Ngày 11 tháng 8: “Không để lỡ cơ hội”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ ba, 11/08/2009, 01:39 (GMT+7)

Cách đây 67 năm, ngày 11-8-1942, trên Báo Việt Nam Độc lập, Nguyễn Ái Quốc đăng bài thơ “Tặng Toàn quyền Đờ-Cu”, đả kích viên toàn quyền thực dân Pháp theo quan điểm đầu hàng của Chính phủ Pétain: “Non nước Rồng Tiên rõ mịt mù/Lợi quyền phó mặc bố thằng Cu/Đối dân Nam Việt thì lên mặt/Gặp bọn Phù Tang chỉ đội khu/Về Pháp, không còn e chết đói/Ở đây hút máu béo ni-nu/Cũng như Thống chế Pêtanh vậy/Chú cứ cu cù mãi được ru!?”.

Tháng 8-1945, để chuẩn bị triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng, Bác đề nghị:“Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng. Không để lỡ cơ hội”, và thúc giục các đại biểu trên toàn quốc sớm về dự.

Ngày 11-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng gia chủ là ông bà Aubrac thăm Cung điện Chantilly, sau đó tiếp J.Sainteny – một chính khách thông hiểu tình hình Việt Nam và có khuynh hướng hòa hoãn.

Ngày 11-8-1961, Bác đi kiểm tra các đoạn đê xung yếu thuộc các xã Đông Mỹ, Sở Thượng, huyện Thanh Trì, Hà Nội, căn dặn lực lượng bảo vệ đê: “Dù nước to đến đâu, cũng phải giữ đê cho chắc. Phải đề phòng mực nước cao nhất, chớ chủ quan khi nước chưa rút hẳn. Phải bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và của cải của nhà nước ở hai vệ sông”.

Ngày 11-8-1963, Báo Nhân Dân đăng bài “Kinh nghiệm “3 xây, 3 chống” của Bác dưới bút danh “Chiến Sĩ”. Bài báo viết: “…Muốn xây dựng một lâu đài mới thì phải phá cái lều cũ ọp ẹp đi. Muốn xây dựng những tiến bộ mới trong nền kinh tế ta thì phải chống những cái cũ kỹ và lạc hậu”, ví như chống lãng phí sức người, thời giờ và máy móc…

Tháng 8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Australia nổi tiếng W.Burchett về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và đưa ra thông điệp: “…Chúng tôi không có xích mích gì với nhân dân Mỹ. Chúng tôi muốn sống hòa bình và hữu nghị với nhân dân Mỹ. Nhân dân chúng tôi được giáo dục theo tinh thần quốc tế chân chính. Trước đây chúng tôi đã chú ý phân biệt thực dân Pháp với nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình, thì ngày nay chúng tôi cũng chú ý phân biệt nhân dân Mỹ vĩ đại có truyền thống tự do, với bọn can thiệp và bọn quân phiệt ở Hoa Thịnh Đốn đang nâng đỡ chúng”.

Cũng trong tháng 8-1963, đến thăm Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm, Bác góp ý: cần chú trọng hơn nữa về đức dục; phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất trong giảng dạy và học tập; tránh lối dạy nhồi sọ, lối học như vẹt; cần kiệm xây dựng nhà trường và căn dặn: “Nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó thì phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng, lập trường chính trị, phải ra sức đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”.

Ngày 11-8-1965, Bác ra sắc lệnh truy tặng Huân chương Chiến công cho liệt sĩ Nguyễn Bá Ngọc, 13 tuổi, ở xã Quang Trung, Quảng Xương, Thanh Hóa, đã dũng cảm cứu bạn khi máy bay Mỹ bắn phá và anh dũng hy sinh, một tấm gương tiêu biểu của thế hệ thiếu nhi thời “chống Mỹ cứu nước”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

 

Ngày 10 tháng 8 – “Phải chú trọng thực hiện đúng chính sách dân tộc”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ hai, 10/08/2009, 01:52 (GMT+7)

Cách đây 63 năm, ngày 10-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Ban Trung ương Đảng Cộng hòa Bình Dân, Trung ương Đảng Xã hội và đến trụ sở Đảng Cộng sản Pháp ở Paris thăm các nhà lãnh đạo như Maurice Thorez, Phó Chủ tịch nước và Jacques Duclos, Phó Chủ tịch Quốc hội. “Nhật ký hành trình” viết về Bác đánh giá: “Thế là Hồ Chủ tịch đã thăm đủ các lãnh tụ ba đảng to nhất nước Pháp”.

Tháng 8-1950, cùng Thường vụ Trung ương Đảng chuẩn y phương án tác chiến Chiến dịch Biên giới, Bác phân tích: “Ta đánh vào Đông Khê là đánh vào nơi quân địch tương đối yếu, nhưng lại là vị trí rất quan trọng của địch trên tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn. Mất Đông Khê, địch buộc phải cho quân đi ứng cứu, ta có thuận lợi tiêu diệt chúng trong vận động”.

Tháng 8-1952, sau khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày kế hoạch tác chiến Chiến dịch Tây Bắc, Bác đã chỉ đạo: “Đây là lần đầu tiên ta mở chiến dịch lớn, địa hình hiểm trở, cần phải nắm chắc địa hình và chú trọng thực hiện đúng chính sách dân tộc, giúp đỡ đồng bào dân tộc, bộ đội phải giữ kỷ luật dân vận”.

Ngày 10-8-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tặng những danh hiệu Anh hùng đầu tiên gồm 4 Anh hùng quân đội là Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, La Văn Cầu và Cù Chính Lan (liệt sĩ) cùng với 3 Anh hùng lao động là Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa và Hoàng Hanh.

Ngày 10-8-1954, Báo Nhân Dân đăng bài viết “Quê đâu cho bằng quê nhà/Nhà ta ta ở, việc ta, ta làm” của Bác, nhằm tố cáo âm mưu của chính quyền Sài Gòn và thực dân dụ dỗ đồng bào miền Bắc di cư vào Nam. Phân tích bản chất sự việc, bài báo khuyên nhủ bà con ở lại để khỏi rơi vào thảm cảnh:

“Trông về trời bể mênh mang
Bà con đã cách, xóm làng đã xa
Lưu ly không cửa, không nhà
Chân trời góc biển biết là về đâu?!”.

Ngày 10-8-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “thư gửi đồng bào Khu tự trị Việt Bắc” nhân ngày thành lập đơn vị hành chính đặc biệt này, trong đó xác định: “Mục đích lập Khu tự trị Việt Bắc để làm cho các dân tộc anh em toàn khu cùng nhau tự quản lý công việc của mình, phát huy khả năng của mình, tiến bộ mau chóng về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Với truyền thống cách mạng anh dũng, với lòng nồng nàn yêu nước của đồng bào Việt Bắc, khu tự trị của chúng ta nhất định sẽ ngày càng tiến bộ…”.

Ngày 10-8-1968, Bác ký lệnh thưởng huân chương và gửi thư khen ngợi quân và dân Vĩnh Linh đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 200 trên bầu trời tỉnh nhà và bắn cháy 33 tàu chiến Mỹ. Thư kết bằng 2 câu thơ:

“Đánh cho giặc Mỹ tan tành
Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng”.

