Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Gặp nhà báo nước ngoài cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Tôi gặp Marta Rojas, nữ nhà báo Cuba nổi tiếng tại khuôn viên của Đại sứ quán Việt Nam tại La Habana trong một buổi chiêu đãi. Đại sứ Phạm Tiến Tư giới thiệu: “Đây là một nhà báo từng sát cánh cùng quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong suốt 10 năm chiến tranh, từng gặp và phỏng vấn Bác Hồ”.

bac ho - dai bieu my la tinhBác Hồ gặp gỡ các đại biểu Châu Mỹ Latine. Ảnh : tư liệu

Hiện bà là Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba – Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập báo Gramma của Đảng Cộng sản Cuba. Đại sứ Tư tiết lộ, vào dịp mùng 2 tháng 9 này, nhân kỷ niệm 60 năm thành lập nước, chị Marta được Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị mời sang Việt Nam dự cuộc gặp mặt “Những người bạn quốc tế của Việt Nam”.

Hôm sau, chúng tôi đã được gặp lại bà tại trụ sở của Hội Hữu nghị Cuba với các nước. Việt Nam là một phần cuộc đời của Marta Rojas, người nữ phóng viên chiến trường từng viết và gửi về Cuba trên 300 bài báo về cuộc chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1965-1975.

Nhờ những bài báo bằng tiếng Tây Ban Nha của Marta, không riêng gì hơn chục triệu người Cuba mà các lực lượng tiến bộ khắp châu Mỹ Latine đã thấu hiểu, cảm phục, và đấu tranh, ủng hộ dân tộc Việt Nam kiên cường quả cảm.

Bà xúc động nói: “Việt Nam luôn ở trong trái tim tôi. Điều làm tôi xúc động nhất, ngoài việc được sống và viết về các chiến sỹ quân giải phóng trong rừng, chính là lần trực tiếp được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trong một cuộc phỏng vấn chỉ 2 tháng trước khi Người qua đời…”.

Năm 1959, khi Fidel tấn công trại lính Moncada, Marta vừa tốt nghiệp ĐH Báo chí. Cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài Batista thành công, Marta vào làm phóng viên tại tòa soạn báo cách mạng của Đảng Cộng sản Cuba.

Năm 1964, giữa lúc cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đang cam go quyết liệt, Marta đã chủ động tìm tới đại diện của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTGPMN) tại La Habana để xin tới Việt Nam viết báo.

Mấy ngày sau, đích thân Fidel gọi Marta lên và giao nhiệm vụ: “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã sẵn sàng đón tiếp, hãy lên đường ngay!”. Cùng đi sang Việt Nam với Marta còn có nam nhà báo Raul Valdes Vivo làm cho Báo Ngày Nay (cũng thuộc Đảng Cộng sản Cuba, sau này hai báo nhập làm một và lấy tên là Gramma).

Nhà báo Raul sau đó từng làm đại sứ Cuba tại Việt Nam trong một thời gian dài, về nước ông làm Trưởng ban Đối ngoại của Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, và hiện nay là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Giám đốc trường Đảng.

Marta và Raul tới Việt Nam qua đường Campuchia rồi luồn rừng vào Tây Ninh. Sáu tháng đầu tiên sống cùng các chiến sỹ quân giải phóng miền Nam, hàng loạt bài báo và bản thảo một cuốn sách đã được Marta liên tục gửi về nước. Nhờ đó, lần đầu tiên nhân dân Cuba và cả Châu Mỹ La tinh đã biết được những chi tiết sống động và chân thực nhất về cuộc chiến đấu kiên cường, mưu trí và dũng cảm của nhân dân Việt Nam.

 ma ta và ca chien si gp quanMarta và các chiến sỹ quân giải phóng tại miền Nam Việt Nam năm 1967 (Ảnh tư liệu)

            Suốt trong giai đoạn 1965 – 1975, cứ đều đặn mỗi năm 2 tháng, Marta lại có mặt tại chiến trường miền Nam để viết báo. Năm 1972 chị cũng đã có mặt tại Pháp để đưa tin về cuộc Hội đàm Pa-ri lịch sử.

Có ở Cuba những ngày tháng Tám lịch sử này, mới thấu hiểu tình cảm của tất thảy mọi người dân hòn đảo trong lành và xinh đẹp với Bác Hồ, với Việt Nam vẫn còn sâu đậm, thủy chung đến nhường nào.

