Bộ Ngoại giao Mỹ chớ quên những dữ liệu quan trọng này!

(ĐCSVN) –  Hàng năm, Bộ Ngoại giao Mỹ có Báo cáo về tình hình nhân quyền trên thế giới. Mỹ tự cho mình có  cái quyền được “phán xét” về tình hình nhân quyền của nhiều nước, nhưng lại “quên”, hoặc cố tình quên những hồ sơ nhân quyền của chính nước mình. Những người quan tâm tới vấn đề nhân quyền, xin được lưu ý một số sự việc xẩy ra mới đây, mong rằng Bộ Ngoại giao Mỹ chớ quên những dữ liệu quan trọng này!

Tội phạm bạo lực ngày càng gia tăng ở Mỹ tạo ra nhiều mối đe dọa nghiêm trọng đối với cuộc sống, tài sản và an ninh cá nhân của người dân nước này. Theo tạp chí Newsweek, trong vòng một tháng qua, tại Mỹ đã có 58 người chết vì các vụ tấn công bằng súng. Các phương tiện thông tin của chính nước Mỹ đã thông tin đến bạn đọc của mình một số vụ thảm sát cụ thể như sau: Rạng sáng ngày 4-4-2009, một tay súng đã gây ra vụ bắn giết và bắt giữ hàng chục con tin ở một Trung tâm dịch vụ nhập cư Bing-ham-tơn, New York khiến ít nhất 14 người thiệt mạng. Đây chỉ là vụ mới nhất trong số hàng loạt vụ xả súng giết người hàng loạt tại Mỹ. Sát thủ gây ra vụ thảm sát trên, nhằm để trả thù vì mất việc làm, kém tiếng Anh. Cũng trong ngày 4-4, một người cha bắn chết năm ngưòi con rồi tự sát vào tối thứ bảy. Trong khi hai vụ xẩy ra ngày 4-4, ở New York chưa khép lại thì lại xẩy ra một vụ vừa giết ba cảnh sát. Trước đó đã xẩy ra một vụ có 33 người thiệt mạng và nhiều người khác bị thương khi một kẻ tấn công vào trường Đại học Công nghệ Virgnia. Ngày 1-1- 2009 (hồi 20 giờ) đã xẩy ra một vụ xả súng giết người hàng loạt tại một Trường trung học ở Chi-ca-gô (CVC) nằm ở phía nam thành phố này. Năm người bị thương nặng, ba người nguy kịch, bốn người thiệt mạng trong hai vụ bắn giết liên tiếp hôm chủ nhật 9-12-2008 tại các Nhà thờ ở bang Co lo ra do. Rồi cũng địa phương trên, ngày 2-2-2009 đã xẩy ra vụ bắn giết tại khu mua sắm làm năm phụ nữ bị chết

Nguyên nhân xẩy ra những vụ xả súng giết người hàng loạt gần đây, đương nhiên do công tác quản lý xã hội quá kém, nhưng cũng có một nguyên nhân quan trong khác là việc Chính phủ cho phép sử dụng súng cá nhân quá rộng rãi. Tòa án tối cao Mỹ xác nhận rằng, người Mỹ có quyền sở hữu và sử dụng súng. Các con số thống kê cho biết, có khoảng 200 triệu khẩu súng cá nhân ở Mỹ, trong đó có từ 60 đến 80 triệu khẩu súng ngắn. Hiện nay đang có câu hỏi cho Chính phủ của Tổng thống B. Obama về việc bao giờ sẽ đưa ra một điều luật hạn chế súng cá nhân, thế nhưng nhiều dấu hiệu cho thấy đây không phải là ưu tiên của Tổng thống B.Obama, mặc dù ông đã hứa hẹn trong chiến dịch tranh cử. Trong quá khứ, các nhà lãnh đạo chính trị của Mỹ đã từng nêu các vấn đề khó khăn đối với việc kiểm soát những người không đủ tư cách mua vũ khí, nhất là những loại vũ khí có tính sát thương cao. Những vị lãnh đạo này còn tỏ ra sốt sắng hơn sau những vụ giết người hàng loạt mới đây. Cũng có người lo ngại rằng nghề mua bán vũ khí ở Mỹ đang phát đạt là do dân Mexico tăng cường khả năng tự vệ bằng cách mua súng tại Mỹ để chuyển lậu vào Mexico trong các vụ giữa các tập đoàn buôn lậu ma túy gây bất an cho họ. Tuy nhiên, những nhà vận động cho một cơ chế kiểm soát súng đạn chặt chẽ hơn tại Mỹ đang yên lặng, ngay cả những người trong đội ngũ của Tổng thống B.Obama tại Nhà Trắng cũng vậy. Ông Peter Hamm, Giám đốc truyền thông của chiến dịch Brady ngăn ngừa bạo động do súng nói: “Thật là khó hiểu, ngay cả Bộ trưởng Tư pháp Eric Holder, Ngoại trưởng Hillary Clinton hay Chánh văn phòng Nhà Trắng Rahm Emannuel cũng im lặng về vấn đề kiểm soát súng đạn”.

Khi mà súng đạn còn được tự do sử dụng, thì chẳng có gì đảm bảo chắc chắn rằng, những vụ xả súng giết người hàng loạt như đã từng xẩy ra có thể chẩm dứt tại nước Mỹ này!

Trong khi những vụ xả súng giết người còn đang gây xôn xao dư luận tại Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới, thì mới đây ở Mỹ lại Công bố các kỹ thuật tra tấn của CIA, đã sử dụng trong cuộc chiến chống khủng bố dưới thời Tổng thống Bush, mà Tổng thống Barack Obama đã phải thốt lên: “Đây là một chương đen tối và đau đớn trong lịch sử của chúng ta”!

Bốn bị vong lục công bố ngày 16-4 vừa qua, đã mô tả chi tiết các kỹ thuật tra tấn tàn bạo được CIA sử dụng trong các nhà tù bí mật của mình. Theo New York Times, trong vài chục trang giấy, những kỹ thuật để lấy thông tin từ các nghi can khủng bố được đưa ra chi tiết như việc bắt các nghi can cởi hết quần áo, giội nước lạnh 5oC vào người, không cho ngủ 11 ngày liên tiếp, đặt nghi can vào các thùng tối chật hẹp rồi cho côn trùng vào để gây sợ hãi, tát vào mặt trấn nước để bức cung…Đây là các tài liệu của văn phòng tư vấn pháp lý OLC của Bộ Tư pháp Mỹ từ tháng 8-2002 tới tháng 5-2005. Các biện pháp tra tấn đã được chấp thuận kể từ năm 2002 và một số biện pháp còn được áp dụng tới tận năm 2005 cho đến khi báo giới và truyền thông lên tiếng kịch liệt về việc ngược đãi tra tấn tù nhân của CIA tại các nhà tù bí mật. Theo New York Times, các kỹ thuật này được coi là một trong những tài liệu được giữ tuyệt mật dưới thời chính quyền Bush.
Một số quan chức cao cấp trong chính quyền ông B.Obama, trong đó có Bộ Trưởng Tư pháp Eric H.Holde jr nói, ít nhất trong số 14 biện pháp này (trấn nước) là hành vi tra tấn phi pháp. Theo New York Times, chính Mỹ từng truy tố một số thẩm vấn viên Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ II vì sử dụng biện pháp trấn nước và một số biện pháp khác được nêu trong bị vong lục. Hầu hết các biện pháp tra tấn trên, đã được báo cáo của Tổ chức Chữ thập đỏ quốc tế nêu lên năm 2006 sau khi phỏng vấn 14 nghi phạm từng bị bắt giữ. Tuy vậy, đây là lần đầu tiên hình thức nhốt vào hộp kín và sử dụng côn trùng để gây sợ hãi được biết đến. Một điều e ngại hơn cho CIA là những tiết lộ mới có thể dẫn tới áp lực yêu cầu điều tra chi tiết các chương trình chống khủng bố của chính quyền Bush hoặc truy tố những người đã tham gia các chương trình tra tấn. Chỉ vài phút sau các bị vong lục được công bố, thượng nghị sĩ Patrick Lealy, Chủ tịch Ủy ban Tư pháp thượng viện tuyên bố, các thông tin mới cho thấy chính phủ cần thành lập một ban độc lập để điều tra vụ việc này. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, mặc dù Tổng thống B.Obama chỉ trích chương trình tra tấn tù nhân dã man, nhưng lại nhấn mạnh: “sẽ không được cái gì cả, chỉ tiêu tốn thời gian, sức lực khi chỉ trích quá khứ”. Ông cũng cho biết, những quan chức CIA làm việc theo chỉ thị của Bộ Tư pháp sẽ không bị truy tố!

Thiết nghĩ chẳng phải bình luận gì thêm, tự bản thân các sự kiện trên đã nói lên tất cả. Chỉ mong rằng những người soạn thảo Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới hàng năm của Bộ Ngoại giao Mỹ chớ có “quên” hoặc “cố tình quên và lờ đi” các dữ kiện trên!

Minh Sơn (Tổng hợp)
dangcongsan.vn

Không được lợi dụng nhân quyền làm công cụ chính trị

Hội nghị Bộ trưởng Không liên kết về Quyền con người và Đa dạng văn hoá:

(ĐCSVN)- Trong các ngày từ 3 – 4/9/2007, tại Tê-hê-ran, thủ đô nước Cộng hoà Hồi giáo I-ran đã diễn ra Hội nghị Bộ trưởng Không liên kết về Quyền con người và Đa dạng văn hoá (KLK). Tham dự Hội nghị có trên 90 đoàn các nước thành viên, trong đó 56 đoàn ở cấp Bộ trưởng, và 8 đoàn quan sát viên. Bộ trưởng Ngoại giao I-ran, Mốt-ta-ki đã được bầu làm Chủ tịch Hội nghị.

Hội nghị nhằm triển khai quyết định Hội nghị Thượng đỉnh KLK lần thứ 14 (La Ha-va-na, Cuba – 9/2006) đề cao quan điểm của KLK về tôn trọng chủ quyền quốc gia, bản sắc văn hoá trong thực hiện các quyền con người, đặc biệt là quyền tự quyết dân tộc và quyền phát triển, góp phần đẩy mạnh đoàn kết, nâng cao vai trò và tiếng nói chung của Phong trào.

Phát biểu tại Hội nghị, nhiều nước tập trung nhấn mạnh đa dạng văn hoá là di sản chung của nhân loại, tôn trọng đa dạng văn hoá, thúc đẩy đối thoại là cơ sở vững chắc để thực hiện hiệu qủa quyền con người, đồng thời củng cố và tăng cường hoà bình, hữu nghị và hiểu biết giữa các dân tộc. Một số nước bày tỏ lo ngại khuynh hướng bá quyền văn hoá; phản đối chính sách áp đặt quan điểm, giá trị phương Tây, sử dụng nhân quyền làm công cụ chính trị can thiệp, gây sức ép trong quan hệ quốc tế, đe doạ bản sắc, di sản văn hoá đa dạng của các dân tộc, các quyền tự quyết và chủ quyền quốc gia. Các thành viên đều khẳng định cần tăng cường đoàn kết và phối hợp hơn nữa đề bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của Phong trào trên các vấn đề đa dạng văn hoá và nhân quyền.

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Văn Bàng, Trưởng đoàn Việt Nam đã nhấn mạnh, trong khi thừa nhận giá trị phổ biến của các quyền con người, các nước cần tôn trọng quyền tự quyết lựa chọn và cách tiếp cận và đề nhân quyền phù hợp với các điều kiện thực tế của đất nước mình về trình độ phát triển, về các giá trị đặc thù về văn hoá, lịch sử và tín ngưỡng tôn giáo. Nhân quyền không được sử dụng làm công cụ chính trị mà cần là yếu tố giúp các nước, các xã hội xích gần lại nhau hơn. Chỉ có thông qua hợp tác và đối thoại chân thành trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, các nước và dân tộc mới có thể hiểu biết, học hỏi lẫn nhau, làm giàu nền văn hoá nhân loại, từ đó thu hẹp sự khác biệt nhằm bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người.

Thứ trưởng Lê Văn Bàng khẳng định Việt Nam chủ trương đối thoại, hợp tác và chia sẻ với tất cả các nước trong lĩnh vực văn hoá và nhân quyền trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau. Tuy nhiên, Việt Nam cũng kiên quyết phản đối áp đặt về văn hoá nhân danh nhân quyền. Việt Nam đã đi đầu chống lại chủ nghĩa thực dân và đế quốc, giành lại độc lập và quyền làm người. Ngày nay Việt Nam đã và đang phấn đấu để toàn dân được hưởng các quyền về kinh tế, văn hoá và quyền con người. Việt Nam kiên quyết chống lại chính sách ”tiêu chuẩn kép” về nhân quyền. Việt Nam đã ủng hộ mạnh mẽ các nước KLK về vấn đề nhân quyền tại LHQ. Đây là vấn đề nguyên tắc. Việt Nam kêu gọi tất cả các thành viên KLK hãy đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau và ủng hộ lập trường đúng đắn của Phong trào về vấn đề nhân quyền.