Cùng ngày, Bác còn viết “Điện gửi đồng bào Xã Đoài” (Nghệ An) thăm hỏi địa phương vừa bị máy bay Mỹ ném bom tàn sát nhiều người dân, làm chết 2 vị giám mục và 3 vị linh mục, phá hủy nhà thờ và nhà cửa của dân. Bức điện viết: “Tôi rất động lòng được tin ngày 21-7 vừa qua máy bay giặc Mỹ ném bom, bắn phá Xã Đoài… Đồng bào lương và giáo hãy đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau và chính quyền địa phương tìm cách giúp đỡ giải quyết những khó khăn trước mắt để khôi phục lại đời sống bình thường và cùng nhau ra sức chống Mỹ cứu nước”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 12 tháng 8: “Kiên quyết đấu tranh đòi giải trừ quân bị”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ tư, 12/08/2009, 04:08 (GMT+7)

Cách đây 64 năm, ngày 12-8-1945, đang ốm nặng, tại căn cứ địa Tân Trào, qua chiếc máy thu, Bác Hồ nghe tin Nhật Bản đã trao công hàm cho phía Đồng minh để thăm dò khả năng ngừng bắn. Tuy Nhật chưa đầu hàng, nhưng quan sát động thái đó, Bác nhận định: “Có hiện tượng nguy ngập tan rã trong quân đội Nhật”.

Ngày 12-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp đoàn Việt Nam đang dự Hội nghị Fontainebleau và bà con Việt kiều. Bình luận về cuộc đụng độ vũ trang Việt-Pháp tại Bắc Ninh khi trả lời tờ Le Combat (Chiến đấu), người đứng đầu nhà nước Việt Nam nói: “…Ý kiến của tôi là mặc dầu trách nhiệm về bên nào, vụ xung đột ấy cũng rất đáng tiếc… Hội nghị chỉ có thể gián đoạn chứ không thể tan vỡ được. Tôi sẽ không khởi hành trước khi chúng ta có thể đi tới một sự thỏa thuận”.

Nhằm cứu vãn tình hình, trong ngày 12-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet, bày tỏ quan điểm: “Điều trước tiên là chúng ta cần làm dịu đầu óc những người Pháp và những người Việt Nam… Cần làm cho cả hai bên đều hiểu những cái mà họ có thể giành được. Những vấn đề mà người Pháp cũng như người Việt Nam tha thiết nhất, đó là vấn đề độc lập dân tộc và vấn đề Nam bộ… Tôi chắc chắn rằng, với thiện ý chung và sự tin cậy lẫn nhau, chúng ta sẽ nhanh chóng đi đến một thỏa thuận có lợi cho cả 2 dân tộc chúng ta”.

Cũng với mối quan tâm này, Chủ tịch còn gửi thư cho Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Maurice Thorez, yêu cầu các bộ trưởng cộng sản trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ Pháp khi thảo luận hãy ủng hộ quan điểm của Việt Nam và xác định: “Số phận Việt Nam tùy thuộc nhiều vào cuộc thảo luận đó”.

Ngày 12-8-1952, Báo Cứu Quốc đăng bài “Một làng tiến đến kiểu mẫu” của Bác ký tên là Đ.X, giới thiệu gương làng Thọ Xuân (Thanh Hóa) quán triệt quan điểm của Chính phủ về kế hoạch sản xuất và tiết kiệm nên đã tiến hành tổ chức “làm việc tập đoàn”, tổ chức phân công lao động… do vậy mà: “Phân công hợp lý cả làng/Sản xuất tiết kiệm rõ ràng thi đua/Một mùa gặt bằng hai mùa/Dân no nước mạnh tha hồ đánh Tây”.

Ngày 12-8-1954, thực hiện Hiệp định Genève, các thành viên Ủy ban quốc tế giám sát đình chiến ở Việt Nam (gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada) đến Thái Nguyên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự lễ đón tiếp và phát biểu: “Tôi tin chắc rằng Ủy ban quốc tế sẽ nắm vững tinh thần hiệp định và tuyên ngôn cuối cùng của Hội nghị Genève, kết hợp với tình hình thực tế và đứng trên lập trường công bằng, chính trực mà làm tròn chức trách của ủy ban”.

Ngày 12-8-1961, trong bức điện gửi Hội nghị quốc tế chống bom nguyên tử họp tại Tokyo (Nhật Bản), Bác viết: “Để cho những tội ác kinh khủng do đế quốc Mỹ gây ra ở Hiroshima và Nagasaki không bao giờ còn diễn lại, chúng ta kiên quyết đấu tranh chống thử bom nguyên tử và bom khinh khí, kiên quyết đấu tranh đòi giải trừ quân bị toàn bộ và triệt để”.

Ngày 12-8-1969, Bác lên khu nhà nghỉ ở Hồ Tây để thăm lãnh đạo đoàn đàm phán tại Paris mới trở về nước. Thời tiết xấu khiến Bác bị nhiễm lạnh và kể từ đó lâm bệnh, nặng dần cho đến lúc qua đời.

D.T.Q. và nhóm cộng sự

sggp.org.vn

Nghịch cảnh nhân quyền Mỹ

Trong khi cả thế giới cùng đông đảo nhân dân Mỹ còn chưa hết bàng hoàng trước những hành động ngược đãi tù nhân tại nhà tù A-bu Gra-íp (I-rắc) của binh lính Mỹ thì ngày 17-5 vừa qua, Oa-sinh-tơn lại công bố cái gọi là “Hỗ trợ nhân quyền và dân chủ: Thành tích Mỹ năm 2003-2004”. Thực là nghịch cảnh!

So với những báo cáo trước đây, lần này người ta thấy không có gì mới. Nội dung cao giọng bàn về nhân quyền vẫn theo cái nhìn của những người có “vấn đề” về thị giác ở một số nước với những cấp độ kỳ quái. Sự khác biệt, có chăng, chỉ là những thay đổi về tên tuổi của những kẻ cơ hội, đầu cơ chính trị ở một số quốc gia hay mức độ đề cập giữa các nước khác nhau mà thôi.

Bản báo cáo dài 270 trang đề cập đến nhân quyền tại 101 nước, ngay lập tức bị các nước, các tổ chức khác nhau trên thế giới phản đối vì tính mơ hồ cùng nội dung trâng tráo của nó. Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tỏ rõ thái độ rằng: “Mỹ hãy lo cho những vấn đề của mình và ngưng ngay sử dụng vấn đề nhân quyền như cái cớ để can thiệp tình hình nội bộ các nước”. Nhân việc báo cáo này được công bố, nhiều học giả đã lên án chính quyền của Tổng thống Gioóc-giơ Bu-sơ về các “thành tích” nhân quyền của chính giới Mỹ. Giáo sư S.Giu-nơ, trường Đại học Xan Phran-xi-cô nêu rõ, chính quyền Mỹ đã “bị mất uy tín” về đạo đức và phá vỡ lòng tin của các đồng minh”. Đại diện Tổ chức giám sát nhân quyền, Tôm Ma-li-nốp-xki nói: “Trung Quốc, Ai Cập, Dim-ba-bu-ê, những nước mà Mỹ cho là cần Mỹ ủng hộ để bảo vệ nhân quyền, giờ đây có thể nói với các nhà bảo vệ nhân quyền rằng, nước Mỹ thần tượng của các ông, chẳng phải đang lăng nhục con người đó sao?”. Còn báo Kô-mơ-san (Mỹ) viết: “Báo cáo nhân quyền của Mỹ là thí dụ rõ nét nhất về sự đạo đức giả, nó được công bố để xoay sở với làn sóng phẫn nộ ở trong nước Mỹ và trên thế giới”…

Khoan hãy nói về tính lố bịch của báo cáo này khi ngang nhiên can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, mà chỉ đơn cử những ví dụ cụ thể để thấy rõ cách nhìn sai trái của nó. Chuyến thăm của các quan chức Chương trình phát triển LHQ (UNDP), Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF), Quỹ Dân số LHQ (UNFPA), Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tới thăm các tỉnh Tây Nguyên trong thời gian từ 12 đến 15-5 đã nhấn mạnh đến những thành tựu đạt được trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam nêu trong Tuyên bố Thiên niên kỷ của LHQ. Đoàn đã ghi nhận và đánh giá cao thành tựu của các địa phương về các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, nhất là công tác xóa đói giảm nghèo, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Còn trong vấn đề tự do tôn giáo,Việt Nam có khoảng 20 triệu tín đồ, hàng chục ngàn nhà tu hành và cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ của các tôn giáo, số lượng các trường đào tạo tôn giáo không ngừng tăng. Năm 1975 nước ta chỉ có 1 trường đào tạo đến nay đã có 3 trường Đại học Phật giáo, 34 trường cao cấp và trung cấp Phật học (so với 22 trường năm 1993). Nhiều cơ sở thờ tự được tu bổ và xây mới, nhiều kinh sách, ấn phẩm tôn giáo đã được xuất bản đáp ứng nhu cầu tìm hiểu đạo pháp của các tín đồ… Vậy thì vì cớ gì bản báo cáo nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ lại đề cập rằng, các quyền tự do tôn giáo “đã bị hạn chế”…