Có một sự thực là, khi chúng tôi tới bất cứ đâu dọc theo chiều dài dải đất mang hình con cá sấu kiên cường cũng bắt gặp những lời nói, ánh mắt và nụ cười nồng ấm tràn đầy ngưỡng mộ về Bác Hồ, về Việt Nam của người dân Cuba.

Khi tôi hỏi về cuộc phỏng vấn Bác Hồ do chị thực hiện, Marta không giấu nổi xúc động, mắt rớm lệ đưa tay lên ngực rồi nói: “Đến giờ tôi vẫn giữ nguyên trong trái tim mình, nhớ như in từng chi tiết, không thể nào quên được!”.

Chị cho biết, đây là cuộc phỏng vấn cuối cùng của một nhà báo nước ngoài trước lúc Người đi xa, đó là vào một buổi sáng tháng 7 năm 1969, chị bồi hồi nhớ lại…

7h sáng, Bác mặc một bộ quần áo trắng giản dị ra tận cửa đón chúng tôi. Một điều hết sức bất ngờ là Bác đã chủ động chào tôi trước bằng tiếng Tây Ban Nha rất chuẩn, sau đó Người vui vẻ hỏi thăm sức khỏe của tôi, hỏi thăm sức khỏe của Fidel cũng bằng tiếng Tây Ban Nha. Ấn tượng đầu tiên trong lần đầu gặp Bác, đó là một con người vĩ đại song hết sức giản dị và lịch thiệp. Hôm ấy, Người đi một đôi dép quai hậu không tất…

Tôi đến với mục đích để phỏng vấn Bác, nhưng rốt cục Bác lại là người chủ động “phỏng vấn” tôi trước. Người nói, “Nào chúng ta hãy cùng nhau trò chuyện”.

Bác hỏi về cảm nhận của tôi khi chứng kiến trực tiếp cuộc sống và chiến đấu của bộ đội ra sao, rồi hỏi về tình hình dân chúng tại những nơi tôi đã đi qua kể từ sau chuyến đi đầu tiên vào năm 1965, nhất là thời gian ở Tây Ninh. Bác tiếp tôi tại ngôi nhà nhỏ gần Phủ Chủ tịch, Người đã dành một buổi nói chuyện dài với tôi và phần lớn thời gian là Người hỏi tôi.

Tôi có cảm nhận Người như một nhà hiền triết, một nhà cách mạng chân chính ham hiểu biết. Tôi hiểu Người đang muốn biết thêm thật nhiều về đời sống, tình cảm của dân chúng và các chiến sỹ thông qua một nhà báo nước ngoài như tôi.

Sau khi nghe tôi kể lại, Người xúc động nói: “Nỗi đau của nhân dân Việt Nam cũng chính là nỗi đau của tôi. Tôi dành cả cuộc đời mình cho nhân dân tôi”. Người mong muốn có một nước Việt Nam mười lần tươi đẹp hơn.

Sau này khi được đọc Di chúc của Bác, tôi nhận ra một số điều được viết trong di chúc cũng đã được Người nói với tôi hôm đó, nhưng bằng những lời lẽ giản dị hơn, tôi đã lắng nghe và viết lại trong một bài báo xuất bản vào năm 1969.

Tôi hỏi Người: “Dựa vào đâu mà Chủ tịch hoàn toàn tin tưởng vào thắng lợi trước một kẻ thù hùng mạnh về kỹ thuật, đang ra sức đã tàn phá làng mạc Việt Nam bằng bom đạn suốt ngày đêm như vậy? ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi tin vào sức mạnh và sự vĩ đại của nhân dân Việt Nam cùng sự đoàn kết ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới trong đó có nhân dân Cuba anh em.

Mỗi khi nhân dân Cuba từ bên kia bán cầu tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình thể hiện tình đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân chúng tôi, điều đó đã động viên chúng tôi rất nhiều, và nhất là những lời phát biểu của Chủ tịch Fidel Castro làm chúng tôi vô cùng cảm kích. Chúng tôi quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng”.

Người khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước chúng tôi sẽ còn gặp nhiều khó khăn và gian khổ, nhưng nhất định chúng tôi sẽ giành được thắng lợi!”.

Mục đích gặp để phỏng vấn Người, song Người đã chủ động giới thiệu tất cả về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội Việt Nam với tôi. Người nói, trước đây Người cũng từng làm báo.

Tôi nói lời chia tay với Người rằng “Tôi tin tưởng Việt Nam sẽ chiến thắng”, Người cũng nói “Nhân dân Việt Nam có quyết tâm chiến đấu đến cùng và nhất định sẽ thắng lợi!”.

