Vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

Thời gian gần đây, một số phần tử cực hữu ở Mỹ và các nước phương Tây tiếp tục vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Nghị viện Liên minh châu Âu thông qua Báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới, trong đó, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, tự do dân chủ. Đây là một sự vu khống, bịa đặt.

1. Trong lịch sử gần sáu thập kỷ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Hiến pháp qua những lần sửa đổi, bổ sung, phát triển (1946, 1959, 1980, 1992) đã xác lập và thực thi quyền con người Việt Nam trên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn. Thế nhưng, các thế lực thù địch luôn luôn tìm cách vu khống, bịa đặt cho rằng, nước ta, chế độ ta vi phạm quyền con người, quyền công dân; bóp nghẹt dân chủ; đàn áp tôn giáo, dân tộc; chúng công kích đường lối, chính sách đổi mới, phê phán chế độ một đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập,… Bất chấp những luận điệu vu khống và những thủ đoạn phá rối, gây kích động ấy, Việt Nam vẫn luôn luôn tự hào và có quyền tự hào rằng, chúng ta là một đất nước độc lập, tự do và ngày càng phát triển theo mục tiêu cao cả vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” .

Trong lịch sử đấu tranh lâu dài để chinh phục tự nhiên, lịch sử đấu tranh giai cấp, cải tạo xã hội, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, loài người đã đạt được những thành quả vĩ đại về nhân quyền và dân chủ. Chính vì thế, nhân quyền và dân chủ được coi như một trong những tiêu chí cơ bản, quan trọng nhất, đánh dấu sự phát triển của các chế độ xã hội cao hay thấp trong tiến trình phát triển lịch sử.

Con người luôn luôn hướng tới những cái thật, cái đúng (chân), cái tốt lành (thiện) và cái đẹp (mỹ). Trong quá trình chung sống ở cộng đồng, trong quan hệ giữa người với người, khát vọng có “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”, trở thành điểm tương đồng của toàn nhân loại. Song, khát vọng chung nhất ấy đã bị kìm hãm, chà đạp, dồn nén khi xã hội loài người phân chia thành những giai cấp khác nhau: có tập đoàn người này áp bức, thống trị tập đoàn người khác, thông qua những quy định, sắc lệnh (pháp luật) của nhà nước do giai cấp thống trị nắm giữ và điều hành. Cũng từ đó, đã xuất hiện cuộc đấu tranh cho nhân quyền.

Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ Lục địa lần thứ hai long trọng công bố ngày 4-7-1776. Nội dung cơ bản của Tuyên ngôn là lời tuyên bố các quyền tự do dân chủ tư sản và khẳng định nền độc lập của các bang ở Bắc Mỹ. Tuyên ngôn nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền bất khả xâm phạm, trong đó, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp được Hội đồng Lập hiến thông qua ngày 26-8-1789, gồm 17 điều khoản. Đó là một Cương lĩnh chứa đựng những tư tưởng “Tự do, bình đẳng, bác ái” của các nhà triết học Pháp thế kỷ XVIII. Lần đầu tiên trong lịch sử nước Pháp và châu Âu, chủ quyền tối cao được tuyên bố thuộc về nhân dân cùng với những quyền tự do, dân chủ khác. Quyền lực của nhà vua cùng chế độ đẳng cấp bất bình đẳng trong xã hội phong kiến bị bãi bỏ.

Các bản Tuyên ngôn trên là những văn kiện đề cao dân chủ, tự do, là một tiến bộ lớn lao, phản ánh những mong muốn của nhân dân. Tuy nhiên, trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ không có điều khoản thủ tiêu chế độ nô lệ, không nghiêm cấm việc buôn bán nô lệ, nên các chủ nô vẫn mặc sức tự do buôn bán nô lệ, nô lệ vẫn chỉ là một “công cụ”, một thứ “hàng hóa biết nói” . Trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp cũng như bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, mặc dầu những quyền tự do và bình đẳng đã được ghi trong văn bản, nhưng các Tuyên ngôn đều xác lập dứt khoát cơ sở của chế độ mới là chế độ tư bản, duy trì công khai quan hệ bóc lột của tập đoàn thống trị đối với quần chúng nhân dân. Về thực chất, cuộc cách mạng tư sản hoàn toàn không có ý định xóa bỏ bóc lột, mà chỉ thay đổi giai cấp bóc lột và phương thức bóc lột. Như vậy, đại bộ phận nhân dân và giai cấp công nhân lại rơi vào một chế độ áp bức, bóc lột mới rất “văn minh”, mà không kém dã man – chế độ tư bản chủ nghĩa, vi phạm nhân quyền lại tiếp tục gia tăng.

Ngày 7-11-1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, mở đầu thời đại mới của xã hội loài người – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, và giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản. Mục tiêu chính của cách mạng là xóa bỏ ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động; thủ tiêu chế độ người bóc lột người, giải phóng con người một cách triệt để. Cuộc đấu tranh cho tương lai tươi sáng đó đã mở ra một triển vọng xán lạn cho loài người, đưa cuộc đấu tranh cho nhân quyền lên một đỉnh cao mới.

Nhân quyền là niềm mơ ước, giá trị chung của toàn nhân loại, là khát vọng ngàn đời của mỗi người dân, nhưng lại là vấn đề của mỗi quốc gia, thuộc quyền xử lý của quốc gia, gắn chặt với lợi ích quốc gia và độc lập chủ quyền của từng quốc gia – dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử.

Con người sinh ra, dù muốn hay không cũng phải lệ thuộc vào tự nhiên, mà giới tự nhiên vận động theo quy luật vốn có của nó. Con người tồn tại trong xã hội phải nắm vững quy luật, đó là cơ sở của quyết định luận mácxít: con người tồn tại theo quy luật và do quy luật quyết định. Theo quan điểm mácxít, tự do có nghĩa là nắm được tính tất yếu. Con người càng tự do bao nhiêu – điều đó phụ thuộc vào việc con người nắm được tính tất yếu bấy nhiêu. Tất yếu là cái tạo tiền đề cho tự do, tất yếu dung nạp tự do, chứ không phủ nhận tự do, không bài trừ tự do. Để đạt được tự do, phải nắm vững được tính tất yếu. Khơi dậy ở con người ham muốn tìm hiểu khoa học, vươn lên cái tất yếu và tạo cho con người một hành lang để con người tiếp cận được cái tất yếu khách quan là tiền đề cho sự giải phóng con người, đưa con người tới tự do. Trong đời sống xã hội, cái tất yếu là luật. Trong xã hội có giai cấp, con người làm việc theo pháp luật, càng có tự do; ngược lại, nếu sống không theo pháp luật, con người sẽ mất tự do. Vì vậy, trong xã hội còn giai cấp, chế độ xã hội nào cũng phải đưa ra một hệ thống luật pháp và thực hiện được những điều luật đó để làm cho con người được tự do.

Trong câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, cần phải hiểu tự do của mỗi con người luôn luôn phải gắn liền với độc lập của dân tộc, của đất nước. Một quốc gia không có (hoặc chưa có) chủ quyền dân tộc, thì không thể nói đến nhân quyền, đến “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của người dân. “Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”; hơn nữa, nền độc lập đó không thể bền vững. Như vậy, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và nhân quyền có mối quan hệ biện chứng, trong đó, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là vấn đề trước hết, là điều kiện tiên quyết, làm tiền đề cơ bản để thực hiện đầy đủ quyền con người – nhân quyền.

Việc thực hiện dân chủ, nhân quyền còn tuỳ thuộc vào nhiều điều kiện, trong đó, trước hết là trình độ phát triển kinh tế và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc về tất cả các phương diện chính trị, văn hoá, xã hội, tập quán, phong tục… Các nước có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, thì không thể lấy quan niệm, thực tế của nước này, dân tộc này về dân chủ và nhân quyền áp đặt cho dân tộc khác, đất nước khác.

Hiện nay, khi toàn cầu hoá kinh tế trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ và chính sự phát triển hiện đại hoá nghiêng hẳn về mục tiêu kinh tế, kỹ thuật đã làm mất cân đối sự phát triển xã hội, đánh mất tính nhân văn.