Hội nghị đã thông qua Tuyên bố và Chương trình Hành động, trong đó có sáng kiến thành lập Trung tâm KLK về Quyền con người và Đa dạng văn hoá tại Tê-hê-ran nhằm tăng cường trao đổi và hợp tác về vấn đề nhân quyền và văn hoá giữa các nước thành viên Phong trào và các nước khác nhằm thực hiện Chương trình Hành động của Hội nghị.

PV
dangcongsan.vn

Ban Công tác Phụ nữ Bộ Công an báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, 65 năm Ngành Công an thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy và tổng kết 5 năm thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ Công an nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kỷ cương sáng tạo vì an ninh Tổ quốc; xây dựng gia đình hạnh phúc” và triển khai mô hình Ban Chấp hành Hội Phụ nữ trong Công an nhân dân, sáng 6/6/2013, tại Quảng trường Ba Đình, Đoàn đại biểu Ban Công tác Phụ nữ Bộ Công an đã về báo công dâng Bác.

phu-nu-cong-anKhông khí báo công trang nghiêm của Đoàn trên Quảng trường Ba Đình

          Khắc ghi và thực hiện lời dạy của Bác, tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc và lực lượng Công an nhân dân, trong 5 năm qua, các cấp Hội Phụ nữ Công an luôn năng động, sáng tạo triển khai các hoạt động Hội và phong trào thi đua “Phụ nữ Công an nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kỷ cương, sáng tạo vì an ninh Tổ quốc; xây dựng gia đình hạnh phúc”. Phong trào đã thể hiện ý chí quyết tâm, sáng tạo, kết hợp tư tưởng chỉ đạo của Bác, chủ trương, đường lối của Đảng, sự chỉ đạo của Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam một cách đầy đủ, sinh động trong cuộc sống, công tác và chiến đấu. Điều này đã tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, hội viên Phụ nữ Công an thi đua rèn luyện, lập thành tích đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự, xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh.

Qua 5 năm triển khai thực hiện, công tác Hội ngày càng có nhiều đổi mới, với nhiều nội dung phong phú, hình thức đa dạng. Tổ chức Hội ngày càng vững mạnh, là ngôi nhà chung để tập hợp đoàn kết trong cán bộ, hội viên phụ nữ. Đặc biệt phong trào thi đua của Phụ nữ Công an được triển khai với hàng trăm mô hình, công trình, phần việc và các hoạt động thiết thực, trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ, nhận được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, lãnh đạo các cấp, sự đồng tình hưởng ứng của cán bộ, chiến sỹ và hăng hái, thi đua thực hiện trong toàn thể Phụ nữ Công an.

Qua hoạt động công tác Hội và phong trào thi đua, Phụ nữ Công an đã được tôi luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác để từng bước thấm nhuần và hành động theo lời dạy và tấm gương đạo đức cách mạng của Người.

Trong 5 năm qua, phong trào thi đua của Phụ nữ Công an nhân dân đã đạt nhiều thành tích, được các cấp tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất, 3 tập thể được tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; hàng nghìn lượt tập thể, cá nhân được các cấp khen thưởng.

Nhân dịp này, Bộ Công an đã tặng Bằng khen cho 69 tập thể và 67 cá nhân tiêu biểu cho phong trào thi đua của phụ nữ Công an nhân dân, trong đó có phụ nữ Công an Hà Nội, đã có 656 lượt hội viên có sáng kiến nổi bật trong công tác chuyên môn; 977 đồng chí trực tiếp tham gia các chuyên án, bóc gỡ, đấu tranh ngăn chặn và xử lý nhiều đối tượng, đường dây tội phạm; 200 lượt đồng chí làm tốt công tác vận động quần chúng, tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, được các cấp biểu dương khen thưởng; có 7 đề tài cấp nhà nước, 60 đề tài cấp bộ, 363 đề tài cấp cơ sở do phụ nữ làm chủ nhiệm được đánh giá xuất sắc và từng bước ứng dụng vào thực tiễn; 9199 học viên đạt danh hiệu xuất sắc, 143 học viên ưu tú, 8 hội viên được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc ưu tú.

Đặc biệt, thông qua hoạt động Hội đã xuất hiện hàng trăm tấm gương Phụ nữ Công an xuất sắc trong các lĩnh vực công tác. Họ đã không ngại khó khăn, gian khổ ngày đêm tận tuy, sáng tạo, kiên cường lập công trên trận tuyến bảo vệ an ninh, trật tự của Tổ quốc.

Trước anh linh của Người, Phụ nữ Công an nhân dân xin bày tỏ lòng thành kính đối với Người, kính dâng lên Người lòng biết ơn vô hạn, lòng tận trung với Đảng, hiếu với dân; nguyện đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đem hết sức lực và trí tuệ của mình cùng lực lượng Công an nhân dân thực hiện nghiêm túc di huấn 6 điều Bác dạy; hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó, xứng đáng với niềm tin yêu và những lời dạy sâu sắc của Người.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Quyền giám sát của nhân dân

(VOV) -Lấy phiếu tín nhiệm đề cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, là một bước tiến mới trong thực hành dân chủ.

Lần đầu tiên trong lịch sử gần 70 năm, hôm qua (11/6) Quốc hội đã công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với 47 chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Nhiều đại biểu Quốc hội và cử tri đánh giá “kết quả tương đối sát thực tế, đáp ứng sự mong đợi của đa số cử tri”. Thông qua lần lấy phiếu tín nhiệm này cho thấy rõ hơn về quyền giám sát của nhân dân.

Với đại biểu Quốc hội, đây được coi là trách nhiệm nặng nề, chứa đựng trong lá phiếu cả cái tâm, cái tầm, cả kỳ vọng nhưng cũng là “sức ép” của cử tri và nhân dân cả nước. Qua cuộc lấy phiếu đầu tiên này, mỗi vị đại biểu sẽ có thêm kinh nghiệm tiếp cận, phân tích thông tin cho những lần bỏ phiếu tiếp theo.

Việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh cấp cao của Nhà nước thể hiện vai trò giám sát tối cao của Quốc hội với tư cách “là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”; tiếp tục là một bước đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội để quyền lực của nhân dân được thể hiện trên thực tế và trở thành thông lệ trong các đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp.

Kết quả lấy phiếu tín nhiệm là lần “chấm điểm” một cách tương đối chính xác để trả lời câu hỏi: Mỗi chức danh Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn đã thực hiện nhiệm vụ đạt kết quả đến đâu? Uy tín của mỗi cán bộ đang giữ trọng trách trong bộ máy nhà nước như thế nào? Đó là cơ sở quan trọng giúp mỗi người được lấy phiếu tín nhiệm “thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ”.

Lâu nay, cử tri và nhân dân cả nước đánh giá mức độ tín nhiệm những cán bộ giữ vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước (nhất là các Bộ trưởng, trưởng ngành) theo cách riêng của mình. Cách đánh giá đó từ những phiên chất vấn và trả lời chất vấn công khai, được phát thanh truyền hình trực tiếp; qua các buổi tiếp xúc cử tri và thông tin báo chí. Với kết quả lấy phiếu tín nhiệm vừa công bố công khai, có thể được coi là “thước đo” cụ thể nhất, góp phần quan trọng thực hiện nguyên tắc: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.

Cũng như việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh được thực hiện “từ trên xuống”; Quốc hội gương mẫu làm trước, tiếp đó sẽ đến HĐND các cấp. Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, kết quả kiểm điểm phê bình, tự phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 vừa qua là một lần “đánh giá mức độ tín nhiệm” đối với cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng, nhà nước, đoàn thể. Còn lần lấy phiếu tín nhiệm này, nhằm đánh giá năng lực điều hành, quản lý; đánh giá phẩm chất, đạo đức, lối sống của các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước do dân bầu. Nghị quyết Trung ương 4 và Nghị quyết 35 của Quốc hội về lấy phiếu tín nhiệm đều xác định rất rõ: “Căn cứ vào kết quả lấy phiếu, những người hai năm liền tín nhiệm thấp, không hoàn thành nhiệm vụ cần được xem xét cho thôi giữ chức vụ, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi”. Tinh thần dứt khoát và thống nhất đó, đều thể hiện sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của đảng viên và tổ chức Đảng trong các cơ quan quyền lực nhà nước.

Lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện định kỳ hàng năm, không chỉ “đề cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, bảo đảm tiêu chuẩn của người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; bảo đảm sự ổn định và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ”, mà còn là một bước tiến mới trong thực hành dân chủ.

Hôm nay, Quốc hội bắt đầu phiên chất vấn – một hình thức hoạt động độc lập với lấy phiếu tín nhiệm, nhưng cũng là một cách “chấm điểm” năng lực điều hành của các “Tư lệnh ngành” và cũng là hoạt động giám sát được cử tri mong đợi. Chất vấn và lấy phiếu tín nhiệm tuy hai cách làm nhưng cùng một mục đích là: biến nguyên tắc “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND” trở thành hiện thực, bởi Quốc hội và HĐND là những cơ quan “do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”./.

Nguyễn Ngọc Năm/VOV- Trung tâm Tin
vov.vn

Lắng nghe, tiếp thu và trọng trách

(VOV) -Đa số ý kiến đều có chung mong muốn: Hiến pháp là ý chí, nguyện vọng của dân, phục vụ lợi ích của dân.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang là một trong những chủ đề “nóng” nhất, được cử tri và nhân dân cả nước cũng như kiều bào ta ở nước ngoài đặc biệt quan tâm. Trong hai ngày 3 và 4/6, Quốc hội dành toàn bộ thời gian thảo luận tại hội trường về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, được phát thanh, truyền hình trực tiếp để cử tri theo dõi. Đây là đợt sinh hoạt chính trị, pháp lý rộng lớn, dân chủ và sôi nổi nhất từ trước tới nay với hàng triệu ý kiến góp ý tâm huyết của các tầng lớp nhân dân.

Lịch sử lập hiến Việt Nam qua 4 bản Hiến pháp, dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được tổ chức lấy ý kiến nhân dân một cách rộng rãi nhất, ý kiến nhiều chiều nhất. Chỉ trong vòng 4 tháng, đã có trên 26 triệu lượt ý kiến góp ý của các tầng lớp nhân dân, hơn 28.000 hội nghị, hội thảo, tọa đàm được tổ chức.

Hàng chục vạn bản dự thảo được các đơn vị, địa phương in ấn, phát hành rộng rãi đến từng hộ dân như ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Hàng nghìn bài báo, tham luận, phát biểu, phỏng vấn, tin tức liên quan đến góp ý cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được đăng tải trên các loại hình báo chí.

Không ai có thể phủ nhận sự quan tâm đặc biệt của các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Một vị nguyên là lãnh đạo cấp cao nhận xét: “Chưa bao giờ việc lắng nghe, tiếp thu ý kiến nhân dân lại có kết quả đáng chú ý như vậy. Đây là một bước tiến mới về thực hành dân chủ”.

Đó cũng là sự kế thừa trong việc hoàn thiện hiến pháp kể từ khi xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên ở nước ta năm 1946. Mặc dù trong hoàn cảnh “thù trong giặc ngoài” vô cùng khó khăn, chính quyền cách mạng còn non trẻ, nhưng bản dự thảo Hiến pháp 1946 đã được chính thức công bố trên báo in và gửi đến các làng, xã để thu thập ý kiến nhân dân.

Thông cáo của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa nêu rõ: “Muốn cho tất cả nhân dân Việt Nam dự vào việc lập hiến của nước nhà nên Chính phủ công bố bản dự án Hiến pháp này để mọi người được đọc kỹ càng và tự do bàn bạc, phê bình”.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 thu nhận được nhiều ý kiến nhân dân là nhờ trình độ dân trí được nâng cao so với trước đây, cùng với sự bùng nổ của truyền thông và các mạng xã hội. Đặc biệt, người dân đã nhận thức rõ hơn về một bản Hiến pháp dân chủ với nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”; về các quyền cơ bản của họ được ghi nhận, trong đó có quyền sống, quyền lao động, học tập, làm việc, quyền được pháp luật bảo vệ và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đó cũng chính là trí tuệ, khát vọng độc lập, tự do, hòa bình và phát triển của nhân dân Việt Nam.

