Nội tình quân đội trong “Mùa hè đỏ lửa”

QĐND – Sự kiện và Nhân chứng xin điểm một số báo Mỹ ra giữa năm 1972 về nội tình quân đội Mỹ-Thiệu, khi cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của Quân Giải phóng đang diễn ra quyết liệt trên toàn miền.

Quân Mỹ muốn rời “chiếc tàu đắm”

Báo Life ra ngày 28-4-1972 đăng bài “Bút ký từ địa ngục” (The North Vietnamese Offensive: April 1972 Report from the Inferno). Trái với những lời bàn về “những chiến thắng chưa được điều nghiên” của thống tướng A-bram (Abrams[1]), ký giả Giôn-xa-anh (John Saar) đã chỉ ra rằng tới lúc đó quân Mỹ đã không còn muốn chiến đấu bảo vệ lợi ích của “đồng minh Nam Việt Nam”. Tờ Life tường thuật:

… Trong sự yên ả của sở chỉ huy trang bị điều hòa nhiệt độ của viên cố vấn trưởng Mỹ, cuộc chiến tranh như ở đâu đó, xa vời… Trên giá là các sách cần đọc về chiến tranh du kích. Trên cửa là bài thơ của tác giả – cố vấn Mỹ này.

“Lòng tôi đâu muốn chạy con tàu này
Một khi tôi không thể kéo hồi còi về ga
… Đành mặc cho con tàu này trật đường
Và đành nhìn những ai bị rơi xuống địa ngục

Viên đại tá Mỹ không còn e ngại điều gì… Ngay trong cuộc tiến công chiến lược của Quân Giải phóng, các ký giả phương Tây đã học được cách cảnh giác với một khối lượng lớn chưa từng có những tin giả vờ lạc quan đang trôi nổi khắp nơi… Tại một căn cứ hỏa lực gọi là Bát-xtôn (Bastogne) ở tây nam Huế, một tiểu đoàn quân đội Sài Gòn đang không còn hơi sức cầm súng, không thể sơ tán được thương binh và lính tử trận, đang thiếu lương thực, nước, và đạn…

Những chiếc xe tải chở lính một đại đội thuộc Lữ đoàn 196 của Mỹ đang nổ máy lao đi… Những người lính Mỹ khác giải thích rằng vừa xảy ra một cự tuyệt nhất thời của một đại đội Mỹ khi được lệnh đi ra chiến trường. Những người lính Mỹ tỏ ra có lý và đúng mực, nên sau hai giờ được thuyết phục, họ đồng ý ra trận. Nhưng lính Mỹ chỉ chấp nhận các hành động chiến đấu để tự bảo vệ mình, cũng như bảo vệ những người Mỹ khác mà thôi…

Trung tá Phạm Văn Đính – chỉ huy, Trung tá Vĩnh Phong-chỉ huy phó dẫn binh sĩ Trung đoàn 56 đầu hàng cách mạng. Nguồn: Báo chí Phương Tây

Lính Sài Gòn chiến đấu cho… quan

Tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn (The Washington Post) đầu tháng 7-1972 đăng phóng sự của Pi-tơ Brét-xtrớp (Peter Braestrup) Lính Sài Gòn phục vụ quan, không phụng sự dân tộc (Viet Soldier Serve Officer, not Nation)”. Ký giả này viết:

Trạc 20 tuổi, người gầy nhom, Nguyễn Văn Lớn đang dưỡng thương cho vết thương ở cổ, sau trận 11-5-1972, khi quân đội Sài Gòn lâm vào trận chiến tưởng như không có hồi kết để mở đường Quốc lộ 13 vào giải vây An Lộc, nằm cách Sài Gòn 60 dặm.

Đối với Lớn, cũng như với nhiều thanh niên nông thôn Việt Nam, các khái niệm như “quốc gia”, “Cộng sản”, và “chính phủ” khá trừu tượng, xa lạ… Là người theo đạo Cao Đài trên danh nghĩa, Lớn học đến lớp 4 ở trường rồi nghỉ phụ với mẹ bán hàng ngoài chợ tại một làng nhỏ thuộc thánh địa Tây Ninh. Chị gái của Lớn lấy một trung sĩ quân đội Sài Gòn, còn em gái hiện đang bán hàng hoa tại một căn cứ không quân ở Sài Gòn.

Năm 1970, Lớn được đưa tới trung tâm huấn luyện Quang Trung (đầu ra: 39 nghìn người/năm), nơi anh ta trải qua 10 tuần huấn luyện. Sau đó Lớn nhập vào một tiểu đoàn quân số 500 lính của Sư đoàn 25, gần Trảng Bàng nằm ở phía tây bắc Sài Gòn.

Năm 1970 và 1971 không quá nghiệt ngã đối với đơn vị của Lớn. Vì cuộc xâm lược của Mỹ – Thiệu sang Cam-pu-chia đã đẩy đa số các tiểu đoàn chính quy ra khỏi địa bàn tác chiến.

“Chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi tỏ ra dễ dãi với lính, nhưng ông ta không gan dạ”, Lớn nói thêm, “chúng tôi chưa phải dự những trận đánh”.

Từ khi cuộc tiến công 30-3-1972 tại miền Đông Nam Bộ bắt đầu, hiện tượng đào ngũ tiếp diễn. Theo các nguồn chính thức, số lượng đào ngũ vượt lên con số 12 nghìn lính/tháng – tỷ lệ đào ngũ của năm 1971, và cảnh sát càng hăng hái ruồng bố lính đào ngũ.

Cuối năm 1971, Lớn được chuyển sang Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 31, đơn vị đang tiến hành tác chiến ác liệt hơn tại các kênh rạch trong rừng U Minh, vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhận xét này của Lớn khớp với một quan điểm phổ biến trong các cuộc nói chuyện của các sĩ quan Nam Việt Nam với cố vấn Mỹ, trong đó họ bình luận về khả năng chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam như sau: binh lính quá dựa dẫm vào cá nhân người chỉ huy, chiến đấu không có được lý tưởng.

Thực vậy, một lính Sài Gòn khác, có học, thuộc Sư đoàn 3, được điều ra Quảng Trị vào tháng 5-1972 và hiện nay đang xây dựng lại, nói: “Trong quân đội Nam Việt Nam, người lính không phụng sự tổ quốc hay phục vụ quân đội. Anh ta làm việc cho một cá nhân cụ thể. Nếu cá nhân cầm đầu này ăn cắp gạo, bạc đãi lính, đơn vị sẽ thuộc loại kém”.

“Trong quân đội Sài Gòn”, một cố vấn Mỹ kỳ cựu nói “mỗi lính đều tìm kiếm sự được cai quản, sự khâm phục. Thứ văn hóa này áp đặt một gánh nặng khủng khiếp ngay cả lên những chỉ huy tiểu đoàn chính cống. Anh ta phải quyết định mọi việc. Nếu anh ta bị thương hoặc tử trận, cả tiểu đoàn gồm 500 người sẽ tan ra từng mảnh”.

Thực trạng này gây tổn thất trầm trọng cho quân Sài Gòn trong cuộc tiến công Xuân 1972 của cách mạng. Chẳng hạn, tiểu đoàn thiết giáp 20, được trang bị mới tới 56 xe tăng M48, ban đầu được báo cáo là tác chiến thuận lợi tại thành Quảng Trị tháng 4-1972, cho đến khi viên chỉ huy tiểu đoàn bị thương. Sau đó, tiểu đoàn này tan rã thành từng mảnh.

Quan Sài Gòn phụng sự… Tổng thống

Bằng phóng sự dài “Quan và lính Sài Gòn: Tháng 7-1972”, ký giả Pi-tơ Brét-xtrớp đưa ra một tổng quan về chính quyền Sài Gòn: Khá tạp nham, ngập ngụa trong tham nhũng, và trong mâu thuẫn giữa việc cất nhắc những tay chân trung thành nhưng kém tài của Thiệu với việc phải dùng những nhân vật chống đối Thiệu ở các mức độ, nhưng được lòng chủ Mỹ, do có vẻ “chiến đấu cho tự do” hơn.

Tác giả chỉ ra xu thế quân phiệt, quân sự hóa bộ máy chính quyền Sài Gòn. Pi-tơ Brét-xtrớp viết:

“Với mối đe dọa bởi chiến tranh du kích tồn tại khắp nơi, 44 vị tỉnh trưởng, 220 quận trưởng và 6 thị trưởng tại các thành phố lớn của hệ thống tập quyền theo kiểu Pháp ở miền Nam Việt Nam đã từ lâu là nhà binh. Họ vừa có trách nhiệm lãnh đạo quân địa phương và dân vệ, vừa điều hành bộ máy quan liêu dân sự”.

Pi-tơ Brét-xtrớp cho hay từ Tết Mậu Thân, tư lệnh Mỹ A-Bram đã nhiều lần nhắc nhở Thiệu rằng ba đơn vị “tậm tịt” (lackluster) đóng quanh Sài Gòn là Sư đoàn 5, 18, và 25 phải được chỉ huy bằng các sĩ quan cứng cỏi, có khả năng, chứ không chỉ là những kẻ trung thành. Thiệu cứ lần lữa, vì các đơn vị yếu kém này có thể trở thành một đòn đảo chính cốt tử tại “Thủ đô” Sài Gòn.

Tuy nhiên, dưới sức tấn công dồn dập của Quân Giải phóng đầu năm 1972, vẫn theo Pi-tơ Brét-xtrớp, Thiệu đã thải hai trong số 4 tư lệnh vùng chiến thuật, thay 3 trong số 13 tư lệnh sư đoàn, hoán đổi hơn chục trong số 44 ghế tỉnh trưởng…

Pi-tơ Brét-xtrớp điểm danh các tướng dưới tướng Thiệu. Thủ hạ trung thành nhất phải kể Hoàng Xuân Lãm. Năm 1967, khi các tướng khác còn do dự, Lãm từng ném lon đòi về vườn để bày tỏ sự trung thành với Thiệu, buộc các tướng kia phải chọn Thiệu thay cho Kỳ. Cố vấn Mỹ gọi Lãm là “vị lãnh chúa hay vắng mặt”, chê hắn là chỉ ăn chơi, đánh nhau tồi… Lãm, cùng các tướng khác, vừa chịu sốc mạnh bởi cuộc tiến công chiến lược của Quân Giải phóng, bắt đầu từ tháng 4-1972. Nguyễn Văn Toàn, thủ hạ của Lãm, một tay chỉ huy tròn vai nhưng là “vua buôn lậu quế” cùng với vợ Lãm… Chuẩn tướng Lý Tòng Bá kết hợp sự hăng máu đánh “Việt Cộng” với đời sống quá xa hoa so với đồng lương. Đô đốc Chung Tấn Cang từng “dính án” biển thủ, trục lợi được Thiệu tin dùng làm Trưởng ban chống tham nhũng, rồi tư lệnh Đặc khu Thủ đô, để dẹp nguy cơ đảo chính. Một tay hòm chìa khóa của Thiệu là Đặng Văn Quang, được Pi-tơ Brét-xtrớp xem là sự pha trộn giữa “Ét-ga Hu-vơ (Edgar Hoover-giám đốc FBI, vì Quang phụ trách an ninh quân đội), Các-min Đờ-Sa-pi-rô (Carmine DeSapio-chính khách Mỹ, can tội biển thủ và bày đặt âm mưu thủ đoạn) và Rô-bớc Mắc Na-ma-ra (Robert McNamara – trung thành với các tổng thống)…”.

“Trong sạch” có Đại tá Nguyễn Văn Chúc, Trung tướng Ngô Quang Trưởng. Nguyễn Văn Chúc ra mặt chống tham nhũng, bị Thiệu xếp vào nhóm “phá quấy”. Tướng Cao Văn Viên tuy lờ phờ, nhưng Thiệu đánh giá là “có chuyên môn”, và được cái trung thành với tổng thống.

Người lái con tàu đắm

Pi-tơ Brét-xtrớp kết luận bài viết: “Nhưng Thiệu đang gặp vấn đề.

Ngay cả khi ông ta muốn, ông ta không thể đột nhiên tháo bỏ hệ thống chính trị mà một phần ông ta được thừa hưởng, một phần khác do ông ta tạo dựng. Không có một cấu trúc quyền lực nào khác hiện diện hoặc có thể nhanh chóng được tạo ra, để có thể thay thế hệ thống ngành dọc về quân sự hiện hành cũng như bộ máy hành chính dân sự đang chỉ đạo nó.

Hơn nữa, mọi đánh giá đều cho thấy Thiệu có thể lại tiếp tục xoay xở một cách tệ hại về mặt quân sự bằng những phương án lỗi thời”.

Lê Đỗ Huy (dịch)
qdnd.vn

[1] Sách Một cách làm chiến tranh tốt hơn: Các chiến thắng chưa được điều nghiên và kết thúc bi kịch trong những năm cuối cùng của Mỹ ở Việt Nam (A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam), NXB Houghton Mifflin Harcourt; June 3, 1999.

Văn học Việt Nam ở Trung Quốc

QĐND – Trước và trong Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học Việt Nam từ ngày mồng 5 đến ngày 10-1-2010 tại Quảng Ninh và Hà Nội, là một đại biểu chính thức của hội nghị, tôi cứ băn khoăn mãi xung quanh câu hỏi: Tại sao nhiều nhà văn Việt Nam và Trung Quốc, khi nói chuyện với nhau hoặc phát biểu trong hội thảo, đều cho rằng sách văn học Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc quá ít ỏi: Ngoài “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du hình như chỉ có “Những lá thư từ tuyến đầu Tổ quốc” (nhiều tác giả), “Ông cố vấn-Hồ sơ một điệp viên” (của Hữu Mai) mà thôi?

