Sự ra đời của bài “Giải phóng miền Nam”

Tháng 3-1960, Nghị quyết 5 của Trung ương Đảng đề ra hai nhiệm vụ chiến lược, đó là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Tập hợp toàn dân miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và huy động sự ủng hộ của thế giới.

Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Mục tiêu của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là động viên nhân dân đấu tranh chống đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai ở miền Nam, tiến tới xây dựng miền Nam một chế độ hoà bình, trung lập và dân chủ, từng bước sau này thực hiện thống nhất đất nước.

Nhằm hoàn chỉnh sự ra đời của mặt trận, các nhạc sĩ: Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước được giao nhiệm vụ khẩn cấp sáng tác một bài hát chính thức cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Ảnh minh họa/tư liệu internet.

Nhạc sĩ Huỳnh Văn Tiểng kể: “Tôi được đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục miền Namcho biết là phải tuyệt đối giữ bí mật việc sáng tác ca khúc này. Theo đồng chí Phạm Hùng, về nội dung cần thể hiện những điểm sau: “Bài hát có tính chất Quốc ca này cần nhắm vào đối tượng không chỉ nhân dân miền Nam mà cho cả nhân dân Nam Trung Bộ và Nam Bộ; kêu gọi nhân dân Nam Trung Bộ và Nam Bộ trực tiếp đứng lên đấu tranh vũ trang lật đổ chế độ tay sai của đế quốc Mỹ; nêu rõ triển vọng thống nhất đất nước Việt Nam…”.

Do các yêu cầu về bảo đảm bí mật nên cả ba nhạc sĩ cùng nhau bàn bạc cân nhắc rất kỹ từng lời, từng ý trước khi sáng tác bài hát này. Cụ thể, để thể hiện chủ trương mới, quan trọng của Đảng và cách mạng lúc này là phải đấu tranh vũ trang, các ông đã đưa câu kêu gọi nhân dân trực tiếp chiến đấu: “Cầm gươm, ôm súng ta xông tới”. Muốn thực hiện được chiến lược này phải đoàn kết nhân dân Trung Nam Bắc lại để diệt đế quốc Mỹ, nhưng điểm mới trong chiến lược là tha cho ngụy quyền chứ không tiêu diệt, nên bài hát có câu:“Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước/Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước”.

Để minh hoạ cho đường lối đoàn kết dân tộc, tác giả đã nêu lên 2 địa danh tiêu biểu của hai miền là Cửu Long và Trường Sơn. Vì thế trong bài có câu: “Đây Cửu Long hùng tráng/Đây Trường Sơn vinh quang”. Và để thể hiện ý chí thống nhất đất nước của toàn dân dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài hát có câu: “Vai sánh vai chung một bóng cờ”. Điệp khúc của bài hát là kết luận toàn bộ sách lược mới của Đảng và phản ánh sự tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng bằng câu: “Vận nước đã đến rồi bình minh chiếu khắp nơi. Nguyện xây non nước sáng tươi muôn đời”.

Cuối cùng, tên tác giả phải thay đổi để bảo đảm tính độc lập của Chính phủ Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Ba nhạc sĩ nhất trí đề tên tác giả Huỳnh Minh Liêng, tức là 3 chữ đầu của họ 3 người: Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu (Liêng) Hữu Phước. Trong đó, chữ Lưu của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước viết chữ L hơi tháu, nên khi người công nhân xếp chữ nhìn chữ L thành ra chữ S, do vậy tên tác giả từ Huỳnh Minh Liêng ra Huỳnh Minh Siêng. Sau khi phát hiện ra, có ý kiến nên sửa lại, nhưng nhạc sĩ Lưu Hữu Phước lại giải thích: Cứ để chữ Siêng cũng có ý nghĩa là siêng năng.

Sau khi sửa chữa 3 lần, bài hát được thông qua và phổ biến rộng rãi trên cả  nước và thế giới. Đặc biệt, bài hát trên của ba nhạc sĩ được dư luận nhiệt tình đón nhận.

Tư Liệu 
qdnd.vn

Ngày chiến thắng hành trình của độc lập, tự do, hạnh phúc

LTS: Có lẽ ít đất nước nào, một chính Đảng cầm quyền, một quân đội hiến dâng xương máu từ nhân dân mà ra như đất nước ta. Ngày chiến thắng cũng là ngày vui chung của dân tộc: ngày không có người thất bại – Cả dân tộc đều ngẩng cao đầu thắng Pháp và Mỹ xâm lược. Máu đổ xuống làm nên chiến thắng chỉ một dòng máu đỏ – Máu của những người con đất Việt ưu tú nhất: những Đảng viên cộng sản, chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam (những nông dân công nhân trí thức học sinh mặc áo lính)… Hơn hết là những người yêu nước, yêu hòa bình đâu sợ chiến chinh.

Trong niềm xúc cảm của ngày chiến thắng năm nay, bạn đọc hãy cùng ĐBND tiếp chuyện ĐBQH, PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, TSKH, HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN:

PV: Thưa Hòa Thượng, năm ngoái chúng ta đã bàn về Ngày chiến thắng. Hình như đây là đề tài còn ám ảnh chúng ta mãi mãi.

Trùng trùng quân đi như sóng nơi năm cánh sao xòe trên năm cửa ô thắng thực dân Pháp.

Và, Sài Gòn ơi ta đã về đây ngày 30.4.1975 lịch sử. Trong dòng người về thành phố Hồ Chí Minh năm ấy, hòa trong sắc áo xanh là muôn màu sắc áo của dân chúng Sài Gòn. Và cờ nữa, cờ đỏ sao vàng, cờ nửa đỏ nửa xanh của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi không thấy sự pha trộn màu áo màu cờ nào hòa hợp như vậy. Tôi không nghĩ tôi là một người lính đứng riêng mà là một thành viên của đất nước này, dân tộc này.

Thầy có tâm trạng công dân độc lập này không, thưa Thầy?

Hòa thượng Thích Chơn Thiện: Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống xâm lược liên miên. Sau gần 1000 năm lệ thuộc Trung Quốc, dân ta đã đứng dậy và trụ vững từ nhà Đinh và tiền Lê; đến đầu thế kỷ thứ XI Việt Nam khởi đầu thiết lập nền độc lập, tự chủ. Hai trăm năm triều Lý đã đại thắng quân Tống và quân Chiêm (Champa). Hạ bán thế kỷ thứ XIII, Trần Nhân Tông đã hai lần đại phá quân Nguyên Mông (1285 và 1288). Đầu thế kỷ thứ XV, Lê Lợi đại thắng mấy mươi vạn quân Minh. Hạ bán thế kỷ thứ XVIII, vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh trong vòng hơn một tuần lễ. Cuộc chiến từ thế kỷ thứ XIX, do phương Tây xâm lược, với tàu thuyền và vũ khí hiện đại, Việt Nam đã không thể đối đầu với quân Pháp, và bị Pháp đô hộ gần 100 năm. Thời bấy giờ, các phong trào Cần vương, Đông du cứu nước, và rất nhiều cuộc kháng Pháp đều thất bại. Tình hình đổi khác từ sau chuyến tây du của Hồ Chí Minh, và từ sau ngày Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản ngày 3.2.1930, chủ trương du kích chiến khắp ba miền đất nước. Năm 1945, sau thế chiến thứ Hai, cách mạng giành chủ quyền từ cựu hoàng Bảo Đại. Quân Pháp lại dấn thân quyết tâm tiêu diệt Cách mạng… Sau chiến thắng quân Pháp năm 1952 tại Cao – Bắc – Lạng, quân Cách mạng đã biểu hiện rõ sức mạnh quân sự tham chiến trận địa chiến. Quân Pháp thành lập căn cứ quân sự bất khả xâm phạm tại Điện Biên Phủ. Năm 1954, quân Cách mạng vây chặt Điện Biên, từng bước tiêu diệt các chốt quân sự của Pháp và đã đánh bại hoàn toàn quân Pháp. Toàn bộ tướng lãnh, sỹ quan và quân đội Pháp đầu hàng: đây là một chiến công vang dội khắp Thế giới bấy giờ, mở ra hướng giải phóng các dân tộc bị trị, Pháp đành ký hiệp định Genève (1954) trả lại hoàn toàn chủ quyền cho Việt Nam. Nhưng âm mưu của Mỹ và phương Tây vẫn cố bám trụ tại Việt Nam, đã chia đôi Nam, Bắc Việt Nam thành hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt. Cách mạng Việt Nam lại phải tiếp bước cách mạng giải phóng miền Nam chống lại sức mạnh quân sự can thiệp của Mỹ. Cuộc chiến ở miền Nam bấy giờ rất ác liệt, quân Mỹ đi từ thất bại này đến thất bại khác. Sau khi thua trận không chiến oanh kích miền Bắc, đặc biệt là cuộc oanh kích B52 Hà Nội 12 ngày đêm, cường quốc quân sự và kinh tế số một thế giới đã phải tiếp bước quân xâm lược Pháp, nếm mùi thất bại chua xót, tức tưởi, đã phải ký Hiệp định Paris (1973) và rút tất cả quân về nước: thế giới bàng hoàng; các nước Á, Phi hết lòng ngưỡng mộ chiến thắng của Việt Nam…

Sài Gòn ơi ta đã về đây                                                             Tranh cổ động của Thúy Hằng

Chỉ có chiến thắng lẫy lừng quân Nguyên Mông mới có thể so sánh với chiến thắng Pháp, Mỹ của Cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cái vĩ đại của chiến thắng Pháp, Mỹ này không phải chỉ nằm ở quân sự, mà là nằm ở tài lãnh đạo của Cách mạng dưới sự soi sáng, dẫn dắt của trí tuệ Hồ Chí Minh, mà là nằm ở chỗ quân, dân nhất trí chịu vô vàn gian khó, nằm gai nếm mật trong suốt 80 năm chống Pháp và 20 năm chống Mỹ: đó là vĩ đại của dân tộc của thời đại Hồ Chí Minh. Đây là một bài học lịch sử nữa vô cùng giá trị mà nhân dân Việt Nam cần giữ làm lòng trong thời chiến cũng như thời bình (luôn luôn phải ở tư thế quốc phòng sẵn sàng tự vệ): không một người Việt Nam nào, dân hay quân, tôn giáo hay phi tôn giáo, mà có thể cảm thấy mình đứng riêng ra ngoài tập thể của Dân tộc, đất nước; đây cũng là một ý nghĩa của Xã hội Chủ nghĩa. Từ kinh nghiệm lịch sử của cận đại và hiện đại này, yêu cầu của lịch sử là Đảng Cộng Sản Việt Nam (hay Đảng cách mạng cận đại và hiện đại của Việt Nam) cần nắm giữ vai trò một Đảng duy nhất lãnh đạo đất nước, và tiếp tục lãnh đạo đất nước lâu dài, tính từ từng đơn vị một trăm năm kể từ năm 1975.

PV: Đi qua gian lao suốt 80 năm chống thực dân Pháp và 20 năm chống đế quốc Mỹ, hàng trăm cuộc khởi nghĩa và phong trào nổi dậy với nhiều màu sắc đấu tranh. Vậy nhưng, chỉ đến khi vàng vàng bay đẹp quá sao sao ơi chúng ta mới có độc lập để mà mưu cầu tự do, mưu cầu hạnh phúc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, bản lĩnh của một chính Đảng của Hồ Chí Minh về xây dựng Chủ nghĩa Xã hội trên quê hương Hùng Vương đã thành hiện thực. Ngày chiến thắng, thưa Thầy, là của dân, của Đảng và của quân đội Nhân dân Việt Nam?

Hòa thượng Thích Chơn Thiện: Rõ ràng, ngày 10.10.1954 và ngày 30.4.1975 là hai ngày chiến thắng vẻ vang của cách mạng Việt Nam, của lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại. Sau ngày 30.4.1975, Việt Nam đã độc lập, tự do và hạnh phúc trên danh nghĩa, mà chưa là của thực tế xã hội. Ba mươi tám năm qua, dưới sự lãnh đạo ưu việt của Đảng, Việt Nam đang vừa hội nhập, vừa xây dựng xã hội Xã hội Chủ nghĩa: xây dựng từng bước đi CNXH, hướng về mục tiêu XHCN (dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh); đang nỗ lực để vượt qua từng khó khăn về phát triển giáo dục, văn hóa, kinh tế, xã hội; đang đòi hỏi toàn Dân, toàn Đảng, toàn Quân một nỗ lực mới, một nhận thức mới về các bước đi của mình thế nào để tương xứng với nỗ lực trong thời kỳ kháng chiến, thế nào để có những thành quả kinh tế, xã hội tương xứng với thành quả kháng chiến, thế nào để có độc lập, tự chủ thực sự, để có tự do và hạnh phúc thực sự. Thời chiến, cái nhục của nô lệ và cái khổ của bất công áp bức là động lực khơi dậy sự đoàn kết quân dân nhất trí (Dân, Đảng và Quân nhất trí), khơi dậy sự hy sinh của cá nhân và gia đình vì đại nghĩa của Dân tộc. Thời bình, động lực ấy chìm lặn nên sự hy sinh vì đại nghĩa cũng yếu dần và chìm lặn. Làm thế nào để đánh thức dậy sự hy sinh cao cả đó, khi mà người cán bộ và người dân đi vào hưởng thụ, đi vào danh vọng và lợi dưỡng, đi vào chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ, lợi ích nhóm? Đấy là vấn đề học tập và thực hành Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI. Đấy là vấn đề giáo dục của cán bộ, đảng viên và nhân dân về hiểm họa của diễn biến hòa bình, về các âm mưu liên tục đánh phá từ bên ngoài, về các mưu đồ xâm lược đang ẩn khuất đâu đó, về cái nhục của một đất nước nghèo nàn, chậm tiến so với các nước trong khu vực và nhiều nước trên thế giới, và về sự chưa thực sự tự chủ của mình về kinh tế, tài chính… Chỉ khi sức mạnh của toàn Dân, toàn Đảng, toàn Quân trong thời chiến được khơi dậy một lần nữa trong thời bình thì chúng ta mới yên lòng nghĩ đến Ngày chiến thắng thực sự của thời kỳ xây dựng xã hội XHCN trên quê hương của Vua Hùng. Quân đội và nhân dân đều cần học tập kỹ lịch sử, chính trị của đất nước và cần hiểu rằng lực lượng xâm lược của thế giới chưa bao giờ dừng nghỉ, để chúng ta thức tỉnh, lập lại sự đoàn kết nhất trí và sự hy sinh vì đại nghĩa, vì sự tự chủ, độc lập, tự do, và sự hưng vượng thực sự của đất nước. Học tập và học tập mãi. Thực hiện và thực hiện mãi. Quê hương Việt Nam là thế. Không làm được điều đó, đất nước lại đi vào suy thoái… Rất nguy hiểm!

Cần hiểu thêm rằng: Nhân dân – Đảng Cộng sản Việt Nam – Quân đội nhân dân Việt Nam tuy là 3 thành tố nhưng chỉ là một. Cùng một nguồn cội tỏa sáng từ cách mạng dân tộc Việt Nam.

Minh họa của T. Hằng

PV: Thưa Hòa Thượng, ngày 10.10.1954 ở Hà Nội, ngày 30.4.1975 ở Sài Gòn là ngày chiến thắng, ngày gặt hái thành quả cách mạng. Có mùa màng là vì đã gieo hạt giống. Thầy có thể từ quan niệm của Phật giáo mà luận bàn thêm về việc gieo giống  ươm cây, thưa Thầy?

Hòa thượng Thích Chơn Thiện: Ngày chiến thắng 10.10.1954 là kết quả đấu tranh của toàn Dân, toàn Đảng và toàn Quân sau gần 25 năm, từ năm 1930 đến 1954. Ngày chiến thắng 30.4.1975 là kết quả đấu tranh sau 21 năm, từ năm 1954 đến 1975. Toàn Dân, toàn Đảng và toàn Quân đã dốc tâm kháng chiến, chịu vô vàn gian khổ. Tất cả đã vì sự nghiệp Độc lập, Tự do và Hạnh phúc của nhân dân. Đấy là một cuộc kháng chiến vĩ đại. Đấy là một chiến thắng kỳ vỹ, là một trang sử đầy bi tráng. Nhìn từ giáo lý nhà Phật: tất cả hiện hữu đều do điều kiện sinh (hay gọi là nhân duyên sinh), nhân thế nào thì quả thế ấy. Có thể nói rằng kết quả chiến thắng trên là do hội đủ các yếu tố:

Nhân cách lãnh đạo của Hồ Chí Minh là đặc biệt cao thượng; trí tuệ và tài năng của Hồ Chí Minh là phi phàm.

Đảng có khoa học tổ chức đặc thù, và bao gồm các đảng viên, cán bộ tuyệt đối trung thành, có năng lực và trí tuệ.

Toàn Dân và toàn Quân hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến trường kỳ của Hồ Chí Minh, một lòng tham gia kháng chiến, hy sinh quyền lợi cá nhân và gia đình vì đại cuộc.

Chính nghĩa cách mạng tỏa sáng, thuyết phục được các dân tộc trên thế giới.

Cái nhục vong quốc, nô lệ và cái khổ chịu bất công áp bức là động lực làm bung dậy sức mạnh chiến đấu.

Chiến thắng trên khó có thể lập lại một lần nữa trong lịch sử, dù biết rằng lịch sử dân tộc Việt Nam đã từng có chiến thắng tương tự.

Vì sự vật là do điều kiện sinh, nên mỗi thời đại có những điều kiện lịch sử, xã hội khác nhau, có những con người khác nhau, và có những sự cống hiến và sức mạnh khác nhau. Do vậy mà phương thức vận hành khác nhau; chiến thuật, chiến lược khác nhau, mục tiêu đấu tranh khác nhau. Trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước sau chiến tranh, có ý kiến băn khoăn rằng: làm thế nào để tái hiện sức mạnh của thời kỳ kháng chiến vào hiện đại của phát triển? Hỏi tức là trả lời rồi vậy: nếu đối chiếu với thời kỳ kháng chiến, thì hiện đại có một số điểm đòi hỏi nhất thiết phải được thiết lập như:

Một lãnh tụ tiêu biểu về trí tuệ và đức hạnh;

Các cán bộ, đảng viên gương mẫu, thể hiện đúng chức năng của mình;

Vận động toàn Dân, toàn Đảng và toàn Quân thực hiện đại đoàn kết vì nền độc lập, tự chủ vì sự nghiệp xây dựng và phát triển (cũng là vấn đề sinh tử, sinh tồn);

Toàn Dân, toàn Đảng và toàn Quân sống đúng hiến pháp và pháp luật.

Đó là điều kiện “cần” được thực hiện trong bối cảnh toàn dân nỗ lực làm giàu, hưởng thụ tự do, dân chủ, trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới. Điều kiện “đủ” để có nhữngngày chiến thắng trong giai đoạn xây dựng và phát triển là sự thành công rực rỡ của văn hóa, giáo dục, y tế, của kinh tế – xã hội, và của an ninh, quốc phòng; là sự thành công của sự xóa sạch nghèo đói, là sự thành công của phổ cập giáo dục đến cấp Trung học phổ thông hay Đại học; và là sự thành công của  Việt Nam có vị thế đáng kể trong khu vực và trên thế giới.

Tất cả điều kiện “cần” và “đủ” tựu trung quy vào một vấn đề duy nhất: mỗi người công dân có đủ khả năng, “nhận thức” và đức hạnh. Vấn đề này lại phụ thuộc vào vai trò giáo dục của Đảng, Học đường, Gia đình và các phương tiện truyền thông. Gieo giống và ươm cây cho hiện tại và tương lai là thế: vấn đề con Người và nhận thức đúng đắn về lịch sử, xã hội của con Người.

PV: Chân thành cám ơn Hòa thượng!

Thanh Tâm thực hiện
daibieunhandan.vn

Đỉnh cao của khí phách và trí tuệ Việt Nam

Xã luận

QĐND – Hôm nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2013). Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng có điều kiện để nhìn nhận sâu hơn, rõ hơn ý nghĩa, tầm vóc vĩ đại của chiến thắng.

Suốt 30 năm kể từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc ta đã chiến đấu kiên cường, bền bỉ để giành thắng lợi trọn vẹn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Chiến thắng 30-4 mãi mãi được ghi tạc là một trong những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, là biểu tượng sáng ngời của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đỉnh cao của khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam. Chiến thắng 30-4 là một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.

Chiến thắng vĩ đại 30-4 bắt nguồn từ đường lối chính trị, quân sự đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta dựa trên sự vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Đó là chiến thắng của sức mạnh Việt Nam, kết tinh những giá trị tốt đẹp của truyền thống yêu nước, văn hóa dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Đồng thời, đó là thắng lợi của sự ủng hộ, giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của bạn bè quốc tế, của các nước XHCN anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. 38 năm trôi qua, nhưng không khí náo nức của những ngày “Bắc Nam sum họp một nhà” vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của mỗi người dân Việt Nam.

Chiến thắng 30-4 để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau nhiều bài học quý giá, đặc biệt là bài học về tiến hành chiến tranh nhân dân, xây dựng LLVT nhân dân làm nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân. Vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm đó trong điều kiện mới, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ chủ nghĩa xã hội…”. Yêu cầu cơ bản để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới được Đảng ta xác định là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi chúng ta phải phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với củng cố QP-AN, QP-AN với kinh tế; ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng LLVT nhân dân, mà nòng cốt là Quân đội nhân dân vững mạnh.

Để xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, cùng những khó khăn, thách thức của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ quân đội ta phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức rõ mục tiêu chiến đấu, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, không dao động trước những khó khăn, thử thách, diễn biến phức tạp của tình hình và những đòn tiến công thâm hiểm của các thế lực thù địch. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải thực sự là lực lượng tinh nhuệ về chính trị, là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, kiên quyết đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, chia rẽ Đảng với quân đội, quân đội với nhân dân, Quân đội nhân dân với Công an nhân dân. Quân đội ta phải ra sức huấn luyện, rèn luyện nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu đáp ứng yêu cầu tác chiến mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Cùng với tiếp tục quán triệt và nắm vững mục tiêu, phương châm chỉ đạo của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, quân đội ta cần tích cực nghiên cứu, tổng kết hoạt động lý luận, thực tiễn, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm quý báu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhằm không ngừng đổi mới công tác huấn luyện nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Đặc biệt, phải tập trung nghiên cứu các kiểu chiến tranh, gắn với phân tích nhận định tình hình để có những dự báo về các tình huống chiến tranh xâm lược mà kẻ thù có thể tiến hành đối với Việt Nam; tập trung đi sâu nghiên cứu phát triển khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Trong xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phải lấy xây dựng chính trị làm cơ sở. Quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là người đứng đầu phải thực sự gương mẫu, nói đi đôi với làm, kịp thời có các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, tăng cường kỷ luật, pháp luật trong quân đội. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu để quân đội ta mãi mãi xứng đáng là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng còn nhiều gian nan, thách thức. Phát huy truyền thống và kinh nghiệm dựng nước, giữ nước của dân tộc và những thành tựu quan trọng đạt được trong công cuộc đổi mới, chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân và toàn quân sẽ chung sức, chung lòng viết tiếp bản thiên anh hùng ca bất hủ của Chiến thắng 30-4, giành thắng lợi mới trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

QĐND
qdnd.vn

Tấm bản đồ má trao

Kỷ niệm 38 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước:

Cuộc chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã ca khúc khải hoàn cách đây 38 năm, trong thời khắc lịch ấy, có những ký ức, những kỷ vật và những con người mãi mãi đi vào lịch sử như biểu tượng sáng ngời cho chủ nghĩa yêu nước nồng nàn của dân tộc và nghệ thuật chiến tranh nhân dân thần diệu. Hình ảnh bà má miền Nam Sáu Ngẫu trong ký ức của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu là một trong rất nhiều hình ảnh cao quý ấy.

Từ trái sang phải: Em Phước, Chính ủy Trịnh Văn Thư, má Sáu Ngẫu, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và em Đức (Ảnh: TL)

Năm nay đã bước sang tuổi 67, nhưng khi kể cho chúng tôi nghe về thời khắc lịch sử của Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, đôi mắt của Tướng Nguyễn Huy Hiệu rực sáng lấp lánh, ông như sống lại những ngày tháng Tư đỏ lửa với hình ảnh má Sáu Ngẫu ở vùng Lái Thiêu, cửa ngõ Sài Gòn mà ông cùng đồng chí của mình không bao giờ quên.

Sau 38 ngày hành quân thần tốc, vượt 1.700 km từ Tam Điệp, Ninh Bình vào đến Đồng Xoài, ngày 26/4, Trung đoàn 27 Triệu Hải Anh hùng (thuộc sư 320B) do Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu chỉ huy bắt đầu nổ súng hạ các mục tiêu của địch dọc trục đường 16 và tiến sát đến Búng, bắc Lái Thiêu. Đến ngày 29/4, Trung đoàn 27 được lệnh đập tan tuyến phòng thủ của địch ở Gò Vấp, phối hợp cùng các mũi tấn công khác tiến vào giải phóng Sài Gòn. Lúc này, một khó khăn đặt ra cho vị chỉ huy mới bước qua tuổi 28 là quân ta chưa nắm được tình hình các điểm phòng thủ cũng như cách bố trí lực lượng của địch ở Lái Thiêu. Trong lúc khó khăn, một nguồn tin của ta cho biết, cách khu vực Lái Thiêu 3km có một gia đình là cơ sở cách mạng.

Ngay trong đêm 29/4, vượt mưa gió, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu cùng Chính ủy Trịnh Văn Thư và tổ trinh sát đã thâm nhập vùng Lái Thiêu, qua bãi tha ma của khu dân cư đi vào mé bìa rừng để liên hệ với cơ sở cách mạng. Đến khuya, tổ trinh sát phát hiện một ngôi nhà lá có ánh đèn le lói. Các chiến sỹ gõ cửa rồi phát mật hiệu “Hồ Chí Minh” và được người má già, tay cầm đèn đáp lại “Muôn năm”. Nhận ra đúng mật hiệu, má liền mời các anh lính bộ đội Cụ Hồ vào nhà. Bên ngoài, một số chiến sỹ trinh sát làm nhiệm vụ cảnh giới. Sau những lời giới thiệu ngắn gọn, các chiến sỹ cũng được biết má tên Sáu Ngẫu, có chồng tên là Hai Nhương, hoạt động cách mạng, bị giặc bắt và giết hại năm Mậu Thân 1968, hiện má ở cùng hai con là Phước, 17 tuổi, con gái và con trai tên Đức, 14 tuổi.

Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu giở tấm bàn đồ quân sự ra và nhờ má Sáu Ngẫu chỉ dẫn cho các mục tiêu. Má Sáu đeo chiếc kính, nhìn một lát thì bảo má không rành các ký hiệu trên tấm bàn đồ, rồi má đi vào buồng và lấy ra tấm bản đồ đô thành Sài Gòn. Trải tấm bản đồ lên chiếc bàn gỗ, dưới ánh đèn dầu, má thoăn thoắt đánh dấu từng địa điểm, mục tiêu của địch với các thông tin về vũ khí, lực lượng với các mục tiêu quan trọng như ngã ba Lái Thiêu, cầu Vĩnh Bình, cầu Bình Phước, cầu Sắt Sài Gòn. Má vừa nói vừa ghi chú cẩn thận lên tấm bản đồ, các chiến sỹ của ta bất ngờ nhận ra, chữ má viết rất đẹp. Má vừa khoanh vùng trên tấm bản đồ, vừa bảo: “Đây là Trại Huỳnh Văn Lương, có hơn hai nghìn địch đang án binh bất động, các con không nên đánh vào trại này mà có thể kêu hàng, tránh đổ máu. Tiếp đó, các con nên đánh vượt qua mục tiêu Lái Thiêu, nhanh chóng đánh thẳng cầu Vĩnh Bình, cầu sắt Sài Gòn không địch nó phá mất.”

Trung đoàn trưởng Hiệu cùng các chiến sỹ cám ơn má và xin phép lên đường. Má bảo để má cùng em Phước, em Đức trực tiếp dẫn đường cho quân giải phóng. Thấy má già, các em lại nhỏ nên các chiến sỹ hứa sẽ trả thù cho má và sau khi chiến thắng sẽ trở lại thăm má cùng các em. Ngay trong đêm đó, Trung Đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu cùng các đồng chí của mình đã lên kế hoạch thần tốc tiêu diệt địch ở chi khu và quận lỵ Lái Thiêu, bao vây chia cắt cô lập và bức hàng Trại huấn luyện Huỳnh Văn Lương, đánh chiếm cầu Bình Phước, cầu Vĩnh Bình và cầu Lái Thiêu, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng của ta thọc sâu, đánh vào các mục tiêu chủ yếu trong Sài Gòn.

Khoảng 4h sáng 30/4/1975, Trung đoàn 27 bắt đầu tấn công Lái Thiêu và làm chủ khu vực này sau 2 giờ chiến đấu. Tiếp đó, đơn vị đánh chiếm cầu Vĩnh Bình, là nơi địch tử thủ quyết liệt. Ngoài Trung đoàn 27 lúc này có thêm Đại đội xe tăng của tiểu đoàn 66 tăng cường. Các lực lượng của ta phát huy hỏa lực mạnh của xe tăng và pháo 37 ly, đánh tan hệ thống tử thủ của địch, làm chủ cầu Vĩnh Bình. Đến khoảng 9h30 phút, mũi thọc sâu của Trung đoàn đã chiếm toàn bộ khu Gò Vấp, xưởng Bộ tư lệnh thiết giáp quân ngụy, Căn cứ 25, 26 truyền tin và chiếm Tổng y viện Cộng hòa. Sau đó, cùng đơn vị khác đánh tiếp các mục tiêu trong nội thành góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam. Má Sáu Ngẫu cùng tấm bản đồ đã góp phần cho đơn vị thần tốc đánh chiếm các mục tiêu của địch và giảm thương vong cho trung đoàn.

Ngay buổi chiều 30/4 lịch sử, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu cùng một số đồng chí đã trở lại ngôi nhà của má Sáu Ngẫu. Má cùng nhân dân Lái Thiêu hồ hởi đón các anh trong niềm vui chiến thắng và tặng cho các chiến sỹ rất nhiều hoa quả như chôm chôm, mãng cầu, lê ki ma, măng cụt… Sau này, các chiến sỹ mới biết má là giáo viên dạy tiếng Pháp của một trường phổ thông. Đây cũng là lý do vì sao chữ má viết trên tấm bản đồ đẹp đến thế!

Đất nước thống nhất, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu ngày nào nay đã là Thượng tướng, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quân sự Liên bang Nga, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Tuy kinh qua nhiều cương vị công tác, nhưng ông vẫn thường xuyên vào thăm má Sáu Ngẫu và em Phước, em Đức. Năm 1989, má Sáu Ngẫu qua đời, tướng Hiệu vô cùng đau đớn. Ông cùng đơn vị đã tạc một tấm bia bên mộ má với dòng chữ “Đại đoàn Đồng bằng, Trung đoàn 27 Triệu Hải anh hùng ghi công má Sáu Ngẫu đã chỉ đường cho đơn vị tiến vào giải phóng Sài Gòn năm 1975”. Tấm bản đồ quý giá của má Sáu đã khơi nguồn cảm hứng và trở thành nguyên mẫu của ca khúc “Tấm bản đồ má trao” do nhạc sỹ Văn Thành Nho sáng tác.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu khẳng định, đại thắng mùa xuân năm 1975 là chiến thắng của nghệ thuật chiến tranh nhân dân, của thế trận lòng dân mà Đảng, Bác Hồ đã dày công xây dựng. Nghệ thuật ấy, bắt nguồn từ truyền thống bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc với biết bao thế hệ con Lạc cháu Hồng. Má Sáu Ngẫu, cùng với triệu triệu người con của dân tộc đã góp phần “làm nên đất nước muôn đời”.

Tự Cường ghi
daibieunhandan.vn

Đặc công của Việt Nam luôn sẵn sàng mọi tình huống

Thiếu tướng Trần Xuân Hòe. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Bộ đội Đặc công là một lực lượng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc,… Binh chủng Đặc công đều lập được nhiều chiến công hiển hách, đi vào huyền thoại.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Binh chủng Đặc công vẫn là một trong những lực lượng sẵn sàng chiến đấu, cơ động nhanh của Quân đội nhân dân Việt Nam, luôn xứng đáng với lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “… Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt, các chiến sĩ đặc công được tin tưởng đặc biệt, bất kỳ nhiệm vụ gì, bất kỳ nhiệm vụ đặc biệt nào cũng phải hoàn thành và hoàn thành cho tốt. Bất kỳ khó khăn đặc biệt nào cũng phải vượt qua, cũng phải khắc phục cho kỳ được…”

Phóng viên Vietnam+ đã có cuộc trò chuyện cởi mở với Thiếu tướng Trần Xuân Hòe, Tư lệnh Binh chủng Đặc công về vấn đề này.

– Thưa Tư lệnh, trong những năm tháng chiến tranh, Binh chủng Đặc công đã lập được nhiều chiến công chói lọi, với cách đánh độc đáo, táo bạo “bí mật bất ngờ, luồn sâu đánh hiểm” làm cho quân thù kinh hồn, bạt vía. Trong bối cảnh hiện nay, để phát huy truyền thống ấy, công tác huấn luyện của Binh chủng Đặc công được duy trì thế nào?

Thiếu tướng Trần Xuân Hòe: Đặc công là một Binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Để phát huy tốt truyền thống anh hùng trong chiến đấu, tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo trong xây dựng, huấn luyện và công tác, những năm qua Binh chủng Đặc công đã tập trung nghiên cứu, tham mưu cho Bộ Quốc phòng xây dựng và phát triển các lực lượng Đặc công theo hướng tinh, gọn, chất lượng cao.

Cùng với xây dựng lực lượng, chúng tôi rất coi trọng việc nghiên cứu khoa học và phát triển nghệ thuật tác chiến của Bộ đội Đặc công. Binh chủng luôn phát huy trí tuệ của mọi cán bộ, chiến sỹ trong nghiên cứu, cải tiến, sáng chế một số mô hình học cụ, vũ khí trang bị kỹ thuật phục vụ trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Tham mưu cho Bộ mua sắm một số loại vũ khí trang bị kỹ thuật mới, đặc chủng phù hợp với cách đánh đặc công trong điều kiện mới.

Đặc biệt, chúng tôi luôn tổ chức huấn luyện bộ đội theo phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”; coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu theo nhiệm vụ, sát với đối tượng và địa bàn tác chiến (bảo đảm kỹ thuật, chiến thuật phải được huấn luyện đặc biệt thuần thục).

Hiện nay chúng tôi đã đào tạo, giáo dục, rèn luyện được lực lượng chiến đấu viên trung thành, dũng cảm, tinh nhuệ, có ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

– Được biết, Binh chủng Đặc công được giao nhiệm vụ tác chiến chống khủng bố. Bộ Tư lệnh đã làm gì để hoàn thành tốt nhiệm vụ này?

Thiếu tướng Trần Xuân Hòe: Chống khủng bố là nhiệm vụ mới, lực lượng đặc công chưa có nhiều kinh nghiệm trong tác chiến đối tượng này. Tuy nhiên, với truyền thống quyết chiến quyết thắng, bất luận trong mọi điều kiện hoàn cảnh, cho dù nhiệm vụ được giao có mới, có khó khăn, phức tạp đến đâu chúng tôi cũng phải khắc phục cho kỳ được.

Do đó, trong thời gian qua, Bộ Tư lệnh Đặc công đã tập trung chỉ đạo cho các bộ phận chức năng nghiên cứu kỹ đối tượng tác chiến. Trên cơ sở đó xác định cách đánh, tổ chức xây dựng lực lượng chống khủng bố, xây dựng các phương án và thực hành huấn luyện chuyên sâu theo từng tình huống khủng bố có thể xảy ra. Cùng với đó, chúng tôi cũng nghiên cứu, biên soạn hệ thống tài liệu cho lực lượng chuyên trách chống khủng bố một cách đặc biệt hơn so với các lực lượng khác.

Đoàn đặc công biệt động 1 luyện tập chống khủng bố. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Hiện nay, tất cả các đơn vị trong Binh chủng, các Quân khu… đều có lực lượng chống khủng bố. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, chúng tôi đã đưa nội dung huấn luyện nhảy dù cho lực lượng làm nhiệm vụ tác chiến chống khủng bố trong toàn Binh chủng; tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện võ thuật, bắn súng, sử dụng thành thạo các loại vũ khí mới được trang bị.

Lực lượng chống khủng bố của Binh chủng Đặc công hiện nay đã đạt đến trình độ tinh nhuệ, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ.

– Từ khi thành lập vào ngày 19/3/1967 đến nay, lực lượng đặc công có 210 cá nhân, 90 tập thể được phong tặng Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. Bên cạnh đó còn nhiều chiến công thầm lặng, vậy việc tôn vinh những đóng góp ấy trong thời gian tới sẽ được Binh chủng tiến hành như thế nào, thưa Tư lệnh?

Thiếu tướng Trần Xuân Hòe: Thực tế vấn đề giải quyết chế độ, chính sách, đãi ngộ người có công với cách mạng luôn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm.

Về phía mình, Binh chủng cũng đã làm tốt những công việc hết sức cụ thể, đặc biệt là đã chủ động tìm hiểu, phát hiện những hoàn cảnh còn gặp nhiều khó khăn, những mất mát trong cuộc sống hiện tại cũng như trong chiến đấu của nhiều trường hợp, qua đó đã có những hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần để phần nào cuộc sống của đồng chí, đồng đội đỡ khó khăn hơn.

Ngoài ra, trước đây lực lượng đặc công trong kháng chiến hoạt động rất bí mật, đặc biệt là lực lượng đặc công biệt động. Thậm chí, có những người trong thời chiến cùng chung một nhiệm vụ, một chiến hào mà đồng đội cũng không biết được nhau. Đến nay, chúng tôi cũng đã và đang tìm hiểu, xác minh, đề nghị, công nhận… để cho đồng đội mình được về với Binh chủng.

Bên cạnh đó, Binh chủng cũng sẽ phối hợp tốt hơn nữa với các cơ quan truyền thông để giới thiệu với đại chúng, với bạn bè trong và ngoài nước những tấm gương tiêu biểu trong lực lượng Đặc công. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng, làm cho thế hệ trẻ thấy được lòng yêu nước, ý chí quật cường, tinh thần quyết chiến quyết thắng của Bộ đội đặc công trong mọi thời kỳ. Qua đó, góp phần khích lệ, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nêu cao ý thức cảnh giác cho thế hệ trẻ trước mọi âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch.

– Xin cảm ơn Tư lệnh

Trung Hiền (Vietnam+)
vietnamplus.vn

——————–

Tin liên quan
Bài 1: Những trận đánh làm nên lịch sử đặc công Việt Nam
Bài 2:Giải phóng Trường Sa bằng cách đánh mới, táo bạo
Bài 3: Người chiến sĩ phất cờ chiến thắng tại Dinh Độc Lập

Những trận đánh làm nên lịch sử đặc công Việt Nam

Để làm nên Đại thắng mùa xuân năm 1975, dân tộc Việt Nam đã đổ biết bao xương máu. 38 năm qua, nhiều chiến công của quân và dân ta đã được tôn vinh, nhưng còn đó biết bao chiến công vang dội nhưng lại thầm lặng, ít người biết tới.

Vietnam+ xin giới thiệu tới độc giả chùm bài viết “Chuyện ít biết về Bộ đội Đặc công Việt Nam” với mong muốn đóng góp cái nhìn chính xác hơn về những chiến sĩ đặc công với nhiều trận đánh oanh liệt, góp phần vào chiến thắng Mỹ-Ngụy của toàn dân tộc.

Bài 1: Những trận đánh làm nên lịch sử của đặc công Việt Nam

Được phát triển từ nghệ thuật đánh giặc của cha ông, song đến kháng chiến chống Mỹ, nghệ thuật đánh giặc của đặc công Việt Nam được phát triển tới một tầm cao mới. Những ngón đòn hiểm hóc của những chiến sĩ “đầu trần, chân đất” đã làm cho Mỹ-Ngụy kinh hồn, bạt vía.

Năm người phá cả kho bom

Những ngày cuối tháng Tư lịch sử, ngôi nhà nhỏ nằm ở thành phố Bắc Ninh rôm rả bất chợt khi tốp khách lạ tìm đến hỏi về đại thắng mùa xuân năm 1975. Tiếp khách bằng nụ cười đầm ấm và cái bắt tay chắc nịch của người lính từng vào sinh ra tử nơi chiến trường bom đạn, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân-Đại tá Đỗ Văn Ninh (nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Binh chủng Đặc công) bảo rằng: Đặc công luôn có những cách đánh độc đáo để giành chiến thắng đặc biệt.

Nhấp ngụm trà nghi ngút khói, người đàn ông đã bước vào độ tuổi 75 ấy kể, vào thời điểm mùa xuân năm 1975, ông đang giữ chức Phó Trung đoàn đặc công 113 thuộc Binh chủng Đặc công.

Tháng 3 năm ấy, Đoàn 113 nhận lệnh đánh bằng được vào phía Đông của sân bay Biên Hòa, đánh phá kho bom Bình Ý và hướng dẫn cho pháo chiến dịch vào điểm xây dựng trận địa. Trong các nhiệm vụ ấy, việc phá kho bom Bình Ý để địch không còn bom đánh phá quân ta là cực khó bởi địch tập trung bố trí phòng vệ rất cẩn mật.

“Nhiều tổ trinh sát của chúng tôi khi đó không tiếp cận được bên trong kho bom bởi nhiều hàng rào phức tạp. Chúng tôi đào hầm, ăn nghỉ ngoài rào để đợi đến đêm sẽ vào trong đánh phá nhưng không được,” ông Ninh kể.

Khó khăn là vậy, nhưng cấp trên lại lệnh cho Đoàn 113 phải khẩn trương đánh kho bom cho kỳ được, thậm chí là dùng cách đánh của bộ binh. Sau khi bàn bạc với Chính ủy, ông Ninh đã quyết định báo cáo không thể đánh theo cách bộ binh bởi như vậy sẽ bị lộ và nhiều khả năng địch sẽ tập trung hỏa lực tiêu diệt cả Trung đoàn. Sau đó, ông xin gia hạn thêm 7 ngày để nghĩ cách phá kho bom.

Sau khi tìm hiểu kỹ địa hình, sơ đồ tác chiến…, ông Ninh đã cử một tổ gồm 5 chiến sĩ đặc công vượt sông Đồng Nai để tiếp cận với kho bom. Ở hướng đi này, 5 chiến sĩ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và kho bom đã bị phá hủy.

Tháng 4/1975, Trung đoàn 113 lại nhận được lệnh đánh vào Chi khu Di An (Thủ Đức), Thiết đoàn cơ giới Hốc Bà Thức, chốt giữ một đoạn của xa lộ Biên Hòa và đánh phá cầu Ghềnh-một trong những cây cầu huyết mạch tiến về Sài Gòn.

[Cận cảnh “tuyệt kỹ” võ thuật của đặc công Việt Nam]

Kế hoạch tác chiến được vạch ra, các chiến sĩ đã di chuyển tới các vị trí chiến đấu thì Trung đoàn 113 lại nhận được lệnh không đánh kho Di An, không được phá cầu mà phải đánh-giữ cầu Ghềnh chờ Đại quân tiến vào Sài Gòn.

Bản thân ông Ninh vào đêm 28/4 dẫn quân đánh chiếm Hốc Bà Thức, bắt được Đại tá chỉ huy Thiết đoàn của địch và hơn 30 tên lính. Sau khi đánh xong, lập tức ông chỉ huy cho các chiến sĩ phòng ngự bởi tới sáng 29, địch điên cuồng dùng máy bay, xe tăng tấn công hòng lấy lại căn cứ. Tuy nhiên, trước sự quyết liệt của các chiến sĩ đặc công, chúng đã điên cuồng đánh bom phá hủy chính căn cứ của mình.

Giữ cầu, bắc nhịp giành đại thắng

Nhiều trận đánh vang dội, nhưng có lẽ chiến công quan trọng nhất góp phần vào đại thắng 38 năm về trước của đặc công chính là việc đánh giữ 14 cây cầu huyết mạch vào Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Việc này tạo điều kiện thuận lợi để 5 cánh quân thần tốc tiến thẳng vào giải phóng Sài Gòn, đánh thẳng vào cơ quan đầu não địch.

Về trận cầu Ghềnh, ông Ninh kể rằng, nhiệm vụ của đặc công trước kia thường đi… đánh, phá và công việc này được hoàn thành dễ dàng. Song, nhiệm vụ đi “đánh, chiếm, giữ” quả thật nặng nề. Để hoàn thành nhiệm vụ, đặc công phải tiêu diệt toàn bộ giặc trên cầu vào ban đêm một cách nhanh gọn.

Tuy đã diệt địch, nhưng đại quân vẫn chưa tới nên khi đã chiếm được cầu Ghềnh vào đêm 27, rạng sáng 28 thì tới cả ngày 28 và ngày 29, địch tổ chức nhiều đợt tấn công hòng cướp lại cây cầu huyết mạch.

Trước hỏa lực cực mạnh của quân thù, 50/52 chiến sĩ đặc công đã anh dũng hy sinh, song không ai vì thế mà rút khỏi trận địa. Cuối cùng, khi đại quân tiến vào, địch buộc phải rút chạy và nhiệm vụ bảo vệ cầu Ghềnh đã hoàn thành rực rỡ.

“Đặc công đánh và giữ cầu, song lại không thể biết khi nào đại quân tiến vào để có sự chuẩn bị hợp lý hơn,” ông Ninh trầm buồn khi nghĩ tới những người đồng đội đã ngã xuống trước thềm chiến thắng.


Thiếu tướng Trịnh Xuân Chuyền cho hay, đánh giữ cầu là nhiệm vụ đặc biệt, có ý nghĩa quyết định đến bước tiến và thời cơ của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Chiến sĩ Đoàn 113 luyện tập chân đất vượt rào thép gai. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Trò chuyện với phóng viên Vietnam+, Thiếu tướng Trịnh Xuân Chuyền, Chính ủy Binh chủng Đặc công cho hay, đánh chiếm, giữ cầu là nhiệm vụ đặc biệt, thầm lặng, khó khăn, ác liệt, khốc liệt, có ý nghĩa quyết định đến bước tiến và thời cơ của Chiến dịch. Do đó, lần đầu tiên Bộ đội đặc công được sử dụng với một lực lượng lớn nhất gồm 1 sư đoàn (gồm 7 trung đoàn); 1 lữ đoàn; 4 tiểu đoàn và nhiều tổ, đội biệt động.

Theo lời tướng Chuyền, nhiều trận đánh chiếm, giữ cầu đã ghi những chiến công thầm lặng của bộ đội đặc công. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh anh dũng không phải vì đánh cầu, mà là do giữ cầu, phục vụ chiến dịch. Bởi, nếu cầu bị phá, Đại quân sẽ mất rất nhiều thời gian để vừa bắc cầu qua sông, vừa chống lại địch bên kia sông dung hỏa lực tấn công.

Thực tế cũng cho thấy, ở nhiều trận đánh giữ cầu, lực lượng đặc công bị địch phản công đã phải gồng mình chống đỡ. Thậm chí, khi chỉ còn vài chiến sĩ, họ cũng quyết chiến đấu tới hơi thở cuối cùng. Bởi với họ, cầu còn thì người còn, cầu mất thì người chết.

Với sự quyết tâm ấy, cuối cùng, 14 cây cầu dẫn lối về Sài Gòn đã được bộ đội đặc công bảo vệ thành công, hiên ngang trong lửa đạn.

“Có thể nói, ngày toàn thắng lịch sử đã đến, giờ phút cuối cùng của Chiến dịch đã điểm nhưng máu của nhiều chiến sĩ đặc công vẫn đổ để cho những cây cầu được giữ vững, để bánh xích xe tăng, để ý chí và sức mạnh tổng hợp của năm cánh quân rầm rập băng qua những cây cầu, thần tốc tiến vào giải phóng Sài Gòn, góp phần làm nên mùa xuân đại thắng của dân tộc,” Thiếu tướng Trịnh Xuân Chuyền chốt lại./.

Bài 2: Giải phóng Trường Sa bằng cách đánh mới, táo bạo

Trung Hiền (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Từ hang Cốc Bó đến dinh Độc Lập

Cập nhật lúc: 08:22, 11/09/2010

Nhân kỷ niệm lần thứ 65 Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, NXB Quân đội nhân dân xuất bản cuốn “Từ hang Cốc Bó đến dinh Độc Lập” của Đại tá Trần Trọng Trung

Ông nguyên là cán bộ Bộ Tổng tham mưu thời kỳ chống Pháp, về sau làm việc tại Viện Khoa học quân sự, tác giả của nhiều cuốn sách viết về hai cuộc kháng chiến của dân tộc như “Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu” nói về việc Mỹ xâm lược nước ta, cuốn “Võ Nguyên Giáp – danh tướng thời đại Hồ Chí Minh” (tái bản lần thứ 2, NXB Chính trị Quốc gia 2010)… Bài báo đầu tiên ông viết về Bác Hồ đăng trên báo Cứu quốc (tháng 8/1945) nhan đề “Ông già làm ruộng ở Tân Trào”.

Cuốn “Từ hang Cốc Bó đến dinh Độc Lập” dày 642 trang. Ngoài phần mở đầu “Cùng bạn đọc”, và “Lời cuối sách”, được chia thành 36 chương, không đánh theo số thứ tự, mà chia theo nội dung từng vụ việc, gắn với từng sự kiện lịch sử, từng con người cụ thể.

Trong “Cùng bạn đọc”, Trần Trọng Trung nêu vấn đề: Sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta đã kết thúc cách đây hơn một phần ba thế kỷ. Những mốc son chói lọi Điện Biên Phủ và Xuân 1975 đã tô đậm thêm những trang sử huy hoàng chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Vậy mà đến nay, ở nơi này nơi kia vẫn tồn tại những câu hỏi đại loại như: Vì sao nhân dân Việt Nam phải hứng chịu hai cuộc chiến tranh khốc liệt suốt 30 năm? Vì sao một nước nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu như Việt Nam lại có thể liên tiếp đánh thắng “hai đế quốc to” là Pháp và Mỹ? Đâu là những bài học đối với các cường quốc đã dính líu đến Việt Nam để rồi phải chấp nhận thất bại và cuốn cờ, lui quân…?

Với hai tuyến sự kiện và nhân vật ở hai phía đối lập, tác giả đã đi sâu phân tích, khái quát con đường đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do của Dân tộc, vì sự nghiệp thống nhất đất nước gần một thế kỷ của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; cũng như vạch trần mọi âm mưu thâm độc, thủ đoạn tàn bạo của các thế lực đế quốc thực dân hòng tiêu diệt chính quyền cách mạng Việt Nam, duy trì ách nô dịch đối với người Việt Nam, đối với đất nước Việt Nam.

Bắt đầu từ thời điểm đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước (tháng 2/1941) trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam, tác giả đã lần lượt giới thiệu sự chuyển hướng chiến lược của Đảng ta, lấy “giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu”. Từ đó, bám sát thực tiễn của cuộc đấu tranh, theo dõi rất sát tình hình trong nước và thế giới, với những khẩu hiệu đấu tranh thích hợp Đảng ta đã lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân dân phát triển mạnh mẽ từ Bắc chí Nam, để đến lúc thời cơ chín muồi, trong vòng nửa tháng (tháng 8/1945) nổi dậy giành chính quyền trong cả nước, thành lập nhà nước công – nông đầu tiên trong lịch sử Đông Nam Á. Rồi tiếp tục hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (tháng 5/1954) và cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975, thu giang sơn về một mối.

Trong lịch sử 65 năm qua, thời gian Đảng ta, dân tộc ta phải dùng “bạo lực cách mạng” để giành và giữ chính quyền, giải phóng đất nước khỏi quân xâm lược chiếm một giai đoạn khá dài. Vì vậy, trong cuốn “Từ hang Cốc Bó đến dinh Độc Lập”, Trần Trọng Trung đã giành khá nhiều tâm sức để viết về cuộc chiến đấu này.

Tác giả nhấn mạnh: Tư tưởng quân sự của Nguyễn ái Quốc là “người trước súng sau”. Quán triệt tư tưởng ấy, Đảng ta đã từng bước xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam, mà nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam, lập nên những chiến công vang dội, hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà Tổ quốc và nhân dân giao cho.

Những chương tác giả viết về hoạt động của Bộ chỉ huy tối cao – của Tổng hành dinh QĐNDVN trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quá trình xây dựng quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam sau khi hiệp định Paris được ký kết (tháng 1/1973) là những chương viết hấp dẫn, có nhiều phân tích quý giá và bổ ích.

Cuối cùng, Đại tá Trần Trọng Trung nhấn mạnh: Một trong những sai lầm lớn nhất của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là đem quân xâm lược một nước mà không hiểu biết gì về lịch sử và văn hóa của dân tộc nước đó. Năm 1946, giữa thủ đô Paris (Pháp), trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Pavid Schoenbrun, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Việt Nam có một thứ vũ khí cũng mạnh như loại pháo hiện đại nhất: đó là tinh thần dân tộc”. Với vũ khí vô địch là lòng yêu nước, dù chiến đấu trong điều kiện không cân sức nhưng với tinh thần dân tộc, với truyền thống và kinh nghiệm chống ngoại xâm, nhân dân Việt Nam không chỉ quyết chiến và quyết thắng, mà còn biết đánh và biết thắng địch từng bước cho đến khi đạt được mục đích cuối cùng là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước./.

Trương Công Thành (Báo TNVN)
vov.vn

Vì sao nhà báo Trần Văn Thông chưa được công nhận liệt sĩ?

Góp ý – Kiến nghị

QĐND – Nhà báo Trần Văn Thông, tấm gương hoạt động của một đảng viên cộng sản, một người lính chống Pháp, một nhà báo thời chống Mỹ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ dưới mưa bom bão đạn đến nay vẫn còn bị lãng quên. Dư luận đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An sớm vào cuộc xác minh và vinh danh liệt sĩ Trần Văn Thông.

Theo cách mạng từ nhỏ rồi trở thành anh Vệ quốc đoàn gan góc chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 95 bám trụ ở chiến trường Khu 5 nhiều năm liền thời kỳ chống Pháp. Ngày xuất ngũ, ông chuyển sang công tác tại Huyện ủy Nghĩa Đàn. Với trình độ Prime (đệ tứ chương trình giáo dục thời thuộc Pháp) và có năng khiếu viết báo, ông được Ban miền Tây (Phân ban của Tỉnh ủy Nghệ An) cử sang công tác tại Báo Miền Tây Nghệ An.

Trong trận bom khốc liệt ngày 23-5-1965, nhà báo Trần Văn Thông và Tổng biên tập Đặng Loan đang trực chiến tại cơ quan đã vĩnh viễn ra đi. Lực lượng cứu thương và gia đình tìm kiếm thi thể nhà báo Trần Văn Thông nhiều ngày nhưng vô vọng. Gần nửa thế kỷ trôi qua, gia đình mới tìm thấy hài cốt của ông ngay dưới nền đất trụ sở cơ quan Báo Miền Tây thuở nào. Cũng từng ấy năm, nhà báo Trần Văn Thông hy sinh trong khi làm nhiệm vụ vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ.

12 tuổi, trốn gia đình theo cách mạng

Sinh năm 1924 tại Hà Tĩnh, là con cả của gia đình có 4 anh em nên Trần Văn Thông đã sớm chứng kiến cảnh áp bức, bóc lột của phong kiến và thực dân Pháp. Năm 1936, 12 tuổi, Trần Văn Thông bỏ học, trốn gia đình từ Hà Tĩnh sang vùng Phủ Quỳ (Nghệ An) để đi theo cách mạng. Tại đây, Trần Văn Thông làm việc trong đồn điền Phan Văn Quý. Năm 1944, vừa tròn 20 tuổi, Trần Văn Thông được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam rồi hoạt động trong đoàn thể Việt Minh dưới vỏ bọc là thư ký cho chủ đồn điền cao su, cà phê Phan Văn Quý.

Nhà báo Trần Văn Thông (thứ hai, từ trái qua) cùng đồng nghiệp của mình. Người thứ tư (từ trái qua) là đồng chí Trần Văn Cung, Thường vụ tỉnh ủy – Trưởng ban chỉ đạo miền Tây Nghệ An. Ảnh chụp năm 1963, do gia đình cung cấp.

Sau hơn 10 năm “bặt vô âm tín”, khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, gia đình mới biết Trần Văn Thông là người của cách mạng. Để bảo vệ chính quyền non trẻ, anh được chọn vào đội tự vệ kháng chiến xã Thái Hòa (Nghĩa Đàn) gồm 7 đồng chí do ông Nguyễn Trọng Kỷ chỉ huy. Năm 1948, Trần Văn Thông vào bộ đội chủ lực chiến đấu ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Ngãi, Quảng Nam… Rời quân ngũ năm 1957, đến năm 1960, Trần Văn Thông được giao nhiệm vụ phụ trách văn phòng Huyện ủy Nghĩa Đàn. Trong giai đoạn này, ông đưa bố mẹ già và các em nhỏ từ Hà Tĩnh sang vùng Phủ Quỳ lập nghiệp. Ngoài công việc của cơ quan Huyện ủy, là con cả, dưới ông còn có 3 em nhỏ nên Trần Văn Thông phải gánh vác cả công việc chính trong gia đình và chăm lo các em mình ăn học. Với gia đình, ông như một người anh cả mẫu mực.

Bước sang năm 1961, Tỉnh ủy Nghệ An thành lập Ban chỉ đạo miền Tây Nghệ An. Cơ quan Báo Miền Tây Nghệ An cũng được thành lập. Với khả năng linh hoạt trong công việc, lại có năng khiếu viết báo nên Trần Văn Thông được tỉnh ủy điều động sang Báo Miền Tây Nghệ An. Cơ quan báo ít người phải kiêm nhiệm nhiều việc, Trần Văn Thông vừa tham gia viết bài, đưa tin vừa phụ trách văn phòng và đưa ma-két đi nhà in, chữa mo-rát rồi lo cả việc phát hành báo tới 10 huyện vùng cao. Ở mỗi cương vị, anh đều bộc lộ năng lực của mình bằng hiệu suất cao, xông xáo, tâm huyết với nghề cho tới lúc ngã xuống vì bom Mỹ.

Hóa thân vào đất đai xứ sở

Sau khi được giao công tác tại Báo Miền Tây Nghệ An từ đầu năm 1961, Trần Văn Thông tận tụy cống hiến sức lực của mình để tờ báo đến với bà con các dân tộc vùng cao, góp phần biểu dương điển hình trong sản xuất nông nghiệp, bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số, xây dựng chính quyền, tổ chức Đảng và phát triển vùng công nghiệp Phủ Quỳ. Lúc này, vợ vừa mới mất, để lại 3 đứa con nhỏ côi cút, Trần Văn Thông lại đảm trách thêm vai trò vừa là cha, vừa là mẹ. Vất vả là vậy nhưng anh không bao giờ nản lòng trước hoàn cảnh éo le của mình.

Theo những nhân chứng là các cụ cao niên từng sống xung quanh khu vực cơ quan Báo Miền Tây Nghệ An trước kia kể lại: Ngày đó, tòa soạn báo đóng ngay sát bờ sông Hiếu cùng với Xí nghiệp cơ khí 250B (nay là phường Quang Tiến, thị xã Thái Hòa). Hằng ngày, vẫn thấy nhà báo Trần Văn Thông cặm cụi bên từng trang viết và quán xuyến tất cả công việc trị sự cùng với đồng nghiệp của mình. Hình ảnh phóng viên Trần Văn Thông và Tổng biên tập Đặng Loan tối tối chong đèn “phòng không” dưới hầm để chỉnh sửa, kiểm duyệt từng trang báo kịp đưa đi xưởng in đã trở thành thân quen đối với người dân nơi đây. Với bản tính dễ gần, dáng người cao gầy, Trần Văn Thông luôn để lại cho mọi người sự gần gũi, thân quen như anh em trong một nhà. Năm 1965, giặc Mỹ điên cuồng leo thang đánh phá miền Bắc, thành phố Vinh, Cửa Lò, Cửa Hội và cả vùng miền Tây xứ Nghệ, trong đó có Nghĩa Đàn trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt. Lúc này, cơ quan đã sơ tán nhưng Trần Văn Thông vẫn cùng với Tổng biên tập Đặng Loan bám trụ tại trọng điểm, tổ chức bản thảo, phản ánh không khí chiến đấu của quân và dân các huyện miền núi xứ Nghệ. Những địa danh như phà Sen (Tân Kỳ), sân bay Dừa (Anh Sơn), vùng kho Cát Mộng (Nghĩa Đàn)… là những trọng điểm đánh phá của Mỹ đều ghi dấu chân Trần Văn Thông cùng với đồng nghiệp của mình.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 23-5-1965, nhiều tốp máy bay Mỹ đột ngột bổ nhào giội bom xuống khu công nghiệp, bệnh viện, Ban chỉ đạo Miền Tây, Báo Miền Tây Nghệ An. Loạt bom sát thương đợt 3 đã cướp đi tính mạng Trần Văn Thông và người Tổng biên tập của mình. Sau 3 ngày tìm kiếm, đào bới, lực lượng tự vệ, dân quân chỉ còn biết an ủi người thân, nhà báo Trần Văn Thông hóa thân vào đất đai xứ sở. Anh hy sinh để lại 3 con nhỏ côi cút, đứa lớn mới 15 tuổi, đứa út vừa lên 6. Buổi sáng định mệnh ấy đối với gia đình nhà báo Trần Văn Thông là nỗi đau mất mát quá lớn dai dẳng suốt mấy chục năm qua.

48 năm, vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ

Sau ngày cha hy sinh, mẹ mất cách đó 4 năm, 3 người con nhà báo Trần Văn Thông phải về sống với ông bà nội. Hai năm sau, thân sinh nhà báo Trần Văn Thông cũng bị bom Mỹ giết hại khi đang chở nứa xuống mạn Quỳnh Lưu bán kiếm tiền đong gạo, nuôi cháu. Cảnh đời khốn khó nhưng tất cả 3 người con trai của nhà báo Trần Văn Thông vẫn nén đau thương, gắng gượng vượt lên số phận để học hành nên người. Cả 3 người con trai của nhà báo Trần Văn Thông đều tốt nghiệp đại học rồi công tác tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh nhưng cũng như những người thân trong nội tộc, các anh vẫn đau đáu về người cha hy sinh chưa được công nhận là liệt sĩ.

Như một sự mách bảo tình cờ, vào ngày 11-3-2011, tức là sau 46 năm, gia đình ông Nguyễn Văn Trường ở khối Tây Hồ, phường Quang Tiến, thị xã Thái Hòa (khu vực nơi cơ quan Báo Miền Tây Nghệ An cũ – PV) là công nhân Xí nghiệp 250B nghỉ hưu đào móng nhà thì phát hiện ra bộ hài cốt bị vùi lấp dưới độ sâu 2m. Nằm cùng với bộ di cốt là chiếc bút máy khắc chữ “Trần Văn Thông – Nghệ An” và một chiếc đồng hồ, một chiếc ví, đôi dép cao su. Chắp nối thông tin cùng với những nhân chứng sống kể lại, người em ruột là Trần Văn Điu ở gần đó đã đến nhận và đưa hài cốt anh mình về an táng tại nghĩa trang gia tộc thuộc phường Hòa Hiếu để hương khói.

Hôm chúng tôi biết tin về tìm gặp thân nhân nhà báo Trần Văn Thông, rất may gia đình còn giữ lại nhiều giấy khen và các tài liệu liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của ông như: Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng ba do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 28-4-1961; Bảng “Gia đình vẻ vang” do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký; Giấy khen của Ban chấp hành công đoàn cơ quan Ban chỉ đạo miền Tây Nghệ An ngày 18-5-1961 cùng nhiều giấy khen của Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn tặng…

Thành tích là vậy nhưng trong 48 năm qua, nhà báo Trần Văn Thông vẫn chưa được công nhận là liệt sĩ? Điều trăn trở, băn khoăn, day dứt của thân nhân nhà báo Trần Văn Thông qua gần nửa thế kỷ vẫn chưa được giải tỏa. Trong khi đó, cùng hy sinh một giờ với Trần Văn Thông thì nhà báo Đặng Loan đã được công nhận liệt sĩ từ những năm 70 của thế kỷ trước. Đề nghị các cơ quan chức năng Nghệ An sớm vào cuộc xác minh và vinh danh nhà báo – liệt sĩ Trần Văn Thông. Đừng để tấm gương hoạt động của một đảng viên cộng sản, một người lính chống Pháp, một nhà báo thời chống Mỹ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ dưới mưa bom bão đạn đến nay vẫn còn bị lãng quên.

VĂN HIỀN-NGỌC THÁI
qdnd.vn

Những bức ảnh lịch sử ngày toàn thắng

(VOV) – Ngày này 38 năm về trước, 5 mũi tấn công của ta đã thần tốc tiến vào đánh chiếm sào huyệt cuối cùng Sài Gòn, đưa non sông về một mối.

Cuối tháng 3/1975, đồng chí Lê Đức Thọ từ miền Bắc vào Nam cùng đồng chí Phạm Hùng và Đại tướng Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

Tại khu rừng cao su phía Nam Dầu Giây, Sư đoàn 304 trao lá cờ quyết chiến, quyết thắng cho Trung đoàn 66 Anh hùng để cắm trên Dinh Độc lập ngày giải phóng Sài Gòn, ảnh của nhà báo, NSNA Đinh Quang Thành.

Lữ đoàn tăng 203 cùng Sư đoàn bộ binh 304, Quân đoàn 2 đánh địch trên xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn, tiến vào giải phóng thành phố Sài Gòn (Ảnh: Đinh Quang Thành).

Tiến vào Dinh Độc Lập

Bức ảnh xe tăng húc đổ cảnh cổng Dinh Độc Lập do nữ phóng viên người Pháp Francoise Demulder chụp trưa ngày 30/4/1975.

Đại đội trưởng Bùi Quang Thận đang cầm lá cờ tiến vào Dinh Độc Lập

Các chiến sĩ Sư đoàn 10 Quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất ngày 30/4/1975.

Cảnh hỗn loạn của Sài Gòn trong giờ phút cuối cùng của chế độ Ngụy quyền.

Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng vô điều kiện trên Đài phát thanh Sài Gòn.

Nhân dân Sài Gòn chào mừng các anh giải phóng quân.

Đông đảo các tầng lớp nhân dân Sài Gòn tham dự mít tinh mừng chiến thắng.

Bức ảnh đã đi vào tâm trí của nhiều thế hệ, “Mẹ con ngày gặp lại” của nhà báo Lâm Hồng Long.

Quang Trung/VOV online
(Ảnh tư liệu)
vov.vn

This entry was posted on Tháng Năm 1, 2013, in 30.04.1975.