Đứng trước sự thách thức về chủ quyền quốc gia trong xu thế toàn cầu hoá, có những ý kiến rất khác nhau, thậm chí có khi rất trái ngược nhau. Loại thứ nhất cho rằng, trong tiến trình toàn cầu hoá, vai trò của nhà nước không giảm đi, mà ngược lại, còn tăng lên. Sự tăng lên đó không phải để cản trở sự phát triển mà để thúc đẩy tiến bộ. Loại thứ hai cho rằng, chủ quyền quốc gia ngày nay, không còn giữ nguyên giá trị cơ bản như trước đây, do vậy, địa vị và vai trò của nhà nước giảm đi rõ rệt. Theo họ, nhân quyền hiện đã vượt lên trên chủ quyền ở trong tất cả các xã hội khác nhau; nó không đếm xỉa tới biên giới quốc gia và trên một số mặt, đã phá bỏ sự phân cách giữa các quốc gia và độc lập của các quốc gia; chủ quyền quốc gia đã bị suy yếu và lỗi thời, còn nhân quyền cao hơn chủ quyền là điều tất yếu.

Ngày nay, sự phụ thuộc và mối quan hệ mật thiết giữa các quốc gia, dân tộc, các giai cấp ngày càng gia tăng, do thành tựu của hợp tác kinh tế, khoa học công nghệ, của đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh với các nạn dịch và tham gia giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, đó là một quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh và ngày càng quyết liệt. Đó là sự thống nhất của mâu thuẫn, thống nhất trong mâu thuẫn, trong đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc, trong rất nhiều sự khác biệt phức tạp về trình độ phát triển, về văn hóa, về tôn giáo,… Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại và có bước phát triển mới, dưới hình thức mới, thậm chí cả nội dung mới, tiềm ẩn những nguy cơ khó lường đối với toàn cầu. Trong từng khu vực, từng quốc gia khác nhau, lại nổi lên những vấn đề rất khác nhau hoặc là xung đột vũ trang, tranh chấp lãnh thổ, xung đột tôn giáo, sắc tộc,… Sự đa dạng đó cộng với những đặc thù riêng biệt về văn hóa, lịch sử, truyền thống, phong tục, tập quán, kinh tế, đặc biệt là đường lối chính trị và lợi ích quốc gia, dân tộc khác nhau, nên chủ trương và phương pháp xử lý mọi vấn đề trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,… và cả vấn đề nhân quyền cũng sẽ rất khác nhau. Xét cho cùng, việc thực hiện quyền con người sẽ được thông qua sự bảo đảm của quốc gia, dân tộc, được khẳng định trong hiến pháp, luật pháp và ở chỗ thể hiện và thực thi các chính sách của quốc gia đó. Vì lẽ đó, không thể có một thứ “nhân quyền toàn cầu”, “nhân quyền không biên giới” và càng không thể có cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, “nhân quyền đặt trên tổ quốc” được và không thể thực hiện đầy đủ quyền con người ngay một lúc.
2. Kế thừa và phát huy một cách sáng tạo những truyền thống lịch sử tốt đẹp là một trong những nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta. Ở Việt Nam, thực tiễn lịch sử cho thấy, tư tưởng “thân dân” là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt của giai cấp quý tộc phong kiến trong quá trình phát triển đời sống xã hội Việt Nam. Giai cấp quý tộc phong kiến Việt Nam nhận thức được sức mạnh vĩ đại “chở thuyền và lật thuyền” của nhân dân. Chính vì vậy, các chính sách “dân vi bản”, “ngụ binh ư nông”, mở rộng chế độ tự quản ở làng, xã,… đã được thực thi một cách phổ biến và phát huy tác dụng to lớn.

Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 ra đời là Hiến pháp dân chủ đầu tiên nhằm mục tiêu dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Hiến pháp năm 1959, năm 1980 tiếp tục khẳng định điều đó.

Từ năm 1986, nước ta bắt đầu sự nghiệp đổi mới. Hiến pháp sửa đổi trong thời kỳ này – Hiến pháp năm 1992 (Điều 50) quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng…”, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi dân chủ. Chỉ thị 30-CT/TƯ (18-2-1998) của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã chỉ rõ: “Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới”. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra ba Nghị định (số 29, năm 1998; số 71, năm 1998; số 7, năm 1999), ban hành Quy chế dân chủ ở xã, phường; ở cơ quan hành chính; ở doanh nghiệp nhà nước đã góp phần thể hiện tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định chủ trương đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội đã chỉ rõ, phải “thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng. Khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức. Xây dựng Luật trưng cầu ý dân. Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Đổi mới cơ chế, xác định trách nhiệm của các cấp, các cơ quan, cán bộ, công chức trong việc giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo của công dân. Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”. Một trong những nội dung của quy chế dân chủ cơ sở và việc đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở là dựa vào dân, lấy dân làm gốc: dân là chủ thể chính quyền; đảng, chính quyền và đoàn thể là chủ thể thực hiện sự uỷ quyền của dân. Dân là đối tượng phục vụ. Hệ thống chính trị cơ sở phải thực sự của dân, do dân, vì dân.
Thực tế cho thấy vấn đề dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam ngày càng được thực hiện tốt hơn, thể hiện:

Một là, người dân Việt Nam có niềm tin rất cao vào các giá trị dân chủ. Người dân ủng hộ mạnh mẽ việc dân chủ hóa xã hội mà cụ thể là đối với việc đưa thêm nội dung “dân chủ” vào mục tiêu phấn đấu của quốc gia: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Có tới 62,6% số người được hỏi rất hài lòng và 33,9% khá hài lòng, hay nói cách khác là có tới 96,5% số người trả lời hài lòng ở mức độ cao với mục tiêu dân chủ của quốc gia. Cuộc sống của chính họ đã đem lại cho họ niềm tin. Niềm tin đó còn có một chỗ dựa vững chắc là nền văn hóa, văn minh.

Một thực tế là, trong hệ thống chính trị của Việt Nam, đội ngũ cán bộ và trí thức người dân tộc thiểu số ngày càng tăng. Nhiều cán bộ là dân tộc thiểu số đã giữ trọng trách trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể quần chúng và quân đội. Số đại biểu người dân tộc thiểu số trong Quốc hội khoá XI chiếm 17,3%, đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh (nhiệm kỳ 1999 -2004) là 14%, huyện 17%, xã 19%… Lấy Tây Nguyên làm thí dụ: Nếu trước đây người Giarai, Bana, hằng năm thường thiếu gạo ăn, thậm chí có năm phải ăn củ rừng 4-5 tháng, thì nay đã chấm dứt tình trạng đói kinh niên. Tỉ lệ đói nghèo của tỉnh Gia Lai giảm từ 28% (năm 1998) xuống 16% (năm 2003).

Những người được hỏi đánh giá rất cao hệ thống chính trị dân chủ ở Việt Nam. 68,9% người trả lời cho rằng, hệ thống chính trị dân chủ rất tốt và 36,6% cho rằng, hệ thống này khá tốt. Như vậy, ở Việt Nam, 95,5% người được hỏi đánh giá hệ thống chính trị dân chủ giữ vai trò tích cực. Chỉ số này ở Nhật Bản: 91,9%, Canađa: 88,7%, Hoa Kỳ: 88,5%, Trung Quốc: 73,3%. Chính sự cố kết, chung lưng đấu cật bao đời nay, đã giác ngộ người dân Việt Nam ý thức về quyền con người, cũng như trên thực tế được thực hiện quyền con người gắn liền với hệ thống chính trị dân chủ. Đây là một thực tế không thể phủ nhận được. Tất nhiên, có nhiều điều người dân còn muốn hệ thống chính trị dân chủ phải phát huy tốt hơn. Thí dụ: Có tới 30,1% số người được hỏi tỏ ý mong muốn hệ thống dân chủ cần quyết đoán hơn (tỉ lệ này ở Trung Quốc: 35,0%, Hoa Kỳ: 39,2%, Nhật Bản: 43,3%, Canađa: 50,0%).

Hai là, quyền cá nhân con người ở Việt Nam rất được tôn trọng. Việc tôn trọng quyền cá nhân như một chỉ số về quyền con người. Cụ thể, có tới 95,1% số người được hỏi đều công nhận quyền cá nhân được tôn trọng. Tất nhiên, quyền phải đi đôi với trách nhiệm và không được làm trái pháp luật, ai làm trái pháp luật đều phải trừng trị. Có như vậy, mới bảo đảm chủ quyền quốc gia, ổn định chính trị, an sinh xã hội.

Ba là, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc về xoá đói, giảm nghèo, phát triển con người và chất lượng cuộc sống. Dân chủ và quyền con người không đơn giản có thể đạt được chỉ bằng những thay đổi về thể chế hay sự điều hành của các cơ quan quyền lực. Sự phát triển kinh tế là điều kiện quan trọng nhất cho việc thực thi dân chủ và quyền con người. Quyền cơ bản nhất của con người là quyền sống, được sống trong một xã hội ổn định. Mười năm gần đây, mức sống thực tế của người dân trung bình tăng lên hai, ba lần. Báo cáo phát triển con người năm 2003 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) nhận định Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc về xoá đói giảm nghèo, phát triển con người và chất lượng cuộc sống trong thập kỷ qua. Chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức 0,688, Việt Nam xếp hạng 109/175 nước. Về chỉ số phát triển giáo dục: dưới chế độ thực dân, phong kiến chỉ có 5%. Hiện nay 94% dân cư biết chữ. Đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người. Về chỉ số nghèo đói, tỉ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm mạnh, từ hơn 70% vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước, xuống còn khoảng 29% năm 2002, xếp hạng 39/94 nước. Về chỉ số phát triển giới (GDI) đạt giá trị 0,687, Việt Nam xếp 89/144 nước, là nước có chỉ số GDI tốt nhất trong khu vực (tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội khoá XI: 27,3%, cao nhất trong khu vực). Các số liệu này nói lên chính sách phát triển kinh tế, đồng thời với chăm lo giải quyết các vấn đề xã hội, chú trọng công bằng xã hội, lấy văn hóa và con người là mục tiêu cao nhất – một chính sách phát triển thật sự dân chủ của Đảng và Nhà nước ta.

Các kết quả nêu ở đây do nhiều yếu tố tạo nên, trong đó, yếu tố quan trọng là nền kinh tế đất nước chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời, một yếu tố khác không kém phần quan trọng là đã có các chính sách giải phóng tiềm năng của con người, của cộng đồng, giải quyết ngày càng hợp lý lợi ích của cá nhân và cộng đồng, lợi ích của công dân và xã hội, quyền hạn và trách nhiệm của các công dân sống trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đây là những điều kiện cơ bản của một xã hội có một chế độ chính trị dân chủ thật sự đang tồn tại ở Việt Nam.

Bốn là, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm. Ở nước ta có khoảng 20 triệu (tức là khoảng 25%) dân cư theo các tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, đạo Hồi, Cao Đài, Hoà Hảo), nhưng hầu như 100% dân cư đều giữ phong tục thờ cúng tổ tiên. Điều tra đưa ra các giá trị: chúa trời, tôn giáo, lao động, gia đình, bạn bè, giải trí và yêu cầu người đánh giá xem giá trị nào là rất quan trọng. Kết quả là “gia đình” được 82,11% người được hỏi đánh giá là rất quan trọng, “lao động”: 56,8%; “bạn bè”: 21,8%; “tôn giáo”: 10%; “giải trí”: 7,4%. Các con số này là một bức tranh khá sinh động và trung thực về tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng ở Việt Nam. Chỉ có những người lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước thì mới bị pháp luật trừng trị và nhân dân ủng hộ sự trừng trị đó. Đó là lẽ phải, là công lý, quốc gia nào cũng phải làm như thế…

(Theo: TS Nguyễn Viết Thông, Lẽ phải của chúng ta, NXB Chính trị Quốc gia, 2004)
dangcongsan.vn