Hai tháng sau, tôi sững sờ khi nghe tin Bác mất. Hồi đó, Việt Nam bị tàn phá khốc liệt. Tôi lại tiếp tục lên đường sang Việt Nam.

 nha bao ma taAnh Đoàn Văn Thái, Bí thư Trung ương Đoàn tới thăm và tặng quà nữ nhà báo Marta, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba – Việt Nam tại La Habana. Ảnh: Việt Hùng

            Tôi tò mò hỏi bà: “Là một phụ nữ nước ngoài, lặn lội sang Việt Nam đầy bom đạn như vậy, bà không sợ sao, động lực nào đã đưa bà tới Việt Nam?”. Marta nói ngay: “Người phụ nữ Việt Nam nhỏ bé, gian khổ như vậy mà vẫn kiên cường. Điều đó làm tôi vô cùng xúc động và đã giúp tôi vượt qua mọi khó khăn”.

Hồi mới sang, Marta sợ nhất ếch, đỉa và vắt, sợ hơn cả máy bay ném bom của Mỹ. Mỗi khi luồn rừng hay lội qua sông, suối thấy đỉa bám lên người mà các cô gái Việt Nam thản nhiên cầm vứt ra, người nữ phóng viên ngoại quốc tròn xoe mắt.

Marta kể, tôi thấy các chiến sỹ trẻ quân giải phóng bị vắt cắn rất nhiều, song họ chỉ lấy ra và để lại trên lá cây. Tôi hỏi vì sao không giết chúng đi? Họ hóm hỉnh trả lời: Đây cũng là vũ khí thiên nhiên để chống lại giặc Mỹ!

Một lần khác, chúng tôi nấp ở ven rừng cùng quân giải phóng nhìn ra đường thấy hai bà cụ cứ thỉnh thoảng lại nhặt một cái gì đó cho vào chiếc túi nhỏ. Tôi thấy lạ bèn hỏi các chiến sỹ đi cùng mới biết, lát nữa sẽ có 1 chiến sỹ nhận chiếc túi để biết đã có bao nhiêu lính Mỹ ngụy đi qua con đường này trong ngày vì 2 bà cụ không biết chữ.

Có chứng kiến tận nơi tôi mới thực sự hiểu sức mạnh chiến tranh toàn dân của người Việt Nam. Chính vì vậy tôi đã hiểu vì sao Bác Hồ lại tin tưởng vào nhân dân của mình, vào cuộc thắng lợi đến thế.

Được hỏi về sự mất mát của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh mà bà chứng kiến, Marta đã thực sự xúc động, giọng bà lạc đi khi kể cho tôi nghe về một vài chi tiết vẫn còn hằn trong ký ức bà: Đi cùng các đơn vị giải phóng quân, qua một đêm lại thấy thiếu đi vài gương mặt quen quen, hỏi được biết họ đã nằm lại đâu đó sau một trận chiến.

Đêm trước Mỹ ném bom Napal xuống một ngôi làng, tôi nhìn thấy ánh sáng rất lạ, không hiểu là cái gì. Sáng hôm sau tôi tới tận nơi thấy xác dân thường nằm la liệt vẫn còn phát sáng, khung cảnh thảm khốc khiến tôi vô cùng xúc động. Đường mòn Hồ Chí Minh chúng tôi đi qua bị rải chất độc da cam, mặc dù trời vừa mưa to, chạm vào lá cây mà da chúng tôi còn bị bỏng rộp…

Khi cầm bút viết những dòng này tôi chợt nhớ tới câu nhận xét của nữ nhà báo Cuba đầy kính trọng cũng là nhà báo nước ngoài cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ trong phần cuối câu chuyện của bà về chiến tranh Việt Nam: “Bất cứ lúc nào, nơi nào tôi cũng thấy nhân dân Việt Nam rất lạc quan, vẫn nhảy múa ca hát mặc cho bom rơi đạn nổ, vẫn trồng lúa, gặt hái bình thường trên mảnh đất có nền văn hiến hàng nghìn năm của mình, và cuối cùng họ đã chiến thắng”.

Theo Việt Hùng/vietbao.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Đốp ! Đốp! (3-8-1951)

Giặc Pháp và Việt gian bù nhìn huênh hoang tuyên truyền:

– Pháp cho Việt Nam độc lập thật sự rồi.

– Bù nhìn nắm cả ngoại giao nội chính rồi.