Nhiều ý kiến tâm huyết từ các vị tướng lĩnh từng vào sinh ra tử; từ các nhà khoa học dày công nghiên cứu, chắt lọc tinh hoa Hiến pháp các nước trên thế giới, đến tầng lớp doanh nhân, những cán bộ nghỉ hưu, công nhân, nông dân, tiểu thương và lực lượng vũ trang … Có những ý kiến khác nhau về một vấn đề trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng đa số đều có chung mong muốn: Hiến pháp là ý chí, nguyện vọng của dân, phục vụ lợi ích của dân.

Con số 26 triệu lượt ý kiến góp ý vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp chắc chắn chưa hết, nên việc tập hợp, tiếp thu và chọn lọc cần hết sức tỉ mỉ, công phu để có được kết quả tốt nhất. Bởi thực tế chứng minh, đây là diễn đàn rộng rãi để các ý kiến được trao đổi, tranh luận, tìm ra lý lẽ thuyết phục nhất. Chính bởi vậy, tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội gần đây, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã ba lần yêu cầu Ban soạn thảo “phải thật lòng trong tổng hợp, lắng nghe, tiếp thu góp ý của dân”.

Còn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bản Tổng hợp kiến nghị của cử tri trình bày tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 5: “Cử tri kiến nghị Ban soạn thảo tiếp thu nghiêm túc trong quá trình lấy ý kiến góp ý cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Nếu điểm nào không tiếp thu thì Ban soạn thảo cũng phải lý giải rõ cho người dân được biết, những vấn đề có ý kiến khác nhau cần tiếp tục thảo luận, làm rõ”.

Quốc hội, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 và các Đại biểu Quốc hội khóa 13 đang gánh vác một trọng trách hết sức nặng nề, nhưng cũng rất vẻ vang. Đó là thay mặt cử tri và nhân dân cả nước sửa đổi Hiến pháp 1992 với rất nhiều nội dung mới. Điều đó đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ, sự lắng nghe và kỹ năng tiếp thu ý kiến của các đại biểu để cho ra đời một bản Hiến pháp có chất lượng, thể hiện đúng nguyện vọng của đại đa số cử tri và nhân dân cả nước./.

Ngọc Năm/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

HRW – phi lý và kỳ quái

Gần đây, tổ chức Giám sát nhân quyền (HRW – viết tắt theo tiếng Anh: Human Rights Watch) là tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở thành phố New York, Hoa Kỳ liên tiếp đưa ra thông báo, nhận xét sai trái về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Việt Nam đã từng lên tiếng phản đối, bác bỏ vì nó có quá nhiều điều phi lý đến mức kỳ quái.

Sự phi lý và kỳ quái trước hết ở chỗ: là một tổ chức tư nhân, nhưng HRW lại tự xác định cho mình “chức năng nhiệm vụ” là “giám sát tình hình nhân quyền trên toàn thế giới”. Điều đó có nghĩa là can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ các nước bằng cách đưa ra các thông báo phán xét về tình hình nhân quyền, yêu cầu chính phủ nước sở tại phải làm thế này, thế khác để “bảo đảm nhân quyền” theo quan điểm của HRW. Không hiểu vì lý do và động cơ gì mà từ nhiều năm nay, HRW lại có sự “quan tâm đặc biệt” đến tình hình nhân quyền Việt Nam – một dân tộc, một đất nước đã bao lần phải đứng lên đấu tranh, giành quyền sống, quyền làm người từ tay  thực dân, đế quốc xâm lược! Và ngày nay, đang giành được những thành tựu nổi bật trong việc cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, đi đầu trong công cuộc “xoá đói giảm nghèo”, thực hiện các “Mục tiêu Thiên niên kỷ” của Liên hợp quốc, được dư luận thế giới thừa nhận, đánh giá cao. Chỉ riêng trong tháng 3/2011, HRW đã hai lần ra thông báo, kiến nghị tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Sự phi lý và kỳ quái thể hiện rất rõ trong nội dung những thông báo, kiến nghị đó của HRW.

Lần thứ nhất là vào hồi đầu tháng 3/2011, khi biết tin Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh chuẩn bị mở phiên toà phúc thẩm xét xử ba bị cáo, gồm: Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương phạm tội “Phá rối an ninh trật tự” nhằm chống lại chính quyền nhân dân” theo Điều 89, bộ Luật Hình sự nước Cộng hoà XHCH Việt Nam, HRW đã ra thông cáo yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh huỷ bỏ bản án, trả tự do cho ba bị cáo, vì cho rằng họ chỉ hành động theo đúng “quyền con người”. Dư luận cho rằng, Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã xử đúng người, đúng tội, theo đúng luật pháp Việt Nam. Giả sử, nếu có xử oan sai thì chỉ có Toà án nhân dân tối cao của Việt Nam khi xử giám đốc thẩm mới có quyền huỷ bỏ bản án đó. Ấy vậy mà RHW lại ngang nhiên giành cái quyền đó cho mình. Đó thật là điều phi lý đến mức kỳ quái, can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Lần thứ hai là thông báo mà HRW đưa ra ngày 30/3/2011 với tiêu đề “Việt Nam: người Thượng bị đàn áp nghiêm trọng”, trong đó cũng chứa đựng rất nhiều điều phi lý và kỳ quái. HRW “bắc chõ nghe hơi”, dựa trên những thông tin sai lệch, chủ yếu do những phần tử “bất đồng chính kiến”, hoạt động chống phá chế độ cung cấp, đưa ra con số “hàng trăm người Thượng bị kết án tù từ năm 2001 đến nay”, hay “hàng trăm người bị ép buộc từ bỏ đạo Tin Lành Đề-ga” trong năm 2010 đến đầu năm 2011, để rồi kết luận: “người Thượng bị đàn áp nghiêm trọng”, rằng Việt Nam: “đã gia tăng đàn áp giáo dân người dân tộc thiểu số bản địa vùng Tây Nguyên, những người lên tiếng đòi quyền tự do tôn giáo và quyền sở hữu đất đai”. Rồi họ lớn tiếng yêu cầu chính quyền Việt Nam “phải ngay lập tức công nhận các hội nhóm tôn giáo độc lập và để cho họ thực hành tín ngưỡng của mình”, vì theo họ “tự do tôn giáo không có nghĩa là tự do theo các tôn giáo được nhà nước phê duyệt mà thôi”. Thật nực cười!

Sự thực là, một số giáo dân thuộc dân tộc thiểu số Tây Nguyên vi phạm pháp luật và bị xử lý theo pháp luật, nhưng HRW với dụng ý xấu đã đánh tráo khái niệm, biến việc đó thành: Việt Nam “đàn áp nghiêm trọng”, hay “gia tăng đàn áp giáo dân người dân tộc thiểu số bản địa vùng Tây Nguyên”. Đây là sự xuyên tạc, bóp méo sự thật với dụng ý xấu hết sức phi lý và kỳ quát.

Cần khẳng định là ở Việt Nam nói chung, trong đó có Tây Nguyên không thể có chuyện người dân “lên tiếng đòi tự do tôn giáo và đòi quyền sở hữu đất đai” theo đúng luật pháp mà lại bị “đàn áp nghiêm trọng”. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, khi người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số chưa hiểu đúng pháp luật hoặc bị kẻ xấu xúi giục mà làm những việc sai trái, chính quyền luôn kiên trì giải thích, nhắc nhở để họ không tái phạm, chứ không hề có chuyện bắt bớ, tù đày, “đàn áp nghiêm trọng” như HRW vu cáo. Chỉ những kẻ chủ mưu phá rối trật tự, an toàn xã hội, bất chấp những lời khuyên răn, cảnh cáo, cố tình phạm pháp đến mức nghiêm trọng mới bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Thử hỏi HRW có tư cách gì, có quyển uy gì mà ra lệnh cho Việt Nam – một quốc gia có chủ quyền phải “ngay lập tức” làm theo ý chí, theo quan điểm “tự do tôn giáo” của họ! Điều này cũng thật phi lý và kỳ quái.

Cần phải nhấn mạnh rằng, Việt Nam là một nhà nước pháp quyền, mọi công dân đều có đầy đủ các quyền tự do, dân chủ, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng đều hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được pháp luật bảo đảm. Đây cũng là lẽ thông thường, bởi bất cứ nhà nước pháp quyền nào trên thế giới, kể cả Mỹ cũng đều làm như vậy. Hơn nữa, có thứ tự do, dân chủ nào ở các nhà nước pháp quyền hiện nay mà lại không nằm trong khuôn khổ pháp luật, không được bảo đảm bằng pháp luật? Cái thứ “tự do ngoài vòng pháp luật” mà HRW đưa ra chỉ có thể là thứ tự do của các loại tội phạm, của chủ nghĩa khủng bố đang bị cả loài người lên án! Tiếp tay, cổ vũ cho thứ tự do như thế thì chẳng phải là phi lý và kỳ quái lắm sao!

Pháp luật Việt Nam không cho phép những thứ tự do làm hại, xâm phạm đến lợi ích của nhân dân, sự ổn định, phát triển của đất nước. Pháp luật Việt Nam không thừa nhận những thứ tà đạo có hại cho người dân, hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, núp dưới danh nghĩa đạo này, đạo kia để hoạt động chống phá đất nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo. Vào cuối năm 1992, một số thế lực phản động ở trong và ngoài nước do Ksor Kơk cầm đầu bịa ra cái gọi là “Nhà nước Đề-ga độc lập” và “Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên nhằm tuyên truyền, kích động cho sự chia rẽ, ly khai, gây bạo loạn ở một số nơi. Nhà nước Việt Nam đã kiên quyết bác bỏ cái gọi là “Nhà nước Đề-ga độc lập”, coi đây là âm mưu chia cắt sự toàn vẹn lãnh thổ và gây mất an ninh trật tự của đất nước và khẳng định ở Việt Nam không có cái gọi là “Đạo Tin lành Đề-ga” ngoài đạo Tin lành đã tồn tại ở Việt Nam trong nhiều năm qua. Bởi vì “Tin lành Đề-ga” thực chất là một tổ chức chính trị dưới vỏ bọc tôn giáo, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động với mục tiêu thành lập “Nhà nước Đề-ga độc lập” ở Tây Nguyên. Giờ đây, HRW vu cáo Việt Nam “ép buộc hàng trăm người phải từ bỏ đạo Tin lành Đề-ga”, rõ ràng đã để lộ rõ ý đồ can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Việt Nam, kích động chủ nghĩa ly khai, muốn làm sống lại thây ma “Nhà nước Đề-ga độc lập” mà nhân dân Việt Nam đã chôn vùi từ lâu.

Việc Nhà nước \/iệt Nam không thừa nhận cái gọi là “Tin lành Đề-ga” không có nghĩa là ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, hay đàn áp tôn giáo, “vi phạm nhân quyền” như HRW cùng các thế lực thù địch thường rêu rao. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là “Đoàn kết tôn giáo, hoà hợp dân tộc, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, và không tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được quy định và bảo đảm trong Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh, nghị định của Nhà nước và trên thực tế. Tháng 2 năm 2007, Việt Nam công bố “Sách trắng về tôn giáo”, trong đó nhấn mạnh: “Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo… Đại đoàn kết toàn dân tộc với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung.”

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo…, đều có mặt ở Việt Nam. Theo thống kê, hiện nay có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó khoảng 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam (Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Tin Lành, Hồi giáo) đang hoạt động bình thường, ổn định, chiếm 25% dân số. Cho đến nay, Nhà nước Việt Nam đã công nhận tư cách pháp nhân cho 15 tổ chức tôn giáo và tiếp tục xem xét theo tinh thần của “Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo”. Có thể khẳng định, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang diễn ra bình thường ở mọi nơi trên đất nước Việt Nam: Riêng tại Tây Nguyên, có 21 dân tộc thiểu số (khoảng 1,5 triệu người), trong đó có gần 300 ngàn người theo Công giáo và gần 400 ngàn người theo đạo Tin lành đều sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo bình thường; số còn lại không theo đạo nào, nhưng tất cả đều được bình đẳng, đều được thụ hưởng sự ưu tiên đặc biệt trong chính sách an sinh xã hội của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Theo thống kê năm 2010, trong khi kinh tế cả nước tăng trưởng khoảng 6,3% thì khu vực Tây Nguyên tăng trưởng 11,9%, giá trị tổng sản phẩm tăng 2,8 lần; tổng thu ngân sách năm 2010 tăng bảy lần so với năm 2001. Trên cơ sở đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên được cải thiện, nâng cao; tỷ lệ đói nghèo không ngừng giảm. Đồng bào từ cuộc sống du canh, du cư hiện nay đã tiến tới định canh, định cư, trồng lúa nước, cao su, cà phê. Mô hình các gia đình người dân tộc thiểu số có vài héc-ta cà phê, nhà cửa khang trang, có đủ máy móc, công cụ sản xuất; phương tiện nghe nhìn, giao thông hiện đại không còn hiếm thấy. Hằng năm, Trường Đại học Tây Nguyên đón nhận hàng trăm con em đồng bào các dân tộc thiểu số vào học; hàng chục, hàng trăm bộ Sử thi Tây Nguyên được phục hồi, bảo tồn; “Không gian văn hoá cồng chiêng” được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại; các đài phát thanh, truyền hình trung ương, địa phương phát bằng nhiều thứ tiếng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên… Đó là bức tranh thực tế rất sinh động về nhân quyền ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên của Việt Nam. Tiếc thay, HRW lại không hề đề cập tới!

Chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng, mang đầy tính nhân văn và quyền con người. Tuy nhiên, các vấn đề dân tộc, tôn giáo là hết sức phức tạp, nhạy cảm; việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo có lúc, có nơi còn chưa đúng, chưa đầy đủ là điều khó tránh khỏi. Dù thế nào thì những luận điệu “Việt Nam không có tự do tôn giáo”, hay “đàn áp tôn giáo”, “đàn áp người dân tộc thiểu số Tây Nguyên”…, là hết sức phi lý. Đảng, Nhà nước Việt Nam là của dân, không bao giờ hành động như vậy. Bởi vì, nếu làm thế thì Việt Nam làm sao có được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo để mà chiến thắng trong các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh vệ quốc trước đây và sự ổn định, phát triển cùng những thành tựu trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước như hiện nay!

Đấu tranh cho nhân quyền, bảo vệ nhân quyền là việc làm mang ý nghĩa nhân văn cao cả, hàng triệu con người trên thế giới đã và đang làm việc đó một cách thật sự và công tâm, không thiên lệch, không vụ lợi và cũng không ngạo mạn tự cho mình như một quan toà tối cao muốn phán xét nước nào tùy hứng. Nhân loại tiến bộ không thể đồng tình, không thể dung thứ cho những kẻ lợi dụng vấn đề nhân quyền, giương chiêu bài “bảo vệ nhân quyền” để làm những điều phi lý và kỳ quái như HRW.

Nếu gọi là có vấn đề nhân quyền thực sự và gây nhức nhối lương tâm loài người ở Việt Nam, thì đó là hàng triệu nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin và hàng triệu nạn nhân bom mìn do cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ để lại, mà hiện nay Việt Nam và Mỹ đang phải giải quyết. Nếu HRW thực sự quan tâm đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam thì hãy quan tâm, góp phần giải quyết vấn đề này, thay vì thỉnh thoảng lại “chọc gậy bánh xe” đưa ra những báo cáo, chỉ trích hết sức phi lý và kỳ quái về nhân quyền, tự do tôn giáo đối với Việt Nam./.

(Theo tạp chí Quốc phòng toàn dân)

Mối quan hệ giữa toàn cầu hoá kinh tế và dân chủ hoá trong quan hệ quốc tế hiện nay

Toàn cầu hoá kinh tế (TCH KT) thực chất là một quá trình quốc tế hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất, nhờ những thành tựu kỳ diệu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin trên phạm vi toàn cầu.

Như vậy có thể nói, TCH KT là bước tiến bộ vượt bậc của văn minh loài người, là xu thế khách quan của thời đại, tạo cho các quốc gia-dân tộc những cơ hội, điều kiện thuận lợi mới vô cùng quan trọng cho việc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tham gia hội nhập vào quá trình TCH KT đã trở thành yêu cầu cấp thiết cho sự tồn tại và phát triển của các nước. Nhưng quá trình TCH KT đang diễn ra hiện nay, khi mà trình độ phát triển của các nước rất không đồng đều, một số nước tư bản phát triển, đứng đầu là Mỹ do có ưu thế gần như tuyệt đối về kinh tế, về khoa học-công nghệ, nên đang nắm giữ vai trò chủ đạo, thao túng, chi phối ”luật chơi”, biến TCH KT thành “sân chơi” bất bình đẳng, bất công, chứa đựng thiều thách thức, nguy cơ đến sự an nguy và tồn vong cho các nước, nhất là các nước đang phát triển và chậm phát triển. Sự bất bình đẳng và bất công trước tiên phải kể đến là sự bất bình đẳng về lợi ích mà các nước được hưởng nhờ TCH KT đem lại thể hiện rất rõ ở tình trạng phân hoá ngày càng sâu sác về mức sống và điều kiện sống giữa các tầng lớp người ở các nước, các khu vực và trên toàn thế giới. Theo báo cáo của các cơ quan của Liên hợp quốc (LHQ) và kể cả của Ngân hàng Thế giới (WB), của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) thì trong những thập kỷ gần đây, tình trạng phân hoá giầu nghèo trên thế giới đang có chiều hướng ngày càng tăng. Nếu như tỷ lệ chênh lệch giữa thu nhập của 5% số người giầu nhất và 5% số người nghèo nhất năm 1960 là 3011, năm 1990 là 6011, thì hiện nay tỷ lệ đó là khoảng trên 8011. Các nước công nghiệp phát triển với 20% dân số thế giới hiện chiếm giữ 80% GDP toàn cầu, trong khi đó các nước nghèo nhất cũng chiếm 20% dân số thế giới chỉ được hưởng có 1% GDP của thế giới. Như vậy rõ ràng hoàn toàn không phải như luận thuyết mà một số học giả phương Tây cho rằng, trong TCH KT, ”các bên cùng thắng”, ”tất cả cùng thắng”, mà TCH KT hiện nay (do một số nước tư bản phương Tây chi phối), chỉ đem lại cho một số nước giầu, một số nước tư bản phát triển những khoản lợi nhuận khổng lồ, còn số đông các nước còn lại, nhất là các nước đang phát triển, chậm phát triển được hưởng phần lợi ích rất nhỏ, không đáng kể; thậm chí một số nước nghèo còn bị loại ra rìa của quá trình TCH KT. Nghĩa là trên thế giới hiện nay, chỉ có một nhóm người được hưởng những điều kiện của cuộc sống văn minh hiện đại do TCH KT đem lại, còn tuyệt đại đa số nhân dân đang phải sống trong tình cảnh nghèo nàn, lạc hậu. Một thống kê mới đây của LHQ cho thấy, trên toàn thế giới hiện có trên 1 tỷ người nghèo, trong đó hơn 800 triệu người thiếu ăn và hằng năm có khoảng 80 triệu người chết đói. Tình trạng phân hoá giầu nghèo cũng diễn ra sâu sắc ở ngay trong những nước tư bản phát triển nhất. Ở những nước này, bên cạnh tầng lớp giầu có được đặc quyền, đặc lợi, sống trong dư thừa với những điều kiện đảm bảo tốt nhất, văn minh nhất (tất nhiên tầng lớp này chiếm số ít), cũng đang tồn tại những tầng lớp người nghèo khổ, sống ”dưới đáy” xã hội, mà người ta thường dè bỉu, gọi mỉa mai đó là ”thế giới thứ tư”.

Đói nghèo đã trở thành vấn nạn nhức nhối trên toàn cầu cộng đồng quốc tế, đứng đầu là LHQ đã có rất nhiều nỗ lực, nhưng xem ra cuộc chiến chống đói nghèo vẫn còn là cuộc chiến lâu đài và vô cùng nan giải. Tình trạng đói nghèo trên thế giới càng bị trầm trọng thêm, khi sức ép mở cửa thị trường, tự do hoá thương mại trong quá trình TCH KT, có nguy cơ biến các nước đang phát triển, chậm phát triển thành thị trường lệ thuộc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, nguy hiểm hơn là trở thành ”các bãi rác” thải công nghiệp cho các nước công nghiệp phát triển. Bất công hơn nữa, các nước đang phát triển và chậm phát triển còn phải hứng chịu những hậu quả xấu từ sự suy thoái, xuống cấp của môi trường sinh thái, dịch bệnh, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do lượng khí thải độc hại từ các nhà máy của các nước công nghiệp phát triển gây ra, mà không hề được quan tâm đến hay được đền bù thoả đáng. Và tất nhiên do trình độ kém phát triển nên việc giải quyết các hậu quả kể trên đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển cũng khó khăn hơn rất nhiều so với các nước phát triển. Nhiều quốc gia châu Phi hiện đang bất lực trước sự hoành hành của nạn dịch bệnh AIDS, sự suy kiệt nguồn nước sạch và tình trạng sa mạc hoá.

TCH KT trong điều kiện các nước tư bản phát triển nắm giữ ưu thế chủ đạo không những không thể giải quyết được mà đang làm cho tình trạng đói nghèo trên thế giới thêm sâu sắc, khoảng cách giầu nghèo ngày càng lớn hơn, mà người phải hứng chịu những hậu quả đáng buồn này tất nhiên không phải ai khác, chính là nhân dân các nước nghèo, các nước đang phát triển, chậm phát triển. Thêm vào đó, quá trình TCH KT này cũng đang đặt quyền về chủ quyền quốc gia, về quyền tự quyết dân tộc của các nước đang phát triển và chậm phát triển trước những thách thức mới to lớn không thể xem thường. Dưới sức ép của chủ nghĩa tự do mới -một biến tướng của CNTB hiện đại- trong TCH KT với nội dung cốt lõi là tư nhân hoá triệt để, thị trường tự do phi điều tiết, lại trong điều kiện tiềm lực và sức cạnh tranh yếu kém, có nguy cơ đẩy các nước đang phát triển và chậm phát triển thành thị trường lệ thuộc vào vốn đầu tư, nguồn tài chính của nước ngoài; nghiêm trọng hơn, trở thành những con nợ của các nước tư bản phát triển. Sự phụ thuộc về kinh tế không thể không dẫn đến sự phụ thuộc về chính trị và các mặt khác. Nhiều người gọi đây là hình thức xâm lược mới (”xâm lược mềm”) của các nước tư bản phát triển đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển trong thời kỳ TCH KT. Đặc trưng của hình thức bị ”xâm lược mềm” là, quốc gia về danh nghĩa vẫn còn biên giới lãnh thổ, nhưng thực chất độc lập tự chủ thì không còn, quốc gia-dân tộc không còn quyền tự quyết định vận mệnh tương lai của mình. Các nước đang phát triển và chậm phát triển cũng có thể bị ”thua tại sân nhà” bởi sự thâm nhập của các nền văn hoá ngoại lai không lành mạnh thông qua mở cửa thị trường, tự do hoá thương mại, làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, làm hư hỏng tầng lớp thanh, thiếu niên- những người làm chủ tương lai của đất nước, nếu như trong quá trình hội nhập không chú trọng giáo dục lòng yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực tự cường, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc mình.

Cuộc “xâm lược mềm” của các nước tư bản phát triển đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển diễn ra lâu dài thầm lắng, luồn sâu, bám chắc vào mọi mặt đời sống, mọi tầng lớp xã hội; chiến tuyến và đối tượng đều không rõ ràng, khó nhận biết. Chính vì thế nên tính chất của “xâm lước mềm” vô cùng nguy hiểm. Tuy nhiên, các nước đang phát triển và chậm phát triển còn phải đối mặt với mối đe dọa lớn hơn là bị một số nước tư bản phương Tây can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ, dựa trên luận thuyết mới của CNTB trong thời kỳ mà họ gọi là ”ngôi làng toàn cầu”, là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, ”nhân quyền không biên giới”. Các nước tư bản phương Tây này còn trắng trợn đòi được quyền tiến công vào bên trong lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền để thực hiện cái gọi là can thiệp ”nhân đạo”, bảo vệ nhân quyền và giải tỏa tai họa. Nhân quyền được đề cập đến ở luận thuyết này tất nhiên là nhân quyền của phương Tây và cứ theo luận thuyết này thì bất cứ nước nào, quốc gia nào không theo, không thực hiện dân chủ theo giá trị của phương Tây thì đều có thể bị họ dùng sức mạnh kinh tế, chính trị, thậm chí dùng sức mạnh quân sự tiến công, do đó họ đã chà đạp lên quyền tự do dân chủ của nhiều quốc gia, dân tộc.

