Chân tướng đối phương trên chiến trường Khu 5

QĐND – Với phương châm “biết địch biết ta”, đội ngũ cán bộ địch vận các đơn vị thuộc chiến trường Liên khu 5 đã phác họa những nét chân dung cơ bản về đối tượng sĩ quan Quân đội Sài Gòn nhằm phục vụ cho cuộc chiến “tâm công” vào hàng ngũ đối phương. Tư liệu dưới đây đề cập tới các viên tướng thuộc Bộ tư lệnh Quân đoàn 1, việc khai thác được tiến hành vào thời điểm tháng 12-1973.

Ngô Quang Trưởng khi đang là Trung tướng, Tư lệnh Quân đoàn 1 của Quân đội Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Viên Tư lệnh Quân đoàn 1 Ngô Quang Trưởng xuất thân trong một gia đình điền chủ giàu có ở tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), tháng 11-1953 Trưởng tình nguyện đi lính cho Pháp, sau đó được cho đi học sĩ quan. Là sĩ quan gốc lính dù do Pháp đào tạo, năm 1954 Trưởng đã được chuyển ra Bắc bổ sung cho Tiểu đoàn 5 nhảy dù – một đơn vị lính ngụy sừng sỏ thời đó. Thật không may, lúc đó quân Pháp ở Điện Biên Phủ đang có nguy cơ bị tiêu diệt và khi Trưởng ra tới ngoài Bắc thì hai phần ba Tiểu đoàn dù 5 đã được ném xuống lòng chảo Điện Biên. Khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, người Pháp thua trận, Trưởng may mắn sống sót và được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 của Tiểu đoàn dù còn sót lại. Khi Tiểu đoàn dù 5 được lệnh chuyển vào Nam, Ngô Quang Trưởng lại được coi như một viên sĩ quan trẻ “dày dạn trận mạc”, từng “chết hụt” ở lòng chảo Điện Biên… Cứ thế, đường binh nghiệp của viên sĩ quan dù này tiếp tục trở nên hanh thông. Năm 1964, Trưởng là Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù 5, đầu năm 1966 được thăng cấp Đại tá và làm Lữ trưởng Lữ dù.

Sau khi tham gia vụ đàn áp Phật giáo, tháng 6-1966, Trưởng được điều sang làm Tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh. Tháng 2-1967, Trưởng được thăng cấp Chuẩn tướng. Sau sự kiện Mậu Thân 1968, Sư đoàn 1 do Trưởng làm Tư lệnh được Mỹ trang bị vũ khí tối tân, được huấn luyện chiến thuật mới nhằm phô trương thanh thế. Nhờ vậy, hình ảnh “cần mẫn” của Trưởng luôn cặp kè cùng các chuyên viên huấn luyện Mỹ và gây tiếng vang lớn trên báo chí cũng như dư luận Sài Gòn. Viên Tư lệnh sư đoàn đã được đặc cách thăng cấp Thiếu tướng, trở thành một viên Tư lệnh “tài ba” nắm giữ Sư đoàn “Anh cả đỏ” của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Năm 1971, Trưởng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 4 thuộc Vùng 4 Chiến thuật. Tháng 4 năm sau, Trưởng được điều ra làm Tư lệnh Quân đoàn 1 và sau đó được thăng cấp Trung tướng.

Theo tù hàng binh cung cấp và qua dư luận báo chí Sài Gòn, ở thời điểm cuối năm 1973, Ngô Quang Trưởng được coi là một viên tướng “xông xáo”, hăng tác chiến, được sĩ quan dưới quyền và binh sĩ kính nể, được Tổng thống Thiệu tin dùng. Cũng có thông tin sở dĩ viên tướng 3 sao này được nhanh cất nhắc và thường được giao những nhiệm vụ quan trọng còn do Trưởng luôn coi phu nhân Tổng thống là “người nhà”.

“Thành đạt” hơn anh trai

Tư lệnh phó Quân đoàn 1 Lâm Quang Thi sinh năm 1932, quê ở Bạc Liêu, đi lính tháng 10-1950 và tốt nghiệp Khóa 3 Trường Võ bị Đà Lạt. Là lính gốc binh chủng pháo binh.

Sau khi tốt nghiệp, Thi được cho đi học pháo binh ở Pháp, sau đó về chỉ huy pháo binh cho quan thầy trong các năm từ 1946-1954. Năm 1963, với quân hàm Trung tá, Thi được điều về Bộ tư lệnh Pháo binh, sau đó làm Phụ tá hành quân ở Tiền Giang. Hai năm sau, khi ở tuổi 33, Thi được phong Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 9 bộ binh; năm 1967 được phong Chuẩn tướng.

Cũng thuộc phe cánh, “người nhà” của Nguyễn Văn Thiệu nên trong năm 1969 Thi được phong Thiếu tướng và về làm Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt từ 1969-1972. Sau đó, người về thay Lâm Quang Thi ở vị trí Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt (từ tháng 3-1972 cho tới ngày thất thủ Sài Gòn) lại chính là anh trai Thi – Thiếu tướng Lâm Quang Thơ – trước đó Thơ đang là Tư lệnh Sư đoàn 18 bộ binh.

Thi được thăng cấp Trung tướng năm 1972 và được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó Quân đoàn 1 kiêm Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 1. Theo khai báo của tù binh, Thi là người tính tình nóng nảy, mặc dù là lính gốc binh chủng pháo binh nhưng lại khá dày dạn, có nhiều kinh nghiệm chiến trường và trình độ tham mưu được quan thầy đánh giá đạt mức khá.

Tướng “xây dựng nông thôn”

Tư lệnh phó Quân đoàn 1 Huỳnh Văn Lạc sinh năm 1927, quê ở Nam Định. Lạc xuất thân từ một thiếu sinh quân rồi đi lính cho Pháp từ năm 1947, sau đó được cử đi học sĩ quan tại Trường Sĩ quan Huế.

Năm 1957, Lạc đã là Trung tá, Tư lệnh Lữ đoàn liên minh phòng vệ Tổng thống, hai năm sau được giao chức Tỉnh trưởng tỉnh Kiến Giang. Năm 1961 Lạc được phong Đại tá và được cử làm Đặc ủy viên phụ trách kế hoạch bình định ở Vùng 3 chiến thuật; năm 1966 là Tổng ủy viên xây dựng nông thôn, sau đó là Thứ trưởng xây dựng nông thôn. Hai năm sau, Huỳnh Văn Lạc được phong Chuẩn tướng và vẫn làm Thứ trưởng xây dựng nông thôn. Tới năm 1970, khi ở tuổi 43, Lạc nhận lon Thiếu tướng và được giao làm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung – một Trung tâm làm nhiệm vụ “san sẻ” gánh nặng đào tạo sĩ quan cho các Trường bộ binh, nơi các khóa sinh phải trải qua khóa học 9 tuần trước khi được đào tạo tại các trường sĩ quan.

Năm 1973, Huỳnh Văn Lạc leo lên chức Tư lệnh phó Quân đoàn 1. Viên tướng này có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và luôn tỏ ra là một người kín đáo.

Vũ Minh
qdnd.vn

Từ Hội thề Rừng Rong năm ấy

QĐND-Tại xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh có một địa danh đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia, đó là Căn cứ cách mạng Rừng Rong. Tại đây, vào đêm 30 Tết Ất Dậu, nhằm ngày 1-2-1946, nhóm thanh niên yêu nước An Tịnh gồm 27 người, đã tổ chức cắt máu ăn thề, thành lập tổ chức cách mạng Hội thề Rừng Rong, tham gia kháng chiến chống Pháp. Một trong những thanh niên tham gia sáng lập Hội thề là Nguyễn Thới Bưng (Út Thới).

Khẩu súng Klip và trận chiến “Châu chấu đá xe”

Thật may mắn cho chúng tôi khi đang liên lạc để xin gặp Trung tướng Nguyễn Thới Bưng thì cũng là lúc nhà báo lão thành Đinh Phong và ê kíp làm phim đang thực hiện bộ phim tài liệu về vị tướng già miền Đông Nam Bộ. Ở tuổi 87, sức khỏe của Trung tướng Nguyễn Thới Bưng không cho phép ông làm việc nhiều. Mà cuộc đời binh nghiệp của ông thì mỗi giai đoạn gắn với những sự kiện lịch sử của quân đội và đất nước đều ăm ắp những tư liệu sống. Nhà báo Đinh Phong là người gần gũi, thân thiết với Trung tướng Nguyễn Thới Bưng từ nhiều năm nay. Tôi gặp nhà báo Đinh Phong để xin ông tư vấn, viết về Trung tướng Nguyễn Thới Bưng thì nên chọn giai đoạn nào để có một “lát cắt” điển hình? Nhà báo Đinh Phong nói: “Đó là giai đoạn khởi đầu sự nghiệp. Những giai đoạn lịch sử sau này có thể còn nhiều nhân chứng, nhiều tư liệu, nhưng thời kỳ Cách mạng Tháng Tám và Nam Bộ kháng chiến thì những chứng nhân lịch sử như Trung tướng Nguyễn Thới Bưng hiện còn rất ít. Những người làm báo, viết văn như chúng ta cần phải biết chạy đua với thời gian”.

Nhà báo Đinh Phong đã rất tận tình dẫn tôi đến gặp Trung tướng Nguyễn Thới Bưng và hỗ trợ, cung cấp cho tôi nhiều thông tin, tư liệu quý về vị tướng già trưởng thành từ thời kỳ tiền khởi nghĩa. Tác phẩm điện ảnh về Trung tướng Nguyễn Thới Bưng của nhà báo Đinh Phong đang trong giai đoạn gấp rút hoàn thành. Trong đó, ông dành thời lượng đáng kể tái hiện, khắc họa chân dung vị tướng của quê hương Tây Ninh trong thời kỳ đầu được giác ngộ cách mạng. Câu chuyện được lấy cảm hứng từ cụm công trình tưởng niệm ở Di tích Rừng Rong, nổi bật là tượng đài thể hiện hình tượng những thanh niên trai tráng, vạm vỡ, giơ cao cánh tay xin thề “Chết tự do hơn sống nô lệ” mà Nguyễn Thới Bưng là một nguyên mẫu nhân vật gắn với khu rừng huyền thoại này.

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể chuyện với các nhà báo về ký ức Rừng Rong.

Dù tuổi cao, sức yếu nhưng Trung tướng Nguyễn Thới Bưng vẫn còn khá minh mẫn. Ông sinh năm 1925 nhưng trong hồ sơ thì khai sinh năm 1927. Ông kể: “Hồi đó tui đã quá tuổi đi học nên muốn đến trường thì phải khai “ăn gian” 2 tuổi. Hồi đó được đi học là một vinh dự lớn lắm”.

Nhưng rồi được một thời gian, người thanh niên Út Thới đã từ bỏ con đường học hành để đi theo cách mạng. Sự kiện đầu tiên ghi dấu tinh thần giác ngộ cách mạng của Út Thới là vào ngày 25-8-1945, anh hăng hái tham gia cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại huyện Trảng Bàng. Tham gia vào lực lượng Thanh niên tiền phong An Tịnh từ tháng 7-1945 nhưng Trung tướng Nguyễn Thới Bưng lại lấy ngày 23-9-1945 làm ngày nhập ngũ. Chuyện này được ông giải thích: “Lớp bạn bè của tui ngày đó đều lấy ngày 23-9-1945 làm ngày nhập ngũ để kỷ niệm dấu mốc quan trọng trong cuộc đời mình”. Đó cũng là ngày tổ chức Giải phóng quân liên quận Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa tổ chức lực lượng tham gia Nam Bộ kháng chiến, quyết tâm chặn bước tiến của quân Pháp đánh vào tỉnh lỵ Tây Ninh. Út Thới tham gia vào Chi đội 12 thuộc tổ chức liên quận, do đồng chí Tô Ký làm Chi đội trưởng. Ngày 23-9-1945, khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, lực lượng Giải phóng quân liên quận ở Tây Ninh tổ chức triển khai đội hình, xây dựng các tuyến phòng thủ sẵn sàng chiến đấu. Trước đó, để chuẩn bị cho cuộc tấn công, quân đội Pháp yêu cầu lực lượng của Nhật ở Tây Ninh phá hoại các căn cứ, trận địa phòng tuyến của ta nhưng trước sự kháng cự quyết liệt của ta và ở cái thế rệu rã, bạc nhược của kẻ thất trận, giặc Nhật không làm gì được. Hưởng ứng lời kêu gọi đánh Pháp của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam bộ, ngày 25-9-1945, Út Thới cùng lực lượng thanh niên Trảng Bàng gồm hơn 100 người lập phòng tuyến mặt trận Suối Sâu – chiến lũy địa đầu của tỉnh Tây Ninh, chặn đánh địch. Họ đào công sự, lập phòng tuyến phòng thủ linh hoạt và phục kích địch ở những nơi bất ngờ. Toàn đội chỉ có một khẩu súng Klip 12, còn lại là lựu đạn và những vũ khí thô sơ. Út Thới được cấp trên tin tưởng, tín nhiệm giao cho trọng trách sử dụng khẩu súng này. Ngày 8-11-1945, địch huy động đội hình hành quân lên đến hàng trăm xe quân sự, trong đó có nhiều xe tăng, bọc thép rầm rộ tiến quân theo Quốc lộ 1 (nay là Quốc lộ 22) từ Sài Gòn tiến lên Tây Ninh.

