giặc Pháp bắt, tra tấn, dụ dỗ không được đã giết hại.

Đánh giá về Quốc hội khoá I, Bác nói: “Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam Á cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do. Suốt 14 năm, Quốc hội đã đoàn kết nhân dân, giúp đỡ Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi và thực hiện nhiều chính sách to lớn ích nước lợi dân”.

X&N
bee.net.vn

“Ai là anh hùng?”

– Ngày 17/4/1952, báo “Nhân Dân” đăng bài “Ai là anh hùng?” của Bác (ký bút danh C.B). Thông qua câu chuyện trao đổi giữa một nhóm chiến sĩ về câu hỏi này, bài báo kết luận bằng lời giải thích của chính trị viên, cũng là của tác giả bài viết: “Người anh hùng là những người thật cần kiệm liêm chính, hết lòng hết sức phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, là những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, của giai cấp”.

Bước sang cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tháng 4/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tài liệu “Nội dung chủ nghĩa anh hùng cách mạng” nhằm đưa ra những tiêu chí cho hiện thực phong phú của công cuộc cách mạng và nhu cầu phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong một thời kỳ đầy thử thách ác liệt của đất nước. Tác giả đã khái quát thành 5 điểm chủ yếu:

1. Trung với nước, hiếu với dân, vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, vì chủ nghĩa xã hội, luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu hy sinh, lao động quên mình.

HCM xem kế hoạch bắn DKB - A12 chuan bi cho Mau Than 68 - Copy.jpg (19KB)Bác xem kế hoạch bắn DKB – A12 chuẩn bị cho Mậu Thân 68

2. Chấp hành đầy đủ chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống

3. Quyết tâm đi sâu vào khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ra sức học tập và vận dụng tốt sáng kiến và kinh nghiệm tiên tiến, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả chiến đấu

4. Nêu cao ý thức làm chủ, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết đồng chí, đoàn kết nhân dân, thực hiện đường lối quần chúng

5. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị, gương mẫu về mọi mặt”.

Cũng vào đầu năm 1966, khi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước, Bác nói: “Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng… Vì vậy các anh hùng phải luôn luôn khiêm tốn…”

X&N
bee.net.vn

“Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc”

– Ngày 16/4/1959, đến thăm Đại hội II Hội Nhà báo Việt Nam, lấy tư cách “một người có nhiều duyên nợ với báo chí” Bác có một bài phát biểu dài phân tích bản chất của báo chí cách mạng, những kinh nghiệm viết báo ở ngoài nước và trong nước cũng như những căn bệnh thường thấy của người làm báo.

Bác nói: “Ưu điểm của các cô các chú không ít, nhưng khuyết điểm thì cũng còn nhiều… Cái bệnh dùng chữ là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái lại, báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên có những chữ ta không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài…

Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi”.

aBác đang xem thông báo về phong trào thi đua diệt dốt trong hai năm 1948-1949 của hai tỉnh Hà Tĩnh và Thái (48KB); BNHCM Ngày 16-4.doc (28KB)Bác đang xem thông báo về phong trào thi đua diệt dốt trong hai năm 1948-1949 của hai tỉnh Hà Tĩnh và Thái Nguyên.

Nói về làm báo cũng là một lao động nặng nhọc, Bác chia sẻ: “…Nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ, phải có ý chí tự cường, tự lập, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khăn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn, chứ không chịu thua khó khăn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng

Bác đã dành nhiều thời gian để nói đến những kỷ niệm cũng là những kinh nghiệm của một người viết báo và làm báo, trong đó có kỷ niệm “Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được.

Tình cờ đọc một truyện ngắn của Tolstoi, thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được… Từ đó mình bắt đầu viết những truyện ngắn. Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe.

Viết xong đưa đến báo Nhân Đạo (L’ Humanité) và nói với đồng chí phụ trách về văn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm,  chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”.

Cách mấy hôm sau, thấy chuyện của mình được đăng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 France tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo. Với 50 France đó mình có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách…”

Phần cuối bài nói, Bác nhấn mạnh: “Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phục vụ ai?… Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động… phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu ..  Tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó. Kinh nghiệm của 40 năm là không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì cố gắng học, mà cố gắng học thì nhất định học được”.

X&N
bee.net.vn

“Tôi cứ phải cố gắng phấn đấu, phấn đấu mạnh…”

– Ngày 14/4/1964, môt lần nữa Bác Hồ lại được nhân dân Thủ đô tín nhiệm mời ra ứng cử đại biểu Quốc hội khoá III tại đơn vị bầu cử thành phố Hà Nội.

Phát biểu với bà con cử tri, Bác bày tỏ quan điểm về Quốc hội và trách nhiệm của người dân đối với Quốc hội.

4-4-1966 HCM đọc bài báo đăng trên Người Giáo viên Nhân dân ngày 14-4-1966,Người để lại bút tích vàNgày 14/4/1966 HCM đọc bài báo đăng trên Người Giáo viên Nhân dân ngày 14/4/1966 và Người để lại bút tích

Bác nói: “… Tôi được cử làm đại biểu Quốc hội đã gần 20 năm nay. Đáng lẽ tôi nhường chỗ cho lớp người trẻ hơn ra gánh vác công việc nước nhà. Nhưng hiện nay ở miền Nam ruột thịt, từ các cụ già, các bà mẹ, đến các cháu thanh niên và nhi đồng đang anh dũng hy sinh, ra sức chiến đấu chống đế quốc Mỹ cướp nước và bọn Việt gian bán nước, thì tôi không thể: “Thảnh thơi vui thú thanh nhàn/ Sớm khuya tiếng hạc, tiếng đàn tiêu dao”.

Vì vậy, tôi cứ phải cố gắng phấn đấu và phấn đấu mạnh. Phấn đấu cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Phấn đấu ủng hộ đồng bào miền Nam. Phấn đấu cho sự nghiệp hoà bình thống nhất nước nhà. Phấn đấu cho: “Bắc Nam sum họp một nhà/ Cho người thấy mặt thì ta vui lòng”.

Mặt trận giới thiệu 45 vị ra ứng cử. Nhưng khoá này, Thủ đô ta chỉ được cử 36 đại biểu vào Quốc hội. Như vậy là trong các vị ứng cử, có người sẽ được bầu, có người không được bầu. Tuy vậy, tôi nghĩ rằng: người không được bầu cũng như người được bầu đều vinh hạnh, vì đã được đồng bào tin cây và giới thiệu mình. Cho nên được bầu hay không được bầu, chúng ta đều phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, như người đầy tớ trung thành nhất của nhân dân…

Lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó thì vô cùng to lớn. Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh biết bao xương máu trong cuộc cách mạng đánh đổ thực dân và phong kiến mới giành được nó. Nó chứng tỏ chế độ dân chủ và tự do của Nhà nước ta và quyền làm chủ thật sự của mỗi người công dân ta.

Vì vậy, đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri. Phải đi bỏ phiếu để tự mình lựa chọn những người xứng đáng thay mặt cho mình trong Quốc hội… Hôm tuyển cử phải là một ngày rất long trọng và rất vui vẻ của nhân dân ta…”.

Đó chính là mong ước của người đã xác lập thể chế Dân chủ Cộng hoà trong lịch sử hiện đại Việt Nam.

X&N
bee.net.vn