Đối với nhân loại, TCH KT trong điều kiện các nước tư bản phát triển đang thao túng đã thực sự là cuộc đấu tranh và dân chủ, nhân quyền là một mặt trận trọng yếu. Các hội nghị nhân quyền thế giới tổ chức những năm gần đây đều nhất trí cho rằng, việc thực hiện nhân quyền phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, cũng như nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Đây là điều kiện đầu tiên và cũng là điều kiện tiên quyết của nhân quyền. Không có chủ quyền quốc gia thì cũng không có nhân quyền. Việc bảo đảm nhân quyền liên quan đến hoàn cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi nước. Nghĩa là, các nước căn cứ vào đặc thù về kinh tế, chính trị-xã hội, về truyền thống văn hoá của đất nước mình để hiện thực hoá các giá trị phổ biến của nhân quyền. Các nước đều có quyền tự quyết định chế độ chính trị, kiểm soát và tự do sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tự do theo đuổi đường lối phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá của mình. Các quyền của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ của cá nhân đó đối với đất nước, nhân dân và nhà nước của họ. Đồng thời, cũng chỉ rõ, nhân quyền của phương Tây, mà theo đó quyền con người chỉ tồn tại với ý nghĩa là quyền tự do cá nhân, tuyệt đối ”thờ phụng” tự do cá nhân trong mọi điều kiện, ở mọi khu vực, và quyền tự quyết chỉ tồn tại với ý nghĩa là quyền tự quyết của một nhóm người, là không thể đại diện cho tính phổ biến của nhân quyền trên thế giới và việc phương Tây cố tình áp đặt giá trị nhân quyền của họ đối với các nước là một trong những nguyên nhân làm bùng phát những xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo hiện nay trên thế giới.

TCH KT trong điều kiện các nước tư bản phương Tây đang chi phối, thao túng và dân chủ, nhân quyền phương Tây mà họ đang rêu rao không nhằm mục tiêu nào khác là thực hiện bằng được TCH CNTB. Ở đây cần nhận thức sâu sắc rằng, tham vọng TCH CNTB sẽ không bao giờ trở thành hiện thực, bởi chính những mâu thuẫn của CNTB được TCH tạo ra ngày càng trở nên gay gắt trên quy mô thế giới, dẫn đến TCH cuộc đấu tranh chống tư bản lũng đoạn quốc tế. Hơn nữa, chính ”chủ nghĩa tư bản (cũng) chống chủ nghĩa tư bản” quyết liệt trên thương trường, điều này sẽ ngăn cản khả năng nhất thể hoá thế giới theo hướng TBCN. Những năm qua, phong trào chống TCH KT TBCN, với tư cách một lực lượng chính trị trên vũ đài chính trị thế giới, đang ngày càng phát triển, hoạt động với nhiều hình thức và nội dung đa dạng, phong phú, hiệu quả. Hẳn mọi người đều nhớ hàng trăm cuộc biểu tình, tuần hành rầm rộ với sự tham gia của hàng chục vạn người nổ ra mới đây ở Niu Y-oóc, ở Oa-sinh-tơn (Mỹ), ở Luân Đôn (Anh) và ở nhiều thành phố lớn khác trên thế giới, phản đối mưu đồ, thủ đoạn của CNTB, CNĐQ lợi dụng TCH KT để thống thị thế giới, đang làm thế giới trở nên bất công, bất bình đẳng, mất dân chủ và mất ổn định. Trong hội nhập quốc tế, các nước thực hiện chính sách hội nhập kinh tế với những lộ trình, bước đi phù hợp với khả năng và yêu cầu của đất nước, trên cơ sở phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của quốc gia, hội nhập kinh tế gắn liền với giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, gắn liền với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đồng thời tăng cường mở rộng hợp tác khu vực, liên khu vực, quốc tế trong cuộc đấu tranh cho một TCH KT chân chính, mà trong đó mọi quốc gia-dân tộc đều có quyền độc lập tự chủ, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, tự quyết định chế độ chính trị-xã hội của mình, có quan hệ bình đẳng và tiếng nói ngang nhau trong giải quyết các vấn đề quốc tế, vì mục tiêu chung xây đựng một thế giới hoà bình, ổn định, dân chủ hợp tác và phát triển.

Theo Đồng Đức, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 11/2004

Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương báo công dâng Bác

Hòa trong không khí thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2013), 300 cán bộ, công chức, viên chức đại diện cho toàn thể cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng đã vinh dự có mặt tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, dâng lên Bác tấm lòng thành kính biết ơn và báo cáo với Bác thành tích trong phong trào thi đua, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đến dự Lễ báo công dâng Bác và tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu điển hình tiên tiến có đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

bao-cong-a
Không khí báo công trang nghiêm trên Quảng trường Ba Đình

Lúc sinh thời Bác luôn quan tâm đến công tác thi đua, khen thưởng. Ngày 11 tháng 6 năm 1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta hết sức ác liệt, khó khăn, Bác đã ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, mở đầu cho phong trào thi đua yêu nước của cả dân tộc dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng.

Hưởng ứng Lời thi đua ái quốc của Người, 65 năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát động tổ chức nhiều phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp. Phong trào đã tạo động lực to lớn, cổ vũ động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước vượt qua khó khăn gian khổ, chung sức, đồng lòng làm nên những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam ở từng thời kỳ, vững bước tiến lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời tiến hành công cuộc đổi mới góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong những năm qua cán bộ làm công tác thi đua trong cả nước đã không ngừng phấn đấu, nỗ lực, xây dựng ngành thi đua, khen thưởng ngày càng trưởng thành và phát triển. Ngành đã đóng góp tích cực vào sự đổi mới của đất nước, ngày càng khẳng định vai trò tham mưu với Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành trong việc ban hành những chủ trương, chính sách, pháp luật và thực hiện nhiều biện pháp cụ thể để thi đua, khen thưởng ngày càng thiết thực.

Hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, cả nước đã có nhiều hoạt động kỷ niệm và nhiều phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực, nhằm phát huy truyền thống thi đua yêu nước, lòng tự hào dân tộc, huy động sức mạnh toàn dân.

bao-cong-b
Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn Huy hiệu cho các đại biểu điển hình tiên tiến

Trong giờ phút trang nghiêm và xúc động của buổi Lễ, đồng chí Trần Thị Hà, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Đảng, Bác Hồ vĩ đại. Người đã đi xa, nhưng tư tưởng và đạo đức, tác phong của Người vẫn luôn tỏa sáng, các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau tiếp nối học tập.

Trước anh linh của Bác, toàn thể đại biểu tham dự Lễ báo công đã hứa: Không ngừng tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, khắc phục khó khăn, phát huy kết quả 65 năm qua, ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc các mục tiêu, nhiệm vụ được Đảng, Chính phủ giao cho, tập trung đẩy mạnh công tác phối hợp, phát hiện, tuyên truyền nêu gương các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu xuất sắc trong phong trào thi đua, trọng tâm là tuyên truyền điển hình, nhân tố mới trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tiếp tục nâng cao chất lượng thi đua khen thưởng, đảm bảo khen thưởng kịp thời, chính xác; quan tâm đến người tốt, việc tốt trong phong trào thi đua, để khen thưởng thi đua kịp thời; xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức người cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng “tận tụy, gương mẫu, sáng tạo”.

bao-cong-c
Đoàn đại biểu kính cẩn dâng vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc Lễ báo công, đồng chí Trần Thị Hà – Trưởng ban Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương và đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đoàn đại biểu điển hình tiên tiến đã kính cẩn dâng vòng hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

“Người đi tìm hình của Nước”

Nguoi di tim hinh cua nuoca

Tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, nơi người thanh niên Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước (6/1911). Ảnh internet

Chắc hẳn trong mỗi chúng ta đều đã một lần được nghe, được đọc, được suy ngẫm và rưng rưng xúc động về bài thơ “Người đi tìm hình của Nuớc” của nhà thơ Chế Lan Viên. Có thể nói, mỗi vần thơ cất lên như chứa đựng bao nỗi niềm của tình cảm, sự tự hào, hãnh diện, kính trọng và biết ơn công lao trời bể của nhà thơ nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình suốt cuộc đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp, từ ngày ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911) trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên cường và bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng (2/9/1969) đưa đất nước và dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Nguoi di tim hinh cua nc 2

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920Ảnh internet

Mỗi lần đọc những dòng thơ trên, trước mắt ta như thấy giây phút thiêng liêng: Đó là hình ảnh của một chàng trai yêu nước tên Ba, tuổi mười tám đôi mươi đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước vào ngày 5-6-1911 trên con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin tại bến cảng Sài Gòn (thành  phố Hồ Chí Minh). Trong chuyến hành trình đầu tiên đó, Bác đã đến Sing-ga-po, Cô-lôm-bô, Po Xa-ít, rồi Đa-răng Mác-xây và ngày 15 tháng 7, Bác đến Lơ Ha-vrơ, cảng chính của miền Bắc nước Pháp.

Với niềm xúc động chân thành, nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm nhận sâu sắc nỗi lòng của Người trong những ngày tháng lênh đênh trên đại dương bao la, xa lạ. Bác đã quyết chí ra đi tìm ánh sáng cho dân tộc giữa mùa bão tố tháng sáu với một trái tim vĩ đại mang trọn tình yêu quê hương đất nước. Từ buổi trưa đó, Bác bước vào cuộc đời của một người lao động cực khổ để ra đi và để rồi:

Đêm xa Nước đầu tiên, ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa Nước rồi, càng hiểu Nước đau thương

Vần thơ thật sâu lắng, giàu cảm xúc như hồi tưởng lại tâm sự của Bác Hồ trong “đêm xa Nước đầu tiên”, tưởng chừng như có thể thấy mỗi đau mất nước ngày đêm giày vò Người; hình ảnh của Người trằn trọc không ngủ trong những đêm dài lênh đênh nơi xứ lạ. Người ra đi thầm lặng, đơn độc trên con tàu vượt đại dương nhưng trong lòng vẫn luôn khắc khoải, canh cánh, day dứt một nỗi niềm mang tên “tình đất nước”, “vận mệnh dân tộc”. Xúc cảm của người xa xứ pha lẫn nỗi đau thương da diết vì mất Nước thật nghẹn ngào khi đồng bào còn chìm đắm trong bùn đen nô lệ, cam chịu sự thống trị của thực dân, đế quốc. Tàu càng đi xa, tiếng sóng càng trở nên xa lạ, nỗi đau như tăng dần lên “xa Nước rồi, càng hiểu Nước đau thương”.

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911 ấy, Người đã trải qua bao gian nan, cực khổ của các nghề “bồi” ở dưới tàu, “bồi” ở khách sạn, làm nghề rửa ảnh, vẽ sơn mài, làm nghề cào tuyết cho một trường học để sống, để đi, để hiểu và hoạt động cách mạng. Trong chuyến hành trình tìm đường cứu nước, Người đã đi khắp thế giới với nhiều khó khăn, vất vả, hiểm nguy nhưng ý chí, quyết tâm và lòng tin của Người về con đường giải phóng dân tộc luôn trước sau như một, chưa một phút giây thôi nghĩ về vận mệnh của đất nước, đời sống của đồng bào. Ý thơ đã cho ta thấy được tình yêu Tổ quốc luôn luôn cháy bỏng đến thiết tha trong tâm trí của Người:

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể
Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi
Những đất tự do, những trời nô lệ
Những con đường cách mạng đang tìm đi
Đêm mơ Nước, ngày thấy hình của Nước
Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà
Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc
Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa

Sống giữa trời Âu phủ đầy tuyết trắng giá lạnh “một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá”, châu Mỹ, châu Phi xa xôi và nhiều lạ lẫm nhưng trong thẳm sâu tâm hồn Bác hình ảnh quê hương hiện lên với màu xanh của cỏ cây tươi tốt như màu xanh của hi vọng, mong ước về màu xanh của hòa bình dân tộc, sự yên bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của đồng bào. Đọc câu thơ, ta bắt gặp một sự đối lập về hình ảnh, điều đó đã càng làm rõ hơn sự tinh tế đầy sâu lắng trong tâm hồn của Hồ Chủ tịch, đó là sự trăn trở, day dứt khôn nguôi đối với vận mệnh của đất nước. “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”. Trái tim giàu lòng yêu nước của Người như đang run lên, như đang nức nở, trong từng bữa ăn, giấc ngủ – Người cùng đau nỗi đau của dân tộc.

Xa Tổ quốc nhưng trái tim của Người luôn đập cùng nhịp đập trái tim của hàng triệu đồng bào. Đó là sức mạnh to lớn nhất giúp Người vượt qua mọi trùng dương, khó khăn để tiếp bước, tìm thấy ánh sáng chân lý soi rọi con đường đi đang đầy bùn đen tăm tối cho cả dân tộc. Khi đọc được Luận cương của Lê-nin, ngồi trong căn nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17, ngoại ô Paris, Người đã bật khóc – khóc trong niềm hạnh phúc, khóc trong hi vọng về một ngày mai tươi sáng sẽ đến với dân tộc.

Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin.
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin

Niềm hạnh phúc như vỡ òa khi Người tiếp nhận Luận cương Lê-nin. Người tiếp nhận chân lý cách mạng ấy bằng tất cả trái tim, sự nhiệt huyết và khối óc của mình. Người tập trung lật giở từng trang sách và dường như cả đất trời cùng nín thở chờ đợi giây phút thiêng liêng, trọng đại này. Giây phút ló rạng ánh sáng của con đường giải phóng dân tộc, thời khắc lịch sử của một dân tộc đang trong cảnh lầm than, nô lệ hi vọng về ngày mai tươi sáng. Chân lý cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã soi sáng tâm hồn Người, đất trời và vạn vật xung quanh như bừng tỉnh, cùng hòa chung niềm hạnh phúc vô bờ:

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười

Những câu thơ chứa đựng niềm hân hoan trào dâng đầy xúc động. Niềm vui náo nức của cả dân tộc trong giờ phút trọng đại hòa chung cùng tiếng reo mừng sung sướng của Người “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”. Con đường đi của cả dân tộc sẽ còn vô vàn những khó khăn, hi sinh, gian khổ nhưng hình ảnh của Đảng lồng trong hình đất nước đã khẳng định niềm tin vô cùng sâu sắc và mãnh liệt đối với Đảng quang vinh, đối với linh hồn của dân tộc. “Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười” – câu thơ giàu hình ảnh ấy đã làm người đọc xúc động xen lẫn vui mừng khi Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Và hơn cả là niềm hạnh phúc khi gặp những phác họa đầy tươi sáng về tương lai mới của đất nước:

Bác thấy:
Dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt
Ruộng theo trâu về lại với người cày
Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc
Không còn người bỏ xác bên đường ray

Giặc Nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát
Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân
Những kẻ quê mùa đã thành trí thức
Tăm tối cần lao nay hóa những anh hùng

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lý Trần Lê
Thành nước Việt nhân dân trong mát suối
Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói
Những đời thường cũng có bóng hoa che

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bác rời xa Tổ quốc, quyết chí ra đi tìm đường cứu nước và Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Sau bao năm bôn ba, nay Người trở về với quê hương, trở về với đồng bào. Mang trên vai sứ mệnh cao cả cùng với chân lý sáng ngời của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết chí đồng lòng, trải qua nhiều chiến đấu, hi sinh, gian khổ đưa cả dân tộc thoát khỏi đêm dài nô lệ:

Luận cương của Lê-nin theo người về quê Việt
Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi
Kìa, bóng Bác hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình Đất nước phôi thai

Ngày Bác ra đi chỉ có hai bàn tay với chí lớn tìm ra con đường cứu nước. Mùa Xuân của 30 năm sau (tháng 2 năm 1941), vượt qua biết bao khó khăn, trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua nổi, mong ước được trở về Nước cùng đồng bào đấu tranh của Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Bước chân đầu tiên về đất Mẹ, là giây phút thiêng liêng khó diễn đạt bằng lời, Người như lặng đi bên cột mốc 108 biên giới Việt – Trung, mặt hướng về Tổ quốc, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, rồi Người cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt rưng rưng, tiếng lòng như thẳm sâu lắng đọng, cảm nhận sự sống của “hình Đất nước” đang phôi thai trong lòng mình, hình ảnh của một đất nước Việt Nam mới tươi sáng:

Kìa, bóng Bác hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình Đất nước phôi thai

Những vần thơ xúc động nhưng giản dị đã cho ta cảm nhận thấy phong cách gần gũi, vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt hành trình 30 năm tìm đường cứu Nước. Có thể nói “Người đi tìm hình của Nước” đã diễn đạt lòng yêu nước vô cùng sâu nặng của Bác Hồ, đồng thời để lại cho các thế hệ Việt Nam một trong những bài thơ hay nhất, thành công nhất viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đã 102 năm trôi qua kể từ ngày người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu Nước với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”nhưng ý nghĩa lịch sử sâu sắc của sự kiện ngày 5/6/1911 vẫn luôn sáng mãi trong tâm thức của hàng triệu trái tim Việt Nam và bạn bè quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh với trái tim yêu Nước nồng nàn đã đánh đổi tuổi trẻ, thanh xuân của mình để giành lấy mùa Xuân cho dân tộc, Người đã mở rộng cánh cửa để cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo./.

Huyền Trang
bqllang.gov.vn

Đóng góp của các chuyên gia y tế Nga đối với Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đã 44 năm trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại qua đời, thi hài của Người luôn được giữ gìn, bảo vệ an toàn tuyệt đối. Thành công đó là nhờ sự quan tâm đặc biệt, sự lãnh đạo chỉ đạo sâu sát, thường xuyên, liên tục của Đảng, Nhà nước và Quân đội; sự phấn đấu, nỗ lực không ngừng của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng. Và hơn thế là nhờ sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, vô tư trong sáng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô (nay là Cộng hòa Liên bang Nga), trực tiếp là các chuyên gia y tế Nga.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đặt nền móng và không ngừng xây đắp mối quan hệ hữu nghị Việt – Xô, một mối tình “anh em ruột thịt trong đại gia đình cộng sản quốc tế”. Bác luôn coi Liên Xô là người bạn lớn và người bạn chiến đấu gần gũi nhất của nước Việt Nam, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do. Cho đến cuối đời, Người vẫn trước sau như một nhấn mạnh: Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên rằng những thắng lợi của mình không thể tách rời sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô.

Đảng, Nhà nước, nhân dân Liên Xô cũng luôn dành cho Hồ Chủ tịch những tình cảm trân trọng nhất. Trong thư chia buồn sau ngày Bác mất, Đảng Cộng sản Liên Xô khẳng định: “Những người cộng sản Liên Xô, cũng như toàn thể nhân dân Liên Xô đánh giá cao sự cống hiến không biết mệt mỏi của đồng chí Chủ tịch Hồ Chí Minh cho sự phát triển tình hữu nghị anh em giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Liên Xô, giữa nhân dân Liên Xô và nhân dân Việt Nam. Nhân dân Liên Xô sẽ đời đời gìn giữ kỷ niệm trong sáng về Người, như là một nhà Mácxít Lêninnít kiên định, một người bạn thủy chung của Đảng và đất nước Liên Xô”(1). Những tình cảm quý báu ấy là nền tảng cơ bản để Bạn nhiệt tình giúp đỡ ta thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác.

Cuối tháng 5 năm 1967, sau Lễ mừng thọ nhân Ngày sinh lần thứ 77 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã có phiên họp bất thường bàn về việc bảo vệ sức khỏe của Bác. Tại phiên họp này, Bộ Chính trị quyết định sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần sẽ giữ gìn thi hài và xây dựng Lăng của Người để bày tỏ lòng kính yêu vô hạn với Người và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta mãi mãi đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn.

Nội dung và yêu cầu chung của khoa học giữ gìn lâu dài thi hài là:

– Phải giữ được những nét đặc trưng của thi hài Bác như khi Người còn sống.

– Phải giữ thi hài được lâu dài.

– Phải bảo đảm được yêu cầu có thể để đông đảo người tới viếng thăm trong điều kiện môi trường bình thường.

Cho đến thời điểm này, khoa học giữ gìn thi hài với nội dung và yêu cầu như trên thì trên thế giới chỉ mới có Liên Xô làm được. Vì vậy, Đảng và Chính phủ ta đã đề nghị Liên Xô giúp đỡ từ công tác đào tạo cán bộ đến việc giữ gìn thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người. Với lòng kính trọng sâu sắc, đánh giá cao vị trí, vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, Đảng và Chính phủ Liên Xô hoàn toàn nhất trí giúp đỡ không điều kiện việc giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người. Liên Xô đồng ý nhận đào tạo và cử các chuyên gia y tế hàng đầu, giỏi nhất trực tiếp hướng dẫn, giảng dạy cho ba bác sĩ của Việt Nam sang học tập, nghiên cứu về khoa học giữ gìn thi hài.

Cuối tháng 8/1969, khi sức khỏe của Bác có dấu hiệu giảm sút nhanh chóng, một mặt chúng ta tích cực tìm mọi biện pháp để chữa bệnh cho Bác, mặt khác cũng khẩn trương làm công tác chuẩn bị đề phòng khi có việc lớn xảy ra. Nhận được điện thông báo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã cử ngay Đoàn chuyên gia y tế sang Việt Nam.

Và cái ngày không ai mong đợi ấy đã đến. Lịch sử mãi mãi ghi nhớ sáng ngày 2/9/1969, ngày mà Chủ tịch Hồ Chí Minh – người con anh hùng và vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ giã Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta và bầu bạn ta trên khắp thế giới. Thi hài Bác được nhanh chóng đưa về 75A an toàn. Sau gần 3 giờ liên tục, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã hoàn thành công việc giữ gìn bước đầu thi hài Bác phục vụ tang lễ.

Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, đế quốc Mỹ leo thang ném bom tàn phá miền Bắc và thiên tai lũ lụt, thi hài Bác phải 6 lần di chuyển vượt đường xa, vượt sông suối, ở rừng núi, gặp muôn vàn khó khăn, nhưng bên Bác luôn có những chuyên gia y tế Liên Xô tâm huyết, đồng cam, cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi cùng cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ của ta chăm sóc giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Người.

Kết quả sau 20 năm (1969-1989) giữ gìn thi hài Bác được Hội đồng Khoa học y tế giữa Việt Nam và Liên Xô kiểm tra vào tháng 9/1989 kết luận: “Trạng thái thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tốt. Không thấy thay đổi nào so với những số liệu của biên bản Hội đồng kiểm tra năm 1975. Những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời được giữ gìn nguyên vẹn. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được thường xuyên tiến hành kiểm tra chế độ nhiệt, ẩm, bảo đảm giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như thường xuyên kiểm tra trạng thái vệ sinh y tế quan tài kính và các phòng làm thuốc. Các số liệu mà Hội đồng nhận được chứng tỏ chế độ nhiệt, ẩm và trạng thái vệ sinh y tế phù hợp với yêu cầu quy định”(2).

Tháng 8/1991, Liên Xô tan rã, trong một thời gian ngắn có sự gián đoạn tưởng chừng như mất hẳn sự giúp đỡ từ phía Bạn. Ngày 28/12/1992, bản thỏa thuận làm việc trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va được ký kết, quan hệ hợp tác giữa ta và Bạn đã có bước ngoặt quan trọng, bắt đầu bước sang một thời kỳ mới.

Trong vòng 30 năm (từ 1969-2009), tổng số chuyên gia y tế Liên Xô đã sang giúp Việt Nam có 82 người, trong đó có 13 Viện sĩ, 7 Giáo sư, 11 tiến sĩ khoa học, 20 tiến sĩ, số còn lại là bác sĩ chuyên ngành.(3) Người sang nhiều nhất là 24 lần.

Trong thời gian ở Việt Nam, dù hoàn cảnh, điều kiện công tác có nhiều khó khăn, song các chuyên gia y tế Liên Xô đã làm việc bằng tất cả tấm lòng kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần trách nhiệm cao nhất, luôn coi đây là nhiệm vụ quốc tế cao cả và thiêng liêng. Làm việc bằng sự vô tư, chí tình, chí nghĩa, không một chút đòi hỏi, sống giản dị, có phần đạm bạc. Một trong những minh chứng cho sự giúp đỡ vô tư, trong sáng của Liên Xô là không tính toán thiệt hơn trong vấn đề phụ cấp. Ngay từ những ngày đầu sang Việt Nam, ngoài việc chúng ta bố trí ăn và nhà nghỉ, thì mỗi tháng được hưởng phụ cấp 100 đồng (một trăm đồng), tương đương với lương của đồng chí Đại úy không có thâm niên. Và điểm đặc biệt là mức phụ cấp ấy do Liên Xô tự đề xuất, chứ không phải do thỏa thuận của hai bên. Kể cả đến năm 1994, khi chuyển sang cơ chế hợp tác trực tiếp, lúc đó phía Liên Xô rất khó khăn nhưng với tinh thần trọng tình nghĩa, các chuyên gia y tế đã đề nghị mức lương rất hữu nghị. Tấm lòng của các nhà khoa học Nga đối với Bác Hồ, với đất nước và con người Việt Nam khiến cho chúng ta rất cảm phục và biết ơn.