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng nhớ lại thời khắc oanh liệt đó: “Nhìn thấy đoàn xe địch như những con trâu mộng ầm ầm tiến vào, từ phòng tuyến hai bên vệ đường, chúng tôi đồng loạt tung bộc phá, ném lựu đạn. Tôi nâng khẩu súng Klip nhắm thẳng vào những chiếc xe đi đầu nhả đạn. Địch trên xe bắn ra như vãi trấu. Trận chiến chẳng khác gì “châu chấu đá xe” nên chúng tôi không thể ngăn được bước tiến quân địch. Giặc Pháp sau đó đã chiếm được tỉnh lỵ Tây Ninh.

Vang danh Hội thề Rừng Rong

Sau khi chiếm đóng Tây Ninh, thực dân Pháp dựng lại bộ máy tay sai từ các chủ đồn điền phản động. Chúng tăng cường đàn áp, đốt nhà, bắn giết những người dân vô tội. Trước tình thế quân thù quá mạnh, Út Thới và đồng đội phải rút về rừng Rong xây dựng căn cứ, củng cố lực lượng. Toàn đội có 27 đồng chí, chia thành 4 nhóm. Út Thới làm trưởng của một nhóm. Anh em họp bàn bạc phương hướng tổ chức, đặt ra chương trình hành động cụ thể để phát triển lực lượng, tiến hành hoạt động chính trị kết hợp vũ trang, kháng chiến lâu dài. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng hồi tưởng: “Phương châm hoạt động của đội vũ trang là dựa vào dân, tiến hành nhiều hình thức hoạt động uy hiếp tinh thần địch và tạo niềm tin cho nhân dân như trừ gian, giải tán Hội tề tay sai bù nhìn, tuyên truyền vận động cách mạng trên địa bàn 7 xã của huyện Trảng Bàng. Được sự đùm bọc của nhân dân, chúng tôi đã tổ chức thành công nhiều cuộc cướp súng địch để trang bị cho ta. Sau một thời gian chuẩn bị, chúng tôi đã có trong tay 17 khẩu súng, trong đó có 2 khẩu tiểu liên và nhiều lựu đạn. Đêm Giao thừa Tết Bính Tuất, trước sự chứng kiến của đông đảo bà con nhân dân An Tịnh, 27 chiến sĩ Rừng Rong tuyên bố thành lập tổ chức vũ trang lấy tên là “Hội thề Rừng Rong”. Đứng dưới cờ đỏ sao vàng, anh em cắt máu ăn thề quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, đọc lời tuyên thệ gồm 5 lời thề do anh em tự viết:

1: Độc lập hay là chết. 2: Chết tự do hơn sống nô lệ: 3: Dù đầu râu tóc bạc vẫn còn chiến đấu. 4: Dù phải hy sinh đời cha thì con cháu tiếp tục chiến đấu. 5: Ai phản bội đầu hàng phải bị xử tử.

Gần 3 tháng sau, trước yêu cầu nhiệm vụ phải mở rộng địa bàn, tăng cường các hình thức hoạt động vũ trang, Hội thề chỉ để lại 8 đồng chí bám căn cứ Rừng Rong xây dựng cơ sở cách mạng, làm nòng cốt cho phong trào du kích địa phương. Út Thới và 18 đồng chí còn lại, do đồng chí Trần Văn Chói làm đội trưởng, gia nhập vào Chi đội 12 tham gia chiến đấu trên địa bàn Hóc Môn – Trảng Bàng. Cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra hết sức cam go. Khốc liệt nhất là những trận anh em tổ chức phục kích chống càn, chống quét của quân Lê Dương. Giữ trọn lời thề sắt son với Tổ quốc, anh em của Hội thề đã chiến đấu ngoan cường, lập nhiều chiến công xuất sắc. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể: “Bây giờ, dù đã vào tuổi gần đất xa trời nhưng nghĩ đến anh em đồng đội ngày đó, tui vẫn không cầm lòng được. Chỉ trong 2 năm (1946 – 1947), trong số 19 anh em Hội thề gia nhập Chi đội 12, đã có đến 12 đồng chí hy sinh trong các trận đánh trên quê hương Trảng Bàng”.

Thanh

Cùng với hành trình gian nan, trường kỳ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những chiến sĩ trong Hội thề Rừng Rong về sau đã phát triển giữ những cương vị trọng trách trong các tổ chức chính quyền, cơ quan, đơn vị. Người chiến sĩ Nguyễn Thới Bưng ngày ấy sau này là Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Vị tướng già tâm sự với chúng tôi, giọng bùi ngùi: “Hội thề Rừng Rong ngày ấy, bây giờ chỉ còn lại 4 người, hiện đều sinh sống ở tỉnh Tây Ninh. Đó là anh Lâm Quang Vinh, anh Tô Văn Ri, chị Trần Thị Đường và tui. Cứ vào dịp đầu Xuân hằng năm, anh chị em tụi tui lại tụ hội về chiến trường xưa, dâng hương tri ân đồng đội. Mấy năm trước còn đi được đông đủ nhưng dịp Tết vừa rồi, chỉ có 3 anh em tui, còn chị Đường không đi được vì sức khỏe yếu. Chẳng ai chống được quy luật nghiệt ngã của thời gian. Điều khiến tụi tui thấy ấm lòng là thế hệ trẻ hôm nay ngày càng có nhiều người quan tâm, tìm hiểu, đề cao giá trị của lịch sử, truyền thống. Mỗi lần gặp đồng đội cũ, thăm chiến trường xưa hay có những cuộc tiếp xúc như thế này, tui lại thấy cái thời trai trẻ ấy vẫn đang ở trong tim mình”.

Bia đá, tượng đài đã được xây dựng, uy nghi, hùng tráng giữa đất trời An Tịnh. Di tích lịch sử cấp quốc gia này đã trở thành một địa chỉ về nguồn, hằng năm thu hút hàng vạn lượt du khách đến tham quan, tưởng niệm. Trên văn bia vinh danh các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trên mảnh đất An Tịnh, có đến 54 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 7 Anh hùng LLVT nhân dân, hơn 1000 liệt sĩ. Tất cả đều là những người chiến sĩ kiên trung đã ngã xuống trên mảnh đất An Tịnh đầy máu và hoa.

Bài và ảnh: Hạnh Dương
qdnd.vn

Bác Hồ ở bản Mạy

QĐND – Tháng Tư, đất nước Triệu Voi đã chớm mùa mưa. Trong tiết trời dìu dịu mát, từ Savanakhẹt, chúng tôi vượt sông Mê Kông đến Nakhon Phanom của Thái Lan thăm ngôi nhà Bác Hồ từng ở để hoạt động cách mạng trong những năm 1928-1929.

Bản Mạy đây rồi ư? Ngôi nhà Bác ở tại đất Thái mà tôi từng nghe, từng đọc từ thời học cấp một đây rồi ư? Cái tên Thầu Chín, bí danh của Bác thời ấy lại âm vang trong lòng chúng tôi. Chợt thấy xôn xao mảnh vườn xanh tốt chở che ngôi nhà bé nhỏ, vách gỗ ngói ta có chiếc rèm tre che nắng, che gió trước cửa chính ra vào. Ngôi nhà, mảnh vườn thuần Việt này còn lưu giữ những kỷ niệm về một thời hoạt động cách mạng bí mật của Bác Hồ kính yêu tại Thái Lan.

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Nakhon Phanom -Thái Lan. Ảnh: Đông Hà

Những nén hương thơm được thắp lên trên chiếc tủ thờ quá đơn sơ để tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cảm xúc trong tôi mỗi lúc càng trào dâng khi tận mắt thấy những kỷ vật của Bác còn lưu giữ trong ngôi nhà. Vẫn thế! Một cuộc sống giản dị thanh cao, những tiện nghi bị lược bỏ đến tối thiểu, còn lại mênh mang tấm lòng yêu nước thương dân, còn lại chí khí phẩm chất của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Có thể kể ra ngay mấy đồ vật Bác dùng thuở ấy: Vài bộ áo quần vải thường xếp trong chiếc tủ cao chưa tới một mét, tấm phản gỗ Người từng ngả lưng sau những giờ làm việc miệt mài, mấy cái xoong nhỏ bằng đồng để bên cạnh chiếc kiềng ba chân. Danh mục đồ dùng nếu đếm chắc chỉ đủ một bàn tay.

Năm 39 tuổi, Bác đóng vai nhà sư Hạnh Đa để hoạt động cách mạng tại Thái Lan. Tôi dừng khá lâu trước bức ảnh Người trong tấm áo cà sa màu vàng đang đi khất thực thời ấy để hình dung thêm những gian lao, hiểm nguy mà Bác đã trải qua trên Đường Kách mệnh.

Những hình dung về Bác kính yêu càng sáng thêm qua những hồi ức của ông Võ Trọng Tiêu, người đang coi giữ ngôi nhà lịch sử này. Khi Bác về bản Mạy với cái tên Thầu Chín thì ông Tiêu mới 7 tuổi. ông sinh năm 1922 tại Thái Lan nhưng quê gốc ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Gần chín mươi tuổi, ông mới được nhập quốc tịch Thái. Cũng lạ, gần chín thập kỷ qua con người mang dòng máu Việt này không thuộc quốc tịch nào cả nên dù đã có con trai là thiếu tướng công an và con gái là bác sĩ làm việc tại Việt Nam, ông vẫn chưa một lần thực hiện được khát vọng về thăm Tổ quốc, quê hương.

ông Tiêu kể: Những ngày đầu về bản Mạy, Bác ở chung nhà và ăn uống với gia đình ông. Sau đó, vì không muốn làm phiền gia đình, nên Bác cùng các đồng chí của mình xin phép được làm ngôi nhà riêng để ở và sinh hoạt. Đêm đêm, cậu bé Tiêu được Thầu Chín cho ngủ chung. Thường thì khi ngủ dậy Tiêu chẳng thấy Bác đâu nữa. Bác đi đâu, về đâu trong nhà không mấy ai biết. Trong hồi ức của ông Tiêu thì Bác thời ấy người gầy mảnh, da trắng, mặc quần vận. Bàn ghế, tủ đựng áo quần hiện còn lưu giữ ở đây là do tự tay Bác đóng. Vườn nhà có hai cây dừa và cây khế ngọt do Bác trồng. Hiện nay, ai đến đây cũng đều thích ăn khế Bác trồng và muốn chụp ảnh trước cây để làm kỷ niệm. Chiều chiều, khi thôi làm việc Bác cùng các đồng chí của mình đá bóng theo kiểu vòng tròn. Chú bé Tiêu là người xăng xái đi nhặt bóng. Có lúc Bác chơi trò kéo co với các cháu là con của các gia đình cách mạng Việt Kiều gửi vào học chữ quốc ngữ. Một bên là cậu bé Tiêu với ba em học trò, còn bên kia là Bác. Bác cười bảo: Tám chân đấu với hai chân, coi thử ai thua, ai thắng nào. Mùa mưa đến, Bác với mấy đồng chí của Người đi bắt cá. Bốn người lội bì bõm từ thửa ruộng này qua thửa ruộng khác, cá bắt được bỏ chung trong một chiếc giỏ. Về nhà, Bác cười hỏi: Đố mấy chú tôi bắt được bao nhiêu con cá? Tất cả, ngớ ra không ai trả lời được. Bác đổ cá từ giỏ ra, vui vẻ nói, con cá nào bị ngắt đuôi là do tôi bắt đó. Ai cũng bật cười trước cái mẹo của Bác. Cá bắt được, con nào chết thì kho ăn trước, con nào sống thì để lại làm nước mắm. Bác thích ăn những món dân dã đồng quê và hằng ngày nấu nước lá vằng để uống.

Không chỉ nhân dân Việt Nam yêu quý Bác Hồ mà nhiều người Thái Lan cũng rất kính trọng Bác. ông Tiêu cho biết, người Thái vẫn thường đến đây thắp hương cho Bác. Trong 76 tỉnh của Thái Lan đã có dân của 74 tỉnh về thăm ngôi nhà Bác từng ở tại bản Mạy và theo ông Tiêu kể thì một vị tổng chỉ huy quân đội Thái Lan khi đến đây thắp hương cho Bác đã giơ ngón tay cái lên rồi nói: Bác Hồ là người có một không hai trên thế giới này!

Ngôi nhà nhỏ Bác từng ở tại bản Mạy không chỉ là di tích lịch sử quý giá gắn với cuộc đời cách mạng sôi động của Hồ Chí Minh mà còn là nhịp cầu nối tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt -Thái. Ngay cạnh ngôi nhà nhỏ này, có Làng hữu nghị Việt -Thái và nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh Đường Quốc Hiệp, năm nay bốn mươi tuổi, nhân viên coi giữ giới thiệu nhà lưu niệm nói với chúng tôi: Bác Hồ là vĩ nhân của Việt Nam và thế giới nhưng rất giản dị. Dù Bác đã xa rời nơi này rất lâu nhưng người dân bản Mạy vẫn luôn luôn thấy hình bóng Người ở đây. Trong ngôi nhà nhỏ, trong hàng dừa cây khế, trong mỗi trái tim người dân bản Mạy luôn có hình ảnh Bác Hồ tỏa sáng.

Nguyễn Hữu Quý
qdnd.vn

Đô đốc Giáp Văn Cương trong ký ức của những người giữ biển

QĐND-Đô đốc Giáp Văn Cương, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ hải quân kính trọng, bởi ông là một vị tướng có tầm nhìn chiến lược với những quyết sách táo bạo, đúng đắn. Ông cũng là một tấm gương về lòng nhân ái, có lối sống trung thực, thẳng thắn, giản dị và tiết kiệm.