– Quân đội Pháp chỉ có mục đích giữ gìn quyền độc lập cho Việt Nam …

Vừa rồi, lũ bù nhìn bị giặc Pháp tát một cái đốp! Câu chuyện là thế này: Bù nhìn Bảo Đại mưu vay tiền Mỹ. Mỹ nhận lời. Hai bên định ngày 27-6 thì ký giấy.

Bù nhìn đã dọn dẹp nhà cửa, sắm sửa bánh trái, trưng bày cờ quạt, gửi giấy mời khách (Việt Nam và ngoại quốc). Chuẩn bị xong xuôi cả rồi. Đùng một cái Tátxinhi bảo: “Không! không cho phép ký, vì Tổng thống Pháp chưa chuẩn y”.

Thế là bù nhìn “xôi hỏng bỏng tay”.

Đó là một cái tát vào mặt lũ bù nhìn.

Đó cũng là một chứng cớ mâu thuẫn giữa thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ.

Đó lại là một tiếng chuông thức tỉnh số ít người Việt còn lừng chừng.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1875, ngày 3-8-1951.
cpv.org.vn

Công lý của Mỹ (6-8-1951)

Chính phủ phản động Mỹ vừa bỏ tù nhiều đảng viên cộng sản, vì “có tội” tuyên truyền cộng sản.

Song Chính phủ Mỹ đối với bọn có tội ǎn trộm, đánh cướp, buôn lậu, giết người, bắt cóc, tống tiền, thì thế nào?

Hôm 1-5-1951, ủy ban điều tra của Thượng nghị viện Mỹ vừa ra một bản báo cáo dầy 200 trang về vấn đề này và kết luận rằng: “Xã hội Mỹ không thể hoàn toàn tẩy sạch những tội ác có tổ chức”.

Vì sao? Vì “bọn chỉ huy những tội ác ấy rất khôn khéo. Chúng mua chuộc các người đại biểu của pháp luật, của toà án, của các tổ chức chính trị, các người tai mắt trong kinh tế, và các báo chí”. Hơn nữa: “nhiều chủ nhà máy giúp cho chúng “phát tài” để chúng giúp họ trị công nhân và công chức, phá hoại các công hội về các cuộc bãi công”.

Thế là rõ. Quốc hội Mỹ đã thừa nhận rằng những tổ chức chính trị, kinh tế, tài chính, pháp luật, báo chí của Mỹ thông đồng với lũ trộm cướp để ǎn hối lộ và để trị những công nhân và công chức giác ngộ. Và vì vậy nên Mỹ không tẩy bọn trộm cướp đó.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1877, ngày 6-8-1951.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân dịp cách mạng Tháng Tám và ngày Độc lập (16-8-1951)

Cùng đồng bào toàn quốc và kiều bào ở nước ngoài,

Cùng các chiến sĩ Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích,

Nǎm nay, chúc mừng Ngày Độc lập, chúng ta phải nhớ ơn những chiến sĩ đã hy sinh cho cách mạng để tranh lại độc lập, đang kháng chiến anh dũng để giữ gìn độc lập.

Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ nghiêng mình trước linh hồn các liệt sĩ và thân ái gửi lời an ủi các thương binh, cựu binh cùng gia đình các liệt sĩ.

Tôi thay mặt Chính phủ khen ngợi và cảm ơn:

– Toàn thể quân đội đang anh dũng thi đua giết giặc lập công, giữ làng giữ nước;

– Đồng bào công nhân, nông dân, trí thức, tư sản, địa chủ yêu nước và tiến bộ đang thi đua tǎng gia sản xuất, hǎng hái kháng chiến;

– Các cán bộ chính quyền và đoàn thể không quản gian khổ thi đua làm trọn nhiệm vụ;

– Các cụ phụ lão và các cháu nhi đồng không quản tuổi già và sức yếu, đang cố gắng giúp những công việc ích nước lợi dân.

Nước ta là một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới. Nhân dân các nước bạn nhiệt liệt ủng hộ ta. Nhân dân nước Pháp và nhân sĩ dân chủ thế giới cũng ủng hộ ta. Vì vậy, tôi thay mặt đồng bào, quân đội và Chính phủ tỏ lòng biết ơn.

Càng nồng nàn yêu Tổ quốc và biết ơn bạn hữu, chúng ta càng cǎm giận kẻ thù chung là thực dân cướp nước và bù nhìn phản nước.

Chúng ta quên sao được sự hung ác dã man của chúng!

Chúng đang tàn sát cha mẹ, vợ con, anh em ta, đốt phá mùa màng ta, triệt hạ làng mạc ta. Chúng đang gây ra biết bao tang tóc, khốn khổ cho nhân dân ta.