Khó khăn bộn bề khi sống và làm việc ở đất khách quê người đã không làm giảm được sự nhiệt huyết, tận tâm của các chuyên gia y tế. Các chuyên gia không những không phàn nàn gì mà trong ký ức của họ luôn lưu giữ những hình ảnh đẹp về đất nước và con người Việt Nam. Đồng chí I. A Khô-rô-sốp, một trong những người đã tham gia vào nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những đầu tiên nhớ lại: “Chúng tôi luôn biết ơn các đồng chí Việt Nam đã quan tâm đến đời sống hàng ngày của chúng tôi trong suốt thời gian làm việc bên nhau. Các bạn Việt Nam rất hiểu là chúng tôi sống xa quê hương, gia đình, người thân khá lâu, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt đối với chúng tôi và trong điều kiện thời chiến, nên các bạn đã hết sức cố gắng, để cuộc sống hàng ngày của chúng tôi có được tiện nghi hơn. … Tất nhiên những người đã tạo điều kiện cho chúng tôi làm việc và chăm lo cuộc sống thường ngày còn rất nhiều, tôi không thể nào kể hết. Đó là những đồng chí lái xe, nấu ăn và nhiều người nữa mà mỗi lần nhắc tới đều với tình cảm ấm nồng… Chúng tôi đã có được mối quan hệ công tác gắn bó anh em với các đồng chí bác sĩ Việt Nam.” (4)

chuyen-gia-nga-bLễ ký văn bản hợp tác phối hợp pha chế dung dịch đặc biệt giữa Ban Quản lý Lăng và Trung tâm nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va (Mát-xcơ-va ngày 04/6/2003)

Trong hơn 20 năm hợp tác trực tiếp với Trung tâm nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va, hai bên đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp: Bảo đảm quá trình làm thuốc trong giữ gìn thi hài Bác Hồ; biên soạn quy trình làm thuốc lớn trong tu bổ định kỳ hằng năm; thường xuyên bảo đảm môi trường trong các phòng làm thuốc đạt tiêu chuẩn quy định. Từ năm 2003, Nga bàn giao công nghệ pha chế dung dịch đặc biệt và năm 2004, dung dịch đặc biệt được pha chế thành công tại Việt Nam giúp ta không còn gặp khó khăn trong quá trình vận chuyển. Phía Nga tiếp tục giúp ta trong việc thành lập các Tổ tư vấn chuyên môn sâu, cử chuyên gia sang trực tiếp giảng dạy tại Việt Nam và nhận chuyên gia Việt Nam sang Nga học tập khoa học công nghệ và kỹ thuật bảo quản thi hài.

Trong nghiên cứu khoa học, hai bên cùng tiến hành hàng chục đề tài khoa học, sáng kiến kỹ thuật phục vụ công tác giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhiều đề tài đi sâu vào tối ưu hóa các điều kiện giữ gìn thi hài Bác Hồ. Phía Nga cũng đã bàn giao cho ta hơn 500 trang tài liệu khoa học được tiến hành trong quá trình tham gia giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh tận tụy của GS, TS. Kô-zen-sép, người đã 14 lần sang Việt Nam; TS. Gô-lu-bép, 13 lần sang Việt Nam; GS, TS. Đốc-tơ-rốp, 10 lần sang Việt Nam; TS. Va-xi-lép-ski, 14 lần sang Việt Nam… đã để lại những tình cảm hết sức tốt đẹp trong lòng các đồng chí, đồng nghiệp Việt Nam.

Phát biểu tại Hội nghị tổng kết 20 năm hợp tác trực tiếp giữa Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va và Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1992-2012), GS, Viện sĩ Mát-vê-chúc I-go Va-si-li-ê-vích, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ Y sinh Mát-xcơ-va khẳng định: “Điều tự hào nhất trong kết quả hợp tác giữa hai bên là sau 43 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, người dân Việt Nam và du khách quốc tế vẫn được chiêm ngưỡng thi hài của Người trong trạng thái tốt nhất. Đó cũng là điều khiến chúng tôi hài lòng nhất.”

chuyen-gia-nga-cChuyên gia y tế Liên bang Nga cùng cán bộ, bác sĩ Việt Nam tiến hành pha chế dung dịch đặc biệt lần đầu tiên tại Việt Nam tháng 3/2004

Để hiểu rõ hơn vai trò, trách nhiệm và công lao của các chuyên gia y tế Nga, tôi xin giới thiệu một số gương tiêu biểu. Trước hết phải nhắc tới GS, Viện sĩ Iu.M. Lô-pu-khin, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Mát-xcơ-va. Ông là một trong 5 chuyên gia sang Hà Nội vào ngày 28/8/1969 và có tất cả 6 lần sang Việt Nam. Để có được kết quả “những nét đặc trưng lúc sinh thời của Bác vẫn được giữ gìn nguyên vẹn” phải kể đến những đóng góp to lớn về trí tuệ với đôi bàn tay vàng của nhà phẫu thuật tạo hình nổi tiếng Lô-pu-khin. Chính ông đã trực tiếp chỉnh hình thi hài Bác tại khu căn cứ K9.

Năm 2009, khi nghe tin mình được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hữu nghị, ông rất xúc động. Nói về việc gìn giữ thi hài Bác, Viện sĩ Lô-pu-khin khẳng định: “… thi hài Bác được giữ gìn rất tốt. Không một thi hài nào đã bảo quản trước đây, trong đó cả V.I. Lê-nin, G.M. Đi-mi-tơ-rốp… được giữ gìn trong trạng thái lý tưởng như vậy”.(5)Ông từng tâm sự rất chân tình: “Từ khi được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh và trực tiếp chăm sóc thi hài của Người, tôi nhận thấy ở Người có điều gì đó rất đặc biệt. Năm 1969, từ Việt Nam về, tôi lập bàn thờ Bác trong nhà. Với tôi, Hồ Chí Minh là một tấm gương để tôi tôn thờ suốt đời”.

Người thứ hai là GS. I-u-ri A-lếch-xây-ê-vích Rô-ma-cốp, nguyên Phó Giám đốc Viện nghiên cứu khoa học Lăng Lê-nin, một chuyên gia hàng đầu của Liên Xô cũng như trên thế giới về lĩnh vực ướp bảo quản lâu dài thi thể phục vụ thăm viếng. Ông là chuyên gia y tế sang Việt Nam nhiều lần nhất (24 lần).

Ngày 18/12/1968, Iu.A. Rô-ma-cốp là nhà khoa học đầu tiên của Liên Xô đến Việt Nam để kiểm tra, đánh giá công tác chuẩn bị giữ gìn thi hài Bác Hồ. Trong thời gian này, ông đã tham gia Lễ kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam để trực tiếp quan sát dung nhan Bác Hồ. Nhờ vậy, sau này ông và Tổ chỉnh hình đã giúp ta giữ gìn nguyên vẹn những nét đặc trưng lúc sinh thời của Bác. Ông trực tiếp tham gia giữ gìn thi hài Bác với ý thức trách nhiệm cao và với kiến thức chuyên ngành uyên bác. Sau khi Liên Xô tan rã, ông đã cùng với lãnh đạo của Trung tâm và phía Việt Nam tích cực tìm ra phương thức hợp tác mới. Theo các chuyên gia Liên Xô, ông là người đã chủ động đề xuất việc tăng cường đào tạo cán bộ y tế Việt Nam về lĩnh vực ướp bảo quản thi thể và tiến hành các đề tài hợp tác nghiên cứu theo từng giai đoạn một cách rất bài bản. Thông qua những hình thức hợp tác đó để tiến tới những mục tiêu cơ bản và năm 2003 hai bên đã chính thức ký Biên bản bàn giao tỉ lệ hóa chất dung dịch và nhất trí pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam vào quý I năm 2004. Đây là một trong những thành tựu quan trọng có sự đóng góp to lớn của GS. Rô-ma-cốp.

Những người đã từng tiếp xúc, làm việc với GS. Rô-ma-cốp đều nhận thấy ở ông “một nhân cách lớn, một nhà khoa học trầm tính, ít nói, nhưng đã nói là làm, làm đến nơi đến chốn, không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà phải chứng minh bằng các thực nghiệm có số liệu cụ thể. Ông thường nhắc các đồng nghiệp Liên Xô cũng như các bác sĩ Việt Nam cần phải rất thận trọng, tỷ mỷ, các kết luận chỉ được phép dựa vào những số liệu, thực nghiệm chính xác.”(6)

Với những cống hiến cho sự nghiệp giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam đã tặng ông 2 Huân chương Lao động hạng Nhất và hạng Nhì.

Người thứ ba là GS, Viện sĩ Xéc-gây Xéc-gây-ê-vích Đê-bốp, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lăng Lê-nin, một trong những chuyên gia y tế đầu tiên của Liên Xô giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã 23 lần sang Việt Nam. Ngay từ năm 1967, dưới sự chỉ đạo của Viện sĩ Đê-bốp lúc này đang giữ chức Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lăng Lê-nin, Đoàn cán bộ của ta sang học tập về khoa học giữ gìn thi hài đã được đón tiếp chu đáo, thân tình, được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoàn thành khóa học đặc biệt này. Đây là sự ưu ái đặc biệt của Đảng và Chính phủ Liên Xô, bởi Viện chưa từng đào tạo bất cứ người nước ngoài nào. Ngày 28/8/1969, Viện sĩ Đê-bốp làm Trưởng đoàn của Đoàn cán bộ y tế Liên Xô đến Việt Nam để chuẩn bị cho công tác đặc biệt sau khi Hồ Chủ tịch qua đời.

Thiếu tướng Trần Kinh Chi, nguyên Tư lệnh, kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng xúc động nhớ lại thời điểm sau khi Bác mất: “Các đồng chí trong Tổ y tế đặc biệt của Việt Nam đã từng là những nhà chuyên môn giỏi, đã học tập, thực hành công tác gìn giữ thi hài trong hai năm, có thể đảm đương nhiệm vụ. Nhưng xuất phát từ tinh thần trách nhiệm cao, với tấm lòng yêu kính Bác nên G.S Viện sĩ Iu.M. Lô-pu-khin, Viện sĩ X.X. Đê-bốp và G.S Mi-khai-lốp đã trực tiếp làm công tác y tế giữ gìn thi hài Bác cùng với sự phụ giúp của hai bác sĩ là Nguyễn Gia Quyền và Lê Điều – thành viên của Tổ y tế đặc biệt Việt Nam…Các chuyên gia y tế Liên Xô đã làm công việc đó với một tấm lòng yêu thương, trân trọng lãnh tụ, với tinh thần khoa học rất cao và một tài năng tuyệt vời”(7).

Nhớ lại khoảnh khắc lúc 3h sáng ngày mồng 6/9, Ban Tổ chức Lễ tang cùng với các chuyên gia tiến hành tổng kiểm tra các mặt chuẩn bị cho ngày viếng đầu tiên. Khi nâng chiếc nắp hòm kính lên, đặt máy đo kiểm nhiệt độ, độ ẩm, thấy kết quả hiện trên mặt máy báo hiệu mọi sự đều hết sức ổn định. Viện sĩ Đê-bốp không kìm được xúc động đã quay lại ôm chầm lấy đồng chí Trần Bá Đặng và đồng chí Nguyễn Gia Quyền, lặp đi lặp lại mãi một câu nói: “Khơ-ra-sô, khơ-ra-sô” (tốt, tốt), “Ô-trin Khơ-ra-sô (rất tốt) (8). Giữa không khí trang nghiêm ấy, bỗng một tiếng khóc nức nở, òa lên vang khắp Hội trường. Đó là tiếng khóc không thể kìm nén được của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Vừa khóc, Thủ tướng vừa bắt tay cảm ơn các đồng chí chuyên gia Liên Xô. Lời cảm ơn chân thành và những giọt nước mắt liên tiếp lăn trên má của đồng chí Phạm Văn Đồng khiến các đồng chí chuyên gia cũng không cầm được nước mắt.

Năm 1975, Viện sĩ Đê-bốp là một trong ba chuyên gia Liên Xô tiêu biểu nhất đã được Chính phủ ta tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam để tỏ lòng biết ơn Ðảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô đã góp sức giữ gìn thi hài Bác và xây dựng Công trình Lăng.

Ngày 28/12/1992, trên cương vị là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va, GS, Viện sĩ X.X. Đê-bốp đã ký vào Bản thỏa thuận làm việc trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va. Đây là một sự kiện quan trọng có tính chất bước ngoặt, đánh dấu sự mở đầu của một thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác giữa ta và Nga.

