Nguyễn Công Trứ: Vị quan làm lợi cho nước, cho dân

QĐND – Nhìn lên bản đồ Việt Nam, huyện Tiền Hải (Thái Bình) và huyện Kim Sơn (Ninh Bình), mặc dù về mặt hành chính thuộc hai tỉnh (đến thời Nguyễn Công Trứ chưa có địa danh Thái Bình, mà thuộc hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình), nhưng về địa lý lại nằm trong vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng, một vùng đất màu mỡ được hình thành bởi phù sa bồi tụ của sông Hồng và sông Trà Lý.

Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, vùng đất bãi bồi ven biển mênh mông hàng nghìn mẫu này hầu như chưa được khai phá bao nhiêu, chỉ mới xuất hiện một số làng tự phát, nhà cửa lèo tèo như Đại Hoàng, Lạc Thành… bên tả ngạn sông Hồng, vẫn trong tình trạng “thủy thăng kiến thủy, thủy giáng kiến thổ”, nghĩa là khi thủy triều lên chỉ mênh mông thấy nước, khi thủy triều xuống thì thấy đất. Vùng đất mọc đầy sú vẹt, lau sậy, cỏ lác này là nơi lui tới của đám hải tặc và trong những năm 1826-1827 là căn cứ của cuộc khởi nghĩa nông dân Phan Bá Vành. Trong những năm làm quan ở Bắc thành, Nguyễn Công Trứ đã để ý đến vùng đất này, đặc biệt khi ông làm tham tán quân vụ trong đạo quân của Phạm Văn Lý đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành, ông đã đến tận nơi và bằng mắt mình chứng kiến vùng đất và con người nơi đây. Ông suy tư về mối liên hệ giữa vùng đất bãi bồi chưa được khai phá và những toán hải tặc và đặc biệt những người nông dân nghèo khổ tham gia cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành. Trước đó, được Minh Mệnh khích lệ “sau này có việc gì khẩn yếu, cho được làm tờ nói thực, niêm phong tâu thẳng”(1), nên trong một lần về Kinh, Nguyễn Công Trứ đã mạnh dạn dâng sớ tâu ba việc lớn, trong đó có việc thứ ba liên quan trực tiếp đến việc khai hoang lấn biển. Đại Nam Thực lục có ghi:

Nguyễn Công Trứ (1778-1858). Ảnh tư liệu.

“Vỡ ruộng hoang cho dân nghèo. Đời làm ăn xưa chia ruộng định của, dân có nghiệp thường ở yên, nơi làng mạc không có gian tà. Ngày nay, những dân nghèo túng, ăn dưng chơi không, khi cùng thì họp nhau trộm cướp, cái lệ không ngăn cấm được. Trước thần đến Nam Định thấy ruộng vỡ hoang ở các huyện Giao Thủy, Chân Định mênh mông bát ngát. Ngoài ra, còn không biết mấy trăm nghìn mẫu, hỏi ra thì dân địa phương muốn khai khẩn, nhưng phí tổn nhiều, không đủ sức làm. Nếu cấp cho tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn, nhà nước phí tổn không mấy mà mối lợi tự nhiên sẽ đến vô cùng. Vả lại bãi Tiền Châu ở huyện Chân Định hoang rậm, trộm cướp thường tụ họp ở đấy làm sào huyệt, nay khai phá ra, không những có thể cho dân nghèo làm ăn, lại còn dứt được đảng ác…”(2).

Vua Minh Mệnh chuyển sớ cho đình thần bàn bạc và hết thảy đều cho là “Điều khai khẩn ruộng hoang thì thực được ý nghĩa chăm nghề nông làm gốc”(3) nên Minh Mệnh quyết định phong chức mới cho Tả Thị lang Hình bộ Nguyễn Công Trứ là Dinh điền sứ để thực thi công việc quan trọng đó. Trong cuộc yết kiến Vua lần đó, Nguyễn Công Trứ mạnh dạn bộc bạch những suy nghĩ của mình về việc thu nhận những thân phận nông dân khốn khổ đã từng đi theo Phan Bá Vành vào công cuộc khai hoang lấn biển. Nghe xong, Minh Mệnh hạ lệnh cấp cho Nguyễn Công Trứ “một viên Tư vụ, 10 người bát cửu phẩm và một vị nhập lưu thư lại đi theo để sai phái”(4).

Hành trang buổi ban đầu khai hoang lấn biển của ông chỉ có vậy.

Sau khi nhậm chức Dinh điền sứ, Nguyễn Công Trứ nhanh chóng trở lại vùng đất bãi bồi thuộc hai huyện Chân Định và Giao Thủy tức khắc triển khai công việc. Với tư cách người tổ chức và chỉ đạo công cuộc khai hoang lấn biển, vấn đề ông quan tâm trước tiên là thu hút lực lượng vào công việc. Như trong Sớ khai hoang trình vua Minh Mệnh đã nói ở trên, có 4 đối tượng mà ông muốn thu hút vào dự án mở đất của mình:

– Những người địa phương giàu có, những người đồng hương với ông (Nghệ-Tĩnh), những thầy đồ có uy tín. Số người này đóng vai trò tập hợp và tổ chức các đơn vị khai hoang như lý, ấp, trại, giáp;

– Nông dân vùng châu thổ sông Hồng không có ruộng đất;

– Dân du đãng;

– Những người đã tham gia khởi nghĩa của Phan Bá Vành.

Những người tham gia khai hoang thuộc 4 nhóm đó được phân ra thành nhiều hạng, tùy vào công việc và thời gian tham gia. Những người đầu tiên đứng ra tập hợp và tổ chức lực lượng khai hoang được gọi là chiêu mộ hay nguyên mộ. Họ là những người có uy tín, giàu có như chủ đất, thầy đồ, con cháu các danh gia vọng tộc ở những vùng quê lân cận hoặc đồng hương Nghệ Tĩnh. Sau nguyên mộ là thứ mộ, những người góp phần hoàn chỉnh các đơn vị khai hoang. Cuối cùng, lực lượng đông đảo nhất, đến sau gọi là tân mộ hay tòng mộ. Việc phân những người khai hoang thành ba cấp độ như vậy liên quan mật thiết tới quyền lợi ăn chia ruộng đất và địa vị xã hội mà họ được hưởng khi công việc hoàn tất.

Trong công cuộc khai hoang lấn biển lập huyện Tiền Hải (1828) và Kim Sơn (1829), Nguyễn Công Trứ nổi lên như một người có đầu óc tổ chức tuyệt vời.

Trên cơ sở những thông tin thu nhận được qua các cuộc khảo sát điền dã về thế đất và đặc điểm địa lý từng vùng, Nguyễn Công Trứ đã vạch quy hoạch cư trú không giống nhau cho mỗi vùng. Tiền Hải có sông Long Hầu chảy theo hướng Bắc-Nam, chia thành hai vùng khác nhau căn bản: vùng đất phía tây sát vùng đất cũ ít nhiều đã được khai phá, còn vùng phía đông là đất bãi bồi chưa được khai phá nên ông quy hoạch thành hai kiểu làng: Làng xa biển và làng sát biển. Làng xa biển, Nguyễn Công Trứ thường chọn nguyên mộ là người sở tại, lực lượng khai hoang chủ yếu là “dân làng cựu” tách ra, đã có kinh nghiệm thâm canh ruộng đất. Kiểu làng sát biển, phần lớn nằm ở phía đông sông Long Hầu, lực lượng khai hoang phần lớn tập hợp nhiều nơi tới. Còn ở Kim Sơn chỉ có một kiểu làng giống nhau theo hướng Tây-Đông (chiều dài), phía tây giáp với huyện Yên Khánh, chạy ra tới biển. Các làng ở Kim Sơn đều có biển, nên khả năng mở rộng làng còn rất lớn.

Ở Tiền Hải cũng như Kim Sơn, Nguyễn Công Trứ rất chú ý tới việc kết hợp hài hòa giữa hệ thống thủy lợi và giao thông vận tải trong khi quy hoạch các đơn vị dân cư. Chẳng hạn như các làng sát biển ở Tiền Hải, do đất nhiễm mặn nặng nên việc đắp đê, đào sông, xây dựng hệ thống thủy nông có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của công cuộc khai hoang lấn biển. Nguyễn Công Trứ tiến hành cho đắp đê sông Lân, tiếp đó là đê sông Long Hầu, sông Trà Lý. Ranh giới của các làng là những con sông đào mà dân địa phương gọi là “sông chái” hay “sông dọc”. Những sông đào này rộng 4-5m, sâu 3m, thuyền lớn có thể đi lại dễ dàng. Trên đất Kim Sơn, do gặp khó khăn trong việc lợi dụng địa hình, Nguyễn Công Trứ cho đào một con sông từ đầu huyện đến cuối huyện, nối sông Côn với sông Đáy, gọi là sông Ân, dài 13.500m, rộng 12m, sâu 4m, bờ tây con sông này là đê Hồng Ân, dài 435 trượng, mặt rộng 3 thước, đáy rộng 7 thước, cao 3 thước. Lợi dụng chế độ thủy triều ổn định của vùng này, Nguyễn Công Trứ cho quy hoạch một mạng lưới thủy nông tự tiêu-tưới. Hệ thống sông dào, kênh mương chằng chịt ở Tiền Hải, Kim Sơn đóng vai trò thau chua rửa mặn, tưới tiêu, đồng thời đảm nhiệm chức năng giao thông vận tải nông thôn rất hữu hiệu và điều hòa khí hậu tiểu vùng trong vùng đất nắng gió, mặn mòi buổi ban đầu này.

Trong công cuộc khai hoang lấn biển do Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ chủ trương và tổ chức thực hiện quyết liệt trong hai năm đã lập nên hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn. Huyện Tiền Hải khi thành lập có 7 tổng, gồm 47 ấp, lý, trại, giáp với 2.300 suất đinh và hơn 18.970 mẫu. Còn huyện Kim Sơn khi mới thành lập có 16.400 mẫu, chia cấp cho 1.260 suất đinh, tổ chức thành 7 tổng với 63 làng, ấp, trại, giáp. Thành tựu khai hoang lấn biển không chỉ góp phần làm tăng diện tích đất canh tác của đất nước, mà còn góp phần không nhỏ vào việc ổn định tình hình chính trị nông thôn vùng châu thổ sông Hồng vốn đầy biến động và không mấy bình yên lúc mới thành lập vương triều Nguyễn. Công lao đó trước hết thuộc về Nguyễn Công Trứ và những người đi theo tiếng gọi đổi đời của ông. Công lao đó không chỉ được triều đình Huế ghi nhận, mà còn được tạc vào lòng dân bằng việc dân đưa ông vào thờ như thành hoàng làng trong các làng thuộc hai huyện khi Nguyễn Công Trứ còn sống. Và mới đây, trong dịp Tết Nhâm Thìn, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm và làm việc ở Ninh Bình, ông đã về thắp hương đền thờ Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, như một lần nữa ghi nhận công ơn đối với người có công mở nước.

——

Các trích dẫn trên đều lấy trong Đại Nam Thực lục, tập 2, Nxb Giáo Dục, các trang 579, 710-720 và 721.
qdnd.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 1

QĐND – “Bản anh hùng ca ngắn ngủi”- đó là lời Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, chủ biên bộ quốc sử chính thức của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ “Lịch sử Việt Nam” nói về phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, diễn ra từ mùa xuân năm Canh Tý 40 đến mùa đông năm Quý Mão 43.

Đúng là “ngắn ngủi”, vì cộng thêm cả năm Kỷ Hợi 39 với những diễn biến của lịch sử trực tiếp dẫn đến sự bùng nổ của phong trào vào mùa xuân năm Canh Tý 40 và cộng thêm cả năm Giáp Thìn 44 là thời gian hung tướng Mã Viện sau khi dìm phong trào đấu tranh của Hai Bà Trưng vào biển máu còn nán lại nước Việt để xử lý các vấn đề hậu chiến, thì tất cả cũng chỉ có 6 năm.

Nhưng đây rõ ràng là những năm tháng đầy ắp các sự kiện trọng đại, những ý nghĩa lớn lao, những bài học quý giá, mà sự hiểu biết và lưu truyền thì lại có nhiều mờ tỏ hoặc bất cập.

Cho nên dưới đây chúng ta sẽ bàn bạc mấy điều-chủ yếu là về phương diện quân sự học-nhân dịp ngày 8-3 mà hằng năm vẫn thường được kết hợp kỷ niệm luôn “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”.

Chính thuật ngữ “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng” này đang được sử dụng chính thức trong nhiều dịp lễ nghi, nhiều văn bản, thậm chí sách giáo khoa… là điều cần được “chính danh” đầu tiên.

Bởi vì phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, không chỉ là một “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng”! Lịch sử phong trào này cho dù 4 hoặc 6 năm thì cũng đã diễn ra, với cấu trúc và theo trình tự:

1. Khởi nghĩa – mùa xuân năm 40; 2. Xây dựng quốc gia độc lập năm 41 và 42; 3. Kháng chiến năm 43. Vì thế, gọi cả phong trào đấu tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo, bằng thuật ngữ “Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng” là đã-về mặt quân sự học-“bỏ qua” mất một thành phần hữu cơ trong cấu trúc và một công trình lớn lao trong sự nghiệp của phong trào đấu tranh do Hai Bà lãnh đạo. Tức thị, cho dù có thể là muốn “nói gọn”, “gọi tắt”, thì cũng là gọi thiếu và do đó: Gọi sai sự thực và giá trị lịch sử của phong trào.

