Ba ngày Tết thắng ba trận giòn giã

QĐND Online – Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ở nơi cực Nam Tổ quốc, có một người con ưu tú của quê hương Cà Mau mà tên tuổi ông gắn liền với những chiến tích oai hùng của một đơn vị bám trụ đánh giặc trên tuyến đường Vòng Cung (Cần Thơ). Ông là Đại úy, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Hồng Phước (thường gọi là Hai Thành), nguyên Đại đội trưởng Đại đội “gang thép”, hiện ngụ tại huyện Trần Văn Thời (Cà Mau).

Một ngày cuối năm, chúng tôi có dịp nghe ông, người cựu chiến binh tuổi ngoại “bát tuần”, kể về những trận đánh đầu xuân năm ấy…

– Giáp Tết năm 1968, tôi cùng anh em trong Đại đội “gang thép” (Tiểu đoàn 303, Trung đoàn 1, Quân khu 9) đang trực sẵn sàng chiến đấu. Mặc dù chỉ còn vài ngày nữa là đến Tết Nguyên đán nhưng chiến sự ác liệt nên chẳng ai còn nghĩ đến bánh chưng, bánh tét. Dù vậy, chiều 30 Tết, cảm giác đau đáu nhớ hơi ấm gia đình vẫn khiến chúng tôi thoáng chút bùi ngùi. Đúng thời điểm đó, tôi nhận lệnh gấp rút chỉ huy đơn vị ứng cứu giải vây cho Tiểu đoàn 307 đang thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm Đài phát thanh Cần Thơ. Lập tức, tôi thống nhất phương án rồi chỉ huy đại đội cơ động ngay trong đêm. Vào đúng thời điểm thiêng liêng nhất, lắng đọng nhất của một năm thì chúng tôi lại ba lô, súng ống ra đi trên những con thuyền lướt dọc bờ kênh. Phía xa xa, câu vè ai đó vẳng trong đêm thanh vắng: “Má ơi, bộ đội của mình/ Đánh Tây cũng giỏi, lội sình cũng hay” như tiếp thêm sức mạnh cho đơn vị hành quân. Phút giao thừa, trong cái mênh mông thăm thẳm của đêm Ba mươi, giữa thời khắc trời đất giao hòa, cả đơn vị bừng bừng khí thế khi nghe lời thơ của Bác: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua…”.

Ông Phước đang kể lại trận đánh năm xưa

Ông Phước đọc hết bài thơ chúc Tết của Bác Hồ đầu Xuân 1968, rồi bất chợt ngừng lời như để hình dung đầy đủ gương mặt những người đồng đội cùng hành quân giữa mùa xuân năm ấy. Giây lát, ông kể tiếp:

– Cơ động đến nơi chúng tôi được giao nhiệm vụ án ngữ ngã ba Cần Thơ chặn đứng mũi phản công của địch để mở đường cho Tiểu đoàn 307 chuyển sang thế tiến công. Sớm mồng 2 Tết, sau khi đơn vị triển khai xong đội hình ngăn chặn địch thì lực lượng của chúng cũng vừa tới nơi. Đợi chúng vào đúng phạm vi phục kích, tôi ra lệnh nổ súng tiêu diệt chiếc xe tăng đi đầu. Bị bất ngờ, đội hình cơ động của địch hoảng loạn. Theo hiệp đồng, cả đại đội đồng loạt tiến công dũng mãnh tiêu diệt hơn 100 tên, giữ vững khu vực ngã ba, không cho quân địch cơ động vây ép Tiểu đoàn 307. Đó là trận thắng đầu tiên của Đại đội “gang thép” trong dịp Tết cổ truyền 1968, nhưng chúng tôi vẫn thấy không vui bởi đạn bom đã át tiếng pháo Xuân, niềm vui của đồng bào chưa trọn vẹn…

Ngay sau đó, Đại đội “gang thép” lại nhận lệnh bàn giao trận địa, cơ động chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 303, phục kích chặn đánh đoàn xe của địch trên tỉnh lộ 4. Trận đánh này, Đại đội trưởng Nguyễn Hồng Phước đã thể hiện rõ kinh nghiệm của người chỉ huy dạn dày trận mạc. Ông Phước nhớ lại:

– Tối mồng 2 Tết, khi đâu đó vẫn đì, đoàng tiếng pháo đón xuân thì anh em chúng tôi lại vội vã lên đường không kịp ăn cơm. Mỗi người chỉ mang theo một ít cơm cháy, cơ động đến khu vực tác chiến của Tiểu đoàn 303. Sáng mồng 3, trong khi đơn vị đang nằm phục kích chờ đoàn xe địch, thì bất ngờ chúng cho trực thăng đổ bộ một tiểu đoàn biệt kích ngay sát đội hình đại đội tôi. Chậm trễ sẽ mất thời cơ, nguy hiểm cho đơn vị, không kịp báo cáo lên trên, tôi trực tiếp chỉ huy đại đội đánh lướt bên sườn đội hình đổ quân của chúng khi vừa chạm đất, nhằm thu hút hỏa lực tạo điều kiện cho tiểu đoàn ta triển khai đội hình tiêu diệt quân địch. Trận đánh thắng lợi. Do mất liên lạc, đoàn xe của chúng vẫn cơ động theo hướng cũ nên bị lực lượng của ta bắn cháy và phá hủy 70 chiếc. Số còn lại buộc phải rút về nơi xuất phát.

Ông Nguyễn Hồng Phước (giữa) nhận Danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân (ảnh nhân vật cung cấp)

Sau trận phục kích, tối mùng 3, Đại đội “gang thép” rút về hậu cứ. Nhưng ở đó lại diễn ra trận đánh thứ 3 khi một sư đoàn lính da đen và quân chư hầu tổ chức thành nhiều mũi tiến công vào khu vực đóng quân đơn vị. Một lần nữa, Đại đội trưởng Phước lại thể hiện rõ khả năng chỉ huy tác chiến, anh lệnh cho một tiểu đội triển khai cách xa đơn vị, nổ súng vào đội hình địch, đánh lạc hướng tiến công của chúng. Đồng thời, anh đề nghị hỏa lực pháo binh chi viện dồn dập vào mục tiêu chừng 30 phút, đủ thời gian bố trí đội hình. Chiều mồng 4, khi pháo vừa ngưng, anh ra lệnh cho toàn đơn vị khép chặt gọng kìm bẻ gãy mũi tiến công của địch, buộc chúng phải rút lui. Chiến thắng đầy mưu trí, sáng tạo của Đại đội “gang thép” đã được Trung đoàn 1 biểu dương khen ngợi.