Thực tế, văn học Việt Nam đã được giới thiệu trang trọng trong bộ sách công cụ tra cứu đồ sộ của Trung Quốc – Bộ sách “Trung Quốc đại bách khoa toàn thư”, do Quốc vụ viện (Chính phủ Trung ương) nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chỉ đạo, Nhà xuất bản Trung Quốc đại bách khoa toàn thư xuất bản. Bộ toàn thư tổng cộng có 80 quyển, mỗi quyển khoảng 12-15 triệu chữ Hán, dày trung bình 700 trang khổ 19x26cm (tương đương 2.100 trang dịch ra tiếng Việt).

Trong bộ sách này, Bộ môn Văn học chia làm 3 quyển (2 quyển văn học Trung Quốc, 1 quyển văn học nước ngoài).

Riêng phần “Văn học Việt Nam” trong quyển “Văn học nước ngoài” do bà Triệu Ngọc Lan, (Giáo sư giảng dạy Bộ môn tiếng Việt, Hệ Ngôn ngữ phương Đông, Học viện Ngoại ngữ, Trường Đại học Bắc Kinh) biên soạn, được chia làm ba phần lớn: Văn học trước Cách mạng dân tộc dân chủ, Văn học thời kỳ Cách mạng dân tộc dân chủ, Văn học sau Cách mạng Tháng Tám.

Bên cạnh nội dung “Văn học Việt Nam”, sách báo Trung Quốc còn giới thiệu thân thế và sự nghiệp của những nhà văn, nhà thơ, những cây đa cây đề trên văn đàn Việt Nam, từ cổ chí kim, bằng song ngữ (Hán-Việt hoặc Hán-Anh) như: Nguyễn Trãi, Lê Tư Thành (Vua Lê Thánh Tôn), Đặng Trần Côn, Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Tú Xương, Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Ngô Tất Tố, Tú Mỡ, Đặng Thai Mai, Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Trọng Lư, Đồ Phồn, Nam Cao, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Huy Cận, Tố Hữu, Tô Hoài v.v..

Đặc biệt, tại các trường đại học, học viện ở Trung Quốc có nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của các nghiên cứu sinh viết về “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du, Thơ Hồ Xuân Hương, về những tác phẩm “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm khúc”, v.v..

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh Trung Quốc lần thứ 60 (1949-2009), Tổng công ty Sách Trung Quốc đã tiến hành thống kê những sách văn học nước ngoài đã được dịch sang Trung văn và xuất bản ở Trung Quốc trong 60 năm qua, tính đến ngày 20-5-2006.

Tôi đã tìm được 150 đầu sách của Việt Nam đã được dịch và ấn hành tại đất nước đông dân nhất thế giới, hiện có hơn 300 nhà xuất bản Trung ương và địa phương này.

Phải chăng vì những nguyên nhân lịch sử, xã hội, văn hóa và thị hiếu khác nhau, mà nhiều người Trung Quốc cũng không nắm bắt được những thông tin trên?

Ngay đến những đại biểu Trung Quốc có mặt tham dự Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học nước ngoài như: Giáo sư-dịch giả Chúc Ngưỡng Tu, gần nửa thế kỷ giảng dạy và nghiên cứu văn học Việt Nam, người đã dịch tiểu thuyết “Ông cố vấn…” của nhà văn Hữu Mai sang Hán ngữ, đã tham gia biên soạn bộ giáo trình đồ sộ “Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” gồm 3 tập; giảng viên Hoàng Hoa Hiến, giảng dạy tiếng Việt ở Trường Đại học Sư phạm Quảng Tây cũng nhớ không nhiều những đầu sách Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc.

Chỉ có nữ sĩ Điền Tiểu Hoa, chuyên viên nghiên cứu của Sở Nghiên cứu Văn học nước ngoài thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc là có trong tay bản thống kê sách Việt Nam đã dịch và xuất bản ở Trung Quốc, giống như tư liệu của tôi thu thập được qua trang web của Tổng công ty Sách Trung Quốc.

Thực ra, số đầu sách văn học Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc không chỉ là con số 150. Bởi vì, nhiều bộ sách gồm nhiều tập như: “Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” (gồm 3 quyển), “Ông cố vấn” của Hữu Mai (gồm 2 quyển), “Sao đổi ngôi” của Chu Văn (gồm 3 quyển) v.v.. họ cũng chỉ tính là một đầu sách.

Trong số hơn 150 đầu sách Việt Nam được dịch và xuất bản ở Trung Quốc, tôi thấy đều là những tác phẩm nổi tiếng và được bạn đọc Việt Nam ưa thích, từ xưa đến nay như: “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) nghe nói có hơn mười bản dịch, “Thơ Hồ Xuân Hương”, “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “Kan Lịch” của Hồ Phương, “Họ sống và chiến đấu như thế” của Nguyễn Khải, “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, “Xung kích”, “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi, “Vùng mỏ” của Võ Huy Tâm, “Tuổi thơ dữ dội” của Phùng Quán (Bạn dịch là Thiếu niên du kích anh hùng), “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc , “Bài ca chim chơ-rao” của Thu Bồn ,“Quán rượu người câm” (tập truyện ngắn, trong đó có truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Sáng), “Tranh tối tranh sáng” của Nguyễn Công Hoan, “Mẫn và tôi” của Phan Tứ, “Thanh Hải” (tập thơ của Thanh Hải), “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên, “Đêm Tháp mười” (Tập truyện, trong đó có truyện cùng tên của Lê Văn Thảo), “Sống như anh” Phan Thị Quyên kể Trần Đình Vân ghi, Tập truyện ngắn “Cái hom giỏ” của Vũ Thị Thường, Kịch bản văn học “Nghêu sò ốc hến” của Hoàng Châu Ký, Tập lý luận phê bình “Bảo vệ nguyên tắc tính đảng của văn học” của Hồng Chương, v.v..

Từ trái sang phải: Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; Dịch giả Trung Quốc Chúc Ngưỡng Tu (Người dịch “Ông cố vấn” của Hữu Mai và “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của Nguyễn Huy Tưởng, sang Trung văn) và Dịch giả Vũ Phong Tạo, tại Triển lãm sách trong Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam, từ ngày 5 đến ngày 10-1-2010, Hà Nội. Ảnh: Vũ Phong

Nhiều nhà văn có nhiều tác phẩm được dịch và xuất bản ở Trung Quốc, như nhà thơ Tố Hữu có “Người con gái Việt Nam”, “Gió lộng”, “Quê hương tôi”, “Việt Bắc” “Chào Trung Quốc”, “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, “Tiếng hát đôi bờ”, “Miền Nam chiến đấu”, “Tố Hữu thi tập”, v.v..

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có 5 tác phẩm là “Truyện anh Lục”, “Ký sự Cao Lạng”, “Bốn năm sau”, “Tìm mẹ”, “Thằng Quấy”.

Nhà văn Nguyễn Văn Bổng có hai tác phẩm “Con trâu”, “Rừng U minh”.

Nhà văn Nguyễn Đình Thi có bốn đầu sách: Tập thơ “Chiến sĩ”, tiểu thuyết “Vỡ bờ”, “Xung kích”, “Mặt trận trên cao”.

Đó là chưa kể đến 57 tác phẩm được giới thiệu trong bộ giáo trình đại học ở Trung Quốc “Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” gồm 3 tập.

Phạm trù tiểu thuyết của bạn, gia tộc tiểu thuyết gồm bốn thành viên: Truyện dài (trường thiên tiểu thuyết), Truyện vừa (trung thiên tiểu thuyết), Truyện ngắn (đoản thiên tiểu thuyết) và Truyện mi-ni – Truyện cực ngắn (vi hình tiểu thuyết, tiểu tiểu thuyết).

Tập 1 Văn học Việt Nam từ 1930 đến năm 1945, giới thiệu những tác giả và tác phẩm: “Nửa chừng xuân” (Khái Hưng), “Đoạn Tuyệt” (Nhất Linh); “Kép Tư Bền”, “Tinh thần thể thao” (Nguyễn Công Hoan), “Cô Thoa” (Thế Lữ); “Giông tố” (trích), “Cái ghen của đàn ông” (Vũ Trọng Phụng); “Lầm than” (trích của Lan Khai), “Nhà mẹ Lê” (Thạch Lam), “Một người mẹ Trung Quốc” (Nguyên Hồng), “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân); “Tắt đèn” (trích), “Nợ đời” (Ngô Tất Tố); “Chí Phèo” (Nam Cao), “Sống nhờ” (trích của Mạnh Phú Tư), “Sau hàng rào tre” của Trần Tiêu v.v..

Tập 2 Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975, giới thiệu những tác giả và tác phẩm: “Một lần đến Thủ đô” (Trần Đăng), “Vợ nhặt” (Kim Lân), “Đôi mắt” (Nam Cao), “Xung kích” (trích của Nguyễn Đình Thi), “Con trâu” (trích của Nguyễn Văn Bổng), “Vợ chồng A Phủ” (trích của Tô Hoài), “Gặp gỡ” (Bùi Hiển), “Đất nước đứng lên” (trích của Nguyên Ngọc, bạn dịch là Tổ quốc đứng lên, rõ ràng không hay bằng nguyên tác); “Anh nuôi đại đội” (Lê Khánh), “Bốn năm sau” (trích của Nguyễn Huy Tưởng), “Đi bước nữa” (trích của Nguyễn Thế Phương, bạn dịch là Cải giá, rõ ràng không hay bằng nguyên tác), “Cỏ non” (Hồ Phương), “Một tấm áo mới” (Ngô Ngọc Bội), “Chiến sĩ và em bé” (Hải Hồ), “Mùa lạc” (trích của Nguyễn Khải, bạn dịch là Mùa thu hoạch lạc, rõ ràng không hay và cô đọng bằng nguyên tác); “Những bông hồng” (Nguyễn Thị Cẩm Thạnh), “Màn kịch của cô giáo” (Giang Nam), v.v..

Tập 3 Văn học Việt Nam từ năm 1975 đến cuối thế kỷ 20, giới thiệu những tác giả và tác phẩm: “Khoảng cách còn lại” (trích của Nguyễn Mạnh Tuấn), “Thời gian” (Cao Duy Thảo), “Sao đổi ngôi” (trích của Chu Văn), “Mùa lá rụng trong vườn” (trích của Ma Văn Kháng), “Thời xa vắng” (trích của Lê Lựu), “Tướng về hưu” (Nguyễn Huy Thiệp), “Hai em bé sắp ra đi” (Tô Hoài), “Những ngày cuối năm” (Nguyễn Khải), “Bước qua lời nguyền” (Tạ Duy Anh), “Một chiều xa thành phố” (Lê Minh Khuê), “Lời hứa của thời gian” (Nguyễn Quang Thiều), “Gió vẫn thổi qua cánh đồng bên sông” (Võ Thị Xuân Hà), v.v..

Trong Đêm thơ quốc tế Hạ Long, tổ chức tại Tuần Châu, tối 8-1-2010, nằm trong lịch trình của Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học Việt Nam, theo chương trình đã được nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng ban Tổ chức Hội nghị thông qua, thì bộ ba dịch giả Vũ Phong Tạo (Việt Nam), Giáo sư-dịch giả Chúc Ngưỡng Tu, nữ sĩ Điền Tiểu Hoa – Nhà nghiên cứu văn học nước ngoài (Trung Quốc) đăng đàn đọc thơ song ngữ Hán – Việt ba thi phẩm Việt Nam đã được dịch sang Trung văn và được bạn đọc Trung Quốc ưa thích: “Trăng” của nhà thơ Xuân Diệu, “Tiếng thu” và “Mưa… mưa mãi” của nhà thơ Lưu Trọng Lư.

Bộ ba chúng tôi muốn gửi một thông điệp nhỏ đến các nhà văn, dịch giả rằng: Các nhà văn, nhà thơ tiền bối của chúng ta không hề phải quảng bá rùm beng, mà tác phẩm của họ vẫn vượt qua không gian và thời gian, vượt qua biên giới quốc gia, dân tộc đến với nhân loại. Câu thành ngữ “hữu xạ tự nhiên hương” luôn luôn là một chân lý. Các bạn cứ viết hay đi, chúng tôi sẽ sẵn sàng tìm đến và chuyển ngữ, làm cho tác phẩm của các bạn bay cao, bay xa, vang xa hơn nữa trong thế giới văn chương không hề có biên giới này!

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Nhà Việt Nam học

QĐND – Ngày 1-7-2010, tại Phòng Công nghiệp-Thương mại Tatarxtan đã khai mạc Phân hội của Hội Hữu nghị Liên bang Nga-Việt Nam ở nước Cộng hòa tự trị này. Ông Rinat Ibraghimốp đã được cử giữ chức Chủ tịch. Đây là người đã từ lâu gắn bó mật thiết với nước ta, từng làm nghĩa vụ quốc tế ở Cam-pu-chia và Việt Nam.

1. Khi tiếp xúc với con người thông thạo tiếng Việt và tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, biết cả tiếng Trung Quốc và tiếng Pháp này, ít người tin rằng ông ta sinh ra từ làng quê Mamasi, huyện Cumô của nước Cộng hòa Tatarxtan trong Liên bang Nga.

Ông thường bộc bạch cởi mở với bạn bè: “Tôi xuất thân từ một gia đình nông trang viên. Bố cũng như ông nội tôi là người rất ham hiểu biết: Thích đọc sách báo, văn thơ. Năm 1972, sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi vào học Trường Thông tin liên lạc-Kỹ thuật điện ở thành phố Cazan, thủ phủ của nước Cộng hòa chúng tôi. Đầu năm 1980, tôi làm hiệu thính viên chính cho các đội bay của Nhà máy Hàng không Ke-me-rô-vô, học nâng cao chuyên môn ở tuyến hàng không quốc tế Sê-rêmen-che-vô-2. Năm 1984, tôi được cử tới Cam-pu-chia với cương vị hoa tiêu-điện báo viên của tổ hợp ngoại thương “Xuất khẩu hàng không” của Liên bang. Tại đây, tôi bắt đầu tìm hiểu, làm quen với người Việt Nam-những cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện đã sang giúp nhân dân Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt – Iêng-xa-ri đem lại cuộc sống tự do cho người dân nước này. Tôi bắt đầu học tiếng Việt, điều rất cần thiết để thực thi nhiệm vụ quốc tế của mình…”.

Tại Phnôm Pênh, Rinat cùng các cán bộ và chiến sĩ Xô-viết và Quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay, mạch máu giao thông và trụ sở các đoàn ngoại giao trong những năm Cam-pu-chia vừa thoát khỏi chế độ diệt chủng của Khơ-me Đỏ. Tại đây, Rinat kết thân với các bạn Việt Nam, cùng làm việc và tích cực học tiếng Việt, tìm hiểu phong tục tập quán cũng như nền văn hóa của hai đất nước Việt Nam, Cam-pu-chia. Chẳng bao lâu anh đã làm phiên dịch tiếng Việt cho đoàn công tác của Liên Xô tại đây.

Ông Rinat Ibraghimốp thời học tập ở TP Hồ Chí Minh. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Do Rinat là một đảng viên trẻ, lại nhanh chóng học được tiếng Cam-pu-chia nên Đảng ủy Đại sứ quán Liên Xô ở nước này đã cử anh trực tiếp làm việc với thanh niên Cam-pu-chia, giải thích tuyên truyền cho họ về con đường đi tới tương lai tươi sáng của đất nước này. Về sau, ông kể lại với mọi người: “Những người tôi tuyên truyền đa phần là nông dân nghèo mù chữ. Chúng tôi làm việc nhiều, đi nhiều miền quê, gặp gỡ nhiều dân nghèo, giải thích rõ cho họ thông hiểu phải làm gì, làm thế nào để vượt qua nghèo đói, xây dựng cuộc sống mới, bảo vệ đất nước. Tôi mau chóng thấy quý yêu hai dân tộc, hai đất nước Việt Nam và Cam-pu-chia. Và tôi đã đi sâu tìm hiểu về họ. Nhưng một người làm hoa tiêu – điện đài hàng không như tôi thì làm thế nào để thực hiện được ý nguyện của mình? Thật may mắn cho tôi. Những người bạn mới – một số sinh viên đại học, những nhà Phương Đông học tương lai của đất nước Xô-viết thực tập tại đây và Việt Nam đã mách bảo cho tôi. Và đây cũng là khởi đầu bước ngoặt của đời tôi…”.

Được các bạn mách bảo, năm 1986, Rinat Ibraghimốp đã xin được chuyển ngành để học tập ở Khoa Phương Đông học theo nguyện vọng thiết tha của anh. Rinat đã bay về thành phố Ke-me-rô-vô, nơi vợ và hai con trai đang đợi mình. Ở đây, anh được biết chỉ có hai trường là Đại học Tổng hợp Mát-xcơ-va và Lê-nin-grat (nay là Xanh Pê-téc-bua) mới có Khoa Phương Đông học. Nhưng ở trường đại học thứ nhất chỉ nhận học viên có đăng ký hộ khẩu ở Thủ đô nên Rinat đã tới Lê-nin-grat, nơi có Khoa Phương Đông học mạnh nhất nước. Thật may mắn: Anh đã thi được vào khoa này với số điểm xuất sắc, đăng ký học 4 ngoại ngữ: Trung, Việt, Anh và Pháp, còn tiếng Khơ-me thì học thêm. Nguyện vọng thiết tha và ý chí quyết tâm đã giúp Rinat đạt kết quả xuất sắc, tốt nghiệp với tấm “bằng đỏ”.

2. Năm 1989, Rinat Ibraghimốp tới TP Hồ Chí Minh thực tập tại Trường Đại học Tổng hợp. Về sau, ông tâm sự cởi mở: “Đó là những năm tháng tuyệt vời nhất của đời tôi. Chỉ có lúc đó tôi mới thực hiểu sâu sắc rằng thật đáng buồn cho những ai khi muốn tìm hiểu về một đất nước mà không biết tiếng nước đó. Không phải vô cớ mà các thầy giáo thường khuyên chúng tôi: “Cần phải đi khắp thành phố, luôn luôn tiếp xúc với dân chúng”. Ở Hà Nội, tôi có rất nhiều bạn bè tốt, người Việt cũng như các nhà Việt Nam học tương lai từ Học viện Quan hệ quốc tế Mát-xcơ-va và Viện Các nước châu Á và châu Phi. Trong số đó có Ghê-na-đi Bez-đet-cô, hiện là Tổng lãnh sự Nga ở TP Hồ Chí Minh. Người Việt Nam đối xử rất tốt với mọi công dân Xô-viết sống và làm việc ở đây. Đó là điều ghi sâu mãi trong lòng tôi…”.

Tại TP Hồ Chí Minh cũng như về sau làm việc ở Hà Nội, Rinat Ibraghimốp mau chóng trở thành “người nhà” dù chỉ có 2 năm đi tập sự và “ba cùng” với dân chúng nơi đây. Ông nhớ lại những kỷ niệm “đầy ắp trong lòng”: “Những hôm rỗi việc, tôi thường cùng các bạn Việt Nam đi uống bia hơi. Quán bình dân nhưng lịch sự hơn ở chúng ta nhiều bởi những cái bắt tay và nụ cười chân tình. Bia ngon tuyệt, còn người phục vụ thì lịch sự, vui vẻ…”.

Năm 1990, sau khi kết thúc khóa thực tập, Rinat Ibraghimốp đã được Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh nhận làm nghiên cứu sinh. Ông vui sướng cầm giấy mời của trường đến Phòng Quan hệ quốc tế Trường Đại học Tổng hợp Lê-nin-grát “Thật là một hạnh phúc bất ngờ – Rinat Ibraghimốp nhớ lại – Lúc đó một vị chưa ai biết tên tuổi, nhưng trẻ trung đầy năng động và thông minh, làm việc ở Ủy ban nhân dân thành phố, đã quyết định cho tôi đi. Ông còn nói rằng, đó là một dịp may hiếm có cho tôi, hãy chớp lấy thời cơ. Người đó là Vla-đi-mia Pu-tin. Về sau, khi đã thành một nguyên thủ quốc gia, ông đã cử tôi sang làm việc với Việt Nam”.

Trong thời gian nghiên cứu, Rinat Ibraghimốp coi TP Hồ Chí Minh và Hà Nội như quê hương thứ hai của mình. Ông nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Nam – Cam-pu-chia. Do trước đây đã cố gắng đi sâu tìm hiểu về hai đất nước và hai dân tộc này nên ông nhanh chóng đạt được kết quả tốt trong một thời gian ngắn. Thế nhưng, từ sau ngày Liên Xô tan rã, ông cùng 35 nghiên cứu sinh và sinh viên các ngành khác như bị “treo lơ lửng” nơi đất khách quê người vì không xác định được ai sẽ cấp học bổng cho họ. Do vậy, Đại sứ quán Nga tại Hà Nội, rồi cả Tổng lãnh sự quán ở TP Hồ Chí Minh là những nơi họ thường xuyên lui tới để “chạy bữa”. Họ muốn “làm thêm” để kiếm sống, nhưng chẳng có việc gì thích hợp. Tuy nhiên, “máu” nghiên cứu Phương Đông vẫn nóng hổi trong tâm can Rinat. Ông tiếp tục thực hiện chủ định của mình và đã đạt được một số kết quả tốt đẹp.

3. Vào những tháng đầu khi Liên Xô tan rã, Inghiza Ibraghimốp – người anh cả của ông đã gọi điện tới Hà Nội cho ông. Sau khi giải thích sự biến đổi của đất nước, ông này đã khuyên ông mau chóng trở về đất nước. Từ lúc này, Liên bang Nga chuyển dần sang nền kinh tế thị trường. Trở về Tổ quốc, nhà Phương Đông học vừa “ra lò” này được bố trí vào làm việc ở Phòng Quan hệ thương mại với nước ngoài của Nhà máy Chế tạo máy nén khí ở Cazan. Ông được giao nhiệm vụ tìm kiếm đối tác nước ngoài làm ăn – tiêu thụ sản phẩm của nhà máy, chủ yếu là Việt Nam và Trung Quốc. Nửa năm sau, ông được cử làm người đại diện của nhà máy ở Trung Quốc.

Một ngày đầu thu năm 1992, Rinat Ibraghimốp đã chất đầy ắp lên các xe tải những sản phẩm của các xí nghiệp nước Cộng hòa tự trị này đưa tới Trung Quốc, Việt Nam và Mông Cổ để quảng cáo các loại hàng công nghiệp của nước mình. Chuyến đi vượt hàng nghìn ki-lô-mét đầy vất vả này đã thành công tốt đẹp.

Sự nỗ lực, năng động và nhiệt tình với công việc cùng với kiến thức Phương Đông học của mình, ông đã giúp Tatarxan trở thành chủ thể đầu tiên của Liên bang Nga có quan hệ kinh tế đối ngoại rất hiệu quả với các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương ngay từ những năm đầu chuyển qua nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, Tatarxan là nước đầu tiên lập ban đại diện của mình ở Việt Nam.

Ông Rinat Ibraghimốp hiện nay. Ảnh: Hữu Dy

Một thời gian dài kể từ năm 2000, Ibraghimốp làm người đại diện quan hệ thương mại của Tatarxan ở Việt Nam. Từ đó, quan hệ thương mại giữa hai bên ngày càng phát triển tốt đẹp. Hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa năm sau luôn luôn hiệu quả và cao hơn năm trước. Máy bay lên thẳng, ô tô tải hiệu Kamaz, tàu thủy của nhà máy đóng tàu Zêlênôđôn và sản phẩm của nhiều xí nghiệp khác được người Việt Nam ưa chuộng. Đáp lại, nhiều sản phẩm hàng hóa của “xứ nhiệt đới mới lạ” được người dân nước này yêu thích mua dùng.

Tại thủ đô Kazan của Tatarxan, có một cộng đồng người dân Việt sinh sống, làm ăn khá ổn định. Ibraghimốp thổ lộ: “Tôi đã đề nghị họ thành lập một “khu dân tộc – văn hóa tự trị”. Kết quả là họ được đăng ký thành lập tổ chức “Hội Đoàn kết Việt Nam”, tôi được họ bầu làm Phó chủ tịch hội kiêm Giám đốc điều hành, vì tôi đã là “người Việt” mà! Sự hoạt động của Hội thật đa dạng: Ngoài việc củng cố mối quan hệ giữa hai nước và tổ chức các chuyến thăm Việt Nam của lãnh đạo nước Cộng hòa, Hội bảo vệ và phát triển các truyền thống, ngôn ngữ và di sản văn hóa của những người Việt sinh sống và lập nghiệp trên đất nước chúng tôi”.

Rinat Ibraghimốp quả là một nhà Phương Đông học – Việt Nam học đích thực “trong việc làm”.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Lợi dụng vấn đề tự do ngôn luận để can thiệp

Đối tượng Vi Đức Hồi. Ảnh: Internet

QĐND – Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 26-1-2011, TAND tỉnh Lạng Sơn đã tuyên án 8 năm tù giam và 5 năm quản chế tại địa phương sau khi mãn hạn tù đối với Vi Đức Hồi vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, theo Điều 88 Bộ luật Hình sự. Sau phiên tòa, Vi Đức Hồi đã có đơn kháng án. Trong phiên phúc thẩm hôm 26-4, căn cứ vào thái độ thành khẩn và hợp tác trong quá trình làm việc… Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã giảm án cho Vi Đức Hồi xuống còn 5 năm tù giam và 3 năm quản chế tại địa phương sau khi mãn hạn tù.

Thực tế là vậy nhưng khi đưa tin về phiên tòa, Đài RFI dẫn nguồn vu vơ rằng: “Theo những nhà bảo vệ nhân quyền, tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước” thường được Việt Nam sử dụng để hình sự hóa quyền tự do ngôn luận… Trả lời AFP về kết quả phiên tòa, ông Phil Robertson, Phó giám đốc đặc trách châu Á của tổ chức Human Rights Watch, cho rằng: Đây vẫn là một bản án nặng nề đối với một người “đã không làm gì khác ngoài việc bày tỏ những ý kiến đối lập với Chính phủ Việt Nam”. Trước đó Human Rights Watch còn kêu gọi trả tự do cho Vi Đức Hồi.

Cần khẳng định rõ rằng, ở Việt Nam không có chuyện sử dụng tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước” để hình sự hóa quyền tự do ngôn luận. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều này đã được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, trong đó có Điều 88 Bộ luật Hình sự. Những thành tựu của Việt Nam trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đã được phần lớn các quốc gia, các tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

Hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam của Vi Đức Hồi là rất rõ ràng. Nhận xét của ông Phil Robertson là không có cơ sở. Nhà nước Việt Nam sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của công dân. Nhưng cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam phải quản lý, kiểm soát việc thực hiện quyền ấy theo đúng quy định của pháp luật và xử lý nghiêm minh nếu ai đó cố tình lợi dụng quyền tự do ngôn luận để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật. Nhà nước Việt Nam kiên quyết lên án, phản đối bất kỳ thế lực nào sử dụng vấn đề tự do ngôn luận làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Kim Ngọc
qdnd.vn

Những tội ác của chủ nghĩa quân phiệt

Theo phong tục cổ truyền thì người An Nam coi rẻ nghề nhà binh. Cho nên, cùng một cấp bậc như nhau mà quan võ lúc nào cũng bị xếp hạng sau quan vǎn. Sống trong trại lính Pháp, phải làm những công việc lao dịch nặng nề, phải tập luyện vất vả, học tập những lý thuyết ngu xuẩn với những tên chỉ huy tàn bạo, và phải chịu một thứ kỷ luật khắt khe, lúc nào cũng có thể bị trừng phạt và luôn luôn bị toà án binh đe doạ, thật không có gì hào hứng để có thể lôi kéo được thanh niên An Nam và khuyến khích họ tập tành cái nghề giết người ấy. Thanh niên bản xứ ghét cay ghét đắng việc bọn quân phiệt Pháp bắt họ phải đi lính. Họ tìm mọi cách để lẩn tránh: người giàu có thì đút lót còn người nghèo khó thì trốn tránh. Có thấy những kẻ khốn cùng không có tiền để đút lót và cũng không biết trốn đi đâu được, bị cưỡng bách dồn về trại lính buồn bã như những con vật mà người ta đem tới lò mổ; có thấy những người cha mẹ, chị em, những người vợ sắp cưới vừa khóc lóc vừa kêu van thảm thiết đi theo những người lính mộ về “cái đại gia đình” ấy như là đi theo những tội phạm bị đem lên máy chém, mới hiểu được cái vinh dự to lớn của người dân An Nam đi làm cái nghĩa vụ quân sự cay nghiệt kia. Cho nên họ tìm mọi cơ hội để tự cứu lấy mình.

Nhưng những tên chỉ huy Pháp lại rất xảo quyệt. Để đề phòng lính An Nam bỏ trốn, một viên tư lệnh chỉ huy quân đội ở Đông Dương cho thích số hiệu vào cánh tay mỗi người lính bằng nitơrát bạc. Những tên chủ đồn điền ngày xưa dùng sắt nung đỏ đánh dấu nô lệ thì những viên tướng tài ngày nay đánh dấu lính bản xứ bằng chất hoá học, thật là một tiến bộ của môn hoá học và của nền vǎn minh! Cách làm có khác, nhưng kết quả thì như nhau: Khi có một người lính đào ngũ người ta bắt tất cả đàn ông ở nơi nghi có người trốn, rồi đem lột trần để khám cánh tay. Nếu người đào ngũ lẩn trốn ở đây, thì bị tìm ra ngay; người ấy bị bắt đem về nhà lao và đưa ra toà án binh. Hầu hết các phiên toà án binh, không trừ một phiên nào, đều có những vụ đào ngũ bị đưa ra xét xử.

Khi ta đã biết người lính bản xứ bị đối xử như thế nào thì người ta không còn ngạc nhiên hỏi tại sao người lính mộ lại thích nhà lao hơn là trại lính. Tôi trích dẫn một đoạn trong bài báo mới viết gần đây:

“Thứ sáu vừa qua, một việc nghiêm trọng đã xảy ra ở trung đoàn pháo thủ người bản xứ thứ 5. Chiều ngày thứ sáu đó, trong khi duyệt một đội tân binh bản xứ cuối cùng, một viên hạ sĩ quan đã đánh người một cách dã man, hành động đó lại được nêu là gương mẫu trong trung đoàn. Tên đội đánh người ấy lại được cấp trên của nó xem là một hạ sĩ tốt nhất, hơn nữa, lại còn được đề nghị thǎng chức. Thật đáng tiếc rằng những người được nước Pháp gửi sang đây nhân danh là những người khai hoá kiên nhẫn, đã dạy nghề nhà binh cho đồng bào chúng tôi – mới sống chung chưa đầy hai tháng với những người bảo hộ cho mình – lại tự tiện “hành động một cách bỉ ổi” đánh đập bằng nòng súng và báng súng một người lính bản xứ đáng thương không hiểu qua một tiếng Pháp, viện cớ là người này không trả lời những câu hỏi bằng tiếng Pháp “giả cầy” của tên đao phủ. Người lính đáng thương ấy đã ngã chết ngất, không thở được nữa. Bác sĩ của trung đoàn đưa anh vào nhà thương, anh lính pháo thủ An Nam đã bị gãy một xương sườn vì bị đánh quá tàn nhẫn.

“Khi báo sắp lên khuôn thì chúng tôi được tin khoảng hai mươi người lính An Nam đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của bọn vũ phu quân phiệt, đã bỏ trại ra đi, không bao giờ trở lại…”. Và những thí dụ như vậy không còn là hiếm.

Trong chiến tranh dù Nhà nước có tán dương và lừa bịp rất nhiều, những người An Nam cũng không hào hứng gì để đi thí mạng cho cái bả vǎn minh và cho nước mẹ. Không chút nào như vậy đâu! Sự thật khác hẳn và chẳng đẹp đẽ gì. Người ta ra lệnh cho các xã phải cung cấp đủ một số người nào đấy. Những người này bị bắt về nhốt ở các đình làng, rồi sau đó bị trói từng xâu đem lên tỉnh lỵ. Người ta đem nhét họ vào trong các trường học hay trong các trại giam có lính canh gác, lưỡi lê tuốt trần và súng nạp đạn sẵn. Tiếp đó người ta xếp họ xuống hầm tàu tối om và ngột ngạt như những con vật để chở sang Pháp.

Chính bằng những phương pháp ghê tởm ấy mà người ta đã biến mười vạn người An Nam thành những người “tình nguyện” bênh vực cho chính nghĩa, cho công lý, v.v.. Trong số đó, 51.000 người làm việc chế thuốc súng, đào hầm, vận chuyển, cứu thương và làm nhiều việc khác nữa.

49.000 người ra mặt trận ở Pháp, ở Xalôních và ở Xibêri. 20.000 người đã chết.

Cách “mộ lính tình nguyện” cưỡng bức ấy không phải đã làm được trôi chảy mà không gặp trở ngại gì. Khi có lệnh gọi tòng quân, số lính trù bị vắng mặt lên tới 30%, số đào ngũ 50%. Những cuộc biểu tình, nổi dậy, bạo động nổ ra ở hầu khắp các tỉnh. Đương nhiên là những cuộc đấu tranh ấy đều bị đàn áp không gớm tay. Tù đày, bắn giết, tàn sát, tất cả bộ máy đàn áp đều được huy động. Ai chống lại bị xử bắn ngay tại chỗ. Nạn nhân kể có đến hàng nghìn người.

Khi được giải ngũ, những người “anh hùng” An Nam được nước mẹ biết ơn ân cần đối đãi thật là cảm động. Trước khi lên tàu về nước, người ta đã lột lại tất cả của cải của họ: nào tiền để dành được, nào đồ đạc, nào quần áo mà họ tự sắm lấy. Cũng như khi đi, họ lại được xếp xuống hầm tàu tối tǎm, ǎn những bữa cơm thiếu thốn, khó nuốt trôi và bị ngược đãi. Người ta sợ những người lính này mang về những tư tưởng tiến bộ và những thói quen thích độc lập tiêm nhiễm được ở nước Pháp, nên người ta đã giao họ cho bọn thực dân đểu giả tàn bạo nhất kiểm soát. Bọn này dùng gậy đánh, đá người vô cớ. Về đến nước nhà, những người lính ấy đều bị ném ra đường một cách đơn giản thế thôi.

Trước khi đi chiến đấu, người ta hứa trời hứa biển với họ, thì đến nay trở về người ta lại rút bỏ hết mọi quyền lợi mà xưa nay những người An Nam đi tòng quân đều được hưởng, như miễn thuế thân, miễn sai dịch, v.v.. Nhiều người đã phải đi ǎn xin từ làng này qua làng khác, phải đi bộ hàng tuần lễ để trở về quê hương, nơi mà người ta đã dùng vũ lực buộc họ phải rứt ra đi.

Hiện nay người ta kéo dài thời hạn tòng quân của người bản xứ từ 2 đến 4 nǎm. Ngoài số 25.000 đến 30.000 lính khố đỏ đóng quân trong nước dùng để bắn giết đồng bào của họ, xứ Đông Dương còn phải cung cấp thêm 40.000 lính mộ để phụng sự ở chính quốc và ở các thuộc địa khác.

Các bạn đã thấy đấy, nước Pháp chẳng phải quân phiệt chút nào đâu!

——————————–

Bản thảo của Nguyễn ái Quốc, tiếng Pháp, lưu tại Kho lưu trữ
Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Những thảm hoạ của nền vǎn minh

Bất lực không đánh nổi ông Đề Thám, không sao giết được ông bằng thuốc độc cũng không trừ được ông bằng cốt mìn, người ta bèn đào mả cha mẹ ông, đem hài cốt vứt xuống sông.

Sau những cuộc biểu tình ở miền Nam Trung Kỳ, nhiều nhà vǎn thân đã bị xử tử và bị đầy biệt xứ. Trong số đó có ông Nghè Trần Quý Cáp, một nhà nho thanh cao ai cũng mến phục. ông Cáp bị bắt trong khi còn dạy học; không xét hỏi gì cả, người ta đem chém ông hai mươi bốn giờ sau khi bị bắt. Chính phủ giết chết ông chưa đủ, còn hành hạ mãi, không chịu giao trả thi hài ông cho gia đình.

*

*     *

Khi hành hình những người lính khố đỏ ở Hà Nội(57), Chính phủ cho bắt giải cha mẹ, vợ con họ đến và bắt họ mục kích cuộc tàn sát rùng rợn những người thân yêu ruột thịt của mình. Để gây một ấn tượng lâu dài và để “dạy dân chúng”, người ta làm lại cái việc đã làm ở Anh hồi thế kỷ thứ XVIII tức là xóc đầu lâu những người Giacôbanh (1)bại trận lên mũi giáo rồi đem cắm dọc phố Xiti và dọc cầu Luân Đôn. Hàng tuần lễ người ta còn thấy đầu lâu những người lính, nạn nhân của nền vǎn minh Pháp, cau mày nhǎn mặt trên các cọc tre trên các đường phố chính ở Hà Nội.

Bây giờ nước An Nam đã “được bình định”, người ta ra sức sǎn bắt những “tên cướp” An Nam. Những tên cướp ấy là ai? Một viên sĩ quan giải thích:

Cũng có một óc tưởng tượng như nhau – ông ta nói – người Anh xem những người Bôe quyết tâm chống lại họ như là phiến loạn ngoài vòng pháp luật thì người Pháp chúng ta cũng coi những người An Nam yêu nước như kẻ cướp.

Một người Pháp khác nói: Bị cướp hết của cải, dân chúng nhiều làng đã trở thành “kẻ cướp” tất cả; nhưng họ chỉ là những người nổi dậy chống sự cướp đoạt bất công mà thôi.

Tìm ra những tên “cướp” ấy không phải khi nào cũng dễ dàng, bắt được họ càng khó hơn. Những viên chức phái đi lùng bắt họ, đã chém giết người vô tội để khỏi trở về tay không. Đây là một bằng chứng lấy của một người Pháp mà tôi đã trích dẫn nhiều chuyện:

Bảy người An Nam xấu số đang bơi một chiếc xuồng dài và mỏng manh. Đi xuôi dòng nước, lại có bảy tay chèo, xuồng đi vùn vụt như một chiếc xuồng máy. Thuyền của nhân viên nhà đoan khuất sau đám cây đước, có quốc kỳ Pháp phấp phới sau lái, vừa ở trong lạch bơi ra. Một thuỷ thủ gọi xuồng dừng lại. Người trên xuồng không hiểu cứ việc bơi đi. Thuyền nhà đoan bơi không kịp. Tên tây đoan cầm lấy súng bắn. Họ bơi lại càng nhanh. Tên đoan bắn vào họ. Một người đang chèo thét lên một tiếng rồi ngã gục xuống. Xuồng dừng lại, các bạn trong xuồng bèn ôm lấy người ngã. Có tiếng hô to: Dừng lại? Họ nhảy tới nắm lấy tay chèo vút đi. Đoàng! Một người nữa ngã. Một ít khói bay lên, một tiếng thét. Một người Pháp đi thuyền lảng vảng qua đó nghe thấy bèn lẩn chờ “những tên cướp” ở một chỗ ngoặt. Đoàng! Đoàng! Đoàng! Quả là một tay súng cừ. Ba viên đạn, ba người ngã theo. Chiếc xuồng chỉ còn hai người bơi đi chậm chạp và chìm lỉm trong con lạch.

Một viên chức nhà đoan khác, đi với sáu tên lính có đầy đủ vũ khí, bắt gặp một người đang trốn dưới ao. Anh này dấn mình dưới bùn, thở bằng một cái ống, ngậm vào miệng; lá sen kéo che kín mặt nước thật khéo léo. Tên đoan bèn chặt đầu “tên cướp” đem về toà sứ. Thật ra anh ta chỉ là một người nhà quê bình thường phải ẩn trốn vì quá sợ hãi thấy có nhiều người lạ vào làng, ai cũng mặt mũi hung tợn, mình đeo đầy súng lục, túi đạn và lǎm lǎm một khẩu súng trong tay.

cpv.org.vn

Không thể xuyên tạc và phủ nhận quyền tự do báo chí ở Việt Nam

QĐND – Một quốc gia độc lập, tất cả công dân đều có quyền tự do trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Quyền tự do này đã được bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật và được thực thi trong thực tiễn. Vậy mà vẫn có người không hiểu hoặc cố tình không hiểu cho rằng, ở đó không có tự do báo chí. Một quốc gia có tốc độ phát triển internet vào loại nhanh nhất thế giới, thế mà cũng có người xuyên tạc rằng “internet đã bị hạn chế ở đây”. Quốc gia nói trên chính là đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Hiến pháp, luật cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí , có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật Báo chí, Luật Xuất bản và Chính phủ cũng đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho báo chí Việt Nam phát triển.

Điều 2 của Luật Báo chí ghi rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng”. Điều 4 của Luật Báo chí cũng khẳng định, mọi công dân Việt Nam đều có quyền “Tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin, bài, ảnh và các tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin”.

Như vậy, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đã được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng và minh bạch. Điều này, nhiều nước trên thế giới chưa có được.

