Mối quan hệ giữa toàn cầu hoá kinh tế và dân chủ hoá trong quan hệ quốc tế hiện nay

Toàn cầu hoá kinh tế (TCH KT) thực chất là một quá trình quốc tế hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất, nhờ những thành tựu kỳ diệu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin trên phạm vi toàn cầu.

Như vậy có thể nói, TCH KT là bước tiến bộ vượt bậc của văn minh loài người, là xu thế khách quan của thời đại, tạo cho các quốc gia-dân tộc những cơ hội, điều kiện thuận lợi mới vô cùng quan trọng cho việc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tham gia hội nhập vào quá trình TCH KT đã trở thành yêu cầu cấp thiết cho sự tồn tại và phát triển của các nước. Nhưng quá trình TCH KT đang diễn ra hiện nay, khi mà trình độ phát triển của các nước rất không đồng đều, một số nước tư bản phát triển, đứng đầu là Mỹ do có ưu thế gần như tuyệt đối về kinh tế, về khoa học-công nghệ, nên đang nắm giữ vai trò chủ đạo, thao túng, chi phối ”luật chơi”, biến TCH KT thành “sân chơi” bất bình đẳng, bất công, chứa đựng thiều thách thức, nguy cơ đến sự an nguy và tồn vong cho các nước, nhất là các nước đang phát triển và chậm phát triển. Sự bất bình đẳng và bất công trước tiên phải kể đến là sự bất bình đẳng về lợi ích mà các nước được hưởng nhờ TCH KT đem lại thể hiện rất rõ ở tình trạng phân hoá ngày càng sâu sác về mức sống và điều kiện sống giữa các tầng lớp người ở các nước, các khu vực và trên toàn thế giới. Theo báo cáo của các cơ quan của Liên hợp quốc (LHQ) và kể cả của Ngân hàng Thế giới (WB), của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) thì trong những thập kỷ gần đây, tình trạng phân hoá giầu nghèo trên thế giới đang có chiều hướng ngày càng tăng. Nếu như tỷ lệ chênh lệch giữa thu nhập của 5% số người giầu nhất và 5% số người nghèo nhất năm 1960 là 3011, năm 1990 là 6011, thì hiện nay tỷ lệ đó là khoảng trên 8011. Các nước công nghiệp phát triển với 20% dân số thế giới hiện chiếm giữ 80% GDP toàn cầu, trong khi đó các nước nghèo nhất cũng chiếm 20% dân số thế giới chỉ được hưởng có 1% GDP của thế giới. Như vậy rõ ràng hoàn toàn không phải như luận thuyết mà một số học giả phương Tây cho rằng, trong TCH KT, ”các bên cùng thắng”, ”tất cả cùng thắng”, mà TCH KT hiện nay (do một số nước tư bản phương Tây chi phối), chỉ đem lại cho một số nước giầu, một số nước tư bản phát triển những khoản lợi nhuận khổng lồ, còn số đông các nước còn lại, nhất là các nước đang phát triển, chậm phát triển được hưởng phần lợi ích rất nhỏ, không đáng kể; thậm chí một số nước nghèo còn bị loại ra rìa của quá trình TCH KT. Nghĩa là trên thế giới hiện nay, chỉ có một nhóm người được hưởng những điều kiện của cuộc sống văn minh hiện đại do TCH KT đem lại, còn tuyệt đại đa số nhân dân đang phải sống trong tình cảnh nghèo nàn, lạc hậu. Một thống kê mới đây của LHQ cho thấy, trên toàn thế giới hiện có trên 1 tỷ người nghèo, trong đó hơn 800 triệu người thiếu ăn và hằng năm có khoảng 80 triệu người chết đói. Tình trạng phân hoá giầu nghèo cũng diễn ra sâu sắc ở ngay trong những nước tư bản phát triển nhất. Ở những nước này, bên cạnh tầng lớp giầu có được đặc quyền, đặc lợi, sống trong dư thừa với những điều kiện đảm bảo tốt nhất, văn minh nhất (tất nhiên tầng lớp này chiếm số ít), cũng đang tồn tại những tầng lớp người nghèo khổ, sống ”dưới đáy” xã hội, mà người ta thường dè bỉu, gọi mỉa mai đó là ”thế giới thứ tư”.