Chúng dùng chính sách lừa bịp, độc lập giả hiệu, để chia rẽ đồng bào ta, để dùng người Việt chống người Việt.

Chúng mưu cướp nước ta lần nữa, bắt đồng bào ta làm nô lệ lần nữa.

Đứng sau lưng thực dân và bù nhìn và làm thầy cho chúng là bọn can thiệp Mỹ.

Đối với kẻ thù không đội trời chung ấy, chúng ta phải kiên quyết kháng chiến, kháng chiến mạnh hơn nữa, mạnh hơn mãi, kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn.

So sánh tình trạng ngày bắt đầu kháng chiến với tình trạng ngày nay, mọi người đều nhận thấy rằng lực lượng ta tiến bộ rất nhiều. Chúng ta tiến bộ nhiều về mọi mặt: nội chính, ngoại giao, quân sự, kinh tế, vǎn hoá.

Có tiến bộ ấy là nhờ lòng yêu nước, nhờ sự hy sinh cố gắng của toàn dân.

Chiến sĩ trước mặt trận đã có lần nhịn đói mà cố bám lấy giặc, để tiêu diệt giặc.

Đồng bào đi dân công, đặc biệt là phụ nữ và thanh niên, đã hǎng hái tạm gác công ǎn việc làm, xông pha mưa bom gió đạn, để giúp đỡ bộ đội trong mọi việc.

Toàn dân, người nghèo cũng như người giàu, đều xung phong góp của, góp công vào công cuộc kháng chiến.

Lực lượng kháng chiến phát triển rất mạnh là nhờ đồng bào ta hy sinh rất nhiều.

Nhưng thế chưa đủ. Ta nên nhớ rằng: cuộc kháng chiến của ta là trường kỳ và gian khổ, và càng gần thắng lợi càng nhiều khó khǎn.

Giặc Pháp cướp nước ta, bù nhìn bán nước ta gần 100 nǎm. Hoạ thực dân cũng như một chứng bệnh trầm trọng. Muốn chữa bệnh ấy, ta phải thật gan dạ để chịu đau đớn khi mổ xẻ, phải có đủ thời giờ để bồi dưỡng lại sức, kết quả nhất định tẩy trừ được bệnh ấy. Công cuộc kháng chiến cũng như vậy.

Chiến sĩ ta vui vẻ hy sinh xương máu, đồng bào ta vui vẻ hy sinh mồ hôi nước mắt, vì ai cũng biết đó là hy sinh cho quyền lợi tối cao của Tổ quốc, của nhân dân, hy sinh cho hạnh phúc tương lai của con cháu, giống nòi.

Để kháng chiến lâu dài, đồng thời làm cho sự đóng góp của nhân dân được công bằng, để bồi dưỡng sức lực của nhân dân, Chính phủ đã thi hành những chính sách mới.

– Thống nhất quản lý kinh tế tài chính.

– Đặt một thứ thuế duy nhất cho nông dân là thuế nông nghiệp.

– Thu thuế công nghiệp, thương nghiệp để các nhà công, thương chia một phần đóng góp với nông gia.

– Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân, và thêm lực lượng vào công việc tǎng gia sản xuất.

Những chính sách ấy đều nhằm vào ích lợi của nhân dân, ích lợi của kháng chiến, kiến quốc.

Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta cách mạng thành công, giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khǎn thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước. Nhờ lực lượng ấy mà với gậy tầm vông và súng hoả mai lúc đầu, chúng ta đã liên tiếp thắng địch. Riêng ở Bắc Bộ và chỉ trong 8 tháng, từ tháng 10 nǎm ngoái đến tháng 6 nǎm nay, ta đã thắng luôn mấy trận ở biên giới, ở trung du, ở sát lòng địch gần Hải Phòng và ở Ninh Bình, Phủ Lý, Hà Đông.

Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta sẽ đuổi sạch thực dân Pháp ra khỏi đất nước ta, và lấy lại thống nhất và độc lập thật sự.

Nhưng tôi xin nhắc lại rằng: địch càng gần ngày bị tiêu diệt thì chúng càng liều mạng, càng hung ác, càng quỷ quyệt.

Vì vậy quân và dân ta quyết không được chủ quan, khinh địch, quyết không nên: khi không thắng thì nản, khi thắng lợi thì kiêu.