Vì thế, tiếp theo việc xác định tên gọi ta sẽ bàn trước mấy điều về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, với vị thế lịch sử là bước khởi đầu (bùng nổ) của phong trào. Sau đó vì những năm tháng xây dựng quốc gia độc lập của Hai Bà, không nhiều vấn đề quân sự học, nên ta sẽ bàn tiếp ngay mấy điều về cuộc kháng chiến do Hai Bà lãnh đạo, với vị thế là sự kết thúc vẻ vang, oanh liệt của phong trào.

Mấy vấn đề về cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

Sử liệu xuất hiện gần nhất với thời gian khởi nghĩa các sách: “Hậu Hán thư”, “Thủy Kinh chú” (thế kỷ 5, 6) của Trung Quốc nói niên đại bùng nổ cuộc khởi nghĩa là: Giữa mùa xuân năm Canh Tý (40 sau Công nguyên). Vì thế, các bộ chính sử của ta như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (xuất hiện muộn hơn vào các thế kỷ 15, 19)-mới chép niên đại đó, cụ thể là: Tháng hai (âm lịch) năm 40. Và xuất phát từ “sự kiện Mê Linh-Chu Diên”.

Lễ rước tượng voi chiến từ đình làng Hạ Lôi tới Đền thờ Hai Bà Trưng (Mê Linh, Hà Nội). Ãnh: Tuấn Tú.

+ Mê Linh: Còn được chép vào sử cũ bằng những ký tự na ná: “My Linh”, “Ma Linh”… Rõ ràng đó là những từ phiên âm Hán-Việt của một từ ngữ Việt Cổ, phát âm gần như “M’ling” và ngữ nghĩa thì có thể là tên một loài chim thiêng, “vật tổ” của cộng đồng cư dân và đất đai xa xưa ở giữa hai triền núi Ba Vì và Tam Đảo-trung tâm “Văn Lang” của đất nước từ thời Hùng Vương.

Còn Chu Diên là từ dịch nghĩa Hán-Việt của “diều hâu đỏ” trong tiếng (chữ) Nôm, là địa danh của miền đất dọc sông Hồng (sông Cái) và sông Đáy (sông Hát), kề cận mạn nam Mê Linh (ở Hạ Mỗ, thuộc huyện Đan Phượng “phượng hoàng đỏ”, gần nghĩa với “diều hâu đỏ”)-quê hương Thái úy Tô Hiến Thành, trên bờ sông Đáy (nay ở Tây Bắc trung tâm Hà Nội)-có “thành cổ Ô Diên”, cũng mang ngữ nghĩa là “diều hâu” (diên) nhưng là “đen” (ô) như vậy).

Hai Bà Trưng là dòng dõi của lạc tướng (người đứng đầu một “bộ” hoặc “bộ lạc” ở thời Hùng Vương) Mê Linh. Thi Sách là con trai lạc tướng Chu Diên. Cuộc hôn nhân Trưng Trắc-Thi Sách, theo hình thức phong tục mà khoa dân tộc học gọi là “hôn nhân vọng môn cư” (vợ chồng lấy nhau, nhưng vẫn người nào ở lại tại nhà người nấy một thời gian). Tàn dư từ thời “mẫu hệ” chuyển sang thời “phụ hệ”, cho đến đầu thế kỷ 20 vẫn thấy còn trong phong tục hôn nhân ở nhiều làng trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Đình Bảng-Bắc Ninh. Thực chất chính là một cuộc liên minh thế lực giữa hai miền đất và người ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng-“Cái nôi của dân tộc Việt”, để tạo ra nguồn lực trọng yếu và chủ yếu của cuộc khởi nghĩa. Thái thú Tô Định của nhà Hán đô hộ nhận ra nguy cơ từ cuộc liên minh đó, nhưng vì chưa dám động đến “đất chủ” Mê Linh nên đã giết Thi Sách để bẻ gãy “vây cánh” của liên minh. Do đó, tạo “cớ” cho cái “nguyên” của sự bùng nổ cuộc khởi nghĩa mà 4 “Lời thề sông Hát” của Hai Bà Trưng (xin xem lại Sự kiện và Nhân chứng số 1-2012) đã nói rõ ở lễ xuất quân tại Hát Môn.

+ Hát Môn: Là “Cửa (sông) Hát” (tức sông Đáy), chỗ dòng sông này giao nước với sông Hồng, nay thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Đây chính là điểm tiếp giáp giữa hai miền Mê Linh và Chu Diên xưa. Chọn nơi này làm chỗ tập kết lực lượng và cử hành lễ ra quân đánh giặc-như các sử liệu cũ đều thống nhất nói, là chọn đúng địa bàn biểu tượng (tượng trưng) cho sự liên kết Mê Linh-Chu Diên. Đấy là nói về mặt chính trị. Còn về mặt quân sự thì chỗ ngã ba của hai dòng sông huyết mạch này chính là một đầu mối chiến lược rất thuận cho mọi hướng đi-về, dồn quân và ra quân. Đặc biệt, nếu nhằm vào đầu não giặc ở Liên Lâu mà tiến công thì Hát Môn là căn cứ xuất phát lý tưởng nhất của quân ta.

+ Liên Lâu: Còn được ghi vào sử cũ bằng những ký tự: “Ly Lâu”, “Luy Lâu”… Đây là những từ phiên âm Hán-Việt, của một tiếng Việt cổ đa âm tiết, mà về sau được “đơn âm tiết hóa”, thì thành (nói gọn) là: “Dâu”. Với ngữ nghĩa có thể là: Tên của một miền đất đai và cộng đồng cư dân, từ thời Hùng Vương, đã lấy cây dâu (nuôi tằm) làm nghề nghiệp và biểu tượng. Hiện vẫn đang còn các thực thể và tên gọi: Chùa Dâu, sông Dâu… ở miền này (Thuận Thành, Bắc Ninh). Nhà Hán xâm lược đã lấy nơi đây làm đầu não cai trị, không chỉ là của một “quận” trung tâm tên là Giao Chỉ, với chức Thái thú đứng đầu, mà còn là của cả một “châu”-Giao Châu, gồm nhiều “quận” hợp thành: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (trên đất Việt Nam bây giờ) và Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố (ở Hoa Nam ngày nay), có quan thứ sử cai trị, đóng dinh, xây thành lũy (chính là tòa thành Liên Lâu, vẫn đang còn rõ dấu vết trên thực địa).

Đánh thẳng vào đầu não của giặc và nhanh chóng chiếm thành, đuổi tướng, khiến cho “các thái thú, thứ sử chỉ còn biết lo việc giữ lấy mạng sống”, như lời sử cũ chép là cách đánh biểu hiện khí thế ngất trời của cuộc khởi nghĩa. Đồng thời, đấy cũng là chủ lực thúc đẩy nên hiện tượng kỳ vĩ: “các quận Nam Hải, Hợp Phố… đều hưởng ứng, lấy được đến 65 thành ở Lĩnh Nam” như lời sách “Đại Việt sử ký toàn thư” đã chép.

+ 65 thành ở Lĩnh Nam: Lĩnh Nam là miền đất ở phía nam núi Ngũ Lĩnh. Ngũ Lĩnh là cửa ngõ ra vào miền Hoa Nam (Quảng Đông, Quảng Tây). Thế kỷ 3 trước Công nguyên, nhà Tần đưa 50 vạn quân đi “bình định Bách Việt”, đã đánh qua Ngũ Lĩnh. Thế kỷ 11, danh tướng Lý Thường Kiệt, trong chiến dịch triệt phá các căn cứ chuẩn bị xâm lược nước Việt của nhà Tống ở châu Khâm, châu Liêm và đặc biệt là châu Ung (miền Nam các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ) đã đưa quân lên Ngũ Lĩnh, chẹn đánh các đạo quân cứu viện của nhà Tống. Khoảng trước sau Công nguyên, khi nhà Hán lập ra Giao Châu để đô hộ, thì đó chính là miền Lĩnh Nam.

Cuộc khởi nghĩa giữa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo, có sự hưởng ứng nổi dậy của các quận Nam Hải, Hợp Phố… (bây giờ là miền Nam Quảng Đông, Quảng Tây), lấy (chiếm) được đến 65 thành ở Lĩnh Nam, có nghĩa là đã thắng lợi ở cả trên miền đất phía bắc Giao Châu (phía bắc biên giới Việt-Trung bây giờ). Nhưng 65 thành là những thành nào? Vì hiểu “thành” là “huyện thành” tức: Mỗi “huyện” có một “thành” nên đã có sự thống kê: Quận Nam Hải có 7 huyện nên có 7 thành, Thương Ngô: 11, Uất Lâm: 11, Hợp Phố: 5, Giao Chỉ: 12, Cửu Chân: 5, Nhật Nam: 5, tổng cộng: 56 thành. Do đấy, đã có chủ trương: Con số 65 thành, là do sử cũ viết lộn con số 56 này. Nhưng lại cũng đã có sự hiểu khác về “thành”. Đó chỉ là một vùng (miền) đất! Do vậy, 65 thành ở Lĩnh Nam là 65 đơn vị đất đai ở Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc, miền Trung Việt Nam ngày nay.

Điều này phản ánh tính rộng khắp (toàn dân) của cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo. Trong loạt bài trả lời phỏng vấn của nhà báo, nhà sử học Alain Ruscio về cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 45, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có phần giải thích cặn kẽ tính chất toàn dân của cuộc Tổng khởi nghĩa này. Và nói rõ: Đây là công trình có truyền thống từ hàng nghìn năm trước của dân tộc Việt Nam. Chính là truyền thống từ cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40.

(Còn tiếp)

Kỳ sau: Mấy vấn đề về cuộc kháng chiến năm 43 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

GS Lê Văn Lan
qdnd.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 2

Chuyên án H86 một bài học cảnh giác

QĐND – Ông Nguyễn Trung Tín năm nay 88 tuổi sống ở thành phố Quy Nhơn, nguyên Bí thư tỉnh ủy Bình Định thời chống Mỹ (từ 1967). Sau ngày nước nhà thống nhất, ông là Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng, rồi về lại quê hương Bình Định làm Bí thư Tỉnh ủy thêm một thời gian nữa; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa 6. Bài viết dưới đây dựa trên tư liệu do ông kể lại và đã được công bố một phần trong hai tập hồi ký ngót 1000 trang “Ở lại với dòng sông” (NXB Văn học, Hà Nội, năm 2008). Chuyên án H86 diễn ra cách đây gần 30 năm, song bài học về tinh thần cảnh giác, liên tục tấn công địch trong cuộc chiến đấu thầm lặng làm trong sạch nội bộ còn mang nhiều ý nghĩa thời sự cho hôm nay.

Từ năm 1983 tôi về Lâm Đồng đảm trách Bí thư tỉnh ủy, kiêm trưởng ban Ban 04 (gọi tắt theo Chỉ thị 04/CT-TW ngày 2-2-1977 của Ban Bí thư về phát triển toàn diện kinh tế-xã hội, gắn với vấn đề Phun-rô ở các tỉnh Tây Nguyên). Lúc đó qua thực tế các cơ sở, tôi biết Phun-rô đã bị ta đánh liên tục, tan rã, ra hằng ngày càng nhiều. Nhưng tại sao quân báo tỉnh lại báo cáo “quân Phun-rô mở nhiều trận đánh, lực lượng chúng còn mạnh?”. Có lần quân báo đưa tin: Địch về điểm X, đến nơi chúng đã mất tăm. Cũng có lần ta đang hành quân bị địch phục kích gây thương vong. Đối với những tin thất thiệt, có người biện hộ là nghề tình báo, trăm tin đúng cũng có một tin sai chứ! Song thâm tâm tôi vẫn nghi có vấn đề nội bộ mà không tiện nói ra. Trong một lần giao ban giữa ba ngành, đại diện quân báo, Đại úy Nguyễn Văn Hai báo cáo là hiện có khoảng một trăm tên Phun-rô đã về Đức Trọng, trong khi đại diện công an nói là chưa nắm được gì. Anh đại úy quân báo to khỏe đẹp trai này, trong lý lịch thì ghi tham gia cách mạng từ khi còn rất trẻ, được kết nạp Đảng trong thời chống Mỹ, hiện luôn tỏ ra năng nổ, có biệt danh “Át chủ bài đánh Phun-rô”. Nhân thân như vậy thoạt nghe không tin cậy sao được. Thế rồi có một lá thư nặc danh gửi tới tôi, tố cáo “Ông Hai trước làm trưởng ban Diệt trừ sốt rét của ngụy; từng là Chủ tịch hội đồng Đà Lạt; là tay chân đắc lực cho tỉnh trưởng Tuyên Đức Nguyễn Hợp Đoàn… mà sao bây giờ làm đến đại úy quân đội ta?”. Bức thư chữ viết to, rõ ràng bằng mực tím trên trang giấy học trò. Xâu chuỗi lại sự kiện, rõ ràng những báo cáo gần đây của Hai là không chính xác, kết hợp với thư tố cáo kia, dẫu là nặc danh cũng cần phải xác minh ngay.

Cuối năm 1988, Chuyên án H86 đã kết thúc thắng lợi, tình hình xã hội của Lâm Đồng ổn định. Nhân chuyến công tác, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm nhà riêng của Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Trung Tín (người ngồi đối diện với Thủ tướng) ở thành phố Quy Nhơn. Ảnh tư liệu

Đầu năm 1984, chúng tôi họp với đại diện Quân khu 5, có Đại tá Long Ba, Phó chủ nhiệm Cục Chính trị quân khu dự, những điều nghi vấn về Hai đã được đưa ra với các tài liệu có liên quan. Giở nhiều nguồn hồ sơ lý lịch thì phát hiện có nhiều mâu thuẫn, mờ ám trong các bản kê khai. Chẳng hạn, ghi quê Sông Bé, nhưng Bến Tre mới thực là quê gốc. Phòng Bảo vệ quân khu về Bến Tre xác minh, anh ta rời địa phương từ khi mười bốn, mười lăm tuổi, biệt tích không về quê suốt hai chục năm; tên gọi lúc bé của anh ta theo tiếng Tây là “Paul”. Một điều nữa: Người mà Hai khai trong lý lịch, cấp ủy giới thiệu vào Đảng, thực chất là một tên ác ôn bị cách mạng xử tử hình vắng mặt, phải trốn về Sài Gòn từ năm 1963 và hắn không có quan hệ gì với Hai. Một tài liệu khác cho thấy hắn là con nuôi của Thiếu tướng ngụy Trần Tử Oai, phụ trách Trung tâm huấn luyện Quang Trung, sau làm Tổng quản trị Nha Diệt trừ sốt rét của ngụy. Trong tàng thư của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) còn phát hiện từ tháng 1-1966 Hai làm mật báo viên cho cảnh sát đặc biệt tỉnh Tuyên Đức. Vậy là những tố cáo trong thư nặc danh có cơ sở. Trong quá trình xác minh lý lịch của Hai còn phát hiện thêm một cái tên khác có liên quan cũng có thời gian phục vụ trong quân đội đó là Phan Thành Lợi. Lợi sinh năm 1927, là cán bộ kháng chiến, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được giao ở lại hoạt động bí mật, cuối năm đó bị địch bắt tù 3 năm ở Côn Đảo, rồi khám Chí Hòa. Điều đáng nói là khi anh ta bị bắt, các đầu mối trong cơ sở đều bị địch phát hiện, bắt hoặc giết. Sau khi được tha, anh ta tham gia Quân giải phóng, rồi vào mạng lưới điệp báo A22 của Quân khu 6. Vậy là Lợi có tới 8 năm không sinh hoạt Đảng, đột nhiên nối lại sinh hoạt khi về A22. Anh này trong thời gian hoạt động trong A22 đã làm giấy giới thiệu giả, tạo lý lịch tốt cho Hai để được vào Đảng. Việc đưa thêm Lợi vào diện “hiềm nghi” cũng có nghĩa là có thêm một đầu mối dễ cho công tác điều tra. Sau Tết Bính Dần (1986), đoàn cán bộ của Cục bảo vệ an ninh quân đội vào, thông báo ý kiến của lãnh đạo Tổng cục Chính trị: Đây là vụ án lớn, cần khẩn trương làm rõ ngay, phải phá án bằng cách bắt bí mật đối tượng. Ban chuyên án H86 ra đời do Quân khu 5 chủ trì, dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ Nội vụ và Cục Bảo vệ. Đã có thêm nhiều chứng cứ xác định được tội danh của Hai là hoạt động gián điệp, của Lợi là đầu hàng, phản bội làm tay sai cho giặc. Cũng có ý kiến: Cần có thời gian để điều tra thêm, củng cố chứng cứ cho chắc, song tôi cùng anh Huỳnh Minh Nhựt, Phó bí thư tỉnh ủy thì cho rằng, đã đến lúc khẩn trương bắt chúng để đề phòng hậu họa. Anh Long Ba đảm nhận trực tiếp bắt tên Hai. Cuộc họp của ban chuyên án hôm ấy căng thẳng và kéo dài đến 2 giờ, khi tan họp, phố phường Đà Lạt im ắng, ngủ ngon trong làn sương lạnh đầu xuân, vậy mà về đến nhà tôi vẫn thao thức không ngủ được, liệu phương án bí mật bắt tên gián điệp đó có thông đồng bén giọt?

Phương án bắt Hai khá chu đáo, tỉ mỉ: Dựng lên cuộc hội nghị bàn về chống Phun-rô các tỉnh Tây Nguyên tại TP Hồ Chí Minh, thành phần dự ngoài chỉ huy quân sự các tỉnh còn có cán bộ bảo vệ và quân báo. Đoàn Lâm Đồng về họp trên một chiếc xe Von-ga đen, Hai được xếp ngồi giữa anh Kha, Thiếu tướng, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và anh Loan, Trưởng ban an ninh, trước đó đã tung tin, Hai đi dự họp hội nghị cấp cao lần này sau đó được Quân khu đưa ra Đà Nẵng báo cáo điển hình chiến sĩ thi đua với thành tích chống Phun-rô. Điều này hẳn làm hắn vững dạ, dẫu bị ngồi kẹp giữa hai “thủ trưởng” trên suốt hành trình. Đến nơi, anh Long Ba thông báo, đồng chí Phó tư lệnh Quân khu 5 mời gặp riêng chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh và trưởng ban an ninh. Khi hai người vừa ra khỏi nhà thì các chiến sĩ an ninh ập vào đọc quyết định bắt Hai. Lập tức hai tay Hai bị tra vào còng số 8, người y mềm nhũn, khụy xuống. Khám trong người y có khẩu súng ngắn K59, đạn đã lên nòng. Súng không bao, dắt vào thắt lưng, rõ ràng con cáo già này đã chột dạ, nếu không bắt bí mật, bất ngờ ắt hắn sẽ hành động trước. Về sau khai thác, được biết: Bà mẹ một công an viên trong chuyên án vô tình tiết lộ vài công việc của người con với hắn khi gặp ngoài chợ, nên hắn đã linh cảm được phần nào mối nguy hiểm bị lộ thân phận, luôn giắt súng trong người. Cùng thời điểm bắt Hai, tên Lợi đang là phó bí thư chi bộ một phường ở Đà Lạt, cũng bị công an giam lỏng, khai thác tại một địa điểm khác.

Nguyễn Văn Hai vào nhà giam Chí Hòa. Suốt mấy tháng trời đấu tranh, lúc đầu hắn cúi đầu nhận tội, sau lại phản cung, khi ta đưa ra những bằng chứng hắn đành nhận tội, nhưng chỉ nhận tội thuộc phạm vi hình sự chứ không phải chính trị, chống phá cách mạng. Vụ án được mở rộng ra nhiều đối tượng khác, trên nhiều địa bàn các tỉnh phía Nam tập trung vào thời gian 20 năm của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng hàng chục năm sau ngày giải phóng. Cuộc đấu tranh đó diễn ra gay go phức tạp hơn nhiều so với dự kiến khi phá án. Trong bản cung khai cuối năm 1986, Hai đã thú nhận: “Tôi dấn thân vào con đường phản cách mạng từ khi được Thiếu tướng Trần Tử Oai, phụ trách Trung tâm huấn luyện Quang Trung tin dùng, nâng đỡ, đào tạo tình báo, do CIA đài thọ, chi phối…”. Đáng lẽ vụ án kết thúc trong năm 1987, song với bản chất lật lọng, ngoan cố, hai tên Hai và Lợi lại đồng loạt phản cung. Chỉ đến khi có thêm sự việc của hai chỉ huy Phun-rô đã ra đầu thú là Konso Linit và Hà Siêng, có chứng cớ hiển nhiên về hoạt động tình báo của Hai, hắn mới chịu nhận tội. Ngày đó anh Long Ba đã cùng ba cán bộ Phòng Bảo vệ Quân khu bí mật luồn rừng suốt hai ngày đêm đến được hang đá trú ẩn của Linit ở giáp giới tỉnh Đắc Lắc, mang về những vật chứng quý giá, trong đó có lá thư viết tay của Hai vạch kế hoạch cho Phun-rô chống phá, cùng việc y chủ mưu trong việc giết một đồng bọn để bịt đầu mối. Tháng 5-1988, chúng tôi nhận được chỉ thị của Ban Bí thư, chuyên án H86 tiếp tục chuyển sang giai đoạn hai. Chuyên án mới do đồng chí Bùi Thiện Ngộ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (sau này là Bộ trưởng) làm trưởng ban, Thiếu tướng Nguyễn Như Kính, Cục trưởng Cục bảo vệ an ninh quân đội làm phó trưởng ban, tôi làm ủy viên.

Nhìn lại, những năm tiến hành Chuyên án H86, đã diễn ra khá phức tạp, nhưng cuối cùng đã hoàn toàn thắng lợi, chặn đứng được âm mưu hoạt động của Phun-rô trên địa bàn Lâm Đồng. Hai, Lợi và một số tên khác tuy chưa giữ những chức vụ lớn, song nếu không phát hiện kịp thời, chúng sẽ còn luồn sâu, leo cao thì càng nguy hiểm. Đây thực sự là bài học quý báu trong thời hậu chiến để rà soát lại công tác cán bộ, làm trong sạch nội bộ, tỉnh táo đề phòng những hoạt động chống phá của kẻ địch từ bên trong.

Phạm Quang Đẩu
qdnd.vn

Trận đánh ngoạn mục trên bãi đá Mung Bua

QĐND – Thứ Ba, 20/03/2012, 17:43 (GMT+7)

QĐND – Một giờ sáng “mật lệnh” được ban ra. Những mái đầu xanh có, bạc có của Phòng phòng chống tội phạm (PCTP) ma túy, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Điện Biên và Đội 1, Đoàn 1, Cục PCTP ma túy chụm lại vào bản đồ tác chiến. Kế hoạch phá án mang bí số 016L để bóc gỡ đường dây ma túy từ Pa Hốc qua địa bàn đồn Tây Trang về thị trấn Mường Ẳng nhanh chóng được thông qua. Rất nhanh, gần 20 cán bộ, chiến sĩ lên xe trong đêm tối, tiến thẳng về bãi đá Mung Bua…

Lộ diện một đường dây ma túy xuyên quốc gia

Trời tối như bưng. Chiếc U-oát oằn mình, rồ ga lao đi trong đêm tối. Ngồi trên xe, Đại tá Lê Quang Đán, Trưởng phòng PCTP ma túy tỉnh Điện Biên (Phó ban chuyên án) tranh thủ trao đổi thông tin với chúng tôi: Điện Biên là một trong những tỉnh các đối tượng trong đường dây ma túy xuyên quốc gia lợi dụng vận chuyển ma túy từ Lào vào Việt Nam tiêu thụ. Từ nhiều năm nay, BĐBP tỉnh Điện Biên đã xác lập nhiều chuyên án lớn, bắt nhiều đối tượng mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, hoạt động mua bán, vận chuyển ma túy qua biên giới ngày càng diễn biến phức tạp, với nhiều thủ đoạn tinh vi. Nhiều đường dây, đối tượng cầm đầu ở sâu trong nội địa, dân cư trú tại khu vực biên giới chỉ là những tay cửu vạn trung thành. Vì vậy, chủ trương của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị là bên cạnh việc “vươn ra” ngoại biên, lực lượng PCTP ma túy phải “với” vào nội địa. Chuyên án 016L là “hiện thực” hóa chủ trương đó. Nhiệm vụ của chuyên án là triệt phá đường dây vận chuyển ma túy từ Pa Hốc qua địa bàn đồn Tây Trang vào thị trấn Mường Ẳng đi các tỉnh nội địa.

Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên trên đường tuần tra, mật phục. Ảnh chụp lại

Tháng 6-2009, trinh sát nắm được thông tin hoạt động mua bán, vận chuyển ma túy của một số đối tượng từ Pa Hốc, qua địa bàn Đồn Biên phòng Tây Trang về Mường Ẳng. Trong đó, nổi lên 3 đối tượng: Lường Văn Huyên, trú tại Khối 11, thị trấn Mường Ẳng; Lường Văn Tài, trú tại bản Ca Hâu, xã Na Ư, huyện Điện Biên và Tòng Văn Thơi, trú tại thị trấn Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo. Sau gần một tháng điều tra, xác minh, manh mối của một đường dây mua bán, vận chuyển ma túy từ bản Pa Hốc, tỉnh Phông Xa Lỳ (Lào) qua địa bàn đồn cửa khẩu Tây Trang về tập kết tại thị trấn Mường Ẳng bán cho các đối tượng ở một số tỉnh nội địa đã được hé lộ. Đường dây này gồm 7 đối tượng, trong đó có 2 đối tượng là người dân tộc Mông Lào (trú tại bản Pa Hốc, huyện Mường Mày), một đối tượng trú tại xã Na Ư, huyện Điện Biên, 2 đối tượng trú tại thị trấn Mường Ẳng và một đối tượng trú tại thị trấn Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo. Cầm đầu đường dây này là 2 tên: Lường Văn Tài và Lường Văn Huyên. Thủ đoạn của các đối tượng hết sức tinh vi: Chân tay của Huyên, Tài thường vượt biên sang Pa Hốc mua hàng; cũng có khi móc nối, liên lạc trước với số đối tượng người Lào để nhận hàng tại khu vực biên giới, mang về Mường Ẳng cất giấu và móc nối bán cho các đối tượng ở dưới xuôi. Địa điểm giao nhận hàng cũng được các đối tượng chọn rất kỹ lưỡng, thường là khu vực hang đá, bãi đá tại các đoạn đường đèo dốc quanh co rất tiện cho việc “đón khách”, canh gác bảo vệ, dễ tháo chạy khi bị vây bắt.

Ngày 20-6-2009, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Điện Biên đã họp, nhận định tình hình và báo cáo Cục PCTP ma túy chỉ đạo lực lượng PCTP ma túy của tỉnh và của Cục xác lập chuyên án 016L đấu tranh nhằm triệt xóa đường dây này.

Hai “ông chủ” và chuyện chơi gỗ lũa

Ngày 26-6, Ban chuyên án quyết định cử Thượng úy L.X.T, trợ lý Phòng PCTP ma túy tỉnh Điện Biên, Trung úy N.N.K, trinh sát viên Đội 1, Đoàn 1, Cục PCTP ma túy đảm nhận nhiệm vụ trinh sát nội tuyến (đóng vai là 2 ông chủ có tên là Tùng, Tuấn từ Hà Nội lên “ăn hàng”). Mục đích là làm rõ vai trò, vị trí của các đối tượng trong đường dây và khả năng cung cấp “hàng” của chúng.

Cuối tháng đó, thông qua đặc tình (T7) của ta, Tùng, Tuấn được Tài “mời” sang Pa Hốc chén chú, chén anh. Vừa bước chân vào quán rượu, Tùng ngắm nghía gốc gỗ lũa chỏng chơ bên chiếc bàn ăn và trầm trồ:

– Hình dáng tự nhiên, toàn thân đồng nhất. Các mắt hốc trơn tròn mà không bóng thế này thì đúng là gốc tự nhiên rồi.

Tuấn xen vào:

– Anh có vẻ thông thạo cái món này gớm nhỉ?

– À, thì trước đây mình cũng đã phất lên nhờ cái món này đấy. Khúc gỗ do người gọt đẽo và khúc gỗ do thiên nhiên bào mòn khác nhau hẳn. Có khúc được gọt với các đường nét trơn tròn, hốc mắt tự nhiên nhìn là thấy ngay. Nhưng mà có thể nhầm. Đấy là các gốc cây thường do con người tạo ra. Các khúc cây đó nhìn qua thì cũng thấy hình thù kỳ dị, nhưng nhìn kỹ thì sẽ thấy còn nguyên dấu vết cành que, rễ, vỏ, thân. Thân thường bóng, không đồng nhất và ruột lại xốp và rỗng. Các gốc này thường là gốc chết của sú, vẹt, đước ở vùng đất ngập mặn, tuy có giống lũa về sự hình thành nhưng quá trình xảy ra nhanh trong vài năm và gỗ đó không bền và giá trị thẩm mỹ không cao.

Nghe thấy Tùng phán hay quá, Tài cũng tham gia:

– Thế tại sao nó lại không bị mục ruỗng hay mối mọt hả anh?

Được thể Tùng tiếp tục trổ tài:

– Có thể là do tập trung Xen-lu-lô quá dày đặc, hoặc do nhựa cây lúc còn sống tiết ra khiến mối mọt, nước và thời gian cũng chịu thua.

Tài đang ngơ ngác thì Tùng phán tiếp:

– Chơi lũa cũng như chơi đá. Lũa mang dấu ấn của tự nhiên nhưng thể hiện tính biểu cảm cô đọng và thẩm mỹ, đặc biệt là trên lũa còn thể hiện sự trải nghiệm của thời gian do lũa được hình thành qua nhiều năm. Chơi lũa bình thường thì lũa có thể mô phỏng các hình thù có thật như con thú, núi đá, hang hốc… nhưng chơi đến đỉnh cao thì lại thể hiện những khái niệm, triết lý trừu tượng, thần thái. Nếu chú mày muốn kiếm chút ít lúc “chờ mối hàng trắng” thì sai đệ sưu tầm cho anh ít gỗ lũa cũng được nhưng nhớ là phải thử đấy nhé.

– Thử thế nào hả anh? Tài sốt sắng.

– Gỗ lũa ít mùn, không phai trong nước càng bị lũa nhiều thì thịt gỗ đanh, phần bị bào mòn có thể tạo nên những khoảng rỗng và phần còn lại thịt gỗ có đặc tính là chắc, đanh và nặng, chỉ cần ngâm trong nước vài ngày sẽ tự chìm. Chứ không như ở dưới xuôi, bọn thương lái thường xử lý bằng cách luộc đến 3 ngày, để cho ngấm nước đồng đều, rồi lại sấy khô, rồi lại luộc để lũa chìm nhằm đánh lừa mấy thằng mới vào nghề.

Đến đây thì Tài đã thực sự bị “ngã gục” bởi sự từng trải của ông chủ tên Tùng. Tài nghĩ bụng “Đúng là dân Hà Nội!”. Sau vài ba ly “sơn cước tửu”, Tài đã thổ lộ muốn “làm ăn” với Tùng, Tuấn. Cá đã cắn câu, Ban chuyên án tiếp tục chỉ đạo Tùng, Tuấn đi vào đường dây. Sau gần một tháng “hẹn hò”, Tùng, Tuấn và T7 đã làm rõ được đường dây và thiết kế một cuộc trao đổi “hàng” theo ý đồ của ta.

Cất vó

Mọi công tác chuẩn bị để “cất vó” đã hoàn tất. Ban chuyên án ra lệnh cho các mũi lên đường đến “điểm hẹn”. Sau 3 giờ hành quân, đến 4 giờ, toàn bộ lực lượng chuẩn bị cho trận đánh đã có mặt tại địa điểm tập kết. Trời mưa như trút nước.

Mũi 1 (tổ đánh bắt chính) gồm 13 người do đồng chí L.B.L, Phó đồn trưởng 429, tổ trưởng lập tức bơi qua sông, tiến sát khu vực bãi đá để mai phục. Dòng Mung Bua sau những trận nước lũ cuối mùa cuồn cuộn như muốn đẩy bay những trinh sát biên phòng đang ngâm mình trong dòng nước xoáy. Hơn chục con người chia làm 2 cánh quân mò mẫm trườn trong bóng tối để áp sát mục tiêu.

Mũi 2 (tổ trinh sát ngoại tuyến) gồm 4 người do Thượng úy N.V.C, trợ lý Phòng PCTP ma túy, tổ trưởng nhanh chóng bố trí đội hình thuận lợi để theo dõi mọi hoạt động của đối tượng. Mũi này có nhiệm vụ sau khi lực lượng đánh bắt chính bắt giữ được đối tượng cùng tang vật thì lập tức triển khai lực lượng vây bắt đối tượng còn lại.

Đúng 7 giờ, Lường Văn Huyên, Lường Văn Tài liên lạc bằng điện thoại cho Tùng, Tuấn với nội dung đã kiểm tra kỹ địa điểm giao nhận tiền hàng và yêu cầu Tùng, Tuấn mang tiền lên để trao đổi. Tùng, Tuấn nói đang đổi tiền do vậy cứ xem kỹ địa điểm giao hàng đi. Đến 9 giờ, Tài lại điện cho Tùng, Tuấn thông báo đang có một bánh, khẩn trương lên khu vực Khối 11, thị trấn Mường Ẳng nhận hàng. Khi đến địa điểm hẹn, Huyên ra đón Tùng, Tuấn và yêu cầu Tùng ở lại cùng Huyên còn Tuấn tiếp tục đi lên khoảng 1km nữa để xem hàng. Nhưng Tùng lấy lý do địa điểm xem hàng gần chỗ công an thị trấn Mường Ẳng sợ bị bắt, do vậy đi lên khu bãi đá Mung Bua. Đến 16 giờ 30 phút đối tượng đã mang hàng ra cho Tùng, Tuấn xem. Giờ “G” đã điểm, 6 trinh sát trong trang phục “bố bản” từ dưới sông lên bãi đá. Nhanh như chớp, một cú đá quét làm Huyên ngã lăn ra bãi đá với một bánh hê-rô-in vẫn còn trong túi áo. Tài, Thơi bỏ chạy như bị trúng tên. Chúng nhảy xuống dòng Mung Bua đang chảy xiết hòng thoát thân nhưng “lưới trời” đã mắc sẵn, 2 đối tượng nằm gọn trong gọng kìm của trinh sát biên phòng. Chưa hết bàng hoàng thì chiếc còng số 8 đã giơ sẵn chờ chúng. Đó là lúc 16 gờ 55 phút ngày 3-8-2009.

Chuyên án 016L kết thúc thành công, không tốn một viên đạn. Đường dây mua bán ma túy từ Pa Hốc (Lào) qua địa bàn Tây Trang về thị trấn Mường Ẳng đã bị triệt phá…

Phạm Long
qdnd.vn

Huỳnh Thúc Kháng với Viện Dân biểu Trung Kỳ

QĐND – Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp, bắt đầu từ Toàn quyền Đông Dương An-be Xa-rô (nhiệm kỳ hai), cho thực thi chính sách Pháp – Việt đề huề, Pháp-Nam hợp tác để tạo môi trường thuận lợi hút vốn khai thác Việt Nam. Các phương tiện thông tin đại chúng hết lời ca ngợi, quảng bá và cổ vũ cho chính sách này. Sinh hoạt chính trị và văn hóa trên đất nước, đặc biệt ở Trung Kỳ mà trước hết tại Huế có những thay đổi lớn. Ngoài hai cơ quan quyền lực có từ trước là Khâm sứ và Nam triều, thực dân Pháp cho lập thêm một cơ quan mới gọi là Viện Dân biểu Trung Kỳ như một thứ trang trí cho chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề của họ.

Dù không hy vọng nhiều vào cơ quan dân biểu này của thực dân Pháp, nhưng những người đã từng trăn trở với vận mệnh đất nước coi đó như là một diễn đàn công khai có thể bảo vệ lợi ích của nhân dân, chí ít, cũng vạch trần sự lừa bịp của chúng trước dư luận. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một chính trị phạm bị giam tại Nhà tù Côn Đảo, được trả tự do năm 1921, ra ứng cử tại đơn vị bầu cử Tam Kỳ, Thăng Bình, Tiên Phước của tỉnh Quảng Nam, được cử tri quý mến, nên trúng cử với số phiếu rất cao (640/700 phiếu). Trong Diễn văn đọc tại buổi tiệc trà ở Tam Kỳ ngày 10-7-1926 sau khi trúng cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã bày tỏ: “Năm 1920, đặt ra cuộc tư vấn, năm ngoái tuyên bố hiệp ước mới, năm nay lại đổi tư vấn ra làm nhân dân đại biểu, mới mẻ thay giữa đất Trung Kỳ mà nay có bốn chữ nhân dân đại biểu xuất hiện, nay chưa nói nội dung thế nào, chưa nói hiệu quả thế nào, mà chỉ trông thấy bốn chữ danh nghĩa đường đường quang minh chính đại, thì đã sinh lòng tin cậy” (viết đậm trong nguyên văn – PX). Ở một chỗ khác trong diễn văn đó, cụ Huỳnh xác định trách nhiệm của mình trước cử tri và nhân dân Trung Kỳ: “Cái gánh nặng anh em giao cho tôi đã chất nặng lên vai tôi rồi, chưa biết có theo được như lòng tôi không? Nhà nước có chừa cho tôi chỗ cụ cựa, đặng khỏi mất cái lòng tín nhiệm của anh em không? Tôi chưa dám nói trước…”. Rồi cụ cảnh báo: “Họa may cái chính thể này nêu một bài thuốc hay, bắt đầu chữa bệnh cho nòi giống mình, đừng để thành ra bánh vẽ, mà làm cho nhà nước bảo hộ mang tiếng”.

Chính phủ Lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cụ Huỳnh Thúc Kháng (mặc áo đen, đeo kính) đứng cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu.

Tháng 7-1926, cụ Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Ngày 7-8 năm đó, Viện Dân biểu Trung Kỳ họp phiên đầu tiên. Trong bầu không khí chính trị buổi ban đầu đó, cụ Huỳnh và những nghị viên cùng chí hướng tạo thành một phái chủ đạo, sau thành phái đối lập, đã nêu ra những kiến nghị sửa đổi Chương trình và Thể lệ của viện, về sửa luật và thông dụng chữ quốc ngữ, về thuế muối, thuế rượu và tinh giảm gạch võ. Nhưng cũng từ phiên họp đầu tiên đó, cụ Huỳnh đã sớm nhận ra trò “bánh vẽ phỉnh trẻ con” của viện. Sau hơn một năm thành lập, Viện Dân biểu chỉ là một cái tên suông, không có nhà cho Ban Trị sự đặt Văn phòng làm việc. Những sự kiện trên được phản ánh trên báo chí xuất bản ở trong nước, sau đó gửi sang Pháp. Những tờ báo đó đến được Mát-xcơ-va, Nguyễn Ái Quốc đọc và bình luận trong một bài viết có tựa đề “Sự thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương”, đăng trên tập san Inprekorr của Quốc tế Cộng sản, trong đó có một đoạn như sau:

“Tất cả những “vị dân biểu” này chỉ có tiếng nói tư vấn thôi. Các vị dân biểu Trung Kỳ thì mỗi năm họp một lần và lúc nào họp là do Khâm sứ quyết định. Thậm chí họ không có lấy một phòng họp hay một phòng để làm việc. Mỗi một kỳ họp đều do một viên công chức người Pháp chủ tọa…”.

Rồi đi tới nhận định: “Viện “ Đuma” An Nam (không phải do đầu phiếu phổ thông, mà chỉ do những kỳ mục, địa chủ và thương gia bầu ra) không thể xoa dịu được người An Nam, mà còn đưa lại cho họ cơ hội để tỏ rõ tinh thần phản kháng của mình”(1).

Theo Thể lệ, nhiệm kỳ của Viện Dân biểu Trung Kỳ là 3 năm, mỗi năm họp một phiên thường kỳ và cũng có thể có những phiên bất thường do Khâm sứ và Viện trưởng triệu tập. Phiên họp đầu tiên năm 1926 đã xuất hiện những bất đồng. Đến phiên họp thường niên năm 1927, Viện Dân biểu Trung Kỳ đứng đầu là Viện trưởng Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục gửi thỉnh cầu lên Tòa Khâm nhắc lại những yêu cầu trong kỳ họp trước chưa được giải quyết và đề đạt những yêu cầu mới. Tất cả đều bị bác bởi những suy nghĩ thiển cận, thô bạo mang tính thực dân rằng, Nghị viện chưa chịu hợp tác với chính phủ và rằng, người Việt Nam chưa đủ trình độ tham dự vào các hội đồng… Những mâu thuẫn đó tích tụ lại theo năm tháng và bùng nổ tại phiên họp thường niên năm 1928, kỳ họp cuối cùng của nhiệm kỳ đầu. Báo Tiếng Dân đã dự phần vào sự bùng nổ đó. Chúng ta đều biết, Tiếng Dân ra số đầu vào ngày 10-8-1927, đúng vào dịp Viện Dân biểu Trung Kỳ họp phiên thường niên thứ hai và ngay lập tức định hướng dư luận trong sinh hoạt chính trị của nhân dân Huế và Trung Kỳ bằng những tin, bài phản ánh cuộc đấu tranh vì nền dân chủ đang diễn ra ngày một mạnh mẽ trong Viện Dân biểu.

Thời gian trôi dần về kỳ họp thường niên cuối cùng năm 1928 của nhiệm kỳ I. Nhân đó, Tiếng Dân đăng một loạt bài dạo đầu trước công luận, trong đó có ba bài đáng lưu ý: Cùng các ông đại biểu, ký tên: Trung ngôn – Một người dân Trung Kỳ, số ra ngày 15-8-1928; Gửi cho mấy ông đại biểu, thơ của Tha Sơn Thạch, bút danh của Đào Duy Anh, số ra ngày 18-8-1928 và Mấy lời ngỏ cùng chánh phủ bảo hộ, ký tên: Một bọn dân Trung Kỳ, số ra ngày 29-9-1928.

Trong bài thơ của mình, Tha Sơn Thạch đã gửi gắm:

Sân khấu đã ra tranh một ghế/ Vai tuồng cũng phải hát đôi câu/ Cơ quan hợp tác chừng ta thế! Chánh thể văn minh thực ra đâu? Biết chăng tấm lòng dân ước mỏi/ Đã qua năm trước ngóng năm sau”.

Hoặc trong bài đăng trên Tiếng Dân số 117, ngày 29-9-1928, trước khi khai mạc Hội nghị thường niên năm 1928 mấy ngày, tác giả đã bộc lộ sự phản ứng: “Đã bị thất vọng kỳ bầu cử 1926 thì không lẽ cứ nhắm mắt bịt tai để hy vọng cho cuộc bầu cử 1929 nữa. Nằm im không đành lòng mà bước tới thời đã hết nhiệt huyết, cái thảm tình chúng tôi thật nhiều nỗi bối rối. Đứng địa vị quốc dân trong thời hợp tác, không phải chỉ theo chánh phủ mà tán tụng, mà cũng nên xem chánh phủ như người bạn để thở ngắn than dài”.

Sóng gió bắt đầu nổi lên từ việc Khâm sứ Trung Kỳ tự ý thay đổi ba lần ngày họp và càng mạnh lên trong ngày khai mạc 1-10-1928, Khâm sứ thay đổi trình tự phát biểu. Nếu như các kỳ họp trước, Khâm sứ đọc diễn văn khai mạc như chỉ đạo cho hội nghị bàn thảo, thì lần này, Khâm sứ quyết định Viện trưởng Huỳnh Thúc Kháng đọc diễn văn trước, rồi mới đến Khâm sứ như là sự phủ định diễn văn của Viện trưởng.

Trong Diễn văn, cụ Huỳnh bày tỏ một tâm trạng: “Chúng tôi đã từng nghe những câu trong dân gian phê bình Viện chúng tôi: “Tên là nhân dân đại biểu mà thật là một quan trường mới”(in đậm trong nguyên văn – PX). Chúng tôi ở vào địa vị dở dang bỡ ngỡ này, đối với chính phủ đã không làm được gì và đối với nhân dân cũng không thể cầm hai chữ đại biểu suông mà đáp lại cái lòng mong mỏi của họ, đêm nằm tự nghĩ cứ thẹn lại buồn…”(2).

Tiếp đó, Quyền Khâm sứ Giabui đăng đàn công kích Huỳnh Thúc Kháng thuộc “đám người không toại chí”, “nóng nảy” và thái độ Viện “cũng tiêm nhiễm cái ảnh hưởng ấy nên chỉ đối với chính phủ Nam triều hay là chính phủ bảo hộ, Viện này ra mặt phản kháng, khi nào cũng công kích, khi nào cũng hoài nghi cái ý tưởng hay của bảo hộ cho đến nỗi quên hẳn cái phạm vi chức vụ theo thể lệ đã đặt cái Viện này ra…”(3).

Mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa ấy cuối cùng đã dẫn tới đỉnh điểm: Chiều ngày 2-10-1928, Huỳnh Thúc Kháng đưa đơn từ chức nghị viện và nghị trưởng và 8 giờ sáng ngày hôm sau, cụ Lê Văn Huân, Hoàng Đức Trạch, Lương Quý Di cũng đưa đơn từ chức nghị viện.

Sự đối kháng dẫn tới sự tẩy chay và bất hợp tác của phái đối lập trong Viện Dân biểu Trung Kỳ đã chứng minh cho tính chất “vật trang trí” hay “cái bánh vẽ” của nó mà cụ Huỳnh đã mường tượng từ khi có chủ trương lập viện của thực dân Pháp. Dẫu vậy, điều thú vị là, qua Báo Tiếng Dân, cuộc đấu tranh của phái đối lập trong Viện Dân biểu Trung Kỳ được nhân dân Huế, Trung Kỳ và cả nước biết tới và dành nhiều thiện cảm và lòng quý mến cho cụ Viện trưởng Huỳnh Thúc Kháng, người đứng mũi chịu sào. Điều đó, ta có thể đi tới một kết luận không gượng ép rằng, chính cụ Huỳnh Thúc Kháng là người khởi động tiến trình dân chủ hóa ở xứ bảo hộ gián tiếp Trung Kỳ và góp một phần lớn vào tiến trình lịch sử tư tưởng nước ta. Và cũng từ chính cụ Huỳnh khơi mào “văn hóa từ chức” và tiếp đó, một người đồng hương của cụ, ông Phan Thanh, tiếp nối ở Hà Nội, Bắc Kỳ khi cảm thấy không thể làm được những việc theo kỳ vọng và lòng tin cậy của nhân dân. Ở một nước thuộc địa như chúng ta không thể có kiểu “hợp tác giữa con trâu và người đi cày” như nhà yêu nước vĩ đại Nguyễn An Ninh đã từng thốt lên.

(1). Hồ Chí Minh Toàn tập. Xuất bản lần thứ ba, tập 2. Nxb Chính trị Quốc gia-sự thật, Hà Nội, 2011.

(2). Tiếng Dân, số 119, ngày 6-10-1928.

(3). Tiếng Dân, số 120, ngày 10-10-1928.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

Một trung đoàn “đáng sợ”

QĐND – Năm 1954, trong một tài liệu của địch mà ta thu thập được, chỉ huy Pháp ở Đông Dương đã thú nhận: “Trung đoàn 66 là một trung đoàn đáng sợ”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn 66 – Trung đoàn chủ lực Ký Con tiếp tục có nhiều trận đánh chấn động và là đơn vị vào Dinh Độc Lập, bắt sống nội các Dương Văn Minh trong ngày 30-4-1975 lịch sử…

“Đơn vị đánh nhiều, diệt gọn”

Theo Thượng tá, Trung đoàn trưởng Hoàng Mạnh Hùng thì sức mạnh của Trung đoàn 66 khiến kẻ thù phải khiếp sợ được thể hiện cô đọng từ truyền thống “Đoàn kết, kiên cường, trung dũng, đánh thắng” của đơn vị. Ngay trong ngày thành lập (20-3-1947), Trung đoàn 66 đã lập công lớn trong trận tiến công địch ở Hà Đông giữa ban ngày, phá tan âm mưu tuyên truyền về “Kết quả công cuộc bình định của quân đội Pháp”. Tiếp đó, trung đoàn đã có cuộc hành quân thần tốc, nhổ hàng loạt vị trí quan trọng và làm nòng cốt cho thắng lợi của Chiến dịch Đường 12 vào dịp Tết năm 1948. Chỉ vào lá cờ truyền thống mang dòng chữ “Trung đoàn chủ lực Ký Con” do Bộ tư lệnh Liên khu 3 trao tặng, Thượng tá Hoàng Mạnh Hùng cho biết: “Đơn vị chính thức mang tên “Trung đoàn Ký Con” và nhận lá cờ truyền thống này từ sau những chiến thắng giòn giã trong Chiến dịch Lê Lợi vào cuối năm 1949. Đặc biệt là trận công đồn Đồng Bến. Đây là cứ điểm kiên cố của địch, nằm trên Đường số 7, cách Hòa Bình hơn 20km. Sau 3 tháng làm công tác chuẩn bị, rạng sáng ngày 26-11, Tiểu đoàn Lê Lợi của trung đoàn đã nổ súng tiến công đồn Đồng Bến. Chỉ sau hơn một giờ, trận đánh kết thúc thắng lợi, toàn bộ sĩ quan và binh lính địch bị ta diệt gọn. Đây là lần đầu tiên, bộ đội ta tiêu diệt gọn đại đội địch trong căn cứ có công sự, lô cốt vững chắc”.

Tên tuổi của Trung đoàn 66 trong cuộc kháng chiến chống Pháp còn được biết đến qua các trận đánh của Chiến dịch Trần Hưng Đạo, nhất là hoạt động ở khu vực phía nam Phủ Lý, đánh vào hệ thống phòng ngự của địch trên tuyến đê ven sông Đáy, san phẳng căn cứ Hồi Trung (Kim Bảng). Kết thúc chiến dịch, trung đoàn được Bộ tư lệnh Đại đoàn 304 đánh giá là: “Đơn vị đánh nhiều, diệt gọn”. Khi Chiến dịch Hòa Bình nổ ra, Trung đoàn 66 đã tiến hành trận phục kích cầu Dụ – Hang Đá nổi tiếng. Trong thời gian chưa đầy 20 phút, đơn vị đã phá hủy 34 xe địch, diệt phần lớn địch trên xe, bắt sống nhiều sĩ quan Pháp và lính Âu Phi…

Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ (ngoài cùng bên phải) cùng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 và các lực lượng liên quan dẫn ông Dương Văn Minh từ Dinh Độc Lập đến Đài Phát thanh Sài Gòn. Ảnh tư liệu

“Dấu ấn 66” và cái “duyên” trong ngày lịch sử

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn Ký Con tiếp tục là nỗi khiếp sợ cho đối phương bằng các trận đánh lớn trong nhiều chiến dịch. Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, cựu chiến binh của đơn vị thì “dấu ấn 66” được thể hiện ngay trong Chiến dịch Plây-me, trung đoàn đã phối hợp với các đơn vị bạn đánh bại lực lượng tinh nhuệ nhất của đế quốc Mỹ khi chúng vừa đặt chân lên miền Nam Việt Nam – đó là Sư đoàn kỵ binh bay số 1. Tiếp đó, do yêu cầu nhiệm vụ, từ một Trung đoàn 66 đã phát triển thành các trung đoàn 66A, 66B, 66C… Dấu chân của “lính 66” đã in trên các chiến trường từ Bắc vào Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Cam-pu-chia. “Tôi nhớ nhất là trận đánh Động Cô Tiên. Khi đó Đại đội 10, Tiểu đoàn 9 chúng tôi nằm trong đội hình của Trung đoàn 66 được giao tổ chức tập kích tiêu diệt địch ở cao điểm này. Trước ngày nổ súng, tôi bị sốt cao nhưng vẫn kiên quyết xin đi. Khi vào chiếm lĩnh trận địa, anh Khôi, Tiểu đoàn trưởng đưa cho tôi và anh Nhân, đại đội trưởng 2 cái đồng hồ Pôn-zôt. Anh Nhân giao nhiệm vụ cho tôi: “Cậu chờ tôi ở vị trí tập kết, tôi và cậu Hợp (chiến sĩ liên lạc) sẽ lên trước. Khi nào Hợp quay lại, cậu dẫn đơn vị vào chỗ tôi ở sát hàng rào để mở cửa, đánh chiếm đầu cầu”. Nằm chờ ở dưới, mệt quá tôi ngủ thiếp đi. Khoảng hơn 1 tiếng sau, tôi giật mình tỉnh dậy, nhìn đồng hồ đã quá 11 giờ. Không biết thông tin về anh Nhân và Hợp thế nào. Tôi báo cáo chính trị viên và “liều” dẫn đại đội lên. May sao không bị lạc và vào đúng vị trí đại đội trưởng đang chờ. Trận đó, đơn vị thắng giòn giã, nhanh gọn và được anh em tặng cho danh hiệu “Cơn lốc Động Cô Tiên”. Chỉ có điều, đại đội trưởng Nhân đã mãi mãi không trở về…” – cựu chiến binh Nguyễn Mạnh Hùng ngậm ngùi nhớ lại kỷ niệm.

Trong vòng tay của đồng đội cũ, Trung tướng Phạm Xuân Thệ, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 66 trong những ngày tháng 4-1975 lịch sử tâm sự rằng, việc ông và Trung đoàn 66 có mặt và bắt nội các chính quyền Sài Gòn ngày đó là may mắn và là cái “duyên” của lịch sử. “Để có được cơ hội vào dinh làm nhiệm vụ, biết bao đồng đội của chúng tôi đã mất đi mạng sống, có nhiều người hy sinh ngay trước giờ toàn thắng. Họ mới xứng đáng được nhắc đến và vinh danh nhiều nhất. Lá cờ truyền thống của Trung đoàn 66 – Trung đoàn Ký Con anh hùng cũng được tô thắm từ những con người như thế…”- ông Thệ khẳng định.

Sài Tiến
qdnd.vn

Đảng Ku Klux Klan 1924

Nguồn gốc – ý kiến của nguyên lão nghị viện Sécman (1871). – “Theo lối Mỹ 100 phần trǎm”.- “Hoàng đế” Ximmôn. – Những vụ hành hình theo kiểu Linsơ hồi 1919. – Tại sao, đảng K.K.K phải tiêu diệt.

Nguồn gốc đảng Ku Klux Klan là ở miền Nam nước Mỹ.

Tháng 5-1866, sau chiến tranh Nam – Bắc, một số thanh niên tụ tập nhau tại một địa phương nhỏ ở xứ Tennétxơ để tổ chức một câu lạc bộ. Để giết thời giờ, thế thôi. Người ta đặt tên cho tổ chức đó là Kuklos, một tiếng Hy Lạp nghĩa là câu lạc bộ. Muốn cho tiếng đó có vẻ Mỹ, người ta bèn đổi thành Ku Klux. Và cho độc đáo hơn, thành Ku Klux Klan.

Sau những cuộc đổi thay trong xã hội, tinh thần quần chúng dĩ nhiên là bị nao núng. Họ trở nên khao khát những cảm giác mới, thích những cái gì thần bí. Đảng K.K.K, với những lối ǎn mặc lố lǎng, những nghi thức quái lạ, những sự bí ẩn bí mật, nhất định là phải khêu gợi được óc tò mò của những người miền Nam nước Mỹ và được quần chúng rất ưa chuộng.

Ban đầu, đó chỉ là một nhóm những kẻ thích đua đòi mốt mới và những kẻ ǎn không ngồi rồi, chứ chẳng có mục đích chính trị, xã hội gì. Bọn láu cá đã nhận thấy đó là một lực lượng có thể lợi dụng để đạt những tham vọng chính trị của chúng.

Chính phủ liên bang thắng lợi vừa giải phóng những người da đen và làm cho họ trở thành những người công dân. Nông nghiệp miền Nam, thiếu nhân công người da đen, nên không có người làm. Bọn địa chủ cũ lâm vào nguy cơ phá sản. Giữa khi đó thì những đảng viên của Klan tuyên bố nguyên tắc quyền tối cao của giống người da trắng. Chống người da đen, đó là chính sách duy nhất của họ. Giai cấp tư sản nông thôn và chủ nô thấy ngay đảng Klan là một trợ thủ đắc lực, hầu như là một cứu tinh. Nó liền hết sức giúp đỡ đảng đó. Biện pháp hành động của đảng Klan đi từ doạ nạt đến ám sát. Chúng đã gây ra – trong 3 nǎm trời – cơ man nào là tội ác và thảm hoạ đến nỗi nhiều người vẫn ủng hộ chúng, cũng phải khủng khiếp mà xa lìa chúng.

Vào khoảng nǎm 1869, đảng Klan – trước áp lực của dư luận công chúng – đã bị “Hoàng đế” của nó giải tán. Đảng đó có một Hoàng đế, song ông ta chỉ có một uy quyền thuần tuý về danh nghĩa mà thôi. Những đảng Klan ở các địa phương tiếp tục tồn tại và gây ra những tội ác. Giáo sư Mếclin – người đã cung cấp cho chúng tôi những tài liệu này – nói rằng mỗi trang trong mười ba cuốn sách dầy cộp điều tra về những hành động của đảng Klan hồi 1871-1872, đều có ghi lại một vụ đánh đập người da đen hoặc người da trắng. Những việc tàn bạo đó, thường chỉ là do thói tàn bạo mà thôi. Đối với chúng, những hành động đó là một lối tiêu khiển thích thú.

Để biết rõ hơn, và phán đoán được đúng hơn về đảng Klan, thì không gì bằng là trích dẫn ngay bài diễn vǎn của nguyên lão nghị viện Sécman, ở Ôhaiô, đọc trước Thượng nghị viện hồi tháng 3-1871. Sécman hỏi: “Liệu có một nghị viên nào có thể nêu ra cho tôi biết- sau khi lục lại những tội ác trong tất cả các thời đại – một hội nào hoặc một bè đảng nào mà lại có những hành động và những ý định tàn khốc hơn, hung ác hơn đảng Ku Klux Klan không ? Đảng Ku Klux Klan là một hội kín: thành lập bằng cách tuyên thệ, đảng viên của nó đi ám sát, trộm cắp, cướp phá, hành hung, chửi bới, doạ nạt. Bọn chúng phạm những tội ác đó không phải là đối với những kẻ mạnh và kẻ giàu, mà là đối với những người nghèo, những người yếu đuối, những người hiền lành, những người không có khả nǎng tự vệ!”.

Tuy nhiên, đảng Klan cũng đã sống và “hoạt động” trong bốn chục nǎm trời một cách không vẻ vang gì cho lắm.

ĐẢNG KLAN MỚI

Tháng 10 nǎm 1915, trong tình hình mới của nước Mỹ, Uyliam Giôdép Ximmôn, “Hoàng đế” mới của đảng Klan, đã cùng với 34 người bạn phục hồi lại đảng K.K.K. Cương lĩnh của đảng đó là: theo lối Mỹ 100%, tức là chống Kitô giáo, chống người da vàng, chống công nhân, chống người da đen.

Cần chú ý là sau cuộc chiến tranh Nam – Bắc và việc giải phóng người da đen, đảng Ku Klux Klan cũ đã ra đời với mục đích cản bước đường hoạt động xã hội của những người được giải phóng. Trong cuộc chiến tranh thế giới, Mỹ tuyển mộ vào lục quân và thuỷ quân của mình hàng trǎm nghìn người da đen; người ta hứa với họ là sẽ thực hiện những cải cách về mặt xã hội và chính trị; sau khi đã cùng hy sinh như người da trắng, họ đã rụt rè yêu cầu được hưởng những quyền lợi như người da trắng. Tình hình đó cũng ngang như một phong trào “giải phóng lần thứ hai”. Thế là đảng Klan mới xuất hiện.

“Hoàng đế” Ximmôn cũng lại thành lập cái “vương quốc vô hình” ở miền Nam nước Mỹ – xứ sở của những tên chủ đồn điền lớn và những tên phản đối việc giải phóng nô lệ, quê hương của chế độ nô dịch và việc hành hình theo kiểu Linsơ, tổ quốc của đảng Klan cũ. Trả lời một người đến phỏng vấn, Uyliam Giôdép Ximmôn đã nói về những mục đích của mình như sau: “Chúng tôi thấy rõ rằng phải bảo đảm quyền tối cao của giống người da trắng, phải tước những quyền tự trị đã ban bố cho bọn da đen. ý trời muốn rằng giống người da trắng phải cao hơn; và lệnh trời đã định rằng người da đen sinh ra là để làm nô lệ”.

Ngay sau khi đảng Klan xuất hiện lại, thì chỉ riêng ở xứ Tếcdát, người ta đã đếm được hơn 80 vụ đánh đập, trong một nǎm, và 96 vụ hành hình theo kiểu Linsơ.

Đảng Klan đặc biệt thịnh hành ở Gioócgia, Mítxixipi, Tếcdát, Alabama và áccǎngdaxơ. Trong các xứ đó có nhiều nạn nhân bị hành hình theo kiểu Linsơ nhất.

Nǎm 1919, đảng Ku Klux Klan đã thiêu sống: 4 người da đen ở Gioócgia, 2 ở Mítxixipi, 1 ở Tếcdát.

Chúng đã hành hình: 22 người da đen ở Gioócgia, 12 ở Mítxixipi, 10 ở áccǎngdaxơ, 8 ở Alabama, 3 ở Tếcdát.

Chúng đã xông vào và phá huỷ các nhà tù để hành hình những người da đen bị giam ở đấy: 5 lần ở Gioócgia, 3 lần ở Alabama, 3 lần ở Mítxixipi, 3 lần ở Tếcdát, 2 lần ở áccǎngdaxơ.

Chúng đã hành hình: 12 phụ nữ ở Mítxixipi, 7 ở Alabama, 6 ở Tếcdát, 5 ở áccǎngdaxơ, 5 ở Gioócgia.

Chúng đã thiêu, treo cổ, dìm xuống nước cho chết hoặc bắn 9 cựu binh sĩ da đen.

Đảng Klan còn can phạm nhiều vụ hành hình theo kiểu Linsơ ở các xứ khác nữa, nhưng ở đây chúng tôi chỉ nêu những con số đã chắc chắn mà thôi.

SỰ SUY TÀN CỦA ĐẢNG KU KLUX KLAN

Đảng Klan nhất định phải bị tiêu diệt vì nhiều lẽ.

1. Trong chiến tranh, người da đen đã hiểu rằng họ là một lực lượng nếu họ đoàn kết lại; cho nên họ không để cho người khác tự do đánh đập, hoặc giết hại đồng bào của họ nữa. Họ chống lại mọi mưu toan hành hung của đảng Klan. Tháng 7-1919, ở Oasinhtơn, họ đã đương đầu với đảngKlan và đám đông cuồng loạn. Trong 4 ngày, cuộc chiến đấu sôi sục ở thủ đô. Tháng 8, họ đã đánh nhau trong 5 ngày với đảng Klan và đám đông ở Sicagô, 7 trung đoàn đã được huy động để lập lại trật tự. Tháng 9, chính phủ đã buộc phải gửi quân đội liên bang đến Omaha để chấm dứt một trận đánh nhau tương tự như thế. Tại các xứ khác, người da đen cũng đã tự vệ không kém phần cương quyết.

2. Cũng như đảng Klan trước kia, vì những hành động thái quá, nên đảng Klan mới đã vấp phải dư luận của công chúng đến nỗi những người ban đầu tán thành nó hoặc đi theo nó, nay cũng bắt đầu bỏ rơi nó. Những chuyện xô xát trong nội bộ, những việc quá xấu xa đồi tệ và những vụ gian lận về tài chính cuối cùng đã làm cho những người bàng quan nhất và dễ dãi nhất cũng phải đau lòng. Thượng nghị viện đã buộc phải truy tố đảng Klan.Ngay cả báo chí tư sản như tờ New York World, tờ Chicago Defender,v.v. cũng công kích chúng.

3. “Lối Mỹ 100 phần trǎm” và thái độ chống đối công nhân của chúng đã làm cho 20.000.000 giáo dân Mỹ, 3.000.000 người Do Thái, 20.000.000 ngoại kiều, 12.000.000 người da đen, tất cả những người Mỹ biết điều và toàn bộ giai cấp công nhân Mỹ, tập hợp lại phản đối chúng.

Tại Đại hội Liên hiệp người da đen vừa qua, người ta đã thông qua bản kiến nghị sau đây:

“Chúng tôi tuyên bố rằng đảng Ku Klux Klan là kẻ thù của loài người; chúng tôi tuyên bố quyết định đấu tranh với đảng đó đến cùng và kề vai sát cánh với tất cả những người lao động nước ngoài ở Mỹ cũng như với cả những người bị đảng đó hành hạ”.

Mặt khác, việc di cư của người da đen miền Nam nông nghiệp lên miền Bắc công nghiệp đã buộc những tên chủ đồn điền – bị nguy cơ phá sản vì thiếu nhân công – phải nới tay trong quan hệ đối xử với người lao động da đen, và do đó, ngày càng phải luôn luôn lên án những phương pháp và những sự bạo ngược của tay sai của chúng là đảng Klan.

4. Sau hết đảng Ku Klux Klan mang tất cả những cái xấu của các tổ chức bảo thủ, phản động, bí mật mà lại không có được những cái hay của các tổ chức đó. Đảng đó có tính chất thần bí của hội Phrǎng Maxonnơri, có những nghi thức kỳ dị của công giáo, có cái tàn bạo của chủ nghĩa phát xít, có tính chất bất hợp pháp của 568 hiệp hội khác nhau; nhưng nó chẳng có học thuyết, chẳng có cương lĩnh, sức sống và kỷ luật gì.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, Số 74, nǎm 1924
cpv.org.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh

QĐND – 37 năm trước, trong đội hình Sư đoàn 7 tiến về giải phóng Sài Gòn, dẫu cuộc chiến đấu vẫn đang diễn ra hết sức ác liệt, nhưng trong lòng tôi vẫn ngân nga câu thơ chúc Tết của Bác Hồ mùa Xuân Kỷ Dậu 1969: Vì Độc lập, vì Tự do / Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào / Tiến lên, chiến sĩ, đồng bào!/ Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn…

Sau này suy ngẫm kỹ, mới thấy đại thắng mùa Xuân năm 1975 bắt nguồn từ tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dưới sự lãnh đạo của Người, chúng ta đã xác định từ rất sớm đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là: Đánh lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Tư tưởng đó đã được Bác Hồ thể hiện rất cụ thể trong bài thơ chúc Tết trên đây. Đó là tầm nhìn minh triết của Bác Hồ khi đánh giá kẻ thù, so sánh lực lượng để vạch ra các mục tiêu chiến lược và từng bước sách lược trong chiến tranh cách mạng.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trước đây, Bác Hồ luôn khẳng định phải “đánh quỵ bọn thực dân”, hoặc “Khối liên hiệp Pháp sẽ tan tành”. Báo cáo trước Quốc hội khóa I, ngày 1-12-1953, Bác Hồ kêu gọi đồng bào cả nước “hăng hái vươn mình dậy đánh tan ách nô lệ của phong kiến và thực dân”. Trong Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm 7 năm toàn quốc kháng chiến, Bác viết: “Bởi vì thực dân Pháp cứ tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược, cho nên quân dân Việt Nam quyết đánh mạnh hơn nữa, quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng”.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã có hậu phương lớn miền Bắc, có phe XHCN và nhân dân thế giới ủng hộ. Nhưng đế quốc Mỹ là một cường quốc quân sự và kinh tế hàng đầu thế giới, nên chúng ta phải dùng “ba mũi giáp công”, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và ngoại giao để “đánh lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận” quân địch. Và chúng ta đã lần lượt đánh thắng “kế hoạch bình định”, “chiến tranh cục bộ” và chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc. Khi Hiệp định Paris được ký kết là chúng ta đã cơ bản “đánh cho Mỹ cút”, nhưng vẫn phải tiếp tục “đánh cho ngụy nhào”!

Lịch sử còn ghi đậm những ngày hào hùng đại thắng mùa Xuân 1975 với cảnh tháo chạy hỗn loạn, hoảng hốt của Ngụy quân. Trên các ngả đường tháo chạy, ngổn ngang bừa bộn các loại vũ khí, quân trang, quân dụng của đủ các sắc lính vứt bỏ lại. Hình ảnh “ngụy nhào” đó đã được Bác Hồ tiên tri trong từ 6 năm trước. Tìm hiểu tầm nhìn sáng suốt của Bác Hồ trong chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc, ta càng thấy sự minh triết vĩ đại của Người. Đó chính là tầm cao của tư tưởng Hồ Chí Minh!

Nhà thơ Ngô Minh
qdnd.vn

Chủ nghĩa thực dân bị lên án (28-10-1924)

KINH NGHIỆM Ở CHÂU PHI XÍCH ĐẠO THUỘC PHÁP

Chế độ thực dân Pháp đã “thu được”… nhiều thất bại. Không phải chỉ có chúng tôi mới nhận thấy như thế. Nhân một cuộc thất bại đặc biệt thảm hại, tờ Le Temps, ngày 24 tháng 9 đã viết:

“Thật vậy, ai cũng biết rằng tình hình châu Phi xích đạo của chúng ta không phải là đúng như chúng ta đã hy vọng chút nào cả, khi mà… lá cờ của nước Pháp phấp phới trên những vùng rộng bao la mà chúng ta đã chiếm đoạt được chứ không phải là thu phục được cho nước Cộng hoà. Không phóng đại và cũng không cường điệu gì cả, ta có thể nói rằng… châu Phi xích đạo hiện nay đang ở vào tình trạng thật sự là tụt lùi. Việc khai thác miền đó thật là thô sơ, công cụ ở đó hình như không có gì cả. Hiện nay ngân sách thiếu hụt của miền đó chỉ thǎng bằng được là nhờ chính phủ trợ cấp. Cuối cùng – điều nghiêm trọng hơn – là dân cư miền đó mòn mỏi đi và chết dần, yếu tố dân số mà sự duy trì, sự cải thiện và tǎng lên là cơ sở cho mọi sự nghiệp, đang đi đến chỗ tiêu diệt”. (Do chúng tôi gạch dưới).

Và sau đó, tờ báo còn viết:

“Hơn nữa, chúng ta còn phạm nhiều sai lầm; nói dài dòng về những sai lầm này cũng vô ích, bây giờ không phải lúc ngồi hối tiếc một cách vô bổ về quá khứ, phải chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp hơn. Hành động của chúng ta ở châu Phi xích đạo đã bị tê liệt hay chệch hướng ngay từ đầu, vì những sai lầm về nguyên tắc… đến nay cũng vẫn còn tác hại một cách ghê gớm; ngoài ra, hoạt động của chúng ta còn mang hậu quả tai hại của những sai lầm về phương pháp cần phải gấp rút sửa chữa”.

Những sai lầm và khuyết điểm mà tờ Le Tempsthan phiền về những hậu quả tai hại mà không nêu ra những sự việc, là những sai lầm và những khuyết điểm nào? Đó là việc tước đoạt những người bản xứ, đó là việc bắt phu khuân vác, là chế độ lao dịch, đó là thuế khoá nặng nề, là việc tuyển mộ công chức và binh lính, là việc bắt con tin, là những sự tàn ác đối với nhân dân, đó là tất cả cái chế độ cướp bóc, giết chóc đáng ghê tởm đã làm cho thuộc địa này đi đến tình trạng thê thảm hiện nay.

Cách đây hơn 20 nǎm, ông Ôguyxtơ Sơvaliê, sau khi mô tả sự dã man của chế độ thực dân, tiên đoán như sau:

“Nếu người ta cứ tiếp tục làm như thế mãi, nếu người ta không ngừng việc đốt phá các làng mạc thì chẳng bao lâu… hai bờ sông Cônggô cũng như những vùng Ubanghi và Xanga sẽ hoàn toàn không cònmột bóng người… Nếu chính sách ấy cứ tiếp tục như thế mãi thì sau đây nửa thế kỷ, tất những giống người cần cù đó sẽ tiêu diệt hết (Morel)”.

Những cuộc tranh cãi trong nghị viện nǎm 1906 đã để lộ ra rằng một tờ thông tri của một công ty khai khẩn đồn điền đã viết: “Không được quên rằng các nhân viên của chúng ta phải đóng vai trò như là những tên kẻ cướp”. Và một viên toàn quyền đã viết cho các công chức dưới quyền y như sau: “Tôi không giấu các ông rằng, khi đề nghị thǎng thưởng, tôi đặc biệt cǎn cứ vào số thuế thu được của người bản xứ, điều mà các ông phải luôn luôn chú ý”.

Những dòng sau đây trích trong một quyển sổ chứng tỏ rằng những lệnh đó đã được chấp hành từng ly từng tý:

“Hành quân cànquét làng Côlôvô.

Càn quét dân Phǎng vùng thượng Cunô: đốt làng, phá vườn trại.

Càn qnét dân Bêcami: lại đốt làng, phá huỷ 3.000cây chuối (thức ǎn dự trữ duy nhất).

Càn quét làng Cuya: đốt làng, phá trụivườn trại.

Càn quét Ancoong: ném bom xuống làng, rồi phá trụi vườn trại.

Càn quét dân Examphami: phá sạch làng mạc.

Vùng Bôma đốt phá và giết người.

Hợp pháp hoá việc cướp bóc, tiêu diệt có hệ thống dân cư, phá trụi một cách có tổ chức những làng mạc, phương pháp là như thế đó.

Mười sáu nǎm sau, những hành động bỉ ổi như thế lại được người ta nêu ra trước nghị viện Pháp.

Tháng 12 nǎm 1921, nghị sĩ da đen Boanớp đã nói trong một bài diễn vǎn cảm động như sau:

“Dân số bị lụi đi vì bệnh tật, và nhất là vì chế độ mà họ phải chịu đựng từ khi bị chiếm đóng… Chế độ bắt phu khuân vác, sự bóc lột nặng nề của các công ty khai khẩn đồn điền đã giết những người bản xứ…”.

Ngày 22 tháng 10 nǎm 1921, quyền Bộ trưởng thuộc địa đã ra một sắc lệnh quy định rằng một công nhân bản xứ đã được trả công để làm một công việc nào đó mà không làm tròn thì có thể bị bắt giam và truy tố về tội lừa đảo.

Ông Anbe Xarô – Bộ trưởng Bộ thuộc địa – đã phải thú nhận rằng dân cư khốn khổ của thuộc địa đã sắp diệt vong. Ông đã ra sức gán cho tình trạng dân cư bị diệt vong dần đi đó, là do thiếu vệ sinh, và ông viết:

“Việc sǎn sóc vụng vềvà bẩn thỉu đối với phụ nữ khi sinh nở… làm cho họ không sinh đẻ nữa; còntrẻ con lúc sơ sinh không được chǎm nom chu đáo nên đã chết nhiều… Trong số dân cư bản xứ đã bị bệnh ngủ làm cho chết mòn dần đi, thì bệnh cúm lại còn sát hại thêm hàng vạn người nữa”.

Để sửa chữa tình trạng đó, người ta đã làm được những gì? Người ta đã xây dựng được một nhà thương độc nhất, với 79 giường ở Bradavin, thủ đô của thuộc địa! Thế mà với các dân cư đang đi đến chỗ diệt vong đó, trong chiến tranh, người ta lại còn tìm được cách lấy đi 18.000 người – tất nhiên là những người lành mạnh nhất và vạm vỡ nhất – để làm mồi cho đại bác, 313.000 phrǎng tiền cưỡng bức lạc quyên để cứu giúp các miền bị tàn phá ở Pháp, 7.323.000 phrǎng tiền công trái cưỡng bức, 53.000 tấn hàng hoá, đấy là chưa kể không biết bao nhiêu là ngày đi phu để chuyên chở những đồ đã trưng thu.

Đó là những “sai lầm về nguyên tắc” đã biến thuộc địa trước kia thịnh vượng và dân cư đông đúc thành bãi sa mạc. Tuy những tài liệu này là những tài liệu chính thức, nhưng chúng tôi không tin rằng nó đã làm cho những bạn đọc dễ tính của Le Temps thấy rõ được sự thật.

Chú thích

Châu Phi xích đạo thuộc Pháp (Bradavin, Librơvin, Bǎngghi, Pho Lǎngnuy) rộng bằng bốn lần nước Phápvà chạy dài từ cửa sông Cônggô đến xứ Tơripôli. Dân số (theo điều tra nǎm 1921) là 2.850.868 người, trong số đó có 1.932 người Âu. Ngót hai nghìn kẻ bóc lột để bòn rút một nước gần 3 triệu người da đen và có nhiều của cải thiên nhiên. Sản xuất chủ yếu: cao su, gỗ, ngà voi, dầu thốt nốt, nhân thốt nốt, dừa, cà phê. Nǎm 1921, chỉ riêng xuất khẩu cao su không thôi cũng được gần 14 triệu phrǎng. Để trao đổi lại số của cải ấy, cũng nǎm đó, nước Pháp đã nhập khẩu sang thuộc địa đó 1.698.787 phrǎng lương thực, 1.732.336 phrǎng rượu vang và rượu mạnh, 1.394.500 phrǎng vải vóc, 826.000 phrǎng vật liệu và thiết bị. Độc giả hãy thử so sánh những của cải mà nước người da đen dân số đang thưa dần đi đó đã xuất khẩu, với nhữmg cái mà nước đó ngược lạiđã nhận được: rượu thì hai lần nhiều hơn thiết bị, còn kể về số lượng buôn bán thì rượu vang và rượu mạnh chiếm hàng đầu! Dân số bị làm mồi cho công cuộc khai hoá nhất là bằng rượu mạnhđang bị diệt vong. Ngược lại cao su và gỗ xuất khẩu thì cứ làm giàu cho một vài người kinh doanh ở chính quốc; nhưng để bù vào chỗ hụt trong ngân sách của cái chính phủ thuộc địa vừa siêng nǎng vừa tội lỗi ấy, nhân dân Pháp hằng nǎm đã phải nai lưng ra đóng thuế. Nǎm 1923, Chính phủ Pháp phải phụ cấp 8 triệu phrǎng cho châu Phi xích đạo thuộc Pháp, ngoài ra lại còn phải lấy ở quỹ dự trữ ra 2.905.866 phrǎng để phụ cấp thêm.

Trong cái thuộc địa rộng bao la gần 3 triệu dân đó, chỉ có ngót 8.000 trẻ em được học ở trường thế tục hay trường của Nhà chung.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 73, ngày 28-l0-1924.
cpv.org.vn

Cuộc họp lúc nửa đêm

QĐND – Phiên họp ấy diễn ra lúc tám giờ sáng và kết thúc lúc một giờ đêm.

Chuyện xảy ra năm 1946, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I. Trong bối cảnh vận mệnh nước nhà như ngàn cân treo sợi tóc, thù trong giặc ngoài tìm mọi cách phá hoại chính quyền non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời đã trực tiếp trả lời chất vấn của Quốc hội. Với 88 câu hỏi nhận được chỉ trong một ngày, ngoài nhiều câu được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp trả lời, các bộ trưởng khác cũng đã thẳng thắn đối thoại, trả lời chất vấn. ông Trương Đình Tri (Bộ trưởng Bộ Y tế và Xã hội) trả lời về việc vì sao không kiểm soát được giá và chất lượng thuốc? Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Ca Văn Thỉnh trả lời về chính sách văn hóa và vấn đề thiếu sách giáo khoa. Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến trả lời về ngân sách, thuế khóa, lương công chức… Chính phủ đã không né tránh bất kỳ vấn đề nào dù cuộc họp rất muộn.

Ảnh minh họa/ Internet

Chuyện về cuộc họp lúc nửa đêm cho thấy chính quyền của dân, do dân, vì dân do Bác Hồ sáng lập và rèn luyện ngay từ ngày đầu rất coi trọng đối thoại với nhân dân, tháo gỡ các vướng mắc. Dân chủ, theo Hồ Chí Minh không chỉ là giúp người dân được quyền nói mà quan trọng hơn là chính quyền phải biết nghe, biết làm một cách hiệu quả để giúp dân. Truyền thống ấy đã được phát huy và dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện hơn cùng với sự nghiệp đổi mới. Gần đây, việc Thủ tướng Chính phủ vừa chính thức giao cho Đài Truyền hình Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và một số đài truyền hình thực hiện chương trình “Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời” thường kỳ hằng tuần đã được dư luận xã hội rất đồng tình. Đó cũng là một cách làm thiết thực để phát huy truyền thống dân chủ với những cách làm rất “sắc nét” đã được thực hiện từ năm 1946.

Ngày nay, đất nước đã hòa bình, độc lập thực sự, không còn rơi vào cảnh nguy nan phải có những cuộc họp Quốc hội lúc nửa đêm nhưng thực tiễn vẫn còn rất nhiều câu hỏi “nóng” mà người dân mong muốn gửi đến Đảng, Quốc hội, Chính phủ, vẫn còn rất nhiều “những việc cần làm ngay”. Gần đây, một số địa phương trong cả nước, nổi bật là TP Hồ Chí Minh cũng đã triển khai các chương trình “Nói và làm” trên sóng phát thanh và truyền hình thành phố để lãnh đạo thành phố và các sở, ngành đối thoại với dân, mang lại nhiều tác dụng thiết thực. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng từng là người đứng đầu Chính phủ đầu tiên tham gia giao lưu trực tuyến qua internet với nhân dân năm 2007, góp phần giúp giao lưu trực tuyến trở nên không còn xa lạ với lãnh đạo nhiều bộ, ngành mấy năm qua. Hy vọng rằng, với việc mỗi tối chủ nhật hằng tuần có một bộ trưởng lên truyền hình trả lời câu hỏi của người dân, bộ máy Chính phủ sẽ tiếp tục có những chuyển động mới, góp phần xây dựng Chính phủ thật sự là một Chính phủ “biết làm việc”, biết dựa vào dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tuyên thệ trước quốc dân, đồng bào.

Nguyễn Văn Minh
qdnd.vn

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

(ĐCSVN) – Ngày 13/9/2012, trả lời câu hỏi của phóng viên trước việc ngày 11/9/2012, Hạ viện Mỹ đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2012 H.R.1410 và Nghị quyết H.Res.484 “kêu gọi Chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền”, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nói:

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.Quyền con người được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã có những tiến triển tích cực trong thời gian qua. Hai nước thường xuyên trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có vấn đề quyền con người, trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng và tôn trọng lẫn nhau. Đây là cách tốt nhất để tăng hiểu biết lẫn nhau, thu hẹp khác biệt, góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển vì lợi ích của cả hai nước.

Dự luật H.R.1410 và Nghị quyết H.Res.484 đã dựa trên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người tại Việt Nam. Việc thông qua dự luật và nghị quyết nói trên là sai trái, không phù hợp với xu hướng phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ”.

Các từ khóa theo tin: Mạnh Hùng
cpv.org.vn

Bản anh hùng ca ở thế kỷ thứ nhất – Kỳ 2

Mấy vấn đề về cuộc kháng chiến năm 43 do Hai Bà Trưng lãnh đạo

QĐND – Hai Bà Trưng chỉ có một thời gian ngắn để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến này. Sách “Đại Nam quốc sử diễn ca”, qua và bằng ngôn ngữ thi ca, nói gọn một câu “Ba năm gánh vác sơn hà”, để chỉ thời gian làm chủ và lo toan việc nước của Hai Bà, trước khi tiến hành cuộc kháng chiến năm 43. Nhưng trên thực tế, trong ba năm ấy, năm 40 đã là thời gian khởi nghĩa; năm 41 và 42 là thời gian xây dựng đời sống tự chủ tự do, bằng biện pháp duy nhất được sử cũ ghi chép là: Xá thuế 2 năm cho dân. Cũng trên thực tế thì, theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”: Ngay từ năm 41, vua Hán Kiến Vũ đã “hạ lệnh sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương, cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó, sang xâm lược rồi”.

Tái hiện hình ảnh Hai Bà Trưng tại Lễ hội làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội. Ảnh: Tuấn Tú

Lực lượng tái xâm lược của Nhà Hán này – khoảng 2 vạn quân, (để đánh vào một đất nước chưa đầy 1 triệu tổng dân số – là nước ta, lúc bấy giờ), huy động từ các quận thuộc miền Hoa Nam: Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô, cùng với khoảng 2 nghìn thuyền lớn nhỏ – sang đến năm 42, sau khi tập kết ở Hợp Phố (nam Quảng Đông) đã chia hai đường thủy bộ song song ven biển Bái Tử Long – Hạ Long mà vào cõi, theo lối cửa sông Bạch Đằng, đến Lục Đầu Giang, tiến đánh phong trào Hai Bà Trưng.

Cuộc kháng chiến do Hai Bà lãnh đạo, bùng nổ vào năm 43, với ba loạt trận đánh lớn, do hai nữ vương trực tiếp chỉ huy ở: Tây Vu, Lãng Bạc, Kim Khê; và loạt trận cuối cùng do các thủ lĩnh địa phương của phong trào điều hành ở: Cửu Chân.

+ Tây Vu: Đây là tên một miền đất và bộ lạc lớn, từ thời Hùng Vương – An Dương Vương mà trung tâm, chính là Cổ Loa. (Vào năm 1982, đã đào tìm được ở dưới lòng đất, giữa thành Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội), một chiếc trống đồng thuộc nhóm cổ và đẹp nhất, có khắc chữ, trong đó, đọc được 2 chữ “Tây Vu”. Tòa thành Cổ Loa kỳ vĩ này, vào năm 179 trước Công nguyên – cùng với vũ khí “nỏ thần” – đã giúp An Dương Vương đánh bại (những trận đầu) cuộc xâm lược của Triệu Đà từ Phiên Ngung (Quảng Châu) tới, thì nay – đầu năm 43 – chính là cái đích đầu tiên tiến đánh của quân Hán Mã Viện, trên đường chúng từ Lục Đầu Giang nhằm vào, hướng tới “kinh đô” Mê Linh của Hai Bà. Và, một lần nữa – vào đầu năm 43 – thành Cổ Loa lại giúp Hai Bà Trưng làm nên loạt trận đánh phòng ngự ở Tây Vu thành công thắng giặc, mở màn cuộc kháng chiến oanh liệt.

Không đánh hạ được Cổ Loa, Mã Viện phải cho quân lui về Lãng Bạc.

+ Lãng Bạc: Đây là địa danh Hán ngữ, diễn Nôm văn vẻ một chút, thì thành “Bến Sóng”. Vùng đất và nước này, ở về phía đông Tây Vu. Vì thế, không thể coi Lãng Bạc là Hồ Tây (thuộc quận Tây Hồ – Hà Nội ngày nay) – vốn ở mạn tây của Tây Vu – như một số thuyết xưa đã nói. (Vả chăng, về thời gian đầu Công nguyên, chưa có Hồ Tây. Vốn chính là một khúc uốn của sông Cái (sông Hồng), vùng hồ này chỉ được thành lập, khi bị dòng sông Mẹ “bỏ quên” (ở lại tại chỗ) lúc đổi dòng, vào khoảng các thế kỷ 9-10). Do đó, vùng đất và nước trũng ở giữa huyện Tiên Du (Bắc Ninh) bây giờ, mới đúng là Lãng Bạc thời Hai Bà Trưng.

Mã Viện đã từ Tây Vu (Cổ Loa) lui quân về, đóng ở đây. Bấy giờ là mùa hè năm 43. Khổ vì tiến thoái lưỡng nan và vì thời tiết nóng nực, Mã Viện đã phải thốt lên lời than thở được sách “Hậu Hán thư” ghi lại rằng cũng giống như chính con diều hâu lúc ấy đang bay trên đầu, gặp khí nóng bốc lên ngùn ngụt từ vùng đất lầy lội, đã phải sã cánh mà rơi xuống!

Nhưng chính Hai Bà lại đem lực lượng dân binh mới được tập hợp, đến đánh công kiên cấp tập vào đạo quân viễn chinh nhà nghề của Mã Viện, ở đấy, và vào lúc ấy.

Không mong đợi gì hơn, viên tướng lão luyện của nhà Hán – được tháo cởi bế tắc, phát huy hết sở trường – đã đánh một trận kinh hoàng ở Lãng Bạc, tiêu diệt phần lớn lực lượng của Hai Bà.

Tổn thất nặng nề sau trận Lãng Bạc, Hai Bà Trưng phải rút về cố thủ ở Kim Khê.

+ Kim Khê: Đây là địa danh dịch từ tên Nôm sang Hán ngữ của vùng “Suối Vàng”. Dòng suối này, chảy ra từ ngọn Viên Nam – bộ phận phía Nam của núi Tản Viên (Ba Vì), nay ở giữa các huyện Lương Sơn (Hòa Bình) và Thạch Thất – Quốc Oai (Hà Nội). Cho đến gần đây, nhiều người vẫn tìm đến nơi này, đãi vàng sa khoáng.

Đọc (phát âm) theo tiếng Bắc Kinh, “Kim Khê” trở thành “Chin Xi”. Cũng thành “Chim Xi”, là những từ “Cấm Khê”, “Cẩm Khê”. Vì thế, trong nhiều sách vở, thay vì “Kim Khê”, nhiều tác giả đã viết: “Cấm Khê”, “Cẩm Khê”. Chẳng hạn: “Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo/ Chị em thất thế phải liều với sông”. Đó là cách nói về chung cuộc của Hai Bà Trưng, ở sách “Đại Nam quốc sử diễn ca”.

Nhưng trên thực địa, không có thực thể nào, mang tên “Cấm Khê” hoặc “Cẩm Khê” mà lại phù hợp với sự “thất thế” của Hai Bà Trưng vào mùa hè năm 43 cả. Chỉ có “Suối Vàng” – Kim Khê. Và, ở đây, cũng không hề có việc “phải liều với sông” (tự trầm) nào của Hai Bà. Thực tế lịch sử không theo tâm thức (tâm lý) cổ truyền của nhân dân, dân tộc: Muốn Hai Bà phải được chết một cách mát mẻ trong dòng sông quê hương – đã diễn ra thật ác nghiệt: Hung tướng Mã Viện đã dẫn đại binh đuổi theo Hai Bà đến tận nơi cố thủ Kim Khê (Suối Vàng). Và đã giết các nữ vương nước Việt ở đấy. Thậm chí theo sách “Hậu Hán thư” – còn chặt đầu những nữ anh hùng lãnh đạo cuộc kháng chiến năm 43, mang về bêu ở kinh đô Lạc Dương của triều Hán.

Cuộc kháng chiến năm 43 của Hai Bà Trưng – bộ phận tổ thành, và ở giai đoạn cuối của cả phong trào đấu tranh dân tộc vô cùng oanh liệt ở thời gian đầu Công nguyên – đến đây đã bị dìm gần hết vào biển máu. Thủ lĩnh Đô Dương ở địa phương Cửu Chân (Thanh Hóa) – với vị thế tàn dư của phong trào – còn đánh những trận cuối cùng vào mùa đông năm 43 nữa. Và Mã Viện cũng còn ở lại đất Việt một năm nữa – sau mùa đông kéo quân vào Cửu Chân tận diệt cuộc kháng chiến của thủ lĩnh Đô Dương để tiếp tục thi thố những thủ đoạn chiến tranh, đô hộ và đồng hóa – cực kỳ thâm độc và bạo tàn nữa.

Nhưng, dù thế nào thì bản anh hùng ca của những năm đầu Công nguyên đấu tranh anh hùng do Hai Bà Trưng lãnh đạo vẫn bất tuyệt mà vang vọng đất trời. Đây là biểu hiện đầu tiên và là minh chứng đặc biệt của tinh thần và truyền thống dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người phát biểu đích xác nhất: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Và, còn nguyên vẹn cả những bài học và kinh nghiệm lịch sử – đắt giá, quý giá – để lại mãi mãi cho đời sau. Nói về thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đây là ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (trả lời phỏng vấn của nhà sử học, nhà báo Alan Ruscio): “Cái đó, ở chúng tôi, có gốc rễ từ những sự kiện xưa, vào đầu Công nguyên”.

GS Lê Văn Lan
qdnd.vn