Vị Tư lệnh có tầm nhìn chiến lược

Đại tá Nguyễn Trương, nguyên Chánh Văn phòng Bộ tư lệnh Hải quân-kiêm Bí thư cho Đô đốc Giáp Văn Cương xúc động khi nhớ lại những ngày tháng được giúp việc cho Tư lệnh: “Dường như Tư lệnh không có ngày nghỉ. Ông luôn dành nhiều thời gian và tâm huyết theo dõi và nắm chắc tình hình biển, đảo để có cơ sở vững chắc hoạch định chính xác phương hướng xây dựng Quân chủng Hải quân vững mạnh toàn diện. Chính vì vậy, từ những ngày đầu làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Đô đốc Giáp Văn Cương đã có những quyết sách đúng đắn, đề ra phương hướng xây dựng hải quân toàn diện, đồng bộ, có nhiều thành phần lực lượng, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo”.

Ngay từ khi nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Đô đốc Giáp Văn Cương chỉ đạo tập trung xây dựng lực lượng tàu mặt nước phù hợp với nền kinh tế của đất nước và điều kiện biển, đảo của Việt Nam, trong đó quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ thuyền. Xác định đất nước ta có bờ biển dài và có nhiều đảo xa bờ nên ông quan tâm đến lực lượng Hải quân đánh bộ, đặc công nước, pháo binh – tên lửa bờ biển. Các lực lượng này giữ vai trò quan trọng trong cấu thành lực lượng của hải quân hiện đại nói chung và Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng.

Đô đốc Giáp Văn Cương (ngoài cùng, bên trái) đón Đại tướng Lê Đức Anh thăm Trường Sa.

Trong tầm nhìn chiến lược của mình, Đô đốc Giáp Văn Cương cho rằng: Hải quân Việt Nam không thể thiếu các binh chủng không quân hải quân và tàu ngầm. Cùng với việc xây dựng các trung đoàn, lữ đoàn cơ động trực thuộc Quân chủng vững mạnh toàn diện, ông luôn quan tâm đến chất lượng các căn cứ, các vùng hải quân, các lữ đoàn thuộc vùng và các cơ sở bảo đảm kỹ thuật trên bờ để phục vụ các lực lượng của vùng, của Quân chủng thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất.

Nhiều cán bộ cao cấp của hải quân làm việc cùng thời với Tư lệnh Giáp Văn Cương đều nói rằng: Những năm làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, ông đặc biệt quan tâm đến hoạt động tác chiến. Để các lực lượng tác chiến thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả, xử lý nhanh nhạy các tình huống trên biển, ông chỉ đạo cơ quan, đơn vị chăm lo bổ sung, kiện toàn, mở rộng và nâng cấp lực lượng bảo đảm cho tác chiến như: Thông tin, ra-đa, quan sát biển, trinh sát, bảo đảm hàng hải, công binh chiến đấu… Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, vũ khí trang bị của hải quân còn nhiều mặt hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong Quân chủng, đồng thời phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả nước để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Vị tướng của Trường Sa, nhà giàn DK1

Ở Trường Sa và nhà giàn DK1 cuối những năm 80 của thế kỷ 20, không ai có thể quên hình ảnh vị tướng già mặc quần đùi đu lên nhà giàn quá đơn sơ lúc ấy để kiểm tra độ an toàn cho chiến sĩ, rồi vị Tư lệnh 68 tuổi chào cờ cùng anh em và xắn quần lặn lội để kiểm tra việc gia cố nhà giàn cho đảo chìm… Trong xây dựng lực lượng phòng thủ trên biển, điều ông rất quan tâm là bảo vệ thềm lục địa phía Nam. Theo đề nghị của ông, ngày 5-7-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị về việc xây dựng Cụm Kinh tế – Khoa học – Dịch vụ, tiếp tục khẳng định quyền chủ quyền của Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa của Tổ quốc. Chủ trương này có ý nghĩa vô cùng to lớn, cả trước mắt và lâu dài.

Thẳng thắn, giản dị và tiết kiệm

Đối với cấp trên cũng như cấp dưới, ông luôn thẳng thắn góp ý phê bình. Ông ghét những kẻ nịnh bợ, kéo bè, kéo cánh. Ông là người bao dung và độ lượng, hiểu thấu những khó khăn của cấp dưới, không trù dập những người mắc khuyết điểm.

Ông rất thích những người dám tranh luận phân biệt đúng sai, luôn lắng nghe ý kiến cấp dưới để giải quyết có tình, có lý.

Tư lệnh Giáp Văn Cương kiểm tra sẵn sàng chiến đấu tại Trường Sa, tháng 5-1988. Ảnh tư liệu.

Một hôm, Tư lệnh Giáp Văn Cương cùng một số cán bộ cơ quan Quân chủng xuống kiểm tra Tàu HQ-01. Khi phát hiện bệ tên lửa cải tiến han gỉ, ông nhắc anh em trên tàu: Lần sau tôi xuống kiểm tra các đồng chí còn để vũ khí han gỉ thế này sẽ bị kỷ luật. Nghe vậy, một đồng chí phó thuyền trưởng đã ý kiến: Báo cáo Tư lệnh, nếu cấp trên cung cấp đầy đủ vật tư, dầu mỡ cho chúng tôi mà Tư lệnh kiểm tra vẫn thấy han gỉ thì chúng tôi hoàn toàn chịu kỷ luật. Nhưng nếu cấp trên không cung cấp đầy đủ mà Tư lệnh kỷ luật thì oan cho chúng tôi quá.

Lúc này, ông quay sang hỏi đồng chí Chủ nhiệm Cục Kỹ thuật Hải quân: “Anh Phúc đã nghe rõ anh em nói gì chưa?”.

Là một Đô đốc nhưng Giáp Văn Cương luôn sống cuộc sống giản dị và tiết kiệm. Đại tá Nguyễn Trương kể: “Mỗi khi đi công tác xa, Đô đốc Giáp Văn Cương luôn nói với vợ chuẩn bị cơm nắm, tôm rang thịt, lọ muối lạc và bi đông nước sôi để nguội. Tôi chưa bao giờ thấy ông vào quán ăn khi đi công tác, dù lúc đó đến bữa hoặc quá bữa, ông đều về nhà hoặc đến đơn vị để ăn. Ông thường dặn lái xe khi nào đường vắng, có bóng cây mát đến giờ ăn dừng chân để cùng ăn, trong đó có tôi, y sĩ và lái xe”.

Năm 1986, khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, Tư lệnh Giáp Văn Cương vẫn sống một cuộc đời bình dị. Ông vẫn sử dụng ti-vi đen trắng với những tiện nghi sinh hoạt hết sức bình thường.

Đô đốc Giáp Văn Cương sinh năm 1921 tại thôn Thép Thượng, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội như: Cán bộ chỉ huy cấp sư đoàn, quân khu, Phó tư lệnh mặt trận Quảng Đà, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 3-1977, ông được cấp trên điều về làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Năm 1988, ông được phong Đô đốc đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam. Ông mất năm 1990. Ngày 7-5-2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Trịnh Văn Dũng
qdnd.vn

Hành hình kiểu Linsơ (1924)

Một phương diện ít người biết của nền văn minh Mỹ

Ai cũng biết giống người da đen là giống người bị áp bức và bóc lột nặng nề nhất trong loài người. Ai cũng biết sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản và việc tìm ra Tân thế giới đã mang lại hậu quả trực tiếp là làm sống lại chế độ nô lệ, một chế độ, trải qua nhiều thế kỷ, đã là một tai hoạ thật sự đối với người da đen và là một bất hạnh đẫm máu đối với nhân loại. Điều mà mọi người có lẽ không biết là người da đen châu Mỹ, tiếng rằng đã được giải phóng 65 nǎm nay rồi, nhưng vẫn còn phải chịu đựng nhiều nỗi thống khổ ghê gớm về tinh thần và vật chất, mà tàn ác nhất và ghê tởm nhất là tục hành hình kiểu Linsơ.

Linsagiơ là do từ Linsơ mà ra. Linsơ là tên một chủ đồn điền ở bang Viếcgini vừa là địa chủ, vừa là quan toà. Lợi dụng tình hình rối ren trong cuộc chiến tranh giành độc lập, hắn thâu tóm toàn bộ quyền hành trong quận. Những người thuộc phái bảo hoàng và những người thuộc phái bảo thủ bị hắn trừng phạt rất dã man, không cần xét xử, không cần án từ gì cả. Nhờ bọn chủ nô, nhờ đảng Ku Klux Klan và những tổ chức bí mật khác, nên tục hành hình kiểu Linsơ, một tục không hợp pháp và man rợ trở thành phổ biến và kéo dài mãi ở các bang trong Liên bang Mỹ. Sau khi người da đen được giải phóng, tục đó càng trở nên vô nhân đạo, và đặc biệt chĩa vào người da đen.

Các bạn hãy tưởng tượng…

Các bạn hãy tưởng tượng một đám đông cuồng loạn. Quả đấm nắm chặt, mắt đỏ ngầu, miệng sùi bọt, la ó, chửi bới, nguyền rủa…, đám đông ấy đang bị lôi cuốn bởi cái thú cuồng loạn được phạm tội ác mà không phải lo sợ gì cả. Họ vũ trang bằng gậy gộc, đuốc, súng lục, thừng, dao, kéo, nước lưu toan, dùi. Tóm lại là bất cứ vật gì có thể dùng để giết hoặc làm bị thương được.

Các bạn hãy tưởng tượng giữa đám đông ấy, là một đống thịt đen bị xô đẩy, đánh đập, giày xéo, rạch da, róc thịt, chửi rủa, bị đá đi đá lại, đẫm máu, bất động.

Cái đám đông ấy, chính là những kẻ tham gia hành hình. Cái xác người rách nát kia, đó là người da đen, là nạn nhân.

Trong cơn sóng hằn thù và thú tính, những kẻ tham gia hành hình lôi người da đen đến một khu rừng hay một quảng trường công cộng nào đó. Họ trói người đó vào cây, tưới dầu lửa vào người đó, lấy những chất dễ cháy phủ lên người đó. Trước khi châm lửa, họ bẻ dần từng chiếc rǎng một của người đó. Rồi móc mắt người đó. Từng nhúm tóc xoǎn bị rứt khỏi đầu, mang theo từng mảng da, để lộ ra một sọ người đẫm máu. Nhiều miếng thịt nhỏ rời khỏi cái thân hình đã tím bầm vì bị đánh đập.

Người da đen không kêu được nữa: lưỡi đã sưng phồng lên vì một thanh sắt nung đỏ gí vào. Toàn thân người ấy quằn quại như một con rắn bị đánh, dở sống, dở chết. Một nhát dao, thế là rụng một tai. ái chà! Nó mới đen làm sao! Nó mới đáng tởm làm sao! Thế là bọn đàn bà rạch nát mặt người đó ra…

Có kẻ hét: “Châm lửa lên đi!”. Một kẻ khác góp thêm: “Đốt vừa đủ để thui nó từ từ thôi”.

Người da đen bị nướng chín, thui vàng, cháy thành than. Nhưng người đó phải chết hai lần mới đáng đời. Cho nên họ liền treo người đó lên, nói cho đúng là treo cái xác không còn là một cái xác nữa lên. Và bây giờ, tất cả những người không được tham dự cảnh thiêu sống ấy, vỗ tay. Hoan hô!

Khi ai nấy đã xem chán rồi, họ hạ cái xác xuống. Cái dây treo được chặt ra từng đoạn, bán mỗi đoạn 3 hay 5 đôla. Bọn đàn bà tranh nhau mua làm vật kỷ niệm và để lấy khước.

Thế là “Công lý nhân dân” – như ở đó, người ta vẫn gọi – đã được thực hiện. Đám đông dịu đi, khen ngợi những kẻ “hành sự” rồi tản dần đi, vui vẻ như vừa dự xong một bữa tiệc, và hẹn gặp nhau một bận khác.

Trong khi đó thì trên mặt đất nhày nhụa mỡ và khói, một đầu lâu đen, nát bét, bị thui cháy, không ra hình thù gì nữa, nhǎn nhó một cách đáng sợ và hình như muốn hỏi vầng dương đang lặn rằng: “Đó là vǎn minh ư?”.

Một chút thống kê

Từ 1889 đến 1919, đã có 2.600 người da đen bị hành hình kiểu Linsơ, trong đó có 51 phụ nữ và thiếu nữ, với 10 cựu binh trong đại chiến.

Trong số 78 người da đen bị hành hình kiểu Linsơ nǎm 1919, có 11 người bị thiêu sống, 3 người bị thiêu sau khi đã bị giết, 31 người bị bắn chết, 3 người bị hành hạ cho đến chết, 1 người bị chặt ra làm nhiều mảnh, 1 người bị dìm chết dưới nước, 11 người bị giết bằng nhiều cách khác.

Đứng đầu là bang Gioócgia với 22 nạn nhân, thứ đến bang Mítxixipi với con số 12. Trong cả bang thứ nhất và bang thứ hai đều có 3 binh sĩ trong số bị hành hình. Trong số 11 người bị thiêu sống, thì ở bang Gioócgia có 4 người và 2 người ở bang Mítxixipi. Trong 34 vụ hành hình có tính toán trước và có tổ chức hẳn hoi, thì bang Gioócgia cũng lại đứng đầu với 5 vụ. Thứ hai đến bang Mítxixipi với 3 vụ.