Đói nghèo đã trở thành vấn nạn nhức nhối trên toàn cầu cộng đồng quốc tế, đứng đầu là LHQ đã có rất nhiều nỗ lực, nhưng xem ra cuộc chiến chống đói nghèo vẫn còn là cuộc chiến lâu đài và vô cùng nan giải. Tình trạng đói nghèo trên thế giới càng bị trầm trọng thêm, khi sức ép mở cửa thị trường, tự do hoá thương mại trong quá trình TCH KT, có nguy cơ biến các nước đang phát triển, chậm phát triển thành thị trường lệ thuộc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, nguy hiểm hơn là trở thành ”các bãi rác” thải công nghiệp cho các nước công nghiệp phát triển. Bất công hơn nữa, các nước đang phát triển và chậm phát triển còn phải hứng chịu những hậu quả xấu từ sự suy thoái, xuống cấp của môi trường sinh thái, dịch bệnh, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do lượng khí thải độc hại từ các nhà máy của các nước công nghiệp phát triển gây ra, mà không hề được quan tâm đến hay được đền bù thoả đáng. Và tất nhiên do trình độ kém phát triển nên việc giải quyết các hậu quả kể trên đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển cũng khó khăn hơn rất nhiều so với các nước phát triển. Nhiều quốc gia châu Phi hiện đang bất lực trước sự hoành hành của nạn dịch bệnh AIDS, sự suy kiệt nguồn nước sạch và tình trạng sa mạc hoá.

TCH KT trong điều kiện các nước tư bản phát triển nắm giữ ưu thế chủ đạo không những không thể giải quyết được mà đang làm cho tình trạng đói nghèo trên thế giới thêm sâu sắc, khoảng cách giầu nghèo ngày càng lớn hơn, mà người phải hứng chịu những hậu quả đáng buồn này tất nhiên không phải ai khác, chính là nhân dân các nước nghèo, các nước đang phát triển, chậm phát triển. Thêm vào đó, quá trình TCH KT này cũng đang đặt quyền về chủ quyền quốc gia, về quyền tự quyết dân tộc của các nước đang phát triển và chậm phát triển trước những thách thức mới to lớn không thể xem thường. Dưới sức ép của chủ nghĩa tự do mới -một biến tướng của CNTB hiện đại- trong TCH KT với nội dung cốt lõi là tư nhân hoá triệt để, thị trường tự do phi điều tiết, lại trong điều kiện tiềm lực và sức cạnh tranh yếu kém, có nguy cơ đẩy các nước đang phát triển và chậm phát triển thành thị trường lệ thuộc vào vốn đầu tư, nguồn tài chính của nước ngoài; nghiêm trọng hơn, trở thành những con nợ của các nước tư bản phát triển. Sự phụ thuộc về kinh tế không thể không dẫn đến sự phụ thuộc về chính trị và các mặt khác. Nhiều người gọi đây là hình thức xâm lược mới (”xâm lược mềm”) của các nước tư bản phát triển đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển trong thời kỳ TCH KT. Đặc trưng của hình thức bị ”xâm lược mềm” là, quốc gia về danh nghĩa vẫn còn biên giới lãnh thổ, nhưng thực chất độc lập tự chủ thì không còn, quốc gia-dân tộc không còn quyền tự quyết định vận mệnh tương lai của mình. Các nước đang phát triển và chậm phát triển cũng có thể bị ”thua tại sân nhà” bởi sự thâm nhập của các nền văn hoá ngoại lai không lành mạnh thông qua mở cửa thị trường, tự do hoá thương mại, làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, làm hư hỏng tầng lớp thanh, thiếu niên- những người làm chủ tương lai của đất nước, nếu như trong quá trình hội nhập không chú trọng giáo dục lòng yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực tự cường, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc mình.

Cuộc “xâm lược mềm” của các nước tư bản phát triển đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển diễn ra lâu dài thầm lắng, luồn sâu, bám chắc vào mọi mặt đời sống, mọi tầng lớp xã hội; chiến tuyến và đối tượng đều không rõ ràng, khó nhận biết. Chính vì thế nên tính chất của “xâm lước mềm” vô cùng nguy hiểm. Tuy nhiên, các nước đang phát triển và chậm phát triển còn phải đối mặt với mối đe dọa lớn hơn là bị một số nước tư bản phương Tây can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ, dựa trên luận thuyết mới của CNTB trong thời kỳ mà họ gọi là ”ngôi làng toàn cầu”, là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, ”nhân quyền không biên giới”. Các nước tư bản phương Tây này còn trắng trợn đòi được quyền tiến công vào bên trong lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền để thực hiện cái gọi là can thiệp ”nhân đạo”, bảo vệ nhân quyền và giải tỏa tai họa. Nhân quyền được đề cập đến ở luận thuyết này tất nhiên là nhân quyền của phương Tây và cứ theo luận thuyết này thì bất cứ nước nào, quốc gia nào không theo, không thực hiện dân chủ theo giá trị của phương Tây thì đều có thể bị họ dùng sức mạnh kinh tế, chính trị, thậm chí dùng sức mạnh quân sự tiến công, do đó họ đã chà đạp lên quyền tự do dân chủ của nhiều quốc gia, dân tộc.

Đối với nhân loại, TCH KT trong điều kiện các nước tư bản phát triển đang thao túng đã thực sự là cuộc đấu tranh và dân chủ, nhân quyền là một mặt trận trọng yếu. Các hội nghị nhân quyền thế giới tổ chức những năm gần đây đều nhất trí cho rằng, việc thực hiện nhân quyền phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, cũng như nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Đây là điều kiện đầu tiên và cũng là điều kiện tiên quyết của nhân quyền. Không có chủ quyền quốc gia thì cũng không có nhân quyền. Việc bảo đảm nhân quyền liên quan đến hoàn cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi nước. Nghĩa là, các nước căn cứ vào đặc thù về kinh tế, chính trị-xã hội, về truyền thống văn hoá của đất nước mình để hiện thực hoá các giá trị phổ biến của nhân quyền. Các nước đều có quyền tự quyết định chế độ chính trị, kiểm soát và tự do sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tự do theo đuổi đường lối phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá của mình. Các quyền của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ của cá nhân đó đối với đất nước, nhân dân và nhà nước của họ. Đồng thời, cũng chỉ rõ, nhân quyền của phương Tây, mà theo đó quyền con người chỉ tồn tại với ý nghĩa là quyền tự do cá nhân, tuyệt đối ”thờ phụng” tự do cá nhân trong mọi điều kiện, ở mọi khu vực, và quyền tự quyết chỉ tồn tại với ý nghĩa là quyền tự quyết của một nhóm người, là không thể đại diện cho tính phổ biến của nhân quyền trên thế giới và việc phương Tây cố tình áp đặt giá trị nhân quyền của họ đối với các nước là một trong những nguyên nhân làm bùng phát những xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo hiện nay trên thế giới.

TCH KT trong điều kiện các nước tư bản phương Tây đang chi phối, thao túng và dân chủ, nhân quyền phương Tây mà họ đang rêu rao không nhằm mục tiêu nào khác là thực hiện bằng được TCH CNTB. Ở đây cần nhận thức sâu sắc rằng, tham vọng TCH CNTB sẽ không bao giờ trở thành hiện thực, bởi chính những mâu thuẫn của CNTB được TCH tạo ra ngày càng trở nên gay gắt trên quy mô thế giới, dẫn đến TCH cuộc đấu tranh chống tư bản lũng đoạn quốc tế. Hơn nữa, chính ”chủ nghĩa tư bản (cũng) chống chủ nghĩa tư bản” quyết liệt trên thương trường, điều này sẽ ngăn cản khả năng nhất thể hoá thế giới theo hướng TBCN. Những năm qua, phong trào chống TCH KT TBCN, với tư cách một lực lượng chính trị trên vũ đài chính trị thế giới, đang ngày càng phát triển, hoạt động với nhiều hình thức và nội dung đa dạng, phong phú, hiệu quả. Hẳn mọi người đều nhớ hàng trăm cuộc biểu tình, tuần hành rầm rộ với sự tham gia của hàng chục vạn người nổ ra mới đây ở Niu Y-oóc, ở Oa-sinh-tơn (Mỹ), ở Luân Đôn (Anh) và ở nhiều thành phố lớn khác trên thế giới, phản đối mưu đồ, thủ đoạn của CNTB, CNĐQ lợi dụng TCH KT để thống thị thế giới, đang làm thế giới trở nên bất công, bất bình đẳng, mất dân chủ và mất ổn định. Trong hội nhập quốc tế, các nước thực hiện chính sách hội nhập kinh tế với những lộ trình, bước đi phù hợp với khả năng và yêu cầu của đất nước, trên cơ sở phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của quốc gia, hội nhập kinh tế gắn liền với giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, gắn liền với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đồng thời tăng cường mở rộng hợp tác khu vực, liên khu vực, quốc tế trong cuộc đấu tranh cho một TCH KT chân chính, mà trong đó mọi quốc gia-dân tộc đều có quyền độc lập tự chủ, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, tự quyết định chế độ chính trị-xã hội của mình, có quan hệ bình đẳng và tiếng nói ngang nhau trong giải quyết các vấn đề quốc tế, vì mục tiêu chung xây đựng một thế giới hoà bình, ổn định, dân chủ hợp tác và phát triển.

Theo Đồng Đức, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 11/2004