– Vậy là, chỉ trong 3 ngày Tết, các chú đã liên tiếp cơ động chiến đấu 3 trận giành thắng lợi. Đúng là kỳ tích của Đại đội “gang thép” – Tôi bày tỏ lòng ngưỡng mộ. Ông Phước gật gù:

– Chúng tôi chiến đấu trên địa bàn “nóng” của miền Tây Nam bộ, nhiều đơn vị đã bị thương vong nghiêm trọng. Riêng đại đội tôi vẫn bám trụ kiên cường lại còn khiến quân thù khiếp sợ. Bởi vậy mới có tên là Đại đội “gang thép”! Chúng tôi luôn sẵn sàng cơ động đánh địch bất kể gian khổ, hiểm nguy. Ngay cả những ngày Tết, mọi người sum họp gia đình, nhưng chúng tôi không có thời gian để nghĩ đến cảm giác quây quần bên mâm cơm ấm cúng; thậm chí bụng đói cồn cào, thèm một miếng bánh chưng, bánh tét cũng chỉ biết nén lòng vì nhiệm vụ… Mãi đến chiều mùng 8, khi tiếng súng tạm ngưng chúng tôi mới tự thưởng cho mình một bữa liên hoan bằng cách chế biến lại các món ăn trong khẩu phần và một ít thịt heo do các má, các cháu mang cho. Nhìn chúng tôi ai nấy phờ phạc, lặng ngồi bên mấy chiếc bát bỏ không “chờ” đồng đội, các má bật khóc òa…

Bữa cơm đón xuân, mừng thắng lợi sau mấy ngày vất vả, tuy muộn mằn, đạm bạc nhưng với mỗi thành viên Đại đội “gang thép” nó thật ý nghĩa, không thể nào quên.

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Gặp nữ du kích sông Hương tham gia chiến đấu trong Tết Mậu Thân 1968

QĐND Online – Chúng tôi tìm về ngôi nhà nhỏ xinh xắn nằm trong ngõ 131/1 đường Bà Triệu, thành phố Huế, để gặp chị Hoàng Thị Nở, một nữ du kích trong tiểu đội 11 cô gái Sông Hương, từng tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1986.

Tiếp chúng tôi là người phụ nữ có gương mặt phúc hậu, giọng nói nhỏ nhẹ, chân tình và cởi mở. Bên ly trà Cung Đình Huế, chị kể: Sinh ra tại làng Vân Thê, xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, trong một gia đình nông dân nghèo có bảy chị em, chị là con thứ tư. Năm 1966, khi vừa tròn 17 tuổi, chứng kiến sự đau thương mất mát quá lớn do tội ác của bọn Mỹ, ngụy gây ra cho những người thân trên mảnh đất quê hương, chị đã tình nguyện vào du kích xã. Chưa đầy một năm sau chị được tuyển chọn vào Tiểu đội nữ du kích 11 cô gái sông Hương.

“Mười một chị em ngày ấy mỗi người một hoàn cảnh, một tính cách nhưng có một điểm chung là đều rất nghèo và đều tình nguyện tham gia cách mạng bằng tất cả niềm khát khao cháy bỏng và trái tim nhiệt huyết của tuổi trẻ”, chị Nở bồi hồi.

Chị Hoàng Thị Nở trò chuyện cùng tác giả.

Nhớ lại những ngày trực tiếp cầm súng tham gia các trận đánh Tết Mậu Thân năm 1968, chị kể: Ngày 11-2-1968, đồng chí Hoàng Lanh, Bí thư Thành ủy Huế xuống trao đổi với chúng tôi rằng, các đơn vị chủ lực của ta đã đánh vào trong lòng thành phố Huế. Cấp trên cho biết, ngày 12-2, tiểu đoàn thủy quân lục chiến của Mỹ ở Phú Bài sẽ lên đánh ứng cứu giải vây cho đối phương. Nhiệm vụ của tiểu đội nữ du kích là phối hợp với các đơn vị bạn bẻ gãy đợt tấn công lần này của địch. Trong trận chiến đó, tiểu đội của chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt 120 tên địch ở ngã ba chợ Cống.

Nhưng trong trận chiến hôm đó, chị Nở bị thương ở đầu; bốn đồng đội của chị cũng anh dũng hy sinh khi tuổi đời đẹp nhất, đó là các chị: Đỗ Thị Hoa, Hoàng Thị Sau, Hoàng Thị Hết, Nguyễn Thị Diên.

Kể đến đây, chị Nở lại nghẹn ngào.

Vừa lật giở cho chúng tôi xem những kỷ vật của một thời trận mạc, chị Hoàng Thị Nở vừa kể tiếp: “Tết Mậu Thân năm 1968, tôi cùng đồng đội chiến đấu liên tục 20 ngày đêm bên bờ sông Hương. Cả ngày bám giữ chiến hào, mùi thuốc súng khét lẹt. Bánh tét, bánh chưng và quà tết được các bà các mẹ trong phố mang ra tiếp tế. Cảm động lắm chú ạ! Lúc đó, ai cũng quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cao cả và ước mơ tới một ngày đất nước hoàn toàn tự do độc lập, để được đón một cái Tết trong niềm vui hòa bình. Có sống trong những ngày gian khổ ác liệt đó mới thấy được giá trị của hai chũ TỰ DO chú à”. Nói rồi, chị nhìn chăm chú vào chúng tôi như muốn gửi gắm một điều gì đó!

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tiểu đội nữ du kích mỗi người đảm nhiệm một vị trí công tác. Chị Hoàng Thị Nở được bổ nhiệm giữ chức vụ Chính trị viên xã đội. Năm 1980, chị được chuyển qua công tác tại Hội Nông dân thành phố Huế rồi được giữ chức Chủ tịch Hội cho đến năm 2007 thì nghỉ hưu theo chế độ. Chị vừa được nhận huy hiệu 45 năm tuổi Đảng. Chồng chị, anh Nguyễn Công Xanh cũng là thiếu tá, từng công tác tại Ban CHQS Thành phố Huế nay cũng đã nghỉ hưu. Chị bộc bạch rằng, so với nhiều đồng đội, chị may mắn lắm rồi, bởi nhiều người cùng chiến đấu với chị hiện nay cuộc sống vẫn còn vất vả, con cái bị ảnh hưởng chất độc da cam…

Ngôi nhà của gia đình chị ở bây giờ, trước đây là hầm hào công sự. Cách nhà chị khoảng vài trăm mét là Bia chiến tích 11 cô gái sông Hương được xây dựng năm 2009.

Vợ chồng chị rất hạnh phúc với tổ ấm của mình. Hai cô con gái đã có ông ăn việc làm ổn định và đã lập gia đình. Chị thông báo với chúng tôi là đã…lên chức bà ngoại. Bây giờ dù sức khỏe không được tốt do những vết thương thường xuyên tái phát nhưng chị vẫn ước ao được gặp lại những chị em trong tiểu đội nữ du kích sông Hương ngày nào. Chị bảo, những nữ du kích trong tiểu đội còn sống đến hôm nay đều đã bước qua tuổi 65; mỗi người một hoàn cảnh. Nhưng dù ở đâu, làm gì họ cũng đều giữ được hình ảnh và truyền thống tốt đẹp của Tiểu đội 11 cô gái sông Hương huyền thoại.

Bài và ảnh: TRẦN ĐÌNH THĂNG
qdnd.vn

Táo bạo đánh vào trung tâm cơ sở địch

QĐND – Sau Tết Mậu Thân 1968, chính quyền Sài Gòn đưa quân đội, lực lượng bảo an và ác ôn điên cuồng càn quét, dồn dân, lập ấp, tiếp tục bình định tìm diệt các cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang của ta. Ở xã Kỳ Mỹ (Phú Ninh, Quảng Nam), ta đã xây dựng được đơn vị du kích với 20 người, trang bị vũ khí ít ỏi. Trước sự càn quét của địch có xe tăng, xe cơ giới yểm trợ, lực lượng du kích ta đành phải rút vào hoạt động bí mật.

Biết ta có lực lượng du kích ở xã nên địch tìm mọi cách lùng sục, càn quét, dồn dân nhằm khủng bố tinh thần nhân dân, cách ly dân với lực lượng vũ trang ta. Chính quyền phản động ở xã cũng tiếp tay cho địch, chỉ đạo bọn dân vệ, dân phòng, bảo an bắt bớ, đàn áp nhân dân. Để tiến công địch, chống dồn dân và đàn áp dân, chi bộ Đảng xã Kỳ Mỹ họp và thống nhất chỉ đạo Đội du kích xã táo bạo đánh vào trung tâm cơ sở địch, diệt gọn Hội đồng xã để chính quyền phản động không còn hung hăng.

Kế hoạch đã được vạch ra. Đêm xuống, du kích xã bí mật vào chôn khối thuốc nổ 24kg có hẹn giờ vào trụ sở Hội đồng xã Kỳ Mỹ. Nhưng do cài lệch giờ nên khi khối thuốc phát nổ, Trụ sở Hội đồng xã Kỳ Mỹ chỉ còn đống gạch vụn, nhưng toàn bộ Hội đồng xã đã ra về hết. Trận đánh khiến chính quyền phản động của địch kinh sợ. Sau đó, địch dời trụ sở về sát trường tiểu học, nhằm lấy con em của nhân dân làm tấm bình phong.

Quyết tâm tiêu diệt những tên cầm đầu phản động của du kích xã vẫn được củng cố. Lần này, chỉ huy và các đội viên du kích tính toán và đề ra kế hoạch cụ thể, thận trọng hơn để tránh làm thương vong cho học sinh và dân thường. Được cơ sở của ta thông báo, địch sẽ họp tại trụ sở vào ngày 9-6-1971, theo kế hoạch, du kích xã bố trí lực lượng đánh lựu đạn, lực lượng khống chế các cửa ra vào và thoát hiểm. Đúng 9 giờ, cô Lanh, một cơ sở hợp pháp mặc áo hồng đi về phía các đội viên du kích nở nụ cười tươi rói, đó cũng là tín hiệu cho biết địch đã tập trung đông đủ. Theo hiệu lệnh chỉ huy, các đội viên du kích xuất phát tiến công theo phương án đã thống nhất. Trận đánh bất ngờ khiến địch không kịp trở tay, toàn bộ Hội đồng xã bị tiêu diệt gọn.

Trận đánh khiến chính quyền phản động và các lực lượng của địch kinh hoàng, tạo thế cho nhân dân từ các khu dồn bung ra về với làng cũ, phong trào cách mạng xã Kỳ Mỹ phát triển cho đến ngày quê hương hoàn toàn giải phóng.

NHẬT QUANG
qdnd.vn

Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 20 tháng 02 năm 2013, nhân dịp đầu xuân mới, tại Quảng trường Ba Đình, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã diễn ra lễ báo công của Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu. Tham dự buổi lễ có các đồng chí đại diện các hòng chức năng, đại diện Ban Chấp hành Đoàn cơ sở cùng với sự có mặt của 390 cán bộ, chiến sĩ tiêu biểu xuất sắc, đại diện cho hơn 1200 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu.

1.a1.CSBV  bao congTrung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu là một bộ phận trong lực lượng Công an nhân dân, trực thuộc Cục Cảnh sát Bảo vệ – Tổng cục VII – Bộ Công an, được tái thành lập từ tháng 12 năm 1999 với chức năng, nhiệm vụ tổ chức lực lượng vũ trang canh gác bảo vệ các mục tiêu chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật quan trọng của Đảng và Nhà nước trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Trong những năm qua, mặc dù điều kiện công tác còn nhiều khó khăn, gian khổ, song với ý chí quyết tâm và lòng trung thành sắt son với Đảng, với Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng, sự sáng tạo, nỗ lực vươn lên của cán bộ, chiến sĩ, qua 14 năm xây dựng, chiến đấu, Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu không ngừng lớn mạnh, trưởng thành về mọi mặt. Từ năm 2008 đến năm 2012, Đảng bộ cơ sở Trung đoàn đều đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh và danh hiệu Đơn vị Quyết thắng. Đặc biệt, năm 2011, Trung đoàn được Bộ Công an tặng Cờ “Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua Vì an ninh Tổ quốc cấp cơ sở”, nhiều tập thể và cá nhân được Chính phủ, Bộ Công an tặng Bằng khen. Riêng năm 2012 Trung đoàn có 01 tập thể và 04 cá nhân được Bộ Công an tặng Bằng khen, 03 tập thể và 38 cá nhân được Tổng cục VII tặng Giấy khen, 07 tập thể và 69 cá nhân được Cục Cảnh sát Bảo vệ tặng Giấy khen, 68 cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, 760 cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến và Lao động tiên tiến. Đó là những tấm gương tiêu biểu trong học tập và làm theo lời Bác dạy.

 Thay mặt Trung đoàn Cảnh sát Bảo vệ mục tiêu, đồng chí Thượng tá Vũ Tiến Triển – Bí thư Đảng uỷ, Trung đoàn trưởng xin hứa: “Tiếp tục phát huy truyền thống và thành tích đã đạt được trong chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, nỗ lực vượt qua khó khăn thử thách, ra sức khắc phục những tồn tại, thiếu sót. Đề cao cảnh giác cách mạng, không ngại gian khổ, hy sinh, tận tuỵ với công việc, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu, lập công xuất sắc góp phần tô thắm thêm bảng vàng truyền thống của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam anh hùng, xứng đáng với những tình cảm mà Bác đã dành cho lực lượng Công an nhân dân”.

1.a2.CSBV vao lang vieng Bac
Đoàn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi lễ, Đoàn đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Phim tài liệu “Mậu Thân 1968” – 10 năm cho 12 tập phim

(VOV) – Đạo diễn Lê Phong Lan mất tới 10 năm để thu thập tư liệu làm phim tài liệu về cuộc chiến Tết Mậu Thân 1968.

Tiếp sau bộ phim tài liệu “Hiệp định Paris 1973” nhận được nhiều sự quan tâm của khán giả, Đài Truyền hình Việt Nam sẽ phát sóng bộ phim tài liệu dài 12 tập mang tên “Mậu Thân 1968”. Nhân dịp này, phóng viên VOV phỏng vấn bà Lê Phong Lan – đạo diễn bộ phim.

PV: Thưa đạo diễn Lê Phong Lan, điều gì khiến bà quyết định làm bộ phim tài liệu lịch sử về Tết Mậu Thân năm 1968 – thời điểm mà đến giờ vẫn rất ít người chọn vì mức độ nhạy cảm của nó?

Đạo diễn Lê Phong Lan: Câu chuyện cách đây gần 10 năm rồi. Khi đó, tôi làm bộ phim về vị tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn. Và có lẽ từ câu chuyện chiến tranh của ông Phạm Xuân Ẩn – nhân vật tình báo xuất sắc của mạng lưới tình báo H63, một trong 4 con át chủ bài của 30 lưới tình báo trước năm 1975 đó đã cho tôi một câu chuyện dẫn tới việc làm bộ phim này. Ông Phạm Xuân Ẩn nói rằng: “Cháu phải làm bộ phim về Tết Mậu Thân năm 1968 vì đó là sự hi sinh vô cùng lớn lao của quân và dân VN để giành được thắng lợi mà cho đến bây giờ không hiểu sao ít người nói đến”.

Trong quá trình tìm hiểu, tôi có gặp một số giáo sư người nước ngoài như ông Larry Berman (tác giả cuốn Điệp viên hoàn hảo). Năm 2001, ông ấy sang Việt Nam để viết sách về ông Phạm Xuân Ẩn. Tôi đã dành thời gian đọc 5 cuốn sách Larry Berman viết về Việt Nam. Đọc xong, tự nhiên có điều đó thôi thúc tôi tìm hiểu về sự kiện Tết Mậu Thân. Trong khi song hành làm những bộ phim khác, thì tôi cũng làm luôn về Tết Mậu Thân.

Sau khi nghiên cứu các sự kiện và phác họa ý tưởng thực hiện, để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử, tôi và ê kíp đã mất 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, các học giả uy tín trong và ngoài nước. Thế nên trong phim này 2/3 nhân vật mà tôi phỏng vấn đã mất.

Đạo diễn Lê Phong Lan phỏng vấn một nhân chứng

PVTrong 10 năm thực hiện bộ phim tài liệu lịch sử “Mậu Thân 1968”, điều gì khiến bà trăn trở nhất?

Đạo diễn Lê Phong Lan: Điều mà tôi trăn trở rất nhiều. Đó là có rất nhiều bạn trẻ đang hiểu sai lệch về sự kiện này. Lý do có lẽ là 45 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân vẫn chưa có ai cứu sâu và nói rõ ràng, đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng  những nghiên cứu đó về Tết Mậu Thân. Và chúng tôi có trách nhiệm phải làm sáng tỏ, vì nói như nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn thì đó là ý chí, là nghị lực, là lòng yêu nước nồng nàn của ông cha ta, quyết tâm giành độc lập.

Không cho phép mình sai lầm hoặc một chiều, tôi đã phỏng vấn hàng trăm nhân chứng, đối chất từng người một, sang Mỹ 4 lần liền gặp gỡ các cựu chiến binh Mỹ, các nhà sử học Mỹ, vào các kho lưu trữ để đối chất vấn đề đó. Tôi nghĩ rằng bộ phim này chưa thể nói hết được tất cả về Tết Mậu Thân năm 1968, nhưng tôi nghĩ rằng tôi cũng nói được những vấn đề cơ bản nhất.

PVBộ phim tài liệu lịch sử “Mậu Thân năm 1968” được phát trong thời điểm 45 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân 1968 có ý nghĩa như thế nào với cá nhân bà, thưa đạo diễn Lê Phong Lan?

Đạo diễn Lê Phong Lan: Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ – một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kĩ thuật gấp 800 lần Việt Nam lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ XX.

Tiếp đến, là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt. Nó chính là nguồn gốc để hình thành và phát triển nên kế hoạch Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Đồng thời, lý giải tại sao thời cơ chiến lược lại rơi đúng vào dịp tết Mậu Thân 1968. Và tại sao từ 3 khả năng mà Bộ Chính trị đã xác định lại chuyển dần thành mục tiêu duy nhất – thực hiện trận quyết chiến chiến lược, giành chính quyền về tay nhân dân.

Bên cạnh đó, những so sánh về tương quan lực lượng giữa các bên tham chiến, sự chuẩn bị khẩn trương của tất cả các lực lượng quân giải phóng trước cuộc động binh lịch sử, khí thế của cả một thế hệ ra trận trong lời thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh trước cơ hội ngàn năm có một cũng được tái hiện chân thực và sinh động. Tôi chỉ mong rằng sau bộ phim, các bạn trẻ sẽ hiểu hơn, có cái nhìn chân thực hơn về sự kiện lịch sử này.

Đạo diễn Lê Phong Lan tại Mỹ

PVTrong tương lai, bà vẫn sẽ trung thành với việc theo đuổi đề tài lịch sử trong các bộ phim sắp tới chứ?

Đạo diễn Lê Phong Lan: Tôi không biết tại sao mình lại mê lịch sử như thế. Nhưng tôi hiểu lịch sử chính là tương lai của bản thân. Nếu tôi hiểu lịch sử thì chắc chắn tôi sẽ đứng trên một bệ phóng rất vững để đi những bước tiếp theo.

Qua quá trình tìm hiểu thì tôi cảm nhận được sự vĩ đại của thế hệ cha ông mình, họ đã hi sinh tất cả vì độc lập. Tôi muốn hiểu vì sao ông cha ta lại dám đánh đổi cả tài sản, tính mạng, gia đình để đổi lấy độc lập tự do. Và tôi cũng muốn hiểu độc lập tự do là gì mà dân tộc ta hết thế hệ này đến thế hệ khác sắn sang đánh đổi tất cả để có? 15 năm qua, tôi miệt mài đi tìm điều đó, từ phim này đến phim khác. Và tôi sẽ tiếp tục hành trình đó ở những bộ phim tiếp theo.

PVXin cảm ơn đạo diễn Lê Phong Lan./.

Bộ phim tài liệu lịch sử “Mậu Thân 1968” dài 12 tập, thời lượng 30 phút/1 tập. Tập 1 sẽ phát sóng vào lúc 20h45, ngày 25/1 trên kênh VTV1, Đài THVN. Nội dung của 12 tập phim như sau:

Tập 1: Cuộc đối đầu lịch sử Tập 7: Huế – 26 ngày đêm
Tập 2: Bí mật kế hoạch X Tập 8: Khúc ca bi tráng
Tập 3: Trước giờ G Tập 9: Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh
Tập 4: Nghi binh Khe Sanh Tập 10: Không có gì quý hơn độc lập tự do
Tập 5: Tết Mậu Thân 1968 Tập 11: Mậu Thân trong lòng nước Mỹ
Tập 6: Mục tiêu chiến lược Tập 12: Tượng đồng bia đá

Mai Lan/VOV1 (thực hiện)
vov.vn

Trưng bày “Phụ nữ Sài Gòn – Gia Định trong Mậu Thân 1968”

(VOV) – 170 hình ảnh và hiện vật giới thiệu đến khách tham quan những đóng góp của phụ nữ Sài Gòn – Gia Định trong chiến dịch Mậu Thân 1968.

Nhân kỷ niệm kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam , 45 năm Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, sáng nay (30/1), Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ khai mạc trưng bày chuyên đề “Phụ nữ Sài Gòn – Gia Định trong Mậu Thân 1968”.

Lễ cắt băng khai mạc phòng trưng bày. (ảnh: doanhnhansaigon)

170 hình ảnh và hiện vật trưng bày tại bảo tàng giới thiệu đến khách tham quan những đóng góp của phụ nữ Sài Gòn – Gia Định trong những ngày khói lửa Mậu Thân 1968. Họ đã đóng vai trò quan trọng trong các chiến thắng trên các lĩnh vực: tình báo, chính trị, phụ vận, giao liên, vũ trang, phục vụ chiến đấu. Dù ở vai trò nào, các mẹ, các chị cũng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần bất khuất của mình.

Dịp này, thế hệ trẻ cũng được giao lưu với nhân chứng của một thời oanh liệt, có đóng góp trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968. Có mặt tại triển lãm, bà Vũ Minh Nghĩa, bí danh Chín Nghĩa, công tác tại đội 5, Biệt động Sài Gòn – Gia Định cho biết trong Chiến dịch Mậu Thân 1968, đơn vị của bà đánh vào cổng sau dinh Độc Lập. Sau đợt tấn công thứ nhất thì bà đã bị bắt nhưng nhiều đồng chí, đồng đội của bà vẫn tiếp tục tham gia đợt thứ 2, thứ 3. Chị em phụ nữ ngày ấy quyết tâm là điều gì mấy anh làm được thì họ cũng làm được, nhiệm vụ nào Đảng giao cũng phải hoàn thành.

Triển lãm kéo dài đến ngày 30/5/2013./.

PV/VOV-TPHCM
vov.vn

Nhân chứng kể chuyện tổng tấn công Tết Mậu thân 1968

(VOV) -Đã 45 năm trôi qua, nhưng Mậu Thân-1968 vẫn mãi âm vang như một mốc son của lịch sử quân sự Việt Nam.

Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, bà Hoàng Thị Nở, thành viên của Tiểu đội du kích 11 cô gái Sông Hương vẫn nhớ như in diễn biến của chiến dịch nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Ngày ấy, các chị tham gia tiểu đội du kích xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Ban đầu các chị bám sát địa bàn, hoạt động trong lòng thành phố, nắm các mục tiêu quan trọng của địch, dẫn đường cho bộ đội vào tấn công địch ở phía nam thành phố Huế…

Để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng này, các chị phải mất nhiều tháng trời trinh sát, nắm rõ từng mục tiêu của địch.

Đêm 30 Tết năm đó, các chị chia làm ba tổ dẫn ba cánh quân vào thành phố đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, khiến địch không kịp trở tay.

Ảnh tư liệu

Chỉ trong một ngày đêm, quân và dân ta đã hoàn toàn làm chủ thành phố Huế. Ngày 12/2/1968 (tức 12 Tết Nguyên đán), khi địch tổ chức phản công, Tiểu đội 11 cô gái sông Hương cùng với bộ đội đã tổ chức đánh phản kích đẩy lùi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, bắn cháy nhiều xe tăng, tiêu diệt 120 tên dịch ở ngã ba chợ Cống. Trong trận đánh đó, 4 chị anh dũng hy sinh.

Đã vào cái tuổi 80 nhưng ông Ngô Kha, tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968 ở cánh phía bắc thành Huế, còn nhớ rõ: Đêm 30 Tết năm đó, bộ đội ta từ khắp nơi đồng loạt tấn công địch ở cả cánh nam, cánh bắc thành phố Huế, nhanh chóng chiếm giữ các mục tiêu quan trọng, quân ta đã làm chủ thành phố Huế, cờ giải phóng bay trên cột cờ Phu Văn Lâu suốt 26 ngày đêm.

Ông Ngô Kha nhớ lại: Dân ở vùng tạm chiếm đã 23 năm, nhưng thấy quân cách mạng vào họ sẵn lòng giúp đỡ bộ đội lương thực, lập trạm đưa thương binh lùi tuyến sau, đào giao thông, hầm cho bộ đội chiến đấu…

Cuộc tổng tấn công nổi dậy Xuân 1968, là một biểu hiện sáng ngời về ý chí và sức mạnh quật cường của quân và dân Việt Nam; thể hiện tính sáng tạo, tài mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta.

Ông Nguyễn Đức Thuận, ở  phường Phước Vĩnh, thành phố Huế,  nguyên trinh sát của đơn vị K8 tham gia chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, tâm sự: Chiến dịch Mậu Thân-1968 ở Huế, là thắng lợi to lớn về sức mạnh, tinh thần của dân tộc Việt Nam, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris năm 1973.

Ý nghĩa của chiến thắng Tết Mậu Thân 1968, cho đến bây giờ vẫn còn nguyên tính thời sự. Đó là khát vọng độc lập tự do và hòa bình thịnh vượng cho cả dân tộc Việt Nam./.

Lê Hiếu/VOV-Miền Trung
vov.vn

Nhớ về chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đi vào lịch sử chiến tranh cách mạng dân tộc, góp phần cùng cả nước chiến thắng đế quốc Mỹ, tiến tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Những ngày Tết Nguyên đán cách đây 42 năm, cùng với tiếng súng tấn công địch trên toàn miền Nam, quân và dân Huế đã đồng loạt tiến công, nổi dậy, làm chủ thành phố Huế suốt 26 ngày đêm, cùng với cả nước lập nên chiến công vang dội của cuộc tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Ngày cận Tết, người Huế tất bật sửa sang, dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa đón năm mới. Nhà nhà chuẩn bị bánh mứt, gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, gói bánh chưng dâng lên ông bà tổ tiên. Trong không khí ngày xuân, ông Phan Nam (82 tuổi), nguyên Bí thư Quận uỷ quận Nhì, thành phố Huế trầm ngâm bên chén trà đặc sánh, bồi hồi nhớ lại những ngày tháng chiến đấu gian khổ và hào hùng của quân và dân Huế trong chiến dịch xuân Mậu Thân 1968.

Ông Phan Nam nhớ lại: Năm 1966, Bộ Chính trị quyết định thành lập Khu uỷ và Quân khu Trị Thiên – Huế trực thuộc Trung ương và Bộ Quốc phòng. Từ một khu đệm không đánh lớn, giờ đây Trị Thiên – Huế trở thành mặt trận tấn công địch, cùng với mặt trận Đường 9, Bắc Quảng Trị hợp thành một chiến trường quan trọng, tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp tác chiến với các chiến trường khác để đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên một bước mới.

Sau khi thành lập, thực hiện chủ trương của Khu uỷ và Quân khu, từ giữa năm 1966 đến 1967, ông Phan Nam cùng lãnh đạo Thành uỷ Huế bí mật chuẩn bị mọi mặt cho Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Thời gian này, ông Phan Nam, lúc thì xuất hiện như một thầy giáo, rồi người đi buôn, lúc lại vào vai ông xe thồ, len lỏi từ nội thành đến vùng ven đô, đồng bằng, miền núi tỉnh Thừa Thiên tham gia xây dựng cơ sở, lực lượng tự vệ, giao liên.

Ông Phan Nam cho biết: “Theo chủ trương của trung ương, của Khu uỷ và Quân khu, Thành uỷ quán triệt nhiệm vụ, với mục tiêu đánh thẳng vào Huế, đầu não của Mỹ – Nguỵ, đập nát sự thống trị, chỉ huy đầu não của Vùng 1 chiến thuật. Vì yêu cầu lớn như vậy nên Thành uỷ đã ráo riết chuẩn bị, tăng cường các lực lượng vũ trang chính quy, các binh chủng đặc biệt, các lực lượng biệt động, địa bàn, rồi các tụ điểm tập hợp quần chúng ở các quận, phường, đường phố”.

Đối với Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Nguyễn Đình Bảy, tên thường gọi là Bảy Khiêm, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Bình Trị Thiên, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 như một dấu ấn không phai mờ. Ông Bảy Khiêm nhớ lại: “Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tôi là chỉ huy trưởng hướng tấn công vào khu vực nam sông Hương, nơi có các vị trí trọng yếu như cơ quan CIA, Toà đại diện Chính phủ Bắc Trung, Toà Tỉnh trưởng, cơ quan Bình Định nông thôn, Chi Sắc tộc và lao Thừa Phủ – Huế. 6 giờ 30 phút ngày mồng 1/2/1968, đơn vị của tôi đã có mặt tại thành phố Huế, nhanh chóng vận động đồng bào tố cáo bọn tay sai, ác ôn, cắm cờ giải phóng lên nóc  Toà tỉnh trưởng và chiếm giữ các mục tiêu quan trọng”.

Cùng với việc giải phóng lao Thừa Phủ, trải qua 26 ngày đêm chiếm lĩnh Huế, mũi tiến quân do ông chỉ huy đã góp phần tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bắt sống nhiều tên đầu sỏ trong bộ máy nguỵ quyền, CIA, cảnh sát nguỵ, một số tên cầm đầu đảng phái phản động. Ông Nguyễn Đình Bảy cho biết: “Mũi phía Nam do ông chỉ huy là mũi trọng điểm, xuất quân sôi nổi lắm, nhưng vẫn phải giữ bí mật. Mỗi cánh quân có 2, 3 đường đi, có liên lạc. Cánh của tôi đi về đóng ở Điền Môn, đến 6 giờ sáng ra toà tỉnh trưởng, hạ cờ ba que của địch xuống, cắm cờ đỏ sao vàng, cờ giải phóng lên”.

10 giờ sáng ngày mồng 2 Tết Mậu Thân, cờ giải phóng tung bay trên đỉnh Kỳ Đài trước Đại nội Huế trong sự vui mừng phấn khởi của quân và dân Trị Thiên Huế. Chính quyền cách mạng ra đời, tiếp đó là các hội, đoàn thể chính trị. Ông Nguyễn Bê, nguyên Chủ tịch UBND cách mạng khu phố 4, quận Nhì lúc đó, nay tuy tuổi cao, sức yếu nhưng nhớ về những năm tháng hào hùng ấy, ánh mắt ông vẫn lấp lánh niềm tự hào.

Ông Nguyễn Bê kể: “Lễ ra mắt chính quyền cách mạng diễn ra tại trường Trung học Gia Hội, bà con hò reo mừng thành phố giải phóng, mừng chính quyền của nhân dân. Cảm động nhất là hình ảnh các ông, các mẹ ôm chặt bộ đội, cán bộ cách mạng, nước mắt rung rưng, nghẹn ngào. Sự kiện mà cả cuộc đời tôi thấy vinh dự và tự hào nhất là cuộc họp đầu tiên ra mắt chính quyền cách mạng. Tại cuộc họp này, đồng chí Phan Nam đã về dự và quyết định cử tôi làm Chủ tịch Uỷ ban khu phố 4. Khi ra mắt chính quyền cách mạng, có người ôm tôi khóc, mừng mà khóc. Tôi nhớ mãi lời của đồng chí Phan Nam: dân mà thiếu đói thì đồng chí phải chịu trách nhiệm với Đảng”.

Những ngày Tết Mậu Thân lịch sử, bộ đội cùng ăn Tết với người dân Huế. Bánh chưng, bánh tét các o, các mệ mang đến với tình cảm thân thương của những người mẹ, người chị đối với những người em, người con vừa xa quê trở về. Thật vui và cảm động.

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 chiếm giữ thành phố Huế suốt 26 ngày đêm đã đi vào lịch sử chiến tranh cách mạng dân tộc với niềm tự hào của quân và dân Huế, góp phần cùng cả nước chiến thắng đế quốc Mỹ, tiến tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước./.

Kim Thu
vov.vn

Hồi ức từ những hiện vật bảo tàng về Mậu Thân 1968

(VOV) – Với hơn 300 tư liệu, hình ảnh, hiện vật tiêu biểu có giá trị, triển lãm đã làm sống lại trang sử hào hùng của chiến dịch Mậu Thân.

Nhân dịp kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968, sáng 1/2, Bảo tàng TP HCM khai mạc Triển lãm chuyên đề “45 năm Xuân Mậu Thân – hồi ức từ những hiện vật bảo tàng”.

Quân giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968 (Ảnh tư liệu)  

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 của quân dân ta là một bước ngoặt  lịch sử, tiêu hao, tiêu diệt phần lớn sinh lực địch, buộc Mỹ xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc, rút dần quân về nước, chấp nhận đàm phán với ta tại Paris.

Với hơn 300 tư liệu, hình ảnh, hiện vật tiêu biểu có giá trị, triển lãm đã làm sống lại trang sử hào hùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân mậu thân 45 năm về trước. Không chỉ nêu bật lòng anh dũng và chí khí tiến công địch của các lực lượng vũ trang cách mạng, triển lãm còn nói lên  sự mưu trí, quả cảm sáng tạo và khát vọng hòa bình của các gia đình là cơ sở cách mạng, các chiến sĩ giao liên trong những tháng ngày gian nan, ác liệt đó.  Triển lãm kéo dài đến hết tháng 2/2013./.

PV/VOV – TPHCM
vov.vn

Ký ức của những người làm nên chiến dịch Tết Mậu Thân

(VOV) -“Anh thủ trưởng trước khi hy sinh đã trăn trối phải giữ vững trận địa và chúng tôi quyết chiến đấu đến cùng”.

Tiệm Phở Bình nằm trên đường Lý Chính Thắng, quận 3, TP HCM được nhiều khách trong và ngoài nước biết đến không chỉ vì ngon, sạch sẽ, lịch sự mà còn vì đây là di tích lịch sử cấp Quốc gia gắn liền với chiến dịch Mậu Thân 1968.

Cách đây 45 năm, tiệm Phở Bình của ông Ngô Toại được chọn làm Sở chỉ huy Tiền phương – Phân khu 6 (thuộc Đặc khu Sài Gòn – Gia Định) là trụ sở tập kết các chiến sĩ, cán bộ để truyền đạt mệnh lệnh trong Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Nữ tự vệ trong các cơ quan trực thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sẵn sàng cho Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 (Ảnh: Tư liệu)

Đúng mệnh lệnh, 3h sáng mùng 2 Tết Mậu Thân, lực lượng đặc công biệt động đã đánh trúng 5 mục tiêu quan trọng nhất trong 9 mục tiêu nằm trong danh sách tấn công tại Sài Gòn, đó là: Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ tư lệnh Hải quân, Đài phát thanh và Bộ tổng tham mưu.

Bà Vũ Minh Nghĩa, bí danh Chín Nghĩa, công tác tại đội 5, biệt động Sài Gòn – Gia Định, tham gia đánh vào Dinh Độc Lập năm Mậu Thân cho biết: Để bảo đảm kế hoạch và bí mật, đơn vị bà phải hành quân và nổ súng trước quy định 15 phút. Sau khi chiếm được Dinh Độc Lập, 15 chiến sĩ đặc công biệt động đã anh dũng chiến đấu giữ được trận địa trong 2 ngày 1 đêm.

Bà Chín Nghĩa nhớ lại: “Chúng tôi phải men theo từng bức tường, các bụi cây để chiến đấu chống lại quân tiếp viện của chúng. Đến sáng mùng 2, chúng tôi đành rút vào cao ốc đối diện. Địch tấn công thì chúng tôi lên lầu 1. Lực lượng chúng tôi hy sinh 7 người, 8 người đều bị thương. Anh thủ trưởng trước khi hy sinh đã trăn trối phải giữ vững trận địa, chờ tiếp viện cho đến hơi thở cuối cùng. Cho nên chúng tôi thề thực hiện lời trăn trối của thủ trưởng mình”.

Trong tình thế vô cùng khó khăn, thiếu súng đạn, không thức ăn, nước uống, chỉ còn 8 người nhưng họ đã làm được kỳ tích là đánh chiếm được Dinh Độc Lập và giữ được trong nhiều ngày, nhiều giờ.

Tham gia cùng với lực lượng đặc công biệt động đánh chiếm vào Đài phát thanh năm Mậu Thân 1968, ông Nguyễn Trọng Xuất, tức Sáu Nhân, lúc đó là Phó ban Tuyên huấn Khu Sài Gòn-Gia Định, bồi hồi nhớ lại: “Tôi lúc đó được phân công cùng anh em chiếm Đài phát thanh. Lực lượng chúng tôi là tuyên huấn, nên vũ khí không phải là súng đạn mà là máy ghi âm và lời kêu gọi của mặt trận là phải nằm lòng. Chúng tôi vào ngôi nhà tầng thứ 3 đường Hiền Vương, nay là đường Võ Thị sáu. Ông chủ nhà đón tiếp rất vui vẻ bảo “cho tụi bay nguyên căn nhà đó, khi nào tấn công thì vào Đài phát thanh thôi”.

Trong 5 mục tiêu tấn công tại Sài Gòn, thì Tòa đại sứ Mỹ được xem là mục tiêu quan trọng nhất. 17 chiến sĩ đặc công biệt động đã làm choáng váng, rúng động trên toàn nước Mỹ khi tấn công vào sào huyệt được xem là bất khả xâm phạm này. Các nhà báo Mỹ lúc đó đã viết: chiến tranh đã đi vào phòng ngủ của quân Mỹ. Từ tác động của đợt tấn công này mà phong trào phản chiến ở Mỹ càng mạnh hơn, góp phần làm cho Mỹ phải xuống thang chiến tranh tại Việt Nam.

Ngay những ngày Tết Mậu Thân, giữa vòng vây dày đặc của kẻ thù, 88 cán bộ, chiến sĩ đặc công biệt động Sài Gòn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, 74 người đã hy sinh hoặc sa vào tay giặc trong tư thế “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tinh thần chiến đấu anh dũng của họ khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ và tăng thêm lòng khâm phục và niềm tin yêu quân giải phóng của nhân dân Sài Gòn và đồng bào Nam bộ.

Đại tá Võ Văn Tòng, nguyên Chính ủy Sư đoàn 9, chủ lực Miền, người trực tiếp chỉ huy các trận đánh Mậu Thân 1968, kể lại: “Trong trận đánh Mậu Thân đợt 2, các Trung đoàn của Sư 9 đánh vào Sài Gòn. Hai phẩm chất mà dân Sài Gòn nhận được từ quân giải phóng là dũng cảm và kỷ luật. Chiến đấu dũng cảm, bị thương không có chuyện gì lớn. Trong khi đánh giặc thiếu lương thực, quần áo rách rưới nhưng không có lấy một món nào ở cửa hàng lương thực và cửa hàng quần áo mới. Vì vậy mà dân thương. Mình bị thương là người ta chăm sóc và giấu rồi tìm cách cho ra chiến khu sau. Sau khi Sư 9 đánh vô Sài Gòn đợt 2 rồi rút ra, cán bộ dân vận đánh giá là để lại ấn tượng sâu sắc cho nhân dân Sài Gòn, mà tình cảm đó 2, 3 năm làm công tác dân vận cũng không đạt được”.

Chính vì lẽ đó mà nhiều người đã hiểu ra rằng: vì sao trong ngày 30/4/1975, khi quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, người dân thành phố không bỏ chạy mà lại ùa ra chào đón nồng nhiệt.

45 năm trôi qua, đất nước đã trải qua bao đổi thay, nhưng chiến dịch Mâu Thân 1968 luôn là trang sử hào hùng của dân tộc. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã góp phần quan trọng buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán đi tới ký kết hiệp định Paris để đến ngày 30/4/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, trọn vẹn non sông./.

Cao Thoa/VOV-TP HCM
vov.vn

Khánh thành Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968

Sáng ngày 07/02, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch long trọng tổ chức Lễ khánh thành công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968 tại rạp hát Cao Văn Lầu, thành phố Bạc Liêu.

Dự Lễ có đồng chí Võ Văn Dũng, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND, Ủy MTTQ Việt Nam tỉnh, các cô chú là nhân chứng lịch sử trong sự kiện Mậu thân tại Bạc Liêu cùng đại diện lãnh đạo một số sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh.

Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân được khởi công xây dựng từ ngày 01/7/2012, hoàn thành sau 90 ngày thi công, được đặt tại rạp hát Cao Văn Lầu, nơi in đậm dấu ấn lịch sử của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968 tại Bạc Liêu.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh thực hiện nghi thức khánh thành Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân.
Ảnh: www.baclieu.gov.vn

Bia tưởng niệm được thiết kế với hình lá cờ Tổ quốc – tượng trưng cho đất nước Việt Nam với khát vọng được giải phóng, thống nhất nước nhà; phía dưới là hoa văn hình sóng nước – tượng trưng cho trào lưu cách mạng; trên bia có 1 cành hoa mai – tượng trưng cho thời điểm diễn ra sự kiện lịch sử xuân Mậu thân 1968 cùng hình ảnh khẩu súng  AK – tượng trưng cho người chiến sĩ chiến đấu không mệt mỏi trước kẻ thù. Mỗi bên Bia tưởng niệm là bảng đá ghi lại những khoảnh khắc bi hùng của các chiến sĩ Tiểu đội biệt động và Trung đội du kích xã Châu Hưng trong cuộc tử chiến vào Tết Mậu thân 1968 tại rạp Cao Văn Lầu và bảng đá ghi danh những chiến sĩ tham gia trận đánh này.

Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968 tại rạp hát Cao Văn Lầu. Ảnh: www.baclieu.gov.vn

Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân hoàn thành đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 – 2013 có ý nghĩa rất to lớn, là tấm lòng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bạc Liêu nhằm tưởng nhớ và tri ân đến các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong trận đánh Mậu Thân 1968. Ngoài ra, thông qua Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968 còn giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau của tỉnh nhà về truyền thống đấu tranh cách mạng, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự lực tự cường, lòng yêu quê hương đất nước.

Các đại biểu đã đặt cành hoa trước Bia để tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh

Tại buổi lễ, sau khi thực hiện nghi thức khánh thành công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân, các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam tỉnh cùng các đại biểu đã đặt cành hoa trước Bia để tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh lịch sử hào hùng này.

V.T
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với mùa Xuân của Đảng, của dân tộc

1
Ảnh Tư liệu

“Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ…”, mùa Xuân luôn khiến ta cảm thấy tràn trề nhựa sống, thiên nhiên, vạn vật dường như cũng sinh sôi nảy nở hơn vào mùa Xuân. Với dân tộc ta, mùa Xuân không chỉ thể hiện cho sự giao mùa, sự kết thúc của một năm cũ bước sang năm mới mà mùa Xuân còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc. Kể từ mùa Xuân đầu tiên nhân dân ta có Đảng, ngày 3-2-1930 đến nay, đã có rất nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc ta diễn ra.

Từ mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930, nhận được liên lạc của Quốc tế Cộng sản, Bác Hồ của chúng ta sau khi bàn bạc với các đồng chí của mình, Bác quyết định tổ chức Hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930 (trùng với ngày 6 đến ngày 8 tháng 1 âm lịch) tại Cửu Long (Trung Quốc). Ngày cuối cùng của Hội nghị, Người xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói: Chỉ Đảng nào có được một lý luận tiên phong, mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống anh dũng, nhưng suốt những năm ấy nhân dân ta lại thiếu những người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gắn lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta phải dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thân yêu”.Đúng như vậy, từ mùa Xuân năm 1930 cách mạng Việt Nam có Cương lĩnh đúng đắn do Bác Hồ khởi thảo, được Đảng  không ngừng hoàn thiện, đời sống chính trị, tinh thần, khí thế đấu tranh cách mạng của toàn dân ta đã chuyển qua một giai đoạn mới, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua giông bão đi tới bến vinh quang.

Sau gần 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mùa Xuân năm 1941, Bác Hồ đã trở về Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc với bản Nghị quyết lịch sử của Hội nghị Trung ương VIII. Những công việc đầu tiên của Người là chỉ đạo Đảng ta thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp lực lượng toàn dân đứng lên để “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng làm nơi đứng chân để xây dựng lực lượng, tích lũy lương thực, súng đạn, chuẩn bị tiền đề vật chất cho tổng khởi nghĩa cách mạng giành chính quyền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ và sự đồng lòng đồng sức của nhân dân, Tổng khởi nghĩa đã thành công. Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta: Kỷ nguyên của độc lập, tự do, hạnh phúc.Xuân Bính Tuất năm 1946 là mùa Xuân độc lập đầu tiên của dân tộc và cũng là lần đầu tiên cả nước ta được nghe Thơ chúc Tết của Bác Hồ vào giao thừa năm 1946. Mọi người vẫn còn nhớ lời Bác nhắn gửi các chiến sĩ lúc bấy giờ đang đánh thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam:

Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.

và chúc Tết toàn thể đồng bào:
Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc mau thành công
Kháng chiến mau thắng lợi.
Việt Nam độc lập muôn năm.

Trong bài “Mừng báo Quốc gia”, nhân Tết độc lập đầu tiên, Người đã chúc:

“Tết này mới thật Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba cốc rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa.
Muôn nhà chào đón Xuân dân chủ,
Cả nước vui chung phúc cộng hòa”.

Lời chúc của Bác thật đơn sơ, mộc mạc nhưng thấm đẫm nghĩa tình với triết lý “Tết này mới thật Tết dân ta”, chỉ một câu này thôi đã đủ cho ta thấy được ý nghĩa lớn lao của cái Tết độc lập đầu tiên của dân tộc. Vì từ xưa đến nay  nhân dân ta chưa bao giờ được làm chủ mình, mà trước thì phải nghe lời vua quan, sau thì phải nghe lời thực dân cướp nước, luôn phải sống cuộc sống một cổ hai tròng. Chỉ từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, dân ta mới biết thế nào là tự do, bình đẳng, bác ái.

Sau mùa Xuân độc lập đầu tiên của dân tộc, mùa Xuân Bính Tuất năm 1946, cả dân tộc ta bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.Trong giai đoạn trường kỳ kháng chiến này vào mỗi độ Xuân về Bác vẫn luôn làm thơ chúc Tết đồng bào cả nước. Những vần thơ chúc Tết, chào đón mùa Xuân của Bác luôn gieo vào lòng mọi người niềm tin thắng lợi của ngày mai. Đó cũng là biểu hiện của tinh thần lạc quan cách mạng của người cộng sản. Khi cách mạng gặp khó khăn hay khi gần thắng lợi, Bác luôn thể hiện một niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác đã nói:

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập nhất định thành công.

Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” cũng bắt đầu từ những ngày đầu mùa Xuân năm 1954. Với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã mở đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới, chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài và vô cùng gian khổ, dân tộc ta đã có biết bao chiến công hiển hách được ghi dấu ấn lịch sử  từ những mùa Xuân. Mở đầu cho những chiến công to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đó là khởi nghĩa Đồng khởi của quân và dân Bến Tre vào mùa Xuân năm 1960, tạo một bước phát triển mới quan trọng của cách mạng miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 tạo tiếng vang lớn làm đau đầu cả Lầu Năm Góc, báo hiệu sự sụp đổ không thể nào tránh khỏi của quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai.

Vào giao thừa Mậu Thân chuyển sang Kỷ Dậu (2 năm 1969), đồng bào và chiến sĩ cả nước quây quần bên nhau chăm chú lắng nghe bài thơ chúc Tết của Bác Hồ truyền qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam:

Năm qua, thắng lợi vẻ vang,
Năm nay, tiền tuyến chắc càng thắng to !
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên ! chiến sĩ, đồng bào,
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn !

Đây cũng là lần cuối cùng đồng bào cả nước được nghe thơ của Bác, lời của Người thể hiện một ý chí sắt thép, một nghị lực phi thường. Lời thơ Xuân như hịch truyền cổ vũ cuộc đấu tranh cách mạng ngoan cường mà Hồ Chí Minh là ngọn cờ, là hồn thiêng sông núi.

Từ đó, hằng năm đến giao thừa, ta không còn có cái hạnh phúc được nghe giọng ấm cúng của Bác đọc thơ Xuân mới nữa, nhưng âm vang hào hùng và sâu lắng trong những bài thơ Xuân của Bác vẫn còn rung động lòng ta mãnh liệt. Theo những lời thơ chúc Tết của Bác và cũng là những mệnh lệnh, sự tiên đoán thần kỳ, để rồi cuộc tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1972, đặc biệt là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm đó đã làm sụp đổ hoàn toàn uy lực của không lực Hoa Kỳ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri rút quân về nước ngày 27/1/1973. Và cuối cùng là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang ba mươi năm chiến tranh giải phóng giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong mùa Xuân năm 1975 như một điểm hẹn lịch sử, là sự kết tinh của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Đã trải qua 83 năm, qua nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng mỗi năm Tết đến, Xuân về, toàn dân tộc ta vẫn rộn ràng niềm vui, niềm tự hào: “Mừng Đảng, mừng Xuân” và mỗi mùa Xuân mới mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi người dân của dân tộc Việt Nam anh hùng luôn nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, hiên ngang sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Người

Kim Yến
bqllang.gov.vn