Vài nét về sự phá hoại Hiệp định Paris của chính quyền Sài Gòn

Kỳ 1: Thái độ hai mặt của Thiệu

QĐND Online- Hiệp định Paris về “Chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết ngày 27.01.1973. Nhưng trước khi Hiệp định được ký kết, chính quyền Sài Gòn đã có âm mưu, thủ đoạn cụ thể hòng phá hoại Hiệp định. Ngày 23.01.1973, Nguyễn Văn Thiệu đã ban hànhCông điện số 004-TT/CĐ gửi Thủ tướng chính phủ, các đô, tỉnh, thị trưởng, Tổng Tham mưu trưởng và tư lệnh các quân đoàn, quân khu “ra lệnh treo cờ trên toàn quốc” nhằm “tràn ngập lãnh thổ bằng cờ quốc gia để xác nhận phần đất và phần dân” [1]. Trong đó ấn định ngày giờ cụ thể: “Ngày giờ có thể là 12 giờ trưa, ngày thứ Tư, 24 tháng Giêng năm 1973. Ngày giờ này sẽ được xác nhận vào sáng thứ Tư, 24 tháng Giêng năm 1973 vừa bằng công điện vừa bằng hai đài phát thanh quốc gia và quân đội” [2].

Cùng ngày, thực hiện công điện của Nguyễn Văn Thiệu, Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn ra lệnh cho quân đội Sài Gòn thực hiện chiến dịch “Tràn ngập lãnh thổ”. Cụ thể: “Yêu cầu các nơi nhận lãnh ngay Quốc kỳ tại cơ quan tiếp vận liên hệ. Theo tiêu chuẩn mỗi quân nhân ba lá và phân phối cho toàn thể quân nhân các đơn vị hành quân. Thực hiện cắm cờ trong vùng hành quân tại các vị trí trọng yếu: Đình, chùa, nhà thờ, trường học, cầu cống, đồi núi, cao điểm, nhà dân chúng…” [3].

Sau một ngày, Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, ban hành Công điện mật hỏa tốc ra lệnh cho các đô, tỉnh và thị trưởng phải cấp tốc thực hiện: “Khẩn ra thông cáo nhắc nhở đồng bào, bắt buộc mỗi tư gia phải treo một quốc kỳ kể từ 12 giờ ngày 24.01.1973. Mỗi trụ sở cơ quan công, bán công, các tòa hành chính đô, tỉnh, thị, trụ sở quân, xã, phường, khóm, ấp, các nhà buôn, xí nghiệp, hãng xưởng, trụ sở tôn giáo, chánh đảng, đoàn thể hiệp hội, các công viên, các nơi tiện ích công cộng và mọi nơi mà quý tòa xét thấy cần thiết phải treo quốc kỳ kể từ ngày giờ nói trên.

Trực tiếp kiểm soát tổng quát và khẩn thành lập các toán kiểm soát gồm có CB/PTNT (Cán bộ phát triển nông thôn), viên chức phường, xã, khóm ấp, cảnh sát quốc gia và nhân dân tự vệ để thường xuyên kiểm soát.

Tất cả tư gia cũng như trụ sở, công sở đô, tỉnh, thị, quận, xã, phường, khóm, ấp đều phải dự trù hai lá cờ, một lá để sử dụng ngay và một lá để dự phòng.

Chỉ thị cơ quan an ninh, cán bộ quân chính mọi cấp… hăng hái, tích cực vào việc triệt hạ hoặc bôi xóa ngay những người cộng sản được treo hoặc vẽ sơn tại bất cứ nơi nào, đồng thời thay thế ngay vào đó bằng cờ quốc gia.

Mỗi cán bộ và quân nhân hoạt động tại chỗ hoặc lưu động công tác phải mang theo mình ba lá cờ quốc gia để cấp thời có ngay cờ ứng dụng, tùy trường hợp” [4].

Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, bà Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định

Khi đã có bản Dự thảo Hiệp định Paris trong tay, Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn của chính quyền Sài Gòn tiến hành phân tích từng câu chữ nhằm tìm kiếm “kẽ hở” để “lách luật”. Ngay câu đầu của Hiệp định ghi: “Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam” [5]. Từ “Các bên” được chính quyền Sài Gòn giải thích là “chỉ có hai phe tham dự hòa hội Ba Lê (tức Paris). Một phe là Việt Nam cộng hòa và đồng minh Hoa Kỳ và phe kia là cộng sản”3. Để từ đó kết luận là ở miền Nam Việt Nam chỉ có chính quyền Sài Gòn là “chính phủ hợp pháp duy nhất” mà không thừa nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo đúng tinh thần của Hiệp định.

Câu “Việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là vững chắc và không thời hạn” được ghi ở Điều 2, bị chính quyền Thiệu bắt bẻ “Bản tiếng Anh dùng chữ “durable and without limits of time” trong khi bản tiếng Việt lại dịch là “vững chắc và không thời hạn”. “Durablekhông có nghĩa là vững chắc, mà chỉ có tính cách lâu dài”. Và Điều 3, cụm từ “ở nguyên vị trí của mình” bị bóp méo thành “là tạm thời ở nguyên tại chỗ để thực hiện ngừng bắn, một cuộc ngừng bắn tại chỗ. Nên lưu ý một cuộc ngừng bắn tại chỗ không phải là một cuộc ngừng bắn da beo. Theo phương thức ngừng bắn tại chỗ, việc đóng quân của một đơn vị quân sự tại một địa điểm nào đó chỉ có tính cách tạm thời; địa điểm này vẫn thuộc chủ quyền của chính phủ Việt Nam cộng hòa. Vùng kiểm soát nói trong điều này có nghĩa là sự kiểm soát của các đơn vị quân sự, không phải là sự kiểm soát hành chánh” [6]. Đồng thời lợi dụng Mục c của Điểm 3 không quy định cụ thể về lực lượng vũ trang của các bên, chính quyền Thiệu đặt lực lượng “Cảnh sát Quốc gia” và “nhân dân tự vệ” của chính quyền Sài Gòn nằm ngoài phạm vi của Hiệp định [7]. Thực tế ngay sau đó, hai lực lượng này trở thành lực lượng chủ yếu dưới sự yểm trợ của chủ lực quân đội Sài Gòn, tiến hành nhiều cuộc chiến tranh “giành dân, lấn đất” với cách mạng. Qua đó cho thấy, trước dư luận chính quyền Thiệu luôn thể hiện thái độ cam kết nghiêm chỉnh thực thi Hiệp định Paris nhưng thực chất vẫn ngoan cố nuôi ý đồ chiến tranh, phá bỏ Hiệp định.

Từ những phân tích của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn, chính quyền Thiệu từng bước có những hành động cụ thể phá hoại Hiệp định Paris.

Chiến sĩ QĐNDVN đứng trên đỉnh hầm chỉ huy đã bị đánh sập của Lữ 3 Dù của quân ngụy tại cứ điểm 31. Ảnh tư liệu/internet.

Về quân sự, để che mắt dư luận, ngày 22.01.1973, Bộ Tham mưu quân lực chính quyền Sài Gòn ban hành Công điện số 3386/TTM/P341, Công điện số 7230/TTM/P345 ngày 17.02.1973Huấn thị số 310-27/TTM/P363 ngày 03.3.1973 về thực thi lệnh ngừng bắn. Nhưng trên thực tế, chỉ trong đêm 27.01 rạng ngày 28.01.1973, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 15 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên và 19 cuộc hành quân cấp tiểu khu và chi khu [8]/a>. Trong đó có các cuộc hành quân quan trọng:

Hành quân Đại bàng 72/M trong vùng Quảng Trị – Thừa Thiên; Hành quân Lam Sơn 63 tại Thừa Thiên; Hành quân Quang Trung 81 tại Quảng Nam; Hành quân Quyết Thắng 27A trong vùng Quảng Tín, Quảng Ngãi; Hành quân Đăkto 15 tại Kon Tum; Hành quân Đồng Thắng 1/BĐQ trong vùng Kon Tum – Pleiku; Chiến dịch Đồng Khởi 73/1 tại Bình Định, Tuyên Đức; Hành quân Toàn Thắng TB tại Hậu Nghĩa; Hành quân Cửu Long 7/11 trong vùng Định Tường – Kiến Phong – Kiến Tường – Campuchia; Hành quân Cửu Long 44/17 trong vùng Châu Đốc – Kiên Giang [9].

Theo tổng kết hoạt động tháng 01.1973, của Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn đến ngày 31.01.1973, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 694 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, gồm 603 cuộc cấp tiểu đoàn, 34 cuộc cấp trung đoàn và 57 cuộc cấp sư đoàn [10].

Theo báo cáo của lực lượng pháo binh quân đội Sài Gòn, bình quân hàng tháng trong năm, lực lượng này thực hiện hơn 200 cuộc hành quân lớn.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn


[1], 2. Công điện số 004-TT/CĐ ngày 23.01.1973, của Tổng thống chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[2]. Công điện hỏa tốc số 006-TTM/TC.CTCT/KH.1 ngày 23.01.1973, của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[3]. Công điện số 106/PThT/73/M ngày 24.01.1973 của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[4]. Hiệp định Pari về “Chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1235.
[5]. Phân tách và giải thích Hiệp định thư và Nghị định thư chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 18079.
[6]. Phân tách và giải thích Hiệp định thư và Nghị định thư chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam của Ủy ban liên bộ điều hợp ngừng bắn chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 18079.
[7]. Chính quyền Thiệu “Lực lượng Cảnh sát Quốc gia và nhân dân tự vệ không bị lệ thuộc vào điều này vì nó không phải là lực lượng chánh quy hay không chánh quy”.
[8]. Bản tổng hợp tình hình sáng 28.01.1973 của Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 449.
[9]. Bản tổng hợp tình hình sáng 28.01.1973 của Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 449.
[10]. Tổng kết hoạt động tháng 01.1973 của Bộ Tổng tham mưu quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 17778.

Ký ức tự hào về một Thủ đô anh hùng

(HNM) – Nhiều nhân chứng lịch sử đã tụ hội tại TP Hồ Chí Minh để tham dự cuộc tọa đàm “Hà Nội 12 ngày đêm, chuyện bây giờ mới kể” nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” do Đài Truyền hình thành phố phối hợp với Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức. Những ngày tháng hào hùng không bao giờ quên trên mảnh đất Thủ đô 40 năm về trước được tái hiện đầy xúc động, thiêng liêng, tự hào…

Dù sinh ra trên quê hương “5 tấn” – Thái Bình, thế nhưng trong ký ức của Trung tướng Phạm Tuân, người phi công Việt Nam đầu tiên bắn rơi máy bay B52 luôn chan chứa những ký ức về một Hà Nội kiên cường, bất khuất trước bom đạn kẻ thù. Ông tâm sự, được mời vào TP Hồ Chí Minh tham dự buổi tọa đàm là một vinh dự lớn, vì đây là dịp để ông và đồng đội họp mặt, ôn lại kỷ niệm.

Chiếc máy bay Mig 21 do Anh hùng Phạm Tuân điều khiển đã bắn rơi pháo đài bay B52 của Mỹ năm 1972. Ảnh tư liệu

“Chúng tôi đã phải rất vất vả để chống lại “pháo đài bay bất khả xâm phạm” của không lực Mỹ. Thế nhưng, với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, chúng tôi đã không lùi bước. Một chiếc, hai chiếc, ba chiếc… rồi nhiều pháo đài bay B52 đã bị bắn hạ là điều phi thường trong lúc lực lượng không quân của ta nhỏ bé hơn Mỹ rất nhiều vào thời điểm đó”. Trung tướng Phạm Tuân ví cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân Hà Nội lúc bấy giờ, không chỉ giáng một đòn bất ngờ vào tham vọng của Mỹ, mà còn cho thấy những người con của Thủ đô đã chiến đấu bằng ý chí, sự khôn ngoan và bằng những cách đánh riêng, sáng tạo, mà rất ít dân tộc có thể làm được.

Một nhân vật lịch sử khác, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 tên lửa Đinh Thế Văn, người đã chỉ huy đơn vị bắn rơi 4 máy bay B52, cũng bồi hồi nhớ lại những ngày tháng hào hùng. Ông Văn kể rằng, lúc đó chính quyền Mỹ tuyên truyền rằng B52 sẽ bay vào đánh phá Hà Nội như… đi du lịch, không một vũ khí nào của Việt Nam có thể bắn rơi. Ông đã cùng đồng đội dày công nghiên cứu và nắm được tất cả những đặc điểm, tính năng của máy bay B52. Chính sự chuẩn bị kỹ lưỡng đó của bộ đội tên lửa cùng với ý chí, quyết tâm, cách đánh linh hoạt, khéo léo, thông minh đã khiến nhiều “pháo đài bay” của Mỹ rơi rụng trên bầu trời Thủ đô.

Nhận định về cuộc chiến đấu kiên cường của những người cộng sản anh em, Đại tướng, chuyên gia Liên Xô Anatoli Ivanovich Khiupenen bày tỏ sự cảm phục về một đất nước tuy nhỏ bé nhưng anh dũng, phi thường: “Bản thân chúng tôi cũng không mấy tin tưởng là Việt Nam có thể đánh thắng một trong những lực lượng không quân mạnh nhất thế giới, mà máy bay B52 là biểu tượng cho sức mạnh hủy diệt của họ. Thế nhưng Việt Nam đã giành được chiến thắng oanh liệt”, Đại tướng Anatoli Ivanovich Khiupenen không giấu được xúc động, đôi mắt ông đỏ hoe nhìn sang người hùng Việt Nam bắn hạ máy bay B52 – Trung tướng Phạm Tuân. Hai người đồng chí đã dành cho nhau cử chỉ thân mật, trong tiếng vỗ tay nhiệt liệt của cả khán phòng.

Cùng có mặt tại buổi tọa đàm, nhà quay phim Nguyễn Việt Tùng bồi hồi, xúc động khi xem lại những cuốn băng tư liệu mà chính ông đã ghi lại về cảnh đổ nát mà những cỗ “pháo đài bay” của đế quốc Mỹ gây ra đối với Bệnh viện Bạch Mai, các khu dân cư, các tuyến phố Hà Nội và hình ảnh những chiến sĩ phòng không, không quân, những người lính trẻ Hà Nội vẫn bám phố phường để chiến đấu chống lại sức mạnh hủy diệt từ vũ khí tối tân của kẻ thù. Ông Tùng nhớ lại, một trong những cảnh quay xúc động nhất là cảnh người dân Hà Nội sơ tán khỏi Thủ đô, mà sau này xác định được danh tính của hai mẹ con trong đoàn người sơ tán ấy là bà Lê Thị Hương và chị Nguyễn Thị Phương. Có mặt trong buổi tọa đàm, hai nhân chứng lịch sử – hai mẹ con chị Phương cùng rưng rưng khi xem lại những thước phim quý giá về một thời điểm lịch sử vô cùng thiêng liêng mà oai hùng của Thủ đô.

Cuộc chiến đã lùi xa, trở lại TP Hồ Chí Minh trong một sự kiện đặc biệt, chuyên gia Liên Xô Anatoli Ivanovich Khiupenen bày tỏ sự ngỡ ngàng trước sự đổi thay của đất nước Việt Nam anh hùng: “Tôi còn nhớ như in vào những ngày tháng 12 năm 1972, khi tôi đặt chân đến Hà Nội chỗ nào cũng thấy đổ nát, bầu trời thì rực lửa. Vậy mà giờ đây Hà Nội thật khang trang và tươi đẹp. Tôi coi đó là một chiến thắng nữa của các bạn – chiến thắng trên mặt trận đổi mới, hội nhập”.

Trung tướng Phạm Tuân còn nhắc tới kỷ niệm khi tiếp xúc với những phi công Mỹ bị bắn rơi phải cúi đầu khuất phục trước ý chí của quân và dân Hà Nội. “Tôi nhớ lúc gặp một phi công lái B52 của Mỹ tại nhà tù Hỏa Lò. Lúc đó tôi đã hỏi: “Ông suy nghĩ gì khi bay vào Hà Nội”. Viên sĩ quan trả lời: “Vũ khí của không quân Bắc Việt chúng tôi biết hết, gồm có Mig, Sam và một số loại vũ khí khác. Thậm chí chúng tôi còn diễn tập bằng các loại khí tài này và nghĩ rằng bay vào Hà Nội là chuyến bay luyện tập thôi, vào ném bom xong rồi bay ra”. Tôi hỏi tiếp: “Vậy giờ ngồi ở đây, ông cảm thấy như thế nào?”. “Đúng là chúng tôi chưa đánh giá hết các ông nên giờ chúng tôi mới ngồi ở đây”. Trung tướng Phạm Tuân kết luận: “Câu chuyện trên cho thấy rằng, chúng ta có quyền tự hào về chiến thắng của mình”.

Ký ức và những câu chuyện bây giờ mới kể về Hà Nội 12 ngày đêm cuối năm 1972 được tái hiện giữa thành phố mang tên Bác Hồ như đang thôi thúc trong mỗi người dân thành phố cùng đồng bào Thủ đô và nhân dân cả nước chung niềm tự hào, xúc động được là “người Việt Nam”.

Thành Luân
hanoimoi.com.vn

Chia lửa” với Hà Nội từ chiến trường miền Đông…

QĐND – Những cựu binh Trung đoàn 209 và Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7, miền Đông Nam Bộ), quê Hà Nội vẫn thường gặp nhau, ôn lại bao kỷ niệm xưa. Những xạ thủ súng AK, B-41, 12,7mm năm nào, từng kiên gan dưới bom đạn Mỹ ở Chư-tan-cơ-ra hay Chơn Thành, Tàu Ô (Bình Phước), hứng chịu bom cày đạn xới bao đợt của máy bay B-52 rải thảm giữa chiến trường, vậy mà năm 1972, khi nghe tin B-52 ném bom rải thảm Hà Nội, ai cũng thấy như trong lòng có lửa đốt.

Đoàn Nhiên, một trinh sát dạn dày của Sư đoàn 7 kể: Nghe tin bom B-52 trút xuống Nội Bài quê tôi, tôi bần thần suốt ngày. Bom đạn ở đây, giữa rừng le, giữa rừng cao su còn có vật che chắn, sức ép giảm đi. Bom ném xuống khu dân cư, ở Hà Nội chắc tang thương lắm. Còn Trần Đại Đồng, trinh sát pháo của Tiểu đoàn 7 kể, mỗi “vệt” bom B-52 dài hàng cây số, dân lành chịu sao nổi.

Tay súng AK gan góc Lại Anh Vĩnh tâm sự, khi nghe tin Hà Nội “vít cổ” B-52 xuống cánh đồng Phủ Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội), bắt sống phi công, chúng mình nhảy lên, sướng quá, vội đi tìm đồng hương Hà Nội thông báo cho anh em mừng. Lính bộ binh Nguyễn Văn Ngọc hào hứng kể, không mừng sao được, khi ở trong này, nhìn thấy B-52 thì đành chịu, nó bay cao quá, không súng nào với nổi. Hằng ngày nó bay đội hình ba chiếc rõ lắm, nhìn lên phát tức, nó nghênh ngang như đi vào chốn không người. Lính tên lửa Hà Nội giỏi quá!

Nguyễn Văn Chúc, nhà ở phố Đại La kể: “Ở một căn cứ ven sông Bé, suốt đêm mình ghé sát tai vào ra-đi-ô để nghe Đài Tiếng nói Việt Nam, phát từ Hà Nội và không bỏ qua chi tiết nào. Chính đài phát thanh của bọn quân ngụy cũng đưa tin nhiều B-52 của “Không lực Hoa Kỳ” không trở về căn cứ. Nửa đêm mình còn lay các đồng hương dậy để loan tin Hà Nội đưa phi công Mỹ ra họp báo quốc tế”.

Giờ đây, những cựu chiến binh miền Đông gan góc năm xưa đã ngoài 60 tuổi, hàng trăm đồng đội của họ đã nằm lại Sa Thầy (Kon Tum), Tàu Ô, Xóm Ruộng… Hà Nội – quê hương các anh đã chia lửa với miền Đông, và năm 1972, chính các anh đã kiên cường chốt chặn suốt 150 ngày đêm trên đường 13 để “chia lửa” với Hà Nội. Mong muốn của các cựu chiến binh là Hà Nội ngày càng đẹp hơn, an ninh trật tự tốt hơn, môi trường xanh, sạch, đẹp hơn…

ĐỒNG PHƯƠNG
qdnd.vn

Chiến công thầm lặng của lực lượng trinh sát kỹ thuật

QĐND – Cuối năm 1965, chúng tôi gồm hơn 60 sinh viên vừa tốt nghiệp đại học, phần lớn là của Khoa Toán, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và một số trường khác được điều động vào học khóa đặc biệt tại Trung tâm Đào tạo trinh sát kỹ thuật (TSKT) thuộc Cục 2 (Bộ Tổng tham mưu). Kết thúc khóa huấn luyện, tôi được điều động về Mặt trận 959.

Giữa tháng 12-1972, lãnh đạo Phòng 2 (Bộ tư lệnh Mặt trận 959) cử tôi về Cục 2 báo cáo tình hình. Tôi về tới Hà Nội giữa lúc cả thành phố đang hối hả chuẩn bị bước vào trận chiến cam go, quyết liệt. Không chỉ các cơ quan, đơn vị trực chiến, mà cả những người dân không có điều kiện đi sơ tán luôn phải trong tư thế sẵn sàng đối phó với những đợt không kích của không quân Mỹ. Mấy ngày ở Trạm 66 (phố Hoàng Diệu), tôi chứng kiến nhiều đợt oanh kích khốc liệt, tàn nhẫn của Không quân Mỹ vào Ga Hàng Cỏ, Bệnh viện Bạch Mai, Kho xăng Đức Giang… Khói bom mù mịt, tiếng gầm rú của máy bay xé nát màn đêm bầu trời Hà Nội. Nhưng quân và dân Thủ đô lại không hề nao núng, đặc biệt, không ít đêm, nhiều người còn ra đường phố, lên sân thượng hò reo, cổ vũ bộ đội ta bắn trúng máy bay Mỹ, thiêu cháy “pháo đài bay” B-52, nhất là khi những mảnh xác máy bay Mỹ cháy, rơi lả tả thắp sáng cả bầu trời Hà Nội.

Sáng 24-12-1972, đồng chí trực ban đến Trạm 66 đón tôi vào Cục 2 làm việc. Anh X.L, Trưởng phòng 70, biết tôi ở bộ phận TSKT, anh rất vui và đánh giá cao lực lượng TSKT đã thu và báo cáo tin tức về Cục rất nhanh và chính xác, góp phần để Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các quân, binh chủng, lực lượng phòng không của các địa phương bình tĩnh, chủ động đưa ra phương án tác chiến phù hợp, đón đánh máy bay Mỹ đúng hướng, đúng tầm, tạo hiệu suất chiến đấu cao, hạn chế thương vong, tổn thất… Anh kể lại, cách đây mấy ngày, trong buổi giao ban của Bộ Tổng tham mưu, sau khi nghe báo cáo tình hình địch của Cục 2, một đồng chí lãnh đạo cấp cao trầm tư giây lát rồi hướng về phía đồng chí lãnh đạo Cục 2 hỏi: Theo các đồng chí, nhận định thì đợt tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ ra miền Bắc sẽ kéo dài đến bao giờ? Rất nhiều ý kiến nêu ra, trong đó anh X.L bình tĩnh, khiêm tốn nói: “Căn cứ trên thông tin chúng ta tổng hợp được, theo tôi, đợt tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ sẽ không thể bước sang năm 1973…”.

Trở lại chiến trường, hằng ngày tôi vẫn hồi hộp theo dõi chiến sự đang diễn ra ác liệt trên bầu trời Hà Nội. Sáng 30-12-1972, nghe tin Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận họp lại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam, tôi cùng đồng đội sung sướng, reo hò mừng chiến thắng. Càng vui hơn khi biết chiến thắng đó có phần đóng góp của lực lượng TSKT chúng tôi, những người lính trinh sát kỹ thuật của ngành Tình báo quân sự anh hùng.

VŨ MINH TÂM
qdnd.vn

Đàm phán Paris – nền móng phát triển của ngoại giao Việt Nam

(VOV) -Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là đỉnh cao của nghệ thuật ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh.

Hiệp định được ký kết ngày 27/1/1973 tại Paris sau chưa đầy một tháng, kể từ ngày Mỹ ngừng ném bom Hà Nội và các tỉnh miền Bắc Việt Nam với nội dung chính là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi miền nam Việt Nam.

Vinh dự là một thành viên của đoàn đàm phán, ông Nguyễn Khắc Huỳnh – nguyên Đại sứ, thành viên đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại cuộc đàm phán Paris về Việt Nam nay đã gần 90 tuổi vẫn rưng rưng nhiều cảm xúc về “cuộc đàm phán để đời” trong sự nghiệp ngoại giao của mình. Phóng viên VOV có cuộc trò chuyện với ông.

PV: Thưa ông, trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta, chưa có cuộc đàm phán nào kéo dài như Hội nghị Paris. Cuộc đấu tranh của chúng ta trên bàn thương lượng đã giành thắng lợi quan trọng, to lớn về nhiều mặt. Xin ông cho biết vai trò, vị trí và ý nghĩa của chiến thắng này?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Cuộc đàm phán Paris kéo dài gần 5 năm, tiến hành trên hai diễn đàn: một là diễn đàn gặp riêng, thật sự giải quyết các vấn đề; diễn đàn thứ hai là diễn đàn bốn bên, hay còn là diễn đàn công khai, mà ở đó mỗi đoàn tới đọc diễn văn để tranh thủ dư luận thế giới.

Ta biết đàm phán Paris là lâu dài và gian khổ bởi nó phụ thuộc vào tình hình chiến trường, quân đội ta ở miền Nam có thắng được Mỹ thì bàn đàm phán mới yên được. Bản thân cuộc đàm phán là một cuộc đấu trí giữa hai nền ngoại giao: ngoại giao Việt Nam và Mỹ.

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh (Ảnh: QĐND)

Vừa đấu trí vừa đấu chiến lược, đấu chiến thuật, đấu bản lĩnh và đấu mưu. Ta kiên trì đấu tranh trong đàm phán để đạt mục tiêu cao nhất là Mỹ chấp nhận rút và chấm dứt chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Để đạt mục tiêu đó là cực kỳ khó khăn vì Mỹ rất mạnh, giành thắng lợi với Mỹ rất khó. Thắng như thế nào, thắng đến mức nào thì Mỹ chấp nhận được và kết quả Hiệp định Paris là phải đạt được mục tiêu đó.

Không phải là ta đạt được tất cả đâu, nhưng ta đạt được mục tiêu cơ bản nhất là Mỹ công nhận độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nước ta đồng thơi chấp nhận rút quân nhưng ta không rút, quân ta vẫn ở lại miền Nam để mở đường thắng lợi sau này. Như vậy Hiệp định Paris đã mở đường, làm thay đổi tương quan lực lượng ở miền Nam, thay đổi thế trận để quân ta tiến lên giải phóng miền nam. Đó là ý nghĩa của Hiệp định Paris.

PV: Hiệp định Paris đã góp phần đặt nền móng cho sự phát triển lớn mạnh của ngành ngoại giao Việt Nam hiện nay như thế nào thưa ông?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Cho đến bây giờ, 40 năm nhìn lại thì thấy khi ký Hiệp định Paris vị trí Việt Nam như thế nào, nền ngoại giao của ta như thế nào. Khi ấy Việt Nam mới quan hệ với 30 – 40 nước thôi, còn bây giờ ta quan hệ với 180 nước. Trước kia, ta chưa có quan hệ với Mỹ, thắng Mỹ xong ta lại có quan hệ bình thường với Mỹ.

Hiện nay, Việt Nam còn có quan hệ với hầu hết các nước lớn trên thế giới, ta có môi trường hòa bình rộng lớn, người Việt Nam đi đâu cũng được, nói chuyện với ai cũng bình đẳng, quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa đều mở rộng.

Có thể thấy rằng, Hội nghị Paris khiến chúng ta hiểu biết thêm về thế giới, mở rộng quan hệ, nhân dân trên thế giới kính trọng nhân dân Việt Nam hơn, thế giới kính trọng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hơn. Ý nghĩa quan trọng của việc phát huy vai trò và vị thế  Việt Nam sau Hội nghị Paris là như vậy.

PV: Ông có thể so sánh Hiệp định Paris với các hiệp định ngoại giao mà ta đã kí kết trong thời đại Hồ Chí Minh, cụ thể như Hiệp định Geneve, cũng như nói thêm về các văn kiện, thỏa thuận ngoại giao mà ông cha ta đã tiến hành trong lịch sử?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Trong lịch sử ông cha ta 1.000 năm trước thì thỏa thuận ngoại giao với phương Bắc không nhiều. Lý Thường Kiệt có thỏa thuận với quân Tống về vấn đề rút khỏi phía Bắc, sau này Nguyễn Trãi có thỏa thuận Bồ Đề ở bến Bồ Đề để quân Minh rút khỏi thành Đại La.

Đến thời đại Hồ Chí Minh thì ta ký thỏa thuận quốc tế nhiều hơn. Mở đầu là Hiệp ước ký ngày mồng 6/3/1946, đó là hiệp ước quốc tế đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hòa, giúp Việt Nam thoát khỏi tình thế cùng lúc phải chống lại nhiều kẻ thù là Pháp và quân Tưởng.

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ta ký Hiệp nghị Geneve. Đó là thắng lợi lớn khi so sánh lực lượng của ta với quốc tế lúc bấy giờ. So sánh với Hiệp định Paris thì Hiệp định Geneve chưa phản ánh được thắng lợi của chiến trường, trong khi đó Hiệp định Paris đã nêu bật thắng lợi của chiến trường.

Người xưa thường nói, không giành ở trên bàn đàm phán những gì chưa dành được ở chiến trường, nhưng lạ một điều là ở Hội nghị Paris ta giành thắng lợi cao hơn thắng lợi trên chiến trường. Ví dụ như: Mỹ rút quân đơn phương, Mỹ phải chấp nhận bồi thường chiến tranh cho Việt Nam, chấp nhận việc từ nay Mỹ không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam… Đó là một cam kết rất sâu sắc, rất có lợi.

PV: Như vậy Hiệp định Paris đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật đàm phán của nước ta phải không, thưa ông?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Nói rộng hơn là Hiệp định Paris và cuộc đàm phán Paris đã nâng cao trình độ của ngoại giao Việt Nam lên ngang tầm quốc tế, góp phần phát triển ngoại giao Việt Nam ngang tầm thời đại. Từ sau Hội nghị Paris, ngoại giao Việt Nam chững chạc, vững vàng hơn nhiều, người Việt Nam đi giao dịch quốc tế cảm thấy tự nhiên, thoải mái, thong thả, bình đẳng hơn nhiều.

Trước khi có Hiệp định Paris ta còn chập chững chỗ này, chỗ khác như một đứa trẻ, thì sau Hiệp định Paris ta có nền ngoại giao của người lớn, trưởng thành, vững chắc hơn.

PV: Hiệp định Paris không phải là một chiến thắng đơn lẻ mà là một chiến thắng tổng hòa của sức mạnh ngoại giao cũng như sức mạnh nhân dân, cộng với đường lối của Đảng và tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè thế giới. Là một người trực tiếp trong phái đoàn đàm phán khi ấy, ông có cảm nhận gì về nhận định này?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Hiệp định Paris là tổng hòa các thắng lợi của chiến trường, thắng lợi đấu tranh của nhân dân, quan trọng nữa là có sự ủng hộ của nhân dân Mỹ. Hồ Chủ Tịch đã nói, sức ép của nhân dân Mỹ khiến Mỹ rút quân chính là mặt trận thứ hai sau mặt trận thứ nhất là ở Việt Nam, mặt trận thứ ba là sự ủng hộ của cả thế giới.

Vậy nên, chúng ta coi Hiệp định Paris không phải là thắng lợi của ngoại giao đơn thuần mà đó là thắng lợi tổng hòa, thắng lợi quyết định của chiến trường nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và thế giới.

PV: Là người tham gia phái đoàn đàm phán tại Paris, ông đã từng chứng kiến sự ủng hộ của bạn bè quốc tế cũng như của Đảng cộng sản Pháp dành cho mình như thế nào?

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh: Tôi hoạt động quân sự, chính trị cho đến khi về hưu là gần 60 năm, tôi có nhiều kỉ niệm lắm, nhưng với cá nhân tôi thì đàm phán Paris là kỉ niệm lớn nhất trong cuộc đời sự nghiệp của tôi. Tất cả đã ăn sâu vào tâm khảm của tôi. Bởi thế sau khi nghỉ hưu tôi đã viết sách về đàm phán Paris và cho ra đời đến chục cuốn rồi.

Những cảm xúc mà tôi nhớ nhất là dịp khi tôi đi dự một phiên họp, phiên họp này có bà Nguyễn Thị Bình xuất hiện. Việt kiều, nhân dân Pháp và các nhà báo tập trung rất đông trước cửa hội trường Kléber để hoan hô phái đoàn của Mặt trận dân tộc giải phóng Việt Nam, dẫn đầu là một người phụ nữ sắc sảo, xinh xắn, tiêu biểu cho anh hùng của phụ nữ Việt Nam và miền Nam Việt Nam.

Tôi rất xúc động trước tình cảm của Việt kiều, của bà con quốc tế. Sau này, tôi có nhiều cuộc tiếp xúc quốc tế hơn thì những tình cảm đó tiếp tục được củng cố thêm. Tôi còn nhớ, khi tôi sang Italy, cuộc mit-tinh vừa kết thúc thì hàng vạn thanh niên bao vây hội trường nơi chúng tôi đến phát biểu, tôi quay lại nói với đồng chí Tổng Bí thư Đảng cộng sản Italy là “Chúng tôi bị bao vây rồi đấy”. Thì ông ấy nói “đó là cuộc bao vây hữu nghị, rất hữu nghị, là biểu hiện tình cảm của nhân dân Italy với những người Việt Nam, những người Việt Nam đang chiến đấu, đàm phán ở Paris”. Những kỉ niệm ấy ăn sâu trong tôi.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!./.

Mỹ Trà-Mỹ Ngọc/VOV-Trung tâm tin thực hiện
vov.vn

Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris

(VOV) – Cuốn sách của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh đề cập tới nhiều vấn đề ít người biết về đàm phán Hiệp định Paris.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), nhằm góp phần giúp bạn đọc có thêm tư liệu để nghiên cứu, tìm hiểu về Hội nghị và Hiệp định Paris, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn sách “Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris” của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh.

Tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh có kinh nghiệm nhiều năm công tác trong ngành ngoại giao và nghiên cứu lịch sử ngoại giao. Ông là một nhân chứng, người được trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán Hội nghị Paris.

Cuốn sách dày 235 trang, đề cập đến 11 vấn đề, bao gồm một số bài viết, bài nghiên cứu đã được chọn lọc và xuất bản của tác giả trong những năm gần đây và một số bài tham luận tại các cuộc hội thảo trong nước và ngoài nước nhân các dịp kỷ niệm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam.

Bìa cuốn sách của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh

Bằng những phân tích sắc sảo, những luận chứng súc tích, tác giả tập trung trình bày và làm rõ thêm một số vấn đề, sự kiện lớn trong quan hệ quốc tế, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và quá trình diễn ra cuộc đàm phán Paris.

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris được coi như một đỉnh cao của nghệ thuật ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, mãi mãi là một dấu son không bao giờ phai mờ trong lịch sử dân tộc. Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam là một hội nghị dài nhất trong lịch sử đấu tranh ngoại giao thế giới (4 năm 8 tháng 14 ngày).

Đó thực sự là cuộc đấu trí vô cùng gay go, phức tạp, đầy kịch tính trên mặt trận ngoại giao, cuối cùng ngoại giao Việt Nam đại thắng trên bàn đàm phán, góp phần quan trọng “đánh cho Mỹ cút” để dẫn tới “đánh cho ngụy nhào” với đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đó cũng là hội nghị thể hiện rõ nét nhất, hiệu quả nhất, thành công nhất của nghệ thuật kết hợp đánh – đàm dưới sự lãnh đạo của Đảng./.

Trà Ngọc/VOV-Trung tâm Tin
vov.vn

Đạo diễn Pháp Daniel Roussel làm phim về Hiệp định Paris

(VOV) -“Hiệp định Paris là một câu chuyện kỳ diệu về hành trình tìm lại hòa bình” – đây cũng là lý do để ông Daniel Roussel làm phim…

Đó là lý do thôi thúc nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel làm bộ phim tài liệu mà ông dự định đặt tên rất giản đơn là “Hiệp định Paris”.

Từng là phóng viên thường trú của báo Nhân đạo tại Việt Nam trong giai đoạn khó khăn bị cấm vận sau chiến tranh, nhà báo người Pháp này có những cảm nhận đặc biệt về đất nước – con người Việt Nam và từng gây nhiều tiếng vang với 2 bộ phim về Việt Nam: “Cuộc chiến giữa hổ và voi” và “Tù binh Mỹ ở Hà Nội”.

Bộ phim “Hiệp định Paris” dự định sẽ được trình chiếu vào ngày 1/4/2013 tại thành phố Choisy le Roi, như một hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris lịch sử.

PV VOV thường trú tại Pháp trò chuyện với nhà làm phim Daniel Roussel về bộ phim mà ông đang thực hiện.

P.V: Thưa ông Daniel Roussel, ông có thể cho biết vì sao ông quyết định làm phim về Hiệp định Paris ?

Ông Daniel Roussel: Đã từ lâu, tôi thích làm phim về đề tài hòa bình, Việt Nam, tôi từng làm phim về Điện Biên Phủ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những tù binh Mỹ… Và câu chuyện của Hiệp định Paris là một hành trình kỳ diệu giành hòa bình cho Việt Nam. Tôi muốn chỉ ra rằng khát vọng hòa bình đã chiến thắng thế nào.

Nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel

Hiệp định Paris ký ngày 27/1/1973 là một câu chuyện thần kỳ, là kết quả của một quá trình thương lượng đối mặt giữa 4 bên trong gần 5 năm. Câu chuyện khó tin ở chỗ đoàn đàm phán của Việt Nam nghĩ rằng họ chỉ lưu lại tại Pháp vài tháng, nhưng cuối cùng họ đã ở gần 5 năm. Câu chuyện khó tin ở chỗ nhiều khi hòa bình tưởng như đã trong tầm tay, rồi lại đột ngột bị đẩy ra rất xa. Đó là câu chuyện đấu trí căng thẳng giữa hai con người Lê Đức Thọ và Kissinger.

Đó cũng là câu chuyện về đoàn Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, do bà Nguyễn Thị Bình dẫn đầu, một người phụ nữ dịu dành nhưng cũng rất kiên cường. Các cuộc thương lượng như song hành với trận địa ở Việt Nam. Các cuộc đàm phán tiến và lùi cùng với diễn biến trên chiến trường. Câu chuyện dài gần 5 năm ấy còn kỳ diệu ở tình đoàn kết giữa đoàn miền Bắc với người dân ở Choisy Le Roi, hoặc ở gần đó; những người đã đón tiếp đoàn trong những bữa cơm gia đình; ở tình cảm của những người bạn Pháp, người phục vụ đoàn, người lái xe, người bảo vệ, đội y tế…

Đó là những thời điểm kỳ lạ, hàng trăm người trong 5 năm đã giúp đỡ đoàn miền Bắc, miền Nam, như một gia đình thực sự. Câu chuyện làm tôi rung động tận trái tim. Câu chuyện nói về hành trình giành lấy hòa bình, dù là một hành trình khó khăn, gồm cả chiến tranh, dù hành trình kéo dài đến 5 năm, nhưng đó là một câu chuyện hòa bình và nhân văn mà tôi muốn kể.

P.V: Theo tôi được biết, rất nhiều nhân chứng từng tham gia hoặc biết về quá trình đàm phán nay đã già yếu, một số đã mất hoặc không còn trí nhớ. Để tái hiện lại những nẻo đường hòa bình dẫn tới hiệp định, ông có gặp nhiều khó khăn không?

Ông Daniel Roussel: Đúng là rất khó. Nhiều người đã mất, một số khác chuyển nhà, không có một danh sách cụ thể những người đã từng tham gia quá trình đó, do thông tin hồi đó rất bí mật. Rồi gặp người này lại được giới thiệu tới người kia, dần dần thì tôi tìm ra được một số nhân chứng.

Nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp (ảnh tư liệu)

Tôi cũng đã phải tận dụng mạng lưới những người đồng chí trong Đảng Cộng sản Pháp để tìm lại những người từng liên quan. Tôi cũng đã đến Việt Nam nhiều lần, gặp bà Nguyễn Thị Bình để trò chuyện với bà và một số nhân chứng tại Việt Nam. Tôi cũng đến thăm và gặp gia đình ông Lê Đức Thọ, ông Xuân Thủy để tìm những tư liệu quý cho bộ phim. Không chỉ vậy, tôi còn sang Mỹ đến gặp hai nhà ngoại giao gần gũi với ông Kissinger hồi đó là ông John Negroponte và Winston Lord để tìm hiểu quan điểm của phía Mỹ và phản ánh chân thực trên bộ phim.

P.V: Ông có nghĩ rằng những người Mỹ sẽ dễ dàng và thẳng thắn nói lại những câu chuyện lịch sử với ông hay không?

Ông Daniel Roussel: Họ sẽ kể câu chuyện theo quan điểm của họ, nhưng dù họ có nói gì thì lịch sử cũng là điều không thể đảo ngược. Mọi người đều đã biết những gì đã diễn ra trong lịch sử, hiểu hơn vì sao đàm phán lâu thế, Hiệp định đã tưởng như được ký vào tháng 10/1972, nhưng rồi Mỹ lại đánh bom xuống miền Bắc Việt Nam. Câu chuyện đã được ghi nhớ bởi nhiều nhân chứng, phía Mỹ hay bất kỳ bên nào cũng không thể nói ngược lại thực tế lịch sử.

P.V: Đúng như ông nói là lịch sử đã được ghi bằng thực tế và bởi các nhân chứng. Vậy liệu bộ phim của ông có đưa ra những điều gì mới mẻ chưa được biết đến về lịch sử? Trong bộ phim, ông có tìm cách lý giải nhiều câu hỏi đặt ra về quá trình đàm phán, ví dụ như vì sao đàm phán lại kéo dài đến thế, những diễn biến trên chiến trường đã tác động qua lại đến cuộc đàm phán như thế nào?

Ông Daniel Roussel: Bộ phim của tôi chắc chắn sẽ mang lại một số chi tiết mới vì câu chuyện này chưa được khắc họa nhiều, chưa được biết tới nhiều.

Theo tôi biết, chưa có bộ phim tài liệu nước ngoài nào về Hiệp định Paris, rất ít tài liệu trên thế giới viết về Hiệp định, mới có một tác giả người Canada viết sách về Hiệp định. Nhiều người trên thế giới nghĩ rằng chiến tranh kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc ngày 30/4/1975 , nhưng thực tế, từ 2 năm trước, Việt Nam đã thành công trong việc ký Hiệp định Paris, đuổi quân Mỹ ra khỏi Việt Nam.

Thông qua việc đưa trung thực quan điểm của các bên qua lời kể của các nhân chứng và những tư liệu thu thập được, bộ phim giải thích vì sao các cuộc thương lượng không tiến triển trong 3 – 3,5 năm đầu. Có những lúc thương lượng tưởng như tiến tới hòa bình nhưng rồi đột ngột lại bị đẩy ra rất xa. Riêng trong năm 1972, liên tục có những hi vọng rồi thất vọng, rồi chiến tranh nổ ra, người chết và bị thương, nhiều tài sản bị phá hủy một cách vô ích trong chiến tranh.

P.V: Xin cảm ơn ông./.

Nhà báo, nhà làm phim tài liệu Daniel Roussel sinh ngày 23/2/1946. Ông từng là Phóng viên thường trú của báo Nhân đạo (L’Humanité) tại Việt Nam giai đoạn 1980-1986.  Trở về Pháp, ông trở thành nhà làm phim tài liệu và những cảm nhận sâu sắc về Việt Nam đã thôi thúc ông làm những bộ phim về đề tài chiến tranh ở Việt Nam.

Trong đó có bộ phim “Cuộc chiến giữa hổ và voi” (nói về trận Điện Biên Phủ, với những lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) hay phim “Tù binh Mỹ ở Hà nội – Hilton”.

Năm 2007, ông lập trang web riêng giới thiệu về những bộ phim, những tư liệu quý mà mình đã có được, trang http://danielroussel.blogzoom.fr/, với chủ đề lớn “Những nẻo đường của Việt Nam”.

Thùy Vân/VOV – Paris
vov.vn

Hiệp định Paris qua góc nhìn của một nhà nghiên cứu Nga

(VOV) -Thắng lợi to lớn của việc ký kết Hiệp định Paris đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô cả về vật chất và tinh thần

40 năm trước, sau chiến thắng lịch sử “Điện Biên phủ trên không”, Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam được ký kết. Thắng lợi này có được là tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó có sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới và sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô.

Trong dịp kỷ niệm trọng đại này, phóng viên Đài TNVN thường trú tại Liên bang Nga đã có những cuộc gặp gỡ, trao đổi với nhiều cựu chuyên gia quân sự Liên Xô trước đây, nhiều nhà nghiên cứu, nhà Việt Nam học để tìm hiểu về những nhận định, đánh giá của họ đối với sự kiện lịch sử này.

Nhà Việt Nam học Anatoly Voronin là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, từng công tác tại Vụ Quan hệ hợp tác với các Đảng Cộng sản và công nhân các nước XHCN thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông từng trực tiếp tham gia phiên dịch trong các cuộc gặp giữa đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Nguyễn Duy Trinh… với các nhà lãnh đạo Liên Xô trong những năm diễn ra đàm phán ký kết Hiệp định Hòa bình Paris.

Qua trao đổi với ông, chúng tôi được biết thêm những chi tiết mà chỉ có những người trong cuộc mới biết và đến nay ông vẫn còn nhớ rõ. Đó là những gì diễn ra tại Moscow, nhưng lại liên quan trực tiếp tới cuộc đàm phán đang diễn ra căng thẳng tại Paris.

Ông Anatoly Voronin nhớ lại: “Đây là một câu chuyện đặc biệt, bởi vì tất cả đều qua chỗ chúng tôi (Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô). Từ Nga, đoàn Việt Nam sang đến hội nghị đàm phán là cả một câu chuyện dài. Càng về cuối, người Mỹ càng “láu cá”, họ thay đổi thời hạn, yêu sách… và thường là vào giờ chót cốt để ông Lê Đức Thọ không kịp đến nơi đàm phán, gặp Trợ lí Tổng thống Mỹ Kissinger như đã thỏa thuận…

Tôi còn nhớ, khi ông Nguyễn Duy Trinh chuẩn bị bay sang Paris, tôi đã làm phiên dịch trong cuộc gặp của ông với ông Shuslov (Mikhail Andreevich Shuslov – Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) tại Moscow. Trước đó, ông Nguyễn Duy Trinh đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Gromyko. Họ đã trao đổi các vấn đề xung quanh Hiệp định. Những vấn đề chiến lược, những vấn đề chính trị chung cũng được họ thảo luận trong Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tôi nhớ là, ông Shuslov đã rất thông thái khi vận dụng tư tưởng của Lênin vào tình huống của Việt Nam. Ông ấy nói, chúng ta không thể đòi hỏi ngay lập tức đạt được thắng lợi toàn diện, hãy từng bước để đi đến kết quả cuối cùng. Quá trình đàm phán ở Paris còn quá nhiều vấn đề phức tạp, nên điều cốt lõi hiện nay là đấu tranh bằng được để Mỹ rút hết khỏi Việt Nam đã; buộc người Mỹ phải nói “Vâng, chúng tôi đồng ý rút hết quân khỏi Việt Nam từ ngày 1/3/1973”. Việt Nam đã có điều kiện để kiểm soát quyết định này, để cả thể giới biết đến quyết định này của Mỹ và Mỹ cũng sẽ không thể từ chối được. Còn về sau mới tính tiếp giải phóng Sài Gòn”.

Năm 1968, Liên Xô đã có những nỗ lực để góp phần triệu tập Hội nghị bốn bên tại Paris tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Từ năm 1970-1975, trên các diễn đàn quốc tế, trong Đại hội các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, hoặc các chuyến trao đổi đoàn đại biểu các cấp với các nước khác…, Liên Xô thường xuyên nêu lên và ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Liên Xô cũng tích cực giúp đỡ Việt Nam vận động các đoàn thể chính trị thế giới, tổ chức nhiều hội nghị quốc tế, tranh thủ sự đồng tình của các lực lượng tiến bộ đối với Việt Nam.

Theo ông Voronin, điều quan trọng là hai nước Việt Nam và Liên bang Nga cần đánh giá một cách sâu sắc và rút ra những bài học kinh nghiệm không chỉ đối với Việt Nam, đối với Nga mà đối với cả thế giới trong giải quyết các vấn đề quốc tế của ngày hôm nay. Và quan trọng hơn là cần tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp này.

“Hôm nay chúng ta đang nói về 40 năm ký Hiệp định Hòa bình Paris… đó cũng là một bài học rất quan trọng về công tác ngoại giao đã buộc Mỹ phải chấp nhận. Hiện nay có một số cuốn sách về Hiệp định Paris và coi đây là thành công ngoại giao của Việt Nam. Đúng, song nếu chỉ mình ngoại giao Việt Nam (gồm cả miền Nam Việt Nam) thì chưa đủ, bên cạnh đó còn có sự ủng hộ, đoàn kết của ngoại giao Xô Viết, theo nghĩa rộng của từ này, bao gồm cả ngoại giao nhân dân. Đó không chỉ là ngoại giao chuyên nghiệp, mà còn là ngoại giao nhân dân. Tạo dư luận xã hội ủng hộ Việt Nam còn có đóng góp của các nhà báo, của các nghị sỹ… Việt Nam đã giành được chiến thắng cũng chính là bởi đã tập hợp được những sức mạnh này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói một câu rất nổi tiếng là phải biết “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại”. Tất nhiên thời đại ngày nay cũng có những nét không giống thời đại của 40 năm về trước, nhưng vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là một công thức thông thái – là công thức toán học mà chúng ta cần tiếp tục phát triển, thực hành và chứng minh” – ông Anatoly Voronin nhấn mạnh.

Thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam trong cuộc đàm phán lịch sử để đi đến ký kết Hiệp định hòa bình Paris về Việt Nam tháng 1/1973 mà trước đó là chiến thắng mang tính bước ngoặt của trận “Điện Biên phủ trên không” đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô cả về vật chất và tinh thần. Đây cũng chính là bài học, là truyền thống hết sức quý báu và trở thành nền tảng của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Nga hiện nay./.

Điệp Anh-Đoan Hải/VOV-LB Nga
vov.vn

Những nẻo đường hòa bình tới Hiệp định Paris

(VOV) – Dù đã 40 năm, nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán Việt nam vẫn in đậm trong ký ức những nhân chứng và thế hệ sau.

Để đi tới lễ ký kết cuối cùng tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Clébère, thì trong gần 5 năm, các cuộc thương lượng về Hiệp định hòa bình Paris đã được tiến hành tại nhiều địa điểm trên đất Pháp. Dù 40 năm sau, các địa điểm đã ít nhiều đổi khác, nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt Trận miền Nam Việt Nam vẫn in đậm trong ký ức những nhân chứng và thế hệ con cháu họ; cùng như tạo âm hưởng sâu rộng trong lòng những người bạn Pháp nay còn sống tại những địa điểm lịch sử đó.

Quảng trường Hiệp định Paris sẽ được khánh thành vào tháng 3/2013.

1. Khách sạn Lutetia – Nơi khởi đầu và nơi ăn mừng chiến thắng: 

Năm 1968, khi đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Xuân Thủy dẫn đầu đến Paris, đã ở tại khách sạn Lutetia ở số 45 Đại lộ Raspail, quận 16 Paris. Chỉ vài ngày sau, vì nhiều lý do, đoàn đã nhờ Đảng Cộng sản Pháp tìm một địa điểm khác. Trường Đảng ở Choisy Le Roi đã được chọn, trở thành nơi lưu lại suốt gần 5 năm của đoàn. Trở lại thăm Lutetia ngày nay, sau 40 năm, khách sạn bên ngoài vẫn giữ nguyên dáng hình, trở thành một trong những khách sạn nổi tiếng nhất ở Paris, bởi những thời khắc lịch sử mà nó đã từng chứng kiến, từ chiến tranh thế giới thứ 2, cho tới sự có mặt, dù ngắn của đoàn đàm phán Việt nam.

Khách sạn Lutetia hiện nay

Theo ông Dương Văn Quảng, Đại sứ, trưởng phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO hiện nay, người từng nằm trong số những thực tập sinh học tập tại Pháp vào thời điểm Hiệp định được ký kết, thì Khách sạn Lutetia cũng là nơi hai đoàn đàm phán của Việt nam tổ chức tiệc lớn ăn mừng thắng lợi.

2. Tòa nhà số 2, Le Verrier, quận 4: “Tổng hành dinh” ngoại giao của Việt nam:

Cũng theo Đại sứ, trưởng phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO ông Dương Văn Quảng, thì cũng chính tại tòa nhà của phái đoàn hiện nay, tại số 2, Le Verrier, quận 4 Paris, 40 năm về trước, ông cùng các thực tập sinh có mặt tại Pháp đã vui mừng đến giúp chuẩn bị những tấm thiệp mời chiêu đãi, mừng Hiệp định được ký kết: “Đây là tổng đại diện nên toàn bộ thủ tục liên quan đến vấn đề chiêu đãi đều làm ở đây. Ví dụ cả tuần trước ngày chiêu đãi, huy động toàn bộ thực tập sinh đến đây giúp ghi thiệp mời. Nhưng vì mời quá gấp, nên phải chia nhỏ thư ra, sáng sớm hôm sau mang ra tận bưu điện của từng quận để họ mang đi phát giúp mình. Nhà này là tổng đại diện trước khi quan hệ Việt – Pháp lên mức chính thức, sau đó là Đại sứ quán nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngôi nhà này chứng kiến toàn bộ quá trình dẫn đến đàm phán, rồi đấu tranh để thực hiện hiệp định, rồi chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975, tạm gọi là toàn bộ phần ngoại giao của việc đàm phán rồi tiến tới ký kết Hiệp định Paris và tiếp theo đó là quá trình đấu tranh ngoại giao để thực hiện Hiệp định và phục vụ cuộc tổng tiến công Mùa xuân năm 1975, tiến tới hòa bình cuối cùng ở Việt nam”.

Tòa nhà hiện là trụ sở phái đoàn Việt nam bên cạnh UNESCO cho đến nay được giữ nguyên cấu trúc, kể cả những trang trí trên trần, trên tường khi xưa. Cách đó chỉ vài trăm thước, là trụ sở cũ của Thông tấn xã Việt nam, nơi những thông tin thắng lợi trên bàn đàm phán được thảo và phát đi.

3. Choisy le Roi – Tâm điểm của cuộc đấu tranh của đoàn đàm phán Việt nam Dân chủ Cộng hòa:

Nói đến Hiệp định Paris, không thể không nói tới thành phố Choisy-le-Roi nằm ở ngoại ô, cách Paris khoảng 20 km về phía Đông Nam. Nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel – người đang làm một bộ phim tài liệu mang tên “Hiệp định Paris” đã gọi Choisy Le Roi là “tâm điểm của thế giới” trong giai đoạn diễn ra các cuộc đàm phán hòa bình: “Tháng 5/1968, đoàn đàm phán miền Bắc của Việt nam Dân chủ Cộng hòa tới ở khách sạn Lutetia rồi sau đó, chuyển sang Choisy le Roi vì nhiều lý do. Và Đảng Cộng sản Pháp đã quyết định dành tòa nhà của Trường đào tạo, bồi dưỡng Đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp cho đoàn ở. Đoàn Hà nội lúc đó dẫn đầu bởi ông Xuân Thủy, tưởng sẽ ở đó vài tháng, nhưng cuối cùng họ đã ở gần 5 năm”.

Trong suốt thời gian đó, Choisy- le Roi đã chứng kiến những câu chuyện đàm phán tài tình được giữ kín tới mức “bí ẩn”. Bà Nicole Trampoglieri, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt tại Choisy le Roi cho biết thông tin về đoàn khi đó được giấu kín tới mức không có mấy người dân ở chính thành phố này biết chỗ đoàn sống và hoạt động. “Vào thời điểm đó, tôi là một đảng viên rất trẻ trong Đảng Cộng sản Pháp sống gần đây, tôi cũng chỉ biết là nơi này có đoàn đàm phán của Việt nam ở, nhưng hiếm khi nào tận mắt nhìn thấy gương mặt của ai trong đoàn. Họ được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Báo chí cũng không tiếp cận được. Nhưng tôi có được nghe kể về “căn phòng hạnh phúc” trong khu nhà này, hồi đó, không ai hiểu vì sao lại gọi là “căn phòng hạnh phúc” nhưng sau đó mới biết đấy là cách các thành viên trong đoàn “ám hiệu” với nhau là “căn phòng bí mật”. Khi nào có chuyện công việc tuyệt mật cần trao đổi, các thành viên trong đoàn lại cùng vào căn phòng đó”.

Tấm biển trước khu nhà tại Choisy le Roi

Choisy le Roi còn là minh chứng rõ nét về “tình đoàn kết, hữu nghị” của Đảng Cộng sản Pháp, của bạn bè Pháp yêu chuộng hòa bình đối với  người dân Việt nam. Bà Jéanine Rubin, một trong những người từng tình nguyện phục vụ bữa ăn cho đoàn đàm phán Việt nam 40 năm về trước, nay đã 80 tuổi, cho biết khi đó bà cũng không biết rõ tình hình do tính tuyệt mật trong hoạt động đoàn. Nhưng bà vẫn nhớ như in không khí ấm cúng như trong một gia đình khi gặp gỡ các thành viên trong đoàn. “Khi ấy, tôi đang làm phục vụ trong trường học, Đảng Cộng sản đề nghị tôi có muốn làm việc tình nguyện hỗ trợ cho đoàn đàm phán của Việt nam hay không, và tôi đã đồng ý. Dù thời gian tiếp xúc không nhiều, nhưng những cảm nhận lúc đó về đoàn sau này đã là động lực khiến tôi quyết định gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tham gia các hoạt động hữu nghị Pháp- Việt cho đến bây giờ”.

Cũng tại Choisy le Roi, tòa biệt thự nằm yên bình tại số 11, phố Darthé giờ vẫn mang dáng dấp cũ, cây cherry vẫn cao vút trong vườn sau nhà. Nhưng ít ai biết rằng 40 năm về trước, các cuộc đàm phán bí mật và gay go giữa đoàn miền Bắc với đại diện phía Mỹ là Henry Kissinger đã diễn ra tại đây.

40 năm sau, đầu năm 2013, lãnh đạo thành phố Choisy le Roi sẽ cho khánh thành một quảng trường lớn mang tên “Hiệp định Paris”, ngay trên Đại lộ mang tên người đứng đầu thành phố thời điểm hiệp định được ký kết ông Louis Luc. Vợ của ông, bà Hélène Luc từ hàng chục năm qua vẫn luôn là người bạn thủy chung nhiệt thành đối với nhân dân Việt nam.

4. Verriere le Buisson và Massy – tràn đầy ký ức về đoàn Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam:

Nếu như Choisy le Roi từng gắn liền với câu chuyện đàm phán tài tình của đoàn đàm phán Việt nam Dân chủ Cộng hòa, thì tại hai vùng ngoại ô Verrière le Buisson và Massy, nằm cách Paris khoảng 10 km về hướng Tây Nam, tràn đầy những ký ức về đoàn đàm phán Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam do bà Nguyễn Thị Bình, khi đó là Bộ trưởng ngoại giao, dẫn đầu.

Tòa biệt thự tại số 17, đại lộ Cambacérès, Verriere le Buisson đến nay vẫn giữ nguyên kiến trúc tuyệt đẹp trên một con dốc thoai thoải, nhìn ra hồ nước. Đây là nơi trong suốt gần 5 năm đàm phán, bà Nguyễn Thị Bình cùng một số thành viên trong đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam sống và làm việc. Trong vườn, vẫn còn đó ngôi nhà nơi đài phát thanh giải phóng từng phát đi những thông tin nóng hổi về Hiệp định.

Ông Gueguen lưu giữ nhiều tư liệu về Hiệp định Paris.

Ông Pierre Gueguen, người từng làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho tòa nhà, ngày ngày vẫn đi dạo qua đây và nhớ lại những kỷ niệm về một “gia đình Việt nam” thực sự mà ông cảm nhận được khi gắn bó với các thành viên trong đoàn đàm phán của Việt nam. Kể lại nhiệm vụ khi xưa, ông Gueguen cho biết : “Đó là niềm vui đối với tôi khi được làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho đoàn đàm phán để chấm dứt chiến tranh, giành lại hòa bình ở Việt nam. Chúng tôi thường có 6 người chia làm hai ca bảo vệ an ninh trong khuôn viên ngôi nhà. Ngôi nhà nằm ở giữa hai tòa biệt thự, xung quanh các hàng rào với hàng xóm khá thấp, nên chúng tôi luôn phải canh phòng rất kỹ nhất là ban đêm. Tôi nhớ lần đầu tiên tôi nhận nhiệm vụ, đã xảy ra một sự cố là có một người phụ nữ cùng chồng của ông ta xông thẳng vào nhà. Rất may là chúng tôi đã ngăn chặn kịp thời và giao họ cho lực lượng cảnh sát bảo vệ vòng ngoài để họ giải quyết”.

Suốt 40 năm qua, hai vợ chồng ông bà Gueguen đã cần mẫn sưu tầm và gìn giữ nhiều tư liệu về Hiệp định Paris, về Việt nam, từ những chiếc tem thư về Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam, cho tới những bài báo bằng bất kỳ ngôn ngữ nào mà ông có được viết về một thành viên nào đó trong đoàn đàm phán… Bởi đơn giản như ông nói, “Đó là những ngày lịch sử mà cuộc đời tôi có may mắn được là một phần nhỏ trong đó”.

Tại Massy, khu căn hộ chung cư nơi mà các thành viên còn lại trong đoàn đàm phán Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam từng sống và làm việc trong 4 căn hộ tầng 2 và 3, đến nay gần như vẫn giữ nguyên. Ông Đoàn Hữu Trung, một Việt kiều từng gắn bó với đoàn suốt những năm đàm phán dẫn chúng tôi quay lại Massy, chỉ vào ngôi trường mẫu giáo nằm đối diện, cho biết hơn 40 năm trước, gần như ngày nào, sau khi đưa con vào trường học, ông cũng ghé qua thăm đoàn đàm phán của Việt nam, xem có thể trợ giúp gì cho đoàn. Sau này, dù đã chuyển nhà đi thành phố khác, ông vẫn thỉnh thoảng qua lại nơi đây, đi dạo và nhớ lại những câu chuyện về những thành viên đoàn khi xưa, tài tình, kiên quyết trong công việc nhưng cũng rất giản dị, chân thành trong đời sống.

5. Gif sur Yvette – Sự trùng hợp của hai ngôi nhà “hòa bình”:

Đi qua số 106 Avenue du Général Leclerc của thị trấn Gif-sur-Yvette, bắt gặp một căn nhà bình thường như biết bao ngôi nhà khác ở vùng ngoại ô Paris, ít ai biết rằng nơi đây 40 năm trước đã diễn ra các cuộc đàm phán bí mật giữa đoàn đàm phán Việt nam Dân chủ Cộng hòa do ông Lê Đức Thọ làm trưởng đoàn với phía Mỹ- do ông Henry Kissinger dẫn đầu. Các tài liệu lịch sử ghi lại những cuộc trao đổi giữa hai ông tháng 10 và tháng 11/1972 tại ngôi nhà này đi vào giai đoạn quyết định, chốt lại ở một dự thảo hiệp định mà hai bên có thể chấp nhận được. Khi đó, những tưởng hòa bình đã tới rất gần, thì phía Mỹ bất ngờ “tráo trở”, ném bom xuống miền Bắc Việt nam.

40 năm sau, ngôi nhà không có gì nổi bật, nhìn từ bên ngoài có phần cũ kỹ và bao phủ bởi cây cối um tùm. Một tấm biển khiêm tốn treo trên tường bên ngoài căn nhà với dòng chữ “Tại ngôi nhà này ngày 22/11/1972, đã mở ra các cuộc đàm phán hòa bình giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger”. Chủ nhân ngôi nhà ông  Bernard Mimier vui vẻ mời chúng tôi vào thăm ngôi nhà và hồ hởi kể lại “cái duyên” của họ với nơi này.

Ngôi nhà ở Gif sur Yvette

“Lúc đó tôi còn trẻ lắm, mới 17 tuổi, tôi có đi qua nơi này, thấy rất nhiều nhà báo vây quanh ngôi nhà và nghe nói có các cuộc đàm phán hòa bình bí mật diễn ra trong đó. Khi đó ngôi nhà thuộc về một họa sỹ tên Fernand Leger- một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và là nơi đón nhiều khách của đảng sang Pháp làm việc. Sau này năm 1989, tôi cần tìm một ngôi nhà rộng để mở phòng chụp và làm ảnh; và duyên số đã dẫn tôi đến đây, mua lại ngôi nhà và ở đây cho đến nay. Gia đình chúng tôi rất tự hào được sống ở đây, một ngôi nhà lịch sử đóng góp cho hòa bình cho người dân Việt nam, vợ tôi cũng từng tham gia các hoạt động phản chiến và con gái tôi cũng có những cảm xúc đặc biệt khi nói về ngôi nhà”.

Tại Gif sur Yvette, các cuộc đàm phán diễn ra hết sức bí mật, đến các nhà hàng xóm cũng không hay biết gì cho đến ngày 22/11/1972 báo chí Pháp và nước ngoài mới biết tới, đổ dồn về đây. Và thật trùng hợp khi họ chạy sang nhà hàng xóm, nhờ sự giúp đỡ để chụp được ảnh vào bên trong ngôi nhà đàm phán bí mật, thì lại được chứng kiến những hoạt động của tổ chức “Giúp đỡ trẻ em Việt nam” cũng hướng về Việt nam. Giáo sư Trần Thanh Vân, người sáng lập Tổ chức “Giúp đỡ trẻ em Việt nam” và sau này là Hội “Gặp gỡ Việt nam”,  dẫn chúng tôi ra vườn sau nhà, chỉ vào rặng cây thông giờ cao ngút, cho biết 40 năm trước, rặng cây còn thấp và phóng viên đứng từ vườn nhà ông hoặc trèo lên mái nhà ông có thể chụp ảnh vào ngôi nhà đàm phán. Và trong khi cuộc đàm phán chính trị bí mật giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger đang diễn ra, thì ở ngôi nhà bên cạnh, Giáo sư Trần Thanh Vân cùng các thành viên tổ chức “Giúp đỡ trẻ em Việt nam” đang tích cực với các hoạt động bán thiệp Giáng sinh để quyên tiền xây dựng làng trẻ SOS tại Đà Lạt (sau này làng được khánh thành năm 1974). Hai hoạt động cùng lúc tại Gif sur Yvette, một bên là chính trị và bên kia là nhân đạo, vô tình lại cùng hướng về hòa bình và ấm no ở Việt nam.

Những nẻo đường hòa bình, từ các hướng khác nhau, cuối cùng ngày 27/1/1973 đã dẫn về Trung tâm Hội nghị Kléber.  Hiệp định Paris được ký kết. Bên ngoài, kiều bào đổ về đông chật cả đại lộ Kléber, cờ hoa rợp trời, niềm vui như vỡ òa. Dù giờ đây trung tâm đang được phá đi để xây dựng một trung tâm thương mại, hội nghị mới, song những ai từng biết tới câu chuyện của Hiệp định Paris đều như sống lại không khí lịch sử lúc đó khi đến thăm lại Kléber. Một câu chuyện mới đang hình thành, nhưng ký ức khi xưa vẫn mãi mãi được lịch sử lưu lại./.

Thùy Vân – Đào Dũng/VOV-Paris
vov.vn

Chiến dịch 12 ngày đêm sẽ còn lưu truyền mãi

Tháng mười hai 40 năm trước, Thủ đô Hà Nội bị đế quốc Mỹ dùng “pháo đài bay” B52 ném bom rải thảm. Trong mưa bom bão đạn, Hà Nội vẫn kiên cường, quả cảm, vượt qua đau thương, đổ nát, anh dũng chiến đấu để đập tan cuộc tập kích chiến lược “Linebacker II”, gây chấn động địa cầu.

Những ngày tháng vừa bi thương vừa hào hùng đã lùi xa. Vết tích “mưa bom” B52 đã nằm sâu dưới các tòa nhà cao tầng. Những mảnh đất năm nào nay đã thành địa danh lịch sử. Những người góp phần làm nên huyền thoại một thời, nay đã được khắc ghi. Và ký ức về 12 ngày, đêm khói lửa (từ 18 đến 30/12/1972) vẫn vẹn nguyên trong tâm trí của Trung tướng Phạm Tuân (ảnh), Báo Tin tức Cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với người phi công Anh hùng đã bắn cháy pháo đài bay B52 năm 1972.

Thưa Trung tướng, đâu là nguyên nhân thắng lợi của bộ đội Phòng không Không quân (PKKQ) trong chiến dịch 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội?

Theo tôi, nguyên nhân chiến thắng thì nhiều, nhưng phải khẳng định rằng đó là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của sức mạnh tổng hợp, sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đoàn kết quân và dân…

Nhưng với một người chiến đấu trong quân đội thì tôi thấy có hai vấn đề: Thứ nhất: Đó là việc “nhìn xa trông rộng” của Đảng, của Bác. Những gì Bác nói đều là tiên đoán đúng. Bác nói: “… dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “B” gì đi nữa, ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Và Bác đã giao nhiệm vụ đánh B52 cho bộ đội PKKQ. Bác đã khẳng định: Ở Việt Nam thế nào Mỹ cũng thua, nhưng chúng chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Nghĩa là Người đã dự đoán trước rằng thế nào cũng xảy ra chiến tranh và tất cả những cái đó là mệnh lệnh, là kim chỉ nam xuyên suốt mà bộ đội PKKQ là nòng cốt cùng các lực lượng khác chuẩn bị lực lượng để chiến đấu. Chúng ta đánh giá đúng kẻ thù, đánh giá đúng âm mưu thủ đoạn của chúng và đánh giá đúng kỹ chiến thuật của nó để chúng ta chuẩn bị.

Thứ hai, đó là công tác chuẩn bị lực lượng của ta với nhiều quân binh chủng, trong đó có đội ngũ phi công, xây dựng đội ngũ chỉ huy và phi công trên hai nền tảng: Ý chí quyết tâm đánh và quyết đánh thắng, đây chính là bản lĩnh chiến đấu. Chúng ta có ý chí vươn lên chưa đủ mà phải biết đánh địch, mà muốn đánh được địch thì phải biết chúng mạnh cái gì, yếu cái gì, ta mạnh cái gì, còn thiếu cái gì để phát huy và hạn chế cái mạnh của địch. Tôi tâm huyết hai vấn đề đó.

Xác 1 trong 2 chiếc máy bay bị bắn rơi. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN

Thưa Trung tướng! Thời điểm đó địch đánh vào sân bay Nội Bài rất ác liệt, đường băng hư hỏng nặng. Vậy tại sao máy bay của ta vẫn hạ cánh được?

Khi F111 của địch đánh phá, dẫn đường cho B52 vào bầu trời Hà Nội, tất cả các phi công của ta luôn sẵn sàng chờ lệnh cất cánh. Khi máy bay này cất cánh, chẳng may gặp trục trặc thì máy bay khác lên thay, đó là mệnh lệnh, là quyết tâm của bộ đội không quân. Đây là ý chí của cấp trên và việc thực hiện là phi công.

Có lần khi tôi nhận lệnh cất cánh trong lúc sân bay đã cháy, khói lửa khắp nơi. Sau khi tôi đã cất cánh thì B52 tiếp tục đánh vào sân bay, đài chỉ huy bị san phẳng. Tôi quay về hạ cánh thì sân bay Gia Lâm không liên lạc được, sân bay Kép cũng vậy, tất cả các sân bay không nơi nào nhận tín hiệu, lúc đó chỉ còn cách là hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, trong khi đó sân bay Nội Bài bị đánh ác liệt. Tôi quyết tâm hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, xin bật đèn pha đường băng để hạ cánh. Lúc đó, tôi hoàn toàn không biết có hố bom nằm giữa sân bay, cách nơi hạ cánh chỉ 300 m. Vừa tiếp đất, thấy cánh máy bay nghiêng, hai quả tên lửa bay vèo về phía trước, máy bay lật nghiêng, chạy bằng cánh sau ít phút lấy lại thăng bằng tôi điều khiển máy bay quay đầu về hướng hạ cánh.

Ngay từ ngày đầu tiên của chiến dịch, Trung tướng đánh giá mức độ thiệt hại của các sân bay và không quân của ta như thế nào?

Ngay từ những ngày đầu tiên, tất cả các sân bay đều bị đánh phá ác liệt, hầu như đều bị trúng bom nhưng may mà sân bay Nội Bài vẫn còn đường băng 400 m cộng thêm 400 m cỏ nữa là 800 m nên chúng tôi vẫn bay và hạ cánh an toàn.

Về cơ sở vật chất, quân Mỹ không đánh vào nhà xưởng của không quân, mà chủ yếu đánh hỏng đường băng. Sau chiến tranh, các sân bay phải sửa lại hết còn máy bay thì mất khoảng 5-7 chiếc. Lực lượng của chúng ta vẫn được bảo toàn.

Phố Khâm Thiên (Hà Nội), trong trận bom rải thảm đêm 26/12/1972 đã có 278 người thiệt mạng, hàng nghìn ngôi nhà bị phá sập. Ngày nay, bên số lẻ của con phố này không có ba số nhà 47, 49, 51, bởi ba số nhà này với diện tích gần 1.000m2 đã được dành để xây Đài tưởng niệm Khâm Thiên. Ảnh: Trọng Đạt – TTXVN (chụp tháng 12/2012)

So sánh về lực lượng không quân giữa ta và Mỹ lúc đó, Trung tướng có đánh giá gì?

Phải nói thật không quân lúc đó của ta lực lượng nhỏ, phi đội bay đêm của chúng tôi chỉ có hơn 10 phi công, lúc đó máy bay thì ta không thiếu, phần lớn là phi công mới, chủ yếu bay ngày là chính. Trong khi đó sân bay của chúng ta không nhiều, sau này ta làm thêm một vài sân bay nữa mới đủ đáp ứng. Trong khi đó địch có 194 máy bay B52, mỗi một đêm chúng bay 50 lần và 200-300 lượt máy bay hộ tống, nghĩa là chúng gấp mấy lần ta. Nếu so sánh máy bay và vũ khí thì chúng hiện đại hơn mình nhiều.

Sau 40 năm chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không, Trung tướng có suy nghĩ gì?

Nhìn lại chiến thắng này với tư cách là người trong cuộc, tôi tâm huyết về sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta. Là một phi công, tôi nhận thấy phải khơi dậy lòng yêu nước trong mỗi con người, để nó thấm vào trái tim, thớ thịt của mình. Nhưng như thế thì chưa hẳn, mà phải biết biến lòng yêu nước đó thành ý chí quyết tâm, sẵn sàng cất cánh trong mọi tình huống để đánh địch. Nếu bắn mà không tiêu diệt được máy bay địch, thì sẵn sàng đâm thẳng vào chúng để tiêu diệt địch.

Ngày nay, thời buổi kinh tế thị trường dù có ảnh hưởng cái này, cái khác nhưng lòng yêu nước vẫn là cội nguồn, ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người chúng ta. Khi đất nước cần, bộ đội ta luôn sẵn sàng, những phi công trẻ cũng sẵn sàng nhận lệnh lên đường chống kẻ thù xâm lược. Trong thời đại hòa bình như ngày nay, chúng ta vẫn tiếp tục trau dồi lý tưởng cách mạng, phát huy những giá trị lịch sử trong thời bình, làm cho truyền thống của quân đội ta không chỉ để cất giữ mà phải “đánh bóng” cho nó sáng thêm lên, có sức mạnh hơn lên để chúng ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hiện nay.

Trung tướng có thông điệp gì cho thế hệ phi công trẻ ngày nay?

Ngày nay, đất nước ta đang xây dựng và phát triển gắn liền với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là hai nhiệm vụ gắn chặt với nhau. Xây dựng tốt để có tiềm năng bảo vệ Tổ quốc tốt hơn và bảo vệ Tổ quổc tốt để ta xây dựng đất nước thuận lợi hơn. Hiện nay, tình hình an ninh trong khu vực vẫn còn tiềm ẩn bất ổn nên nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của chúng ta vẫn còn rất nặng nề. Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến lực lượng bộ đội PKKQ và hải quân nên đầu tư khá nhiều. Bây giờ máy bay toàn thế hệ mới, tên lửa mới bắn được rất xa chứ không như trước đây. Phi công của chúng ta có điều kiện tập luyện tốt. Với truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, truyền thống của bộ đội PKKQ mà đặc biệt trong chiến dịch 12 ngày đêm sẽ còn lưu truyền mãi và được phổ biến đến mai sau. Chắc chắn rằng đây là cơ sở để đội ngũ phi công hiện nay nhìn nhận, đánh giá đúng lực lượng, sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

Tôi biết rằng bộ đội PKKQ luôn có tinh thần sẵn sàng chiến đấu rất cao. Nếu có chiến tranh xảy ra, bộ đội PKKQ luôn sẵn sàng làm nhiệm vụ tốt.

Xin cảm ơn Trung tướng!

Nguyễn Viết Tôn(thực hiện)
baotintuc.vn

Những chứng nhân lịch sử – Phố Khâm Thiên – “Máu và hoa” một thuở

LTS: Dù 40 năm đã trôi qua, trận “Điện Biên Phủ trên không” với 12 ngày đêm kiên cường của quân và dân Hà Nội vẫn được nhắc nhớ, lưu truyền và ôn lại mỗi dịp kỷ niệm. Những đau thương mất mát của một thành phố năm xưa đã hứng gần 4 vạn tấn bom vào các khu dân cư, bệnh viện, trường học, nhà ga… Những chứng tích bằng sắt thép vô tri hay còn hằn sâu trong tâm khảm các nhân chứng một thời.

Sẽ là nỗi đau nếu lớp trẻ hôm nay lãng quên hoặc không biết đến những trang sử ghi bằng máu, bằng sự quật cường, sáng tạo trong chiến đấu ấy của cha ông.

Bài 1: Phố Khâm Thiên – “Máu và hoa” một thuở

Con phố nhỏ với những chuyến tàu cần mẫn đi qua nơi đầu phố. Con phố của “một thời đạn bom – một thời hòa bình”. Giữa tấp nập ngày hôm nay, có những khoảng lặng đầy thiêng liêng của hồi ức về tháng 12 rực lửa bầu trời Hà Nội năm xưa…

“… phố Khâm Thiên sụp đổ
tiếng người la khủng khiếp xé đêm dài…”

Đài tưởng niệm các nạn nhân B52 phố Khâm Thiên.

Thực khó cầm lòng để trích dẫn đầy đủ những câu thơ của nhà thơ Lưu Quang Vũ về nỗi thương đau trên con phố nhỏ năm xưa. Sau 40 năm, những ngôi nhà, tòa nhà mới đã mọc lên, quang cảnh cũng nhiều thay đổi. Thật may mắn khi tìm gặp được những nhân chứng sống của năm xưa để nghe kể về những hồi ức không muốn nhớ nhưng thật khó nguôi quên.

Chung ngày giỗ, chung ký ức đau thương…

Chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Cầu, một cựu chiến binh, cán bộ hưu trí ở số nhà 19, ngõ Sân Quần, phường Khâm Thiên (Hà Nội), một trong ít những nhân chứng còn ở lại Khâm Thiên sau sự kiện bi thảm năm 1972. Giờ đã 76 tuổi, tóc bạc trắng, mắt mờ đi, nhưng ông vẫn hăng hái tham gia công tác đoàn thể, là Bí thư chi bộ kiêm Tổ trưởng tổ dân phố. 40 năm đã qua đi nhưng những ký ức về phố bom khi ấy thì chưa bao giờ phai nhạt trong ông. Ông bảo, rất nhiều đêm vẫn gặp ác mộng, với cảnh phố cháy rừng rực của 40 năm trước…

Ông Cầu kể lại: “Tôi còn nhớ rất rõ hôm đó là ngày 26/12, trời lạnh, khoảng 9 giờ tối, tôi đi trực chiến tại Nhà máy in Hà Nội, ở nhà chỉ còn vợ và con. Khoảng hơn 10 giờ đêm, đèn điện vụt tắt, hàng loạt tiếng nổ lớn kéo dài, tiếp theo là những đám cháy lớn bùng lên sáng rực. Tôi chạy vội về… Một cảnh tượng khủng khiếp hiện ra trước mắt: Hầu như toàn bộ khu phố Khâm Thiên trong chốc lát chỉ còn là một đống gạch vụn. Tôi tìm đường vào nhà, nhà tôi bị san phẳng, vợ và con tôi không thấy đâu, đêm tối không nhìn thấy gì cả, chỉ có những tiếng gọi nhau, kêu khóc. Lửa vẫn bập bùng cháy đây đó, người sống bới tìm người chết trong tuyệt vọng…

Chưa tìm thấy vợ con, tôi tiếp tục đi làm nhiệm vụ trực chiến và hy vọng mong manh rằng vợ con còn sống sót. Sáng hôm sau về nhà, trời sáng nhìn cảnh tượng tàn phá của bom B52 càng ghê rợn hơn. Đứng từ đầu phố có thể nhìn thấy cuối phố vì đã bị san phẳng. Nỗi lo sợ lớn nhất cũng đã được khẳng định: Chiếc hầm trú ẩn chứa hơn 40 người, trong đó có cả vợ và con tôi, cùng hai đứa cháu con bà chị gái và chú em ruột đã bị bom Mỹ ném trúng! Vợ con tôi và những người trong hầm đã tan vào đất đá, không nhận ra được gì nữa…

Xung quanh tôi lúc đó mọi người ra sức đào bới với hy vọng tìm thấy xác người thân, nhưng hầu hết không thấy. Tiếng khóc cha, khóc mẹ, khóc con, khóc người thân vang một góc phố. Xa xa là tiếng máy bay phản lực Mỹ vẫn ì ầm. Nhìn hàng dài những chiếc quan tài được mang đến để khâm liệm những nạn nhân, lòng tôi đau thắt… Chưa khi nào tôi phải hứng chịu một nỗi đau lớn lao đến vậy. Chỉ sau một loạt bom, giặc Mỹ đã cướp đi của tôi 5 người thân!” – giọng ông Cầu nghẹn lại.

Cũng hứng chịu những cảnh tang thương sau loạt bom B – 52 của Mỹ đêm 26/12/1972, gia đình ông Nguyễn Đình An mất 2 người thân. Năm nay, ông đã ngoài 70 tuổi, dù 40 năm đã trôi qua nhưng những hồi ức về cái đêm khủng khiếp đó vẫn hiển hiện trong ông, khi mất đi mẹ và người em chỉ trong một khoảnh khắc.

Không riêng gì nhà ông Cầu, ông An, trong cái đêm 26/12/1972 khủng khiếp ấy, toàn bộ 6 khối phố của Khâm Thiên hầu như đã bị xóa sạch. Gần 2.000 ngôi nhà bị sập, trong đó có 534 nhà bị phá hủy hoàn toàn. Bom Mỹ đã giết 287 sinh mạng. Trong phút chốc, hàng trăm gia đình phải chịu cảnh tang tóc, 178 em bé trở nên mồ côi, trong đó có 66 em bé mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhiều gia đình cả nhà không còn ai sống sót…

Ngày giỗ chung của hàng trăm gia đình ở Khâm Thiên, còn có gia đình chị Lê Thị Đức, ở ngõ Hồ Dài. Tuổi ngoài 50, chị vẫn mang trong mình di chứng do bom B52 gây ra cách đây đã 40 năm. Cái đêm đó khi máy bay Mỹ ném bom Hà Nội, còi báo động vang lên, mọi người lao xuống hầm trú ẩn… Một quả bom đã rơi trúng vào nhà và khu hầm nơi có 4 anh chị em chị Đức. Sau giây phút ấy, chị chẳng còn nhớ được gì cho đến khi tỉnh lại tại bệnh viện. Đau đớn hơn, mãi đến sau này chị mới biết, chỉ mỗi mình chị sống sót sau loạt bom đánh sập căn hầm…

Cuộc sống của chị kể từ đó trở nên cơ cực khi di chứng của vết thương do bom B52 đã làm ảnh hưởng đến sức lao động. “Tôi không sao quên được cái đêm kinh hoàng đó. Nó khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh tang tóc, không một mái nhà, mọi thứ mất hết mà chưa biết rồi cuộc sống sẽ ra sao”, chị Đức ngậm ngùi kể lại. Những tấm giấy dầu do Nhà nước cấp, những viên gạch vỡ còn lại sau trận bom… là tất cả những gì mà gia đình chị Đức cùng hầu hết người dân Khâm Thiên có được để xây dựng lại cuộc sống.

Ngày mới trên khu phố cũ

Cuộc sống của người dân Khâm Thiên hôm nay đã khác xưa rất nhiều. Với chị Đức, cuộc sống đã ổn định và no đủ. Với ông Cầu, ông An giờ có thể an nhàn vui tuổi già bên con cháu. Đúng như lời ông Nguyễn Văn Hòa, Bí thư Đảng ủy phường Khâm Thiên nói: 40 năm đã trôi qua, tất cả đã trở thành quá khứ. Cuộc sống của người dân Khâm Thiên hôm nay đã đổi thay. Bộ mặt đô thị đã đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Những khu phố sầm uất, những dãy nhà cao tầng và cuộc sống no ấm đã xóa đi cảnh hoang tàn ngày nào. Khâm Thiên hôm nay tươi sáng màu với Rạp chiếu phim Dân chủ đông vui mấy ca chiếu mỗi ngày, với những cửa hiệu thời trang sang trọng, cửa hàng bánh xinh xắn… hay quán ăn tấm tắc tiếng khách hàng xuýt xoa.

Ký ức đau thương ngày nào, giờ chỉ còn là hình ảnh Đài tưởng niệm (mà người dân nơi đây vẫn quen gọi là Bia Căm thù) nơi góc phố, với bức tượng người phụ nữ bế xác trẻ thơ… Nơi, để hàng ngày, những người còn sống nhớ về một nỗi đau không gì bù đắp được. Nơi, để thế hệ trẻ biết đến tội ác của B – 52 và những gì thế hệ trước đã trải qua trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Và cũng là nơi những du khách quốc tế đến Việt Nam có thể hiểu rõ hơn về nỗi đau chiến tranh vẫn còn âm ỉ đâu đó trên đất nước hiền hòa thanh bình này.

Bài và ảnh: Lê Sơn
baotintuc.vn

Bài 2: “Hồ B52” – Nơi lũy thép làng hoa

Những chứng nhân lịch sử – “Hồ B52” – Nơi lũy thép làng hoa

Đêm 27/12/1972, một chiếc máy bay B52 của Mỹ bị quân và dân Hà Nội bắn hạ, rơi xuống hồ Hữu Tiệp, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình. Đây là điểm duy nhất mà máy bay B52 rơi trong nội thành Hà Nội còn được lưu giữ đến hôm nay, nên nơi đây được người dân gọi là “hồ B52” và được giữ lại thành chứng tích lịch sử. Hồ B52 luôn là biểu tượng của chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, là niềm tự hào của người dân Hà Nội nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Một phần xác chiếc máy bay B52 tại hồ Hữu Tiệp.

Đến phường Ngọc Hà sau gần 40 năm kể từ khi chiếc máy bay B52 bị bắn rơi xuống hồ Hữu Tiệp, chúng tôi được nghe những câu chuyện vẫn còn in đậm trong trí nhớ của người dân nơi đây về trận chiến 12 ngày đêm anh dũng của quân và dân Hà Nội.

Bà Lê Thị Huệ, đội viên đội dân quân tự vệ làng Hữu Tiệp năm nào bồi hồi nhớ lại, chiến dịch rải thảm bom bằng máy bay B52 của không lực Hoa Kỳ vào cuối tháng 12/1972 đã khiến một nơi thanh bình như làng Hữu Tiệp cũng trở thành mục tiêu bắn phá. Làng hoa thành lũy thép và mỗi người dân là một chiến sĩ. Với bà Huệ, ký ức không phai mờ trong cuộc chiến quyết liệt giữa “Rồng lửa Thăng Long” với “pháo đài bay Mỹ” là hình ảnh chiếc máy bay B52 bị Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285 tên lửa phòng không bắn rơi ngày 27/12/1972, mà một phần của nó đã rơi xuống hồ Hữu Tiệp. Chiếc B52 đó bị bắn hạ khi chưa kịp “cắt bom” gây tội ác. Cũng rất may cho người dân trong làng, khi rơi xuống hồ, trong thân pháo đài bay Mỹ vẫn còn nguyên bom đạn. Ngay sau đó, lực lượng công binh đã đến ngay để tháo gỡ bom đạn trong xác chiếc máy bay.

Ông Nguyễn Lê Huy, người dân làng Ngọc Hà vẫn nhớ như in cảm giác hạnh phúc, tự hào khi được thấy máy bay B52 bị bắn rơi xuống chính mảnh đất quê mình. Đêm ấy, làng Hữu Tiệp có một đêm không ngủ, mọi người đều nói cười, vui sướng. Tiếng người gọi nhau vang khắp làng, ai cũng muốn tận mắt chứng kiến con ngáo ộp Mỹ phơi xác như thế nào. “Chiếc B52 bị trúng đạn cháy sáng cả một vùng. Khi máy bay rơi xuống lòng hồ thì nước hồ sôi lên sùng sục. Lúc đó, một số người còn ở lại làng để sản xuất thấy máy bay rơi đều chui lên khỏi hầm để xem. Lúc máy bay rơi mọi thứ chìm trong im lặng, khác hẳn với trước đó khi máy bay quần thảo ầm ĩ trên bầu trời. Rồi không khí vỡ òa ra khi người dân trong làng vừa chạy vừa hoan hô máy bay rơi. Chưa bao giờ người dân Ngọc Hà lại vui như vậy, cả đêm thức trắng. Đến giờ người dân nơi đây cũng không sao hiểu nổi chiếc máy bay Mỹ to đến vậy mà lại rơi đúng cái hồ nhỏ của làng” – ông Huy kể lại.

Là người con của làng Hữu Tiệp, ông Nguyễn Trọng Hiển luôn tự hào vì được trực tiếp chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội. Sau nhiều năm chiến đấu ở những mặt trận nóng bỏng xa nhà, ông được điều động về Hà Nội để tăng cường, ông Hiển nghĩ sẽ có cơ hội được gặp vợ con. Nhưng khi đóng quân ở một huyện ngoại thành, chỉ cách nhà hơn chục cây số, mà ông chưa một lần được về thăm nhà. Vợ ông khi đó cũng tham gia lực lượng tự vệ làng Hữu Tiệp để có thể sát cánh chiến đấu cùng chồng. Ông Hiển tâm sự: “Chiến đấu vì Tổ quốc đã rất thiêng liêng rồi, nhưng là người Hà Nội lại được về bảo vệ Hà Nội, tôi cảm thấy nhiệm vụ này thiêng liêng vô cùng. Dù rất gần vợ con, có khi chỉ cách chỗ con tôi sơ tán có hơn một cây số, nhưng bố con cũng không gặp được nhau, vì cuộc chiến quá ác liệt. Hôm biết tin máy bay B52 bị bắn rơi xuống đúng nơi gia đình mình đang sinh sống tôi lo lắng lắm, nhưng tôi không thể về nhà và cũng không có cách nào để liên lạc được với vợ con. Hôm sau, tôi tranh thủ xin đơn vị về thăm nhà. Về nhà không thấy vợ con mình đâu, tôi rất hoang mang. Nhưng khi được bà con hàng xóm cho biết là vợ tôi đang cùng lực lượng bộ đội tham gia gỡ bom trong xác máy bay, dù không gặp được vợ con ngay lúc đó nhưng tôi yên tâm trở về đơn vị, tiếp tục nhiệm vụ của mình”.

Hồ Hữu Tiệp luôn là niềm tự hào của người dân Ngọc Hà, biểu tượng của chiến thắng 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Hiện khu vực quanh hồ này đã được cải tạo thành con đường nhỏ, trở thành nơi dạo chơi của trẻ em, nơi tập dưỡng sinh, thể dục của các cụ già và ngay cạnh đó là Trường Tiểu học Ngọc Hà. Ít có nơi nào, học sinh lại được dạy lịch sử từ một bài học truyền thống sống động, trực quan như ở đây.

Em Vũ Thị Thảo Anh, lớp 5A3, Trường Tiểu học Ngọc Hà, là gia đình gốc làng Hữu Tiệp. Từ nhỏ em cùng các bạn trong “làng” đã được ông bà, bố mẹ đưa ra hồ B52 để chơi và kể cho em biết về lịch sử gắn liền với xác chiếc máy bay đang nằm ở đây. Khi đi học em lại được các cô giáo giảng giải thêm, khiến các em càng trân trọng di tích này hơn. Vừa nhắc đến hồ B52, em Thảo Anh rất tự hào khoe: “Hàng ngày chúng em được học ở ngôi trường kế bên di tích lịch sử này, được giáo dục về truyền thống lịch sử của vùng đất nơi mình đang sống. Hàng tuần, chúng em đều ra đây làm vệ sinh, nhặt rác quanh hồ để cùng mọi người giữ gìn cảnh quan. Bây giờ, khi gặp khách du lịch, chúng em có thể tự tin giới thiệu với họ về lịch sử của chiếc máy bay rơi tại hồ của làng mình”.

Cô Vũ Thanh Hương, giáo viên lớp 5A3, Trường Tiểu học Ngọc Hà tâm sự: “Chúng tôi có một may mắn khi giáo dục các em về lịch sử, về truyền thống uống nước nhớ nguồn bởi ngay trước mặt trường học của chúng tôi đây là một chứng tích lịch sử, ngay trong mỗi gia đình các em đều có những nhân chứng lịch sử. Và như thế, mỗi buổi học về lịch sử, đạo đức với chúng tôi đều nhẹ nhàng và đầy xúc động.”

Cùng với Đài tưởng niệm nạn nhân của bom Mỹ ở phố Khâm Thiên, xác pháo đài bay B52 ở Ngọc Hà không chỉ góp phần làm cho thế giới hiểu hơn về cuộc chiến tranh Việt Nam, mà còn giúp thế hệ sau thấm thía rằng chiến thắng hào hùng đã phải trả bằng máu và nước mắt của những thế hệ đi trước, để càng cố gắng hơn trong sự nghiệp xây dựng thủ đô và đất nước văn minh, giàu đẹp.

Bài và ảnh: Lê Sơn
baotintuc.vn

Bài cuối: Nơi lưu giữ những ký ức không thể nào quên