Trái lại, chúng ta phải càng thêm đề phòng cẩn thận, càng thêm kiên quyết, càng thêm chuẩn bị tinh thần và lực lượng để vượt mọi khó khǎn và đối phó kịp thời với mọi hoàn cảnh. Mọi người, mọi ngành đều phải cố gắng thi đua, trước nhất là đồng bào nông gia phải thi đua làm cho mùa thắng lợi thật thắng lợi để giúp bộ đội ǎn no đánh giặc. Bộ đội phải ra sức thi đua giết giặc lập công để làm cho đồng bào nông gia càng hǎng hái thi đua tǎng gia sản xuất.

Ǎn no đánh mạnh, ta nhất định thắng.

Ta nhất định thắng vì cuộc kháng chiến của ta là chính nghĩa.

Ta nhất định thắng vì ta đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm nhất trí, kiên quyết kháng chiến.

Ta nhất định thắng vì dân chủ toàn thế giới ủng hộ ta.

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!
Việt Nam độc lập, thống nhất muôn nǎm!

HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 21, ngày 16-8-1951.
cpv.org.vn

Ba hoa (17-8-1951)

Các ông Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn (thủ đô Mỹ) cậy có đôla và bom nguyên tử hay nói ba hoa. Có mấy nghị viên nói trắng trợn rằng: “Thà tốn tiền trang bị cho vài triệu lính ngoại quốc để họ đi đánh, còn hơn để người Mỹ đi chết ở chiến trường”.

Hôm cuối tháng 7, trong một phiên họp Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lại nói: Mỹ có “giúp” các nước Tây Âu, mới có thanh niên các nước ấy làm bia đỡ đạn cho Mỹ. Y nói tiếp: “Mỹ xuất tiền trang bị cho binh sĩ các nước khác, không phải trang bị cho binh sĩ Mỹ. Chúng ta thà xuất tiền còn hơn xuất binh”.

Nói xong, y thấy hơi quá lố bịch, bèn vội vàng xin xoá câu ấy đi. Chủ tịch ban Ngoại giao Mỹ cũng yêu cầu các báo chớ đǎng câu ấy. Nhưng đã chậm rồi.

Đó cũng là bệnh nói ba hoa.

Cũng trong phiên họp ấy, Bộ trưởng Mỹ nói: “Tôi rất ngạc nhiên rằng nhân dân Mỹ đã ủng hộ lời đề nghị (đề nghị hoà bình ở Triều Tiên) của đại biểu Liên Xô một cách sốt sắng như thế. Điều đó chúng ta thật không ngờ đến”.

Một câu nói của ông Malích đã được nhân dân Mỹ cùng nhân dân thế giới ủng hộ, lại làm cho cả phe đế quốc hoang mang.

Đó là cách nói mác xít.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1885, ngày 17-8-1951
cpv.org.vn

“Thực dân” là ǎn cướp của dân (20-8-1951)

Bọn thực dân đến đâu là ǎn cướp dân đến đó. Chúng đến nước ta ǎn cướp như thế, chúng đến nước khác cũng ǎn cướp như thế. Thí dụ:

Ở Cônggô (châu Phi), 45 tên chủ đồn điền Pháp, mỗi tên cướp hàng vạn mẫu ruộng của dân bản xứ. Nǎm 1946, một tên Pháp chiếm một vùng mỏ, rộng 18 nghìn kilômét vuông, nó trả mỗi kilômét vuông… 2 xu!

Nhân dân các xứ da đen ngày càng giác ngộ và đấu tranh khá hǎng. Đầu nǎm nay, dân xứ Gôn Cốt (Gold Coast), thuộc địa Anh, đấu tranh tợn. Thực dân Anh bèn bày ra một trò dân chủ giả hiệu, để lừa phỉnh dân. Chúng tổ chức một cuộc tuyển cử dân biểu, hồi tháng 3.

Kết quả là nhóm cách mạng của dân bản xứ thắng lợi to:

Trong 38 ghế đại biểu, họ tranh 36 ghế.

Lãnh tụ nhóm ấy là ông Numa Quamê (Nhruma Kwame), lúc đó đang ngồi tù. Sau cuộc thắng lợi ấy (ông cũng được bầu), thực dân Anh phải thả ông ra. Thắng lợi ấy rung động tất cả các thuộc địa châu Phi, và làm cho nhân dân da đen càng thêm hǎng hái.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1887,
ngày 20-8-1951.
cpv.org.vn

Những suy nghĩ về Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

suy nghi ve ngay sinh cua Bac

Giản dị, khiêm tốn, quên mình vì dân, vì nước là những  phẩm chất cao đẹp ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ thuở thiếu thời, khi làm người phụ bếp trong một chuyến tàu ra đi tìm đường cứu nước đến khi làm người thầy truyền đạt tri thức cho học trò và đến lúc đảm nhận trọng trách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ở cương vị nào Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn giữ cuộc sống thanh bạch, giản dị, khiêm tốn và hết sức tiết kiệm.

Với tinh thần của người cộng sản, Hồ Chí Minh đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, dành trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước, phấn đấu thực hiện “ham muốn tột bậc” làm cho “Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đất nước độc lập, nhân dân thoát khỏi ách nô lệ, được sống cuộc sống tự do, bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng cuộc sống thanh bạch của vị Chủ tịch nước vẫn không có gì thay đổi. Người không đòi hỏi bất kỳ những gì riêng tư cho mình, kể cả trong những dịp kỷ niệm Ngày sinh của Người.

Dõi theo những lần sinh nhật của Bác vào ngày 19-5, khi miền Bắc có điều kiện kỷ niệm, chúng ta càng thấy rõ nhân cách cao thượng của Người.

Từ sau ngày chiến thắng Điện Biên Phủ đến ngày Bác về với các Cụ Các Mác, Cụ Lênin (15 năm), có lẽ, để tránh những nghi lễ, 6 năm (1960, 1961, 1962, 1964, 1966, 1967) vào dịp sinh nhật của mình, trong đó có sinh nhật lần thứ 70, Bác ra nước ngoài công tác.

Nhiều lần trong dịp kỷ niệm ngày sinh, Bác không ở Hà Nội mà về thăm nhân dân các địa phương. Ngày 19-5-1957, Bác đi Quốc Oai, Hà Tây. Ngày 19-5-1958 Bác đến Chùa Hương (Mỹ Đức, Hà Tây), căn dặn nhân dân tích cực trồng cây, bảo vệ rừng. Ngày 19-5-1959, Bác đi thăm cán bộ, nhân dân các dân tộc Tây Bắc.

Là người lịch lãm, nhân ái, Bác luôn tôn trọng người xung quanh, không quên cảm ơn những người chúc mừng Bác. Ngày 19-5-1956, Bác gửi thư cho cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Trong thư có đoạn viết: “Bác nhận được rất nhiều thư chúc thọ của các cô, các chú… Bác gửi thư này cảm ơn chung”.

Cả cuộc đời vì nước, vì dân, Bác đau đáu vì miền Nam chưa được giải phóng, Bắc – Nam chưa được sum họp một nhà, nhiều gia đình ngày Bắc, đêm Nam. Ngày 19-5-1963, Quốc hội có ý tặng Bác Huân chương Sao Vàng – huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam, Bác nói: “Tôi xin tỏ lòng biết ơn Quốc hội. Nhưng Quốc hội cho phép tôi chưa nhận, vì tôi tự thấy chưa xứng đáng… Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng bào miền Nam tặng thì tôi xin nhận”. Bác mất đi, trên ngực không một tấm huân chương. Nhưng tấm huân chương cao quý nhất mà nhân dân cả nước trao tặng Bác là niềm tin tuyệt đối, tình cảm yêu quý Bác. Ngay trong bom đạn, kìm kẹp của kẻ thù, không có tỉnh nào ở miền Nam không có đền thờ Bác. Miền Nam trong trái tim Bác và Bác ở trong mỗi trái tim người dân miền Nam. Đây là một nguyên nhân làm nên chiến thắng 30-4  lịch sử.

Là lãnh tụ của Đảng, với tầm nhìn xa, trông rộng, Bác căn dặn việc đảng, việc nước, việc dân phòng khi Bác đi xa. Dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh, đúng 9 giờ sáng, giờ đẹp nhất của ngày 10-5-1965, Bác đặt bút viết dòng đầu tiên của tài liệu “Tuyệt đối bí mật” – Di chúc.

Ngày 19-5-1968, Bác xem và sửa lại tài liệu “Tuyệt đối bí mật” và có bài thơ :

“Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lợi
Tiến bước ta cùng con em ta” .

Ngày 19-5-1969, đúng 9 giờ sáng Bác tiếp tục sửa chữa bản Di chúc. Đây là kỷ niệm sinh nhật lần thứ 79 – kỷ niệm sinh nhật cuối cùng của Bác.
Hồ Chí Minh cả cuộc đời không một phút riêng tư, “nâng niu tất cả chỉ quên mình ”, đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải, hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.

Ngày nay, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta cần nâng cao nhận thức và quyết tâm quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thực hiện nguyện ước của Bác: Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, sánh vai các cường quốc năm châu.

Đó cũng chính là thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người.

Trần Quý Cử
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Thư khen ngợi bộ đội Thừa Thiên (22-8-1951)

Một lần nữa, Bác vui mừng và thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ và chiến sĩ đã thắng trận ở Phú Vang.

Thắng lợi ấy chứng tỏ quân đội ta dũng cảm và tiến bộ nhiều.

Thắng lợi ấy một phần là nhờ sức đoàn kết và ủng hộ của nhân dân.

Vậy các chú chuyển lời Bác cảm ơn đồng bào.

Bác dặn các chú phải nhớ hai điều:

1. Chớ vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch, phải luôn luôn cẩn thận và cố gắng để tranh thủ thắng lợi to hơn nữa.

2. Phải luôn luôn nhớ: du kích chiến tranh là chính. Vậy các chú phải giúp đỡ du kích chiến tranh phát triển và củng cố khắp các nơi.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1889, ngày 22-8-1951.
cpv.org.vn

Kẻ cướp bị cướp (24-8-1951)

Các đế quốc Tây Âu, nhất là Anh và Pháp, quen đi cướp nước người ta.

Ngày nay, Anh bị đá ra khỏi ấn Độ, Pháp đang bị ta đá ra khỏi Việt Nam. Hơn nữa, hai nước ấy đang bị Mỹ dùng làm như thuộc địa.

Do kế hoạch Mácsan, mà kinh tế của Anh và Pháp đã phụ thuộc vào kinh tế Mỹ. Vì Anh và Pháp mắc nợ Mỹ, mắc đến cổ cho nên chính trị hai nước ấy cũng bị Mỹ giật dây.

Về quân sự, còn tệ hơn nữa. 40 vạn lính Mỹ đóng ở Tây Âu. Hải, lục, không quân của Anh, Pháp và các nước Tây Âu đều dưới quyền chỉ huy của một người Mỹ làm Tổng tư lệnh.

Hơn 20 trường bay ở Anh bị Mỹ chiếm đóng. Khắp nước Pháp, quân Mỹ chiếm đóng 29 địa phương, trong số đó có 23 trường bay, 3 cửa bể to là Mácxây, Boócđô, Sécbua và 2 chỗ để bom nguyên tử ở Nim và Girông.

Thế là:

“Quen mồm cướp nước người ta,
Nước mình bị phỗng khóc mà ai thương”.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1890, ngày 24-8-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Vũ Đình Dộc (8-1951)

Gửi ông Vũ Đình Dộc, (đại lý báo Cứu quốc ở Bình Ca).
Nhờ UBKCHC huyện Tự Do chuyển.

Cảm ơn ông đã gửi cho tôi 2 phiếu công trái cộng là 100 ki lô thóc. Tôi sẽ dùng làm giải thưởng. Vì giặc Pháp, ông đã phải tản cư vất vả, mà ông vẫn sốt sắng góp sức góp của vào công việc kháng chiến. Như thế là tốt lắm. Mong ông luôn luôn cố gắng và chúc ông mạnh khoẻ.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 8 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1892, ngày 27-8-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi bà mẹ chiến sĩ Phạm Thị Dược (8-1951)

Gửi bà mẹ chiến sĩ Phạm Thị Dược, khu Tự Tiến.
Nhờ UBKCHC huyện Yên Sơn (Tuyên Quang) chuyển.

Cám ơn bà cụ đã gửi cho tôi một phiếu công trái 100 ki lô thóc để làm giải thưởng thi đua sản xuất. Tôi mong các Mẹ chiến sĩ hǎng hái đôn đốc đồng bào địa phương thi đua, để vụ mùa thắng lợi thành công tốt đẹp.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 8 nǎm 1951
HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc , số 1892, ngày 27-8-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi cháu Nguyễn Thị Lương (8-1951)

Gửi cháu Nguyễn Thị Lương, ở bến đò Mộc, xã Minh Quang. Nhờ UBKCHC huyện Bất Bạt chuyển.

Bác gửi lời khen cháu đã chịu khó đi mót lúa, bán lấy tiền để giúp bộ đội. Thế là yêu nước. Bác mong các cháu nhi đồng khác đều biết yêu nước như vậy. Bác khuyên cháu cố gắng học và làm việc, để tiến bộ nhiều. Bác cũng cảm ơn bố mẹ cháu biết dạy cháu yêu Tổ quốc, yêu bộ đội.

Bác hôn cháu

Tháng 8 nǎm 1951
BÁC HỒ

Báo Cứu quốc, số 1892, ngày 27-8-1951.
cpv.org.vn