Trên đây chỉ là ba trong số rất nhiều chuyên gia y tế Liên Xô đã kề vai sát cánh, không quản ngại gian khổ giúp Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác. Tất thảy họ đều là những người đồng nghiệp, đồng chí, những người bạn, người anh em thân tình đặc biệt của chúng ta. Trong số các chuyên gia y tế Liên xô, nay người còn, người đã mất, nhiều người đã tuổi cao, sức khỏe giảm sút, nhưng tiếp nối truyền thống, các bạn Nga vẫn đang sát cánh cùng chúng ta trong nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Nhằm động viên các nhà khoa học, cũng là thể hiện sự biết ơn, tình nghĩa thủy chung gắn bó của Việt Nam với nhân dân và đất nước Nga, ngày 22/4/2009, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tặng thưởng huân, huy chương các loại cho 34 chuyên gia Liên bang Nga đã có công lao trong việc giữ gìn lâu dài và tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sự giúp đỡ của nước Bạn là vô giá, trường tồn mãi với thời gian, được các thế hệ Việt Nam đời đời ghi nhớ, trân trọng. Và tấm chân tình của chúng ta cũng đã được các Bạn Nga ghi nhận. Viện sĩ I.M. Lô-pu-khin từng khẳng định: “Khi đề cập đến đất nước chúng ta (Liên bang Nga), đến sự giúp đỡ của các nhà bác học, các kỹ sư, các chuyên gia quân sự… trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, người Việt Nam luôn nhớ đến câu nói mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường hay nhắc nhở: “Uống nước nhớ nguồn”.(9)

Qua hơn 40 giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 năm chính thức thiết lập quan hệ trực tiếp, Ban Quản lý Lăng và Trung tâm nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va mà trực tiếp là các chuyên gia làm việc tại Việt Nam đã không ngừng củng cố tinh thần hữu nghị, đoàn kết hợp tác, cùng thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng, biết ơn sự giúp đỡ quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô trước đây và Liên bang Nga sau này, đặc biệt là những đóng góp của các chuyên gia y tế. Với lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh và bằng tài năng của những chuyên gia y tế hàng đầu, tầm cỡ quốc tế đã giúp đỡ chúng ta chí tình, chí nghĩa phục vụ nhiệm vụ giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử, văn hoá của Công trình Lăng – nơi hội tụ niềm tin, tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam cũng như tình hữu nghị đặc biệt hai nước Việt Nam – Liên bang Nga./.

Thu Hiền
bqllang.gov.vn

(1). E. Cô-bê-lép, Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985, tr.379.
(5, 7, 9). Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bên Lăng Bác Hồ, tập 1, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.34, 28, 35.
(2, 8). Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lịch sử bộ đội bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1975-2003), Nxb. Quân đội nhân dân, 2003, tr.176, 41.
(3, 4, 6). Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bên Lăng Bác Hồ, tập 2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr.49, 32, 61.

Học phong cách ngoại giao con người của Bác

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là người dạy ngành ngoại giao Việt Nam ngay từ đầu. Theo đúng nghĩa đen. Thí dụ có lần Bác đến nói chuyện với ngành ngoại giao, từ chuyện ăn, Bác dạy phải ăn như thế nào. Bác dạy rất đơn giản thôi. Các chú tốt nhất là ăn sau, chứ đừng ăn trước, để xem người ta ăn như thế nào, để mình theo, các chú đừng ‘xông lên’ ăn trước”.

phong-cach-ngoai-giao-a
Ông Vũ Khoan (thứ 2 bên phải) trong một lần làm phiên dịch cho
Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trên đây những lời tâm sự của ông Vũ Khoan, một nhà ngoại giao kỳ cựu khi ông nói về người thầy vĩ đại của ngành ngoại giao Việt Nam, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là người công tác trong ngành ngoại giao hơn bốn mươi năm, đã từng tham gia rất nhiều sự kiện ngoại giao lớn của đất nước, đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng của ngành ngoại giao, được trực tiếp dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần, ông Vũ Khoan đã thấm nhuần và suốt đời học tập phong cách ngoại giao của Bác.

phong-cach-ngoai-giao-b
Bác Hồ và các cháu thiếu nhi An-ba-ni, năm 1957

Tâm sự với nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân trong một chiều giữa tháng Năm, khi chỉ còn vài ngày nữa là tới Ngày sinh nhật Bác, ông nói: Chuyện ăn, chuyện học ngoại ngữ, chuyện lễ tân…trong ngoại giao, chỉ là những chuyện nhỏ. Còn những chuyện lớn Bác dạy thì vĩ đại lắm. Cái mà chúng tôi học được ở Bác chính là phong cách ngoại giao con người.

“Ngoại giao của Việt Nam có nghi lễ, lễ tân khác với các nước khác, rất dân dã, bình dị.Còn một số nước khá cứng nhắc, nghiêm chỉnh quá. “Dân dã” của mình là ở đâu ra. Chính từ phong cách ngoại giao giản dị mà uyên thâm của Bác. Ứng xử ngoại giao theo cách Bác dạy là ứng xử ngoại giao con người”.

Ông Khoan cho biết, nhiều vị khách quốc tế, sau khi gặp Người bao giờ cũng giữ lại ấn tượng sâu sắc bởi vốn hiểu biết uyên bác, tài trí thông minh, sự giản dị, lạc quan cùng sự tự tin kết hợp với phong cách lịch thiệp, nho nhã.

phong-cach-ngoai-giao-c
Bác Hồ thân mật trò chuyện cùng các cháu thiếu nhi Tiệp Khắc và Việt Nam

Nói tới ngoại giao con người trong phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, ông Vũ Khoan kể: Ngày xưa, tôi đi phục vụ các đoàn ở Liên Xô, Đông Âu. Thường bạn qua một số nước rồi mới sang mình, tất cả các đoàn đều nói rằng: Sang Việt Nam rất sướng. Tôi hỏi: Tại sao các đồng chí lại thoải mái như thế? Họ trả lời: Là vì các đồng chí ứng xử với chúng tôi là con người chứ không phải chính khách. Chứ sang một số nước, họ đối với chúng tôi như chính khách, thành ra không thoải mái, rất gò bó. Về sau thành cán bộ lãnh đạo, tôi đi tôi mới cảm nhận thấy được. Khi tôi tới một số nước, hai bàn tay của tôi không dùng vào việc gì cả, mở cửa cũng có người mở sẵn. Ra khỏi khách sạn, vào ô tô…đều có người mở sẵn. Luôn luôn có người đi kèm. Ở Việt Nam thì khác. Các nhà ngoại giao luôn thoải mái. Ví dụ sinh động nhất là việc Thủ tướng Australia khi sang dự hội nghị APEC tại Việt Nam, có thể chạy bộ quanh Hồ Gươm vào sáng sớm.

“Học tác phong của Bác, khi tôi là cán bộ của Bộ Ngoại giao, tôi luôn chỉ đạo, tất cả các hoạt động ngoại giao phải bảo đảm tính con người. Đừng gò bó. Người ta muốn chạy bộ để cho người ta chạy”, ông Vũ Khoan chia sẻ.

phong-cach-ngoai-giao-d
Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Tát-gi-ki-xtan, ngày 27-7-1959

Kể lại một kỷ niệm khác, ông Vũ Khoan cho biết: Khi còn công tác, tôi được chứng kiến, để đảm bảo an ninh cho một Hội nghị, có nước đã đưa dân của cả một khu phố lớn đi “sơ tán” hết. Chính phủ cho tiền để dân đi nghỉ cả tuần. Cả một khu phố lớn, trên quãng đường chúng tôi đi từ khách sạn tới khu Hội nghị không có bóng người dân. Chỉ có các quan chức, lễ tân và nhân viên an ninh.

Rút kinh nghiệm chuyện này, khi Việt Nam chuẩn bị tổ chức Hội nghị APEC, Ban tổ chức Hội nghị cũng bàn chuyện có hay không để dân nghỉ. Tôi đưa ra ý kiến, ta không nên cho dân nghỉ. Vì ở ta có hai nhân tố. Một là Hội nghị này không phải tổ chức trên dân. Đây là Hội nghị của cả nước, các đại biểu cũng cảm thấy thân thiện hơn với điều kiện thực tế của Việt Nam.

“Có điều đặc biệt ở dân mình, tâm lý bình thường có khi chen lấn nhau, nhưng khi có khách quốc tế thì rất trật tự và nhường nhịn. Đây là điều rất hay”, ông Khoan nói.

Tiếp tục câu chuyện ngoại giao con người theo phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, ông Vũ Khoan cho biết thêm: Sự giản dị của Bác, ai cũng có thể thấy rõ. Mỗi khi có khách quốc tế, các Nguyên thủ quốc gia tới thăm Việt Nam, Bác thường đưa ra nhà sàn, coi như những người bạn thân thiết. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã được Bác tiếp ở Nhà sàn.

phong-cach-ngoai-giao-e
Các cháu thiếu nhi Pháp tặng hoa Bác. Ảnh TL

Khi Bác ra nước ngoài, quà của Bác thường là hoa quả trong vườn ở Phủ Chủ tịch. Không có nước nào làm như thế. Ở trong nước, khi các Đoàn ngoại giao và khách quốc tế tại Hà Nội đến Phủ Chủ tịch chúc Tết Bác, thường cuối bữa tiệc, Bác chia quà cho mọi người, theo đúng phong tục Việt Nam, gửi quà cho người ở nhà. Mọi người hết sức xúc động và cảm phục sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn rất nhiều mẩu chuyện về phong cách ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng một điều có thể khẳng định: Ngoại giao Hồ Chí Minh, ngoại giao con người chính là sự kết hợp có chọn lọc giữa chủ nghĩa yêu nước, văn hóa dân tộc và truyền thống ngoại giao Việt Nam, mang lại bản sắc riêng cho nền ngoại giao Việt Nam.

“Những chuyện về ngoại giao con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nhiều. Ngoại giao con người theo phong cách Hồ Chí Minh là vậy đó. Tư tưởng đó, phong cách đó thấm nhuần vào các thế hệ ngoại giao Việt Nam. Tổ chức đón tiếp khách quốc tế phải luôn để bạn thoải mái, không bị gò bó. Làm cho người ta thoải mái thì vẫn tốt hơn”, ông Vũ Khoan chia sẻ.

phong-cach-ngoai-giao-f
Chủ tịch Hồ Chí Minh với bạn bè quốc tế. Ảnh TL

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong giao tiếp ngoại giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại.

Ngoại giao con người theo phong cách Hồ Chí Minh chính là hiểu người khác, chia sẻ với người khác để họ hiểu mình. Văn hóa Việt Nam hiện hữu trong nền ngoại giao Việt Nam đó là tính hòa hiếu và nhân nghĩa, là bản chất hòa bình và khoan dung, là sự ứng xử tinh tế, linh hoạt và mềm dẻo nhưng kiên định theo nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tất cả vì lợi ích của dân tộc.

Nguyễn Hòa
Theo Báo Quân đội nhân dân

Thanh Huyền (st)

Diễn viên đóng Tôn Ngộ Không luôn lưu giữ di ảnh Bác Hồ

Lục Tiểu Linh Đồng vẫn giữ những hình ảnh của Bác Hồ như một “bảo bối”.

Nghệ sỹ nổi tiếng với vai Tôn Ngộ Không – Lục Tiểu Linh Đồng cho biết ông luôn lưu giữ những hình ảnh của vị lãnh tụ Việt Nam – Hồ Chí Minh. Những hình ảnh của Bác Hồ khi còn sinh thời được ông đóng khung và ghi chú cẩn thận. Có những tấm ảnh chỉ được cắt từ báo chí, bị ố màu nhưng ông vẫn luôn trân trọng.

Nói về Bác Hồ, Lục Tiểu Linh Đồng nói: “Đó là vị lãnh tụ đáng tôn vinh. Sau trăm năm hậu chiến, thời gian thay đổi và cuộc sống con người thay đổi, nhưng người sáng lập, vị lãnh tụ của Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong lòng dân chúng. Tôi từng có bài viết trên trang cá nhân với tên Mãi mãi Bác Hồ. Tôi luôn cảm phục và thần tượng con người vĩ đại đó”.

dien-vien-dong-ton-ngo-khong-luon-luu-giu-di-anh-bac-ho a1
Lục Tiểu Linh Đồng từng sang Việt Nam và đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

dien-vien-dong-ton-ngo-khong-luon-luu-giu-di-anh-bac-ho a3
Bài viết trên trang cá nhân của Lục Tiểu Linh Đồng
vào năm 2011 có tên Mãi mãi Bác Hồ

dien-vien-dong-ton-ngo-khong-luon-luu-giu-di-anh-bac-ho a4

Những hình ảnh của Bác Hồ được Lục Tiểu Linh Đồng lưu giữ

Theo tintuc.trongngay.net
Kim Yến (st)