Thực tế là vậy, đối lập hoàn toàn với những gì mà Bộ Ngoại giao Mỹ nêu trong “báo cáo”. Người ta tự hỏi phải chăng Nhà Trắng không nhìn thấy một thực tế rộng mở đang được rất nhiều tổ chức nước ngoài có mặt tại Việt Nam đánh giá cao ? Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ngài Pi-tơ Pê-tê-sơn trong một lần phát biểu với báo chí về nhân quyền đã nêu rõ, chúng ta phải bảo đảm rằng, việc đánh giá về Việt Nam không chỉ dựa vào việc nhận xét các hoạt động nhân quyền, hoặc tôn giáo mà phải nhìn vào đất nước này một cách tổng thể. Cần phải nhìn vào các tiến bộ hơn là chỉ nhận thức về những mức độ bảo vệ nhân quyền, bởi không một nước nào dám chắc là mình đã đạt được mức độ hoàn hảo về bảo vệ nhân quyền mà chúng ta phải luôn luôn nỗ lực. Và nếu tiếp cận theo cả một tiến trình thì rõ ràng. Việt Nam đang thực hiện rất tốt trong việc tôn trọng quyền con người của từng cá nhân cũng như của các nhóm thuộc các tôn giáo khác nhau.

Rõ ràng, thực tế đã đối lập hoàn toàn với những điều mà Bộ Ngoại giao Mỹ đề cập. Dư luận cho rằng, trước hết, Oa-sinh-tơn nên tự điều chỉnh những vấn đề tại nước mình, “sám hối” trước vụ xì-căng-đan tại nhà tù A-bu Gra-íp hơn là can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Bởi đó chính là vết nhơ trong vấn đề nhân quyền hiện nay của nước Mỹ.

Bùi Lê, Báo HNM, 25.5.2004
dangcongsan.vn

This entry was posted on Tháng Tư 17, 2013, in Chính luận.

Không nên thành lập Hội đồng Hiến pháp

T.S Trần Thành Hưng – Trưởng Khoa, Trường Đại Học CSND
Việc bổ sung Hội đồng Hiến pháp như dự thảo là bổ sung một cơ quan mới trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp nhưng chưa rõ vị trí, tổ chức, nguyên tắc hoạt động, cơ chế phối hợp với các cơ quan khác và nhiệm vụ không có gì khác hơn dễ dẫn đến sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, cồng kềnh bộ máy mà chưa dự liệu được hiệu quả là điều nên tránh trong sửa đổi Hiến pháp, như quan điểm của Đảng đã chỉ đạo.

Theo chúng tôi, bảo vệ Hiến pháp nghĩa là bảo đảm các quy định của Hiến pháp phải được thực hiện trong thực tế theo đúng tinh thần của nó. Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của Hiến pháp đều bị coi là vi phạm Hiến pháp. Với tinh thần đó, để Hiến pháp không bị vi phạm phụ thuộc vào nhiều vấn đề, trong đó nổi lên:

Một là: các quy định của Hiến pháp phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, năng lực tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định. Hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, trong đó có những quy định mang tính định hướng phấn đấu.

Thực hiện Hiến pháp phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước và trình độ, năng lực quản lý xã hội của bộ máy nhà nước cũng như những điều kiện liên quan khác. Vì vậy, trong Hiến pháp tồn tại những quy định chưa phù hợp với những điều kiện nói trên sẽ là mầm mống tạo ra sự vi phạm.

Hai là: có cơ chế bảo đảm quá trình xây dựng luật và các văn bản dưới luật để không vi phạm Hiến pháp. Luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Các cơ sở này luôn vận động biến đổi để phù hợp với tình hình đất nước trong từng giai đoạn nên các quy định của pháp luật cũng phải thay đổi theo để bảo đảm việc quản lý, phát triển đất nước. Trong khi đó, các quy định của Hiến pháp tương đối ổn định về mặt thời gian, chậm sửa đổi bổ sung. Đây là mâu thuẫn dễ dẫn đến vi phạm Hiến pháp, phải có cơ chế phản biện, kiểm tra ngay trong quá trình xây dựng luật.

Thứ ba: phát hiện kịp thời những quy định của văn bản luật và dưới luật trái Hiến pháp. Hoạt động lập pháp hết sức phức tạp, mặc dù có nhiều biện pháp, quy trình chặt chẽ nhưng không loại trừ khả năng tồn tại quy định của pháp luật trái Hiến pháp nên phải thường xuyên rà soát để phát hiện, xử lý kịp thời những quy định nói trên nhằm bảo đảm Hiến pháp không bị vi phạm.

Trong ba nội dung nói trên, hoạt động xây dựng Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và các văn bản dưới luật là yếu tố cơ bản, quyết định cho việc bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật.

Có thể nói: bảo vệ Hiến pháp phụ thuộc chính vào quá trình lập hiến và lập pháp. Vì vậy, để Hiến pháp không bị vi phạm cần phải chú trọng hiệu quả của quá trình xây dựng, sửa đổi bổ sung Hiến pháp và pháp luật. Việc kiểm tra, rà soát phát hiện văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp để sửa chữa hoặc đình chỉ là giải quyết phần ngọn của vấn đề, không cơ bản.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, hiện nay không nên thành lập Hội đồng Hiến pháp như trong dự thảo (nên bỏ điều 120 trong dự thảo Hiến pháp). Bởi lẽ, thực tiễn hoạt động lập hiến, lập pháp ở nước ta trong thời gian qua tương đối chặt chẽ, có cơ chế để hạn chế đến mức thấp nhất khả năng vi phạm Hiến pháp. Nhìn chung hoạt động và cơ chế này đã và đang phát huy hiệu quả.

Xuất phát từ bản chất của Quốc hội Việt Nam – cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động lập pháp của Quốc hội là thống nhất vì mục đích chung của cả dân tộc.

Việc bổ sung Hội đồng Hiến pháp như dự thảo là bổ sung một cơ quan mới trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp nhưng chưa rõ vị trí, tổ chức, nguyên tắc hoạt động, cơ chế phối hợp với các cơ quan khác và nhiệm vụ không có gì khác hơn dễ dẫn đến sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, cồng kềnh bộ máy mà chưa dự liệu được hiệu quả là điều nên tránh trong sửa đổi Hiến pháp, như quan điểm của Đảng đã chỉ đạo.

Nhiệm vụ kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật mà dự thảo trao cho Hội đồng Hiến pháp có thể giao cho cơ quan đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp thực hiện

T.T.H.
cand.com.vn

Vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

Thời gian gần đây, một số phần tử cực hữu ở Mỹ và các nước phương Tây tiếp tục vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Nghị viện Liên minh châu Âu thông qua Báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới, trong đó, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, tự do dân chủ. Đây là một sự vu khống, bịa đặt.

1. Trong lịch sử gần sáu thập kỷ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Hiến pháp qua những lần sửa đổi, bổ sung, phát triển (1946, 1959, 1980, 1992) đã xác lập và thực thi quyền con người Việt Nam trên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn. Thế nhưng, các thế lực thù địch luôn luôn tìm cách vu khống, bịa đặt cho rằng, nước ta, chế độ ta vi phạm quyền con người, quyền công dân; bóp nghẹt dân chủ; đàn áp tôn giáo, dân tộc; chúng công kích đường lối, chính sách đổi mới, phê phán chế độ một đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập,… Bất chấp những luận điệu vu khống và những thủ đoạn phá rối, gây kích động ấy, Việt Nam vẫn luôn luôn tự hào và có quyền tự hào rằng, chúng ta là một đất nước độc lập, tự do và ngày càng phát triển theo mục tiêu cao cả vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” .

Trong lịch sử đấu tranh lâu dài để chinh phục tự nhiên, lịch sử đấu tranh giai cấp, cải tạo xã hội, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, loài người đã đạt được những thành quả vĩ đại về nhân quyền và dân chủ. Chính vì thế, nhân quyền và dân chủ được coi như một trong những tiêu chí cơ bản, quan trọng nhất, đánh dấu sự phát triển của các chế độ xã hội cao hay thấp trong tiến trình phát triển lịch sử.

Con người luôn luôn hướng tới những cái thật, cái đúng (chân), cái tốt lành (thiện) và cái đẹp (mỹ). Trong quá trình chung sống ở cộng đồng, trong quan hệ giữa người với người, khát vọng có “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”, trở thành điểm tương đồng của toàn nhân loại. Song, khát vọng chung nhất ấy đã bị kìm hãm, chà đạp, dồn nén khi xã hội loài người phân chia thành những giai cấp khác nhau: có tập đoàn người này áp bức, thống trị tập đoàn người khác, thông qua những quy định, sắc lệnh (pháp luật) của nhà nước do giai cấp thống trị nắm giữ và điều hành. Cũng từ đó, đã xuất hiện cuộc đấu tranh cho nhân quyền.

Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ Lục địa lần thứ hai long trọng công bố ngày 4-7-1776. Nội dung cơ bản của Tuyên ngôn là lời tuyên bố các quyền tự do dân chủ tư sản và khẳng định nền độc lập của các bang ở Bắc Mỹ. Tuyên ngôn nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền bất khả xâm phạm, trong đó, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp được Hội đồng Lập hiến thông qua ngày 26-8-1789, gồm 17 điều khoản. Đó là một Cương lĩnh chứa đựng những tư tưởng “Tự do, bình đẳng, bác ái” của các nhà triết học Pháp thế kỷ XVIII. Lần đầu tiên trong lịch sử nước Pháp và châu Âu, chủ quyền tối cao được tuyên bố thuộc về nhân dân cùng với những quyền tự do, dân chủ khác. Quyền lực của nhà vua cùng chế độ đẳng cấp bất bình đẳng trong xã hội phong kiến bị bãi bỏ.

Các bản Tuyên ngôn trên là những văn kiện đề cao dân chủ, tự do, là một tiến bộ lớn lao, phản ánh những mong muốn của nhân dân. Tuy nhiên, trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ không có điều khoản thủ tiêu chế độ nô lệ, không nghiêm cấm việc buôn bán nô lệ, nên các chủ nô vẫn mặc sức tự do buôn bán nô lệ, nô lệ vẫn chỉ là một “công cụ”, một thứ “hàng hóa biết nói” . Trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp cũng như bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, mặc dầu những quyền tự do và bình đẳng đã được ghi trong văn bản, nhưng các Tuyên ngôn đều xác lập dứt khoát cơ sở của chế độ mới là chế độ tư bản, duy trì công khai quan hệ bóc lột của tập đoàn thống trị đối với quần chúng nhân dân. Về thực chất, cuộc cách mạng tư sản hoàn toàn không có ý định xóa bỏ bóc lột, mà chỉ thay đổi giai cấp bóc lột và phương thức bóc lột. Như vậy, đại bộ phận nhân dân và giai cấp công nhân lại rơi vào một chế độ áp bức, bóc lột mới rất “văn minh”, mà không kém dã man – chế độ tư bản chủ nghĩa, vi phạm nhân quyền lại tiếp tục gia tăng.

Ngày 7-11-1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, mở đầu thời đại mới của xã hội loài người – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, và giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản. Mục tiêu chính của cách mạng là xóa bỏ ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động; thủ tiêu chế độ người bóc lột người, giải phóng con người một cách triệt để. Cuộc đấu tranh cho tương lai tươi sáng đó đã mở ra một triển vọng xán lạn cho loài người, đưa cuộc đấu tranh cho nhân quyền lên một đỉnh cao mới.

Nhân quyền là niềm mơ ước, giá trị chung của toàn nhân loại, là khát vọng ngàn đời của mỗi người dân, nhưng lại là vấn đề của mỗi quốc gia, thuộc quyền xử lý của quốc gia, gắn chặt với lợi ích quốc gia và độc lập chủ quyền của từng quốc gia – dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử.

Con người sinh ra, dù muốn hay không cũng phải lệ thuộc vào tự nhiên, mà giới tự nhiên vận động theo quy luật vốn có của nó. Con người tồn tại trong xã hội phải nắm vững quy luật, đó là cơ sở của quyết định luận mácxít: con người tồn tại theo quy luật và do quy luật quyết định. Theo quan điểm mácxít, tự do có nghĩa là nắm được tính tất yếu. Con người càng tự do bao nhiêu – điều đó phụ thuộc vào việc con người nắm được tính tất yếu bấy nhiêu. Tất yếu là cái tạo tiền đề cho tự do, tất yếu dung nạp tự do, chứ không phủ nhận tự do, không bài trừ tự do. Để đạt được tự do, phải nắm vững được tính tất yếu. Khơi dậy ở con người ham muốn tìm hiểu khoa học, vươn lên cái tất yếu và tạo cho con người một hành lang để con người tiếp cận được cái tất yếu khách quan là tiền đề cho sự giải phóng con người, đưa con người tới tự do. Trong đời sống xã hội, cái tất yếu là luật. Trong xã hội có giai cấp, con người làm việc theo pháp luật, càng có tự do; ngược lại, nếu sống không theo pháp luật, con người sẽ mất tự do. Vì vậy, trong xã hội còn giai cấp, chế độ xã hội nào cũng phải đưa ra một hệ thống luật pháp và thực hiện được những điều luật đó để làm cho con người được tự do.

Trong câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, cần phải hiểu tự do của mỗi con người luôn luôn phải gắn liền với độc lập của dân tộc, của đất nước. Một quốc gia không có (hoặc chưa có) chủ quyền dân tộc, thì không thể nói đến nhân quyền, đến “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của người dân. “Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”; hơn nữa, nền độc lập đó không thể bền vững. Như vậy, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và nhân quyền có mối quan hệ biện chứng, trong đó, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là vấn đề trước hết, là điều kiện tiên quyết, làm tiền đề cơ bản để thực hiện đầy đủ quyền con người – nhân quyền.

Việc thực hiện dân chủ, nhân quyền còn tuỳ thuộc vào nhiều điều kiện, trong đó, trước hết là trình độ phát triển kinh tế và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc về tất cả các phương diện chính trị, văn hoá, xã hội, tập quán, phong tục… Các nước có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, thì không thể lấy quan niệm, thực tế của nước này, dân tộc này về dân chủ và nhân quyền áp đặt cho dân tộc khác, đất nước khác.

Hiện nay, khi toàn cầu hoá kinh tế trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ và chính sự phát triển hiện đại hoá nghiêng hẳn về mục tiêu kinh tế, kỹ thuật đã làm mất cân đối sự phát triển xã hội, đánh mất tính nhân văn.

Đứng trước sự thách thức về chủ quyền quốc gia trong xu thế toàn cầu hoá, có những ý kiến rất khác nhau, thậm chí có khi rất trái ngược nhau. Loại thứ nhất cho rằng, trong tiến trình toàn cầu hoá, vai trò của nhà nước không giảm đi, mà ngược lại, còn tăng lên. Sự tăng lên đó không phải để cản trở sự phát triển mà để thúc đẩy tiến bộ. Loại thứ hai cho rằng, chủ quyền quốc gia ngày nay, không còn giữ nguyên giá trị cơ bản như trước đây, do vậy, địa vị và vai trò của nhà nước giảm đi rõ rệt. Theo họ, nhân quyền hiện đã vượt lên trên chủ quyền ở trong tất cả các xã hội khác nhau; nó không đếm xỉa tới biên giới quốc gia và trên một số mặt, đã phá bỏ sự phân cách giữa các quốc gia và độc lập của các quốc gia; chủ quyền quốc gia đã bị suy yếu và lỗi thời, còn nhân quyền cao hơn chủ quyền là điều tất yếu.

Ngày nay, sự phụ thuộc và mối quan hệ mật thiết giữa các quốc gia, dân tộc, các giai cấp ngày càng gia tăng, do thành tựu của hợp tác kinh tế, khoa học công nghệ, của đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh với các nạn dịch và tham gia giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, đó là một quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh và ngày càng quyết liệt. Đó là sự thống nhất của mâu thuẫn, thống nhất trong mâu thuẫn, trong đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc, trong rất nhiều sự khác biệt phức tạp về trình độ phát triển, về văn hóa, về tôn giáo,… Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại và có bước phát triển mới, dưới hình thức mới, thậm chí cả nội dung mới, tiềm ẩn những nguy cơ khó lường đối với toàn cầu. Trong từng khu vực, từng quốc gia khác nhau, lại nổi lên những vấn đề rất khác nhau hoặc là xung đột vũ trang, tranh chấp lãnh thổ, xung đột tôn giáo, sắc tộc,… Sự đa dạng đó cộng với những đặc thù riêng biệt về văn hóa, lịch sử, truyền thống, phong tục, tập quán, kinh tế, đặc biệt là đường lối chính trị và lợi ích quốc gia, dân tộc khác nhau, nên chủ trương và phương pháp xử lý mọi vấn đề trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,… và cả vấn đề nhân quyền cũng sẽ rất khác nhau. Xét cho cùng, việc thực hiện quyền con người sẽ được thông qua sự bảo đảm của quốc gia, dân tộc, được khẳng định trong hiến pháp, luật pháp và ở chỗ thể hiện và thực thi các chính sách của quốc gia đó. Vì lẽ đó, không thể có một thứ “nhân quyền toàn cầu”, “nhân quyền không biên giới” và càng không thể có cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, “nhân quyền đặt trên tổ quốc” được và không thể thực hiện đầy đủ quyền con người ngay một lúc.
2. Kế thừa và phát huy một cách sáng tạo những truyền thống lịch sử tốt đẹp là một trong những nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta. Ở Việt Nam, thực tiễn lịch sử cho thấy, tư tưởng “thân dân” là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt của giai cấp quý tộc phong kiến trong quá trình phát triển đời sống xã hội Việt Nam. Giai cấp quý tộc phong kiến Việt Nam nhận thức được sức mạnh vĩ đại “chở thuyền và lật thuyền” của nhân dân. Chính vì vậy, các chính sách “dân vi bản”, “ngụ binh ư nông”, mở rộng chế độ tự quản ở làng, xã,… đã được thực thi một cách phổ biến và phát huy tác dụng to lớn.

Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 ra đời là Hiến pháp dân chủ đầu tiên nhằm mục tiêu dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Hiến pháp năm 1959, năm 1980 tiếp tục khẳng định điều đó.

Từ năm 1986, nước ta bắt đầu sự nghiệp đổi mới. Hiến pháp sửa đổi trong thời kỳ này – Hiến pháp năm 1992 (Điều 50) quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng…”, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi dân chủ. Chỉ thị 30-CT/TƯ (18-2-1998) của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã chỉ rõ: “Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới”. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra ba Nghị định (số 29, năm 1998; số 71, năm 1998; số 7, năm 1999), ban hành Quy chế dân chủ ở xã, phường; ở cơ quan hành chính; ở doanh nghiệp nhà nước đã góp phần thể hiện tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định chủ trương đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội đã chỉ rõ, phải “thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng. Khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức. Xây dựng Luật trưng cầu ý dân. Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Đổi mới cơ chế, xác định trách nhiệm của các cấp, các cơ quan, cán bộ, công chức trong việc giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân. Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”. Một trong những nội dung của quy chế dân chủ cơ sở và việc đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở là dựa vào dân, lấy dân làm gốc: dân là chủ thể chính quyền; đảng, chính quyền và đoàn thể là chủ thể thực hiện sự uỷ quyền của dân. Dân là đối tượng phục vụ. Hệ thống chính trị cơ sở phải thực sự của dân, do dân, vì dân.
Thực tế cho thấy vấn đề dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam ngày càng được thực hiện tốt hơn, thể hiện:

Một là, người dân Việt Nam có niềm tin rất cao vào các giá trị dân chủ. Người dân ủng hộ mạnh mẽ việc dân chủ hóa xã hội mà cụ thể là đối với việc đưa thêm nội dung “dân chủ” vào mục tiêu phấn đấu của quốc gia: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Có tới 62,6% số người được hỏi rất hài lòng và 33,9% khá hài lòng, hay nói cách khác là có tới 96,5% số người trả lời hài lòng ở mức độ cao với mục tiêu dân chủ của quốc gia. Cuộc sống của chính họ đã đem lại cho họ niềm tin. Niềm tin đó còn có một chỗ dựa vững chắc là nền văn hóa, văn minh.

Một thực tế là, trong hệ thống chính trị của Việt Nam, đội ngũ cán bộ và trí thức người dân tộc thiểu số ngày càng tăng. Nhiều cán bộ là dân tộc thiểu số đã giữ trọng trách trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể quần chúng và quân đội. Số đại biểu người dân tộc thiểu số trong Quốc hội khoá XI chiếm 17,3%, đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh (nhiệm kỳ 1999 -2004) là 14%, huyện 17%, xã 19%… Lấy Tây Nguyên làm thí dụ: Nếu trước đây người Giarai, Bana, hằng năm thường thiếu gạo ăn, thậm chí có năm phải ăn củ rừng 4-5 tháng, thì nay đã chấm dứt tình trạng đói kinh niên. Tỉ lệ đói nghèo của tỉnh Gia Lai giảm từ 28% (năm 1998) xuống 16% (năm 2003).

Những người được hỏi đánh giá rất cao hệ thống chính trị dân chủ ở Việt Nam. 68,9% người trả lời cho rằng, hệ thống chính trị dân chủ rất tốt và 36,6% cho rằng, hệ thống này khá tốt. Như vậy, ở Việt Nam, 95,5% người được hỏi đánh giá hệ thống chính trị dân chủ giữ vai trò tích cực. Chỉ số này ở Nhật Bản: 91,9%, Canađa: 88,7%, Hoa Kỳ: 88,5%, Trung Quốc: 73,3%. Chính sự cố kết, chung lưng đấu cật bao đời nay, đã giác ngộ người dân Việt Nam ý thức về quyền con người, cũng như trên thực tế được thực hiện quyền con người gắn liền với hệ thống chính trị dân chủ. Đây là một thực tế không thể phủ nhận được. Tất nhiên, có nhiều điều người dân còn muốn hệ thống chính trị dân chủ phải phát huy tốt hơn. Thí dụ: Có tới 30,1% số người được hỏi tỏ ý mong muốn hệ thống dân chủ cần quyết đoán hơn (tỉ lệ này ở Trung Quốc: 35,0%, Hoa Kỳ: 39,2%, Nhật Bản: 43,3%, Canađa: 50,0%).

Hai là, quyền cá nhân con người ở Việt Nam rất được tôn trọng. Việc tôn trọng quyền cá nhân như một chỉ số về quyền con người. Cụ thể, có tới 95,1% số người được hỏi đều công nhận quyền cá nhân được tôn trọng. Tất nhiên, quyền phải đi đôi với trách nhiệm và không được làm trái pháp luật, ai làm trái pháp luật đều phải trừng trị. Có như vậy, mới bảo đảm chủ quyền quốc gia, ổn định chính trị, an sinh xã hội.

Ba là, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc về xoá đói, giảm nghèo, phát triển con người và chất lượng cuộc sống. Dân chủ và quyền con người không đơn giản có thể đạt được chỉ bằng những thay đổi về thể chế hay sự điều hành của các cơ quan quyền lực. Sự phát triển kinh tế là điều kiện quan trọng nhất cho việc thực thi dân chủ và quyền con người. Quyền cơ bản nhất của con người là quyền sống, được sống trong một xã hội ổn định. Mười năm gần đây, mức sống thực tế của người dân trung bình tăng lên hai, ba lần. Báo cáo phát triển con người năm 2003 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) nhận định Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc về xoá đói giảm nghèo, phát triển con người và chất lượng cuộc sống trong thập kỷ qua. Chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức 0,688, Việt Nam xếp hạng 109/175 nước. Về chỉ số phát triển giáo dục: dưới chế độ thực dân, phong kiến chỉ có 5%. Hiện nay 94% dân cư biết chữ. Đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người. Về chỉ số nghèo đói, tỉ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm mạnh, từ hơn 70% vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước, xuống còn khoảng 29% năm 2002, xếp hạng 39/94 nước. Về chỉ số phát triển giới (GDI) đạt giá trị 0,687, Việt Nam xếp 89/144 nước, là nước có chỉ số GDI tốt nhất trong khu vực (tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội khoá XI: 27,3%, cao nhất trong khu vực). Các số liệu này nói lên chính sách phát triển kinh tế, đồng thời với chăm lo giải quyết các vấn đề xã hội, chú trọng công bằng xã hội, lấy văn hóa và con người là mục tiêu cao nhất – một chính sách phát triển thật sự dân chủ của Đảng và Nhà nước ta.

Các kết quả nêu ở đây do nhiều yếu tố tạo nên, trong đó, yếu tố quan trọng là nền kinh tế đất nước chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời, một yếu tố khác không kém phần quan trọng là đã có các chính sách giải phóng tiềm năng của con người, của cộng đồng, giải quyết ngày càng hợp lý lợi ích của cá nhân và cộng đồng, lợi ích của công dân và xã hội, quyền hạn và trách nhiệm của các công dân sống trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đây là những điều kiện cơ bản của một xã hội có một chế độ chính trị dân chủ thật sự đang tồn tại ở Việt Nam.

Bốn là, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm. Ở nước ta có khoảng 20 triệu (tức là khoảng 25%) dân cư theo các tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, đạo Hồi, Cao Đài, Hoà Hảo), nhưng hầu như 100% dân cư đều giữ phong tục thờ cúng tổ tiên. Điều tra đưa ra các giá trị: chúa trời, tôn giáo, lao động, gia đình, bạn bè, giải trí và yêu cầu người đánh giá xem giá trị nào là rất quan trọng. Kết quả là “gia đình” được 82,11% người được hỏi đánh giá là rất quan trọng, “lao động”: 56,8%; “bạn bè”: 21,8%; “tôn giáo”: 10%; “giải trí”: 7,4%. Các con số này là một bức tranh khá sinh động và trung thực về tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng ở Việt Nam. Chỉ có những người lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước thì mới bị pháp luật trừng trị và nhân dân ủng hộ sự trừng trị đó. Đó là lẽ phải, là công lý, quốc gia nào cũng phải làm như thế…

(Theo: TS Nguyễn Viết Thông, Lẽ phải của chúng ta, NXB Chính trị Quốc gia, 2004)
dangcongsan.vn

This entry was posted on Tháng Tư 17, 2013, in Chính luận.

Sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội là đáp ứng nguyện vọng của nhân dân

TAND tối cao tổ chức Hội nghị góp ý kiến đối với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992:

Ngày 18/3, TAND tối cao đã tổ chức Hội nghị góp ý kiến đối với dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (khu vực phía Bắc). Đồng chí Trương Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TAND tối cao chủ trì hội nghị.

Sau một thời gian phổ biến, quán triệt, lấy ý kiến triển khai kế hoạch lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của toàn cán bộ, công chức, lãnh đạo các cấp trong ngành Tòa án, đến nay TAND tối cao đã nhận được 73 báo cáo của Tòa án các địa phương, đơn vị thuộc TAND tối cao phản ánh hơn 2.000 ý kiến về các nội dung của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Các ý kiến đóng góp đều nhất trí với dự thảo và có thêm quan điểm về nội dung quan trọng và khẳng định, dự thảo đã giải quyết được những vấn đề bất cập, tồn tại của thực tiễn đặt ra trong quá trình tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992; đảm bảo quyền lực Nhà nước là thống nhất, đồng thời phân định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm, cơ chế phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; thể hiện rõ nội dung đổi mới bộ máy tổ chức Nhà nước, đổi mới hoạt động tổ chức của chính quyền địa phương theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp.

Đồng chí Trương Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TAND tối cao chủ trì hội nghị.

Kết luận Hội nghị, đồng chí Trương Hòa Bình nêu rõ: Các ý kiến đóng góp đề cập rất toàn diện, đầy đủ và cụ thể đến toàn bộ nội dung của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Điều đó thể hiện trách nhiệm cao của cán bộ, công chức và lãnh đạo các cấp ngành Tòa án.

Việc tiếp tục khẳng định sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội trong Hiến pháp đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với lịch sử và những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta.

Việc quy định lực lượng vũ trang có nhiệm vụ tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội là đúng đắn

Nguyễn Hưng
cand.com.vn

Góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội

Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố:

Để phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm nói chung và tội phạm khủng bố nói riêng, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, Chính phủ đã giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố. Sau nhiều lần chỉnh sửa, Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết luận đồng ý trình dự án Luật Phòng, chống khủng bố để Quốc hội khóa XIII cho ý kiến vào kỳ họp thứ 4. Nếu được Quốc hội thông qua, Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố sẽ có hiệu lực từ cuối năm 2013.

Trong những năm qua, đặc biệt là sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ, tình hình khủng bố quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định và gây hậu quả nặng nề cho nhiều quốc gia trên thế giới.

Theo thống kê chưa đầy dủ, tính từ năm 2001 đến nay, trên thế giới đã xảy ra 5.774 vụ khủng bố làm 47.173 người thiệt mạng, 86.045 người bị thương và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng khác.

Ở Việt Nam mặc dù chưa xảy ra vụ khủng bố nào do các tổ chức khủng bố quốc tế gây ra, tuy nhiên cơ quan An ninh đã phát hiện hàng trăm đối tượng phản động lưu vong xâm nhập nội địa, mang theo hàng tấn thuốc nổ, vũ khí và phương tiện kỹ thuật nhằm thực hiện khủng bố, phá hoại.

Để phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm nói chung và tội phạm khủng bố nói riêng, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, Chính phủ đã giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố. Sau nhiều lần chỉnh sửa, Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết luận đồng ý trình dự án Luật Phòng, chống khủng bố để Quốc hội khóa XIII cho ý kiến vào kỳ họp thứ 4. Nếu được Quốc hội thông qua, Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố sẽ có hiệu lực từ cuối năm 2013.

Một số hình ảnh về lực lượng Công an tham gia diễn tập phòng, chống khủng bố năm 2012.

Theo Bộ Công an, Luật Phòng, chống khủng bố góp phần thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội nói chung và phòng, chống khủng bố nói riêng. Các quan điểm, chủ trương này được thể hiện trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, trong đó đã đề ra “ký kết và gia nhập các công ước quốc tế về phòng, chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham nhũng”.

Việc xây dựng, ban hành Luật Phòng, chống khủng bố là một bước tiến trong quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vục đảm bảo an ninh, trật tự, tiếp tục góp phần thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Mặt khác, Luật Phòng, chống khủng bố cũng góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm sự thống nhất đồng bộ với các Luật khác có liên quan. Việc Việt Nam ban hành Luật Phòng, chống khủng bố nhận được sự quan tâm, ủng hộ của dư luận quốc tế và các nước có thù địch với khủng bố.

Dự thảo Luật quy định các biện pháp, cơ chế vận hành, lực lượng, quản lý Nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống khủng bố nhằm tăng cường hiệu quả, hiệu lực của công tác phòng, chống khủng bố. Luật được ban hành sẽ có tác động tích cực và là công cụ hữu hiệu bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời góp phần kiện toàn, củng cố lực lượng cán bộ, chiến sĩ làm công tác phòng chống khủng bố.

Dự thảo Luật xác định rõ trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, cá nhân trong công tác phòng, chống khủng bố, giúp các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp chủ động phòng ngừa, ứng phó, xử lý với các vụ việc khủng bố, bảo vệ tốt nhất tính mạng, sức khỏe, tài sản của tổ chức, cá nhân. Luật ban hành sẽ tạo cơ sở pháp lý thống nhất để tổ chức và hoạt động phòng, chống khủng bố, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, thu hút đầu tư, du lịch nước ngoài, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước…

Ở nội dung chống khủng bố, dự thảo Luật quy định về: phát hiện khủng bố, tin báo và tố giác khủng bố; biện pháp chống khủng bố; chống khủng bố tại trụ sở cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế và nhà ở của thành viên các cơ quan này; chống khủng bố cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; điều tra, xử lý khủng bố.

Ngoài ra, trong dự thảo Luật còn quy định về tổ chức lực lượng phòng, chống khủng bố; phòng, chống tài trợ khủng bố và hợp tác quốc tế về phòng, chống khủng bố…

Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố gồm 8 Chương, 57 Điều. Ở nội dung phòng, ngừa khủng bố quy định 9 nhóm biện pháp là: Thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống khủng bố; quản lý về an ninh, trật tự; kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh; kiểm soát hoạt động giao thông vận tải; kiểm soát giao dịch tiền, tài sản; kiểm soát hàng hóa, phương tiện nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh; kiểm soát hoạt động báo chí, bưu chính, viễn thông, Internet và các hình thức khác; kiểm soát hoạt động bảo đảm an toàn thực phẩm và các hành vi làm lây lan bệnh dịch gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người; xây dựng và tổ chức thực hiện phương án về phòng, chống khủng bố.

Nguyễn Hưng
cand.com.vn

Hội nghị đánh giá kết quả lấy ý kiến đóng góp về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Ngày 15/3 tại Hà Nội, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả lấy ý kiến đóng góp về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đồng chí Hà Hùng Cường, Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì hội nghị.

Thông qua việc lấy ý kiến, Bộ Tư pháp có đánh giá chung về bản Dự thảo Hiến pháp 1992 như: Có nhiều đổi mới trong việc phân công thực hiện quyền lực, xác lập cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Cơ chế đảm bảo dân chủ đã có những bước tiến bộ. Xác lập cơ chế bảo đảm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN…

Về cơ bản, dự thảo Hiến pháp năm 1992 đã đặt nền móng pháp lý cho việc giải quyết những vấn đề bất cập, tồn tại của thực tiễn được đúc kết trong quá trình tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992. Đồng thời, đảm bảo là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có tính dự báo và ổn định lâu dài, kế thừa với sự điều chỉnh hợp lý những giá trị phản ánh đặc thù chính trị – pháp lý được ghi nhận tại các bản Hiến pháp của nước ta.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng cho rằng, có một số quan điểm, định hướng lớn của Đảng, Nhà nước thể hiện trong Cương lĩnh, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa XI, Nghị quyết TW2 và 5 khóa XI và trong Nghị quyết của Quốc hội về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 chưa được thể chế hóa triệt để, nhất là về kiểm soát quyền lực, về phân công nhiệm vụ giữa các cơ

C. Hồng
cand.com.vn

Ngày 9 tháng 8, “Tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch”

123th Anniversary of Uncle Ho

Chủ nhật, 09/08/2009, 01:35 (GMT+7)

Cách đây 87 năm, ngày 9-8-1922, báo Journal du Peuple (nhật báo Nhân dân) đăng “Thư gửi Khải Định” ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đây là thời điểm vua Khải Định được thực dân Pháp đưa sang Pháp để tham dự Hội chợ quốc tế tổ chức tại Marseille.

 Với một lối hành văn hài hước nhưng sắc sảo, lá thư của Nguyễn Ái Quốc cảnh báo ông vua bù nhìn: “Hòa lẫn với tiếng sóng gầm vang, những tiếng thét dữ dội của nhân dân bị áp bức ở các nước này, cũng như của nhân dân nước Ngài, sẽ xé tan bầu không khí yên tĩnh bên tai Ngài. Và nếu như Ngài có đôi chút óc tưởng tượng, Ngài sẽ thấy rằng ý chí của nhân dân – một ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực – một ý chí còn mạnh hơn và dẻo dai hơn sóng cả, cuối cùng sẽ khoét hổng dần và đánh bật cái tảng đá bên ngoài có vẻ vững chắc là sự áp bức và bóc lột kia đi”.

Ngày 9-8-1941, trong xã luận đăng trên báo Việt Nam Độc lập, lãnh tụ Hồ Chí Minh phân tích: “Tây có hai cách làm cho ta ngu hèn, một là cách bưng mắt…, hai là cách lừa gạt” và vạch rõ: “Tây cốt làm cho ta ngu hèn, Báo Việt Nam Độc lập cốt làm cho dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng, tự do”.

Ngày 9-8-1944, sau một thời gian dài bị giam giữ và giải đi nhiều nhà tù, vì nhiều lý do, chính quyền Trung Hoa Quốc dân Đảng ở Quảng Tây phải thả Hồ Chí Minh, cấp đầy đủ giấy thông hành, bản đồ quân sự, tài liệu tuyên truyền và lộ phí cho Bác. Trước lúc chia tay, lãnh tụ Hồ Chí Minh nói với tướng Trương Phát Khuê: “Tôi là một người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản. Tôi có một lời bảo đảm đặc biệt đối với ông rằng: Chủ nghĩa cộng sản sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam trong vòng 50 năm tới”.

Ngày 9-8-1946, trong thời gian lưu lại nước Pháp hỗ trợ cuộc đấu tranh ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bảo tàng Guimet, nơi lưu giữ bộ sưu tập nổi tiếng về văn hóa phương Đông ở Paris; thăm Tổng thư ký đảng Bình dân và tiếp phóng viên tờ Libération (Giải phóng).

Ngày 9-8-1949, quân Pháp rút khỏi Bắc Kạn. Nhân thời điểm thị xã đầu tiên được giải phóng, Bác gửi thư cho nhân dân tỉnh Bắc Kạn biểu dương và nhắc nhở: “Càng thất bại thì giặc Pháp càng liều mạng, càng dã man. Ta càng gần thắng lợi to thì càng phải đề phòng gặp khó khăn nhiều. Vì vậy ta tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch, chớ sơ suất kiêu ngạo”.

Ngày 9-8-1958, phát biểu tại cuộc họp Bộ Chính trị bàn về đường lối đấu tranh thống nhất nước nhà, Bác khẳng định nhiệm vụ miền Nam là lâu dài, gian khổ, nói như vậy không phải là tiêu cực mà có ý nghĩa tích cực, phải chờ thời cơ.

Ngày 9-8-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới nhà bác học Anh Bertrand Russel cảm ơn bức điện của ông lên án những hành động mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam của Mỹ; đồng thời khẳng định Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn tôn trọng Hiệp định Genève nhưng cũng sẵn sàng tiến hành cuộc chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 8 tháng 8: “Muốn thành công, nhân hòa là quan trọng hơn hết”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ bảy, 08/08/2009, 01:36 (GMT+7)

Cách đây 63 năm, ngày 8-8-1946, tiếp tục không mệt mỏi vận động hành lang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Bộ trưởng Marius Moutet và tướng Pellet của Bộ Pháp quốc hải ngoại. Ngoài ra, Bác còn tiếp nhà báo Pháp Courtade ký giả của tờ “Nhân loại”.

Tháng 8-1948, trong bài nói chuyện với Hội nghị Quân sự lần thứ 5, Bác phân tích:“Ở trong xã hội, muốn thành công phải có 3 điều kiện là: thiên thời, địa lợi và nhân hòa… Nhân hòa là mọi người đều nhất trí. Nhân hòa là quan trọng hơn hết. Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung.

Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng. Tín là phải làm cho người ta tin mình… Tín cũng có nghĩa phải tin vào sức mình nữa, nhưng không phải tự mãn, tự cao. Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh. Nhân là phải thương yêu cấp dưới, đồng cam cộng khổ với họ… Đối với địch hàng ta phải khoan dung. Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống. Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng…

Công tác của người tướng là: 1. Đối với kỷ luật trong quân đội mệnh lệnh từ trên xuống dưới phải thấm tới mỗi đội viên. Chỗ nào mệnh lệnh không xuống tới thì chỗ đó hỏng. Báo cáo từ dưới lên thì phải cho thật thà, nhanh chóng, thiết thực… Phải thưởng phạt cho công minh… 2. Đối với binh sĩ, có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh họ sẽ hăng hái đánh… 3. Đối với dân, bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi. 4. Đối với địch thì tuyệt đối chớ khinh địch. Tục ngữ có câu “Sư tử muốn bắt con chuột thì cũng phải dùng hết sức mình mới bắt được”, khinh địch thì nhất định sẽ thất bại… Địch vận là làm sao phá được địch mà không phải đánh. Cái đó là việc chính trị…”.

Ngày 8-8-1958, Bác tham dự cuộc họp và thảo luận của Bộ Chính trị về Cải cách ruộng đất và phát biểu quan điểm của mình: “Cương lĩnh đưa ra đúng nhưng không biết cụ thể hóa, Đảng có chủ quan, máy móc… Cải cách ruộng đất tuy có sai lầm nhưng cũng có thắng lợi và phải thấy được những thắng lợi này”. Rồi Bác tự phê bình: “Quan liêu, không sát quần chúng, không sát thực tế, chỉ xem báo cáo”. 

Cùng ngày, Bác viết bài “Vũ khí hóa học (thuốc độc quân dụng)” đăng trên Báo Quân đội Nhân dân, cảnh báo địch sẽ sử dụng loại vũ khí này trên chiến trường Việt Nam và nhận định: “Thuốc độc quân dụng là một thứ vũ khí rất nguy hiểm, nhưng không phải là không chống được”.

Ngày 8-8-1959, trong chuyến thăm Trung Quốc, Bác Hồ đến núi Ly San, thăm lăng Tần Thủy Hoàng và đến huyện Trường An, viếng đền thờ nhà thơ Đỗ Phủ. Đây là những nhân vật lớn trong chính trường và thi ca Trung Quốc.

Ngày 8-8-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tặng Huân chương Độc lập và viết thư khen quân và dân tỉnh Quảng Bình lập chiến công vẻ vang bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 500 trên địa phận tỉnh nhà.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 7 tháng 8: “Việc gì dù khó mấy, quyết chí ắt làm thành”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ sáu, 07/08/2009, 02:26 (GMT+7)

Cách đây 87 năm, ngày 7-8-1922, báo cáo của mật thám Pháp cho biết, Nguyễn Ái Quốc dự họp Chi bộ Đảng Cộng sản Pháp quận 17 và đi bán báo Le Paria (Người Cùng Khổ).

Ngày 7-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Nhóm Văn hóa mácxit và mời cơm cựu Bộ trưởng Nội vụ Pháp D’Astier Vigneri, lúc này là một nghị sĩ Quốc hội và là chủ bút một tờ báo có quan điểm ủng hộ Việt Nam.

Ngày 7-8-1952, trên báo Nhân Dân, Bác đăng bài thơ nhan đề “Mừng kênh Vônga Đông hoàn thành” để chào mừng thành quả lao động của nhân dân Xô Viết, từ đó rút ra bài học: “Đào núi và đắp bể/ Luyện đá vá trời xanh/ Việc gì dù khó mấy/ Quyết chí ắt làm thành… Nước ta đang kháng chiến/ Để diệt lũ thực dân/ Khi kháng chiến thắng lợi/ Ta xây dựng dần dần/ Liên Xô đã bước trước/ Việt Nam sẽ tiến sau/ Ta ra sức thi đua/ Thành công ắt cũng mau/ Ta mừng Vônga Đông/ Ta phất ngọn cờ hồng/ và hô to/ Kháng chiến nhất định thắng lợi/ Kiến quốc nhất định thành công”.

Ngày 7-8-1953, Bác đến nói chuyện với lớp chỉnh huấn của các nhân sĩ, trí thức đang công tác tại các cơ quan của Trung ương. Sau khi giải đáp những thắc mắc về tiền đồ kháng chiến, Bác kết luận: “Trong lúc khó khăn của dân tộc, khí tiết của người cán bộ là không sợ gì hết, không sợ kẻ địch, không sợ khó khăn gian khổ. Cái gì khó khăn, cực khổ, cán bộ phải xung phong làm trước. Muốn cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, mong các cô, các chú phải có khí tiết ấy”.

Ngày 7-8-1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Tinh thần quốc tế của giai cấp lao động”, biểu dương lao động các nước ủng hộ sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Việt Nam, mà mới nhất là tháng 5-1954, công nhân cảng Alger (Algerie) đã bãi công, không chuyên chở binh sĩ và vũ khí thực dân sang Việt Nam. Bài báo kết luận: “Tinh thần quốc tế của công nhân/ Quý giá nghìn vàng, há dễ cân/ Giai cấp cần lao trong bốn bể/ Một lòng tương trợ với tương thân”.

Ngày 7-8-1959, tiếp tục chuyến thăm Trung Quốc, Bác đến thành phố Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây, có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng và vãn cảnh chùa Đại Tứ Ân, leo lên đỉnh Tháp Đại Nhạn.

Ngày 7-8-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới các nhà lãnh đạo Liên Xô, nhân phóng thành công tàu vũ trụ “Phương Đông 2” do Anh hùng Vũ trụ G.Titov điều khiển, người sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động của Việt Nam và làm Chủ tịch Hội Hữu nghị Xô-Việt.

Ngày 7-8-1964, Bác dự lễ tuyên dương công trạng của các đơn vị không quân và hải quân đã lập chiến công đánh thắng trận đầu vào các ngày 2-8 và 5-8 khi đế quốc Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta. Trong bài phát biểu, Bác đưa ra thông điệp: “Nhân dân ta rất yêu chuộng hòa bình, nhưng nếu đế quốc Mỹ và tay sai xâm phạm đến miền Bắc nước ta thì toàn dân ta nhất định sẽ đánh bại chúng”.

Ngày 7-8-1965, Bác dự khai mạc Đại hội thi đua “Quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” của các lực lượng vũ trang nhân dân. Trong bài nói, Bác khẳng định: “Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng”, mọi âm mưu của địch “nhất định sẽ bị lực lượng “chống Mỹ cứu nước” của đồng bào ta và sức mạnh đoàn kết của toàn dân ta đánh tan, bị ngọn lửa cách mạng của nhân dân ta thiêu cháy”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn