Người chụp bức ảnh lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập

Sáng tháng 8 trải nắng vàng, tôi đến thăm ông Nguyễn Dung ở 18 Nam Ngư để hưởng cái thú ngắm lại bức ảnh lịch sử “Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên Lễ đài Ba Đình” được phóng thành khổ lớn, lồng khung kính, treo trên tường.

Bac Ho trong nhung ngay thang 8 lịch su

Đây là tấm ảnh kỷ niệm không thể quên của đời ông và bạn bè, những thanh niên Hà Nội trẻ măng trước Tổng khởi nghĩa là đội viên Đội Thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu (tên Hà Nội thời ấy) và ngày 19 tháng 8 là lực lượng xung kích cùng làn sóng nhân dân đánh chiếm Phủ Khâm Sai, Trại Bảo an binh, Sở Liêm phóng, nhà tù Hỏa Lò, Nhà Tiền… từ tay phát xít Nhật và chính quyền bù nhìn, sau đó tham gia lực lượng Công an nhân dân.

Ngày Độc lập 2-9-1945, theo lệnh của trên, ông dẫn chừng hai chục trinh sát đi bảo vệ Lễ đài Ba Đình. Già nửa thế kỷ trôi qua, thấm thoắt, ông Dung đã ở tuổi 82, mái tóc bạc trắng, đi lại khó khăn, phải chống batoong. Không ngờ, ba năm sau ông đã vội ra đi.

Nhìn bức ảnh đẹp, rõ đến từng chi tiết của ông bạn thân tặng, tôi càng thấy cái tài của GS, KTS Ngô Huy Quỳnh với thời gian cho phép chỉ có 15 giờ đồng hồ đã nghĩ cách thiết kế và thi công lễ đài bằng gỗ, trang trí bằng vải để tạo dáng kiến trúc và màu sắc cho nhanh. Lễ đài mang hình bệ cột cờ thành Thăng Long xưa, bốn mặt hình thang, phần lớn diện tích từ dưới lên phủ vải đỏ xếp thành từng nếp, giữa có ngôi sao vàng lớn, phần trên phủ vải vàng, nổi lên những đường võng bằng lụa đỏ. Hai bên lễ đài thiết kế hai bệ lớn bằng gỗ phủ vải đỏ, giữa có sao vàng, trên đặt lư hương lớn bằng gỗ hình chữ nhật, trong có đỉnh đồng đốt trầm hương do phụ lão ngoại thành phụ trách. Nhìn toàn cảnh, lễ đài nổi bật lên, giản dị mà trang nghiêm, giữa một vườn hoa rộng mênh mông, đằng sau có hàng cây cổ thụ làm nền.

Trên Lễ đài có cột cờ ở chính giữa, các vị trong Chính phủ lâm thời đứng xung quanh. Ở giữa hàng đầu, dưới nắng thu vàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tuổi 55, đầu trần, mặc lễ phục kaki, đang đọc Tuyên ngôn độc lập trước máy phóng thanh, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Nhớ lại trước đó vài năm, ông Dung còn cho tôi xem bức ảnh thứ hai có thêm một số chi tiết mà bức ảnh trên không có. Bức ảnh đặc tả đội danh dự bảo vệ Lễ đài gồm khoảng một đại đội dàn thành ba lớp theo hai bậc thềm hình tròn, đứng nghiêm trang, nhìn ra phía trước, tay áp vào khẩu súng lục đeo bên người ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đây Nguyễn Dung, đội mũ phớt nâu, sơ mi trắng cộc tay, quần soóc trắng, bít tất trắng dài, giày hai màu là học sinh trường Thăng Long. Đứng đằng sau là Nguyễn Xuân Nho mặc soóc, sơ mi ngắn tay, đội mũ cát, học sinh Trường Bưởi, Lê Văn Thủy mặc quần dài xuất thân làm thợ nhà in. Cả ba đều là người Hà Nội. Đây nữa, Nguyễn Lung, Nguyễn Cao mặc đồ sơ mi cổ cồn, quần dài trắng, tóc chải sáp bóng mượt. Nhiều người khác mặc quân phục lấy ở khu quân nhu của Bảo an binh. Người nào cũng đeo bên sườn một khẩu súng ngắn đều là chiến lợi phẩm.

Ông Dung nhắc lại phút lịch sử. Đoàn xe ô tô chở Bác Hồ và các vị trong Chính phủ lâm thời rời Bắc bộ phủ, có các chiến sỹ bảo vệ mặc soóc, áo cộc tay, đội mũ cát, đi xe đạp hộ tống hai bên. Đoàn xe qua Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi, Cửa Nam, Điện Biên Phủ, lên vườn hoa Ba Đình. Quá 14h, đoàn xe tiến vào phía sau Lễ đài. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời bước theo cầu thang lên Lễ đài, trong tiếng reo mừng như sấm dậy. Cuộc mít tinh bắt đầu. Đội quân nhạc cử hành trọng thể hành khúc “Tiến quân ca” của Văn Cao. Trước máy phóng thanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, cả biển người im lặng nghe giọng đọc thấy sự xúc động của Người. Giữa chừng, Bác ngừng lại hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Cả biển người đồng thanh đáp: “Có…ó…ó”. Sau buổi lễ, đồng bào đi diễu hành ở các đường phố, tắm mình trong không khí độc lập, tự do, từ đây thực sự đổi đời.

Nhìn hai tấm ảnh của ông Dung, tôi nhớ tới phóng viên, nghệ sỹ nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản, người Thường Tín, Hà Nội, mất cách đây 19 năm ở tuổi 76 (1917-1993). Xưa kia, ông là phóng viên nhiếp ảnh các báo Tin tức, Lao động, Cứu quốc… Ông được đi nhiều, có lần đi du lịch vòng quanh Đông Dương bằng xe đạp. Cuốn nhật ký bằng ảnh đã ghi lại chuyến đi đó. Nhớ năm 1990, tôi đến thăm nhà ông ở Hai Bà Trưng. Tới nhà mới thấy nhà ông nghèo nhưng giàu sản phẩm tinh thần. Trên mặt bàn bừa bộn những ảnh, sổ ghi cảm tưởng ở các triển lãm ảnh, những số báo, những bản chụp bài viết về ông. Mấy thập kỷ nay, người ta viết về ông đã nhiều, sử dụng ảnh của ông cũng không ít. Nguyễn Bá Khoản là nghệ sỹ nhiếp ảnh nổi tiếng.

Hôm ấy, tôi hỏi ông về chụp bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, ông vẫn nhớ như in. Chiều 2/9/1945, nghe Tổng biên tập Báo Cứu quốc là đồng chí Xuân Thủy dặn dò xong, ông xách chiếc máy ảnh cũ lên vườn hoa Ba Đình vào trước giờ khai mạc. Sau Lễ chào cờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập trước một biển người, một rừng cờ đỏ sao vàng. Ông Khoản chọn chỗ đứng, xoay các góc độ, lựa ánh sáng – hồi ấy chưa có ống kính tê-lê và ghi được hình ảnh vị Chủ tịch nước đầu tiên giữa khung cảnh hùng tráng một ngày lịch sử trọng đại của dân tộc. Bình tĩnh, tự tin, ông bấm liền mấy kiểu với những tốc độ khác nhau. Ngoài bức ảnh lịch sử ấy, ông còn bấm được nhiều kiểu khác như đội danh dự bảo vệ lễ đài, các đoàn thể… Chiều hôm ấy, phim được tráng ngay, ảnh được in thành nhiều bức. Bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập là bức đẹp nhất, đánh dấu nửa đời người cầm máy ảnh của ông. Năm sau, đúng ngày 19-8-1946, bức ảnh lịch sử được phóng to và trưng bày lần đầu tại Nhà triển lãm Tràng Tiền, trước sự ngưỡng mộ của đồng bào Thủ đô và cả nước.

Ít ai biết trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông Khoản đã giữ gìn, bảo quản những phim ảnh chụp được từ già nửa thế kỷ trước rất cẩn thận bằng lối thủ công. Trở về Hà Nội sau ngày giải phóng, năm 1990 ông gửi tặng Trung tâm lưu trữ Quốc gia toàn bộ 2.000 tác phẩm, một tài sản quý của một đời phóng viên nhiếp ảnh.

Từ năm 1991, được sự giúp đỡ của Hội Nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam và Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam, ông đã ba lần triển lãm ảnh của mình – trong đó có triển lãm ảnh lịch sử – được nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và đông đảo nhân dân tới xem. Tháng 7 năm 1996, tin vui lớn ập đến. Nguyễn Bá Khoản được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về những bức ảnh chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng, kháng chiến. Tuy đã đi xa nhưng những tác phẩm của ông còn mãi với thời gian.

Theo Thọ Cao/Báo An ninh Thủ đô
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm thiêng liêng ngày Độc lập

Lễ đài nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945

(VOV) – 66 năm qua với biết bao “vật đổi sao rời”, nhưng những kỷ niệm sâu sắc về ngày 2/9/1945 mãi mãi ghi đậm trong khối óc và trái tim của những người lính… Thời khắc lịch sử ngày 2/9/1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cách nay đã 66 năm. Những người chiến sỹ trẻ nhiệt huyết, hăng hái xung phong, tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng ở Hà Nội năm xưa, nay đã trở thành những người lính già đầu bạc, mắt mờ và đi lại cũng khó khăn. Những người còn lại còn rất ít, có thể đếm trên đầu ngón tay.

Trong câu chuyện với chúng tôi về ngày độc lập đầu tiên ấy, mỗi người lính già đều không giấu nổi niềm tự hào. Có thể thấy ở họ vẫn toát lên tinh thần sục sôi cách mạng, ý chí chiến đấu để thoát khỏi ách áp bức nô lệ mà khi đó, họ đã là những nhân chứng sống, nhân chứng lịch sử của ngày tháng hào hùng không thể nào quên…

Tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim…

Tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng hơn 20m2 nằm sâu trong ngõ Vĩnh Tuy, Hà Nội, ông Phạm Thế Cường (tức Phạm Đình Cảnh – tên gọi lúc tham gia hoạt động cách mạng) năm nay đã ngoài 80 tuổi. Tuổi cao khiến việc đi lại của ông Cường trở nên khó khăn, nhưng trí nhớ thì vẫn còn minh mẫn.

Ông bảo, những đồng đội cũ cùng lứa tuổi với ông giờ đã ra đi gần hết, những người còn sống sức khỏe đã yếu, vài người có bệnh tai biến, phải sống cuộc sống thực vật. Rồi cũng có người vừa mới hôm qua còn gọi điện cho ông hẹn hò tham dự buổi hòa nhạc “Còn mãi với thời gian” vào ngày 2/9 tới, giấy mời còn chưa đến tay thì đã ra đi mất rồi…

Đột nhiên ông hạ giọng nói: “Thời gian đối với tôi vô cùng quý giá, nó có thể tính bằng giây, bằng phút. Hôm nay tôi còn có thể nói chuyện được với anh chị, nhưng không biết ngày mai có còn không?”… Ngừng một lát, ông bồi hồi kể lại hồi ức về quãng đời hoạt động của mình cách đây 66 năm…

“Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, bố mẹ mất sớm phải ở với chị họ. Năm 16 tuổi, tôi tham gia hoạt động trong Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Đây là một đơn vị bộ đội địa phương do Xứ ủy và Thành ủy trực tiếp chỉ đạo, mang danh nghĩa như một đoàn thể quần chúng có vũ trang. Thành viên của đội đều là những đoàn viên đã được rèn luyện và thử thách của đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh.

Lúc đầu, đội được sử dụng để bảo vệ các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Mặt trận Việt Minh ở cấp Trung ương, Xứ ủ­­­­­y Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao khác. Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu được giao cử 2 đơn vị (Đơn vị Tô Hiệu và Trần Quốc Toản) đến Quảng trường Ba Đình dự lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.

Đơn vị Tô Hiệu của ông Cường có vinh dự đặc biệt là đứng ngay ở hàng đầu sát lễ đài, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, như một hàng rào danh dự, trực tiếp bảo vệ lễ đài. Tất cả anh em đều rất xúc động một phần vị sự tin cậy của Đảng, một phần vì lòng náo nức được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ kính yêu, người lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam. Mọi người rất phấn khởi. Anh em số đông là thanh niên trẻ, sôi nổi”.

Ông Cường nhớ lại, ngày 2/9 cách đây 66 năm: “Hôm ấy, tham dự mít tinh gồm đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội: công nhân, dân quân, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, các cụ phụ lão, các nhà sư…

Ánh mắt ông Cường rực sáng lên khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: “Ngày hôm đó trời nắng, oi bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong trang phục giản dị, áo ka ki cao cổ, chân đi dép cao su trắng. Cả biển người im phăng phắc lắng nghe Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lời Người điềm đạm, nhưng cương quyết, từng lời nói đi vào tâm khảm người nghe, tràn đầy tình cảm sâu sắc và ý chí kiên quyết”.

Có lẽ với ông Cường, tiếng hô “Xin thề!” của hàng vạn chiến sỹ đồng bào và câu hỏi chân tình “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” của Bác Hồ trong giờ phút thiêng liêng ấy là điều mãi mãi không thể nào quên. Ông Cường chia sẻ: “Có nhiều người dân vừa khóc vừa hô “Xin thề!” và tôi hiểu rằng, những người như chúng tôi, từ thân phận đói nghèo, nô lệ, nay trở thành người dân của nước Việt Nam độc lập. Đấy là niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao mà chỉ những ai đã trải qua mới thấu hiểu”.

“Đó là những ngày tháng gian khổ, hào hùng nhưng cũng hạnh phúc nhất cuộc đời tôi. Những tư tưởng mới trong bản Tuyên ngôn độc lập đã thấm sâu trong tâm trí chúng tôi. Chúng tôi đã thấy giá trị của độc lập, thấy trách nhiệm thiêng liêng phải bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập mới giành được…” – Ông Cường nói trong xúc động.

Dòng ký ức hùng tráng làm ông Cường như quên đi thực tại, một hồi lâu ông mới kể tiếp, sau ngày 2/9/1945, ông Cường tiếp tục tham gia tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Năm 1986, ông về nghỉ hưu và được phong hàm Đại tá.

Trải qua 41 năm trong quân ngũ, dù có nhiều khó khăn, nhưng niềm tự hào nhất của ông là được chiến đấu cho đến ngày giành độc lập 30/4/1975. Ông Cường có 4 người con, trong đó có người trai đầu đã hy sinh vì Tổ quốc. Và cha ông cũng là liệt sỹ.

Tất cả như vừa mới hôm qua…

Rời nhà ông Cường, chúng tôi tìm gặp bà Lê Thị Thanh, nguyên là Hiệu phó trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương. Trong những ngày mùa thu cách mạng năm 1945, bà Thanh tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc, rồi trở thành nữ chiến sỹ của Trung đoàn Thủ đô có mặt trong 60 ngày đêm chiến đấu quyết tử bảo vệ Hà Nội.

Cũng giống như ông Cường, bà Thanh hồ hởi khi kể về kỷ niệm của một thời oanh liệt: “Là học sinh yêu nước trường Trung học Nguyễn Huệ – Hà Nội, tôi sớm được giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi, tôi được phân công làm tình báo, liên lạc viên và đi rải truyền đơn ở nhiều nơi. Có lần, trong khi làm nhiệm vụ, tôi phải đi qua những ngôi mộ của các đồng đội đã hy sinh, tôi sợ lắm! Nhưng, tôi tự trấn an tinh thần bằng cách nghĩ về họ lúc còn sống và khe khẽ cất tiếng hát. Sau đó một thời gian, trong một đợt địch càn quét, tôi đã dũng cảm bắn chết 1 tên giặc Pháp và được tham gia các buổi mít tinh ở Làng Cót, Hà Nội”.

Trong cuộc đời mình, có lẽ giây phút được tham gia và chứng kiến không khí của ngày chiến thắng, ngày độc lập 2/9 cách đây 66 năm là điều hạnh phúc và cảm giác khó tả đối với không chỉ riêng bà Thanh mà với nhiều người. Cảm xúc đó còn lưu lại mãi cho đến tận bây giờ.

Bà Thanh hồi tưởng: “Tôi nhớ ngày 2/9/1945, lúc đó quần chúng đi lại rất đông ở các khu phố của Hà Nội, các cửa hàng cửa hiệu phần lớn là đóng cửa và treo cờ hoa mừng ngày độc lập. Những đoàn người rầm rập kéo về Quảng trường Ba Đình: Phụ nữ nội thành mặc áo dài trắng, phụ nữ ngoại thành áo nâu quần đen, chít khăn mỏ quạ. Thanh niên áo sơ mi cộc tay, quần soóc, công nhân quần áo xanh, các đoàn tu sĩ thiên chúa giáo áo đen, các em thiếu nhi áo trắng, quần soóc xanh”.

“Buổi sáng 2/9, tôi cùng các chị em trong đoàn phụ nữ cứu quốc đến từng gia đình vận động họ tham gia cuộc mít tinh vào buổi chiều cùng ngày. Đến 14h, đoàn phụ nữ cứu quốc tiến về Quảng trường Ba Đình rực rỡ cờ hoa với những tiếng hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh!”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh!”. Đoàn phụ nữ cứu quốc của chúng tôi được đứng vị trí đầu tiên. Khoảng 14h30, bà Dương Thị Thoa (tức Lê Thi) trong đoàn được Ban Tổ chức cử lên kéo cờ độc lập cùng với bà Đàm Thị Loan”.

Cả biển người bỗng im phăng phắc để lắng nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lần đầu tiên được nhìn thấy Người, tôi đã nhận thấy ở Người sự giản dị và gần gũi” – Bà Thanh hào hứng kể.

Câu chuyện của bà Thanh kể về ngày độc lập như vừa mới đây thôi. 66 năm trôi qua, nay bà Thanh đã bước sang tuổi 81 nhưng tinh thần vẫn vô cùng minh mẫn. Bà phục vụ trong quân ngũ đến khi 53 tuổi mới chuyển sang ngành giáo dục và làm Hiệu phó của trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương cho tới khi nghỉ hưu. Giờ đây, cứ mỗi dịp tháng 8 hàng năm, bà và các đồng đội cũ lại gặp nhau, ôn lại kỷ niệm xưa. Thi thoảng, ngày độc lập đầu tiên ấy, bà và đồng đội ôn lại như để tiếp thêm ý chí, nghị lực cho thế hệ con cháu…

Câu chuyện của những người lính đã đi qua ngày tháng hào hùng như ông Phạm Thế Cường, bà Lê Thị Thanh cùng biết bao người chiến sỹ khác về ngày 2/9/1945 sẽ không chỉ là dòng sự kiện trong trang sử vàng vẻ vang của dân tộc. Ký ức Cách mạng mùa thu tháng Tám cùng hình ảnh Bác Hồ trong ngày độc lập đầu tiên ấy, chắc hẳn sẽ còn đọng mãi trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Đó như một bài học truyền thống, soi rọi cho các thế hệ sau tiếp nối truyền thống của cha anh trên con đường cách mạng, sống, chiến đấu, lao động, học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Theo vov.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mùa thu Cách mạng và sự ra đời của một bài hát

Năm 1975 đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Trong khi người Việt Nam hân hoan với thắng lợi vừa giành được, thì ở bên kia bờ đại dương có những người Mỹ đang cố gắng trả lời câu hỏi là tại sao Mỹ thua Việt Nam. Năm 1980, Archimesdes L.A. Patti đã xuất bản cuốn sách “Why Việt Nam” (Tại sao Việt Nam) để góp phần trả lời câu hỏi đó. Tiến sĩ Trần Viết Nghĩa (Khoa Lịch sử, ĐHQG Hà Nội) tóm lược cảm nghĩ của sĩ quan tình báo Mỹ về ngày lễ độc lập trong cuốn sách này.

Patti nguyên là một sĩ quan tình báo OSS ở Trung Quốc trong Thế chiến hai. Trong năm 1945, Patti từng gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nhà lãnh đạo cao cấp khác của Việt Nam, và là một trong số rất ít người Mỹ đã tham dự buổi lễ độc lập của Việt Nam tại Quảng trường Ba Đình.

Ngày 22.8.1945, Patti đáp máy bay từ Côn Minh đi Hà Nội để giải quyết vấn đề tù binh ngoại quốc ở Đông Dương. Trên đường từ sân bay Gia Lâm về Hà Nội, Patti thấy có nhiều biểu ngữ và lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh tràn ngập phố xá. Hà Nội thanh bình sau ngày Việt Minh giành được chính quyền.

Trưa 29.8.1945, Hồ Chủ tịch cho xe đón Patti đến phố Hàng Ngang gặp Người. Người thông báo cho Patti về phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới ở Bắc Bộ phủ, quyết định lấy ngày mùng 2 tháng 9 là ngày độc lập. Người sẽ công bố nền độc lập dân tộc, ra mắt các thành viên Chính phủ với nhân dân và chương trình hành động của Chính phủ cho mọi người đều biết.

Điều đặc biệt là Patti được Hồ Chủ tịch cho xem bản thảo Tuyên ngôn độc lập. Patti rất ngạc nhiên khi trong mấy câu đầu nhắc đến một số danh từ rất quen thuộc và giống với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776. Patti hỏi Người có ý định sử dụng câu đó không. Người cười nhã nhặn và hỏi lại Patti một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Patti cảm thấy ngượng ngập và lúng túng khi trả lời: “Tất nhiên, tại sao không”.

Sau khi yêu cầu người phiên dịch đọc lại đoạn đầu một lần nữa, Patti nhớ lại thì thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Người liền nói: “Đúng, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”.

Sáng ngày thứ bảy – mùng 1 tháng 9, Patti đi một vòng quanh Hà Nội và nhận thấy: “Ai cũng bận rộn, hớn hở và vội vàng, nhưng không ai tỏ ra hấp tấp. Trước cửa nhà, trên ban công, ngoài cổng ra vào đầy các loại cờ đỏ, hoa, đèn. Nhiều toán người hăm hở giăng lên ngang trên đường phố, những khẩu hiệu hô hào “Độc lập và tự do cho Việt Nam”, và hoan nghênh Đồng Minh”. Chiều cùng ngày, Patti được Hồ Chủ tịch mời đến ăn cơm. Hồ Chủ tịch mở đầu câu chuyện bằng việc Patti đi thăm phố phường Hà Nội có thỏa mãn về những điều được nghe và thấy không. Patti trả lời rằng ông ấn tượng mạnh mẽ đối với công tác chuẩn bị buổi lễ và sự cởi mở của những người dân mà ông đã bắt chuyện.

Ông Hoàng Minh Giám phấn khởi thông báo cho Patti biết dân chúng đã tự bỏ tiền ra để sửa sang, làm sạch và trang trí thành phố phục vụ ngày lễ. Patti hỏi trong ngày lễ độc lập có diễu binh không. Ông Võ Nguyên Giáp trả lời cũng muốn có một số đội diễu binh, nhưng bộ đội vừa mới ở rừng về nên không có đủ thời gian diễn tập, vì vậy những đơn vị chỉ sắp hàng đứng tại chỗ. Sau bữa cơm thân mật, Hồ Chủ tịch mời Patti uống cà phê. Người ôn lại những sự cộng tác của Người với người Mỹ tại Trung Quốc và rừng núi Bắc Kỳ, bày tỏ mong muốn người Mỹ ủng hộ nền độc lập của nước Việt Nam.

Đến buổi trưa, nhóm của Patti đi đến Quảng trường Ba Đình. Nhóm chọn một địa điểm thuận lợi ngay trước lễ đài. Đội danh dự trong trang phục mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao và vũ khí mới. Đây là lực lượng được huấn luyện, trang bị và có kỷ luật nhất. Ngoài ra, còn có các đội dân quân, tự vệ với nhiều loại vũ khí khác nhau.

Patti cảm thấy không khí oi bức, nhưng đôi lúc có vài cơn gió nhẹ làm phấp phới cả biển cờ trên quảng trường. Bất chợt, có tiếng còi và hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng. Mấy phút sau nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào”. Trên lễ đài, mọi người đều mặc đồ trắng, thắt cavát và đầu để trần, trừ Hồ Chủ tịch mặc đồ kaki màu sẫm.

Sau khi nghe Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, Patti khó nắm bắt được nội dung của Tuyên ngôn, dù đã có người phiên dịch, nhưng cảm nhận được “cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới tận quần chúng”.

Sau ngày độc lập, Patti còn ở lại Việt Nam thêm một thời gian nữa, chứng kiến thêm nhiều khó khăn mới của nước Việt Nam, được tiếp kiến thêm với Hồ Chủ tịch và một số nhà lãnh đạo khác của Việt Nam. Trước khi về Mỹ, Patti được Hồ Chủ tịch mời dự tiệc chia tay.

Trong buổi chia tay, ông Võ Nguyên Giáp đã đánh giá cao sự giúp đỡ của “Người Mỹ ở Côn Minh” – trong đó có Patti – đối với Việt Nam trước khởi nghĩa. Ông chúc Patti lên đường may mắn và tỏ ý mong rằng Việt Nam sẽ sớm có một người bạn ở Washington. Điều này làm cho Patti ngạc nhiên và xúc động, vì trước đó ông Giáp không bao giờ để lộ ra bất cứ một tình cảm nào đối với Mỹ và cá nhân Patti. Hồ Chủ tịch chia sẻ với Patti sự thất vọng khi Mỹ từ chống thực dân lại đang trang bị và tiếp tế cho quân Pháp tái xâm lược Đông Dương. Người nói với Patti: “Điều đó, họ sẽ phải trả bằng một giá đắt”./.

Theo TS Trần Viết Nghĩa
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cảm nhận của một người Mỹ về ngày lễ độc lập của Việt Nam

Năm 1975 đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Trong khi người Việt Nam hân hoan với thắng lợi vừa giành được, thì ở bên kia bờ đại dương có những người Mỹ đang cố gắng trả lời câu hỏi là tại sao Mỹ thua Việt Nam. Năm 1980, Archimesdes L.A. Patti đã xuất bản cuốn sách “Why Việt Nam” (Tại sao Việt Nam) để góp phần trả lời câu hỏi đó. Tiến sĩ Trần Viết Nghĩa (Khoa Lịch sử, ĐHQG Hà Nội) tóm lược cảm nghĩ của sĩ quan tình báo Mỹ về ngày lễ độc lập trong cuốn sách này.

Patti nguyên là một sĩ quan tình báo OSS ở Trung Quốc trong Thế chiến hai. Trong năm 1945, Patti từng gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nhà lãnh đạo cao cấp khác của Việt Nam, và là một trong số rất ít người Mỹ đã tham dự buổi lễ độc lập của Việt Nam tại Quảng trường Ba Đình.

Ngày 22.8.1945, Patti đáp máy bay từ Côn Minh đi Hà Nội để giải quyết vấn đề tù binh ngoại quốc ở Đông Dương. Trên đường từ sân bay Gia Lâm về Hà Nội, Patti thấy có nhiều biểu ngữ và lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh tràn ngập phố xá. Hà Nội thanh bình sau ngày Việt Minh giành được chính quyền.

Trưa 29.8.1945, Hồ Chủ tịch cho xe đón Patti đến phố Hàng Ngang gặp Người. Người thông báo cho Patti về phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới ở Bắc Bộ phủ, quyết định lấy ngày mùng 2 tháng 9 là ngày độc lập. Người sẽ công bố nền độc lập dân tộc, ra mắt các thành viên Chính phủ với nhân dân và chương trình hành động của Chính phủ cho mọi người đều biết.

Điều đặc biệt là Patti được Hồ Chủ tịch cho xem bản thảo Tuyên ngôn độc lập. Patti rất ngạc nhiên khi trong mấy câu đầu nhắc đến một số danh từ rất quen thuộc và giống với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776. Patti hỏi Người có ý định sử dụng câu đó không. Người cười nhã nhặn và hỏi lại Patti một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Patti cảm thấy ngượng ngập và lúng túng khi trả lời: “Tất nhiên, tại sao không”.

Sau khi yêu cầu người phiên dịch đọc lại đoạn đầu một lần nữa, Patti nhớ lại thì thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Người liền nói: “Đúng, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”.

Sáng ngày thứ bảy – mùng 1 tháng 9, Patti đi một vòng quanh Hà Nội và nhận thấy: “Ai cũng bận rộn, hớn hở và vội vàng, nhưng không ai tỏ ra hấp tấp. Trước cửa nhà, trên ban công, ngoài cổng ra vào đầy các loại cờ đỏ, hoa, đèn. Nhiều toán người hăm hở giăng lên ngang trên đường phố, những khẩu hiệu hô hào “Độc lập và tự do cho Việt Nam”, và hoan nghênh Đồng Minh”. Chiều cùng ngày, Patti được Hồ Chủ tịch mời đến ăn cơm. Hồ Chủ tịch mở đầu câu chuyện bằng việc Patti đi thăm phố phường Hà Nội có thỏa mãn về những điều được nghe và thấy không. Patti trả lời rằng ông ấn tượng mạnh mẽ đối với công tác chuẩn bị buổi lễ và sự cởi mở của những người dân mà ông đã bắt chuyện.

Ông Hoàng Minh Giám phấn khởi thông báo cho Patti biết dân chúng đã tự bỏ tiền ra để sửa sang, làm sạch và trang trí thành phố phục vụ ngày lễ. Patti hỏi trong ngày lễ độc lập có diễu binh không. Ông Võ Nguyên Giáp trả lời cũng muốn có một số đội diễu binh, nhưng bộ đội vừa mới ở rừng về nên không có đủ thời gian diễn tập, vì vậy những đơn vị chỉ sắp hàng đứng tại chỗ. Sau bữa cơm thân mật, Hồ Chủ tịch mời Patti uống cà phê. Người ôn lại những sự cộng tác của Người với người Mỹ tại Trung Quốc và rừng núi Bắc Kỳ, bày tỏ mong muốn người Mỹ ủng hộ nền độc lập của nước Việt Nam.

Đến buổi trưa, nhóm của Patti đi đến Quảng trường Ba Đình. Nhóm chọn một địa điểm thuận lợi ngay trước lễ đài. Đội danh dự trong trang phục mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao và vũ khí mới. Đây là lực lượng được huấn luyện, trang bị và có kỷ luật nhất. Ngoài ra, còn có các đội dân quân, tự vệ với nhiều loại vũ khí khác nhau.

Patti cảm thấy không khí oi bức, nhưng đôi lúc có vài cơn gió nhẹ làm phấp phới cả biển cờ trên quảng trường. Bất chợt, có tiếng còi và hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng. Mấy phút sau nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào”. Trên lễ đài, mọi người đều mặc đồ trắng, thắt cavát và đầu để trần, trừ Hồ Chủ tịch mặc đồ kaki màu sẫm.

Sau khi nghe Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, Patti khó nắm bắt được nội dung của Tuyên ngôn, dù đã có người phiên dịch, nhưng cảm nhận được “cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới tận quần chúng”.

Sau ngày độc lập, Patti còn ở lại Việt Nam thêm một thời gian nữa, chứng kiến thêm nhiều khó khăn mới của nước Việt Nam, được tiếp kiến thêm với Hồ Chủ tịch và một số nhà lãnh đạo khác của Việt Nam. Trước khi về Mỹ, Patti được Hồ Chủ tịch mời dự tiệc chia tay.

Trong buổi chia tay, ông Võ Nguyên Giáp đã đánh giá cao sự giúp đỡ của “Người Mỹ ở Côn Minh” – trong đó có Patti – đối với Việt Nam trước khởi nghĩa. Ông chúc Patti lên đường may mắn và tỏ ý mong rằng Việt Nam sẽ sớm có một người bạn ở Washington. Điều này làm cho Patti ngạc nhiên và xúc động, vì trước đó ông Giáp không bao giờ để lộ ra bất cứ một tình cảm nào đối với Mỹ và cá nhân Patti. Hồ Chủ tịch chia sẻ với Patti sự thất vọng khi Mỹ từ chống thực dân lại đang trang bị và tiếp tế cho quân Pháp tái xâm lược Đông Dương. Người nói với Patti: “Điều đó, họ sẽ phải trả bằng một giá đắt”./.

Theo TS Trần Viết Nghĩa
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Thư gửi PH.Bi-u (8 – 1927)

Đồng chí thân mến,

Nhờ đồng chí nói với nữ đồng chí thay chị Mácgô rằng, nếu tôi có thư từ gì xin gửi theo địa chỉ dưới đây:

ái Quốc

Krưm – Eppatôria
Nhà an dưỡng Lênin.
Xin chào tất cả
Tháng 8 nǎm 1927

Bưu ảnh của Nguyễn Ái Quốc
gửi Francois Billoue (bản tiếng Pháp).

Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Những tội ác kinh khủng của Đế quốc Pháp ở Đông Dương (28-9-1927)

Sau cuộc xâm chiếm của đế quốc Pháp, nhân dân các đảo Tân Êbrít 1 đã bị tiêu diệt bởi rượu, các bệnh hoa liễu và lao động khổ sai, những tai hoạ do nền vǎn minh đế quốc chủ nghĩa du nhập vào trong nước. Sự kiện này đã được ông nghị ácxinbô, báo cáo viên về ngân sách thuộc địa, chính thức thú nhận tại Nghị viện Pháp.

Nòi giống bản xứ thì bị giết chóc, nhưng đất đai các đảo vẫn phì nhiêu và vẫn mang lợi cho bọn thực dân Pháp. Tuy nhiên, bọn này không tự canh tác được trong các đồn điền của mình. Chúng cần có nô lệ. Chúng tìm đến nô lệ ở Đông Dương.

Ngày xưa người ta dùng phương pháp tuyển mộ. Công nhân và nông dân Đông Dương – bị thuế má đè nặng đến lụn bại, bị cái nghèo khổ theo đuổi và bị mua chuộc bởi hứa được lương bổng cao – tự đưa mình vào tròng, xuống tàu đi sang “Tân lục địa”. Nhưng họ bị giết hại bởi sự ngược đãi của chủ đồn điền không kém gì các bệnh tật của vùng nhiệt đới, phần lớn những người “cam kết ra đi” không bao giờ còn thấy đất nước và gia đình mình nữa. Từ đó trở đi, những người Đông Dương khác thà chết đói trên đất nhà còn hơn đem thân sang chết ở đồn điền Pôlinêdi thuộc Pháp.

Những cuộc tuyển mộ đầy tội ác

Hiện nay, để cung cấp nhân công cho đồn điền của họ, người Pháp không lùi bước trước những phương tiện đầy tội ác nhất. Dưới đây là một vài thí dụ: Những tên thực dân Pháp yêu cầu các quan cai trị Pháp ở Đông Dương – những kẻ luôn luôn là đồng loã và đôi khi chung vốn với họ – bắt các làng ở Đông Dương cung cấp một số cu li. Nếu các làng – biết là mình phải làm gì đối với số phận của người mình – không thi hành ngay mệnh lệnh thì bị trừng phạt. Hoặc là, lợi dụng tình trạng đói kém luôn xảy ra ở Đông Dương, người Pháp cho người Đông Dương vay tiền rồi ít lâu sau cho bắt họ vì không trả được nợ, buộc họ phải đáp tàu sang Ôxtrâylia. Hoặc nữa, chúng làm như dùng cu li vào một công việc gì đó trên tàu biển, rồi bỗng nhiên, cu li thấy mình bị trói và giam trong khoang tàu, khi tàu sắp khởi hành. Chúng đánh lừa những người Đông Dương thất nghiệp, hứa cho họ một việc làm ở một tỉnh bên. Chúng đưa các nạn nhân xuống tàu và, giữa đường, đổi hướng đi. Thế là, chúng bắt cóc những người Đông Dương bằng sức mạnh hoặc bằng thủ đoạn và đưa họ đi trong những chuồng bằng sắt, đến tận Tân Êbrít.

Những chứng cớ không thể chối cãi

Trên tàu biển, người Đông Dương chen chúc như những con vật trong những khoang thiếu không khí, không có ánh sáng. Chúng cho họ ǎn uống chẳng là bao. Người ốm bị ném xuống biển “để khỏi lây sang những người khác”. Họ luôn bị những người mang súng canh giữ. Tới các đảo, họ bị giam trong một trại, tức là một cái chợ; chủ đồn điền đến xem họ, chọn và mua một đầu người với giá bao nhiêu đó.

Để đưa phụ nữ đi, chúng cho họ được mang con theo. Nhưng một khi họ đã xuống tàu, chúng quǎng trẻ em xuống nước “để thủ tiêu những cái mồm vô ích”. Điều này đã từng xảy ra với những người đàn bà Bắc Kỳ.

Tháng 7 vừa qua, một tàu biển cập bến Taoxvin với 480 người Đông Dương nhốt trong những chuồng ở đáy tàu. Được một thuỷ thủ báo cho biết, những người Trung Quốc ở Taoxvin định xuống giúp các nạn nhân, nhưng họ bị những người gác có vũ trang trên tàu cản lại. Trong lời kêu gọi người Trung Quốc đǎng trên báo Daily Standard, những người Đông Dương khốn khổ kia nói rằng: Người ta đã dùng thuốc mê bằng thuốc lá tẩm độc, để kéo họ đến tô giới Pháp ở Quảng Châu Loan rồi bắt cóc; trên tàu biển họ chịu đựng đến mức kinh khủng đói, khát và nhất là sự độc ác của những kẻ canh gác: người ốm bị ném xuống nước.

WANG

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 99, ngày 28-9-1927
cpv.org.vn

Sự thống trị của Đế quốc pháp ở Đông Dương (15-10-1927)

CUỘC XUNG ĐỘIT “HOA – VIỆT”

Từ 19 đến 22-8, giữa người An Nam và Hoa kiều ở Hải Phòng, một hải cảng ở Bắc Kỳ, đã xảy ra những cuộc ẩu đả đổ máu. Có 8 Hoa kiều chết và 125 người bị thương, 8 nhà máy và 12 cǎn nhà Hoa kiều bị đốt cháy. Báo chí Pháp ở Đông Dương và ở Pháp cho rằng cuộc xung đột này chỉ liên can đến người An Nam và Hoa kiều thôi, và nguyên nhân là do hai dân tộc đó “hiềm thù” nhau, còn người Pháp thì không dính dáng gì đến vụ xung đột ấy cả.

Khẳng định như vậy là không đúng. Chẳng phải hôm nay mà cũng không phải hôm qua người Hoa mới đến Đông Dương. Họ đã ở đây hàng thế kỷ nay rồi. Và từ khi họ đến ở đây, họ đã luôn luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế của Đông Dương. Nhưng chưa bao giờ lại có những cuộc xung đột giữa người An Nam và các “chú” khách của họ cả.

Cuộc xung đột hiện nay, cũng như cuộc tẩy chay hàng hoá của Hoa kiều nǎm 1919 là do bọn thực dân Pháp gây nên vì những lý do sau đây:

ít lâu nay, trong dân chúng An Nam, đang có một sự sôi sục mạnh mẽ: những cuộc biểu tình của những người có tinh thần dân tộc, những cuộc bãi khoá của giới đại học, những cuộc bãi công của thợ thuyền, những cuộc nổi dậy của nông dân, hoạt động của các tổ chức cách mạng bí mật, việc bầu những cựu chính trị phạm vào “Viện dân biểu” bản xứ, v.v. và v.v.. Tất cả tình hình ấy đã làm cho bọn thực dân Pháp hoảng sợ, chúng tìm mọi cách để lái hoạt động chính trị đó đi theo một hướng khác.

Trong nǎm qua, người An Nam đã tỏ ra có nhiều cảm tình với cách mạng Trung Quốc. Khi tàu chiến Misơlê của Pháp, trên đường sang Trung Quốc, cập bến Sài Gòn để tu sửa, anh em công nhân xưởng tàu ở hải cảng đó đã đình công không chịu tu sửa 48 . Cũng nǎm ấy, khi nǎm Hoa kiều ở Sài Gòn bị nhà chức trách Pháp trục xuất vì tuyên truyền cách mạng, thì hàng nghìn người An Nam đã tự động họp nhau lại để tiễn chân. Mối tình thân thiện Hoa – Việt ấy đã làm cho bọn Pháp rất hoảng sợ.

Hoa kiều sống ở Đông Dương đều bị bọn thực dân Pháp ra sức áp bức và bóc lột. Thuế khoá nặng nề. Cũng như người An Nam, Hoa kiều đều bắt buộc phải có giấy thông hành mới được đi từ nơi này đến nơi khác, tốn rất nhiều tiền và mất nhiều thì giờ, đồng thời lại bị trở ngại rất lớn trong công việc buôn bán. Công nhân Hoa kiều không có quyền tự do tổ chức. Tất cả những sự việc đó và những sự hà lạm khác đã gây nên một phong trào chống Pháp trong giới người Hoa, phong trào này kết hợp với tinh thần quật khởi của người An Nam sẽ là một nguy cơ rất lớn cho chủ nghĩa đế quốc.

Chính vì tất cả những lý do ấy đã khiến đế quốc Pháp tìm cách chia rẽ Hoa kiều và người An Nam, làm cho họ chống lẫn nhau.

Nhưng âm mưu của bọn đế quốc từ ngày 19 đến 22-8 quá ư lộ liễu khiến ngay những người không chú ý lắm cũng thấy rõ được. Trong một nước có chế độ kiểm duyệt thường xuyên, có tất cả những viên chức kể cả các đốc học và giáo viên đều làm mật thám, một nước mà mỗi tháng người ta trả ba mươi đồng cho mỗi học sinh tình nguyện làm mật thám, một nước mà bất kỳ cuộc hội họp và tập hợp nào cũng đều bị cấm đoán cả, làm thế nào mà trong những điều kiện ấy, người ta lại có thể tổ chức những cuộc ẩu đả đổ máu như vậy được? Làm sao mà bọn cảnh sát và nhà chức trách Pháp – luôn luôn được thông báo về bất kỳ một hành động nhỏ nào của người bản xứ và lúc nào cũng sẵn sàng đàn áp – lại chỉ can thiệp

rất muộn, sau khi đã có nhiều người bị giết chết, nhiều thiệt hại đã xảy ra? Vì sao mà những cuộc ẩu đả ấy lại có thể kéo dài từ 19 đến 22-8 mà không có lấy một biện pháp nào để ngǎn chặn cả?

Bởi vậy, người ta bắt buộc phải kết luận rằng cuộc xung đột ấy không những được bọn đế quốc Pháp làm ngơ mà chúng còn có dụng ý nhen lên và gây ra nữa.

VIệN “ĐUMA” AN NAM 49

Do sự thúc ép của quần chúng bản xứ, bọn đế quốc Pháp buộc phải nhân nhượng hoặc nói cho đúng hơn là giả bộ nhân nhượng. Chúng phái một “đảng viên Đảng Xã hội” sang làm toàn quyền. Chúng tung ra khẩu hiệu “Pháp – An Nam hợp tác”. Chúng tổ chức ra “Viện dân biểu”.

Song kết quả lại hoàn toàn trái với điều mong muốn của chúng. Sau một thời kỳ nuôi ảo tưởng, người An Nam bây giờ đã biết thế nào là một đại biểu của Quốc tế thứ hai. Họ thấy rằng, sự “hợp tác” được ca tụng nhiều như thế đã thể hiện thành những sự bóc lột bỉ ổi và những cuộc đàn áp thẳng tay đối với bất kỳ một cuộc biểu dương chính trị nào của người bản xứ.

Viện “Đuma” An Nam (không phải do cuộc đầu phiếu phổ thông mà chỉ do các kỳ mục, địa chủ và thương nhân bầu ra) không hề xoa dịu được người An Nam, mà còn đưa lại cho họ cơ hội để tỏ rõ tinh thần phản kháng của mình.

Trong các cuộc bầu cử vừa qua, những người ra ứng cử, mà nhiều người biết rõ những hoạt động yêu nước của họ và việc họ chỉ trích chế độ cai trị của người Pháp, cũng như những chính trị phạm đi đày về, đều trúng cử. Mặc dù nhà chức trách Pháp dùng mưu kế và hǎm doạ, nhưng không có một người ứng cử nào do Chính phủ giới thiệu, lại trúng cử cả.

Tất cả những “vị dân biểu” này chỉ có tiếng nói tư vấn thôi. Các vị dân biểu Trung Kỳ thì mỗi nǎm hội họp một lần và lúc nào họp là do khâm sứ quyết định. Thậm chí họ không có lấy một phòng họp, hay một phòng để làm việc. Mỗi một kỳ họp đều do một viên chức người Pháp chủ toạ. Nhưng cái đó vẫn không làm cho các vị đại biểu An Nam đáng thương ấy rụt rè lên tiếng và phát hiện ra được những điều khá bổ ích.

Trong kỳ họp hồi tháng 8, “người phát ngôn” 1 của Viện dân biểu Trung Kỳ đã tuyên bố:

“Chúng tôi không có phòng để làm việc, không có ngân sách, không có gì hết. Nǎm ngoái, thậm chí chúng tôi cũng không có cơ hội nào để thảo luận được. Trong số hàng trǎm yêu sách của chúng tôi, không một yêu sách nào được thực hiện cả…

“Chính bản thân các đại biểu cũng không có quyền ǎn nói, thử hỏi trong những điều kiện như vậy, làm thế nào mà họ lại có thể giúp đỡ được người khác? Thế mà nhân dân lại tin rằng chúng tôi có quyền tham gia giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến đất nước nên trông mong nhiều ở chúng tôi… Tờ thông tri tháng 2 vừa rồi của Chính phủ thuộc địa đã hoàn toàn làm mất hết phẩm cách của chúng tôi, nên chúng tôi không thể làm được một việc gì cả. Thật là nhục nhã và buồn thảm biết bao!…

“Với những thủ đoạn đàn áp của Chính phủ sử dụng trong tất cả mọi cơ hội, thì tất phải có an ninh và trật tự. Thế mà chẳng có kết quả gì. Các cuộc rối loạn vẫn liên tiếp nổ ra… Nhiều người An Nam đã bị hành hạ, truy nã, bắt giữ và cầm tù vì tội đã đọc báo chí đã có phép của sở kiểm duyệt. Cả nhà đều bị phạt nếu người nhà phạm một tội là phát biểu trong một cuộc họp. Trẻ em chỉ không đi học một buổi là bị đuổi và như thế là suốt đời bị dốt nát… Vì trung thành với lợi ích của nhân dân, mà một số đại biểu đã bị thoá mạ trước công chúng…”.

Viên khâm sứ đã trả lời một câu tinh tế. Ông ta trình bày chương trình của Chính phủ thuộc địa, chương trình đó có thể tóm tắt như sau: “Hỡi dân An Nam! Các người hãy nhẫn nhục mà chịu đựng” và ông ta nói: “Sau khi Chính phủ đã trình bày rất rõ ràng và dứt khoát rồi, nếu các ông còn ngần ngại không chấp thuận hoặc nếu các ông phản đối lại mà không có lý do cǎn bản, thì Chính phủ sẽ tin rằng các ông không thiết gì đến tương lai của xứ này… Các ông nên biết rằng, muốn vǎn minh và tiến bộ, thì phải có kỷ luật và phải tôn trọng chính quyền đã được thiết lập”.

ĐÓI, DỊCH TẢ, THUẾ KHÓA, v.v.

Dân số Đông Dương giảm đi nhanh chóng vì nạn đói kém, dịch tả và… chủ nghĩa đế quốc Pháp.

Số người chết so với số người sinh ra nhiều hơn gấp bội. Số trẻ em chết thật là khủng khiếp. Ta hãy lấy thành phố Hải Phòng làm thí dụ. Theo thống kê hồi tháng 7-1927, trong thành phố này, người An Nam sinh được 147 trẻ. 81 là con trai và 66 là con gái. Cùng trong thời gian đó, có 204 người chết, trong đó có 84 là trẻ em. Trong số 147 trẻ em mới đẻ, chỉ còn sống được 63 em!

Để chứng minh rõ rằng vì nghèo khổ mà người An Nam bị chết nhiều, chúng ta hãy so sánh những thống kê về số người sinh ra và chết đi giữa người nước ngoài và người bản xứ cùng ở thành phố đó. Đối với người Âu, cứ số trẻ sinh ra là 8 thì số người chết là 3, trong số chết đó có một là trẻ em. Đối với Hoa kiều, cứ số trẻ sinh ra là 22 thì số người chết là 23, trong số chết này có 6 trẻ em.

Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi (Trung Kỳ) đều bị nạn dịch tả hoành hành. Dân cư hoảng sợ. Đầu tháng 8, mỗi ngày có hàng trǎm người ốm được đưa đến nhà thương Huế. Chỉ riêng tỉnh Quảng Nam đã có hơn 7.000 người bị bệnh trong tháng 8.

Chưa phải đã hết. Trời nắng như đốt làm cho lúa má khô héo trước khi nảy hạt. Trời nắng như thế là nguy cơ của nạn đói, đồng thời lại làm cho nạn dịch hạch tǎng lên. Mặt khác, Bắc Kỳ thì bị tàn phá vì đói kém do nạn lụt gây ra. Để bảo vệ người Pháp ở Hà Nội khỏi bị cảnh lụt lội, khi Bắc Kỳ bị nước tràn về, Chính phủ thuộc địa đã cho phá vỡ đê Gia Lâm ở phía bên kia Hà Nội, để tháo nước về phía ấy. Họ làm như vậy mà không báo cho người bản xứ biết trước, nên 20.000 người An Nam đã bị cơ quan cai trị của người Pháp làm cho bị chết đuối!

Sau những trận lụt, người An Nam ở Trung Kỳ và Nam Kỳ đã tổ chức quyên góp để cứu giúp các đồng bào bất hạnh của mình. Nhà chức trách Pháp đã xoáy mất phần lớn số tiền đó bỏ vào quỹ để nâng giá đồng phrǎng lên! Mặc dù những hiện vật quyên góp rất nhiều, nhưng nhà chức trách chỉ phân phát cho những người bị nạn mỗi người một tháng được có hai kilô rưỡi gạo thôi!

Chỉ riêng ở Bắc Kỳ, người ta đã tính ra có đến 155 đồn điền lớn thuộc quyền của người Pháp, mỗi cái rộng trên 200 hécta. Trong số đồn điền ấy, 11 cái rộng trên 500 hécta, 4 cái trên 600 hécta, 5 cái trên 700 hécta, 1 cái trên 800 hécta, 5 cái trên 900 hécta, 9 cái trên 1.100 hécta, 7 cái từ 1.200 hécta đến 1.500 hécta, 2 cái từ 1.500 hécta đến 2.500 hécta, 3 cái từ 3.150 đến 3.750 hécta, 1 cái trên 4.100 hécta, 1 cái trên 5.500 hécta, 1 cái trên 6.900 hécta, 1 cái trên 7.500 hécta, 1 cái trên 8.515 hécta.

Rồi đến 34 khu mỏ không những chỉ có mỏ mà còn có ruộng đất ở xung quanh nữa, trong số đó có 7 khu rộng từ 800 đến 1.500 hécta, 8 khu từ 1.500 đến 2.900 hécta, 1 khu trên 3.000 hécta, 2 khu từ 3.600 đến 4.900 hécta, 1 khu trên 6.100 hécta, 3 khu từ 13.000 đến 13.800 hécta, 1 khu trên 18.000 hécta, 1 khu trên 22.000 hécta, 1 khu trên 25.000 hécta.

Như vậy thì người An Nam chẳng còn được bao nhiêu nữa. Bất chấp tất cả tình trạng đó và mặc dù xứ này đã bị đủ thứ tai hoạ tàn phá, người Pháp vẫn cứ tiếp tục tǎng thuế khoá. Ngân sách của Bắc Kỳ sắp được nâng từ 18.017.180 (?) đến 18.200.670 đồng. Chế độ của đế quốc Pháp ở Đông Dương là như thế đấy!

cpv.org.vn

Gửi đoàn chủ tịch Quốc tế nông dân

Các đồng chí thân mến,

Trong 2 hoặc 3 tuần lễ tôi sẽ trở về đất nước tôi. Chuyến đi của tôi tốn chừng 500 đôla Mỹ. Vì tôi không có tiền, nên tôi mong các đồng chí giúp tôi.

Xin vui lòng trả lời tôi ở địa chỉ như sau: Ông Lai, ở nhà ông écxten, 21 phố Halesơ, Béclin. Trong trả lời này, hãy viết đơn giản “có” hoặc “không”. Nếu là có, hãy gửi tiền đến Uỷ ban Trung ương của Đảng Đức, cho “Liwang”.

Có hay không có tiền, tôi yêu cầu các đồng chí gửi cho tôi một chương trình tổ chức thực hành để tôi có thể làm việc một cách có ích.

Trong khi chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng có được tức thời, xin các đồng chí thân mến nhận lời chào cách mạng của tôi.

Béclin, ngày 16-12-1927. ÁI QUỐC

cpv.org.vn

————————–

Thư đánh máy bằng tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Đường cách mệnh (50)

In lần đầu tiên tại Quảng Châu (Trung Quốc), nǎm 1927. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Theo cuốn sách lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

ĐƯỜNG CÁCH MỆNH

Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong 1 .

LÊNIN

BỊ ÁP BỨC DÂN TỘC LIÊN HỢP HỘI TUYÊN TRUYỀN BỘ ẤN HÀNH

cpv.org.vn

———————————-

50. Đường cách mệnh là cuốn sách gồm những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội do người tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) trong những nǎm 1925-1927. Các lớp huấn luyện chính trị này nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng và phương pháp cách mạng cho những người cách mạng Việt Nam; chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu nǎm 1930. Cuốn sách này do Bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông xuất bản nǎm 1927 để làm tài liệu học tập và tuyên truyền. Đường cách mệnh là một trong những tác phẩm lớn đánh dấu một trong những mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời là một trong những vǎn kiện lý luận đầu tiên của Đảng ta, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam. Tr.257.

Tư cách một người cách mệnh

Tự mình phải:
Cần kiệm.
Hoà mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cẩn thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.
Hy sinh.
ít lòng tham muốn về vật chất.

Bí mật.

Đối người phải:

Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể.

cpv.org.vn

Đại biểu tham dự Những ngày Văn hóa Tây Nguyên tại Hà Nội lần thứ II năm 2012 vào Lăng viếng Bác

Sáng 30/8/2012, 200 đại biểu tham dự Những ngày Văn hóa Tây Nguyên tại Hà Nội lần thứ II – 2012” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức với sự tham dự của các tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng và UBND thành phố Hà Nội đã đến đặt hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tay nguyenĐại biểu tham dự Những ngày Văn hóa Tây nguyên tại Hà Nội
lần thứ II năm 2012 vào Lăng viếng Bác

Đây là hoạt động văn hoá lớn chào mừng kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và ngày Truyền thống của Ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (28/8), nhằm tiếp tục giới thiệu với nhân dân Thủ đô, nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống của đồng bào Tây Nguyên trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tôn vinh các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên, khai thác và phát triển kinh tế, du lịch trên nền tảng văn hoá truyền thống. Đồng thời động viên, khích lệ nhân dân các dân tộc Tây Nguyên trong phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, phát triển kinh tế, xã hội; xứng đáng với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của Tây Nguyên trong lịch sử cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thông qua bức tranh văn hóa đa dạng, đặc sắc của các dân tộc Tây Nguyên thể hiện tình đoàn kết của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; thể hiện tình đoàn kết, gắn bó giữa nhân dân Thủ đô với các dân tộc Tây Nguyên trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.

Với chủ đề: Tây Nguyên – Truyền thống và phát triển, lễ hội giới thiệu bản sắc văn hóa truyền thống mang tính đặc trưng của các dân tộc Tây Nguyên thông qua hình ảnh, sưu tập hiện vật của các tộc người như: Trang phục truyền thống, trống da voi, cồng, chiêng, công cụ lao động sản xuất, các loại nhạc cụ, các hiện vật liên quan đến nghi lễ đời người…giúp người xem có cái nhìn toàn cảnh về văn hóa điển hình của các tộc người vùng Trường Sơn – Tây Nguyên. Đặc biệt, triển lãm “Tranh, tượng về Tây Nguyên” có trưng bày các tác phẩm về Tây Nguyên của các nhà điêu khắc, họa sỹ nổi tiếng như: “Bác Hồ với Tây Nguyên” của họa sỹ Xu Man, “Lớp học văn hóa dân tộc” của họa sỹ Hà Xuân Phong, “Cha và hai con” của họa sỹ Hồ Uông…Lễ hội còn giới thiệu vấn đề phát triển không gian văn hóa cồng chiêng – Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại; Bảo tồn sử thi Tây Nguyên – giá trị văn hóa tinh thần vô giá; Bảo tồn nền văn hóa bản địa phong phú và đa dạng của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên như: các loại nhạc cụ dân tộc, các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian, sinh hoạt cộng đồng phong phú và kho tàng văn học dân gian đặc sắc, vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị thẩm mỹ độc đáo như: nhà rông, nhà dài, tượng nhà mồ, lễ hội, trường ca, những làn điệu dân ca đậm đà bản sắc được lưu truyền qua nhiều thế hệ…Và vai trò quan trọng của các già làng trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của Tây Nguyên.

Trong khuôn khổ “Những ngày văn hóa Tây Nguyên tại Hà Nội lần thứ II – 2012” diễn ra tọa đàm “Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo và đa dạng của Tây Nguyên”. Đây là một diễn đàn, tiếng nói từ thực tiễn nhằm thúc đẩy quá trình bảo tồn và phát huy văn hóa Tây Nguyên, để các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên, các cơ quan chức năng đưa ra các biện pháp, các mô hình tích cực trong các hoạt động vì sự phát triển của vùng Tây Nguyên trong các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực văn, tăng cường công tác tuyên truyền tạo sự hiểu biết của xã hội về bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số…Qua đó, tìm ra những biện pháp, mô hình hoạt động hữu hiệu nhất để vừa bảo tồn được vốn văn hoá truyền thống, vừa phát huy và khai thác có hiệu quả nền tảng truyền thống đó trong hội nhập và phát triển, giao lưu quốc tế, quảng bá du lịch…

Với tất cả tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người con của đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ kính cẩn nghiêng minh tưởng niệm Người – người thầy, người cha vĩ đại của đất nước đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các đại biểu xin hứa với Bác sẽ tiếp tục gìn giữ những giá trị cách mạng cao đẹp, gìn giữ và phát huy tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em, xây dựng cuộc sống “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn (*)

Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân thuộc địa. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy.

>> Nghe Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập

……………………………………………

Ngày 27 tháng 8 năm 1945, Thường vụ Trung ương họp. Rồi Hội đồng Chính phủ họp. Bàn nhiều công việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bảnTuyên ngôn Độc lập.

Mọi việc chuẩn bị ngày lễ Độc lập đều gấp rút, đều quan trọng. Nhưng gấp rút nhất, quan trọng nhất là dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Từ Nam quốc sơn hà thế kỷ 11 đời Lý, Bình Ngô đại cáo thế kỷ thứ 15 đời Lê, đến Tuyên ngôn Độc lập thời đại Hồ Chí Minh thế kỷ thứ 20, khoảng cách dài gần 10 thế kỷ, ngót nghìn năm.

Kể từ ngày thứ ba, 28 tháng 8 năm 1945 ấy, tức là ngày 21 tháng 7 Ất Dậu, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung vào việc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Trên gác hai nhà 48 Hàng Ngang, trong một căn phòng rộng mà chủ nhà làm phòng ăn, ở giữa kê một cái bàn dài to, quanh bàn có tám ghế tựa đệm mềm là nơi Bác Hồ thường làm việc với các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối phòng, sát tường phía sau, kê một chiếc bàn tròn mà Bác cùng chúng tôi thường ăn sáng. Bác hay ngồi suy nghĩ và đánh máy bên chiếc bàn con kê sát tường góc phía trong. Mặt bàn hình vuông, bọc da xanh màu lá mạ, vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ mang từ chiến khu về. Bác trầm ngâm suy nghĩ phác thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Nửa đêm hôm ấy, tôi chợt thức giấc, thấy Bác vẫn ngồi chăm chú làm việc. Hà Nội sau một ngày sôi động đang đi vào yên tĩnh. Đêm mùa thu, trên căn gác thoáng rộng, không khí mát lành. Tôi trở dậy, bước thật nhẹ ra phía hành lang, nhìn xuống đường. Ban ngày, phố Hàng Ngang náo nhiệt, chật chội. Giờ đây rộng vắng giữa đêm khuya. Hai đường ray tàu điện chạy thành hai vệt thẳng, đen nhánh. Trước mõi căn nhà dọc phố, cờ đỏ sao vàng sẫm lại trong đêm. Một tốp tự vệ mặc quần soóc, đầu đội mũ calô, đang đi tuần dọc phố, bóng dáng hiên ngang.

Chỉ mới cách đó hơn một tuần, Hà Nội còn là một thành phố bảo hộ, mật thám như rươi, thoáng thấy mầu cờ đỏ là cả bộ máy cai trị của kẻ thù lồng len như thú dữ. Thế mà giờ đây cờ đỏ phấp phới bay khắp phố phường. Đêm ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang ngồi giữa lòng Hà Nội soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, mở đầu một kỷ nguyên mới cho dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập, Tự do. Thật là kỳ diệu. Cách mạng là một sự kỳ diệu. Và chính Người, từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, đã cùng với toàn dân làm nên điều kỳ diệu đó. Từ buổi nhen nhóm phong trào cách mạng, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ra đời vào năm 1925, do chính Người sáng lập, để năm năm sau, chính đảng đầu tiên của giai cấp Công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị.

***

Chiều ngày 31 tháng 8 năm 1945, Bác bảo đưa cho Bác xem sơ đồ địa điểm tổ chức mít tinh và nhắc Ban tổ chức chú ý cả nơi vệ sinh cho đồng bào, và dặn nếu trời mưa thì kết thúc sớm hơn, tránh cho đồng bào bị mưa ướt, nhất là đối với các cụ già và các cháu nhỏ.

Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên quảng trường Ba Đình, một quang cảnh vừa náo nhiệt, vừa xúc động. Khi Cụ Hồ vừa xuất hiện trước máy phóng thanh, thì cả quảng trường âm vang tiếng hô:

– Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang sảng cất tiếng đọc Tuyên ngôn Độc lập thì cả biển người im phăng phắc lắng nghe:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”

Đọc được một đoạn, Cụ Hồ bỗng dừng lại, đưa cặp mắt âu yếm nhìn toàn thể đồng bào, cất tiếng hỏi:

– Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?

Tiếng đáp lại liền ngay như sấm:

– Có!

Người dân và Chủ tịch nước bỗng trở nên gần gũi và vô cùng thân thiết.

Càng về cuối bản Tuyên ngôn Độc lập, giọng Cụ Hồ càng âm vang, như cuốn hút mọi người.

“Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-ran và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhân quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi – Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng Tự do, Độc lập và sự thật đã trở thành một nước Tự do, Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền Tự do, Độc lập ấy!”

Cùng với ngày 2 tháng 9 năm 1945, bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào, là một mốc son chói lọi trên con đường dài đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam cũng là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Đó thực sự là lời tuyên bố đanh thép về sự cáo chung của chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức. Đồng thời nó cũng báo hiệu sự mở đầu của một thời đại mới, thời đại trỗi dậy của các dân tộc nhược tiểu đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân thuộc địa. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy. Và như chúng ta đã biết, bản án đã được thực hiện bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu chín năm sau đó.

VŨ KỲ
Thư ký giúp việc Bác Hồ từ năm 1945 đến 1969
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

(trích Nhớ mãi những phút giây đầu tiên)

………………………………….

(*): tựa đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online