Cǎn cứ theo những tội trạng buộc cho những nạn nhân nǎm 1919, thì:

Một người có chân trong Liên đoàn những người không đảng phái (những chủ trại độc lập);

Một người đã truyền bá những sách báo cách mạng;

Một người đã dám quá tự do lên tiếng công kích những vụ hành hình kiểu Linsơ;

Một người đã bình luận về những vụ xô xát giữa một người da trắng và da đen ở Sicagô;

Một người mà người ta biết là lãnh tụ của phong trào đấu tranh cho lợi ích của người da đen;

Một người vì không kịp tránh sang bên đường nên đã làm cho một đứa bé da trắng ngồi trong ôtô hoảng sợ.

Nǎm 1920, có 50 vụ hành hình kiểu Linsơ và nǎm 1923, có 28 vụ.

Những tội ác đó bao giờ cũng là do ghen ghét về kinh tế mà ra, hoặc do thấy những người da đen ở địa phương làm ǎn khấm khá hơn người da trắng, hoặc do thấy công nhân da đen không chịu bị bóc lột đến xương tuỷ. Trong tất cả các vụ đó, những thủ phạm chính không bao giờ bị làm rầy rà, chỉ đơn giản là vì họ luôn luôn được bọn chính khách, bọn tài chính, bọn cầm quyền và nhất là báo chí phản động kích thích, khuyến khích, xúi bẩy, rồi lại bao che.

Mỗi khi sắp xảy ra hay đã xảy ra một vụ hành hình kiểu Linsơ thế là báo chí chớp ngay lấy, coi là dịp may hiếm có để tǎng số báo phát hành. Báo chí tường thuật sự việc với dụng tâm đưa ra rất nhiều chi tiết.

Không một lời trách móc hướng vào bọn giết người. Không một lời thương xót đối với những nạn nhân. Không một lời bình luận.

Báo New Orleans States ngày 26 tháng 6 nǎm 1919 đǎng nổi bật tin sau đây bằng cỡ chữ 25 phân suốt chiều ngang trang nhất: Hôm nay, một tên da đen sẽ bị 3.000 công dân thiêu chết. Và ngay dưới đó là một tin in bằng chữ nhỏ xíu: Được một đạo vệ binh lớn bảo vệ, Hoàng đế nước Đức đã cùng với Đông cung thái tử chạy trốn.

o Jackson Daily News ra cùng ngày đó, in trên hai cột đầu trang nhất và bằng cỡ chữ lớn:

Tên da đen J.M. sẽ bị dân chúng ở Enlisvinlơ thiêu chết, vào nǎm giờ chiều nay

Tờ báo chỉ quên thêm “khẩn khoản mời toàn thể dân chúng đến dự”, nhưng tinh thần là như vậy.

Vài chi tiết

“Hồi 7 giờ 40 phút tối nay, J.M. đã bị hành hạ bằng một thanh sắt nung đỏ, sau đó bị đem thiêu… Một đám đông khoảng 2.000 người (1),… có nhiều đàn bà và trẻ em đã tham dự vụ thiêu… Sau khi người da đen bị trói trước pháp trường, người ta liền đốt một đống lửa. Cách đó một quãng, một đống lửa khác cũng được đốt lên để nung một thanh sắt. Khi thanh sắt đã đỏ rực, một người cầm lấy và gí vào người da đen. Người này hoảng lên, vội nắm lấy thanh sắt. Thế là không khí sặc sụa mùi thịt cháy khét… Thanh sắt đỏ được gí vào nhiều nơi trên mình người da đen, tiếng kêu la và rên rỉ của người đó dội vào tận trong thành phố. Hành tội một hồi lâu, những người đeo mặt nạ tưới xǎng vào người da đen và đốt đống củi lên. Ngọn lửa bốc cao và liếm quanh người da đen đang van xin người ta làm phúc cho nó một phát đạn. Những lời nǎn nỉ của nó làm cho người ta lớn tiếng chế nhạo” – Báo Chatanocca Times, ngày 13 – 2 – 1918.

“Mười lǎm ngàn người vừa đàn ông, đàn bà và trẻ con hò reo như sấm khi người ta giội gadôlin (2) lên người tên da đen và châm lửa. Họ đấm đá nhau, la hét, và xô đẩy nhau để được đứng gần tên da đen hơn. Hai người trong bọn họ cắt tai tên da đen trong khi ngọn lửa bắt đầu thui nó.

Một người khác định cắt gót tên da đen… Đám đông nhấp nhô và di chuyển để ai nấy đều được nhìn thấy tên da đen bị đốt cháy. Khi thịt bị cháy hết, còn trơ xương ra và khi cái thân hình trước kia chỉ còn là một cái xác rách nát bốc khói, không ra hình thù gì nữa, chập chờn trong ngọn lửa, mọi người cũng vẫn còn mê mải đứng xem…” – Báo Mymphis Press, ngày 22-5-1917.

“… đàn ông thuộc đủ mọi hạng, đàn bà, trẻ con đều kéo đến xem. Nhiều bà trong giới thượng lưu đi theo đám đông từ cửa nhà tù đến đấy, những bà khác cũng từ các ngả gần đấy kéo đến… Khi xác tên da đen rơi xuống, người ta hǎng hái tranh nhau những mẩu dây thừng” – Báo Vicksburg Evening Post, ngày 4-5-1919.

“… một người cắt tai nó, một người khác xẻo bộ phận sinh dục của nó… Nó tìm cách bám lấy dây thừng, người ta liền chặt phǎng các ngón tay đi. Trong khi người ta treo nó lên cây, một gã to như hộ pháp lấy dao chém vào cổ nó: ít nhất nó cũng bị tới 25 vết thương… Nó bị kéo lên rồi hạ xuống đám lửa hồng, rồi lại bị kéo lên và hạ xuống, cứ thế mãi… Cuối cùng, một người ném dây thòng lọng tròng vào người nó, đầu kia thì buộc vào một con ngựa để lôi cái xác chạy khắp các phố Oacô. Cái cây treo xác tên da đen lại ở ngay dưới cửa sổ nhà viên thị trưởng. Ông này thản nhiên nhìn đám đông hành hình. Trên suốt chặng đường, tất cả mọi người đều tham gia bǎm vằm tên da đen. Nhiều người đập nó bằng xẻng, cuốc, gạch, gậy gộc. Khắp mình nó, từ đầu đến chân, chỗ nào cũng đầy thương tích. Hàng nghìn người cùng reo vui vang dội, khi ngọn lửa được châm lên… Một lúc sau, cái xác được kéo lên cao, để ai nấy đều có thể ngắm nhìn được, nên người ta vỗ tay như sấm dậy…” – Báo Crisis, tháng 7-1916.

Những người da trắng là nạn nhân của hành hình kiểu Linsơ

Chẳng cứ gì người da đen mà cả những người da trắng nào dám bênh vực người da đen cũng bị đối xử tàn nhẫn, như bà Hariét Bichơ Stao, tác giả cuốn “Cái lều của chú Tôm” chẳng hạn. Eligiát Lôvagiôi bị giết. Giôn Brao bị treo cổ, Tômát Bítsơ và Xtêphen Phôxtơ bị ngược đãi, bị đánh đập và bị bỏ tù. Trong nhà tù, Phôxtơ đã viết như sau: “Khi tôi nhìn tay chân tôi bị đánh nát nhừ, tôi nghĩ rằng, để giam giữ tôi, nhà tù sẽ chẳng còn cần thiết bao lâu nữa… 15 tháng vừa qua, nhà tù đã 4 lần mở cửa xàlim đón tôi, đồng bào tôi đã 24 lần lôi tôi ra khỏi nhà thờ của họ, họ đã hai lần ném tôi từ tầng gác thứ hai xuống, một lần đánh tôi đến sụn lưng, một lần khác họ định cùm kẹp tôi, hai lần họ phạt tiền tôi. Có lần, 1 vạn người định đưa tôi ra hành hình kiểu Linsơ, và tôi đã bị đánh bị thương 20 chỗ, ở đầu, cánh tay, cổ…”.

Trong 30 nǎm, đã có 708 người da trắng, trong đó có 11 phụ nữ, bị hành hình kiểu Linsơ, người thì vì đã tổ chức bãi công, người thì vì đã đồng tình với cuộc đấu tranh của người da đen.

Hành hình kiểu Linsơ thật đáng chiếm một vị trí vinh dự trong bộ sưu tập toàn bộ những tội ác của nền “vǎn minh” Mỹ.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 59, nǎm 1924.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên. Tr. 1.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.

Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước. Tr.1.

Phó đô đốc Đỗ Xuân Công nhớ về trận đầu đánh thắng

Xứng danh Bộ đội Cụ Hồ

QĐND-Chúng tôi gặp Phó đô đốc Đỗ Xuân Công, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân khi ông ở Thành phố Hồ Chí Minh ra thăm lại những người bạn ở thành phố Hải Phòng. Tuy đã trở về với đời thường nhưng hình ảnh về chiến thắng trận đầu ngày 2 và ngày 5-8-1964 của Hải quân nhân dân Việt Nam luôn hiện hữu trong lòng vị tướng.

Ngày 5-8-1964, Tàu T-161 của ông và đồng đội đang đậu tại cảng Sông Gianh chuẩn bị vũ khí, lương thực thực phẩm sẵn sàng chiến đấu thì nhận được thông báo: Để ngăn chặn chi viện của miền Bắc đối với chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ sẽ tập kích bằng không quân vào các mục tiêu quân sự của ta ở miền Bắc, nhất là các quân cảng và tàu của Hải quân. Vì vậy, toàn bộ lực lượng của Hải quân được chuyển sang trạng thái thời chiến. Các tàu Hải quân ở cảng sông Gianh triển khai sơ tán theo đội hình phòng không. Chỉ có tàu trực ban chiến đấu là được đỗ tại cảng. Hôm ấy Tàu T-161 mới sửa chữa xong nên đỗ tại cảng để tiếp nhận nhiên liệu, đạn dược và lương thực thực phẩm. Cán bộ, thủy thủ của tàu làm việc không kể thời gian giờ giấc; ai cũng động viên nhau cố gắng làm việc thật nhanh để sẵn sàng chiến đấu. Lúc đó, Phó đô đốc Đỗ Xuân Công là Binh nhất, Tiểu đội trưởng hàng hải (lái chính) của tàu. Bỗng tiếng kẻng báo động vang lên. Các tàu đồng loạt kéo còi báo động phòng không làm náo động cả một dòng sông. Binh nhất Đỗ Xuân Công vác quả bom chìm nặng khoảng 30kg chạy về tàu đặt vào giá cố định thì vừa đúng lúc nghe lệnh của Thuyền trưởng Nguyễn Duy Khiêm:

– Rời bến khẩn cấp!

Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công (giữa) gặp lại CCB Hải quân tại Hải Phòng. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Đỗ Xuân Công vội nhảy vọt lên đài chỉ huy và lái tàu rời bến theo lệnh của thuyền trưởng. Tàu T-161 vừa rời khỏi vị trí neo đậu thì đúng lúc tiếng bom nổ ầm ầm bên cạnh. Từng cột nước tung lên rồi đổ xuống rào rào như trận mưa lớn. Các tàu của ta gần như đồng loạt nổ súng đánh trả rất quyết liệt vào các “Thần sấm”, “Con ma” của Mỹ. Lúc đó vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 5-8-1964. Đỗ Xuân Công vừa lái tàu vừa quan sát bầu trời để kịp thời báo cáo hướng mục tiêu cho thuyền trưởng. Máy bay phản lực Mỹ gầm rú và thay nhau từng chiếc một bổ nhào thả bom và bắn súng 20,6mm như vãi đạn xuống dòng sông Gianh. Các loại pháo 40mm, 37mm, 20mm, 14,5mm của ta trên các tàu 79 tấn của Phân đội 7, Phân đội 5, Phân đội 6 đồng loạt bắn xối xả vào các máy bay của Mỹ. Bầu trời như xé ra từng mảng, lưới đạn của ta dày đặc. Đỗ Xuân Công lái tàu theo lệnh thuyền trưởng để vừa bảo đảm phát huy được hết hỏa lực trên tàu đồng thời tránh được các đợt thả bom của máy bay địch. Đợt chiến đấu chỉ diễn ra khoảng vài chục phút, các máy bay Mỹ rút chạy ra hướng biển. Các tàu của ta nhanh chóng củng cố sức chiến đấu, giải quyết vấn đề thương binh liệt sĩ và sơ bộ rút kinh nghiệm sau đợt chiến đấu vừa rồi. Mọi người kiểm tra vũ khí, máy móc rất khẩn trương để chuẩn bị sẵn sàng cho đợt chiến đấu tiếp theo.

Đúng như dự đoán của cấp trên, vào khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, từng tốp máy bay Mỹ lại bổ nhào ném bom xuống dòng sông Gianh. Bầu trời và dòng sông lại ầm ầm những tiếng bom rơi đạn nổ xen lẫn nhưng tiếng gầm rú xé tai của máy bay phản lực Mỹ. Do đã có kinh nghiệm nên các tàu chiến đấu đĩnh đạc hơn, pháo bắn đồng loạt và giòn giã hơn nên máy bay địch không dám xuống thấp. Đợt chiến đấu này cũng chỉ diễn ra vài chục phút rồi máy bay Mỹ lại tháo chạy ra biển, để lại đằng sau 2 chiếc bị bắn rơi xuống cửa sông Gianh. Trong trận chiến đấu này có rất nhiều gương chiến đấu dũng cảm. Có đồng chí bị thương nặng vào chân nhưng vẫn tự băng bó rồi tiếp tục giữ vững vị trí. Có đồng chí bị thương vào bụng nhờ đồng chí khác băng bó lại rồi tiếp tục chiến đấu…

Những tấm gương chiến đấu dũng cảm của đồng chí, đồng đội trên con tàu T-161 như ngọn lửa thiêng thôi thúc Binh nhất Đỗ Xuân Công phấn đấu vươn lên hoàn thành nhiệm vụ trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình. Từ một binh nhất, ông đã trở thành Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam. Ông là một vị tướng nhân hậu, mẫn cán và dành trọn đời mình cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.