Trong mấy năm gần đây, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về loại hình và số lượng cơ quan báo chí, bao gồm báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Đến nay, cả nước có khoảng 750 cơ quan báo chí với hàng nghìn ấn phẩm (bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài). Đó là chưa kể tới hàng nghìn trang thông tin điện tử, hàng vạn blog của cá nhân… Các cơ quan báo chí ở Việt Nam đều được pháp luật bảo hộ, đều có đầy đủ các thông tin cần thiết bảo đảm cho mọi công dân đều có thể gửi tin, bài, ảnh, tác phẩm báo chí cho tòa soạn. Khác với một số tờ báo của nước ngoài, báo chí Việt Nam một mặt thông tin đầy đủ, chính xác mọi mặt hoạt động của xã hội, một mặt là diễn đàn của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Báo chí Việt Nam là nơi để công dân Việt Nam và cả bạn bè quốc tế bày tỏ tâm tư, nguyện vọng với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Báo chí Việt Nam còn là kênh phản biện quan trọng về những chủ trương chính sách kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước. Thực tế, thời gian qua nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, qua sự phản biện của báo chí đã giúp cho các cơ quan của Nhà nước thay đổi chính sách, thận trọng trước khi quyết định như: Dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam, dự án thay nước Hồ Tây, dự án xây dựng khách sạn ở Công viên Thống Nhất (Hà Nội), xây dựng đường trục Thăng Long…

Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà báo, Việt Nam có Hội Nhà báo Việt Nam và các tổ chức Hội Nhà báo các địa phương với hàng vạn hội viên. Hội Nhà báo Việt Nam là thành viên của Hội Nhà báo quốc tế (OIJ) và Liên đoàn Báo chí ASEAN (CAJ) trong nhiều năm qua, tham gia tích cực và đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của báo chí khu vực và thế giới.

Những người cho rằng “ở Việt Nam, internet bị hạn chế, bị ngăn cấm” có lẽ họ chưa đến Việt Nam hoặc chưa biết rằng, Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu trong khu vực về phát triển internet, với hệ thống hạ tầng ngày càng hiện đại, phát triển đến mọi vùng đất nước, với hơn 28 triệu thuê bao (chiếm 31,5% dân số). Nghị định số 55/2001/NĐ-CP, ngày 23-8-2001 của Chính phủ Việt Nam đã quy định: “Không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ internet…”. Thực tế tại Việt Nam đã khẳng định Nhà nước Việt Nam không ngăn cấm internet. Chúng ta chỉ ngăn cấm những tổ chức và cá nhân nào lợi dụng internet để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế; gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và các vi phạm pháp luật khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Lại có ý kiến quy chụp rằng “Phải có báo tư nhân mới là biểu hiện cụ thể của tự do báo chí”. Xin thưa lại với những tác giả của những ý kiến này rằng: Điều căn bản cốt yếu nhất của tự do báo chí là báo chí có thực sự là diễn đàn phản ánh chân thực, đầy đủ được tiếng nói của mọi người dân, trên mọi phương diện của đời sống hay không. Những tờ báo hiện nay của các cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị, xã hội, tổ chức nghề nghiệp… ở Việt Nam đã phản ánh đầy đủ những ý kiến, nguyện vọng chính đáng của tất cả các tầng lớp nhân dân. Vì vậy, việc ra báo tư nhân là không cần thiết. Mặt khác, không phải cứ có báo tư nhân mới có tự do báo chí.

Báo chí Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục đồng hành cùng dân tộc Việt Nam, cùng nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quyền tự do báo chí của người dân Việt Nam, của các nhà báo Việt Nam được pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Đó là thực tế hiển nhiên không thể xuyên tạc và phủ nhận.

Đỗ Phú Thọ
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 14, 2012, in Chính luận.

“Con đường sống” của Lê-nin-grát

67 năm chiến thắng phát xít Đức (9-5-1945/9-5-2012)

QĐND – Trong cuộc Chiến tranh ái quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược của nhân dân Liên Xô, vào mùa đông những năm 1941-1943, trên hồ La -đô-ga phía bắc thành phố Lê -nin-grát (nay là Xanh Pê -téc-bua), một con đường đóng băng đã được tạo dựng để chuyên chở vũ khí, đạn dược và lương thực – thực phẩm cung cấp cho quân và dân thành phố khi đang bị quân thù bao vây suốt 900 ngày đêm. Với mật danh Đường số 101, nó đã được ghi vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của đất nước Xô viết là “Con đường sống” của ba triệu người Lê -nin-grát.

1. Về mọi mặt, Lê-nin-grát là thành phố lớn thứ hai của quốc gia Xô viết. Vì vậy, khi vạch kế hoạch tấn công Liên Xô, phát xít Đức đã đề ra mục tiêu xâm chiếm “cái nôi của Cách mạng Tháng Mười Nga” trong thời gian gần nhất và nhanh nhất. Để thực hiện mục đích đó, Bộ Tổng chỉ huy Đức đã đưa vào chiến dịch này “Cụm quân Bắc” gồm 23 sư đoàn bộ binh tinh nhuệ, 6 sư đoàn xe tăng – cơ giới và tập đoàn Không quân số 1 (760 máy bay chiến đấu các loại). Lại thêm một lực lượng lớn quân đội Phần Lan và Na Uy cùng phối hợp với phát -xít Đức tấn công vào thành phố này phía Bắc và Tây Bắc. Tình thế nơi đây vô cùng nguy nan và khó khăn, khốc liệt.

Các nữ chiến sĩ Lê -nin-grát túc trực điều chỉnh luồng đường. Tấm biển ghi: Mặt trận Lê -nin-grát – con đường băng dài 30km.

Để bảo vệ thành phố trọng yếu này, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Xô viết đã dùng một lực lượng lớn không -hải-lục quân phía bắc cho chiến dịch phòng thủ đặc biệt đó. Về lực lượng, quân phát xít cả người và vũ khí đều hơn hẳn quân đội Liên Xô: Gấp 2, 4 lần về quân sở; 4 lần về vũ khí; 5, 8 lần về pháo lớn và súng cối; 1, 2 lần về xe tăng; 9, 8 lần về máy bay chiến đấu… Cùng lúc đỏ, các lực lượng vũ trang Xô viết còn phải căng ra ở các mặt trận trọng yếu khác như mặt trận phía tây, mặt trận tây -nam, mặt trận Xta -lin-grát…

Toàn thể cư dân Lê -nin-grát, từ phụ nữ, trẻ em, người già đến công nhân viên chức nhà nước đều dũng cảm kiên cường chịu đựng mọi gian khổ, đói rét dưới mưa bom bão đạn của quân thù. Tất cả đều tích cực tham gia giữ vững thành phố với sức lực và khả năng của mình. Các đội dân quân, cứu thương, tải đạn thường xuyên sát cánh cùng bộ đội chủ lực. Những trận chiến đấu ở vùng ngoại ô diễn ra cực kỳ khốc liệt, giành giật nhau từng tấc đất, ngôi nhà, đường phố… Thấy không thể chiếm ngay được thành phố như kế hoạch đã vạch ra, quân Đức chuyển sang bao vây, siết chặt gọng kìm từ các phía.

Trong tình thế bị bao vậy chặt mọi phía, vũ khí, lương thực bị cạn kiệt, quân và dân thành phố mang tên Lê -nin đã dũng cảm, kiên cường đánh trả quyết liệt, rồi dần dần từ phòng thủ chuyển sang chủ động phản công. Từ ngày 12-1-1943, các cánh quân của Phương diện quân Lê -nin-grát, Phương diện quân Vôn -khốp cùng Hạm đội Ban -tích và Giang đoàn hồ La -àö-ga bắt đầu phản công để giải vây thành phố. Cuối tháng 1-1944, thành phố hoàn toàn được giải phóng sau 900 ngày đêm bị quân phát -xít bao vây phong tỏa.

Trong chiến công hào hùng này có sự đóng góp lớn của “Con đường sống” được xây dựng từ băng qua ba mùa đông trên hồ La -đô-ga.

2. Về “Con đường sống” này, nhà sử học Nga – Xô viết Mi -rô-zốp đã viết: “Trên thực tế, việc di chuyển quân đội và vận chuyển hàng hóa, lương thực, quân trang quân dụng trên các con đường đóng băng trên mặt hồ không có gì là đặc biệt. Trong cuộc chiến tranh với Phần Lan (1939-1940), để tiếp tế cho sư đoàn bộ binh 168 bị địch bao vây tại vùng Pit -ki-a-ran, một con đường vận tải bằng ô tô theo con đường đóng băng trên mặt hồ La -àö-ga đã được tạo lập nên. Rồi tiếp theo, trong năm đầu cuộc Chiến tranh vệ quốc, để đánh bật quân Đức khỏi đảo Gốt -lan trên biển Ban -tích, đoàn quân xe tăng và pháo binh Xô viết cũng đã dịch chuyển trên băng vào mùa đông lạnh giá. Nhưng trước và sau đó, chưa bao giờ sự sống của hơn ba triệu con người của Lê -nin-grát lại phụ thuộc vào độ dày của lớp băng và điều kiện thời tiết trên một con đường 40km đi qua hồ La -àö-ga này.

Nhiều kho lương thực – thực phẩm của Lê -nin-grát đã bị quân phát – xít đốt cháy tháng 9-1941, số còn lại thì quá ít. Thậm chí “khẩu phần ăn đói kém” vào giữa tháng 12-1941 cũng cần tới 500 tấn bột mì mỗi ngày cho toàn thành phố. Có lúc mỗi “suất ăn” chỉ là 50 gram bánh mì trong ngày. Trong khoảng tháng 9 tới tháng 11-1941, lương thực cung cấp cho nhân dân nơi đây đã giảm xuống 5 lần. Sau lần hạ thấp thứ tư thì bắt đầu xảy ra nạn chết vì đói. Khi hồ La -àö-ga chưa đóng băng hoàn toàn (vào năm 1941 thì phải tới ngày 25 tháng 11), lương thực cung cấp cho nơi đây bằng tàu thủy. Các tàu thuyền đi theo các luồng lạch được phá tan băng; còn các xe ngựa kéo bằng xe trượt tuyết cũng góp sức chuyên chở trên mặt băng. Rồi khi băng đóng cứng nhờ trời quá rét (sâu vào mùa đông) thì các đoàn ô tô tải hoạt động mạnh. Nhưng chỉ loại xe vận tải nhẹ, vì còn phải “dè chừng” độ cứng của mặt băng…”.

Từ ngày 24-4-1942, đường huyết mạch trên băng này tạm cắt (vì băng tan) cho tới mùa đông sau. Trong thời gian ngắn này, 361 nghìn tấn lương thực đã được cung cấp cho thành phố. Cho tới khi quân phát – xít bị đánh bật khỏi thành phố anh hùng này (tháng 1-1944), 1, 5 triệu tấn lương thực đã cung cấp tận nơi cho 3 triệu dân ở đây bằng “Con đường sống” này. Lại còn sơ tán được nửa triệu người dân ra khỏi thành phố (đa phần là trẻ em và người già yếu). Trong lúc đó, đường hàng không là phương pháp phù hợp nhất cung cấp nhu yếu phẩm cho nơi bị bao vây chặt thì chỉ được 3, 6 nghìn tấn, ít hơn 100 lần! Không có “Con đường sống” trên hồ La -àö-ga thì chắc chắn người dân ở “cái nôi” của cách mạng đã không thể vượt qua được nạn chết đói do bị quân thù bao vây chặt qua gần 3 năm khốc liệt.

3. Khi nghiên cứu xây dựng con đường băng này, nhiều nhà khí tượng học và kỹ thuật giao thông của thành phố Lê -nin-grát lúc đó đã cho rằng không thể làm được bởi nhiều lý do. Nhiều người dân bản địa còn nhớ lại như in nhiều tai nạn đã xảy ra đối với những người đánh xe ngựa trượt băng qua hồ trong mùa đông băng giá đã bị mất tích. Mà ở đây thì cần phải cho rất nhiều ô tô ngày đêm chuyên chở nhu yếu phẩm tiếp tế cho quân dân đang kịch chiến trong hoàn cảnh gian khó, khốc liệt. Ngay tại vị trí khởi đầu của con đường này, từ phía bờ đông của hồ, một khẩu hiệu được căng lên nhắc nhở các chiến sĩ lái xe: “Đồng chí lái xe, hãy nhớ rằng mỗi bao bột mì đen là một khẩu phần ăn cho hàng nghìn người Lê -nin-grát đang bị đói!”. Tuy nhiên, cuối cùng, với quyết tâm cao, người ta đã vượt qua.

Nhiều cán bộ, chiến sĩ, người dân tham gia “Con đường sống” này về sau đã viết hồi ký, ghi lại thời buổi gian nan khốc liệt ấy. Chiến sĩ lái xe Va -xi-li Xê -đi-úc trong lúc lái chiếc xe vận tải nhẹ “GAZ” bị một trận bão tuyết vùi lấp dưới một đống tuyết lớn. Xe anh được mọi người kéo lên khỏi tuyết. Một ông già đánh chiếc xe tuyết hai ngựa kéo đã đánh thức anh trong đêm tối. Anh ghi lại: “Khi nhìn thấy tôi, ông già bỗng trố mắt ngạc nhiên.

– ôi, vẫn còn sống ư? – ông nói với vẻ kinh ngạc – Cậu một mình trong ca -bin ư?

– Một mình thôi, tôi trả lời.

– Thật may cho cậu đấy, chàng trai ạ!

Rồi ông hất đầu về phía thùng xe sau hai con ngựa. Tại đó, dưới tấm vải bố là mấy thi thể cứng đơ…”

Những chuyện như thế thường diễn ra trên con đường băng giá này vào những năm 1941-1943, nơi hơn 20 nghìn người ngày đêm tất bật khẩn trương làm việc.

Người chịu trách nhiệm tổ chức vận chuyển trên con đường này là Chỉ huy trưởng tuyến hậu phương của Phương diện quân Lê -nin-grát – Trung tướng La -gu-nốp. Còn người trực tiếp điều khiển đoàn ô tô vận tải là người phó của ông, Thiếu tướng Si -lốp. Dọc tuyến đường này được bố trí nhiều trạm bảo dưỡng kỹ thuật xe, máy, chủ yếu cho các xe vận tải nhẹ vài tấn, các trạm sưởi ấm và cung ứng vật chất, các trạm điều khiển giao thông. Bảo vệ vùng trời cho “con đường sống” này là các khẩu đội pháo cao xạ tầm cao, tầm trung, các đại đội súng máy Macxim… Tất cả có tới 20 đơn vị như vậy.

Con đường đóng băng đi qua hồ La -đô-ga tới thành phố Lê -nin-grát vào các mùa đông năm 1941-1943 nổi tiếng trong lịch sử cuộc Chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô, nhưng không phải là duy nhất. Còn có một số con đường băng giá nữa ở vùng giá rét này được quân đội Xô viết tạo lập để đánh trả quân thù, giải vây cho Lê -nin-grát. Tuy nhiên, trong lịch sử chiến tranh, tuyến đường có mật danh “Đường số 101” vẫn sâu đậm mãi trong lòng người dân Xô viết.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Một bộ máy, hai tên gọi

Quân ủy Trung ương Trung Quốc

QĐND – Tạp chí “Quân sự sử lâm”của Viện Bảo tàng Quân sự Trung Quốc có bài viết về “Tiến trình diễn biến của Quân ủy Trung ương”, nội dung tóm tắt như sau: Quân ủy Trung ương là tên gọi tắt Hội đồng quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, thực chất đó là “Cơ quan chỉ huy quân sự và quyết sách quân sự cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc”, là Bộ thống soái tối cao lãnh đạo LLVT nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Sự ra đời và những năm tháng chiến tranh

Năm 1931, Trung ương cục Khu xô viết của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập tại Thụy Kim, tỉnh Giang Tây, bên dưới có thành lập Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương. Các nhà lãnh đạo chủ yếu của Khu xô viết Trung ương là Hạng Anh, Mao Trạch Đông, Chu Đức lần lượt làm Chủ tịch. Tháng 11 cùng năm, Chính phủ Trung ương lâm thời nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa thành lập, Chu Đức nhậm chức Chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương; Bành Đức Hoài, Vương Gia Tường nhậm chức Phó chủ tịch; 15 người, bao gồm Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Diệp Kiếm Anh… làm ủy viên. Quân ủy cách mạng Trung ương trong lịch sử Hồng quân bắt đầu từ đó.

Ảnh 11 thành viên Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay

Tháng 5-1933, Chính phủ Trung ương lâm thời quyết định: Bổ sung Tần Bang Hiến (Bác Cổ), Hạng Anh làm ủy viên Quân ủy cách mạng Trung ương. Trong thời gian Chu Đức chỉ huy tác chiến tại tiền phương, Hạng Anh đảm nhiệm Quyền chủ tịch. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa, Chu Đức lại được bầu làm Chủ tịch Quân ủy cách mạng Trung ương; Chu ân Lai, Vương Gia Tường được bầu làm Phó chủ tịch.

Sau Hội nghị Tuân Nghĩa năm 1935, Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Vương Gia Tường tổ chức Tổ quân sự ba người, trở thành Cơ quan quyết sách quân sự tối cao trong cuộc Vạn lý trường chinh, mà thành viên của Quân ủy cách mạng Trung ương không thay đổi. Tháng 6, Hồng quân Trung ương hội sư với Phương diện quân 4 Hồng quân tại Mạo Công, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập “Hội nghị Lưỡng Hà Khẩu” nổi tiếng. Hội nghị quyết định Trương Quốc Đào đảm nhiệm Tổng chính ủy Hồng quân, Phó chủ tịch Quân ủy cách mạng Trung ương. Tháng 9, Quân ủy cách mạng Trung ương thực hành chế độ Đoàn chủ tịch 7 người do Mao Trạch Đông đứng đầu.

Sau khi Hồng quân cải tổ biên chế thành Bát Lộ quân, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội trong tình hình mới kháng Nhật, ngày 22-8-1937, Trung ương ĐCSTQ quyết định thành lập Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương của Đảng, Mao Trạch Đông làm Chủ tịch; Chu Đức, Chu ân Lai làm Phó chủ tịch; Bành Đức Hoài, Nhiệm Bật Thời, Hạ Long, Lâm Bưu, Lưu Bá Thừa, Trương Hạo, Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền là ủy viên. Như vậy, Quân ủy Trung ương trở thành bộ máy lãnh đạo chỉ huy quân sự thuộc Trung ương ĐCSTQ.

Thời kỳ đầu thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Ngày 1-10-1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Cùng ngày, Hội đồng quân sự cách mạng nhân dân của Chính phủ nhân dân Trung ương cũng tuyên bố thành lập, Mao Trạch Đông làm Chủ tịch. Ngày 19-10, Chính phủ nhân dân Trung ương bổ nhiệm Chu ân Lai, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Trình Tiềm làm Phó chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng nhân dân; 22 người gồm Hạ Long, Trần Nghị, Từ Hướng Tiền, Lâm Bưu… là ủy viên. Chu ân Lai chủ trì công tác hàng ngày.

Ngày 26-9-1959, Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ quyết định Quân ủy Trung ương do Mao Trạch Đông làm Chủ tịch; Lâm Bưu. Hạ Long, Nhiếp Vinh Trăn làm Phó chủ tịch; Lâm Bưu chủ trì công tác hàng ngày của Quân ủy.

Mùa hè năm 1965, Quân ủy Trung ương bãi bỏ chế độ quân hàm.

Ngày 8-1-1966, 4 vị nguyên soái Trần Nghị, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Diệp Kiếm Anh được bầu bổ sung làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Trong thời gian “Cách mạng văn hóa”

Do sự phá hoại nghiêm trọng của Lâm Bưu, Giang Thanh, công tác hàng ngày của Quân ủy Trung ương bị hạn chế, Hội đồng Quốc phòng trên thực tế cũng bị đình chỉ công tác hàng ngày.

Tháng 8-1967, Quân ủy Trung ương quyết định Tổ thường trực Quân ủy gồm Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Khưu Hội Tác, Trương Tú Xuyên; Tháng 9, giao quyền Tổng Tham mưu trưởng Dương Thành Vũ làm Tổ trưởng.

Tháng 3-1968, Hoàng Vĩnh Thắng, Tư lệnh quân khu Quảng Châu được điều về làm Tổng tham mưu trưởng kiêm Tổ trưởng thường trực Quân ủy.

“Một bộ máy hai tên gọi”

Tháng 7-1977, tại Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba khóa 10 ĐCSTQ, Hoa Quốc Phong được bầu là Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương, Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Đặng Tiểu Bình được khôi phục các chức vụ lãnh đạo, trong đó bao gồm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng tham mưu trưởng.

Từ ngày 12 đến 18-8-1977, Đại hội 11 ĐCSTQ họp, Hoa Quốc Phong được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn làm Phó chủ tịch.

Tháng 6-1981, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khoá 11 ĐCSTQ, Hoa Quốc Phong từ chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Hồ Diệu Bang và Đặng Tiểu Bình lần lượt được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Ngày 4-12-1981, bộ Hiến pháp thứ tư trong lịch sử nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời tại Hội nghị lần thứ 5 của Quốc hội Trung Quốc khóa 5. Bộ Hiến pháp quy định: Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thiết lập Hội đồng quân sự Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang toàn quốc, gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch, một số ủy viên; Thực hành chế độ Chủ tịch phụ trách.

Ngày 18-6-1983, tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa 6 ĐCSTQ, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 20-6, theo đề nghị của Đặng Tiểu Bình: Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Dương Thượng Côn làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Đây là lần thứ ba trong lịch sử, Quân ủy Trung ương trở thành cơ quan chức năng chung của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ và Chính quyền quốc gia. Thiết lập Quân ủy quốc gia là một cải cách trọng đại của ĐCSTQ đối với thể chế quốc gia và thể chế quân đội. Trong điều kiện lịch sử mới, Quân ủy Trung ương và Quân ủy quốc gia trên thực tế là “một bộ máy, hai danh xưng” (lưỡng cá bài tử, nhất thao nhân mã).

Ngày 1-11-1987, Đại hội 13 ĐCSTQ thông qua Dự án sửa đổi một số điều của Điều lệ Đảng, trong đó quy định “Thành viên của Hội đồng quân sự Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương quyết định”, điều quy định này liên tục kéo dài đến Điều lệ Đảng mới thông qua tại Đại hội 16.

Ngày 2-11-1987, Đặng Tiểu Bình lại được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Triệu Tử Dương làm Phó chủ tịch thứ nhất, Dương Thượng Côn làm Phó chủ tịch thường trực.

Ngày 8-4-1988, tại Hội nghị lần thứ nhất Quốc hội Trung Quốc khóa 7, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 9-4, Triệu Tử Dương, Dương Thượng Côn được bầu làm Phó chủ tịch.

Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1989, tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm, khóa 13 ĐCSTQ, Đặng Tiểu Bình từ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Giang Trạch Dân lên thay; Dương Thượng Côn được bầu Phó chủ tịch thứ nhất, Lưu Hoa Thanh làm Phó chủ tịch Quân ủy.

Từ ngày 12 đến ngày 18-10-1992, Đại hội 14 của Đảng Cộng sản Trung Quốc bầu Giang Trạch Dân làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCSTQ; Lưu Hoa Thanh, Trương Chấn được bầu làm Phó chủ tịch Quân.

Ngày 28-3-1993, Giang Trạch Dân được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đồng thời đề nghị Lưu Hoa Thanh, Trương Chấn làm Phó chủ tịch.

Từ ngày 19 đến 22-9-1999, Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa 15 ĐCSTQ bầu bổ sung Hồ Cẩm Đào làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay gồm 12 thành viên: Chủ tịch Hồ Cẩm Đào; 3 Phó chủ tịch: Tập Cận Bình, Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu; 8 ủy viên: Lương Quang Liệt, Trần Bỉnh Đức, Lý Kế Nại, Liêu Tịch Long, Thường Vạn Toàn, Đoan Chí Viễn, Ngô Thắng Lợi, Hứa Kỳ Lượng.

Cấp bậc của các thành viên Quân ủy Trung ương Trung Quốc

Chủ tịch Quân ủy Trung ương thông thường do Tổng bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đảm nhiệm, không mang quân hàm.

Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, cấp bậc Thượng tướng, quân hàm cao nhất Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay. Vị trí lãnh đạo và quyền lực tương đương ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Phó chủ tịch nước, Phó chủ tịch Quốc hội, Phó thủ tướng.

Ủy viên Quân ủy Trung ương, cấp bậc Thượng tướng, quân hàm cao nhất trong Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay, vị trí và quyền lực tương đương ủy viên Quốc vụ viện; cao hơn Thủ trưởng 4 cơ quan Bộ tổng (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Trang bị) của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc; cao hơn Tư lệnh Đại quân khu. Cho nên, ủy viên Quân ủy Trung ương tuy không phải là một chức danh, một bậc thang lãnh đạo trong hệ thống Đảng, Chính quyền, Quân đội ở Trung Quốc, nhưng có vị trí và thực quyền.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Bác Hồ ở ATK

Văn học và sự kiện

QĐND – Có một đoạn phim tài liệu về Bác Hồ ở Việt Bắc làm xúc động lòng người: Sau khi tắm suối xong, cùng đồng chí công vụ, Bác mặc quần đùi, cởi trần, còn áo may ô và khăn mặt thì phơi lên đầu mút cây sào, giống như thiếu nhi nông thôn rước cờ lá chuối, vừa đi về nhà vừa tranh thủ phơi khăn áo! Cảm động vì thấy Bác vô cùng giản dị và sinh hoạt của Bác ở chiến khu hồi đó thật thiếu thốn; hơn nữa, tính Bác lạc quan, hóm hỉnh, tìm niềm vui từ những chuyện nhỏ hàng ngày. Dòng suối mà Bác tắm đó có tên là Khuôn Tát, thuộc bản Nà Lọm, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

Chúng ta biết rằng, trước cách mạng Tháng Tám, Bác và Trung ương ở Tân Trào, Tuyên Quang, và từ đó về giành chính quyền ở Hà Nội. Mùa xuân năm 1947, sau khi rút khỏi Thủ đô, Bác và Trung ương trở lại Tân Trào, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì sang Định Hóa, Thái Nguyên. Mặc dù Tân Trào và Định Hóa thuộc hai tỉnh, nhưng khá gần nhau, chỉ cách một đèo De và núi Hồng, hai địa danh khá quen thuộc trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Sở dĩ Bác và Trung ương chọn nơi đây vì “địa lợi, nhân hòa” như Bác từng tổng kết:

“Trên có núi, dưới có sông
Có đất ta trồng, có bãi ta chơi
Tiện đường sang Bộ Tổng
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng, ráo, kín mái
Gần dân không gần đường”.

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc. Ảnh tư liệu.

Ngày đó, dân ở bản Nà Lọm chỉ có chín gia đình của người Tày và người Dao. Dân thưa, địa hình heo hút, xa trục đường giao thông, ít người qua lại nên dễ giữ được bí mật. Hơn nữa nếu có bị lộ thì cũng nhanh chóng rút qua đèo De, vào núi Hồng, sang Tuyên Quang, nhưng thực tế chuyện đó đã không xảy ra, mà Trung ương và Bác đã ở đây cho đến ngày về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Hiện nay, ở khu này có hai mái nhà đã trở thành di tích lịch sử cấp quốc gia: Đó là lán Tỉn Keo và ngôi nhà Bác ở những năm đó. Lán Tỉn Keo là nơi hội họp của cơ quan đầu não của ta, trong đó có nhiều cuộc thật quan trọng như ngày 6-12-1953, Bác đã chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Có một chi tiết ở lán này làm khách tham quan cảm động là hai cây bông bụt Bác trồng cạnh lán với mục đích làm vợi bớt nỗi nhớ quê nhà, vì ở Kim Liên quê Bác, bông bụt là cây rất quen thuộc, từ cổng vào tận nhà. Lán Tỉn Keo là lán đất, còn nơi ở của Bác trên đồi Nà Đình là nhà sàn nhỏ, nằm dưới rừng cây cổ thụ, đặc biệt có những cây phách rất cao, lá nhỏ, rụng lá cuối hè đầu thu mà trong bài thơ Việt Bắc có nhắc tới: “Ve kêu rừng phách đổ vàng…”. Cạnh lán, có một đoạn hầm ngầm dài mấy chục thước, không chỉ đề phòng làm nơi ẩn nấp khi bị máy bay bắn phá, mà còn là đường rút lui bí mật nếu gặp những cuộc càn của giặc. Ở đoạn phim tài liệu đã nhắc trên kia, khi Bác và người công vụ từ suối Khuôn Tát đi lên là để về lán này đấy. Lán này là nơi ở, đồng thời là nơi Bác làm việc hàng ngày, kể cả tiếp khách đến thăm. Hồi đó vì bí mật, khách nói chung cũng chỉ có nội bộ mà thôi. Ngày 15-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến chào Bác trước khi lên đường đi Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ở lán này, Bác đã căn dặn Đại tướng nhiều điều, trong đó có ý nghĩa của bốn chữ “tướng quân tại ngoại” và đặc biệt Bác nhấn mạnh hai chữ “chắc thắng”.

Thời gian đã trôi qua gần hai phần ba thế kỷ, những người từng biết Bác ở Nà Lọm không còn mấy, ngoài bà cụ Ma Thị Tôm. Ngày Bác ở Nà Lọm, cụ Tôm còn ở tuổi thiếu nhi, ngày đi lấy củi, chăn trâu đôi khi gặp Bác, nhưng cũng không chú ý nhiều, vì “ông ké” này cũng mặc áo chàm như người trong bản. Có khác là thấy Ké tập võ dưới bóng đa cùng những người khác. Riêng có điều cụ Tôm không quên được, đó là tiếng ho từ nơi Ké ở vọng vào đêm vắng trong những đợt gió mùa đông bắc…

Đã mấy năm nay, trên đỉnh đèo De được dựng lên khu tưởng niệm Bác Hồ. Hàng ngày có nhiều đoàn khách khắp nước đến thăm, thắp hương cắm vào lư hương lớn trong công trình xây dựng hiện đại này mà lòng lại nhớ về một dòng suối trong, hai ngôi lán nhỏ, một cây đa cổ thụ dáng dấp cây đa ở Tân Trào, tán tỏa ôm ấp một khoảng đất rộng… từng gắn bó mật thiết với Bác ở chiến khu Việt Bắc.

Về thăm ATK, nghe lời giới thiệu cùng những mẩu chuyện kể, lòng người dâng trào cảm xúc và thương Bác. Thơ văn không chỉ là công cụ hữu hiệu ghi lại cảm xúc mà còn có thể làm sống lại một phần sự kiện lịch sử. Tôi hy vọng điều đó khi sáng tác bài thơ này.

ÔNG KÉ BẢN NÀ LỌM

Bản Nà Lọm có chín mái sàn
Người Tày, người Dao nói riêng thứ tiếng
Dòng Khuôn Tát chín nhà cùng uống.

Một mùa đông, Nà Lọm thêm mái sàn
Nhỏ hơn chín mái sàn đã có
Trong nhà chỉ một mình ông Ké.

Gặp người Tày, Ké nói tiếng Tày
Gặp người Dao, Ké nói tiếng Dao
Dáng gầy, mắt hiền, vầng trán cao.

Ké xắn quần, cuốc đất tăng gia
Vui tắm suối, tập võ dưới bóng đa
Buồn, lặng ngồi bên cây bông bụt.

Ké thức khuya, mặc đêm đông giá rét
Trong gió mùa nghe khúng khắng tiếng ho
Người Tày, người Dao bản Nà Lọm cùng lo.

Quê Ké phương nào, không ai biết
Con cháu Ké đâu, chẳng ai hay
Người gặp Ké hàng ngày thường thưa Bác.

Bảy năm chiến khu, là Ông Ké Nà Lọm
Chỉ biết thật tên khi đất nước hòa bình
Ngày tiễn về Thủ đô, trẻ già cùng khóc
Vẫy xe gọi hoài Bác Hồ Chí Minh!

Vương Trọng
qdnd.vn

Nhật ký Điện Biên Phủ

QĐND – Đoạn Nhật ký sau đây của Bi-gia, sĩ quan dù (Pháp) ở Điện Biên Phủ được trích trong cuốn sách “Cuộc chiến tranh Đông Dương của tôi”, NXB Pháp Hachetle, 1994. Đầu bài do chúng tôi đặt. Bi-gia sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp, từng tháp tùng Tổng thống Mít-tơ-răng thăm Việt Nam năm 1994.

Ngày 19-11-1953: Brát-sơ – sĩ quan và tôi được gọi đến Sở chỉ huy lục quân Bắc Việt. Tướng Bô Đê phụ tá của Na-va lệnh cho chúng tôi nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. “Chẳng có vấn đề gì. Nếu vấp phải sự phản công mạnh mẽ thì rút sang Lào”.

7 giờ sáng trong ngày, tôi và các sĩ quan: Lê-pa-giơ Tráp, Ma-gi-clat, Oai-đơ, Buốc Goa, Ale… đã có mặt ở sân bay Cát Bi. 8 giờ 30 phút, lệnh xuất phát. 9 giờ máy bay Đa-cô-ta cất cánh. Gió mạnh. Một số người đang bị ốm. Sau 300 ki-lô-mét bay, 10 giờ chúng tôi đã nhảy xuống Điện Biên. Tôi nghe tiếng rít của đạn bắn bên tai. Quân Việt đã có mặt? Các đại đội dù đã không tập trung được đúng như quy định. Với 800 quân, tôi có cảm tưởng như đã mất một nửa…

13 giờ 30 phút, chúng tôi bắt đầu một cuộc tấn công với sự yểm trợ của máy bay, cối 81mm. Cuộc chiến đấu diễn ra trong 2 giờ. Quân Việt đã phải lùi ra xa…

Sầm Sơn – Thanh Hóa, tháng 9-1954. Trao trả tù binh Pháp. Tù binh Pháp mặc quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam, mang khẩu hiệu “Tình hữu nghị giữa các dân tộc muôn năm”.

Sáng ngày 5-1-1954: Một cuộc thăm dò sang phía Tây. Quân Việt bắn dữ dội. 20 người của chúng ta bị loại ra vòng chiến đấu. Vấn đề đã rõ: Quân Việt đã ở phía Bắc, phía Nam, đang bao vây quân Pháp. Đông và Tây cũng bị chiếm rồi. Thăm dò phía nào cũng đụng độ với quân Việt. Tôi liên tục gọi đến tướng không quân Phrăng Ki: “Tướng quân có thể yểm trợ, tăng cường không quân cho chúng tôi?”. Câu trả lời là: “Chưa phải lúc. Hãy đứng vững!”.

Cuối tháng 2-1954: Trong 2 tháng tướng Giáp tăng cường lực lượng xung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ. Ông ấy biết rằng quân Pháp không thể thoát ra khỏi nơi đây. Quân Việt đã ở quá gần. Bộ Tham mưu Pháp lại không hiểu điều này và đã bị cài vào bẫy mà tướng Giáp đã bày ra.

Tôi được tướng Cô-nhi giao nhiệm vụ trở về Hà Nội, gặp Trung tá Bru-nê ở sân bay Cát Bi, Hải Phòng, đảm bảo việc tiếp tế cho Điện Biên Phủ. “Điện Biên Phủ không giữ được nếu không có không quân tiếp tế. 140.000 người trong khu vực này, tương đương 5 sư đoàn, chỉ có thể trông chờ vào không quân. Chắc chắn là quân Việt sẽ phá hủy số lớn máy bay trên mặt đất.

Đêm 12, 13-3: Tôi được tin quân Việt đã mở màn cuộc tấn công. Các tướng lĩnh Pháp hy vọng sẽ đập tan quân Việt của tướng Giáp trong lòng chảo này. “Thật là sai lầm”…

Trung tá Bi-gia (người đầu tiên từ trái sang), trong thời gian ở trại tù binh tháng 9-1954.

Ngày 15-3: Cô-nhi nói với tôi: “Tình hình trở nên xấu rồi. Hai cứ điểm Ga-bri-en và Bê-a-trít (Him Lam) đã mất. Hai tiểu đoàn bị tiêu diệt, pháo binh ta bị vô hiệu hóa. Ngày mai, anh lại nhảy xuống Điện Biên?

16-3: Tôi đã có mặt ở Điện Biên Phủ. Mây đen trên trời, pháo binh Việt bắn dữ dội… Tôi gặp Trung tá La-lăng, đầu đội mũ sắt, trong sở chỉ huy. Đêm 13 chỉ huy Bê-a-trít (Him Lam) đã chết trong hầm vì đạn pháo. Chẳng ai tin là quân Việt lại có trọng pháo. Nếu quân Việt tấn công, cứ điểm sẽ không giữ được.

25-3: Đã 9 ngày tôi ở đây. Đờ Cát-xtơ-ri gọi tôi đến Sở chỉ huy: “Bi-gia này, Hà Nội yêu cầu bảo đảm phía tây cho quân nhảy dù. Cậu có toàn quyền làm sao cho pháo phòng không của quân Việt im đi”…

6 giờ sáng ngày 26-3: Tập trung cao độ pháo binh Pháp bắn vào các cứ điểm quân Việt. Tiểu đoàn dù 6 và 8 lao vào cuộc chiến. Đến 15 giờ phía Pháp mất 20 người, trong đó có 2 sĩ quan, 70 bị thương, 2 xe tăng bị phá hủy.

Ngày 30-3: Cuộc chiến đấu để chiếm đóng 5 đồi còn lại bắt đầu. Cuối ngày, 3 ngọn đồi đã mất. 8 giờ sáng 31-3, mất 2 đồi nữa. Ê-li-an 2 (đồi A1-NV) còn trụ được”. 15 giờ trong ngày, Hà Nội điện “Không có quân tiếp viện”. Bọn “xà lù”(1) chúng nó muốn để chúng tôi gục ngã.

20 giờ ngày 5-4: Quán triệt tiếp tục tấn công. 4 tiểu đoàn Việt bắn dữ dội vào 100 lính lê dương. Trong số 12 nghìn người ở Điện Biên Phủ, có lẽ chỉ còn không đủ 3000 người tiếp tục chiến đấu. Số còn lại, bị chết, bị thương. Rất nhiều lính bỏ trốn, chui trong hầm hào chờ đêm xuống đi cướp dù thả thức ăn. Những “con chuột” của sông Nậm Rốm!

Bi-gia bên cột ki-lô-mét “Đ. Biên 0km” – tháng 6-1994.

Ngày 10-4: Đến ngày này tôi vẫn còn hy vọng đứng được thêm 1 ngày, 1 ngày nữa. Họ không thể để chúng tôi ngã quỵ. Người Mỹ sẽ đến. Họ sẽ ném bom xuống quân Việt…

15-4: Đờ Cát-xtơ-ri được thăng cấp tướng. Lăng-le, La-lăng đại tá, tôi trung tá… Hà Nội biết chúng tôi không thể thoát nên trấn an chúng tôi. Lăng-le nhiều giờ đã kêu nài cấp trên: “Gửi thêm quân cho chúng tôi. Đừng để chúng tôi chết”. Mỗi đêm, cũng có được vài người lính. Họ còn chưa đến 20 tuổi, là quân tình nguyện. Chúng tôi như một cây nến mà người ta để cho cháy tàn lụi. Điện Biên Phủ chỉ có 12 nghìn quân sĩ, toàn Đông Dương có số quân gấp 20 lần. Vấn đề là ở chỗ, trên chiến trường Điện Biên Phủ đều có mặt tất cả những đơn vị thiện chiến… Nếu chúng tôi sụp đổ, sẽ là một thảm họa.

25-4: Chúng tôi thiếu thốn mọi thứ, và trước hết không có quân số bổ sung, tại một số cứ điểm chẳng còn gì. Người ta phải cân nhắc khi ném một quả lựu đạn. Và phải đếm xem còn bao nhiêu đạn. Chúng tôi chỉ còn một nhúm người…

Ngày 7-5, ngày cuối cùng: 57 ngày chống cự ròng rã. Một ảo giác kỳ lạ! Chẳng còn gì sót lại, chỉ còn vài con ma. Bệnh viện đầy ắp thương binh, người chết. Không còn một cứ điểm nào tồn tại. Tôi như người bị bóng đè. Trước đó, chúng tôi cũng dự định một cuộc tháo chạy. Hai đội hình, một lính dù, một lê dương. Nhưng các sĩ quan đều nói là không làm được, binh sĩ không còn sức để đi bộ dù là vài ki-lô-mét.

12 giờ trưa ngày 7-5: Đờ Cát-xtơ-ri báo cho chúng tôi biết Hà Nội ra lệnh ngừng bắn. Chúng tôi không có cờ trắng. 17 giờ, Lăng-le đốt chiếc bê-rê đỏ của mình, đội lên đầu một cái mũ chết người ngự trị trên chiến hào… 18 giờ, quân Việt kia kìa, hàng nghìn, hàng nghìn ngập trong các chiến hào. Quân Việt đưa chúng tôi ra ngoài sở chỉ huy. Một lá cờ đỏ sao vàng được cắm trên hầm chỉ huy của Đờ Cát-xtơ-ri. Họ đã thắng. Chúng ta đã thua. Tôi không bao giờ tin rằng điều ấy sẽ xảy ra. Người ta đã bỏ rơi chúng tôi. Hàng nghìn tù binh, tiểu đoàn dù của tôi với 800 người nay chỉ còn không đủ 40. Số còn lại đã chết, mất tích. Họ đã chiến đấu chẳng vì điều gì cả.

18-6-1954: Tất cả tù binh Pháp được tập hợp trên bờ một con suối. Tướng Đờ Cát-xtơ-ri dẫn đầu, rồi đến các sĩ quan, binh lính “diễu hành” để một người quay phim Xô viết lia máy. Chúng tôi ra đi 12.000 người, còn lại 4000…

Cuối tháng 7-1954: Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Hết chiến tranh. Một hôm, trại trưởng tù binh mời chúng tôi lên trao đổi về các cuộc chiến đấu.

Cuối tháng 8: Chúng tôi rời trại giam.

Ngày 4-9-1954: Được trả tự do. Phía Việt tổ chức một “tiệc liên hoan”, có cơm, rượu, thịt nướng… Chúng tôi-một số sĩ quan được xe đưa về Hà Nội. Vài ngày sau, chúng tôi vào Sài Gòn rồi trở về Pháp. Phải giở sang một trang sử mới. Ngày 25-9, tôi đã xuống sân bay Oóc-li (Pa-ri).

Võ Nguyên Giáp là một vị tướng vĩ đại. Ông còn là một nhà tư tưởng. Sức mạnh của một quân đội trước hết là do tinh thần chiến đấu và do lý tưởng chứ không phải là trang bị kỹ thuật, vũ khí. Đó là những điều mà các nhà chính trị, các vị tướng Pháp không hiểu được. Binh lính Pháp chiến đấu đã bị bỏ rơi.

Ngày 28-6-1994: tôi đã trở lại Điện Biên Phủ, chụp ảnh tại cột km 80, Quốc lộ 279 với biển số ghi Đ. Biên 0km. Tôi đã gặp tướng Trần Văn Quang, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Tôi đã đến đài kỷ niệm “Để tưởng nhớ những người đã hy sinh cho nước Pháp” do cựu lính lê dương Rolf Rodel cùng các bạn chiến đấu dựng lên ở Điện Biên Phủ… Những quân nhân Pháp ở Điện Biên Phủ trở về Pháp mà không có được một ai đón chào (còn ở trên mảnh đất Việt Nam này lại có một đài kỷ niệm tưởng nhớ họ).

(1) Câu chửi của người Pháp: Xà-lù (salaud)

Thủy Trường (Lược dịch từ nguyên văn tiếng Pháp)
qdnd.vn

Chuyện đời người con nuôi của Xta-Lin

QĐND – Ác-chi-om Xéc-gê-ép là con trai độc nhất của nhà cách mạng Phê-đô Xéc-gê-ép. Năm 1921, Phê-đô hy sinh khi thực thi nhiệm vụ, cậu con trai Ác-chi-om đang trong bụng mẹ về sau được gia đình Xta-lin đưa về nuôi dưỡng. Lớn lên, Ác-chi-om cùng người con trai thứ hai của Xta-lin là Va-xi-li vào học trường quân sự. Suốt đời ông giấu kín việc mình là con nuôi Xta-lin. Ông cho rằng nhờ đó mà ông được sống yên ổn cho tới ngày nghỉ hưu với hàm Trung tướng.

Tìm hiểu về câu chuyện “kín tiếng” này, tờ “Tin nhanh” của Liên bang Nga đã được vị Trung tướng 87 tuổi trả lời nhiều chi tiết thú vị.

Không bao giờ “lộ diện” là con nuôi của vị lãnh tụ tối cao

Trong ngôi nhà vườn nhỏ nhưng thoáng đãng, ông già vẻ mặt phúc hậu, hiền từ nhưng còn phong độ ở tuổi 87 giới thiệu với khách:

– Đây là nơi trước đây một cán bộ ngành đường sắt lập trang trại chăn nuôi. Mẹ tôi đã mua lại với giá 5 nghìn rúp cách nay khá lâu. Tôi cảm thấy nơi đây thật tuyệt vời, tránh được sự ồn ào, náo nhiệt nơi phố phường,…

– Thưa ông, vì sao cho tới nay hầu như không ai biết gì về ông là con nuôi của lãnh tụ Xta-lin?

– Thật đơn giản thôi, vì tôi chưa bao giờ kể với ai rằng tôi là con nuôi Xta-lin, rằng tôi được gia đình Xta-lin nuôi dưỡng nên người. Mẹ tôi thì đặc biệt im lặng về điều đó. Do đó mà ngay cả đội trưởng đội bảo vệ Xta-lin là Vla-xích cũng cho rằng mẹ tôi đã chết từ lâu.

– Nhưng dù sao thì sự thật đã xảy ra: Một cậu bé được gần gũi Xta-lin, sống trong gia đình họ, được kết bạn với con trai lãnh tụ, được họ nuôi dưỡng… Vậy mà chẳng ai chú ý tới điều đó sao?

– Vì chỉ đơn giản cậu đó là Ác-chi-om, con trai nhà cách mạng nổi tiếng Phê-đô Xéc-gê-ép thôi.

Rồi Ác-chi-om Xéc-gê-ép kể lại việc mình trở thành con nuôi lãnh tụ như thế nào:

– Xta-lin và bố tôi là bạn chiến đấu thân nhau từ năm 1906, khi còn hoạt động bí mật. Cả hai đều cùng mấy lần bị tù đày, đều là đại biểu của các đại hội đảng trước cách mạng. Từ năm 1917 họ luôn sát cánh làm việc cùng nhau cho tới ngày bố tôi bị một tai nạn bất ngờ khi thực thi nhiệm vụ. Khi họ cùng đi dự Đại hội 10 của Đảng, rồi đi trấn áp cuộc nổi loạn ở Cron-xtát (tháng 3-1921), bố tôi đã đề nghị với Xta-lin rằng, nếu bố tôi có mệnh hệ gì thì nhờ ông chăm gia đình tôi, lúc ấy tôi còn trong bụng mẹ. Vào lúc đó, con trai thứ hai của Xta-lin – Va-xi-li ra đời. Vậy là từ 5 tháng tuổi tôi được gia đình Xta-lin nuôi dưỡng. Tôi sống cùng một phòng với Va-xi-li cho tới năm 16 tuổi.

– Thật khó hiểu, bởi chính ông không chỉ là một thành viên của gia đình vị đứng đầu Đảng và Nhà nước một thời, mà còn là một vị tướng quân đội Xô viết nữa. Đó có phải là cái kim trong đụn cỏ khô đâu?

– Tôi đã suốt đời phục vụ quân đội mà không cần “ô dù” để thăng cấp, thăng chức. Tôi đóng quân ở xa Mát-xcơ-va. Vào năm 1937, 1938 tôi vào học trường quân sự, đi lính rồi vào trường Sĩ quan pháo binh Lê-nin-grát số 2. Sau khi tốt nghiệp (năm 1940) tôi được chỉ huy một trung đội. Khi chiến tranh xảy ra, tôi được chỉ huy một trung đội pháo từ ngày 28-6-1941. Cuộc chiến ác liệt, không cân sức. Chúng tôi bị quân Đức đông gấp bội bắn phá, ném bom hủy diệt. Sau khi xe pháo của chúng tôi bị đánh tan, tôi được chỉ huy một đại đội bộ binh. Đơn vị chúng tôi bị quân thù bao vây chặt và tiến công liên tục. Chúng tôi thoát được trận đó và tập hợp số còn lại để lập một đội du kích. Chúng tôi số nhiều bị chết, tôi và vài đồng chí bị quân Đức bắt trong tình thế không còn đường thoát. Bị chúng đưa vào trại tập trung, rồi bị đưa vào nhà tù Orsa. Tôi mấy lần bí mật tìm cách thoát thân thì may quá – một lần chạy thoát được. Nếu như lúc đó có ai đó biết rõ lý lịch của tôi thì tôi làm sao thoát được! Trở về sau nhiều đêm ngày nhịn đói khát, mò mẫm tìm đường, tôi xin nhập vào các đơn vị mới để tiếp tục chiến đấu. Hết trận này tới trận khác, tôi luôn ở trên các mặt trận nóng bỏng. Và ơn trời, tôi vẫn được sống sót cho tới hết đời binh nghiệp.

Về các nhân vật lớn qua ký ức Ác-chi-om

– Là con nuôi Xta-lin, lại được nhiều năm sống trong gia đình lãnh tụ, ông thấy Xta-lin thế nào? Hình thức của Xta-lin như thế nào?

– Xta-lin không bao giờ tô điểm gì, sống rất tự nhiên. Ông có khuôn mặt bình dị, hiền hậu, không có tì vết gì. Chỉ có một ít sẹo nhỏ nhưng không rõ nét. Nét mặt ông sống động, thông minh nhưng giản dị. Có một phụ nữ từng bị hại trong những năm “trấn áp phản cách mạng” là Ki-ra Páp-lốp-na khi được hỏi về Xta-lin cũng đã trả lời: “Nói thật ra, ông ta là một người khả ái”.

– Thế Xta-lin nuôi dạy ông như thế nào?

– Bố nuôi tôi là một người cha ân cần, dịu dàng và mẫu mực. Ông không cho phép đứa trẻ tự coi mình là người không biết suy nghĩ. Ông thường nói chuyện với Va-xi-li, với con gái út Xvét-lan-na và với tôi về những vấn đề nghiêm túc một cách rõ ràng và dễ hiểu. Thi thoảng, ông thường đưa chúng tôi ra làm gương cho nhau trong sinh hoạt, trong đối xử.

Ác-chi-om Xéc-gê-ép (ngoài cùng, bên phải) cùng đồng đội chuẩn bị trận đánh. Ảnh tư liệu.

Trong các món quà Xta-lin kỷ niệm cho tôi có hai cuốn truyện hay. Ông viết đề tặng tôi trong cuốn “Rô-bin-sơn Cru-sô” của Đa-ni-en Đơ-phô: “Tặng Tô-míc thân yêu của tôi, chúc con lớn lên và thành người Bôn-sê-vích giác ngộ, kiên định và dũng cảm”.

Ông gọi tôi là Tô-míc để kỷ niệm cha tôi thời hoạt động cách mạng ở nước ngoài theo cách gọi của người bản địa lúc đó.

Do quá bận rộn với công việc nhà nước nên ông ít khi có dịp chơi cùng con cái. Ông chỉ có dịp trò chuyện với chúng tôi khi có chút rỗi rãi, hay khi đi làm về mà chúng tôi chưa đi ngủ.

– Thế ông thấy Bê-ri-a thế nào?

– Tôi có ấn tượng không thích. Mỗi khi có ông Ne-xtô Lô-cô-ba, bạn chiến đấu của Xta-lin tới nhà Xta-lin thì không khí thật ấm áp; còn khi Bê-ri-a tới thì thật nặng nề khó chịu. Tuy nhiên Bê-ri-a là một nhân vật to tát, có vai vế; tất cả năng lượng nguyên tử là ở ông ta. Không phải vô cớ mà nhà bác học I-go Cu-tra-tốp, trưởng nhóm nghiên cứu nguyên tử đã mạnh mẽ khuyên chính phủ để cho Bê-ri-a thay Mô-lô-tốp đứng đầu dự án nguyên tử…

Về người bạn, người anh em Va-xi-li

– Ông sống ở gia đình Xta-lin như thế nào?

– Từ 1923–1927 tôi và Va-xi-li cùng được nuôi dạy ở nhà trẻ. Ngoài chúng tôi – những đứa con mà cha mẹ không có thì giờ và điều kiện nuôi dưỡng vì quá bận rộn công việc quốc gia, còn một số khác là mồ côi cha mẹ, không nhà cửa nương thân. Tất cả là 50 người, gọi vui là “Nhà trẻ 50”. Các bà bảo mẫu chăm sóc và dạy dỗ tận tình, chu đáo, không phân biệt đó là con Xta-lin hay trẻ vô gia cư, trẻ mồ côi. Về sau tất cả bọn tôi đều được học trường phổ thông, rồi vào trường thiếu sinh quân, trường quân sự. Khi chiến tranh nổ ra, tất cả chúng tôi đều lập tức ra mặt trận.

– Khi nào thì ông và Va-xi-li gặp nhau lần cuối?

– Chúng tôi vẫn còn được gặp nhau khi Va-xi-li bị bắt và vào nằm điều trị ở quân y viện. Cuối năm 1953, rất nhiều bạn bè (cả bạn cùng chơi thể thao) đều thăm anh. Anh vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ của mình, khá bận rộn với sự nghiệp thể thao. Sau đó anh bị dẫn tới trại cải tạo Vla-đi-mia-xki, rồi bị đi đày. Anh mất ở thành phố Ca-dan năm 1961. Tôi biết tin buồn này khá muộn, do mẹ tôi gọi điện báo cho tôi. Những năm cuối này Va-xi-li sống thật cô đơn…

Tham gia chiến tranh cứu nước, Va-xi-li được thưởng 4 huân chương. Các bạn cùng lứa, cùng hoàn cảnh với nhau thì được thưởng nhiều hơn. Ở đây có nhiều điểm thiếu công bằng. Một lần, đội bay ném bom của Đức ồ ạt tấn công sâu vào hậu phương của ta. Khi phát hiện thấy chúng, Va-xi-li lập tức phóng máy bay lên chặn đánh cản phá giặc, mặc dù máy bay của anh chưa kịp trang bị đầy đủ vũ khí. Bộ chỉ huy ở mặt đất chứng kiến hành động mưu trí và dũng cảm đó đã ghi danh để phong anh hùng. Tuy nhiên, khi đã biết đó là con trai Xta-lin thì họ hạ xuống một bậc: Chỉ thưởng Huân chương Cờ đỏ…

Về Va-xi-li đã có nhiều bài viết không đúng sự thật, thậm chí còn vu khống. Ngày nay người ta vẫn còn cố tình bóp méo hình ảnh của anh. Nếu ở anh vẫn còn có gì đó khiếm khuyết là do bản tính anh còn nông nổi, không biết tự kiềm chế…

– Xin hỏi thật tình: Xta-lin với anh như một người cha thật sự chứ?

– Vâng, tôi rất tự hào với hai người cha của mình. Tôi tự hào vì cả hai đều đã hiến trọn đời mình cho đất nước. Tự hào vì cả hai đều được an táng ở bức tường điện Crem-li. Những ngày sinh và ngày mất của họ tôi đều mang những bó hoa tươi thắm đến dâng trước mộ họ.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn