Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới.

Nói về thế kỷ XX vừa lùi vào quá khứ, có người đã khái quát bằng một hình ảnh thật độc đáo có ý nghĩa khơi gợi rất lớn: Nếu lịch sử hơn 4 triệu năm của loài người thu lại trong 1 năm thì thế kỷ XX chỉ là 13 phút, từ 23h47′ đến 24h của ngày 31/12 . Trong 13 phút ấy, đặc biệt trong 5 phút cuối cùng, loài người đã hiểu biết nhiều hơn toàn bộ hệ thống kiến thức tích luỹ trước đó, tức là từ khi trên trái đất bắt đầu có con người! Bình minh của thiên niên kỷ mới với những năm đầu của thế kỷ XXI đã cho ta những cảm nhận thật sống động, những biến động dữ dội khó mà tiên liệu được! Một sự dồn nén như vậy tất sẽ đưa đến những đột biển lớn lao trong lịch sử tư tường của loài người, “lượng” sẽ biển thành “chất”. Đúng là, “chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta đến tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường đó” (Nobert Wiener)

Chính những diễn biển của cuộc sống ở buổi bình minh của thiên niên kỷ đang khẳng định một sự thật: Chuẩn mực chính là sự thay đổi!

Với Hồ Chí Minh, chúng ta có tấm gương tuyệt vời vế sự nhất quán từ trước đến sau, từ lúc khởi đầu cuộc tìm đường cứu nước, với bao sức ép từ mọi phía cho đến khi Đảng ra đời qua bao thăng trầm, thử thách khốc liệt để có cách mạng Tháng Tăm 1945, ra đời nước cộng hoà non trẻ giữa vòng vây trùng điệp của kẻ thù, tiến hành hai cuộc kháng chiến với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là sự dân quyền về mục tiêu độc lập cho dân tạc, tự do cho nhân.

Với mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đấu tranh cho sự hợp nhất và ra đời của Đảng năm 1930, thậm chí có lúc vì mực tiêu đó mà dám có quyết định táo bạo cho dù đau đớn là tuyên bố Đảng tự giải tán. Thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Rồi cũng vì mục tiêu đó mà sáng suốt và kiên quyết đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1951.

Tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã thực sự là ngọn cờ trong khối óc và trái tim cửa người Việt Nam của dân tộc Việt Nam. Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh để vẫy gọi và quy tụ mọi tấm lòng Việt Nam vốn nặng lòng vì quê hương, đất nước. Những người đã trải qua sự thử thách trong gần nửa thế kỷ chiến đấu và chiến thắng. Những người với những hoàn cảnh và điếu kiện khác nhau đã gửi gắm tình yêu nước thương nòi của mình trong nhiều hành động và nghĩa cử không ai giống ai. Làm cho mọi giọt máu của mỗi người Việt Nam cùng chảy về trái tim của dân tộc để rồi toả đi khắp bốn phương nuôi dưỡng hành động vì nghĩa lớn đất nước. Làm được điều đó cũng là cách tao nên được sự đồng thuận xã hội sâu sắc và rộng lớn, có sức vẫy gọi và hội được khối đại đoàn kết toàn dân tộc hường về mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới. Phải biết làm cho tư tường Hồ Chí Minh sống trong cuộc sống của mọi người Việt Nam, tiếp tục cho nghị lực và tâm hồn của mỗi con người đang xây dựng cuộc sống của mình, gia đình mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước. Có thể làm được điều đó vì tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với mọi tấm lòng Việt Nam, gần gũi như khí trời, như cơm ăn nước uống trong mạch sống Việt Nam từ túp lều tranh cho đến ngôi biệt thự.

Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với người nông dân còn bao gian khó, đổ mồ hôi, sôi nước mắtt trên cánh đồng chưa có mấy trợ lực của khoa học và công nghệ, cũng như với bà con nghèo đô thị nơi xóm thợ nghèo khổ của những công nhân làm việc tại các khu chế xuất, các xí nghiệp liên doanh… với bao nỗi lo toan trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn. Hồ Chí Minh đến được với họ vì bình sinh Người chỉ có một “ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho cuộc sống của họ được no ấm, con em của họ được học hành. Những người lao động lam lũ ấy hiểu Hồ Chí Minh vì tư tưởng của người lãnh tự nhân dân, đã quy tụ được những khát vọng, những mong mỏi hàng ngày vốn bình dị và nghiệt ngã như chính cuộc sống của họ vậy thôi.

Và, với những nhà doanh nghiệp đang có vai trò lớn trong xây dựng nến kinh tế thị trường lành manh, dấn bước trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, Hồ Chí Minh không xa lạ với họ. Từ những ngây đầu của chính quyến cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận rõ vi trí của các nhà công thương trong khối đại đoàn kết dân tộc để làm cho đất nước phú cường. “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam mới được có trong căn phòng của một nhà tư sản lớn giàu lòng yêu nước.

Hơn ai hết, những người trí thức Việt Nam hiểu rõ Hồ Chí Minh, nhận ra tầm vóc lãnh tụ của dân tộc ở trí tuệ một nhà văn hoá lớn cùng trái tim ấp ủ những khát vọng nhân văn của một con người khao khát tự do: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do”. Hồ Chí Minh đã biết cách trả về lại cho người trí thức Việt Nam ngọn nguồn yêu nước truyền thống vốn nằm sâu trong tâm thức của họ, khơi dậy năng lực cống hiến của tiềm lực trí tuệ trong họ. Với Hồ Chí Minh, người trí thức Việt Nam hiểu được chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc.

Thời gian đủ để kiểm nghiệm độ chính xác và sự tường minh của một tư tưởng, trải qua những biến động dồn dập cả trong nước và trên thế giới vẫn chứng minh được sức bền, độ “chín” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự kết tinh trí tuệ và khí phách của một dân tộc, là sự tiếp nhận và hội tụ những tinh hoa của tư tưởng mà loài người đã giữ lại qua quá trình tiếp biến, thanh lọc và kiểm nghiệm. Vì thế nó đủ tầm cao của sự khái quát của lý luận và đường hướng phát triển, vừa gần gũi, đi thẳng vào lòng người Việt Nam vì nó diễn đạt được chân lý của cuộc sống.

Chân lý thì luôn luôn đơn giản, song hiểu được chân lý, đến được với chân lý thì thường lại cực kỳ gian chuân.

Cuộc sống đang sải những bước đi táo bạo và quyết đoán trong thời đại của những biến động dồn dập. Tầm mắt không ít người dã được mở rộng hơn nhờ vào “sự xé toang một tấm màng bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn” (trích từ bài viết thế kỷ XX của Việt Phương – thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ).

Để bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn ấy, mở rộng tầm mắt là điều kiện tiên quyết. Đó cũng là đòi hỏi trước tiên đề có thể chủ động đón nhận sự thách thức mới trong qúa trình hội nhập quốc tế. Tính chất gay gắt và chưa có tiền lệ của những thách thức ấy đang đòi hỏi một bản lĩnh mới của những người đang gánh trên vai mình trách nhiệm nặng nề của lịch sử. Bản lĩnh ấy, xét đến cùng lại cũng được quyết định quyết định bởi tầm nhìn mới, bởi “đôi mắt mới nhìn vào thế giới”.

Không phải là không có lý khi người ta cho rằng: thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không con thích hợp với một thế giới phi tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Để có được phẩm chất đó, đỏi hỏi phải có “sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống”. Để làm được điều đó, phải biết khai thác cái lợi thế vô song của chúng ta, đó là uy tín của tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá mà thế giới từng biết và đã tỏ lòng ngưỡng mộ.

Theo Báo Lao Động
bqllang.gov.vn

Thực hành tiết kiệm theo gương Bác

Thuc hanh tiet kiemSinh thời, không ít hơn hai lần Bác Hồ kể lại câu chuyện Người dùng phong bì gửi công văn, thư từ.

Lần thứ nhất, tháng 5-1949, Bác Hồ kể: “Trung bình một cái phong bì có kích thước giấy 180 phân vuông… Mỗi ngày các cơ quan, đoàn thể và tư nhân ít nhất cũng dùng hết một vạn cái phong bì, tức là 180 thước vuông giấy… Mỗi năm là 64.800 thước vuông giấy. Nếu ai cũng tiết kiệm, dùng một cái phong bì hai lần, thì mỗi năm chỉ tốn một nửa số giấy, tức là 32.400 thước vuông. Còn 32.400 thước để dành cho các lớp bình dân học vụ thì chẳng tốt sao? Hơn nữa, nhờ sự tiết kiệm giấy, mà tiền bạc và công phu làm giấy có thể làm thêm việc kiến thiết khác, thì càng ích lợi hơn nữa”. Lần thứ hai, năm 1952, nói về thực hành tiết kiệm, Bác Hồ dẫn thí dụ: “Cơ quan nào cũng dùng phong bì, nếu mỗi cơ quan đều tiết kiệm, một chiếc phong bì dùng hai, ba lần, thì mỗi năm Chính phủ có thể tiết kiệm được hàng chục tấn giấy”. Và Bác nhấn mạnh: “Đối với giấy như thế, đối với mọi thứ khác đều như thế”.

Dẫn ra hai thí dụ trên đủ thấy, Bác Hồ thường xuyên quan tâm thực hành tiết kiệm biết chừng nào. Hơn nữa, Bác còn rất coi trọng tiết kiệm từ những chi tiêu, sử dụng nhỏ như chiếc phong bì. Hẳn nhiều người còn nhớ, khi Bác Hồ qua đời, bản Di chúc viết tay của Bác được viết trên mặt sau bản tin hàng ngày của Thông tấn xã Việt Nam. Đối với Bác Hồ, bất cứ làm việc gì, sử dụng cái gì dù lớn dù nhỏ cũng đều phải tiết kiệm. Bởi theo Bác tiết kiệm cũng như cái thùng có đáy, nước đổ vào không thể đi đâu được. Thế nên, Bác Hồ luôn nhắc mọi người: “Cần với kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người”. Bác Hồ còn dẫn câu ngạn ngữ để mọi người dễ hình dung cái kiểu cần mà không kiệm: “làm chừng nào xào chừng ấy”, thì: “cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không”.

Trong cuốn “Cần, kiệm, liêm, chính” xuất bản tại Liên khu 1 năm 1949, Bác Hồ còn đi sâu phân tích về tiết kiệm thời giờ. Theo Bác: “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải”. Vì: “Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm”. Nhưng đối với thời giờ, một khi đã qua rồi thì: “Không bao giờ kéo nó trở lại được”. Thế nên, Bác Hồ nhấn mạnh: “Tiết kiệm thời giờ là kiệm, và cũng là cần”. Bác Hồ dẫn ra hai câu, một của thánh hiền: “Một tấc bóng là một thước vàng”, một là tục ngữ châu Âu: “Thời giờ tức là tiền bạc”, để phê phán những kẻ không biết tiết kiệm thời giờ: “Ai đưa vàng bạc vứt đi là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại”. Thiết nghĩ rất đáng để mọi người suy nghĩ, bởi không ít người trong chúng ta rất thiếu ý thức tiết kiệm thời giờ, nói “tám giờ vàng ngọc” nhưng thực ra họ chấm cha chấm chớ, chân trong chân ngoài cơ quan, đơn vị rồi mau chóng ra quán cà phê, bia hơi vỉa hè hay sân cầu lông, bãi bóng hoặc về vun vén cho nhà mình; chứ trong cơ quan, đơn vị thời giờ không những bị cắt xén mà năng suất cũng chẳng đáng là bao. Thế nên, để tiết kiệm được thời giờ, Bác Hồ chỉ rõ: “Việc gì trước kia phải làm hai ngày, nay vì tổ chức sắp xếp khéo, năng suất cao, ta có thể làm xong trong một ngày”. Không chỉ có “thời giờ là vàng bạc” Bác Hồ mới căn dặn kỹ, mà đối với sức lao động của mỗi người, Bác cũng yêu cầu phải biết tiết kiệm: “Chúng ta phải tiết kiệm sức lao động. Thí dụ: việc gì trước kia phải dùng 10 người, nay ta phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất của mỗi người, nhờ vậy mà chỉ dùng 5 người cũng làm được”. Trong bài nói nhân dịp có phong trào sản xuất và tiết kiệm năm 1952, Bác Hồ lại chỉ rõ: “Chúng ta phải tiết kiệm tiền của. Việc gì trước phải dùng nhiều người, nhiều thời giờ, phải tốn 2 vạn đồng. Nay vì tiết kiệm được sức người và thời giờ, nguyên liệu, cho nên chỉ tốn 1 vạn là đủ”.

Trong khi căn dặn mọi người, mọi ngành, mọi cấp thường xuyên thực hành tiết kiệm, thì đồng thời, Bác Hồ cũng quan tâm làm cho mọi người hiểu rõ tiết kiệm không phải là khắc khổ, là bủn xỉn đến mức nhịn ăn, nhịn mặc, mà trái lại, tiết kiệm để tạo cho mức sống ngày càng được cải thiện, nâng cao hơn. Với cách phân tích chặt chẽ và dễ hiểu, Bác Hồ khẳng định dứt khoát: “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nong”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực”. Vì thế, Bác Hồ yêu cầu: “Tất cả mọingười đều phải tiết kiệm. Trước nhất là các cơ quan, các bộ đội, các xí nghiệp”. Tiếp đó, Bác Hồ chỉ rõ cho quân đội, từ quân nhu, quân giới đến vận tải: “Các chiến sĩ cũng cần tiết kiệm và có thể tiết kiệm”, rồi: “Cơ quan nào cũng cần và có thể tiết kiệm, vì cơ quan nào cũng dùng phong bì”, ngay đến: “Cán bộ tư pháp nếu nâng cao năng suất, làm việc mau chóng, thì sẽ giúp cho đồng bào có việc đến tư pháp tiết kiệm được ngày giờ, để tăng gia sản xuất”. Tạo được phong trào thực hành tiết kiệm sâu rộng như thế, thì chắc chắn: “Nếu ta khéo tiết kiệm sức người, tiền của và thời giờ, thì với sức lao động và tiền tài của nước ta hiện nay, ta có thể tăng gia sản xuất gấp bội mà lực lượng của ta về mọi mặt cũng tăng gấp bội”. Quả là sự phân tích sắc sảo, tràn đầy lạc quan, tin tưởng mà cho đến hôm nay, giữa những ngày giá cả thị trường luôn biến động, đòi hỏi không chỉ riêng bà nội trợ mà tất cả những ai tiêu pha mua sắm hàng ngày, từ nhà lãnh đạo, quản lý hành chính đến nhà doanh nghiệp, từ thành thị đến nông thôn mỗi khi đọc lại những lời dạy của Bác Hồ về thực hành tiết kiệm đều thấy vô cùng cần thiết và giúp ích ngần nào cho chính bản thân, cũng như cơ quan, đơn vị.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Cuộc sống giản dị của Bác ở Phủ Chủ tịch

Cuoc song gian diMùa hè nóng lắm, Hà Nội là vào nơi nóng bậc nhất ở đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng như đã nói, Bác không cho lắp máy điều hòa không khí. Còn quạt máy thì cho đến năm 78,79 tuổi, Bác vẫn không chịu dùng quạt trần và quạt để bàn.

Trong những năm ở Phủ Chủ tịch, Bác đã sống hàng ngày như thế nào?

Có một lẽ Bác không nói ra nhưng đây mới là lý do sâu xa tronglòng Bác. Số đông người Việt Nam ta ngày ấy chưa có quạt máy để dùng, cho nên từ trong lòng, Bác Hồ không muốn dùng quạt máy. Những ngày hè nóng nực nhất, Bác Hồ chỉ dùng quạt giấy và quạt nan thôi.

Đấy là mùa hè. Còn về mùa đông, Bác Hồ có một cái áo bông của đồng bào biếu. Bác dùng nhiều năm rồi. Mới đầu bông xốp còn dày, ấm. Sau dùng mãi nó lép kẹp xuống không ấm lắm nữa. Nhưng chưa ai dám nghĩ đến việc xin Bác bỏ cả mền bông đâu, chỉ nghĩ đến thay cái vỏ ngoài. Lúc đầu cái vỏ bằng vải mới, dần dần nó phai màu, đứt chỉ ở khủyu tay và ở cổ. Bác bảo mạng lại. Nó rách ở vai thì Bác bảo vá vai. Mùa rét tháng 2-1969, nó rách một miếng nữa ở vai, những đồng chí chuyên săn sóc sức khỏe của Bác nhân dịp ấy mới nhắc một đề nghị đã nhiều lần: Xin Bác cho thay vỏ ngoài, nó lại rách một lần thứ hai ở vai rồi. Đây là một người bạn chiến đấu mấy chục năm nay của Bác, cho nên Bác nói thẳng, thân tình lắm. Bác quay lại bảo đồng chí ấy thế này: “Này chú ạ, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc cho dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Và nhất định Bác không cho thay cái vỏ mới. Bây giờ trong bảo tàng vẫn là cái áo bông vá vai như thế. Bác còn có lò sưởi điện. Bác có mấy cái, nhưng Bác lại càng ít dùng lò sưởi điện. Cũng vì lẽ không muốn phụ thuộc vào lò sưởi điện, và nhất là vì lẽ số đông người Việt Nam không có sưởi điện hàng ngày sưởi về mùa đông.

Ở đây cũng rõ một nét trong đời sống hàng ngày của Bác. Bất kỳ cái gì có tí lãng phí cũng quyết không để lãng phí. Nhưng đã cần thì dùng cho đủ mức cần.

Về việc tiết kiệm điện, không biết bao nhiêu lần, tự tay Bác tắt những cái đèn, cái quạt và cái đài đang tiêu điện mà không ai dùng cả. Ở nước ta thế mà khi ra nước ngoài cũng thế. Đi lướt qua một hành lang trên con đường đến nơi nào đó bạn tiếp khách hay trong nhà khách của bạn, thấy có một bóng đèn điện để đấy không cần là Bác tìm xem chỗ tắt bật ở đâu, Bác tắt đi. Có đồng chí ở với Bác khá nhiều năm đã nói:

– Tất cả các năm mình ở với Bác, luôn luôn mình là cán bộ tắt đèn. Bác cứ thấy xa xa có những bóng đèn đang sáng, Bác bảo xem lại có ai ở đấy không, có cần để ánh sáng để bảo vệ không? Nếu không thì tắt đi.

Suốt thời gian 15 năm từ ngày về Hà Nội, Bác nhận một ô tô loại trung bình chứ không phải loại sang nhất và Bác cứ dùng thế mãi cho đến khi qua đời.

Trích từ sách: Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ
Theo baothaibinh.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

13. Giai cấp nông dân

Giai cấp nông dân, chủ chốt là bần nông và trung nông là quân đội chủ lực của kháng chiến và của cách mạng dân chủ mới (cố nông thuộc về giai cấp công nhân).

Ở nông thôn, bần nông là lớp người đông nhất, và nghèo khổ nhất. Họ chân bùn tay lấm quanh nǎm, mà vẫn suốt đời đói rách, vì họ bị địa chủ phong kiến bóc lột tàn tệ. Bần nông hǎng hái kháng chiến, hǎng hái cách mạng, và rất mong muốn thực hiện chính sách dân cày có ruộng. Vì vậy họ là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân.

Trung nông là lớp người mình cày ruộng của mình, không bóc lột ai, cũng không phải làm thuê cho ai. Họ sinh sống khá hơn bần nông. Song gặp mất mùa thì họ cũng chật vật. Vả lại họ cũng bị bọn địa chủ, bọn cho vay nặng lãi, và bọn đế quốc áp bức bóc lột. Thực hiện chính sách “dân cày có ruộng” thì họ cũng có lợi. Cho nên họ cũng hǎng hái kháng chiến, hǎng hái cách mạng. Vì vậy, họ là đồng minh chắc chắn của giai cấp công nhân.

Cách mạng ta hiện nay là chống đế quốc, chống phong kiến. Nông dân là lớp người đông nhất trong nhân dân, cho nên họ là quân chủ lực của cách mạng.

Trong cuộc kháng chiến của ta, nông dân đóng góp nhiều nhất, hy sinh nhiều nhất. Trong quân đội ta, tối đại đa số là nông dân. Trong công cuộc xây dựng dân chủ mới, muốn phát triển công nghệ và thương nghiệp, ắt phải do nông dân được giải phóng, thi đua sản xuất, cung cấp nguyên liệu và lương thực, đồng thời tiêu thụ dồi dào những thứ công nghệ sản xuất ra.

Nhưng vì hoàn cảnh kinh tế lạc hậu, mà nông dân thường có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu. Cho nên giai cấp công nhân phải đoàn kết họ, giúp tổ chức họ, và lãnh đạo họ, thì họ là một lực lượng rất to lớn vững chắc. Thế là công nông liên minh.

cpv.org.vn

14. Giai cấp tiểu tư sản

Giai cấp này gồm có: phần tử trí thức, các nhà công nghệ và thương nghiệp nhỏ, thủ công nghệ, những người làm nghề tự do (như thầy thuốc, luật sư…), công chức.

Đại đa số trí thức và học sinh thuộc giai cấp tiểu tư sản. Nói chung, thì họ cũng bị đế quốc và phong kiến áp bức, thường bị thất nghiệp, thất học.

Họ có học thức, dễ có cảm giác chính trị. Họ không trực tiếp bóc lột lao động. Vì vậy, họ dễ tiếp thụ sự giáo dục cách mạng và cùng đi với công nông.

Song trí thức và học sinh thường mắc những nhược điểm rất to, như: lý luận không đi đôi với thực hành, xem khinh lao động, tư tưởng mơ hồ, lập trường không vững, khi hành động thì hay lung lay.

Những lớp tiểu tư sản khác (những nhà công nghệ và thương nghiệp nhỏ, những người làm nghề tự do, v.v.) cũng bị đế quốc và phong kiến bóc lột. Kinh tế của họ bấp bênh, thường bị thất nghiệp, phá sản. Cho nên số đông cũng tham gia và ủng hộ kháng chiến, cách mạng. Họ cũng là đồng minh quan trọng của giai cấp công nhân.

Nói chung là giai cấp tiểu tư sản có những nhược điểm: tự tư tự lợi, rời rạc, kém kiên quyết… Cho nên đối với họ, giai cấp công nhân cần phải tuyên truyền, tổ chức họ, giúp họ phát triển ưu điểm, sửa chữa nhược điểm, cần phải khôn khéo lãnh đạo họ, làm cho họ quyết tâm phụng sự nhân dân, cải tạo tư tưởng, cùng với công nông kết thành một khối, thì họ mới trở nên tác dụng to lớn trong công cuộc kháng chiến, cách mạng.

cpv.org.vn

15. Giai cấp tư sản dân tộc

Là giai cấp tư sản không dính líu với đế quốc, hoặc dính líu rất ít. Một mặt thì họ bị đế quốc và phong kiến ngǎn trở, cho nên họ cũng muốn chống đế quốc và phong kiến. Nhưng mặt khác, họ là giai cấp bóc lột, cho nên họ cũng sợ giai cấp bị bóc lột nổi lên đấu tranh. Vả lại về mặt kinh tế, họ còn dính líu ít nhiều với địa chủ phong kiến, cho nên đối với việc cải cách ruộng đất, họ còn do dự. Do đó mà tư sản dân tộc vừa muốn cách mạng vừa muốn thoả hiệp. Bởi vậy, giai cấp công nhân cần phải vừa đoàn kết với họ, vừa đấu tranh với họ để bảo vệ quyền lợi của công nhân. Có như vậy, giai cấp tư sản dân tộc mới phát triển được tác dụng cách mạng của họ, và phát triển kinh tế của họ.

Dù đặc điểm khác nhau, tác dụng khác nhau, song trong kháng chiến, trong cách mạng dân chủ mới, các giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, đều có lợi ích chung, mục đích chung, cần phải đoàn kết lại thành mặt trận dân tộc thống nhất mạnh mẽ, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và chính đảng của giai cấp ấy tức là Đảng Lao động Việt Nam. Như thế, thì kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công.

cpv.org.vn

16. Cách mạng và kháng chiến

Trước đây Việt Nam ta là một nước thuộc địa và phong kiến. Cho nên cách mạng của ta là cách mạng dân tộc và dân chủ mới, tức là chống đế quốc, chống phong kiến. Rồi tiến dần đến chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng ta đã trường kỳ và gian khổ, mới đến thành công.

Nǎm 1917, cách mạng Nga thành công. Chủ nghĩa Mác – Lênin dần dần truyền đến nước ta. Chính đảng của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập nǎm 1930. Đảng ra sức tuyên truyền, tổ chức. Phong trào công nông bắt đầu tiến mạnh. Cách mạng Trung Quốc cũng ảnh hưởng rất lớn đến cách mạng ta.

Trải 15 nǎm đấu tranh gian khổ, bị đế quốc và phong kiến khủng bố, giết chóc, tù đầy, nhưng Đảng Cộng sản chẳng những không bị tiêu diệt, mà lại được thử thách dùi mài, càng ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Nǎm 1939, Thế giới chiến tranh lần thứ hai nổ bùng. Nǎm 1945, Liên Xô đánh thắng phát xít Đức và Nhật. Nhờ đó, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, nổi lên cách mạng, tranh lấy chính quyền, lập thành Nhà nước dân chủ cộng hoà.

Nhưng đế quốc Pháp – Mỹ muốn cướp nước ta. Đồng minh của chúng là địa chủ phong kiến muốn bán nước ta. Cho nên ta phải kháng chiến cứu nước.

Nǎm 1945, Đảng còn nhỏ, Việt Minh còn yếu, song nhờ sức đoàn kết của nhân dân, mà cách mạng ta thắng lợi.

Ngày nay, ta có chính quyền nhân dân mạnh mẽ, có Mặt trận dân tộc vững chắc, có Quân đội nhân dân hùng mạnh. Có Đảng Lao động tiếp tục truyền thống anh dũng của Đảng Cộng sản Đông Dương, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, kinh qua những cuộc chỉnh Đảng, chỉnh phong làm cho tổ chức và tư tưởng của Đảng thêm mạnh mẽ và trong sạch. Nhân dân ta ngày thêm đoàn kết chặt chẽ. Đó là những điều kiện làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi.

cpv.org.vn

17. Chế độ Nhà nước dân chủ cộng hoà

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đánh đổ nền thống trị tối tǎm của đế quốc và phong kiến, đã đưa nhân dân ta lên con đường sáng sủa, vẻ vang. Nhà nước ta đã thành nhà nước của nhân dân.

Nhà nước là gì? Trải mấy muôn nǎm, xã hội cộng sản nguyên thuỷ không có chế độ tư hữu, không có sự bóc lột, không có giai cấp, thì không có nhà nước.

Từ khi có chế độ tư hữu, người giàu thành giai cấp bóc lột, người nghèo thành giai cấp bị bóc lột. Giai cấp người giàu xây dựng bộ máy thống trị gồm có chính phủ, quân đội, toà án, cảnh sát, v.v.. Bộ máy ấy gọi là nhà nước để thống trị giai cấp bị bóc lột. Nhà nước phong kiến là công cụ của địa chủ để thống trị nông dân. Nhà nước tư bản là công cụ của giai cấp tư sản để thống trị giai cấp công nhân.

Song từ cách mạng Nga thành công, một xã hội mới ra đời, nhà nước đã trở nên công cụ thống trị của nhân dân lao động.

Nhà nước ta cũng là nhà nước của đại đa số nhân dân, để thống trị thiểu số phản động, để giữ gìn lợi ích của nhân dân, bằng cách dân chủ chuyên chính của nhân dân.

cpv.org.vn

Cụ Hồ – tướng Giáp trong mắt “người phụ nữ Mỹ duy nhất hiểu VN”

 – Tôi gặp bà  vào một buổi chiều trung tuần tháng 8. Nữ  nhà văn Lady Borton – “người phụ  nữ Mỹ duy nhất hiểu Việt Nam một cách cặn kẽ”.

Bà bận một chiếc áo hoa cũ  cộc tay, choàng một chiếc khăn tơ tằm thô và đón tôi bằng một cử chỉ thân thiện, một câu tiếng Việt “chào em”. Sự mở đầu này làm tôi phấn chấn rất nhiều cho buổi trò chuyện với bà.

Lịch sử  sống trong những hồi ức

Bà  đã viết cuốn “Những người thuyền nhân” (1984) – về những người di tản Việt Nam qua đường biển và “Tiếp sau nỗi buồn” (1995) – về những phụ nữ Việt Nam trong và sau hai cuộc chiến tranh. Bà đã rất nổi tiếng trên diễn đàn văn học thế giới với hai quyển sách này. Phải chăng vì hai cuốn sách đó mà bà được biết đến với tư cách “người phụ nữ Mỹ duy nhất hiểu Việt Nam”?

Cụ Hồ trao quyền cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệuHồ Chủ tịch giao nhiệm vụ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu

Tôi hoàn toàn không có mơ  ước hay dự định trở thành nhà nghiên cứu lịch sử. Nhưng tôi rất yêu thích lịch sử. Cách mạng Việt Nam rất mới và những nhân vật lịch sử  còn sống vẫn nhiều. Tôi rất quý những người như thế. Không cần đọc sách, chỉ cần nghe họ kể.

Bà  có thể chia sẻ  về hành trình tìm kiếm và  kiểm chứng sự thật qua những hồi  ức bà được nghe?

Tôi đã gắn bó với Việt Nam hơn 40 năm. Đã có những người bạn Việt thân thiết từng chứng kiến và tham gia những sự kiện lịch sử. Như về ngày Cách mạng tháng 8, ngày Quốc khánh 2/9. Chị bạn tôi đã kể cho tôi những ký ức được gặp Cụ Hồ từ năm chị 10 tuổi.

Đó là ngày Quốc Khánh 2/9/1945. Cụ đọc Tuyên ngôn độc lập. Chị kể cho tôi là chị và bố đi dọn dẹp đường phố. Tôi mới băn khoăn hỏi tại sao mẹ đâu mà lại là bố. Chị nói mẹ ở nhà thắp hương.

Thế là tôi biết thêm chi tiết, ngày đó, mỗi gia đình đều có người ở nhà dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ, treo đèn và thắp hương cúng ông bà, thông báo nước nhà độc lập.

Những hồi ức sống thật quý và quan trọng, song sự thật lịch sử cần nhiều hơn thế?

Có một câu chuyện khác từ chị bạn tôi kể. Chị được tới dự một hội nghị có Cụ Hồ. Chị ngồi ở  hàng cuối cùng. Cụ đến, đọc diễn văn, rồi bỏ  kính ra nói chuyện. Rồi Cụ đi xuống dưới, gần hàng ghế của chị ấy và ngồi vào một cái ghế trống.

Cụ Hồ luôn muốn gần dân nên việc Cụ xuống ngồi thì chắc chắn không sai rồi. Nhưng tôi cũng nghĩ, một cuộc gặp gỡ với Cụ Chủ tịch thì không thể có một ghế trống. Tôi nói điều ấy với chị ấy và chị ấy công nhận  rằng: đúng, không bao giờ có cuộc gặp Hồ Chí Minh mà lại trống chỗ ngồi cả.

Nhưng việc chuẩn bị ấy chị không biết. Có thể có cán bộ đã lấy ghế cho Cụ mà chị không biết. Qua đó tôi đã biết thêm một phần nữa của lịch sử, một phần về Cụ. Nhờ những tư liệu đó tôi đã viết cuốn:  “Hồ Chí Minh một chặng đường”.

Được biết ngoài viết sách về Việt Nam, bà cũng có dịch một số tác phẩm?

Tôi có dịch “Nhật ký  Đặng Thuỳ Trâm”, “Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử”…, Năm 2004, tôi dịch cuốn sách “Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử”. Có nhiều điểm tôi không hiểu. Để giải đáp những thắc mắc, tôi đã may mắn được gặp ông Hồng Cư – người viết cuốn: “Võ Nguyên Giáp thời trẻ”.

Tôi biết đây là một cuốn sách quan trọng, viết về một nhân vật đặc biệt. Tác giả cuốn sách là một người rất thân thiết với gia đình cũng như với ông Giáp lâu năm và viết rất công phu, tỉ mỉ.

“Tướng Giáp hiểu người Pháp một cách sâu sắc”

Chị cảm nhận như thế nào về  tướng Giáp của chúng tôi?

Với người nước ngoài, người Việt Nam đầu tiên mà họ biết là Hồ Chí Minh sau là đến Võ Nguyên Giáp. Ông Giáp giỏi lắm. Khi còn nhỏ ông Giáp học chữ Nho với bố. Đến giờ ông vẫn nhớ những câu thơ trong bộ sách “Tam tự kinh và “Ấu học tân thư” (xuất bản dưới thời vua Duy Tân)

Nữ  nhà văn Lady Borton. Ảnh: TG

Năm mười hai, mười ba tuổi, ông học trung học ở Quốc học Huế. Khi cụ Phan Bội Châu về nước, học trò thường đến, trong đó có ông Giáp. Nhiều sách nước ngoài viết rất khác về lãnh đạo, về kháng chiến Việt Nam. Họ cho rằng ông Giáp chưa bao giờ bị bắt nhưng họ đã sai. Ông Giáp đã bị bắt ở Huế.

Theo quan sát của bà  vì sao tướng Giáp và  nhân dân Việt Nam chiến thắng Điện Biên, chiến thắng thực dân Pháp?

Nếu không có chiến tranh thì ông Giáp có lẽ trước hết sẽ là nhà báo. Ông có nhiều bài viết và biên tập bài viết in bằng tiếng Pháp khi giữ chuyên mục “Thế giới thời đàm” của tờ báo Tiếng Dân. Ông đọc và nghiên cứu về các vấn đề kinh tế, chính trị khắp thế giới.

Lúc học đại học ở Hà Nội ông học Luật, sau đó là nhà giáo dạy lịch sử. Ông đã đọc rất nhiều lịch sử các nước thuộc địa Đông Dương và thế giới. Nhất là lịch sử Pháp, nhân vật lịch sử Napoleon. Tôi đã sang thư viện Bộ Quốc phòng Pháp và thư viện Bộ Quốc phòng thuộc địa của Pháp một tháng. Đọc nhiều tài liệu và cũng sao chụp được nhiều thông tin hoạt động này của ông Giáp.

Ông Giáp có một quyển sách thống kê giới thiệu tất cả các tướng của Napoleon đấy. Có lẽ người Pháp lúc đó không ngờ một người nước thuộc địa lại có thể hiểu về nước Pháp đến thế. Chính vì thế họ đã thất bại trong trận chiến với ông Giáp, với nhân dân Việt Nam.

Ông ấy hiểu người Pháp, lịch sử, tâm lý, cách quản lý, tổ chức của người Pháp rất sâu sắc. Nên chiến thắng của Việt Nam là chiến thắng của trí tuệ và toàn dân.

Tôi  đang dịch “Vừa đi đường vừa kể chuyện”

Vâng, mặc dù  không trải qua những năm chiến tranh, nhưng từ  trong tâm thức của tôi – một người của thế  hệ trẻ thời bình: Ông Giáp là một thần tượng khả  kính, tôn sùng và mến yêu. Giờ đây mỗi khi nhìn thấy ông trên truyền thông tôi cảm thấy rất xúc động và lo lắng vì ông đang ngày một già đi và gầy hơn. Bà có còn biết thêm điều gì đặc biệt về tướng Giáp của chúng tôi không?

Ông Giáp không phải là không có thất bại đâu nhé. Ai nghĩ đến ông Giáp cũng chỉ nghĩ đến những thắng lợi mà thôi. Nhưng có đấy, năm 12 tuổi ông đã mơ ước học Quốc học Huế và tin rằng việc thi vào đó cũng đơn giản.

Vì ông là học trò đứng đầu lớp, đầu huyện, đầu tỉnh Quảng Bình lúc đó. Nhưng ông đã thất bại năm thi đầu tiên. Ông không biết vì sao. Cụ thân sinh ông chắc là người buồn nhiều nhất. Ông Giáp đã mất một năm để học và thi lại.

Có lẽ ông ấy đã rút ra một bài học là lúc nào cũng nghĩ mình giỏi quá thì thất bại. Chi tiết này nhỏ bé nhưng rất xúc động. Ông Giáp là người như thế, linh động, biến hoá và nhìn vào hoàn cảnh để thay đổi. Chính vì thế trong những trận chiến ông đã thay đổi chiến lược, chiến thuật rất nhanh.

Công việc hiện nay của bà  là gì?

Một tuần một hai buổi tôi tới tạp chí Cửa sổ văn hoá của NXB Thế Giới làm công việc của một người biên tập tiếng Anh chính. Tôi đang dịch cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuốn “Từ nhân dân mà ra” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; “Tây Nguyên ngày ấy” của bác sĩ Lê Cao Đài, một nhà nghiên cứu chất độc hoá học Dioxin. Đây là những tác phẩm hay và viết rất chi tiết thời điểm lịch sử mà người nước ngoài không biết.

Người ta vẫn thường nói, một người không thể làm tốt  được nhiều việc cùng một lúc. Nhưng nghiệm  điều này vào bà có lẽ không phù  hợp. Trong bà là con người nhà văn, nhà hoạt động xã hội, nghiên cứu lịch sử, văn hoá Việt Nam và dịch giả. Bà làm việc không mệt mỏi và gặt hái nhiều thành công. Chúc bà thật nhiều sức khoẻ để tiếp tục những kế hoạch của mình!

-Xin cảm ơn bà!

Lady Borton sinh năm 1942 tại Washington. Bà  học rất nhiều trường đại học như  Hawaii, Mount Holyoke, Pennylvania, Temple, Ohio, Goddard…

Trước giải phóng Sài Gòn – đầu năm 1975, bà đã đưa phái đoàn giáo dục Mỹ đầu tiên đến Hà Nội. Ngoài những cuốn sách đã viết và dịch về Việt Nam, bà đang hoàn thiện rất nhiều tác phẩm dịch khác từ tiếng Việt sang tiếng Anh.

Minh Anh (thực hiện)
bee.net.vn

Chính phủ 1945 của Cụ Hồ bắt đầu từ đâu?

– Được thành lập trong “một cái nháy mắt của lịch sử”, chính quyền Việt Nam non trẻ đã đứng vững trong cuộc đối chọi được với quân Tàu Tưởng ở miền Bắc, quân Anh – Pháp ở miền Nam. Đó cũng là nhờ những tinh hoa nước Việt đã theo Cụ Hồ gánh vác những trọng trách trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc.

“Trí thức hoá” nội các

Điều hành guồng máy Đảng giành và giữ chính quyền trong thế “đơn thương độc mã” (essentially alone – chữ dùng của học giả David Marr – chưa nhận được ủng hộ từ khối Xô viết) là Ban thường vụ Trung ương bốn người, do Cụ Hồ đứng đầu. Ba uỷ viên Thường vụ còn lại là Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Võ Nguyên Giáp lại chính là nòng cốt của “nhóm Le Travail”, nổi tiếng thời kỳ Mặt trận bình dân 1936 – 1939 vì tờ báo cách mạng tiếng Pháp cùng tên.

Một số thành viên nữa của nhóm Le Travail, như Đặng Thai Mai, Khuất Duy Tiến, Phan Anh… dưới bàn tay dụng nhân của Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện trong thành phần nội các ở những thời điểm khác trong năm đầu của nền dân chủ cộng hoà này.

Đêm đầu tiên của ông Ké Tân Trào – Hồ Chí Minh ở Hà Nội 25 tháng 8, một danh sách nội các đã đợi Người trên bàn. Danh sách này đã đăng trên tờ Cứu quốc, ra ngày hôm trước. Nhưng, Cụ Hồ đã không ngại ngần “rút” khỏi đó năm lãnh tụ cộng sản, thay vào đó là các nhân sĩ nổi tiếng. Thêế là trong số 15 bộ trưởng, chỉ còn 6 người là đảng viên CSĐD.

Trường Thăng Long… “đào tạo” Bộ trưởng?

Trong ảnh chụp chính phủ ra mắt đầu tiên, dân chúng thấy có ba thầy giáo trường Thăng Long: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hoè, Hoàng Minh Giám. Đây là những những đại diện nòng cốt của khối giáo viên và học sinh trường Thăng Long mà tuyệt đại đa số đã đi theo cách mạng từ trước đó, thời tiền khởi nghĩa. Người dân sẽ nhận thấy thầy Nguyễn Dương làm Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam (từ tháng 2/1946); thầy Trịnh Văn Bính Thứ trưởng Bộ Tài chính (từ 11/1946), thầy Vũ Bội Liên (con tuần phủ thời) cán bộ Bộ Tư pháp, hy sinh ngay từ đầu kháng chiến chống Pháp…

Chính phủ lâm thời nước VNDCCHChính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Mái trường Thăng Long từng âm thầm chứng kiến sự ra đời và lớn mạnh của nhóm Le Travail trẻ (JC: Jeunese communiste), Đoàn thanh niên dân chủ, Đoàn thanh niên phản đế, Đoàn thanh niên cứu quốc… trong từng bước đi tới cách mạng tháng Tám. Nay nhiều cựu học sinh Thăng Long sẽ giúp tạo trụ cột của chính quyền mới, vào các ngành Nội vụ, Tư pháp, Cảnh sát, Thuế quan, quân đội… Báo Cứu quốc (15/10/46) báo tin Lý Chính Thắng bị Pháp giết dã man. Một cựu học sinh Thăng Long khác, Lê Trung Toản, chỉ huy Trung đoàn Thủ đô phòng thủ Hà Nội cuối 1946…

Tài đức “dành trợ dân này”

Một nhà đại trí thức gần gũi với nhóm trí thức Thăng Long là Nguyễn Văn Tố, Hội trưởng Hội truyền bá Quốc Ngữ, cũng được mời vào nội các. Đó là vị bộ trưởng đầu tiên, Chủ tịch quốc hội đầu tiên của Việt Nam, hy sinh trong kháng chiến.

Từ đầu năm 1946, chính phủ Cụ Hồ được bổ sung thêm các trí thức Việt Minh Nam Bộ, để Chính phủ có thể điều hành cả một nửa kia của “sơn hà nguy biến”. Những tên tuổi Ca Văn Thỉnh, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu… đã lập tức hoà vào guồng máy việc công ở Hà Nội, chống thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

…Một ngày giữa năm 1946, ông Võ Nguyên Giáp ghi vào kế hoạch công tác “(Nhớ) hỏi anh Bửu những người tài”.

Tạ Quang Bửu từng tu nghiệp ở các Đại học Sorbonne, Paris, Bordeaux, Oxford.

“Thanh niên tiền tuyến” thành tướng lĩnh cách mạng

Đồng Tổng Hướng đạo sinh Đông Dương Tạ Quang Bửu và Bộ trưởng Thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Phan Anh lập ra trường Thanh niên tiền tuyến vào tháng 5/1945. Không hẹn mà nên, cùng lúc với Trường quân chính kháng Nhật huấn luyện cán bộ quân sự cách mạng.

Trưa 21 tháng 8/1945 hai học viên Trường Thanh niên tiền tuyến, trước mắt hàng ngàn dân Kinh đô Huế, đã hạ cờ quẻ ly của triều Nguyễn, treo cờ đỏ sao vàng lên Kỳ đài tại Ngọ Môn, như hồi chuông đầu “nguyện hồn” nền quân chủ một ngàn năm. Đó là các ông Đặng Văn Việt, ba năm sau sẽ khét tiếng là “Hùm xám trên đường số 4”, Cao Pha – một cán bộ quân báo đầu tiên, một anh hùng Điện Biên Phủ.

Những người lãnh đạo Thanh niên Tiền tuyến từ đầu đã để cho Việt Minh thâm nhập vào tổ chức của họ. Kết quả Cụ Hồ có thêm những chỉ huy quân sự đầu tiên xuất thân từ tầng lớp trên. Người dân đau đớn nghe tin con trai học giả Lê Thước, Lê Thiệu Huy – tham mưu trưởng liên quân Việt Lào đã hy sinh 26/3/46, khi tháp tùng Hoàng thân Souphanouvong. Nếu lực lượng học viên Iunker lập ra Bạch vệ, quyết liệt chống chính quyền xô viết, thì nhiều học sinh sĩ quan Trường “Thanh niên tiền tuyến” lại trở thành những tướng lĩnh cách mạng thông thái mà dày dạn trận mạc, như Cao Văn Khánh, Mai Xuân Tần, Đoàn Huyên, Phan Hạo, Tôn Thất Hoàng…

Một đồng Tổng Hướng đạo sinh nữa là nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý. Ngay sau Lễ tuyên ngôn Độc lập, ông được Hồ Chí Minh triệu tập để thành lập ra binh chủng đầu tiên của Quân đội Việt Nam – Thông tin Liên lạc. Một sĩ quan tham mưu đầu tiên, ông Trần Trọng Trung, nhớ mãi hình ảnh các đội mô tô đeo thẻ bài “Hoả tốc”, phóng xuống các vùng nông thôn xa chuyển phát các công văn mật, khẩn cấp của việc quân. Họ do một trí thức ngoài Đảng, ông Phạm Thành Vinh, lúc đó là Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, chỉ huy.

Tướng tình báo do phương Tây đào tạo

Năm 1950, giới thiệu Hoàng Đạo Thuý, tư lệnh thông tin, với tướng Trần Canh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho vị cố vấn Trung quốc này “choáng”. “Đồng tử quân (Hướng đạo sinh) phục vụ thông tin cho chiến dịch ư?” Trần Canh hỏi lại, vì Đồng tử quân ở Trung Quốc là lực lượng phản cách mạng. “Nhà chú” (Trung Quốc) không hiểu nổi đâu. Đây là Đồng tử quân Việt Nam mà”, Cụ Hồ đáp.

Lãnh đạo chủ chốt của công an, tình báo, an ninh đầu tiên của Việt Nam là do… tình báo phương Tây đào tạo. Khoảng năm 1944 Lực lượng nhiệm SOE của Anh, có “sáng kiến” đào tạo các tù cộng sản Việt Nam, bị Pháp giam ở hải ngoại, để tung vào hậu phương phát xít Nhật. Một số đảng viên đã tương kế tựu kế, dùng vỏ bọc này để mang vũ khí, khí tài, và nhất là kiến thức tình báo về phục vụ cách mạng.

Đó là các ông Lê Giản, phó giám đốc Sở Liêm phóng (Công an) Bắc Bộ đầu tiên; Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), trong ảnh Chính phủ liên hiệp kháng chiến 1946 là thứ trưởng Nội vụ; Nguyễn Văn Ngọc, Giám đốc Sở Trinh sát Trung Bộ đầu tiên; Trần Hiệu, phó Giám đốc Sở CA Bắc Bộ, Hoàng Đình Rong (Vũ Đức), chỉ huy quân sự hy sinh ở Nam Bộ đầu kháng chiến. Đây là hiện tượng vô song trong lịch sử, vì các tình báo viên do phía đối phương đào tạo thường không thể trở thành lãnh đạo chủ chốt về an ninh, tình báo…

Cách dùng người như thế chỉ thấy ở Hồ Chí Minh.

Bộ trưởng không lương, nhận phụ cấp “cơm chan nước mắm”

Tri thức, tình yêu nước và biết “ăn cơm nhà vác ngà voi” có lẽ là những điều kiện cần để trí thức trở thành thành viên của chính quyền đầu tiên của nước Việt Nam DCCH. Hồi ký của các bậc lão thành cho biết “bữa ăn cơ quan” năm 1946 chỉ có cơm chan nước mắm, mà cũng không đủ.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng Kinh tế đầu tiên, người Công giáo, nhớ lại trong những ngày nước sôi lửa bỏng 1946, Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh và Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp từng có những lần chạy ào qua nhà ông, xem “còn cơm nguội không”… Nhưng trong kế hoạch làm việc năm 1946 của lãnh đạo ngành Nội vụ và LLVT Võ Nguyên Giáp, đã đôi ba lần xuất hiện câu: “(Lo) phụ cấp cho nhân viên cơ quan”.

Lê Đỗ Huy
bee.net.vn

Bác Hồ và Phật giáo

 Xuất thân trong các cuộc vận động của Phật giáo (1963-1966), thời đi theo kháng chiến (1966-1975), tôi có nhiều dịp chuyển thư từ, hình ảnh của Hoà thượng Thích Đôn Hậu và bà con Phật tử tập kết ngoài miền Bắc vào cho các chùa và đồng bào theo Đạo Phật ở Huế.

Nhờ thế, sau ngày thống nhất đất nước (1975), nhiều lần tôi được các Sư bà Thích nữ Diệu Không, Sư bà Thích nữ Cát Tường, Sư cô Tịnh Giải (thế danh là Trương Thị Bích Vân) tiếp tại chùa Hồng Ân và chùa Kiều Đàm (Huế). Sư bà Cát Tường cho tôi chiếc xe Jeep của trường Mẫu giáo Kiều Đàm trước năm 1975.

Tôi không được dùng xe riêng nên đã chuyển cho anh Võ Đông – Trưởng phòng TTVH TP Huế sử dụng vào việc công. Chiếc xe ấy đã giúp nhiều việc cho phòng, mãi đến thời gian gần đây mới cho “giải nghiệp”.

aẢnh IE

Biết tôi là người rất lịch sử, thích chuyện cũ và thơ văn, Sư bà Thích nữ Diệu Không đã kể cho tôi nghe chuyện các gia đình Hồ Đắc – Cao Xuân của Sư bà quan hệ với gia đình Bác Hồ, chuyện Phật giáo cứu dân và đặc biệt chuyện Sư bà làm thơ Kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, thơ mừng Ngày thống nhất đất nước 30/4/1975.

1. Chuyện ông Tư Sinh

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi quan tâm ngay việc nghiên cứu Huế để giải toả những thắc mắc về lịch sử Huế mà suốt thời gian theo kháng chiến, tôi không tự trả lời cho mình được.

Một trong những thắc mắc đó là thời gian gần mười năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và học hành ở Huế. Nhờ có ý thức sớm như vậy, tôi đã may mắn gặp được những người bạn học, những “người cùng thời” với Bác ở Huế.

Một trong những “người cùng thời” đó là Sư bà Thích nữ Diệu Không. Sư bà không những là người cùng thời mà còn từng làm dâu trong gia đình Cao Xuân Nghệ An – gia đình có mối quan hệ sâu sắc với gia đình thân sinh của Bác.

Sư bà Diệu Không nhũ danh Hồ Thị Hạnh, ái nữ của cụ Thượng Hồ Đắc Trung, lúc chưa xuất gia là vợ ông Cao Xuân Xang (con trai thứ của cụ Cao Xuân Dục). Sư bà tiếp tôi trong phòng khách của chùa Kiều Đàm (Huế).
[…]

Sư bà kể:

-“Năm lên 10 tuổi, tôi theo thầy tôi là cụ Hồ Đắc Trung vào ở trong Bộ Học. Lúc ấy tôi mới học chữ Hán nên hễ thấy đâu có chữ Hán là để mắt đọc, đọc không hiểu thì hỏi. Bỗng tôi thấy trên tường vừa quét vôi trắng có chừa một khoảng tường cũ ám khói.

Trong khoảng ấy có ghi một câu cách ngôn bằng chữ Hán nét chữ đã cũ nhưng rất đẹp. Tôi đọc lõm bõm được vài chữ những không hiểu hết ý nghĩa nên hỏi thầy tôi. Thầy tôi đáp:

-“Nghe nói trước đây, gian phòng này dành cho ông Tư Sinh ở. Ông hay đặt cách ngôn và viết lên vách để dạy con. Ông viết nhiều lắm nhưng thợ bên Bộ Công qua sửa nhà bôi hết. Còn câu ấy chữ đẹp và có ý nghĩa răn dạy con cái rất tốt nên thầy truyền cho thợ phải để lại.”

Bà kể tiếp:

– “Sau đó, thầy tôi không làm ở Bộ Học nữa. Tôi lớn lên, lấy chồng là ông Cao Xuân Xang – con trai cụ Cao Xuân Dục – bạn với thầy tôi (1). Nhớ chuyện cũ, có lần tôi hỏi nhà tôi:

– “Anh có biết ông Tư Sinh đã từng ở trong Bộ Học – nơi anh ở trước đây không?”

Ông nhà tôi đáp:

– “Biết rõ. Ông Tư Sinh là người cùng quê Nghệ An với mình, năm Ất mùi (1895) ông có nhận học điền của họ Cao Xuân (Diễn Châu) để vào Kinh thi Hội, đi một lần với anh Cả (2). Nhưng khoa đó ông không đậu. Cho mãi đến khoa Tân Sửu (1901), ông mới đỗ Phó bảng. Sau này, con ông là Nguyễn Sinh Côn, học sinh trường Đông Ba và trường Quốc Học cũng được họ Cao Xuân cấp học điền. Gia đình ông Phó bảng có nhiều ân nghĩa với gia đình mình”.

Tôi (Sư bà Diệu Không) có cái tính hay hỏi nên hôm đó đã hỏi ông nhà tôi: “Ai là người Nghệ có chí học hành thì được họ Cao Xuân cấp học điền, chứ có riêng chi cha con ông Tư Sinh mà anh nói nhiều ơn nghĩa?”. Ông nhà tôi không muốn kể nhưng biết tính tôi cứ đeo hỏi nếu chưa được trả lời đầy đủ.

Để khỏi bị “quấy rầy”, ông đã giải thích tiếp: “Năm ấy, ông mình (3) đang chuẩn bị thành lập Bộ Học cho Triều đình thì một hôm, ông Phó bảng từ Nghệ An vào thăm ông.

Ông hỏi Phó bảng: “Chú Bảng vào Kinh làm chi?”

Ông Phó bảng đáp: “Xin thú thật với cụ, từ ngày mẹ các cháu mất, tôi phải nuôi dạy các cháu một mình. Nuôi dạy và thương yêu các cháu cũng là một cách làm vừa lòng mẹ các cháu dưới suối vàng. Tôi không rõ các cháu nghe ai xúi giục, các cháu muốn học chữ Tây. Ngoài quê mình ngặt một điều không có ai dạy và cũng chẳng ai trọng nể việc học chữ Tây, nên tôi phải vào Kinh”.

Ông cười rồi vặn hỏi ông Bảng: “Thế chú có biết dưới mắt người Tây, những người đỗ đại khoa như chú mà không làm quan thì làm chi không?” – Ông Phó bảng ngẫm nghĩ mãi mà vẫn không tìm được câu trả lời.

Ông mới nói tiếp: “Không làm quan thì làm giặc đó. Đời nào người Tây để cho chú yên để dạy con ở giữa chốn Kinh kỳ này”.

Ông Bảng lo lắng: “Thế cụ bảo cháu phải làm gì?” Ông dạy: “Chú phải làm quan”. Ông Phó bảng phân trần: “Cái đời làm quan vào lòn ra cúi, cháu không muốn!”. Ông bảo: “Thế thì chú không ở đây được”. Ông Bảng van nài: “Thế thì cụ cho cháu một chức quan mà chẳng ai thèm làm để cháu được ở đây!”.

Thế là ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy được bổ làm Tư vụ Học chánh (tùng bát phẩm 7-2) và được đến ở ngay trong nhà của Bộ. Ông Bảng làm Tư vụ nhưng chẳng mấy khi ông chịu làm việc. Suốt ngày ông uống rượu, ngâm thơ và đặt cách ngôn viết lên vách dạy con cái thôi. Quan lại và nhân viên chung quanh ông rất khó chịu trước thái độ của ông. Sở dĩ không ai dám nói ra điều gì vì họ nể ông.

Về sau ông Phan Châu Trinh đi hoạt động cách mạng, bỏ trống chức Thừa biện ở Bộ Lễ lâu ngày, ông Bảng bị chuyển sang điền khuyết. Từ đó ông được Triều đình cấp cho một gian nhà ở dãy trại đường Đông Ba”.

Chuyện kể của Sư bà đã giúp tôi thông tin để viết về chuyện cụ Nguyễn Sinh Huy vào Huế làm quan. Thông tin này chưa từng được phát hiện nên tôi đã phải ghi chép xong rồi đem đọc lại cho Sư bà nghe. Sư bà sửa chữa nhiều lần rồi tôi mới dám đưa vào cuốn sách Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế (Nxb Văn Học tái bản năm 2003).

2. Phật giáo cứu dân

Và Sư bà cũng kể những hoạt động của Phật tử Sài Gòn trước và sau ngày 30/4/1975 để tôi viết báo.

Sư bà dạy tôi:“Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!

Tôi rất thấm thía lời dạy của Sư bà. Đây không phải là một lời nói, một khẩu hiệu suông mà cả một thực tế rất quý báu. Suốt những năm chiến tranh, sau các cuộc giao tranh diễn ra ở vùng nông thôn, nhiều xác cán bộ, bộ đội du kích cách mạng…không may nằm lại giữa ruộng đồng, dân chúng, và người thân của liệt sĩ ít người dám ra mặt nhận xác về chôn.

Gặp những tình huống như thế, các Khuôn hội Phật giáo chắp tay trước mọi hiểm nguy đứng ra đảm nhận việc chôn cất. Một số nơi còn dựng cả am miếu để thờ người chết trận. Sau chiến dịch Huế xuân 1968, nhiều người Huế bị chính quyền VNCH bắt giam vào lao Thừa Phủ vì bị tình nghi đã cộng tác với Mặt trận Giải phóng.

Đến ngày Rằm tháng bảy năm Mậu Thân (1968), Sư bà Diệu Không tổ chức ngày “Xá tội vong nhân”, đứng ra xin Chính quyền VNCH trả tự do cho hàng trăm tù chính trị chưa xác định được “tội danh” – một trong những người được trả tự do năm ấy là anh Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nếu không được Sư bà “cứu” thì địch đã phát hiện ra Hoàng Phủ Ngọc Phan  một người Cộng sản thứ thiệt ở Huế, và chắc chắn không làm gì còn có nhà báo viết chuyện cười Hoàng Thiếu Phủ sau này. Và, anh của Phan là Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi – ba anh em cùng thoát ly và cùng hoạt động ở chiến khu Huế – khó lòng được yên ổn để đi cho đến tận cùng cuộc kháng chiến cứu nước.

Thời gian cuối tháng 4/1975, Sư bà Diệu Không đang ở Sài Gòn. Ngày nào Phật tử cũng đem đến cho Sư bà những tin tức chiến sự nghe được qua các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội, BBC, VOA…

Sau khi nghe tin vùng cao nguyên và các tỉnh dọc bờ biển miền Trung phần từ Huế vô đến Xuân Lộc đã được giải phóng, đêm 29/4, sân bay Tân Sơn Nhất lại bị pháo kích dữ dội, Sư bà nghĩ thế nào ngày mai Quân giải phóng cũng vào đến Sài Gòn.

Trưa ngày 30/4/1975, Sư bà cho tổ chức các xe phóng thanh chạy khắp thành phố kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng. Tại Đại học Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ), thanh niên sinh viên Phật tử đeo băng xanh đỏ thiết lập trạm tiếp nhận súng ống bên cạnh các xe tải cắm cờ Ngũ sắc của Phật giáo.

Những binh lính ở xa nhà, lỡ đường có thể vào tá túc trong các chùa Phật. Bà vận động các chùa nấu cơm tiếp tế cho dân chúng đang tham gia công tác trên các đường phố và binh lính Sài Gòn vừa giải giáp. Những việc này chưa hề được ghi lại trong trang sử Giải phóng Sài Gòn 30/4/1975.

Tôi hỏi cảm tưởng của Sư bà trước sự kiện 30/4/1975, Sư bà trả lời bằng một bài thơ ngắn nói về công ơn Hồ Chủ tịch :

Tặng Việt Nam Độc lập

Trăm tám năm rồi mới thấy đây,
Tên Người vang dội cả thời nay.
Non sông là vợ bao tình nghĩa,
Cha của con dân nước Việt nầy.

3. Thơ kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài Ba lần được gặp Cụ Hồ của Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi), đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao.

Bà Tâm Hải bảo tôi: “Sư bà Thích nữ Diệu Không” rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp bà và đề nghị bà viết cho một bài”.

Tôi thực hiện ý kiến của bà Tâm Hải ngay. Nhưng lúc Sư bà Diệu Không lại đi Thành phố Hồ Chí Minh nên chuyện “xin bài” của Sư bà chưa thành. Sau này có dịp lên thăm Sư bà ở chùa Hồng Ân, tôi kể lại chuyện cũ, Sư bà rất tiếc.

Để chứng tỏ gợi ý của bà Tâm Hải là đúng, Sư bà Diệu Không đứng dậy mở tủ lục trong cặp tư liệu lấy đưa cho tôi bài thơ Kỷ niệm Hồ Chủ tịch 3 khổ, đánh máy trên nửa trang giấy Ronéo vàng rộm và một chùm thơ đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng. Chùm thơ 16 bài vừa sáng tác vừa dịch, mang tựa đề Thăng Long ký sự. 

Kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Giải phóng quê hương khỏi đọa đày
Chí Người như núi vững không lay.
Tình người như nước lan tràn cả,
Kỷ niệm người như một bậc Thầy.
Bậc Thầy cao cả của non sông
Cùng với Thuyền Sư đôi điểm đồng
Cách mạng tình người về nẻo chánh,
Phá vòng nô lệ thoát lao lung.
Lao lung vì chẳng rõ đường ra,
Dẹp hết ma tâm, sạch giống tà.
Cần kiệm thanh cao nuôi chí lớn,
Lòng thành trong sạch nước Nam ta.

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác bài thơ này. Theo văn cảnh và ý tứ trong thơ, có lẽ Sư bà đã sáng tác bài Kỷ niệm Hồ Chủ tịch ngay trong những ngày vui đất nước được giải phóng và thống nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1975.

Đối với chùm thơ Thăng Long ký sự, Sư bà ghi rõ thời gian sáng tác “Mùa thu Bính Thìn 1976”, trong dịp Sư bà đi thăm miền Bắc. Trong 16 bài trong Thăng Long ký sự có hai bài thơ dịch: Bài Cảm thời  của Nguyễn Trãi do cụ Cao Xuân Huy (Giáo sư Bác Cổ Hà Nội) sao lục và bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch do cán bộ Phật giáo Vũ Ngọc Hồng sao lục tặng Bà. Xin trích bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch

Sơn trung tiều phu xướng
Thủy thượng khách thuyền quy.
Như thi trung họa họa
Trung thi kỳ họa thi             

Thích nữ Diệu Không dịch,

Chú tiều trong núi hát
Khách Thuyền trên sông về.
Như thơ trong bức vẽ
Bức vẽ trong lời thi

(Mùa thu Bính Thìn 1976).

Trong chuyến đi thăm Thăng Long Hà Nội cuối năm 1976 ấy, bà đã đến viếng nhiều cảnh, nhiều người như Thăm chùa xưa, Thăm tháp Quảng Đức (chùa Hòa Giai Hà Nội), Thăm tháp Bổn Sư Hồ Chủ tịch, Thăm trường Quảng Bá, Đêm thu trên Hồ Tây, Đi thăm mộ.v.v. và đặc biệt, xin trích bài Sư bà đi:

Thăm lăng Hồ Chủ tịch
Dù người còn mất chẳng hề chi,
Thống nhất non sông mới lạ kỳ.
Bất diệt muôn đời đều nhớ rõ,
Những lời di chúc lúc ra đi.

Tâm và ý của Sư bà đối với Hồ Chủ tịch thể hiện đầy đủ trong thơ của Sư bà. Qua đó ta thấy tâm và ý của một Ni trưởng Phật giáo khác với tâm và ý của các nhà yêu nước khác, khác với các vị lãnh đạo cách mạng đối với Hồ Chủ tịch.

Sư bà là một trong những người biết gia đình Bác từ thuở ấu thơ. Sư bà không những viết về sự nghiệp cứu nước của Bác mà Sư bà cùng đồng hành hoạt động yêu nước, yêu dân với Bác. Tuy nhiên, Bác là người đứng đầu Cách mạng Việt Nam, Sư bà là một Ni trưởng của Phật giáo Việt Nam. Sư bà không phải là người của Bác.

Theo Sư bà, Bác Hồ có “đôi điểm đồng” với Phật giáo. Đôi điểm đồng đó là khát vọng “Giải phóng quê hương khỏi đọa đày”, là “Cách mạng tình người về nẻo chánh/ Phá vòng nô lệ thoát lao lung”. Cách mạng Việt Nam đã thỏa mãn được khát vọng của dân tộc. Bác Hồ trở thành “Bậc Thầy cao cả của non sông“. Dân tộc Việt Nam, trong đó đa số là Phật tử “muôn đời đều nhớ rõ” ơn Bác, ơn Cách mạng Việt Nam.

Gác Thọ Lộc (Huế), tháng 12/2007    
bee.net.vn

Chú thích:

1.Sư bà Diệu Không thế danh là Hồ Thị Hạnh,  sinh năm 1905 (có nơi ghi 1906) em gái út trong gia đình 9 anh chị em con của cụ Hồ Đắc Trung.

Năm 1930, cô Hạnh lập gia đình với Cử nhân Cao Xuân Xang, sinh được một người con trai (Cao Xuân Chuân), hương lửa chưa quá một năm thì phu quân của bà mất vì bệnh lao.

Từ đó, bà lao vào việc từ thiện xã hội, rồi gởi con cho chị nuôi, bà xuất gia đầu Phật với pháp hiệu Thích nữ Diệu Không. Sư bà đã thành lập nhiều chùa Sư nữ ở miền Nam VN, ba ngôi nổi tiếng nhất  Diệu Đức, Hồng Ân, Kiều Đàm ở Huế.

2.Tức Cao Xuân Tiếu (1865-1939)

3.Tức Cụ Cao Xuân Dục thân sinh của Cao Xuân Tiếu và Cao Xuân Xang.

18. Nhân dân dân chủ chuyên chính

Trước kia Việt Nam ta vẫn có Nhà nước và chính phủ. Song đó là công cụ của đế quốc và phong kiến để áp bức nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ta lập ra chính phủ mới, quân đội, công an, toà án, pháp luật mới của nhân dân để chống kẻ địch trong và ngoài, và để giữ gìn quyền lợi của nhân dân.

Nhà nước mới của ta và Nhà nước cũ, tính chất khác nhau.

Tính chất của một Nhà nước là: trong nhà nước ấy, giai cấp nào thống trị, giai cấp nào bị thống trị. Nhà nước ấy bảo vệ lợi ích của giai cấp nào, đàn áp giai cấp nào.

Nhà nước cũ nằm trong tay đế quốc và phong kiến, tính chất nó là đế quốc và phong kiến, là phản động.

Nhà nước ta ngày nay là nằm trong tay nhân dân chống đế quốc và phong kiến. Tính chất nó là nhân dân dân chủ chuyên chính.

Nhân dân là: bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, các giai cấp ấy đoàn kết lại, bầu ra chính phủ của mình. Đối với nội bộ nhân dân thì thực hành dân chủ. Đối với đế quốc, phong kiến và lũ phản động, thì thực hành chuyên chính chống lại chúng, đàn áp chúng.

Trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân, tức là của các giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công nông liên minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong nước, để thực hành dân chủ chuyên chính.

cpv.org.vn