Trịnh Văn Dũng
qdnd.vn

Ảo tưởng – đáng thương và đáng giận

Công nghệ thông tin – mạng Internet là thành tựu trí tuệ của loài người. Đến nay, không ai còn nghi ngờ giá trị của internet, không chỉ ở giá trị cập nhật, giá trị tri thức, giải trí mà nó đã biến thế giới vốn dĩ đa chiều phức tạp thành một “thế giới phẳng”. Nhưng, cũng như hai mặt của một tờ giấy, bên cạnh cái lợi lại là cái hại, giống như có đêm thì có ngày, có trắng thì có đen. Tương tự, hãy cùng nhau nhìn lại những gì đang diễn ra trên mạng của hôm nay.

Có người vờ “khiêm cung” nhận mình là “dân báo”; lại có kẻ yêng hùng vỗ ngực xưng tên cho mình là “quan báo”; lại cũng có ai đó tranh thủ lúc sóng gió ngoài khơi đã lấy tên cho địa chỉ trên mạng của mình là “Biển Đông”… Họ định làm gì?

Đọc kĩ, thấy cả địa chỉ mạng “quan” lẫn “dân” và “biển” thì đều chung một mục đích chống phá sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Họ mập mờ “khoe” với người đọc rằng mình có nhiều thông tin “cung đình”, biết nhiều về thân thế, hoạt động của các vị lãnh đạo cấp cao, ngấm ngầm nói với người đọc rằng hãy tin tôi, các vị đó rất không đáng tin, tư cách và nhân phẩm có vấn đề. Nhưng, điều đáng nói là bản chất những thông tin đó là bịa đặt, suy diễn, áp đặt thái độ chủ quan của những người luôn ôm ấp ý đồ chống phá. Tất cả những thông tin họ đưa ra đều không có cơ sở kiểm chứng, cố tình tạo sự hoài nghi cho xã hội, với ý định gây mất lòng tin. Họ không muốn đất nước này bình yên, lại càng không muốn đất nước này phát triển, chỉ muốn khuấy lên để đục nước béo cò. Tự xưng là những nhà dân chủ, dựa vào tự do ngôn luận- tự do báo chí, họ áp đặt suy nghĩ chủ quan, lệch lạc với thái độ trước sau như một là hằn học, chống đối để hy vọng kiếm lời.

Cũng cần nhắc lại, trước mỗi thời điểm diễn ra những sinh hoạt chính trị lớn của đất nước, “dàn đồng ca” dân chủ giả hiệu lại tấu lên những khúc nhạc thông tin kích động. Không chỉ tung lên mạng những địa chỉ mệnh danh người Việt, mà còn có sự phối hợp với những tờ báo điện tử nước ngoài vốn cay đắng trước sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ lợi dụng những khuyết điểm trong quá trình phát triển đất nước, để rồi khoét sâu, coi đó là bản chất của chế độ, rồi kêu gọi bất tuân chính quyền, lật đổ. Đã đến lúc cần nhận diện mưu toan của những kẻ giả danh dân chủ, nhân danh tinh thần dân tộc, yêu nước để chống phá chế độ, gây rối loạn xã hội hòng trục lợi cá nhân. Mưu toan đó có sự kết hợp trong ngoài, những tưởng “trong ứng ngoài hợp” là làm nên cơ sự. Nhưng, đó chỉ là sự ảo tưởng đáng thương (về nhận thức) và đáng giận (về dã tâm).

Trong thời đại đầy ắp (và có thể nói là ngổn ngang) thông tin, việc chọn lựa thông tin là điều hệ trọng. Cũng không cần tốn thời gian với những thông tin không kiểm chứng, kích động – đó là sự lựa chọn khôn ngoan.

*

*     *

Không chỉ là mưu đồ chính trị của các phần tử kích động trên các địa chỉ mạng suốt thời gian qua, đến nay chúng ta cũng không thể thờ ơ với quá nhiều địa chỉ mạng đang từng giờ, từng ngày bơm vào xã hội những thông tin đồi trụy, bạo lực. Quá nhiều địa chỉ kích động tính dục, kích động bạo lực, tuyên truyền lối sống đi ngược thuần phong mỹ tục không chỉ của người Việt mà còn của cả nhân loại. Điều đó làm băng hoại đạo đức xã hội, tạo ra cách nghĩ, cách hành xử đầy nguy hại cho lớp trẻ- hết thế hệ này đến thế hệ khác. Khái niệm “lướt web” của không ít thanh- thiếu niên hiện giờ là vào các trang mạng sex, những địa chỉ mô tả bạo lực, thú tính, giết chóc. Mặc cho các bậc làm cha làm mẹ lo sợ, các thầy cô giáo lo lắng…, các địa chỉ mạng này vẫn ngang nhiên tồn tại mà không “bức tường lửa” nào ngăn được.

Đến đây, phải quay lại câu chuyện sự quản lý của các cơ quan chức năng. Không thể “mất bò mới lo làm chuồng”, đến khi thông tin xấu từ một số địa chỉ mạng lan truyền trong xã hội, làm rối xã hội, băng hoại đạo đức lối sống… thì mới ra tay. Muộn còn hơn không, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan hữu quan trong lĩnh vực này cần được làm ngay, nếu không, hậu quả sẽ là rất lớn và khó lường. Vì thế, việc mới đây Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng chấn chỉnh quản lý một số địa chỉ mạng là điều cần thiết, được dư luận xã hội hoan nghênh.

NAM VIỆT
daidoanket.vn

Nơi lưu giữ những tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ

Đến nay, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam (được xây dựng trên khuôn viên của Bảo tàng Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định trước đây) đã hoàn thành giai đoạn I. Nằm giữa trung tâm Thành phố Nam Định, với diện tích rộng 1,2ha, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam là nơi tái hiện lại lịch sử ngành Dệt may cả nước nói chung và ngành Dệt may Nam Định nói riêng trong hơn 1 thế kỷ qua. Ngoài việc trưng bày nhiều hiện vật, hình ảnh về lịch sử Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định từ thời Pháp thuộc như: Bức thư của những người công nhân gửi ông chủ khi bị đánh đập, chà đạp; chiếc máy dệt thời kỳ đó, tại đây, còn trưng bày những vũ khí đã được Trung đoàn tự vệ của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định dùng để chiến đấu với giặc Mỹ, bảo vệ nhà máy… Và hơn hết là những kỷ vật thiêng liêng của Bác Hồ qua những lần Bác về thăm cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định.

mot goc nhà may detMột góc Nhà truyền thống ngành Dệt may Việt Nam. Ảnh: Internet.

Tại khu vực trung tâm của Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam là nơi trưng bày các hình ảnh, kỷ vật về Bác và những tình cảm của công nhân ngành Dệt may với Bác Hồ, những di vật ghi lại lời căn dặn sâu sắc của Bác đối với tập thể cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định khi Người về thăm. Tiêu biểu là các hiện vật: Phòng nghỉ của Bác khi về thăm nhà máy năm 1957; những bức ảnh tư liệu quý về cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định vui mừng đón Bác về thăm nhà máy vào ngày 24-4-1957, Huy hiệu của Hồ Chủ tịch tặng công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định, Bác Hồ thăm phân xưởng dệt năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem các sản phẩm của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1957, Bác Hồ thăm nhà mẫu giáo dành cho con em cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem lá cờ Đảng của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định khi Người về thăm nhà máy năm 1963, Bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi anh chị em công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định ngày 28-12-1963… Bên cạnh đó, Bảo tàng còn lưu giữ nhiều hiện vật gắn liền với hình ảnh thân thương về Hồ Chủ tịch trong mỗi lần Bác về thăm tỉnh Nam Định: Đó là chiếc ghế đá nơi Bác Hồ đã ngồi nghỉ để nói chuyện với cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định; những văn bản ghi lại lời dạy của Hồ Chủ tịch đối với Đảng bộ, nhân dân tỉnh nhà nói chung, công nhân ngành Dệt may Nam Định nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Với quy mô và ý nghĩa to lớn, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam đi vào hoạt động sẽ là một công trình văn hóa lưu giữ, trưng bày các hiện vật, hình ảnh giới thiệu với các tầng lớp nhân dân, bạn bè quốc tế về lịch sử của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định nói riêng, của ngành Dệt may cả nước nói chung. Đặc biệt, những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ trong những lần về thăm Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định là những tư liệu, hiện vật quý, góp phần giáo dục truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho giai cấp công nhân ngành Dệt may cả nước hôm nay và mai sau./.

Bài và ảnh: Việt Thắng
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Tiếp theo và hết)

Bài 3: Điều không thể mất

QĐND – “Trở lại Tám Ngàn, chúng tôi rủ nhau xuống bờ sông, nơi xảy ra chiến trận năm xưa, tôi là người còn sống sót, đốt vài nén nhang xin tạ tội cùng các anh chị, vì chúng tôi không làm tròn trách nhiệm đưa các anh chị về nghĩa trang yên nghỉ”.

(Xin gián đoạn nhật ký của chị Minh Tâm để kể câu chuyện này cho bạn đọc rõ. Tháng 10-1969, Minh Tâm cùng các đảng viên trong đơn vị từ đất Hà Tiên sang đất bạn họp chi bộ cuối tháng. Họp xong thì được lệnh bất ngờ: Địch xuất hiện, các đảng viên ở lại để dẫn đường cho quân chủ lực đi từ Núi Dài về lộ Cái Sắn. Thật bối rối, vì dự định ban đầu chỉ là chuyến đi họp ngắn ngày, các đồng chí nữ chỉ chuẩn bị vài bộ trang phục. Nhưng vì nhiệm vụ, các chị tự làm công tác tư tưởng rồi chấp hành lệnh ngay. Xong chuyến đưa quân ấy, trên đường trở về căn cứ của đơn vị, Minh Tâm và đồng đội rơi vào ổ phục kích. Sau tiếng mìn nổ, Minh Tâm và Út Hòa dạt vào bờ nên không bị địch phát hiện. Trải qua hơn 20 ngày nhịn đói, nhịn khát, tự xác định phương hướng, hai nữ TNXP đã tìm về đơn vị trong niềm vui khôn tả của mọi người. 8 đồng đội của họ đã hy sinh trong đợt này).

Ngày 5 tháng 8 năm 1997

Các anh Sư đoàn 4 cho một vỏ máy và cử đồng chí Sư đoàn phó chính trị (Phó sư đoàn trưởng về chính trị) cùng đi với chúng tôi về rừng tràm Hà Tiên. Nay thì chẳng còn một cụm tràm nào, chỉ toàn là đồng trống, nhiều con kinh xẻ dọc, xẻ ngang, phải nhờ những người dân sống nơi ấy dẫn đường.

Gần 10 giờ sáng, theo chỉ dẫn của địa phương, chúng tôi lội lên đồng tìm được bờ đìa 3 cây gáo. Đó là điểm để dừng chân hằng đêm của chúng tôi trên đường công tác, cũng là nơi chôn cất các đồng đội của tôi. Tìm hiểu, bờ đìa này vẫn còn nguyên vẹn, chưa có dấu vết đào bới. Bởi vì, dân đồn nơi ấy có ma, họ thường thấy bóng người con gái quẩn quanh dưới gốc 3 cây gáo này.

Chị Minh Tâm (đứng giữa) cùng đồng đội trở lại Tràm Ba Đương (Kiên Giang) tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Sáu Thiện năm 2004. Ảnh: Minh Nghĩa.

Bới cỏ tìm, vẫn còn 3 gốc gáo. Đúng rồi! Chỉ còn xác định chôn ở chỗ nào mà thôi.

Quan sát xung quanh: Đằng kia là Gộc Xây, phía trước là sông Vĩnh Tế, bên kia là đường xe thồ… tự nhiên nước mắt tôi trào ra không sao ngăn được. Đã hơn hai mươi năm rồi mới được trở lại nơi đây, được khóc cho đồng đội của mình…

Đốt ít nén nhang, đem bánh cúng… Đứng lặng nhìn làn khói hương nghi ngút, tôi hình dung về những đồng đội của mình…

Tạm biệt nơi đây, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình.

Hướng tới của chúng tôi là tìm đến Ngã Tư Đầu Trâu – một địa danh năm xưa các đơn vị TNXP đặt để gọi với nhau, vẫn còn lưu đến bây giờ. Tôi nhớ rất rõ, nơi ấy có một nền đất cao và một cây ô môi lớn: Nơi chôn cất 3 đồng đội có tên là: Việt Phương, Thông, anh Hai Quang.

Ngày Thông hy sinh, trận địa bị lộ, trực thăng quần bắn, đổ quân. Anh Sáu Thiện, Liên đội phó ra lệnh rút, sáu anh em vừa tới công sự nổi chui vào. “Cán gáo” quần sát đọt tràm, các anh lo quan sát trên trời, bộ binh luồn đi phía sau tới, leo lên nắp công sự ta mới phát hiện được. Lúc ấy ta và địch sát nhau, máy bay không quần nữa. Mấy anh em vừa bắn vừa chạy thoát khỏi vòng vây. Tìm lại đủ cả, các anh chỉ lo cho tôi, vì hôm ấy chỉ có tôi là nữ.

Khi tìm đến những người biết chỗ cây ô môi thì họ bảo rằng cây ô môi đã bị đốn từ lâu, các ngôi mộ đã lạn mất rồi! Mùa này nước lên cao quá, họ không dẫn đến đó được, hẹn lại mùa khô. Đành phải chờ! Chúng tôi nhờ họ tìm giùm, nếu gặp xin báo theo địa chỉ gửi lại.

Gần 2 giờ chiều, chúng tôi về đến Trung đoàn 30 thuộc Sư đoàn 4. Cơm nước xong, chúng tôi trao đổi với Ban chỉ huy Trung đoàn một vài nơi nữa cần tìm. Các đồng chí hứa sẽ giúp theo yêu cầu. Các anh còn nói: Ngày xưa, nơi đây là địa bàn của các anh chị, còn nay là của chúng tôi.

Qua ít phút chuyện trò làm quen, các đồng chí kể cho chúng tôi nghe vừa qua đơn vị lao động đào gặp được 12 hài cốt trên cùng một bờ đìa, còn lượm được vài chiếc kẹp bồ câu bằng vỏ máy bay; đơn vị đã đưa về Nghĩa trang Hòn Đất. Chúng tôi biết ngay đó là nơi chôn 16 người ở Liên đội 2. Như vậy còn lại 4 người nữa, nhờ các đồng chí cố gắng tìm tiếp.

Sáng ngày 6 tháng 8 năm 1997

Mưa rất to. Khi dứt hột, chúng tôi chia tay với các đồng chí Trung đoàn 30, quay về trụ sở Sư đoàn 4.

Sáng ngày 7 tháng 8

Chúng tôi chia tay nhau tại thị xã Kiên Giang.

Suốt sáu ngày, từ lúc đi cho đến khi về, có lẽ trời cũng cảm thông với nỗi đau vì đồng đội của chúng tôi, nên cứ đổ mưa dầm…

Minh Tâm viết nhật ký tại tuyến đường 1C năm 1971. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Chuyến đi này, dù chưa đạt được mục đích cuối cùng, chúng tôi cũng cảm thấy mãn nguyện phần nào. Vì đã hơn hai mươi năm rồi, niềm mơ ước mong manh này mới được thực hiện.

Chúng tôi luôn khắc ghi tình cảm của các anh Hà, Giang, Thống và các đồng chí Sư đoàn 4, Trung đoàn 30 đã nhiệt tình giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành tốt một phần ước nguyện.

Từ chuyến đi này, chúng tôi tâm đắc chỉ có tình đồng đội mới thấu hiểu được niềm đau, nỗi khổ với nhau. Và tình đồng chí, đồng đội thật sâu nặng và lâu bền…

(Bẵng đi khá lâu, công cuộc tìm kiếm đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C không được chị Minh Tâm viết tiếp vào nhật ký. Những chuyến đi của chị và đồng đội đã cuốn hết thời gian và sức lực, chị chỉ còn kịp ghi ngày tháng và một số cột mốc đáng nhớ trên hành trình tìm đồng đội. Theo đề nghị của chúng tôi, chị lần giở cuốn sổ và kể lại).

Mãi tháng 6-2000, tôi và Tuyết Thu mới có điều kiện lên Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Cần Thơ xin hỗ trợ kinh phí đi quy tập hài cốt Sáu Bé, vì Sáu Bé vốn người Cần Thơ. Họ giới thiệu sang Tỉnh đội Cần Thơ (Bộ CHQS tỉnh Cần Thơ – PV) vì Tỉnh đội là cơ quan báo tử. Tỉnh đội cử một cán bộ đi cùng chúng tôi, nhưng kế hoạch công tác đi trong ngày. Từ Cần Thơ đến nơi chôn cất Sáu Bé đã gần 12 giờ trưa. Lần trước đi tìm, chỉ xác định được khu vực vì khi đó đang mùa mưa. Nay trời khô ráo nhưng đã hơn 20 năm, chỗ này chẳng còn chút dấu vết gì của ngày xưa, muốn tìm chắc phải mất thời gian. Chúng tôi phải trở về trong ngày nhưng bụng tự nhủ nhất định không bỏ cuộc, phải tìm được đồng đội mình về.

Đến cuối tháng 5-2001, đồng chí Tuyết Thu đề xuất với anh Năm Đoàn, nguyên Liên đội trưởng TNXP đường 1C đang ở tại TP Hồ Chí Minh, có thêm đồng chí Cao Long Phiêu đi tìm một chuyến, kinh phí hoàn toàn tự lực. Chuyến đi kéo dài một tuần lễ này, tại Hòn Đất, chúng tôi đã tìm ra nơi Sáu Bé nằm, mấy anh em bàn nhau cất bốc về luôn.

Tiếp đó, chúng tôi qua kênh Vĩnh Điều, tìm đến nơi đồng chí Võ Hồng Láng hy sinh. Đồng chí Hồng Láng thuộc Đại đội TNXP Nguyễn Việt Khái II, bị biệt kích phục kích trên sông Vĩnh Tế. Đồng chí bị thương nặng, bị giặc bắt về đồn Vĩnh Gia nhưng đã chấp nhận hy sinh, không khai báo gì cho giặc (Võ Hồng Láng về sau được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân – PV). Khi Hồng Láng hy sinh, địch bắt dân đem chôn cùng đồng chí Cường và một đồng chí bộ đội chủ lực. Nhân dân trong vùng đã chôn cất và chăm sóc phần mộ cho đến khi chúng tôi tìm đến.

Sau chuyến đi này, đồng chí Tuyết Thu đi khảo sát tiếp hai, ba chuyến nữa, phát hiện mộ đồng đội của chúng tôi còn ở rất nhiều nơi: Gộc Xây nhỏ, Gộc Xây lớn, bờ đìa Ô Môi, Tràm Ba Đương… Mấy chục năm qua, khu vực đường 1C, máu lửa năm xưa thành nơi hoang vắng. Chỉ có những hộ dân đi làm rẫy thì thi thoảng, vô tình gặp hài cốt liệt sĩ. Điều đó cũng khó trách ai, vì chính chúng tôi, những người đã trực tiếp chôn cất đồng đội mình mà sau biết bao năm mới trở lại, mà trở lại cũng không dễ dàng tìm thấy nơi các anh, các chị nằm xuống. Cũng chính điều này thôi thúc chúng tôi đi nhiều hơn.

Đến ngày 27-7-2002, kỷ niệm 55 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, được Tỉnh đoàn Kiên Giang đồng ý cùng tổ chức, chúng tôi đã tổ chức quy tập ở hai vị trí có nhiều mộ liệt sĩ nhất là Gộc Xây lớn và Gộc Xây nhỏ. Đợt này, chúng tôi cất bốc 42 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 13 đồng chí xác định được tên tuổi, quê quán. Khi đào lên, ba chúng tôi gói từng hài cốt, ghi rõ họ tên, báo cho gia đình các liệt sĩ đã có tên. Khi các gia đình đến nhận, đồng chí Tuyết Thu và Út Mãnh cùng gia đình đưa hài cốt liệt sĩ về tận quê. Nhiều gia đình xúc động nói với chúng tôi: “Nếu không có các em, các cháu thì tôi chẳng bao giờ gặp lại được người thân”. Những tâm sự ấy là lời động viên để chúng tôi vượt qua bao thủ tục rườm rà, bao khó khăn về vật chất và tinh thần để tiếp tục công việc của mình. Hàng trăm hài cốt của đồng đội nằm lại trên tuyến lửa 1C đã được Tuyết Thu, Út Mãnh và nhiều đồng chí khác công phu, kiên trì quy tập về. Một Đoàn cựu TNXP đi quy tập hài cốt đồng đội được thành lập. Tôi bận công tác Hội nên không tham gia được, Tuyết Thu và Út Mãnh tiếp tục tham gia và có nhiều đóng góp lớn cho nghĩa cử cao đẹp ấy. Đến nay, phần lớn hài cốt của đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C, rải rác khắp mấy chục địa điểm từ địa bàn Hà Tiên – Vĩnh Tế – Ba Hòn kéo dài xuống lộ Cái Sắn – Kiên Giang đã được quy tập về các nghĩa trang, nhiều người trở về với quê hương, bản quán, người thân. Đó là điều khiến mỗi chúng tôi như được an ủi, vỗ về mỗi dịp tháng 7 mênh mang khơi gợi ký ức máu lửa, khiến chúng tôi như sống lại một thời đã sống quên mình cho độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.

———-

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy
Bài 2: Trở lại Ba Hòn

HỒNG HẢI
qdnd.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Bài 2)

Bài 2: Trở lại Ba Hòn

QĐND – Hành trình đi quy tập hài cốt đồng đội của các nữ TNXP trên tuyến lửa 1C bắt đầu vào năm 1997. Năm đó, các cựu TNXP được tụ họp nhân dịp khánh thành Tượng đài TNXP đường 1C ở Kiên Giang. Tổ 3 người, Minh Tâm, Tuyết Thu và Út Mãnh hết sức vui mừng, gặp lại nhiều đồng đội của mình. Nhớ những đồng đội thân yêu đã vĩnh viễn ra đi, chị và các bạn hẹn nhau cùng đi một chuyến, tìm về góc núi, ven rừng; nơi đồng đội mình đã từng nằm lại trong những ngày chiến tranh ác liệt năm xưa.

Và những trang nhật ký đi tìm đồng đội của chị Lâm Thị Minh Tâm bắt đầu từ đây. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc nguyên văn những trang nhật ký xúc động này.

14 giờ ngày 2-8-1997

Đúng hẹn, tôi, Thu, Phượng, Thông cùng nhau lên đường.

Ngồi trên chuyến xe đò bon bon về thị xã Rạch Giá trong mưa bão, sao lòng tôi cảm thấy nóng ran, mong cho đến nơi thật nhanh để được nghe kế hoạch của cuộc hành trình.

Đi ngay đợt mưa bão, chắc sẽ rất khó tìm. Song chúng tôi đều nhất quyết ra đi, vì cái lạnh hôm nay đâu bằng cái lạnh của đồng đội mình hơn hai mươi năm qua vẫn còn nằm giữa rừng núi mênh mông, hiu quạnh.

Đến thị xã Rạch Giá hơn 5 giờ chiều, các anh đón chúng tôi tại khách sạn Thanh Niên. Mọi người đã đến đúng hẹn. Hồng Thắm ở TP Hồ Chí Minh cũng đã đến. Cần Thơ năm người, mới có bốn, còn thiếu chị Tám Điền ở Vị Thanh. Chị điện thoại đến, hẹn có mặt trước 7 giờ sáng 3-8.

Hơn 7 giờ sáng, ngày 3-8-1997

Chúng tôi tập trung tại Tỉnh đoàn Kiên Giang chờ chị Tám Điền đến là xuất phát. Rất nhiều người ủng hộ chúng tôi trong chuyến đi này, anh Thống, Bí thư Tỉnh đoàn Kiên Giang, anh Hà, Đài Truyền hình Kiên Giang, anh Giang, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Kiên Giang. Tuy các anh không cùng đơn vị, nhưng đã cùng kề vai, sát cánh với chúng tôi trong những ngày chiến đấu oanh liệt trên đất Ba Hòn năm ấy.

Khu di tích Hòn Đất. Ảnh minh họa/internet.

Kế hoạch đầu tiên ở phía Hòn Đất là tìm nữ đồng chí Sáu Bé, bị biệt kích bắn gần mé biển vùng Hòn Đất. Kế đó, tìm về những cửa hang nơi đơn vị chiến đấu với địch, bị chúng bao vây hơn 5 tháng ở cả Hòn Đất, Hòn Me. Chị Tám Hoa nằm lại nơi đây.

Hơn 9 giờ sáng, chúng tôi đến xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất. Các anh Hà, Giang vào báo cáo với xã mục đích của đoàn đi. Được xã nhiệt tình giúp đỡ và cử một cán bộ phụ trách thương binh – xã hội, cho một vỏ máy cùng đi với chúng tôi.

Đã hơn hai mươi năm rồi, cảnh vật hoàn toàn thay đổi, không còn một dấu vết gì của ngày ấy cả. Rừng cây mấm, rá năm nào, thay vào đó là những rẫy bí xanh um, đang mùa nở hoa vàng rực. Muốn tìm lại, nhưng nơi ấy thật khó quá! Chỉ còn cách đi tìm những người sống trước đây, nhờ họ chỉ dẫn chúng tôi.

Xuồng máy đi mấy giờ đồng hồ, hết kinh này đến rạch khác, vẫn chưa tìm được.

Gần 12 giờ trưa, chúng tôi để bớt lại một vài người sức khỏe kém, ở tạm nhà dân, mượn một xuồng máy nhỏ tiếp tục đi. Lúc này chỉ còn có anh Giang, Hà, Thống, chị Tám Điền và tôi.

Đi đến một con rạch nữa, mưa cũng đang trĩu hạt. Chúng tôi mặc áo mưa lên hỏi thăm một nhà dân. Một em nhỏ nhanh lẹ chạy ra chỉ chúng tôi:

– Kìa! Ngang con rạch có gốc me lớn lắm. Hồi mới về ở đây, tối, ai đi qua lại ngang gốc me này cũng đều thấy bóng người con gái mặc đồ đen, còn rất trẻ…

Tuy không tin vào mộng mị, nhưng những điều em nhỏ kể sao trùng hợp quá, tôi mừng thầm là mình tìm đúng nơi rồi. Nghe xong, mấy anh em liền vượt qua chiếc cầu khỉ bắc ngang con rạch nhỏ, đến gốc me. Sau khi hỏi thăm lai lịch của gốc me, tôi hỏi chị chủ nhà:

– Chị ơi! Gần đây có hố bom nào lớn không?

– Có, hố bom lớn lắm ở ngoài kia. Phía trước có hàng dừa là con mương lạn ngày xưa…

Mừng quá, mấy anh em lội ra ngay. Nhìn hố bom vẫn còn nguyên vẹn, nước vẫn trong veo như ngày nào. Lặng nhìn cảnh vật hôm nay, những kỷ niệm ngày nào hiện về trong tôi…

Hôm ấy, vào lúc 10 giờ ngày 12 tháng 4 năm 1971, mấy anh em đang nghỉ trưa, biệt kích vào nổ súng, các anh kịp thời chiến đấu. Khi giặc ồ ạt tràn qua, tôi và Sáu Bé vừa chạy ngang qua hố bom này thì Bé bị trúng đạn, ngã ngửa trên mặt nước hố bom. Tôi cứ ngỡ nó té, liền đứng lại gọi: Bé ơi! Bé! Thấy nó vẫn nằm yên, máu vọt ra đỏ cả một vùng. Tôi biết Bé đã hy sinh. Trên đầu “cán gáo”, trực thăng vũ trang, ngoài biển pháo hạm bắn lên, dưới đất thì bộ binh, không còn đường thoát, mấy anh em chỉ còn kịp chém vè (chạy – PV) vào một đám rán khô, rút chốt lựu đạn chờ chúng đến để cùng “chia”. Bọn này cũng nhát gan, đánh vào xong, rút ra ngay, không dám lùng sục nên mấy anh em hụt chết.

Tan giặc trở về, các anh vớt Bé lên, bộ quần áo đen mặc trong mình, ướt đẫm. Tìm được miếng cao su che tăng, bứt dây rừng bó Bé lại, đem đến chôn cạnh gốc me này. Khi chôn xong mấy anh em quay về đơn vị ở Hòn Đất. Đi mới hơn trăm mét, pháo hạm bắn lên làm bay mất nấm mộ, các anh phải ở lại đắp cho xong mới yên lòng đi tiếp. Từ ấy đến nay tôi mới có dịp trở lại.

Những đặc điểm cần tìm đã có đủ rồi, nhưng chưa đào tìm được vì nước còn cao quá. Chúng tôi đốt ít nén nhang, đem bánh ra cúng để ấm lòng đồng đội trong một chiều mưa bão và hứa với vong linh Bé rằng một ngày không xa, chúng tôi sẽ trở lại đưa Bé về nghĩa trang yên nghỉ và báo cho gia đình biết để viếng thăm. Chúng tôi trở về xã Bình Sơn.

Cơm nước xong hơn 4 giờ chiều, chúng tôi tranh thủ leo vào hang Hòn Me. Mưa liên tục, đất đá trơn trượt, anh Hà, Giang vẫn hăng hái đốt đuốc dẫn chúng tôi lần dò tìm tới những cửa hang, nơi đơn vị các anh, đơn vị chúng tôi chiến đấu ngày nào… Dù thời gian cứ trôi theo năm tháng, tôi vẫn nhớ như in… Đó là những giờ phút cuối cùng, giặc đã vây kín các cửa hang, gọi ta ra hàng. Đơn vị chúng tôi cùng đơn vị các anh phải chiến đấu suốt ngày đêm, giành với địch từng cửa hang, hốc đá, để bảo vệ cho cả tiểu đoàn tân binh miền Bắc mới vào chi viện cho miền Tây. Chỉ còn 25 phút nữa, được lệnh khẩn rút ra khỏi Hòn, Ban chỉ huy Đại đội chúng tôi đang hội ý bàn kế hoạch rút cho an toàn, bỗng nghe một tiếng nổ chát tai, đất đá đổ rào rào. Chúng tôi chạy tới, thì ra, một trái M79 địch bắn lọt vào cửa hang. Hiếu và Tám Hoa bảo vệ nơi ấy bị thương hết. Tám Hoa bị nặng quá, ít phút sau đó chị đã trút hơi thở cuối cùng.

Trong giờ phút khẩn trương quyết liệt này, chỉ còn kịp bó chị lại, để tại nơi ở hằng ngày. Tất cả đơn vị từng người, từng người đi qua cúi đầu chào vĩnh biệt để chị ra đi. Nỗi đau này, kỷ niệm này làm sao xóa nhòa trong tâm trí của chúng tôi. Giờ chúng tôi quyết tìm đến cửa hang, nơi để thi hài của chị thì được biết sau đó địa phương đã đưa ra nghĩa trang Hòn Đất rồi. Chúng tôi cố tìm thăm mộ và khắc tên cho chị.

Gần 6 giờ tối, không còn qua Hòn Đất kịp, chúng tôi tranh thủ đến viếng mộ chị Sứ, người con gái anh hùng trên đất Ba Hòn. Nơi đây, lúc đơn vị chiến đấu là điểm pháo của địch từ Hòn Sóc bắn qua. Xung quanh phần mộ ngày nào cũng bom cày, đạn xới. Hôm nay, ngôi mộ của chị đã được xây dựng khá khang trang. Trời mưa ẩm ướt, đốt cháy được bó nhang để viếng chị thật khó khăn.

Hết một ngày tìm kiếm, đoàn chúng tôi trở về thị xã Kiên Giang. Trên đường qua nghĩa trang Hòn Đất, dù trời đã tối, chúng tôi cũng phải dừng lại, đi tìm người quản lý để biết mộ chị Tám Hoa. Chẳng may người ấy mới tiếp nhận nên không rõ, đành phải nhờ anh Hà, Giang tìm giùm.

Xong nghĩa vụ phía Hòn Đất, chia tay với các anh ở Kiên Giang, em Thông có việc phải quay về, còn lại sáu anh em: Bảy Phi, Tám Điền, Thắm, Thu, Phượng và tôi đi về Hà Tiên – nơi chiến trường đầy gian lao và ác liệt, nhiều kỷ niệm nhất, cũng là nơi nhiều đồng đội tôi đã ngã xuống…

Sáng hôm sau, 4 tháng 8 năm 1997

Xe các anh Đài Truyền hình Kiên Giang đưa chúng tôi về Sư đoàn 4, trong gió mưa tầm tã…

Hơn 10 giờ sáng, đến Ban chỉ huy sư đoàn, anh Năm Núi, Sư phó (Phó sư đoàn trưởng – PV) tiếp chúng tôi. Khi nghe nói mục đích của đoàn đi, anh nói vui: “Đúng nguyên tắc, có giấy giới thiệu hẳn hoi chúng tôi mới tiếp các anh chị, nhưng trước tấm lòng cao quý của anh chị ở thời buổi này, hơn nữa, tìm đồng đội cũng là trách nhiệm chung của mọi người, tôi hứa sẽ hỗ trợ các anh chị đến cùng”. Anh cũng tâm sự với chúng tôi, ngày xưa các anh đã từng kề vai sát cánh với thanh niên xung phong. Các anh chị còn gian khổ hy sinh hơn chúng tôi, nhiều khi chuẩn bị cho trận đánh, các anh chị phải mang vác đạn pháo đến trước. Khi xong trận phải tải thương và thu dọn chiến trường…

Cơm nước xong trời đã xế chiều, mưa vẫn không ngớt. Các anh cho xe đưa chúng tôi đến vàm kinh Chiến Thắng. Nơi này vào năm 1969, đơn vị tôi đưa quân về miền Tây, lúc trở về bị biệt kích gài mìn dưới sông và không kích ở trên đầu doi Tám Ngàn. Khi đoàn ra mìn nổ, biệt kích Mỹ đi pho-ca bao vây 8 đồng đội của tôi chìm xuống dòng sông này, 5 người không thấy thi thể, còn 3 người trôi ra “ấp chiến lược” Vàm Rầy, dân lén vớt lên chôn cất. Chúng tôi tìm đến những người đã an táng các anh chị ngày ấy, họ đều đi vắng, phải ra tới mé biển Vàm Rầy. Khi gặp chúng tôi, nhờ diễn tả lại hình dáng của từng người, tôi biết ngay là chị Ba Cam và Út Mười Lăm. Còn một nam mặc đồ bộ đội, tôi không nhớ rõ là người nào vì quá lâu rồi.

Hỏi thăm xong, chúng tôi nhờ người ấy dẫn đến những nơi vớt từng người và chỗ an táng, thì được biết, ở xã đã đưa các anh, chị về nghĩa trang Hòn Đất cùng đồng chí xã đội phó hy sinh. Chúng tôi đã tìm đến mộ và nhờ những người chăm sóc nghĩa trang khắc tên cho các anh, chị. Còn 5 người không biết trôi dạt đến nơi nào không ai nhìn thấy. Ôi đau xót quá!

——-

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy

Bài 3: Điều không thể mất

Hồng Hải
qdnd.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Bài 1)

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy

QĐND – “Nhiều đêm gặp lại đồng đội mình trong giấc mơ, khi tỉnh giấc tôi luôn băn khoăn suy nghĩ và thầm ao ước được trở về chiến trường xưa, tìm nơi đồng đội mình đã ngã xuống năm nào, đem niềm an ủi dù rất muộn màng về cho gia đình họ. Đó là bổn phận, là trách nhiệm của những người còn sống hôm nay” – chị Lâm Thị Minh Tâm, Chủ tịch Hội Cựu TNXP thành phố Cần Thơ tâm sự với tôi như vậy.

Tôi biết chị Lâm Thị Minh Tâm đã lâu. Năm 2005, khi Hội Cựu TNXP Việt Nam giới thiệu các gương sáng cựu TNXP, chúng tôi đã rất xúc động khi nghe chị kể chuyện cùng với hai đồng đội (Tô Thị Tuyết Thu, Lê Thị Út Mãnh) thành lập tổ quy tập hài cốt đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C.

Tuyến lửa 1C là tuyến nào? Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dân tộc ta đã hình thành nên những con đường vận chuyển huyền thoại. Đường 1C có lịch sử oanh liệt, hào hùng không khác gì hai tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển và xuyên Trường Sơn mà sử sách dân tộc đã mãi khắc ghi. Tuyến lửa 1C là đoạn nối tiếp giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, kéo dài từ biên giới nước bạn Cam-pu-chia qua kênh Vĩnh Tế, Hà Tiên, Hòn Đất… cho đến kênh Cái Sắn (Kiên Giang). Vũ khí và con người từ hậu phương lớn phải đi qua con đường độc đạo này để đến với đồng bào miền Tây. Bao xương máu của lực lượng TNXP đã đổ xuống con đường này, không bút mực nào tả xiết. Đặc biệt hơn, lực lượng TNXP ở tuyến 1C chủ yếu là nữ. Họ đối mặt với lực lượng địch luôn đông gấp bội, với bom, đạn, đói khát và thiếu thốn trăm bề… nhưng tất cả đã không sờn lòng, nản chí, người trước ngã, người sau xông lên, quyết không để vũ khí rơi vào tay giặc và đưa kịp về chiến trường. Điểm khác của tuyến đường 1C với những chiến trường khác là lực lượng TNXP trụ ở đây, dù đánh giặc hay bị giặc càn quét, không được rút đi nơi khác, mà phải kiên gan giữ vững vị trí, dù địch có càn quét, phản kích, đánh bồi, đánh nhồi ngay nơi giặc biết rõ tên từng người, từng công sự. Ta vẫn phải kiên cường tồn tại ở nơi đã “lộ”, bởi đây là tuyến đường vận chuyển độc đạo, không có con đường nào khác. Những cuộc quần thảo khốc liệt giữa ta và địch cũng từ đó mà ra. Có người đã nói ngắn gọn: 1C là nơi sắt thép cũng bị nung chảy, tan ra nhưng con người đã đi qua được.

Minh Tâm là một chiến sĩ TNXP đã có mặt từ ngày đầu và cùng đơn vị bám trụ ròng rã 8 năm trên “tọa độ chết” ấy, cho đến ngày toàn thắng của dân tộc. Ngày 19-5-1967, mới 16 tuổi, chị đã âm thầm trốn nhà nhập ngũ vào Đại đội TNXP Nguyễn Việt Khái III do Tỉnh đoàn Cà Mau tổ chức. Cuộc chiến đấu khốc liệt nơi chiến trường 1C giờ đây là ký ức không thể nào phai mờ trong tâm hồn chị. Khi chúng tôi vào Cà Mau, rồi lần theo địa chỉ của những cựu TNXP cung cấp, tìm được chị ở ngay giữa thành phố Cần Thơ thì chúng tôi rất đỗi vui mừng. Nhưng khi hỏi chị về chuyện cũ, thì vì những lý do riêng, chị lại muốn vùi sâu, chôn chặt những kỷ niệm đó.

Các diễn viên trong vai thanh niên xung phong hoạt động trên tuyến đường 1C trong một cảnh của bộ phim truyện truyền hình Huyền thoại 1C dài 20 tập (kịch bản Anh Động, đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, Hãng phim Tây Nam sản xuất). Ảnh minh họa/internet.

Minh Tâm có một cuốn nhật ký, ghi lại rất nhiều sự kiện đã trải qua trong cuộc đời chiến đấu cũng như hành trình đi tìm đồng đội về sau… nhưng chị không muốn tiết lộ. “Nước chảy, đá mòn”, chúng tôi đã kiên trì thuyết phục. Chúng tôi nán lại Cần Thơ, mỗi tuần, đến thăm gia đình chị vài ba lần, nhắc lại những câu chuyện một thời sôi nổi. Rồi theo lời khuyên của chị, tôi đã đi về Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Kiên Giang, Vĩnh Long… gặp được rất nhiều cựu TNXP trên tuyến lửa 1C. Trong những câu chuyện mà họ kể, hình ảnh nữ chiến sĩ Minh Tâm gan dạ, dũng cảm lại hiện ra sáng rõ.

Khi chúng tôi trở lại Cần Thơ, dường như cảm động trước tấm lòng của phóng viên Báo Quân đội nhân dân, chị Minh Tâm đã cởi mở hơn rất nhiều. Bao nhiêu tài liệu, hiện vật trong cuộc đời chiến đấu, chị đều cung cấp cho chúng tôi. Rồi chị tâm sự: “Tôi cũng như bao đồng đội TNXP khác có may mắn được trở về với đời thường. Niềm tâm sự đau đáu nhất của tôi là nghĩ về những người đã ngã xuống, còn nhiều lắm, vẫn nằm lại nơi đồng hoang, nước độc. Tôi cũng có một kỷ niệm không bao giờ quên, muốn được kể lại”.

Câu chuyện không bao giờ quên ấy xảy ra vào trung tuần tháng 5-1971. Lần đó, Ban chỉ huy Liên đội TNXP 1 của tuyến đường 1C cử cán bộ xuống triển khai nghị quyết của Đảng ủy về việc chuẩn bị rút ra khỏi Hòn Đất, Hòn Me, trở về gần biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia, chuyển hướng hoạt động chủ yếu về phía sông Tiền. Thời gian này, địch tập trung đánh quyết liệt vào Hòn Đất, Hòn Me, căn cứ chính của Liên đội. Khi đó, nhiều cán bộ ở cơ sở bị giặc bắt, chịu không nổi tra tấn, đã khai với địch về đội hình và sự bố trí của Liên đội TNXP 1. Sư đoàn 9 của địch vừa đến thay Sư đoàn 21 nên rất hung hãn chỉ chực lập công. Bọn này có nhiều kinh nghiệm càn quét ở địa hình có nhiều hang núi. Khi còn trên đất bạn Cam-pu-chia, đơn vị của Minh Tâm đã đọ súng với chúng ở Sóc Mẹt. Hang nào muốn xuống đánh, chúng lượm đá chọi thử, nghe xem tiếng đá nông sâu rồi mới đánh. Lực lượng ta lúc đó quá ít, nhiệm vụ phải trụ lại căn cứ Hai Hòn cũng đã xong nên cấp trên quyết định tập trung trụ ở Hòn Me, chuyển hết số thương binh đi rồi rút lui bảo toàn lực lượng.

Đêm chuyển thương binh ở Bệnh xá Hòn Đất thật cảm động. Ngày 15-5-1971, giặc chiếm tất cả các hang hòn. Những tên phản bội dẫn giặc đến từng hang gọi tên anh chị em TNXP ra hàng. Ta không có cách nào đưa thương binh ra được, đành phải cử người bò vào động viên từng thương binh tự bò ra khỏi hang để TNXP đón phía dưới khiêng hoặc dìu đi. Nhiều thương binh bị gãy chân, tay vốn khó cử động, vậy mà trước tình thế đó đã tự bò ra khỏi hang. Đặc biệt nhất là có 3 thương binh bị bệnh não, cứ la hét ầm ĩ, không cách nào đưa đi được. Đơn vị Minh Tâm phải cử một tổ bảo vệ ở lại, tìm đường hầm bí mật đưa 3 thương binh ra. Nhưng bốn bên là giặc dày đặc, lại có bọn phản bội làm tai mắt rình mò, bọn địch đã thiết lập một mạng lưới vây kín các mặt. Các chiến sĩ bảo vệ nọ đã hy sinh cùng 3 thương binh. Còn trong số các thương binh tự bò ra được, có người đi lạc đường, Minh Tâm cùng đồng đội len lỏi trong đêm tối đi tìm, khi gặp được nhau, họ ôm lấy nhau mà rơi nước mắt.

Chiều 17-5-1971, Minh Tâm khắc sâu kỷ niệm đau buồn mà mãi cho đến ngày hôm nay, chị vẫn không sao quên được. Đó là sự hy sinh của người đồng đội Tám Hoa, người đã cùng chị chia sẻ mọi buồn vui trên tuyến đường lửa. Tám Hoa hy sinh đúng vào lúc đơn vị nhận lệnh rút khỏi hang, giữa lúc địch đã vây kín bên ngoài. Không còn thời gian chôn cất bạn, cũng không còn cơ hội mang bạn đi theo, Minh Tâm và đồng đội đã chăm sóc Tám Hoa lần cuối, rồi đặt người đồng đội vào đúng vị trí thường ngày chị vẫn ngủ, làm động tác chào trước lúc rút đi. Minh Tâm ngậm ngùi, lòng trào dâng bao cảm xúc, muốn gọi tên bạn nhưng cổ đã nghẹn lời. Cô thì thầm: “Hoa ơi, Tâm cùng tất cả đồng đội sẽ trả thù cho bạn”.

Cái chết của Tám Hoa chỉ là một trong rất nhiều sự hy sinh diễn ra ngay trước mắt Minh Tâm. Để rồi giờ đây, mỗi khi kỷ niệm ùa về, chị lại đứng ngồi không yên với muôn vàn cảm xúc. Chính vì thế, trên hành trình quy tập hài cốt đồng đội về sau này, việc tìm kiếm hài cốt của liệt sĩ Tám Hoa được chị Minh Tâm đặc biệt chú ý.

“Lần đầu tiên chị làm công tác thương binh, tử sĩ là vào khoảng giữa năm 1968, em ạ! Đó là quãng thời gian chị đang thử thách, chuẩn bị kết nạp Đảng” – chị Minh Tâm bất chợt nhớ lại.

Sống trên tuyến đường 1C, điều khiến các TNXP ngại nhất là thời điểm giao mùa, con đường nửa nước, nửa khô. Mỗi đêm đi công tác, qua mấy chục cây số lội sình, lội nước là điều rất gian khổ, cơ cực. Phải xắn quần để lội sình thì bị cỏ bắc cắt nát ống chân, qua đêm bị mủ sưng tấy, trắng bệch, chị em phải lấy nước gạo xát vào, rồi lại tiếp tục đi. Thời gian này, bộ đội chủ lực từ miền Bắc vào tăng cường cho miền Tây, nối nhau đi qua tuyến đường lửa máu mà đơn vị Minh Tâm phụ trách. Ta càng hành quân nhiều, đường 1C càng bị lộ, có lúc địch đánh ta hy sinh nhiều quá, các nam TNXP đi chôn cất không đủ, phải phân công cả nữ TNXP đi cùng. Lần đầu đi chôn cất đồng đội của Minh Tâm là vào dịp ấy. Đúng hôm chị vừa đi công tác về, được chỉ huy cho biết: Hai TNXP tên là Thim và Nhỏ được cử chở thương binh về miền Tây, mới tới Kinh Bèo thì bị máy bay cán gáo của địch bắn hy sinh hết. Cấp trên cử Minh Tâm phụ trách 4 đồng chí nữa đi chôn cất.

Đó quả là thử thách lớn đối với cô gái mới 17 tuổi. Nhiệm vụ được giao, Minh Tâm tự củng cố tinh thần rồi lên đường. Đến vị trí quy định thì thi thể 2 đồng đội đã hy sinh mấy ngày rồi, cơ thể bị phân hủy, bốc mùi rất khó chịu. Trước đó, máy bay địch rà qua, lại bắn thêm mấy loạt đạn khiến thi thể của hai đồng chí rã rời, nổi lềnh bềnh trên mặt sình. 5 chiến sĩ TNXP trẻ tuổi vẫn còn sợ ma, không ai dám đi trước nên hè nhau dàn hàng ngang cùng tiến. Vậy mà khi lại gần, thấy đồng đội mình đã hy sinh, lòng thương tiếc trỗi dậy dẹp đi mọi sợ hãi, cả 5 người sát cánh bên nhau tìm cách chôn cất bạn, ngụy trang cẩn thận trước khi trở về đơn vị. Từ lần đầu thử thách ấy, nhiệm vụ chôn cất đồng đội không còn là nỗi sợ hãi của Minh Tâm nữa.

———–

Bài 2: Trở lại Ba Hòn

Hồng Hải
qdnd.vn

Những ngày được gặp Bác ở An toàn khu

Đi theo hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vinh dự lớn nhất của cụ Nguyễn Quang Thuận, 86 tuổi, ở xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là những lần được về gặp Bác Hồ ở An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên), được Bác tặng quà, gắn Huy chương, chụp ảnh với Bác. Cụ Thuận kể:

Sáng sớm ngày 19-5-1954, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 Pháo cao xạ thông báo cụ và bốn chiến sĩ xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ về An toàn khu báo công và chúc mừng sinh nhật Bác. Nhận tin này, cụ vui mừng chạy đi khắp căn cứ Mường Phăng (Điện Biên) báo tin vui với đồng đội. Ngay sáng hôm ấy, cụ cùng Phạm Thế Nhuận, Đại đội trưởng đánh sân bay Mường Thanh; Hoàng Đăng Vinh, chiến sĩ bắt sống tướng Đờ-cát; Phạm Văn Phan, công binh đưa bộc phá vào giữa đồi A1 và Bạch Ngọc Giáp, chiến sĩ pháo mặt đất từ căn cứ Mường Phăng về An toàn khu.

Hồi đó, đường đi còn rất khó khăn, mọi người đến An toàn khu đã hơn 6 giờ chiều, được đồng chí Trường Chinh đón tại Nhà khách của Trung ương, dặn dò các chiến sĩ vài điều rồi dẫn mọi người đi ăn cơm. Khoảng 10 giờ 30 đêm ấy, vì đi đường mệt, cả năm anh em đang thiêm thiếp ngủ thì Bác đến. Mọi người choàng dậy đã thấy Bác ngồi bên giường. Ai cũng bất ngờ, bàng hoàng, xúc động. Bác ân cần hỏi chuyện mọi người và khuyên các chiến sĩ đi ngủ để giữ gìn sức khỏe. Từ lúc Bác ra khỏi phòng, mọi người không ai ngủ, cứ ngồi kể chuyện về Bác cho đến sáng. Hôm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo tin lát nữa mọi người sẽ được gặp Bác, báo cáo chiến công với Bác và Bộ Chính trị. Nghe vậy, ai cũng sung sướng, hồi hộp chờ đợi. Khoảng 9 giờ 30 phút, Bác đón mọi người ngay sân vườn, phía trước lán trại Bác ở và làm việc. Cùng đứng với Bác ở phía sau có Bác Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các đồng chí Trường Chinh, Văn Tiến Dũng và đồng chí Lê Liêm, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Bác tươi cười bắt tay hỏi chiến công từng người trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Bác hỏi cho vui chứ thực ra ai lập công như thế nào Bác đã biết.

Sau khi nghe mọi người kể về chiến công và chúc thọ Bác, Bác bảo năm chiến sĩ đứng thành hàng ngang để Bác gắn Huy chương Chiến công. Bác còn nhờ đồng chí Các-men (Liên Xô) chụp ảnh cho Bác, Bộ Chính trị và các chiến sĩ xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chụp ảnh xong, Bác bảo các đồng chí trong Bộ Chính trị đưa các chiến sĩ thăm An toàn khu, xong lại về gặp Bác.

Những ngày sau đó, trở về đơn vị, ai cũng phấn khởi, kể lại chuyện cho đồng đội nghe về những ngày được sống bên Bác ở An toàn khu. Tạm dừng câu chuyện, cụ Thuận đứng dậy mở cánh tủ lấy ra một hộp gỗ nhỏ, trong đó đựng rất nhiều Huân chương, Huy chương và tấm ảnh đen trắng được ép bọc rất cẩn thận. Đó là ảnh cụ Thuận cùng bốn chiến sĩ chụp chung với Bác và Bộ Chính trị ở An toàn khu. Cụ coi đây là một kỉ vật mang theo suốt đời.

Tiếp nối câu chuyện, cụ Thuận bảo, đúng một tháng sau sinh nhật Bác, năm chiến sĩ lại được trở về gặp Bác ở An toàn khu. Lần này, Bác đãi cơm mọi người ở ngay trong khu lán của Người. Vừa ăn, Bác vừa hỏi chuyện và gắp thức ăn cho từng người. Sau bữa ăn, Bác bảo đồng chí Trường Chinh đưa năm chiến sĩ đi thăm vườn rau của Bác. Đồng chí Trường Chinh kể, đây là vườn rau do Bác tự trồng, hàng tháng, Bác góp cho nhà bếp 15 kg rau và mỗi bữa Bác vẫn dành một nắm gạo cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Trước khi chia tay, Bác đưa cho mỗi người một gói quà gửi về đơn vị và chuyển lời thăm hỏi tới anh em cùng gia đình. Rời An toàn khu mà lòng cụ Thuận thấy ấm áp, tai vẫn văng vẳng lời Người dạy bảo. Tình cảm của Bác đã tạo cho cụ Thuận một sức mạnh, tiếp tục cuộc trường chinh chiến đấu cho đến ngày đất nước thống nhất.

Rời quân ngũ trở về quê hương, phát huy tinh thần người chiến sĩ xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa, cụ Thuận tiếp tục cống hiến công sức để xây dựng quê hương. Nhiều năm cụ là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã Đại Hợp, Hội trưởng Hội Bảo thọ, hoạt động tích cực trong Hội Cựu chiến binh và Hội Người cao tuổi…

Quốc Sĩ

Theo http://nguoicaotuoi.org.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn