Luôn tự học tập, tự rèn luyện

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ luôn luôn nêu cao tinh thần tự học tập, tự rèn luyện. Người nói: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình”.

Theo Bác, mỗi cán bộ, đảng viên phải hiểu rõ mục đích học tập để xác định động cơ học tập cho đúng đắn “Học để làm gì? Học để sửa chữa tư tưởng… Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng… Học để tin tưởng… Học để hành”. Bản thân Người luôn xác định cho mình mục đích học tập là tìm con đường cứu nước, cứu dân, làm cho Tổ quốc được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc ai cũng được học hành, ai cũng được hạnh phúc.

Để nâng cao kiến thức, Bác chỉ rõ, mỗi người cần biết cách tận dụng triệt để những điều kiện, phương tiện để học tập. Theo phương châm: Học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, trong việc lớn cũng như trong việc nhỏ, khi thành công cũng như khi thất bại. Người chỉ rõ: “Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”. Theo Người, thực tế là một trường học sinh động, là nơi để “hành” những cái đã học. Đó chính là học phải đi đôi với hành để áp dụng những kiến thức đã học vào công việc. Học mà không làm được thì học mấy cũng vô ích.

Học tập tấm gương tự học tập, rèn luyện của Bác Hồ, mỗi chúng ta tự nhận thức sâu sắc rằng phải tự học tập với thái độ nghiêm túc, tự học hỏi, với tinh thần, thái độ “Học thật, kiến thức thật” để ngày càng nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó.

Thường Văn
baobinhdinh.com.vn

Loại trừ “kẻ địch ở trong lòng”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng và người cách mạng có ba kẻ thù phải đương đầu và phải chiến thắng; đó là chủ nghĩa tư sản và bọn đế quốc, thói quen và truyền thống lạc hậu, chủ nghĩa cá nhân. Trong đó, chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm”, là “kẻ địch ở trong lòng”.

Trong bài viết: Chủ nghĩa cá nhân (năm 1948) Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra các bệnh tật của chủ nghĩa cá nhân được biểu hiện như sau: “Ngày thường, thì kỷ luật kém. Khi có vấn đề nghiêm trọng, thì hoang mang. Lúc tính toán công việc, thì đặt lợi ích của cá nhân mình, của nhóm mình lên trên lợi ích chung. Bệnh ấy dễ đưa đến chỗ trái kỷ luật, trái lợi ích của dân tộc”.

Người coi chủ nghĩa cá nhân là bệnh chính, là thứ “vi trùng” sinh ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm khác. Đó là bệnh quan liêu, bệnh tham nhũng, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, bệnh “hữu danh, vô thực”, bệnh cận thị – không trông xa, thấy rộng, bệnh tị nạnh, bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh.

Do đó, theo Bác muốn tẩy sạch bệnh ấy “cần phải nâng cao trình độ giác ngộ của mình, phải học theo cái tinh thần kiên quyết, dũng cảm, hy sinh của nhân dân và của chiến sĩ”, phải “thực hành tự phê bình và phê bình đồng sự mình. Phê bình một cách thiết thực mà thân ái. Phê bình từ cấp trên xuống và từ cấp dưới lên. Phê bình nhau và giúp nhau sửa chữa”. Đối với cán bộ, đảng viên: “Phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết” và “Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải vào sâu dân chúng, vào sâu bộ đội. Hỏi ý kiến và hỏi sáng kiến của quần chúng. Gom góp kinh nghiệm của quần chúng để giải quyết các vấn đề, và trao đổi những kinh nghiệm mới cho cơ quan khác, địa phương khác”.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước ta đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong hệ thống chính trị. Để cuộc đấu tranh đạt kết quả mong muốn, trước hết phải bắt đầu từ phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Vì chủ nghĩa cá nhân sinh ra bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Duy Ngôn
baobinhdinh.com.vn

“Đoàn kết là then chốt của mọi thành công”

Quảng trường Ba Đình trong Lễ Tuyên ngôn độc lập (ngày 2-9-1945). Ảnh tư liệu

Những ngày này cách đây 66 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân ta triệu người như một nhất tề đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Cách mạng Tháng Tám thành công để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu và vẫn nóng hổi tính thời sự trong cuộc sống hôm nay, trong đó bài học về khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy nguồn sức mạnh vô định của khối đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khái quát: ”Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Xuất phát từ quan điểm đó, Người chỉ rõ: Việc cứu nước, giải phóng dân tộc là việc chung của toàn dân, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm, người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Thực tiễn lịch sử cũng chứng minh sinh động rằng, có Đảng tuyên truyền, giác ngộ và tổ chức tập dượt đấu tranh từ thấp đến cao, nhân dân ta từ miền xuôi đến miền ngược đã kết thành khối sức mạnh tổng hợp vô cùng to lớn tiến lên làm cuộc cách mạng Tháng Tám thành công, tiếp đó giành thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Bước vào công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng ta không ngừng chăm lo khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm huy động tối đa các nguồn lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Quá trình đổi mới đã khẳng định: Có đường lối đúng, đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, nhân dân ta đã hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, nhờ đó bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước đổi thay nhanh chóng, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, thế và lực của nước ta ngày một nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được sau 25 năm đổi mới là tình trạng quan liêu, tham nhũng, hách dịch, cửa quyền, xa dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên chậm được khắc phục. Thêm vào đó là khoảng cách giàu, nghèo trong xã hội ngày càng giãn ra, đời sống nhân dân nhất là ở nông thôn, miền núi và vùng căn cứ cách mạng năm xưa còn nhiều khó khăn đã và đang tác động không tốt đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tế cũng cho thấy nơi nào khối đại đoàn kết thiếu sự chăm lo củng cố, phát huy thì nơi đó tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có diễn biến phức tạp, kinh tế – xã hội chậm phát triển; đơn vị, địa phương nào có sự đoàn kết thống nhất cao, lòng dân đồng thuận thì tình hình kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phong đều có chuyển biến tiến bộ.

Tình hình trên đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt hơn tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu với cả thời cơ và thách thức đan xen, bởi theo Người: ”Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của mọi thành công”.

Ngân Giang
baobacgiang.com.vn

Phát huy tính kiên trung cách mạng của những người Cộng sản

(ĐCSVN) – Cả nước ta đang bước vào những ngày sôi nổi kỷ niệm lần thứ 67 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Cũng dịp này, toàn Đảng, toàn dân ta đang bước vào một đợt sinh hoạt chính trị lớn để thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng không ngoài mục đích là phát huy tính cách mạng kiên cường từ 67 năm trước, thể hiện tính kiên trung cách mạng của những người Cộng sản, của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu sáng lập và rèn luyện.

Nhân dân Hà Nội chiếm Bắc Bộ phủ ngày 19/8/1945. (Ảnh tư liệu)

67 năm qua từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công 19/8/1945 đến ngày Quốc khánh 2/9/1945, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một chính quyền dân chủ nhân dân đầu tiên do những người Cộng sản lãnh đạo trải qua bao thăng trầm, phải chiến đấu với thù trong, giặc ngoài, giặc đói, giặc dốt… Cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, xâm lược Mỹ kéo dài suốt 30 năm.

Không tính từ ngày Đảng ta được thành lập cách đây 82 năm (3/2/1930), những đảng viên Cộng sản đã vào sống ra chết để bảo vệ Đảng, nắm quần chúng để làm cách mạng “long trời lở đất” năm 1945. Khi cách mạng đã thành công, Đảng đã cầm quyền thì khó khăn càng gấp bội. Như vậy, tính kiên trung, bất khuất của những người Cộng sản cũng phải gấp bội. Mà đức tính kiên trung, bất khuất đó không gì ngoài tinh thần một lòng vì Đảng, vì dân.

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám thành công cũng là dịp ôn lại cuộc chiến đấu của thế hệ những người Cộng sản đã qua 82 năm kiên cường dùng cả trí và lực để cùng toàn dân giành và giữ vững chính quyền nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Từ một nước chưa có tên trên bản đồ thế giới, ngày nay, nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã có vị thế lớn trên thế giới, được bạn bè năm châu nể trọng. Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam anh hùng. Chúng ta tự hào vì những người Cộng sản Việt Nam đã và đang hoàn thành trọng trách được nhân dân giao phó, mãi mãi đi theo con đường mà Bác Hồ kính yêu, người Cộng sản số một của Việt Nam, vị lãnh tụ của Đảng, của dân tộc đã chọn. Không sự tuyên dương nào bằng được nhân dân công nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”, Đảng của chính họ.

Đất nước bước vào giai đoạn lịch sử mới. Hơn 20 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới của Đảng, đất nước ta đạt nhiều thành tựu mới cả trong kinh tế, khoa học kỹ thuật, đối ngoại, an ninh quốc phòng… Vị thế đất nước trên trường quốc tế càng cao, sự tín nhiệm của quần chúng càng lớn thì vai trò của cán bộ, đảng viên càng nặng nề. Không thể vì một số cán bộ, đảng viên các cấp thoái hóa, biến chất mà để quần chúng giảm lòng tin. Chính vì lẽ đó mà tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), Ban Chấp hành Trung ương đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Trong tháng Tám lịch sử này, Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị toàn quốc về việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Toàn Đảng, toàn dân đang bước vào thời điểm rất thiêng liêng và hệ trọng, đang làm những việc rất thiêng liêng và hệ trọng. Mỗi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm rất lớn với đất nước, dân tộc, đối với Đảng nhưng vì thế mà phải phát huy đầy đủ tinh thần trách nhiệm để làm tốt công việc này. Đây là thời điểm phải hết sức tỉnh táo, bình tĩnh, vững vàng, thể hiện cho được bản lĩnh, phẩm chất tốt đẹp của người Cộng sản, của người Đảng viên Cộng sản chân chính của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện”.

Tự phê bình và phê bình để nâng cao sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng mạnh lên, tăng lòng tin đối với dân cũng tức là phát huy tính kiên trung cách mạng của những người Cộng sản. Đó là hành động thiết thực nhất để kỷ niệm lần thứ 67 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, bởi vì có làm tốt việc này thì thành quả Cách mạng Tháng Tám càng được khẳng định và trường tồn./.

Thanh Phong
cpv.org.vn

Hựu nhất cá… – Lại một người nữa…

HỰU NHẤT CÁ…

Di, Tề bất thực Chu triều túc,

Đổ phạm bất ngật công gia chúc;

Di, Tề ngã tử Thú Dương sơn,

Đổ phạm ngã tử công gia ngục.

LẠI MỘT NGƯỜI NỮA…

Bá Di, Thúc Tề không ǎn thóc nhà Chu,

Người tù cờ bạc không ǎn cháo nhà nước;

Bá Di, Thúc Tề chết đói trên núi Thú Dương,

Người tù cờ bạc chết đói trong ngục nhà nước.

——————–

Di, Tề chẳng ǎn gạo nhà Chu,

Tù bạc chẳng ǎn cháo nhà nước;

Di, Tề chết đói ngàn Thú Dương,

Tù bạc chết đói trong nhà ngục.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Cấm yên (Chỉ yên đích) – Cấm hút thuốc (Thuốc lá)

CẤM YÊN
(Chỉ yên đích)

Yên cấm thử gian hẩn lệ hại,

Nhĩ yên kiểu nhập tha yên bao;

Đương nhiên tha khả xuy yên đẩu,

Nhĩ nhược xuy yên, phạt thủ liêu.

(Tha: ngục đinh dã)

CẤM HÚT THUỐC
(Thuốc lá)

Ở đây lệnh cấm hút thuốc rất gắt gao,

Thuốc của anh phải nộp vào túi thuốc của nó;

Đương nhiên, nó có thể hút thuốc bằng tẩu,

Nhưng nếu anh hút, bị phạt còng tay.

(Nó: lính ngục)

Hút thuốc nơi này cấm gắt gao,

Thuốc anh nó tịch, bỏ vào bao;

Nó thì kéo tẩu tha hồ hút,

Anh hút, còng đây, tay ghé vào.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Dạ bán vǎn khốc phu – Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng

DẠ BÁN VĂN KHỐC PHU

Ô hô phu quân, hề phu quân!

Hà cố phu quân cự khí trần?

Sử thiếp tòng kim hà xứ kiến,

Thập phần tâm hợp ý đầu nhân.

NỬA ĐÊM NGHE TIẾNG KHÓC CHỒNG

Than ôi! Chàng hỡi chàng!

Cớ sao chàng vội lìa bỏ cõi đời?

Khiến cho thiếp từ nay biết tìm đâu thấy,

Người bạn đời mười phần tâm đầu ý hợp!

—————————-

Hỡi ôi, chàng hỡi, hỡi chàng ơi!

Cơ sự vì sao vội lánh đời?

Để thiếp từ nay đâu thấy được,

Con người tâm ý hợp mười mươi.

NGUYỄN SĨ LÂM dịch
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám – thắng lợi của đường lối chiến lược, sách lược chủ động và sáng tạo của Đảng

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới do giai cấp công nhân lãnh đạo giành được thắng lợi, góp phần cùng Đồng minh dân chủ quốc tế đánh bại chủ nghĩa phát-xít, kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, đem lại hòa bình cho toàn thể nhân loại. Cách mạng Tháng Tám còn góp phần tích cực vào phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến Cách mạng Tháng Tám thành công là do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đứng trên lập trường giai cấp công nhân, vận dụng một cách sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh Việt Nam, nêu cao ngọn cờ độc lập dân tộc, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc và dũng khí đấu tranh anh hùng, bất khuất của nhân dân Việt Nam. Nói cách khác, là do Đảng ta đã biết kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn tính giai cấp với tính dân tộc của cuộc cách mạng.

Do chưa nhận thức được tính tất yếu trong mối quan hệ giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc của Cách mạng Tháng Tám nên một số học giả nước ngoài đã không thấy hết vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng, cuộc cách mạng này nổ ra là do có “sự ăn may”, do lúc đó ở Đông Dương có “khoảng trống quyền lực” (Pháp chạy, Nhật hàng, quân Đồng minh chưa tới) nên Việt Minh mới dễ dàng giành thắng lợi. Một sự thật hiển nhiên mà nhiều nhà khoa học đã chứng minh là, trong hơn 80 năm đấu tranh chống thực dân Pháp, hàng chục cuộc đấu tranh vũ trang oanh liệt của nhân dân Việt Nam nổ ra nhưng vẫn chưa giành được thắng lợi. Nguyên nhân chủ yếu là do các cuộc đấu tranh đó chưa có một giai cấp tiền phong lãnh đạo, chưa có lý luận cách mạng soi đường, cũng như chưa có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, đủ sức giành thắng lợi trước những kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát-xít. Nhưng, còn một sự thật lịch sử nữa phải được làm rõ là, muốn đưa cách mạng đến thành công, không chỉ cần có một Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo mà còn cần có một đảng biết vượt qua bao thử thách, gay go, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm, rút ra những bài học kinh nghiệm để từng bước hoàn thiện đường lối chiến lược và sách lược. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác nhận, để đi đến thành công của Cách mạng Tháng Tám, Đảng phải trải qua ba cuộc vận động cách mạng khó khăn, gian khổ. Đó là:

– Cuộc vận động những năm (1930 – 1935), mà đỉnh cao là phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), tiếp theo là giai đoạn khủng bố trắng và thoái trào cách mạng (1932 – 1935).

– Cuộc vận động những năm (1936 – 1939), với cao trào Mặt trận Dân chủ năm 1938, Đảng lại phải vượt qua tổn thất do cuộc khủng bố của địch gây ra để đi tiếp chặng đường mới.

– Cuộc vận động những năm (1939 – 1945), Đảng đã sáng suốt phát triển cả lực lượng chính trị lẫn lực lượng vũ trang, dấy lên cao trào tiền khởi nghĩa, chủ động nắm bắt thời cơ mới để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Chính nhờ trải qua ba cuộc vận động đó, Đảng từng bước hoàn thiện đường lối chiến lược và sách lược. Điều đó biểu hiện ở một số vấn đề cơ bản sau:

1. Từ chỗ tiến hành song song hai nhiệm vụ phản đế và phản phong, đến chỗ xác định rõ nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc.

Đây là cả một chặng đường chuyển biến nhận thức, đổi mới tư duy không đơn giản. Luận cương chính trị của Đảng tháng 10 năm 1930 nêu rõ: “Sự cốt yếu của tư sản dân quyền cách mạng thì một mặt là phải tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bổn và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để, một mặt nữa là tranh đấu để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai mặt tranh đấu có liên lạc mật thiết với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa”. Phong trào đấu tranh của quần chúng năm 1930 – 1931 cũng nổi lên với khẩu hiệu “Đả thực, bài phong”, không chỉ chống đế quốc xâm lược mà còn đả đảo cả “Trí, phú, địa, hào”.

Chuyển sang thời kỳ những năm 1936 – 1939, trước nguy cơ phát-xít, Đảng thành lậpMặt trận Dân chủ Đông Dương nhằm kết hợp đấu tranh dân tộc với đấu tranh dân chủ để chống phát-xít. Điều đó bước đầu tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân, biểu hiện ở cuộc mít tinh đồ sộ với hơn hai vạn người tham dự ở nhà Đấu xảo Hà Nội, ngày 1/5/1938.

Đến giữa năm 1939, cuộc chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ, các nước đế quốc xâu xé lẫn nhau, thời cơ giải phóng dân tộc sẽ đến, Đảng thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm thời hạ thấp khẩu hiệu phản phong. Tại Hội nghị Trung ương 6, họp từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 11 năm 1939, Đảng ta chỉ rõ: “Cách mệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền. Không giải quyết được cách mệnh điền địa thì không giải quyết được cách mệnh phản đế. Trái lại không giải quyết được cách mệnh phản đế thì không giải quyết được cách mệnh điền địa… Hiện nay tình hình có đổi mới. Đế quốc chiến tranh, khủng hoảng cùng với ách thống trị phát-xít thuộc địa đã đưa vấn đề dân tộc thành một vấn đề khẩn cấp rất quan trọng. Đám đông trung tiểu địa chủ và tư sản bổn xứ cũng căm tức đế quốc. Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”(2). Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, một làn sóng cách mạng phản đế đã dấy lên, tiêu biểu là ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, làm rung động bộ máy thực dân.

Tháng 6 năm 1941, Liên Xô tuyên chiến với Đức. Sau đó, Đồng Minh quốc tế chống phát-xít gồm Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ ra đời. Ở Việt Nam, thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần. Đầu năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, chỉ đạo Hội nghị Trung ương 8 (họp ở Pắc Bó, Cao Bằng). Tại Hội nghị này, Đảng đã hoàn thiện thêm một bước nữa việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thay khẩu hiệu “Phản đế” (của Hội nghị Trung ương 6) hay “Phản đế cứu quốc” (của Hội nghị Trung ương 7) bằng khẩu hiệu “Cứu quốc”. Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Chính sách của Đảng ta hiện nay là chính sách cứu quốc, cho nên mục đích của các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu quốc là cốt yếu… Công hội từ nay lấy tên là Công nhân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy những người thợ Việt Nam muốn tranh đấu đánh Pháp – Nhật, lại có thể thu nạp hết cả những hạng cai ký, đốc công trong xưởng mà những công hội trước kia không hề tổ chức. Nông hội từ nay gọi là Việt Nam Nông dân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy nông dân đến cả hạng phú nông, địa chủ muốn tranh đấu đuổi Pháp – Nhật”. Đồng thời, Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương chuyển thành ba mặt trận “cứu quốc” của ba dân tộc Việt, Miên, Lào.

Ở Việt Nam, Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh (tức Mặt trận cứu quốc, gọi tắt là Việt Minh) ra đời. Các đoàn thể cứu quốc phát triển rộng khắp cả ba kỳ. Ngoài Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, còn có Quân nhân (hay binh sỹ, du kích) cứu quốc, Thương gia cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu vong… Như vậy, chiến lược cách mạng ngày càng được hoàn thiện và luôn đi đôi với những sách lược cách mạng mềm dẻo, thêm bạn bớt thù (như thu hút cả cai ký, đốc công, phú nông, địa chủ chống Pháp – Nhật vào Mặt trận cứu quốc). Chiến lược, sách lược đó phù hợp với yêu cầu cách mạng và nguyện vọng của quần chúng nhân dân, được cụ thể hoá trong Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh. Qua nhiều con đường bí mật và bán công khai, Chương trình thâm nhập vào đại chúng, tạo nên Cao trào tiền khởi nghĩa rộng lớn, rồi dẫn đến Tổng khởi nghĩa thành công (chứ không phải đó chỉ là phong trào “tự phát” của quần chúng như có người đã nói).

2. Thực thi quyền dân tộc tự quyết của ba nước Đông Dương

Quyền dân tộc tự quyết là vấn đề quan trọng trong chiến lược cách mạng và trong quan hệ quốc tế. Từ lâu, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ vấn đề quyền dân tộc tự quyết. Bởi vậy, trong Chương trình tóm tắt của Đảng năm 1930, Người đã nhân danh Đảng Cộng sản Việt Nam công bố vấn đề này. Nhưng quyết định đó không sớm được chấp nhận. Từ Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, cho đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 tháng 11 năm 1940, Đảng vẫn khẳng định chỉ có một Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo cách mạng của cả ba nước Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao. Đến Hội nghị Trung ương 8, tháng 5 năm 1941, do Người chỉ đạo, Đảng mới quyết định thành lập ba Đảng với ba mặt trận của ba nước như trên đã nói. Nghị quyết Hội nghị khẳng định: “Chiến thuật hiện tại của Đảng ta là phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân (hơn hết là dân tộc Việt Nam)… Vậy mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay ở Việt Nam là Việt Nam Độc lập đồng minh, hay nói tắt là Việt Minh. Đảng ta và Việt Minh phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào tổ chức ra Cao Miên Độc lập đồng minh, Ai Lao Độc lập đồng minh để sau đó lập ra Đông Dương Độc lập đồng minh”. Kèm theo đó là các sách lược mềm dẻo của ba Đảng nhằm tranh thủ được nhiều nhân vật thuộc hoàng gia và thân sỹ yêu nước vào Mặt trận cứu quốc, góp thêm sức mạnh cho cách mạng. Với tinh thần dân tộc tự quyết, sự phát triển song song của cách mạng ba nước Đông Dương từ đó trở đi ngày càng thu được những thành tựu to lớn. Điều đó chứng tỏ, quyết sách chiến lược nói trên là đúng đắn và sáng suốt.

3. Bố trí thế trận cách mạng và sắp xếp lực lượng cách mạng phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử

Khi tình thế cách mạng có sự chuyển biến mau lẹ, đối tượng cách mạng luôn thay đổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng một cách xuất sắc lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào nhận thức xã hội Việt Nam để đề ra các quyết sách chiến lược đúng đắn. Đó là nhận thức rõ các mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu trong xã hội, xác định rõ kẻ thù chính, kẻ thù phụ và hậu bị quân của chúng để sắp xếp Tiền phong quân, Hậu bị quân trực tiếp, Hậu bị quân gián tiếp của cách mạng Việt Nam. Cụ thể, lúc đầu mũi nhọn của cách mạng chĩa vào thực dân xâm lược Pháp và tay sai phong kiến. Khi Nhật vào Việt Nam, Pháp làm tay sai cho Nhật, kẻ thù chủ yếu của cách mạng là Pháp – Nhật. Từ năm 1943 trở đi, Nhật ngày càng lấn chân Pháp ở Việt Nam, kẻ thù chủ yếu của cách mạng được xác định lại là Nhật – Pháp. Từ ngày 9/3/1945 (ngày Pháp đầu hàng Nhật) trở đi, kẻ thù chủ yếu của cách mạng chỉ còn là phát-xít Nhật và tay sai. Điều này có tầm quan trọng rất lớn trong việc bố trí thế trận cách mạng và lực lượng cách mạng Từ năm 1943, bên cạnh Mặt trận Việt Minh là lực lượng nòng cốt, Đảng còn thành lập Mặt trận Dân chủ chống phát-xít và tuyên bố gia nhập Đồng minh quốc tế chống phát-xít. Với sách lược này, ở trong nước có thể thu hút được các lực lượng dân chủ chống phát-xít, kể cả Ấn kiều, Pháp kiều, Hoa kiều; ở ngoài nước có thể coi Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc đều là bạn đồng minh. Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương họp từ ngày 25/2/1943  đến ngày 28/2/1943 khẳng định: “Từ Xô – Đức chiến tranh bùng nổ (22/6/1941), cuộc thế giới chiến tranh lần thứ hai này đã tiến lên giai đoạn mới và đã thay đổi tính chất. Nó không còn là đế quốc chủ nghĩa chiến tranh nữa, mà là chiến tranh phát-xít xâm lược và chống phát-xít xâm lược”. Vì vậy, “Muốn cho Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát-xít Nhật – Pháp có thêm vây cánh, chúng ta phải ra sức tìm kiếm các phái đảng chống phát-xít của người ngoại quốc ở Đông Dương và đề nghị với Việt Minh liên minh với họ theo tinh thần bình đẳng và tương trợ đặng chính thức thành lập Mặt trận dân chủ chống Nhật ở Đông Dương” (6). Sách lược này tạo nên thế chính nghĩa cho Việt Minh trong sự nghiệp kháng Nhật, cứu nước. Khi giành được chính quyền từ tay phát-xít Nhật, cách mạng Việt Nam đã có thế hợp pháp là đứng vào hàng ngũ Đồng minh chống phát-xít để ra Tuyên ngôn Độc lập và tiếp đón quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Pháp (Đờ Gôn) và Tàu (Tưởng) – thuộc hàng ngũ Đồng minh chống phát-xít, dù có ý đồ tái xâm lược Việt Nam cũng không thể phủ nhận được chân lý hiển nhiên này.

4. Thực thi phương châm chiến lược “kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang”, tiến từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa

Trong thế trận lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu địch mạnh, cách mạng Việt Nam vừa phát huy truyền thống vũ trang anh hùng, bất khuất của ông cha, vừa vận dụng hình thức đấu tranh chính trị của quần chúng. Hình thức này đã nảy sinh từ cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) và phong trào Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939). Đến cuộc vận động cách mạng những năm 1939 – 1945, hình thức đấu tranh chính trị được vận dụng một cách phổ biến trong đại chúng. Ngoài công, nông, còn vận động được cả tiểu thương, tiểu chủ, cai ký, đốc công… cùng tham gia chống độc tài, phát-xít. Năm 1945, phát-xít Nhật – Pháp tăng cường vơ vét lương thực cho chiến tranh, gây nên thảm họa 2 triệu người Việt Nam chết đói, Đảng đã phát động một cao trào đấu tranh kết hợp chính trị với vũ trang: Mít tinh, biểu tình đòi quyền sống, đi đôi với vũ trang phá kho thóc cứu đói, lập các căn cứ địa và các chiến khu cách mạng, tiến hành khởi nghĩa từng phần, thành lập chính quyền cách mạng địa phương, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc.

5. Nắm đúng thời cơ, kịp thời phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, ít phải đổ máu

Cách mạng Tháng Tám nổ ra thành công, ít phải đổ máu là do các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã đứng vững trên thế chủ động chiến lược. Đến nay, nhiều người mới rõ, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán: Năm 1945, cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam sẽ thành công. Chương trình cứu nước của Việt Minh ra đời từ Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 năm 1941), đã đến tay những chiến sỹ cách mạng ở các địa phương, kể cả sự truyền miệng qua các lao tù. Khi thời cơ đến, khắp nơi đều chủ động đứng lên giành chính quyền địa phương, như các chiến sỹ Ba Tơ đã nổi lên phá ngục tù, lập căn cứ địa cách mạng ngay sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945). Trong Cao trào tiền khởi nghĩa, nhiều xã, huyện và một số tỉnh đã giành được chính quyền trước ngày giành chính quyền ở Hà Nội. Phương châm chiến lược kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nắm đúng thời cơ để nổi dậy đã góp phần quyết định vào việc giành được chính quyền ít phải đổ máu. Đây là cả một cuộc đấu trí, đấu dũng của cách mạng Việt Nam với bọn đế quốc, phát-xít. Nếu cuộc khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, sẽ bị bọn phát-xít Nhật dập tắt; nếu nổ ra muộn hơn – khi quân Đồng minh, trong đó có Anh, Pháp và Tàu (Tưởng) vào, thì cũng gặp khó khăn. Việc Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam nhân danh là người đứng về phía Đồng minh chống phát-xít giành được quyền độc lập, đã nói lên tài vận dụng chiến lược của cách mạng Việt Nam: Nắm đúng thời cơ, nổi dậy kịp thời, giành được chính quyền.

Như trên đã chứng minh, mặc dù có thuận lợi khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan mới là nguyên nhân quyết định sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Đó là do có sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng. Nói cách khác, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối chiến lược, sách lược chủ động và sáng tạo của Đảng.

Theo GS Văn Tạo, Tạp chí Cộng sản
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Hoàng hôn – Hoàng hôn

HOÀNG HÔN

Phong như lợi kiếm ma sơn thạch,

Hàn tự tiêm phong thích thụ chi;

Viễn tự chung thanh thôi khách bộ,

Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy.

HOÀNG HÔN

Gió như gươm sắc mài đá núi,

Rét như giáo nhọn chích cành cây;

Tiếng chuông chùa xa giục bước chân khách,

Trẻ chǎn trâu thổi sáo dẫn trâu về.

———————–

Gió sắc tựa gươm mài đá núi,

Rét như dùi nhọn chích cành cây;

Chùa xa chuông giục người nhanh bước,

Trẻ dẫn trâu về tiếng sáo bay.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Công kim – Tiền công

CÔNG KIM

Chử nhất oa phạn lục mao tiền,

Nhất bồn khai thuỷ ngân nhất nguyên;

Nhất nguyên mãi vật đắc lục giác,

Ngục trung giá cách định chiêu nhiên.

TIỀN CÔNG

Thổi một nồi cơm phải sáu hào,

Một chậu nước sôi một đồng bạc;

Một đồng mua hàng chỉ đáng giá sáu hào,

Giá cả trong tù định rõ như thế!

————————-

Thổi một nồi cơm, trả sáu hào,

Nước sôi mỗi chậu, một đồng trao;

Một đồng của đáng sáu hào chỉ,

Giá cả trong tù định rõ sao!

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Thuỵ bất trước – Ngủ không được

THỤY BẤT TRƯỚC

Nhất canh … nhị canh… hựu tam canh,

Triển chuyển, bồi hồi, thụy bất thành;

Tứ, ngũ canh thì tài hợp nhãn,

Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh.

NGỦ KHÔNG ĐƯỢC

Canh một… canh hai… lại canh ba,

Trằn trọc bǎn khoǎn không ngủ được;

Canh tư, canh nǎm vừa chợp mắt,

Hồn mộng đã quẩn quanh nơi ngôi sao nǎm cánh.

———————————–

Một canh… hai canh… lại ba canh,

Trằn trọc bǎn khoǎn, giấc chẳng thành;

Canh bốn, canh nǎm vừa chợp mắt,

Sao vàng nǎm cánh mộng hồn quanh.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Canh một… canh hai… lại canh ba,

Trằn trọc, bǎn khoǎn, khó ngủ mà;

Canh bốn, canh nǎm vừa chợp mắt,

Sao vàng nǎm cánh quyện hồn ta.

XUÂN THỦY dịch
cpv.org.vn

Ức hữu – nhớ bạn

ỨC HỮU

Tích quân tống ngã chí giang tân,

Vấn ngã quy kỳ, chỉ cốc tân;

Hiện tại tân điền dĩ lê hảo,

Tha hương ngã tác ngục trung nhân.

NHỚ BẠN

Ngày nào anh tiễn tôi đến bến sông,

Hỏi tôi ngày về, trỏ mùa lúa mới;

Đến nay ruộng lại đã cày xong hết rồi,

Nơi đất khách, tôi thành người trong tù.

——————————–

Ngày đi bạn tiễn đến bên sông,

Hẹn bạn về khi lúa đỏ đồng;

Nay gặt đã xong, cày đã khắp,

Quê người, tôi vẫn chốn lao lung.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn