Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi các học sinh Trường sư phạm miền núi Trung ương nhân dịp trường khai giảng (19-3-1955)

Các cháu thân mến,

Nhân dịp Trường sư phạm khai giảng, Bác gửi lời thân ái hỏi thǎm và chúc các cháu học tập tiến bộ.

Các cháu thuộc nhiều dân tộc và ở nhiều địa phương. Nhưng các cháu đều là con em của đại gia đình chung: là gia đình Việt Nam; đều có một Tổ quốc chung: là Tổ quốc Việt Nam.

Trong hơn 80 nǎm, vì chúng ta bị thực dân Pháp và bọn vua chúa áp bức cho nên chúng ta lạc hậu, vǎn hoá kém cỏi, mà chúng nó áp bức được là vì chúng nó chia rẽ chúng ta, vì chúng ta chưa biết đoàn kết.

Ngày nay, các dân tộc anh em chúng ta muốn tiến bộ, muốn phát triển vǎn hoá của mình thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em một nhà.

Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần vào việc mở mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta.

Bác sẽ có giải thưởng cho những cháu nào thi đua khá nhất.

Mong các cháu cố gắng và thành công.

Ngày 19 tháng 3 nǎm 1955
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 385, ngày 22-3-1955.
cpv.org.vn

Lời chào mừng Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khóa I, Kỳ họp thứ tư (20-3-1955)

Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chào mừng các vị đại biểu Quốc hội của nhân dân Việt Nam anh dũng. Bốn tháng sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập, Quốc hội ta đã được nhân dân bầu trong cuộc Tổng tuyển cử tự do ngày 6-1-1946 trong bầu không khí tưng bừng đoàn kết và kiên quyết đấu tranh chống ngoại xâm.

Chính phủ nhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu của miền Nam thân mến. Miền Nam là ruột thịt, xương máu của chúng ta. Miền Nam oanh liệt đã nêu cao ngọn cờ kháng chiến đầu tiên và đã chiến đấu anh dũng cho đến khi có lệnh ngừng bắn để thi hành Hiệp định Giơnevơ. Miền Nam một lòng một dạ trung thành với Tổ quốc, với dân tộc. Tất cả tâm hồn và nghị lực miền Nam hướng về miền Bắc, về Thủ đô, về Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, về Trung ương Đảng Lao động.

Quốc hội là tiêu biểu ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi.

Phiên họp này lại nêu cao ý chí đó: quyết tâm đấu tranh và quyết tâm thắng lợi.

Từ phiên họp đầu tiên tại nơi này cách đây 9 nǎm, Quốc hội đã cùng Chính phủ và sát cánh với nhân dân đoàn kết và chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Quốc hội đã góp phần rất to lớn vào thắng lợi của kháng chiến. Thắng lợi ấy đã đưa đến lập lại hoà bình trên đất nước yêu quý của chúng ta.

Hôm nay, tại Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Quốc hội lại họp để tiếp tục cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của Tổ quốc. Phó Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng sẽ thay mặt Chính phủ báo cáo với Quốc hội tình hình và công tác của Chính phủ trong thời gian qua, cùng tình hình và nhiệm vụ trước mắt. Những thành tích trong mấy nǎm qua đặt nền tảng cho nhiệm vụ và công tác mới. Nhiệm vụ và công tác mới phải củng cố và phát triển những thành tích trong những nǎm qua. Chắc rằng các vị đại biểu hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang đối với nhân dân, đối với Tổ quốc.

Xin chúc các vị đại biểu mạnh khoẻ!

Xin chúc Quốc hội thành công!

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ muôn nǎm!

Đọc ngày 20-3-1955.
Báo Nhân dân, số 384,
ngày 21-3-1955.
cpv.org.vn

Lời phát biểu tại phiên họp bế mạc Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I, kỳ họp thứ tư (26-3-1955)

Thưa các vị đại biểu thân mến,

Suốt trong khoá họp này, các vị đã làm việc khẩn trương và bàn bạc rất kỹ mọi vấn đề quan hệ đến quốc kế dân sinh, như:

Thi hành Hiệp định Giơnevơ,

Cải cách ruộng đất,

Khôi phục kinh tế,

Củng cố quốc phòng,

Nội chính, ngoại giao,

Tự do tín ngưỡng, v.v..

Quốc hội đã thông qua những chính sách và công việc Chính phủ đã làm và sẽ làm. Quốc hội đã chỉ thị thêm cho Chính phủ những điều cần bổ sung vào các chính sách. Quốc hội đã tỏ lời hoàn toàn tín nhiệm Chính phủ.

Tôi xin thay mặt Chính phủ trân trọng cảm ơn Quốc hội.

Thưa các vị,

Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân. Chính phủ chỉ có một mục đích là: hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chúng ta có thể nói tóm tắt rằng:

Chính sách đối nội trước mắt của ta là: Đoàn kết toàn dân, thi đua sản xuất, làm cho nhân dân ta ấm no, nước ta giàu mạnh, đồng thời đấu tranh vì hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ.

Chính sách ngoại giao của ta là: Đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn, nhân dân hai nước Cao Miên, Lào, nhân dân châu á, nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới; và thực hiện 5 nguyên tắc lớn chung sống hoà bình.

Với sự giúp đỡ của Quốc hội và sự ủng hộ của toàn thể đồng bào, Chính phủ xin hứa quyết tâm vượt mọi khó khǎn, làm trọn nhiệm vụ thiêng liêng mà Quốc hội và đồng bào đã giao cho: củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước; đồng thời cố gắng góp phần vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình châu á và thế giới.

Chính phủ rất mong Quốc hội lãnh đạo nhân dân đoàn kết từ Nam đến Bắc, cùng Chính phủ đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang ấy.

Đọc ngày 26-3-1955.
Báo Nhân dân, số 391,
ngày 28-3-1955.
cpv.org.vn

“Tiếng hát giữa rừng Pắc Pó” ra đời như thế nào?

Ai đã một lần lên Cao Bằng đều tìm tới khu di tích lịch sử Pắc Pó. Ở đó có dòng suối Lê Nin nước trong vắt lách ra từ những khe núi đá, có ngọn núi Các Mác vút lên trời xanh, có hang Pắc Pó và những con đường mòn từng in dấu chân Bác, có bàn đá chông chênh nơi Bác Hồ viết bao tài liệu quan trọng liên quan tới đường đi và vận mệnh của đất nước. Và ở đó, luôn văng vẳng những câu hát: “Ơ rừng Pắc Bó quê ta nhớ rừng xưa ôm bóng Người/ Bước chân Người đi đất chuyển dời theo Người/ Người về rừng núi theo Người ngày mai tươi sáng…”. Đó là một trong những sáng tác hay nhất của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, tuy nhiên và ít người biết, bài hát được viết khi nhạc sĩ mới 23 tuổi và chưa một lần được đặt chân tới Cao Bằng, tới Pắc Pó…

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ từng khẳng định: “Đúng là cho tới lúc viết tôi chưa từng được lên Cao Bằng nhưng Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó được viết xuất phát từ một tình yêu lớn lao với Bác Hồ, nên cảm xúc dạt dào. Có cảm xúc rồi nhưng lại không có thực tế vì Việt Bắc núi rừng, sông suối ra sao tôi chưa từng được biết. Sự ra đời của bài hát là cả một kỉ niệm lớn. Khoảng mùa thu năm 1959, anh Quốc Hương đi tu nghiệp ở Tây về gặp tôi và bảo “Tuệ ơi, Tuệ viết một bài ca về Bác Hồ đi, để mình hát báo cáo với Bác cùng đồng bào miền Nam nhân dịp sang năm mừng thọ Bác 70 tuổi”. Tôi đáp: “Thôi anh đặt các anh khác đi, đề tài này lớn quá, tôi lại chưa lên Việt Bắc, chưa được gần Bác, làm sao có cảm xúc thật”… Tôi không ngờ anh Quốc Hương sau đó rủ tôi ra chợ Đồng Xuân (Hà Nội) tìm mua một cái xe đạp Trung Quốc để chuẩn bị chuyến hành hương lên Việt Bắc của hai anh em. Nhưng thật không may, mua xe xong, hai anh em đạp xe đến Bờ Hồ, loay hoay thế nào lại sa vào đường ray điện khiến xe đạp bị hỏng. Chuyến đi coi như bỏ lỡ vì không còn tiền mua xe. Loại vành xe cỡ 680 rất hiếm nên không thể nói chuyện sửa. “Cái khó ló cái khôn”, bí quá tôi về lục lại tài liệu liên quan đến chiến khu, đặc biệt đọc thuộc lòng bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu để lấy chất liệu cho bài hát. Đầu năm 1960, bài hát vừa viết xong được ca sĩ Quốc Hương tập ngay để kịp hát chúc thọ Bác vào dịp 19-5”.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ Tuệ sinh ngày 15-5-1936, quê ở Thanh Chương, Nghệ An. Ngay từ bé, những làn điệu dân ca như hò ví dặm, hát phường vải đã ngấm sâu vào trong máu thịt của ông. Năm 17 tuổi, Nguyễn Tài Tuệ rời quê hương ra đi với hi vọng đi theo con đường nghệ thuật. Ban đầu với sự dẫn dắt của nhạc sĩ Trọng Bằng, Nguyễn Tài Tuệ trở thành một giọng nam cao tham gia trong dàn hợp xướng cùng các nghệ sĩ Chu Minh, Quốc Hương, La Thăng, Mai Khanh… Một thời gian sau đó, Nguyễn Tài Tuệ được cử lên công tác tại Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái. Chính những năm tháng này đã đem lại cho ông vốn sống, những hiểu biết quý giá về văn hóa của bà con các dân tộc vùng cao.

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước bảo tôi trước khi đi rằng: Phải nắm lấy cái sli, lượn, cọi, then… mà làm tiết mục cho đoàn. Tất nhiên là làm tiết mục cho đoàn nhưng tôi ý thức rằng phải góp cho cái vốn của người sáng tác… Đoàn chúng tôi vừa làm văn nghệ phục vụ đồng bào, giác ngộ đồng bào, vừa tiễu phỉ… Đôi khi cả đoàn hát cho một gia đình nghe thôi, nhà họ Vương ấy mà cảm tình cách mạng thì sẽ có nhiều người theo cách mạng. Vì vậy khi viết “Tiếng hát giữa rừng Pắc Pó” tất cả tình yêu với Bác và vốn liếng tích lũy được trong những ngày sống ở rừng núi đã được tôi “huy động”.

Bài hát ngợi ca lãnh tụ Hồ Chí Minh, có thể xếp vào hàng xuất sắc nhất về Người. Âm hưởng núi rừng Việt Bắc ngập tràn trong giai điệu và ca từ của bài hát, vừa hoành tráng vừa mang chất sử thi. Sau khi ra đời bài hát đã được các nghệ sĩ tài danh hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam như nghệ sĩ ưu tú Bích Liên, nghệ sĩ nhân dân Thanh Huyền, nghệ sĩ ưu tú Tuyết Thanh và người nghe cũng đặc biệt ấn tượng với giọng hát cao vút như suối ngàn của nghệ sĩ nhân dân Lê Dung. Theo nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, “bài hát được Bác Hồ nghe lần đầu do anh Quốc Hương hát. Đến năm 1962, sau khi trưng cầu ý kiến thính giả Đài Tiếng nói Việt Nam cả hai miền Nam, Bắc, bài “Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó” được giải nhất.

Trên nền âm nhạc dân tộc, những giai điệu của Nguyễn Tài Tuệ vút lên, với những “Tiếng hát giữa rừng Pắc Pó”, “Xuân về trên bản”, “Suối Mường Hum còn chảy mãi”, “Lời ca gửi Nọong”, “Xa khơi”… Bằng những giai điệu âm nhạc tuyệt vời này, Nguyễn Tài Tuệ để lại dấu ấn khó phai mờ trong lòng nhiều thế hệ người yêu nhạc. Ông được trao tặng giải thưởng Nhà nước đợt I (2001) về văn học – nghệ thuật vì những đóng góp cho nền âm nhạc nước nhà.

Hương Liên
daidoanket.vn

“Liêm” và “Tu thân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

“Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cán bộ chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc,vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít,mà những tính tốt như sau ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm” (Hồ Chí Minh. Toàn tập NXBCTQG tập 4, trang 466).

Ai cũng được học hành – Một ham muốn tột bậc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ảnh: TL

“Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng đời sống mới, nền tảng của thi đua ái quốc. Trời có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có 4 phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có 4 đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa thì không thành trời; thiếu một phương thì không thành đất; thiếu một đức thì không thành người” (Hồ Chí Minh Toàn tập NXBCTQG tập 5, trang 293).

Hơn 60 năm qua, những lời nói, câu viết ấy, những giá trị cốt lõi trong tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, như một sự tiếp nối và nhất quán về “tư cách một người cách mạng” được Nguyễn Ai Quốc – Hồ Chí Minh đưa lên hàng đầu trong các bài giảng về Đường cách mạng tại các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng thời dựng Đảng (1925-1929) để hôm nay và lâu dài mai sau, lớp lớp đồng chí, đồng bào, con cháu của Người học tập, rèn luyện, làm theo. Trong những lời khuyên bảo, giảng huấn ấy nổi bật là chữ “Liêm” gắn chặt với bài học “Tu thân”, được Bác Hồ của chúng ta nêu cao và tự mình thực hành trước, nêu gương…

“Liêm – là đức tính trong sạch, không tham lam, không tham của công và của người khác”, cả từ điển tiếng Việt và từ điển Hán – Việt đều chú giải như vậy. Theo đó, liêm khiết là trong sạch đến độ thanh khiết, thuần khiết, tinh khiết, cao khiết, không một chút bụi bậm, nhơ bẩn. Liêm còn là liêm chính, ở đó có sự trong sạch gắn liền với sự ngay thẳng, một sự chân thật, trên căn bản lẽ phải, không chỉ là theo lẽ phải mà còn là bảo vệ lẽ phải, không gian dối, dối trá, thiên vị. Liêm phải gắn liền với sỉ, liêm sỉ – giữ mình sao cho trong sạch, tránh những điều phải xấu hổ, hổ thẹn với mọi người, trước nhất là hổ thẹn với lương tâm của chính mình.

“Liêm” là một trong “tứ đức” (cần, kiệm, liêm, chính), là một trong “ngũ thường” (nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm), trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và đây là một đặc sắc, sáng tạo trong tư duy đạo đức, triết lí đạo đức của Người. Hồ Chí Minh đã sử dụng nguyên vẹn 3 chữ: nhân, trí, dũng của Khổng Tử, lấy thêm chữ nghĩa của Mạnh Tử; và đưa vào thêm chữ liêm, mà trước đó không một ai đưa vào “ngũ thường”. Đây không chỉ là chữ, là từ, là khái niệm, là chuẩn mực giá trị đạo đức, được dùng lại và đưa thêm vào mà quan trọng hơn, cơ bản nhất lại là ở chỗ Hồ Chí Minh đã có cách tiếp cận mới nên đã xác định nội hàm mới về chất để các từ khái niệm đạo đức truyền thống trở thành những chuẩn mực, giá trị đạo đức cách mạng, thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải là đạo đức, là văn minh “thì mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình”. Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là nền tảng của người cách mạng, cũng như gốc của cây, ngọn nguồn, của sông của suối. Người vẫn thường nói, đối với con người, sức có mạnh mới gánh được nặng, mới đi được xa; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng… Chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng ấy phải là công việc của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người trong xã hội ta. Theo Hồ Chí Minh, phải có cái đức để đi đến cái trí. Vì khi đã có cái trí thì đức chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã lựa chọn, đã tiếp nhận, đã đi theo. Nói về liêm, Hồ Chí Minh đã dẫn lời của Khổng Tử: “Người mà không liêm không bằng súc vật”. Hơn thế đây coi là một phẩm chất nhân cách của con người trong các mối quan hệ xã hội, trong đối nhân xử thế, là một phẩm chất xã hội của cá nhân và của cộng đồng.

Theo Hồ Chí Minh thì “Liêm là không tham địa vị, không tham sung sướng, không tham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”… Liêm là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa thì không ham gì hết…”, “Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, tham sống yên đều là bất liêm”… “Dìm người giỏi để giữ gìn danh tiếng của mình… gặp việc phải mà sợ khó nhọc, nguy hiểm không dám làm… gặp giặc mà rụt rè mà không dám đánh đều trái với liêm, đều là bất liêm”. Như vậy trong Liêm có Chính, có Nghĩa, có Nhân, có Dũng; bất liêm là biểu hiện và bắt nguồn từ bất nhân, bất chính, bất nghĩa, vô dũng. Liêm gắn liền với liêm sỉ, từ sự hổ thẹn của con người về điều gì và với ai, ở đâu, khi nào mà ta nhận ra cái đức liêm, đức nhân, đức nghĩa, đức chính của con người, đánh giá được một cách trực giác về trình độ trưởng thành của nhân tính, nhân cách, nhân phẩm, tức phẩm giá làm người của con người và của cộng đồng dân tộc. Đây là điều mà Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm sỉ là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. Liêm và Sỉ, bất liêm và vô sỉ, do vậy đã trở thành trung tâm của sự phán xử, đánh giá về trình độ phát triển của con người, cơ sở của tiến bộ xã hội.

Nêu cao đức liêm khiết, liêm chính trong giáo dục, tự giáo dục và “giáo dục lại” của mọi người Việt Nam, trước hết là đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh cũng là mẫu mực trong thực hành tu thân. Tu thân là tự rèn luyện, tự giáo dục về đạo đức cách mạng để phụng sự tổ chức, phụng sự nhân dân, làm người con Trung Hiếu. “Trung với nước. Hiếu với dân,nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; “kẻ thù” không chỉ là giặc ngoại xâm mà còn là giặc “nội xâm” – chủ nghĩa cá nhân. “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân, chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.

Đây chính là nội dung của khái niệm “tu thân” theo tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh, một khái niệm cơ bản của đạo đức học phương Đông truyền thống – Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, được biến đổi và nâng cao về chất. Tu thân là “sửa mình” để mình luôn trong sạch. Liêm, liêm khiết, thanh liêm, liêm chính, trong sạch và ngay thẳng. Tu thân là đối với mình, là tự mình từ đó mà đối với việc và đối với người khác, từ tu thân mà đối nhân xử thế. “Là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình” là thực hành chủ nghĩa Mác-Lênin bằng cách ra sức làm tròn nhiệm vụ cách mạng và sống với nhau có tình có nghĩa”.

Tu thân xét từ chiều sâu tâm lý của chủ thể nhân cách chính là cái trình độ, năng lực làm chủ ham muốn. Ham muốn là cái lẽ thường tình, là “thói đời”, là tính người phổ biến của con người thực, sống ở đời và làm người. Không chỉ là sự phong phú đa dạng, mạnh mẽ hay nghèo nàn, đơn điệu, yếu ớt nơi ham muốn của mỗi người. Rất quan trọng còn là định hướng giá trị xã hội và văn hóa, đạo đức và chính trị của những ham muốn ấy. Hơn thế còn là cách thức theo đuổi của con người để thỏa mãn nhu cầu ham muốn. Ham muốn do vậy trở thành tiêu chí cơ bản, phép màu thử nghiệm để nhận ra cái cốt cách, bản lĩnh của mỗi con người trong đối nhân, xử thế, trong sự tự thực hiện bổn phận của mỗi người với mọi người và đối với chính bản thân mình. Tinh thần này đã được thể hiện trong một bài của Bác Hồ trả lời các nhà báo nước ngoài, đăng toàn văn lần đầu trên báo Cứu Quốc, số ra ngày 21-1-1946, tại Hà Nội. Bài viết có đoạn như sau:

“Nhân dịp các bạn tân văn, ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và các nhân sĩ nước ngoài đều biết:

Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu đến vòng danh lợi…”

Ở Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thì mọi sự đều công khai và minh bạch trong sự lựa chọn và xác định, theo đuổi và thực hiện tới cùng, từ thời tuổi trẻ cho tới lúc “đi xa”. Không chỉ công khai minh bạch mà còn là dứt khoát quyết liệt, khẳng định và phủ định. Đó là “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc”… là “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào”… “không dính líu gì với vòng danh lợi”. Đây không phải là sự biện luận cùng phép tu từ trong ngôn ngữ văn bản. Đây là cốt cách, bản lĩnh của một con người, nhân cách tự do, “tự do tin tưởng, tự do tổ chức”, tự do trong suy nghĩ và hành động của một chiến sĩ cách mạng, lãnh tụ của dân tộc, của Đảng. Con người đó là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, là Bác Hồ kính yêu của tất cả chúng ta, của mỗi người Việt Nam yêu nước, thương nòi.

Một năm trước ngày đi gặp các bậc cách mạng đàn anh khác, Bác còn căn dặn: “Muốn giáo dục nhân dân làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục, rèn luyện hàng ngày. Người xưa còn biết tu thân… Đảng viên, cán bộ ta từ nhân dân anh hùng mà ra, phải sống cho xứng đáng với nhân dân và Đảng anh hùng”.

“Đảng anh hùng” đó cũng đồng nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Hồ Chí Minh đã định nghĩa, định tính, định chất về Đảng như vậy, Đảng do Người sáng lập và rèn luyện dìu dắt, trở thành “Đảng ta” trong suy nghĩ và mong đợi thiết tha của mọi người dân nước Việt về “Đảng của mình” độc đáo và riêng biệt có một không hai.

Nguyễn Đức Thạc
daidoanket.vn

Về Bạc Liêu viếng đền thờ Bác

Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới (huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu), cách trung tâm TP. Bạc Liêu hơn 8 km về hướng đông bắc, ban đầu được xây dựng với vật liệu đơn sơ (tre, lá). Việc hình thành, giữ gìn Đền thờ là một câu chuyện ly kỳ của Đảng bộ và nhân dân xã Châu Thới anh hùng.

Các chú Hội CCB tỉnh Bạc Liêu viếng đền thờ Bác ở Châu Thới

Cách đây gần 43 năm, ngày 5-9-1969, khi nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát tin buồn Bác Hồ vĩnh viễn đi xa, quân dân xã Châu Thới bàng hoàng, đau đớn. Nghĩ đến tình yêu thương của Bác đối với nhân dân miền Nam ruột thịt, Đảng bộ và nhân dân Châu Thới có tâm nguyện chung là xây dựng Đền thờ Bác ngay tại quê hương để ngày đêm hương khói cho Người, củng cố thêm niềm tin vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn. Sáng ngày 19-5-1972, Lễ khánh thành Đền thờ Bác được tiến hành trong niềm hân hoan và trang nghiêm của trên một ngàn người trong xã Châu Thới và các chiến sĩ huyện Vĩnh Lợi. Khu di tích này được công nhận là di tích lịch sử cách mạng quốc gia 1998. Đây cũng là niềm tự hào của Châu Thới nói riêng và Bạc Liêu nói chung.

Cổng vào Đền

Từ ngày thống nhất đất nước, sau nhiều lần tôn tạo, trùng tu, ngôi đền nhỏ đơn sơ ngày nào đã trở thành khu di tích lịch sử quy mô lớn. Nhớ lại những ngày chiến đấu, xây dựng Đền thờ Bác Hồ ngay trong lòng địch đã khó, còn bảo vệ nơi hương khói cho Người còn khó hơn trăm lần, vì bọn Mỹ – Nguỵ luôn tìm cách phá hoại, các nhân chứng lịch sử luôn xúc động xen lẫn tự hào. Dù đã hơn 41 mùa xuân Bác ngủ say trong cõi vĩnh hằng, nhưng chú Nguyễn Đăng Khoa – nguyên là Đội trưởng Đội bảo vệ Đền thờ Bác, từng quyết tử để bảo vệ Đền, vẫn luôn nhớ mãi những ngày cùng đồng đội đi nhặt những trái pháo lép của địch mang về chế tạo lại, lấy trộm những trái lựu đạn để dùng làm “chướng ngại vật” ngăn chặn giặc phá Đền thờ Bác. Sau ngày giải phóng, chú Khoa tiếp tục làm công việc bảo vệ, chăm sóc Đền thờ Bác đến nay. Với tình cảm sâu nặng đối với Bác, chú Khoa đã tìm thấy được niềm vui và hạnh phúc trong công việc.

Còn với cô Lê Thị Đầm (74 tuổi) – nguyên Bí thư xã Châu Thới, hễ đến ngày sinh nhật hay giỗ Bác là cô làm một mâm cơm giản dị cúng Bác vì biết rằng “nếu làm sang trọng, lãng phí quá Bác sẽ không vui”. Đó là ngày gia đình quây quần bên nhau, mỗi lần như thế là một câu chuyện về Bác Hồ sẽ được cô Đầm kể cho các cháu nghe. Mỗi lần một ít thôi để các cháu thấm dần, cô vui sướng rơi cả nước mắt khi đứa cháu nội đang học tiểu học trầm ngâm như người lớn nhận định về Bác: “Trên đời này chỉ có một mà không có hai phải không bà nội?”. Mâm cơm cúng Bác bao giờ cũng có chén mắm nêm và đĩa cà pháo vì đó là món ăn dân dã mà Bác thích.

Cô Đầm hằng ngày vẫn thắp hương Bác tại gia đình

Những câu chuyện về tấm lòng quân dân Châu Thới đối với Bác Hồ như việc xây cất đền thờ, vừa là di sản văn hóa của địa phương, vừa là di tích lịch sử văn hóa mãi mãi trường tồn cùng non nước Việt Nam; việc thờ Bác ở gia đình, việc chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ đền thờ, trông nom và chăm sóc đền luôn được các thế hệ đi trước truyền lại cho các thế hệ sau. Có về viếng Đền thờ Bác Hồ, nhìn những hiện vật đơn sơ nhưng chan chứa tình cảm, rồi nghe người dân nơi đây kể chuyện mới thấm thía hết ý nghĩa của câu: “Bác Hồ sống mãi trong trái tim miền Nam”. Dù cho Người chưa có dịp vào thăm, dù cho niềm mong mỏi của cán bộ, nhân dân miền Nam, trong đó có người dân Bạc Liêu sẽ không bao giờ thành hiện thực, nhưng trong mỗi trái tim người dân vẫn luôn khắc ghi hình bóng và lời dạy của Người, nhất là trong giai đoạn hiện nay “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Đến với khu di tích này, bạn sẽ gặp được những chiến sĩ đã từng chiến đấu kiên cường để bảo vệ Đền thờ, bạn sẽ thấy được tinh thần anh dũng và sự mưu trí của quân dân Bạc Liêu thông qua những hiện vật được trưng bày tại đây. Một hiện vật rất nhỏ, nhưng là một câu chuyện đầy xúc động. Đó chính là hai mảnh vải đen và đỏ của cô Lê Thị Đầm và ông Nguyễn Văn Phấn trong buổi lễ truy điệu Bác tại đền thờ, được 2 người cất giữ từ năm 1969 đến nay. Sau ngày giải phóng đến nay, Đền thờ thường xuyên là địa điểm để tổ chức những hoạt động xã hội, là nơi họp mặt những ngày truyền thống, nhất là dịp 19-5, Quốc khánh 2-9 và giỗ Bác quân dân Bạc Liêu viếng, dâng hương tưởng nhớ đến Người và tổ chức mâm cơm cúng Bác.

Chú Khoa hằng ngày thắp hương cho Bác

Đến với Đền thờ Bác ở Châu Thới, thắp nén nhang trước tượng Bác uy nghiêm, nhân từ, chắc chắn ai cũng tưởng nhớ đến vị lãnh tụ của đất nước và nhìn lại bản thân mình, để nỗ lực phấn đấu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Phương Nghi
daidoanket.vn

Thư gửi Hội nghị giáo dục toàn quốc (3-1955)

Gửi Hội nghị giáo dục,

(Nhờ ông Bộ trưởng chuyển)

Tôi gửi lời thân ái hỏi thǎm các đại biểu và chúc Hội nghị thu được kết quả tốt đẹp.

Theo ý tôi, để thu kết quả tốt đẹp thì Hội nghị cần phải nắm vững mấy vấn đề chính do Bộ đề ra, đi sâu vào việc điều tra nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm. Mỗi chủ trương công tác đều phải cǎn cứ vào tình hình thực tế, vào kinh nghiệm rất phong phú của quần chúng, của cán bộ, của địa phương.

Trước đây, một thiếu sót trong công tác giáo dục là ít kết hợp chủ trương và chính sách của Bộ với tình hình cụ thể và kinh nghiệm quý báu của các địa phương.

Tôi rất mong Hội nghị chú ý đến điều đó.

Hội nghị có chủ trương cụ thể, thiết thực, đúng đắn thì với sự cố gắng và lòng tận tuỵ của tất cả cán bộ ta, công tác giáo dục nhất định sẽ có tiến bộ mới.

Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy học là: chǎm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà.

Để làm trọn nhiệm vụ ấy, cán bộ giáo dục cần phải luôn luôn ra sức thi đua công tác và học tập, thật thà tự phê bình và phê bình để cùng nhau tiến bộ mãi.

Ngoài ra, nên khéo thu xếp công tác để tham gia phát động quần chúng triệt để giảm tô và phát động quần chúng cải cách ruộng đất. Đó là một trường học rất rộng, rất tốt để cán bộ ta tự rèn luyện thêm.

Chúc các cô, các chú mạnh khoẻ!

Chúc Hội nghị thành công!

Chào thân ái và thắng lợi
Tháng 3 nǎm 1955
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật,
Hà Nội, 1956, t.III, tr. 128-129.
cpv.org.vn

Đáp từ trong buổi lễ nhận quốc thư của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (1-4-1955)

Thưa đồng chí Đại sứ,

Tôi rất vui lòng nhận bản quốc thư của Chủ tịch đoàn Quốc hội nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên uỷ nhiệm đồng chí làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi xin cảm ơn những lời chúc mừng của đồng chí.

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Triều Tiên đã cùng đấu tranh gian khổ và anh dũng chống đế quốc xâm lược và bọn tay sai của chúng để giải phóng dân tộc. Nhân dân hai nước chúng ta đã cùng thắng lợi rực rỡ, lập lại hoà bình ở Việt Nam và ở Triều Tiên.

Ngày nay, nhân dân hai nước chúng ta lại đang cùng ra sức đấu tranh để giành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ cho Việt Nam và cho Triều Tiên, góp phần giữ gìn hoà bình châu á và thế giới.

Nhân dân hai nước chúng ta yêu quý nhau rất nồng nàn và đoàn kết giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt, vì chúng ta đều có những nguyện vọng và cùng theo đuổi những mục đích giống như nhau.

Chúng tôi tin chắc rằng từ nay về sau, giữa nhân dân hai nước chúng ta, tình hữu nghị sẵn có sẽ ngày càng thắm thiết, quan hệ về mọi mặt sẽ ngày càng chặt chẽ, cả hai nước chúng ta nhất định thắng lợi trong cuộc đấu tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất và xây dựng nước nhà.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí và chúc đồng chí hoàn toàn thành công. Nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ đồng chí trong khi làm nhiệm vụ.

Nhân dịp này, tôi xin đồng chí chuyển lời chào thân ái của chúng tôi cho đồng chí Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và nhân dân Triều Tiên.

Đọc ngày 1-4-1955.
Báo Nhân dân, số 397,
ngày 3-4-1955.
cpv.org.vn

Đáp từ trong buổi lễ nhận quốc thư của nước Cộng hoà Nhân dân Rumani (5-4-1955)

Thưa đồng chí Đại sứ,

Tôi rất vui lòng nhận bản quốc thư của Chủ tịch đoàn Quốc hội nước Cộng hoà Nhân dân Rumani uỷ nhiệm đồng chí làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Tôi xin cảm ơn những lời chúc mừng của đồng chí, và nhờ đồng chí chuyển lời chào thân ái của chúng tôi cho đồng chí Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà Nhân dân Rumani và nhân dân Rumani.

Nhân dân Rumani đã từng chiến đấu gian khổ và anh dũng để chống phát xít và giành độc lập, dân chủ, tự do. Sau khi giải phóng, nhân dân Rumani, được sự giúp đỡ hết lòng của Liên Xô, đã ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đã thu được nhiều thành tích to lớn.

Nhân dân Việt Nam chǎm chú theo dõi công cuộc xây dựng hoà bình ở Rumani và chào mừng thành công của anh em Rumani cũng như thành công của mình.

Trong cuộc kháng chiến vừa qua cũng như trong cuộc đấu tranh hiện nay cho hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong cả nước, nhân dân Việt Nam luôn luôn được nhân dân Rumani nhiệt liệt đồng tình và ủng hộ. Nhân dân hai nước chúng ta đoàn kết chặt chẽ và yêu quý lẫn nhau, với mối tình hữu nghị quốc tế của các lực lượng hoà bình, dân chủ thế giới do Liên Xô lãnh đạo.

Chúng tôi chắc rằng tình hữu nghị ngày càng thắm thiết và mối quan hệ ngày càng mở rộng giữa hai nước chúng ta sẽ giúp nhiều cho nhân dân Việt Nam trong công cuộc khôi phục kinh tế và vǎn hoá của mình và nhân dân hai nước chúng ta sẽ góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình thế giới.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí lãnh chức Đại sứ của nước Cộng hoà Nhân dân Rumani tại Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ luôn luôn giúp đỡ đồng chí làm trọn nhiệm vụ và tin rằng đồng chí sẽ thành công vẻ vang.

Đọc ngày 5-4-1955.
Báo Nhân dân, số 400,
ngày 6-4-1955.
cpv.org.vn

Hoan nghênh Hội nghị nhân dân châu Á (7-4-1955)

Châu á người đông, đất rộng, của nhiều hơn các châu khác. Lại có những nước to lớn và vǎn minh lâu đời, như Trung Quốc và ấn Độ. Nhân dân châu á thì yêu chuộng hoà bình. Nhưng từ thế kỷ thứ 16, châu á đã bị bọn thực dân phương Tây áp bức bóc lột tàn tệ.

10 nǎm qua, châu á đã thay đổi nhiều: Trung Quốc cách mạng thành công; nửa Việt Nam và nửa Triều Tiên đã tự do độc lập; ấn Độ, Nam Dương và Diến Điện đã thoát khỏi địa vị thuộc địa. Các dân tộc khác đang đấu tranh để vươn mình.

Nhưng bọn đế quốc do Mỹ cầm đầu, u mê không hiểu. Chúng còn mong chia rẽ nhân dân châu á, dùng người châu á đánh người châu á, rêu rao chiến tranh nguyên tử để đe doạ nhân dân châu á. Nói tóm lại: Chúng mơ tưởng bắt nhân dân châu á trở lại kiếp nô lệ. Chúng đã lầm to!

Châu á ngày nay không phải như châu á ngày xưa. Nhân dân châu á quyết tâm chống đế quốc xâm lược, quyết tâm đoàn kết để giữ gìn những thắng lợi dân tộc của mình và thực hiện 5 nguyên tắc chung sống hoà bình. Đó là mục đích của Hội nghị hoà bình của nhân dân châu á, khai mạc hôm qua ở thủ đô ấn Độ.

Có đại biểu 16 nước tham gia Hội nghị: Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Liên Xô, Trung Quốc, ấn Độ, Nam Dương, Diến Điện, Triều Tiên Nhân dân Cộng hoà, Nhật Bản, v.v.. Các đoàn đại biểu có đủ các tầng lớp nhân dân và đủ các xu hướng chính trị và tôn giáo. Hội nghị sẽ góp phần quan trọng vào việc làm cho tình hình quốc tế bớt cǎng thẳng, vào việc gìn giữ hoà bình châu á và thế giới.

Vì vậy, nhân dân Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh Hội nghị và chúc Hội nghị thành công

C.B.

Báo Nhân dân, số 401, ngày 7-4-1955.
cpv.org.vn

Đáp từ trong buổi lễ nhận quốc thư của nước Cộng hoà nhân dân Bungari (9-4-1955)

Thưa đồng chí Công sứ,

Tôi rất vui lòng nhận bản quốc thư của Chủ tịch đoàn Quốc hội nước Cộng hoà Nhân dân Bungari uỷ nhiệm đồng chí làm Công sứ đặc mệnh toàn quyền ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi xin cảm ơn những lời chúc mừng của đồng chí.

Nhân dân Bungari đã từng chiến đấu gian khổ và anh dũng để chống phát xít và giành độc lập, dân chủ, tự do. Sau khi giải phóng, được Liên Xô hết lòng giúp đỡ, nhân dân Bungari đã ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đã thu được nhiều thành tích to lớn.

Nhân dân Việt Nam nhiệt liệt chào mừng những thành công của anh em Bungari.

Trong cuộc kháng chiến trước đây cũng như trong cuộc đấu tranh hiện nay và sắp tới cho hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của mình, nhân dân Việt Nam luôn luôn được nhân dân Bungari nhiệt liệt đồng tình, ủng hộ.

Chúng tôi tin chắc rằng với tình hữu nghị thắm thiết và mối quan hệ chặt chẽ giữa hai nước chúng ta, với sự giúp đỡ vô tư của Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn khác, nhân dân Việt Nam sẽ thắng lợi trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế và vǎn hoá của mình.

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí lãnh chức Công sứ đặc mệnh toàn quyền ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ ra sức giúp đỡ để đồng chí làm trọn nhiệm vụ và thành công vẻ vang.

Tôi nhờ đồng chí chuyển lời chào thân ái của chúng tôi cho đồng chí Chủ tịch Chủ tịch đoàn Quốc hội nước Cộng hoà Nhân dân Bungari và nhân dân anh em Bungari.

Đọc ngày 9 – 4 – 1955.
Báo Nhân dân, số 404,
ngày 10 – 4- 1955.
cpv.org.vn

Tổ đổi công kiểu mẫu (13-4-1955)

Chính phủ định ra luật lệ cải cách ruộng đất, Đảng phái cán bộ về xã giúp đồng bào nông dân đấu tranh thực hiện người cày có ruộng. Đó là bước đầu.

Đã có ruộng, nông dân cần phải ra sức tǎng gia sản xuất, để đảm bảo đời sống ấm no.

Muốn sản xuất được tǎng gia, thì cần có những tổ đổi công để giúp đỡ lẫn nhau trong mọi công việc. ý nghĩa tổ đổi công là “Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây tụ hợp thành hòn núi cao”.

Muốn tổ đổi công có kết quả thật tốt, thì phải khéo tổ chức, theo nguyên tắc tự giác tự nguyện. Phải khéo lãnh đạo, làm cho các tổ viên ai cũng hǎng hái làm việc, ai cũng được hưởng lợi công bằng. Thí dụ :

Tổ đổi công của chị Vậy (xã Tây Sơn, Yên Bái) có kế hoạch định công, phân công, ghi công. Có chương trình làm việc rõ ràng, cứ 3 ngày kiểm điểm lại 1 lần. Nhờ vậy, tổ đã cày ải, bừa kỹ, bắt hết sâu, làm sạch cỏ, bón nhiều phân, đắp thêm phai chống hạn…

Kết quả về vật chất – Sản xuất tǎng nhiều. Trước kia nhà nào cũng thiếu ǎn 2, 3 tháng; nay nhà nào cũng đủ ǎn, và còn thừa ít nhiều để giúp bà con khác.

Đối với thuế nông nghiệp, cả tổ đã khai đúng, nộp nhanh, nộp tốt.

Về tinh thần – Bà con trong tổ đều đoàn kết, vui vẻ, thi đua làm, thi đua học. Các tổ viên có kế hoạch giúp đỡ những gia đình neo người, gia đình bộ đội.

Thành tích ấy làm cho những người trước kia nghi ngờ tổ đổi công, nay cũng xin vào tổ.

Tỉnh nào cũng có những tổ kiểu mẫu như vậy: tổ của anh Sinh ở Thái Nguyên, tổ của chị Lượng ở Sơn Tây, tổ của chị Ruyện ở Cao Bằng, vân vân.

Các liên khu và các tỉnh nên có những cuộc hội nghị cán bộ các tổ đổi công, (trước khi họp phải chuẩn bị đầy đủ), để trao đổi và phổ biến kinh nghiệm. Làm được như vậy, thì phong trào tǎng gia sản xuất chắc sẽ phát triển thiết thực, mạnh mẽ và rộng khắp hơn nữa.

C.B.

Báo Nhân dân, số 407, ngày 13-4-1955.
cpv.org.vn