Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi ông Đinh Công Niết (1-7-1947)

Ngày 1 tháng 7 nǎm 1947

Gửi ông Đinh Công Niết,
Chủ tịch châu Lương Sơn,

Tôi thay mặt Chính phủ, gửi lời khen ông đã tận tâm làm việc kháng chiến, và đã kêu gọi đồng bào Lương Sơn hǎng hái tham gia kháng chiến.

Mong ông cố gắng hơn nữa, Chính phủ sẽ ghi nhớ công trạng của ông.

Chào quyết thắng
Chủ tịch Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Bản gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Đinh Công Phủ (1-7-1947)

Ngày 1 tháng 7 nǎm 1947

Gửi ông Đinh Công Phủ,1)

Tôi được tin rằng: Đồng bào họ Đinh đã nêu lên cái khẩu hiệu ái quốc và oanh liệt, là:

“Họ Đinh thề không đội trời chung với giặc Pháp”.

Tôi lại được tin rằng: Lúc giặc Pháp xâm vào tỉnh Hoà Bình, ông đã tận tâm giúp việc kháng chiến chống giặc.

Vậy tôi thay mặt Chính phủ gửi lời khen ông và đồng bào họ Đinh, và tặng ông một bức ảnh làm kỷ niệm thân ái.

Chào quyết thắng
Chủ tịch Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Bản gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Lê Ngọc Tiến, Ban chấp hành Đảng xã hội Việt Nam (5-7-1947)

Cảm ơn thơ đồng chí gửi cho tôi ngày 22 tháng 6. Theo ý tôi, thì Đảng Xã hội cũng như các đảng ái quốc khác:

Về nội bộ – thì phải ra sức phát triển, làm cho Đảng có lực lượng.

Về đảng viên – mỗi người phải ra sức học tập vừa lý luận và thực hành. Mỗi người phải tích cực công tác, phải cố gắng làm gương cho dân chúng. Làm nhiều hơn nói.

Về chính trị – Hiện nay, tất cả các đảng chỉ có một đường chính trị chung: kiên quyết trường kỳ kháng chiến, để tranh lấy thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Và đối với các đoàn thể khác cùng dân chúng, chỉ có một chính sách là đại đoàn kết.

Mong các đồng chí Xã hội làm đúng như thế, thì Đảng nhất định phát triển mau chóng và vững vàng.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 5 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, t.4, tr.398.
cpv.org.vn

Thương binh Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên, Hà Nam báo công dâng Bác

Trong không khí cả nước đang sôi nổi hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2012) và tích cực thực hiện công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, Trung tâm Điều dưỡng Thương binh Duy Tiên, Hà Nam đã tổ chức cho Đoàn đại biểu gồm 139 người về thăm Thủ đô Hà Nội và tổ chức lễ báo công dâng Bác tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Đoàn gồm các thương bệnh binh nặng, vợ con thương bệnh binh và các cán bộ, nhân viên của Trung tâm.

Thuong binh Duy tien
Đoàn Thương binh Trung tâm Điều dưỡng thương binh
Duy Tiên, Hà Nam báo công dâng Bác

 Đón và tiếp Đoàn tại Nhà khách số 8 Hùng Vương, đồng chí Đại tá Nguyễn Văn Thanh – Phó Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu với Đoàn về nhiệm vụ của đơn vị và quá trình giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu. Đồng chí bày tỏ sự cảm phục trước những chiến công, sự đóng góp to lớn của thương binh, bệnh binh, những người đã hy sinh một phần xương máu  vì độc lập tự do của Tổ quốc. Đồng chí thân tình hỏi thăm sức khoẻ, động viên các thương binh, bệnh binh luôn vượt lên khó khăn, chiến thắng bệnh tật, sống vui, sống khoẻ và tiếp tục cống hiến, động viên lớp con cháu tiếp tục giữ vững truyền thống anh hùng của cha ông.

Thay mặt Đoàn đại biểu, đồng chí Nguyễn Sĩ Lương – Giám đốc Trung tâm trân trọng cảm ơn đơn vị đã nhiệt tình đón tiếp và khẳng định Trung tâm sẽ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị là chăm sóc phụng dưỡng các thương bệnh binh.

Trung tâm điều dưỡng thương binh Duy Tiên, Hà Nam được thành lập tháng 6 năm 1957. Hiện nay, Trung tâm đang chăm sóc các thương bệnh binh đến từ 18 tỉnh, thành phố từ Quảng Trị trở ra. Trong đoàn đi thăm Lăng Bác lần này có 61 thương binh nặng (tỷ lệ thương tật 81% trở lên), có 3 đồng chí đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp, còn lại là tham gia kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh Biên giới phía Bắc. Một nửa trong số họ phải ngồi trên xe lăn do bị  thương cột sống, do teo cơ… Đi cạnh các anh là những người vợ đã hết lòng thương yêu, tận tụy chăm sóc các anh và những người con hiếu thảo, chịu thương, chịu khó, luôn biết vâng lời cha mẹ.

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, nhân viên của Trung tâm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao. Đội ngũ y, bác sĩ luôn vượt qua mọi khó khăn vất vả để chăm lo chu đáo từng bữa ăn, giấc ngủ cho các anh chị em thương bệnh binh, đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng đầy đủ hơn cho họ. Những cán bộ, nhân viên làm việc ở Trung tâm mỗi người một quê, với những công việc khác nhau, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, vất vả nhưng họ đều rất tự hào được phục vụ, công tác trong môi trường đầy tính nhân văn.

Những thương bệnh binh ở Trung tâm luôn đoàn kết, yêu thương, cảm thông chia sẻ với nhau. Họ coi nhau như người thân và coi Trung tâm như một gia đình lớn của mình. Kẻ thù đã cướp đi phần thân thể, song thấm nhuần lời dạy của Bác “Thương binh tàn nhưng không phế”, các anh luôn là tấm gương sáng về nghị lực và đức hy sinh.

Trước anh linh của Bác, các anh nguyện hứa: “Tự hào có Bác, học tập và làm theo tấm gương của Bác, chúng con nguyện đoàn kết một lòng, yêu thương, đùm bọc, vượt lên khó khăn để xứng đáng với lời dạy của Bác”./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Lực lượng Cảnh sát nhân dân Công an thành phố Hà Nội tổ chức lễ báo công dâng Bác

Sáng ngày 15/7/2012, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Bác Hồ ký Sắc lệnh  Cảnh sát nhân dân Việt Nam (20/7/1962 – 20/7/2012), Đoàn đại biểu Công an Hà Nội gồm hơn 1300 đồng chí là cán bộ, chiến sỹ tiêu biểu đại diện cho trên 18 ngàn cán bộ, chiến sỹ Công an Thủ đô về báo công dâng Bác tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Đây là hoạt động có ý nghĩa sâu sắc nhằm tôn vinh truyền thống vẻ vang của Đảng, của Ngành, thể hiện tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân và tấm lòng thành kính của lực lượng Cảnh sát nhân dân Công an Thủ đô với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Cong an HN bao cong
Lực lượng Cảnh sát nhân dân Công an thành phố  Hà Nội tổ chức lễ báo công dâng Bác

 Trải qua 50 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, được Đảng, Bác Hồ kính yêu giáo dục và rèn luyện, lực lượng Cảnh sát nhân dân Công an Thủ đô đã cùng với lực lượng Công an nhân dân Thủ đô và Công an nhân dân cả nước vượt qua muôn vàn khó khăn, hy sinh gian khổ, xây dựng lực lượng ngày càng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng Công an nhân dân, được các cấp, các ngành và nhân dân hết lòng thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ và đã lập nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc trên mặt trận giữ gìn an ninh trật tự ở Thủ đô.

Trong công tác, trong chiến đấu, nhiều cán bộ, chiến sỹ đã nêu cao tinh thần vì nước quên thân, vì dân phục vụ, mưu trí, dũng cảm tấn công truy bắt tội phạm; không sợ hy sinh, gian khổ để bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân. Chiến tranh đã đi qua, nhưng máu của cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát vẫn đổ xuống cho đất nước và Thủ đô bình yên, cho nhân dân hạnh phúc. Trong 26 năm đổi mới đến nay đã có hàng trăm chiến sỹ cảnh sát hy sinh và bị thương, hàng chục chiến sỹ cảnh sát bị phơi nhiễm HIV khi làm nhiệm vụ. Ghi nhận những đóng góp to lớn đó, Đảng và Nhà nước đã phong tặng và truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 15 đơn vị và cá nhân; hàng ngàn lượt tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương và nhiều phần thưởng cao quý khác, góp phần vào thành tích chung của công an thành phố nhiều năm liền được Chính phủ tặng cờ “Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua Vì an ninh Tổ quốc”, được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Những chiến công, thành tích đó đã tô thắm truyền thống vẻ vang của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Công an Thủ đô anh hùng.

Cong an HN tang bang khen
Ban lãnh đạo Công an thành phố Hà Nội trao Huân chương Chiến công cho các cá nhân

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm túc 6 điều Bác dạy Công an nhân dân, cán bộ và chiến sỹ lực lượng Cảnh sát Công an Thủ đô đã hứa trước anh linh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:  “Mỗi đơn vị và cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát nhân dân Công an Thủ đô tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, phát huy những thành tích đã đạt được, khắc phục những khuyết điểm, tồn tại; đoàn kết thống nhất cao, giữ nghiêm kỷ luật; không ngừng học tập, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, tác phong, lối sống, xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh trấn áp tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và Thủ đô. Xứng đáng là “Cảnh sát Việt Nam mưu trí, dũng cảm, vì nước, vì dân, quên thân phục vụ”. Tại lễ báo công, Ban lãnh đạo Công an Thành phố Hà Nội đã trao Huân chương Chiến công cho 8 cá nhân đã lập thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ sự bình yên cho Thủ đô.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu thanh, thiếu niên kiều bào tham dự Trại hè Việt Nam 2012 vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 14/7/2012, 170 thanh, thiếu niên kiều bào từ nhiều nước trên thế giới về tham dự Trại hè Việt Nam 2012 đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Đây là những em có thành tích trong học tập, lao động và có nhiều đóng góp cho phong trào xây dựng cộng đồng đoàn kết, hướng về quê hương, đất nước.

Trai he
Đoàn đại biểu thanh, thiếu niên kiều bào tham dự

Trại hè Việt Nam 2012 vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Với chủ đề “Về miền Đất Đỏ”, Trại hè Việt Nam 2012 hướng tới tưởng nhớ 60 năm Ngày hy sinh của nữ anh hùng Võ Thị Sáu, kỷ niệm 150 năm Nhà tù Côn Đảo và 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức Trại hè Việt Nam 2012 cho thế hệ trẻ kiều bào ở khắp nơi trên thế giới giúp thanh, thiếu niên kiều bào có điều kiện tiếp cận và hiểu biết sâu sắc hơn về cội nguồn văn hóa, sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam, qua đó nâng cao lòng tri ân công đức với tổ tiên, gắn bó với quê hương, đất nước của các em.

Sau lễ viếng Bác, các đại biểu kiều bào sẽ tham dự nhiều hoạt động ý nghĩa khác như: Thăm và giao lưu với bà con dân tộc thiểu số tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam; dâng hương tại Tượng đài Ngã Ba Đồng Lộc; dâng hoa tại Tượng đài Hồ Chí Minh và tham quan Khu Di tích Kim Liên ở Nghệ An; dự lễ tưởng niệm anh linh các liệt sỹ tại Côn Đảo.

Với bản thân mỗi bạn trẻ, việc tham dự trại hè không chỉ giúp họ có cơ hội được về thăm quê hương, xứ sở, mà còn là dịp để hiểu thêm về cội nguồn của mình, góp phần bồi đắp tinh thần đoàn kết dân tộc. Bạn Nguyễn Trà My, Việt kiều tại Cộng hòa Séc tâm sự: “Em sinh ra ở nước ngoài và ít có dịp về thăm Việt Nam. Sống cùng cộng đồng người Việt nên em mới chỉ hình dung ra đất nước mình qua lời kể của mọi người. Lần này được về Việt Nam, được tìm hiểu nhiều về lịch sử, em thật sự thấy cảm động và tự hào về con người và đất nước mình”. Đại diện nhóm sinh viên Việt kiều tại Trung Quốc cũng chia sẻ: “Trại hè là cơ hội để thế hệ trẻ xa quê hương không bao giờ lãng quên đất nước mình, càng hiểu nhiều về dân tộc mình, càng tự tin khi đứng trước bạn bè quốc tế. Qua những dịp thế này chúng em không chỉ được gặp gỡ các bạn bè trong nước mà còn có cơ hội để luyện tập tiếng Việt tốt hơn dù không sinh sống ở trong nước”.

Trại hè Việt Nam là hoạt động thường niên kể từ năm 2004 và trở thành điểm hẹn của thế hệ trẻ Việt kiều. Với những hoạt động phong phú, Trại hè thực sự là cơ hội để các bạn trẻ gặp gỡ và giao lưu với thanh niên trong nước, qua đó cùng nhau tìm hiểu về lịch sử đất nước để tự hào về nguồn gốc của mình và quảng bá hình ảnh Việt Nam tới bạn bè quốc tế./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Giáo sư Trần Hữu Tước xúc động nhớ về Bác Hồ

Giáo sư Trần Hữu Tước kể: “Nhiều năm trôi qua, mỗi khi nhớ về thuở ấy giữa rừng Việt Bắc, tôi lại thấy như hiện lên bức tranh cảm động, đẹp tuyệt vời: Bác Hồ cưỡi ngựa hồng đến tận nơi, tiễn tôi ra nước ngoài chữa bệnh”.

GS tran huu tuoc 1Giáo sư Trần Hữu Tước và Giáo sư Tôn Thất Tùng

Lời giới thiệu

Giáo sư Trần Hữu Tước là một trong những vị giáo sư đầu ngành của nền y học Việt Nam hiện đại. Ông sinh năm 1913 tại phố Bạch Mai, Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ nội trú các bệnh viện Pa-ri với luận văn Phương pháp tạo hình tự thân tai, áp dụng sau khi nạo vét xương chũm, ông thi đỗ và trở thành một cán bộ Khoa Tai – Mũi – Họng, Bệnh viện Nhi khoa Necker ở Pa-ri.

 Từ năm 1940 đến năm 1946, ông được bổ nhiệm làm Trợ lý thứ nhất Khoa Tai – Mũi – Họng. Trong mười năm từ năm 1936 đến năm 1946, ông đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về Tai – Mũi – Họng trên các tạp chí chuyên ngành ở Pháp, có công trình được đưa vào Bách khoa toàn thư y học Pháp. Ông cũng là một trong những người đầu tiên mổ điếc theo phương pháp Lempert ở Pa-ri.

 Năm 1946, do thiết tha mong muốn được đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, bác sĩ Trần Hữu Tước tình nguyện trở về nước trên chuyến tàu thủy cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh, với một số trí thức Việt kiều nổi tiếng khác như Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa), Võ Quý Huân, v.v. Từ đó cuộc đời người thầy thuốc nổi tiếng ấy gắn liền với đất nước, quê hương.

 Ngay từ tháng 11 năm 1946, vừa mới về tới Hà Nội, ông đã bắt tay xây dựng chuyên ngành Tai – Mũi – Họng của Trường Đại học Y Hà Nội, do Giáo sư Hồ Đắc Di làm Hiệu trưởng. Ông chứng kiến những ngày đầu cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra tại Hà Nội, tham gia chiến đấu cùng Trung đoàn Thủ đô và ghi lại thiên bút ký rất chân thật và cảm động nhan đề Thủ đô kháng chiến.

Rời khỏi Thủ đô, chỉ mang theo 30kg dụng cụ y tế, bác sĩ Trần Hữu Tước đi tham gia cuộc kháng chiến ba nghìn ngày, lúc ở Liên khu III, Liên khu IV, khi ở Việt Bắc, đi đầu xây dựng nền móng cho ngành Tai – Mũi – Họng ở nước ta.

Năm 1946, khi từ Pa-ri về tới Hà Nội, bác sỹ nặng 75kg, đến năm 1951, chỉ còn nặng 42 kg vì bị bệnh đường ruột rất nặng! Bạn bè ướm hỏi ông có nên quay lại Hà Nội chữa bệnh một thời gian, nhưng ông kiên quyết từ chối. “Có ra sao thì cũng ở trên mảnh đất tự do, thật chưa bao giờ tâm hồn thảnh thơi như vậy, chỉ hơi chút bực mình vì bị bệnh, chưa làm gì được như ý muốn”, bác sỹ Trần Hữu Tước ghi lại.

Mấy lần Bác Hồ và “anh Tô” điện vào Thanh Hóa giục ông rời Nông Cống lên Tân Trào để sang nước bạn chữa bệnh, ông mới chịu đi bộ, mỗi ngày chỉ được 5 – 6 km, lên Tuyên Quang. Sau đó, ông được xe Jeep chở lên biên giới, rồi đi tàu hỏa sang Bắc Kinh mổ cắt khối u ở ruột, chữa lành bệnh đại tràng.

 Chúng tôi trân trọng giới thiệu sau đây một đoạn trích trong thiên hồi ký dài của Giáo sư Trần Hữu Tước kể lại sự quan tâm săn sóc nghĩa nặng tình sâu của Bác Hồ dành cho ông trong những ngày bị trọng bệnh giày vò.

 Hàm Châu  

GS tran huu tuoc 2Bác Hồ và GS Trần Hữu Tước sau Ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954

Mấy lần Trung ương và Bác điện vào Thanh Hoá, giục tôi lên Việt Bắc để ra nước ngoài điều trị. Khó nghĩ làm sao! Đi thế nào từ Nông Cống lên Châu Tự Do (tức huyện Sơn Dương, Tuyên Quang hiện nay). Lại điện nữa, giục đi. Thôi, quyết ra đi, dù khó nhọc, nhưng mấy năm nay rồi chưa gặp Bác, có lẽ là dịp hiếm có, nên thu xếp để đi. Đi bộ, mỗi ngày 5 – 6 cây số, chỉ đi buổi sớm hay chiều, vì suốt ngày Pháp cho máy bay bắn phá các đường giao thông chính. Kể cũng ung dung, tranh thủ mệt thì nghỉ, khỏe lên tý chút thì lại đi. Nhiều quãng đường thật đẹp, hấp dẫn, nên thơ.

 Dốc Đoan Hùng sao mà cao và trơn thế! Đã đến Việt Bắc, sắp sửa được gặp Bác. Bao nhiêu vất vả, đường trường gần như giảm nhẹ. Bắt đầu đi vào những con đường rừng rậm rạp, quanh co, khó có thể tưởng tượng được, ngoặt trái, rẽ phải, lại đi chếch, lội suối, rồi  trèo đèo… Một chặng rừng âm u!

 Một cái máy bay “Bà già” vè vè trên đầu, đang thòng móc xuống để tìm phá đường dây điện thoại của ta. Rồi một máy bay khu trục “Nhả Lửa” đột nhiên xuất hiện, nhào xuống xả một băng đạn. Cứ nấp vào một gốc cây to, và theo dõi. Chúng quay lại, thì ta chạy quanh gốc cổ thụ. Chán rồi, chúng bỏ đi. Ta lại thủng thẳng lần bước.

 Vào ATK, một buổi chiều. Một ngôi nhà tre nứa, nhưng khá đàng hoàng, bên bờ suối, ẩn hiện dưới hàng cây vài ba chục thước cao! Từ mấy năm nay, chưa bao giờ nhìn thấy một căn nhà cao ráo, thoáng rộng như vậy. Cái giường tre nứa cũng dài rộng, đơn sơ nhưng ra vẻ khang trang. Trên mặt bàn vuông lát nứa, thấy có mấy chai rượu vang trắng, đỏ, lại có cả rượu mạnh, cùng một số đồ hộp chiến lợi phẩm Bác đã gửi sang cho.

 Đêm hôm đó, tuy như xong một cuộc hành trình kéo dài gần một tháng rưỡi, thấm mệt, nhưng không sao ngủ ngay được, trằn trọc với biết bao cảm xúc và suy nghĩ. Chắc Bác cũng ở gần đâu đây, có lẽ ngày hôm sau sẽ được gặp. Trời đã về khuya, nước suối chảy ngay bên, rì rào trong thanh vắng, và như to dần về sáng…

 Rừng bao phủ xung quanh, rạt rào cơn gió sớm đột nhiên thủ thỉ thù thì như trò chuyện riêng tư ngay dưới tán rừng Việt Bắc. Tôi vừa bước vào một khoảng sân nhỏ, thì Bác đã nhanh nhẹn từ trong một cái nhà gần đấy đi ra! Chắc Bác ngạc nhiên lắm khi thấy tôi nay chỉ còn đôi mắt kính cận gọng đen, với một cái cổ dài lêu nghêu, chân tay da bọc xương trong bộ quần áo nâu rộng!

 Bác giơ tay bắt, và còn ôm lấy! Phút khó quên và đôi chút nghẹn ngào. Bác bớt gầy hơn mùa đông năm 1946, và rất nhanh, mạnh. Vẫn đôi mắt sáng chói, dịu hiền, nhưng râu tóc đã thoáng nhiều sợi bạc. Với một giọng ấm áp, ân cần, Bác hỏi kỹ về bệnh tật, rồi về công tác phát triển chuyên khoa Tai – Mũi – Họng. Bác cũng nói qua tình hình trong nước và nước ngoài.    Cuối cùng Bác dặn:

 – Có điều kiện, chú nên ra nước ngoài điều trị. Còn bao nhiêu công việc để mà làm…

 Bác ra về.

 Những ngày nằm chờ thu xếp, làm thủ tục xuất cảnh, và chuẩn bị phương tiện để ra đi, thật thanh thản! Đọc một số báo chí trong và ngoài nước, vài cuốn sách ngoại văn.

 Anh Tô một buổi tối mời tôi đến ăn cơm, nhưng chỉ nói chuyện được một lúc, sau cơn đau dội lên, ôm bụng đi về, không sao ngồi ăn được nữa.

 Rồi chiều hôm đó, từ trong rừng Việt Bắc, còn ánh mặt trời trên đầu ngọn cây, lại ra đi lần nữa… Sau bao nhiêu năm, lại nhìn thấy chiếc xe Jeep nhỏ ở giữa rừng âm u, cây cỏ um tùm. Sắp lên xe để ngồi cạnh anh lái xe, bỗng nghe vang lại một tiếng ngựa phi nhịp nhàng đang phi nước đại…

 Trời! Bác đến tiễn tôi đi Trung Quốc chữa bệnh!

Cũng có lẽ Bác thấy tôi gầy còm như vậy, chắc gì đã có ngày gặp lại, nên Bác đến. Cảm động nghẹn ngào!

Bác trao cho tôi phong thư do chính tay Bác viết bằng chữ Hán để chuyển cho một cán bộ đại diện Chính phủ ta ở nước bạn. Bác dặn tôi chớ nói mình là thầy thuốc và ân cần khuyên luôn cố gắng yên tâm chữa bệnh.

Thấy tôi dô cả xương mà chỗ ngồi, chỗ tựa, ghế xe Jeep rất cứng, Bác gọi lấy ra hai cái gối cỏ để chèn cho khỏi xóc đường trường. Rồi thấy đầu tôi dễ va vào khung sắt nơi mui xe, Bác lấy ngay cái mũ vàng của Bác chụp lên đầu tôi, và lần nữa Bác dặn phải chú ý!

Xe chuyển bánh. Bác đứng một lúc, vẫy tay theo. Rồi Bác nhảy lên ngựa. Lúc ngoái đầu lại, tôi chỉ còn thoáng thấy bóng con ngựa hồng trong ánh chiếu toả rạng. Và trên lưng con ngựa đang phóng, Bác gò cương phi về phía trước, tóc bạc tung bay ra phía sau, trong trùng điệp núi rừng của Tổ quốc thiêng liêng. Đó là một cảnh đẹp tuyệt vời! Bác phi ngựa hồng trong chiều tà Việt Bắc như một ảo ảnh huyền bí nhiều lần hiện lên trong óc tôi trước khi chìm vào giấc ngủ.

Sáu tháng sau, vào lúc 9 giờ đêm, tôi phải mổ cấp cứu, tại một bệnh viện ở Bắc Kinh.

Nhiều năm trôi qua, mỗi khi nhớ về thuở ấy giữa rừng Việt Bắc, tôi lại thấy như hiện lên bức tranh cảm động, đẹp tuyệt vời Bác Hồ cưỡi ngựa hồng đến tận nơi tiễn tôi ra nước ngoài chữa bệnh….

 GS. Trần Hữu Tước
Theo dantri.com.vn
Thu Hiền (st)

Thư gửi các phụ lão, các vị thân hào và toàn thể đồng bào tỉnh Phúc Yên (16-7-1947)

Tôi được báo cáo rằng: Các cụ, các ngài rất sốt sắng giúp Chính phủ, đã có nhiều sáng kiến hay, và đã ra sức kêu gọi đồng bào tham gia kháng chiến. Mà đồng bào toàn tỉnh cũng rất hǎng hái hưởng ứng. Cho nên đã có nhiều thành tích tốt.

Tôi thay mặt Chính phủ, cảm ơn các cụ, các ngài và toàn thể đồng bào trong tỉnh.

Đời xưa, nhờ sự kêu gọi của phụ lão, sự cố gắng của thân hào, lòng nhiệt thành của quốc dân, mà tổ tiên ta: Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ, Nguyễn Quang Trung đã dẹp nạn ngoại xâm, giữ vững đất nước.

Ngày nay, cũng do lòng yêu nước, do sự thân ái đoàn kết, do sự hǎng hái hy sinh của các cụ phụ lão, các vị thân hào và toàn thể đồng bào, chúng ta nhất định chiến thắng thực dân phản động Pháp.

Chúng ta kiên quyết noi theo lịch sử vẻ vang của tổ tiên, tranh lại thống nhất và độc lập cho dân tộc và xây dựng nền tự do và hạnh phúc cho con cháu muôn đời.

Công cuộc kháng chiến vẫn nhiều, nào giúp đỡ bộ đội, cứu tế, thương binh, nào tǎng gia sản xuất, giúp đỡ đồng bào tản cư, phát triển bình dân học vụ, v.v.. Tôi mong rằng các cụ, các ngài và toàn thể đồng bào Phúc Yên sẽ cố gắng để làm tròn nhiệm vụ của mình và để làm kiểu mẫu cho đồng bào các tỉnh khác.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 16 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.7.
cpv.org.vn

 

 

 

Trả lời một nhà báo nước ngoài (16-7-1947)

Nhiều câu ngài hỏi thì trước đây các báo ngoại quốc và mới rồi đây Hãng REUTER và một nhà báo ngoại quốc khác đã hỏi tôi và tôi đã trả lời. Nhưng ngài đã có lòng hỏi thì tôi cũng sẵn lòng đáp:

1) Quốc hội Việt Nam là do toàn dân đầu phiếu cử ra. Tất cả đàn ông và đàn bà 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử. Cuộc tuyển cử lần đầu ngày 6-1-1946, trung bình là 82 phần trǎm cử tri đã tham gia. Lúc đó có đại biểu của báo ngoại quốc đến xem.

Trưởng ban Thường trực Quốc hội là một vị nho học lão thành, trước đã làm quan đến bực đại thần; Phó trưởng ban là một vị linh mục và một vị đảng viên của Đảng Dân chủ.

2) Chính phủ Việt Nam gồm có đại biểu các Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ Việt Minh, Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội, Quốc dân đảng và nhiều vị không có đảng phái nào.

Chính sách đối nội của Việt Nam là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

Chính sách đối ngoại là thân thiện với tất cả các láng giềng Trung Hoa, ấn Độ, Xiêm La, Cao Mên, Ai Lao, v.v., mà không thù gì với nước nào.

3) Chúng tôi không chủ trương giai cấp tranh đấu vì một lẽ từng lớp tư sản Việt Nam đã bị kinh tế thực dân đè nén không cất đầu lên được, khiến cho kinh tế Việt Nam đã bị tiêu diệt, dân cùng, tài tận 1 . Trái lại chúng tôi chủ trương làm cho tư bản Việt Nam phát triển. Mà chỉ có thống nhất và độc lập thì tư bản Việt Nam mới có thể phát triển.

Đồng thời chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi. Một là để xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là để điều hoà kinh tế thế giới và giữ gìn hoà bình.

4) Quốc kỳ Việt Nam có hai ý nghĩa, mầu đỏ thì quốc kỳ nhiều nước khác đều có không cần phải giải thích. Sao vàng là:

a) Trung Quốc là một nước to lấy mặt trời làm tiêu biểu. Việt Nam là một nước nhỏ lại có quan hệ mật thiết với Trung Quốc đã mấy ngàn nǎm cho nên lấy ngôi sao làm tiêu biểu.

b) Nǎm cánh ngôi sao là đại biểu cho sự đoàn kết nǎm lớp nhân dân Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh, nay ra đời trong lúc nhân dân Việt Nam nổi lên chống Nhật và đứng về phe các nước Đồng minh.

5) Hội Liên hiệp quốc dân là do những người lão thành có danh vọng đạo đức như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Bùi Bằng Đoàn, v.v., và những người yêu nước không có đảng phái đứng ra tổ chức.

Hội đó đã thực hiện sự đại đoàn kết của toàn dân gồm tất cả các từng lớp đảng phái tôn giáo và dân tộc trong nước Việt Nam. Tinh thần của Hội đó là yêu nước, chương trình là quyết tranh đấu cho Tổ quốc được thống nhất độc lập và dân chủ phú cường.

Có bao nhiêu hội viên tôi chưa rõ. Song lấy những nơi tôi đã biết và suy đoán, có thể nói từ Nam chí Bắc có hàng mười triệu hội viên.

Thí dụ: Chỉ có sáu tỉnh Duyên hải Bắc Bộ, mà chỉ kể phụ nữ mà thôi thì đã có mười hai vạn hội viên.

6) Trí thức Việt Nam đã gánh một phần quan trọng trong cuộc kháng chiến cứu quốc và gánh một phần quan trọng trong công việc kiến quốc. Hiện nay hầu hết nhân viên trong Chính phủ trung ương là người trí thức.

7) Chẳng những Việt Nam mà nước nào cũng có phái phản đối. Nhưng trong lúc Tổ quốc lâm nguy thì tất cả các đảng phái đoàn kết cứu nước. Hiện nay Việt Nam đã thực hiện chính sách đó, song việc mượn tiếng phản đối, mà phản kháng chiến, phản nhân dân, đi theo phe địch như Uông Tinh Vệ ở Trung Hoa, bọn Lavan ở Pháp, thì quốc dân không thể tha thứ, lịch sử không thể khoan dung.

Những người lỡ đi lầm đường mà biết trở về với Tổ quốc thì dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh.

8) Bao giờ Pháp thật thà thừa nhận Việt Nam độc lập và thống nhất thì chiến tranh sẽ lập tức kết liễu. Chúng tôi sẽ nhờ tư bản và kỹ thuật các nước hữu bang và cả nước Pháp và nhờ sự hǎng hái của Việt Nam mà mau chóng kiến thiết lại mặc dầu hiện nay chiến tranh đã đưa đến một sự phá hoại không thể tưởng tượng.

Ngài cũng biết kinh nghiệm các nước nhất là Trung Hoa kháng chiến bằng cách du kích có thể kéo dài 8, 9 nǎm.

9) Tôi không thể bình phẩm Cao uỷ Bôlae vì tôi chưa gặp ông bao giờ và vì chưa thấy ông thực hiện một chính sách gì cụ thể. Tôi chỉ mong rằng ông Bôlae sẽ lấy tư cách một nhà đại chính trị, thực thà thừa nhận Việt Nam độc lập thống nhất để đưa lại sự thân thiện hợp tác cho hai dân tộc Việt – Pháp. Nếu ông ta làm một cách chính đại quang minh thì ông sẽ thành công.

10) Cám ơn ngài. Tôi vẫn mạnh khoẻ mặc dầu tin Pháp đã mấy lần đồn rằng tôi đã chết rồi.

Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập thống nhất, dân chủ.

Bao giờ đạt được mục đích đó tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn ngoạn thuỷ, đọc sách làm vườn.

Chúc ngài mạnh khoẻ.
Ngày 16 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.8-10.
cpv.org.vn

 

 

 

Thư gửi đồng bào trong những vùng địch tạm chiếm đóng (16-7-1947)

Hỡi đồng bào yêu quý,

Đã hơn nửa nǎm toàn thể quốc dân hy sinh tranh đấu để tranh quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Chính phủ và toàn thể quốc dân luôn luôn thương cho đồng bào, vì biết rằng đồng bào khốn khổ.

Khổ về tinh thần – Vì cũng đầy lòng yêu nước như mọi người nhưng đồng bào chưa được dịp chen vai thích cánh với toàn thể quốc dân trong công việc đánh giặc cứu nước.

Khổ về vật chất – Vì đồng bào luôn luôn bị bọn thực dân phản động giày vò, hành hạ, uy hiếp, ngược đãi, bị chúng áp bức đủ mọi bề như cá nằm trên thớt.

Chính phủ và toàn thể quốc dân không bao giờ quên đồng bào vì đang lúc mọi người đều được tự do dưới chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thì riêng đồng bào bị lâm vào cảnh nô lệ.

Vì những lẽ đó mà Chính phủ, bộ đội và nhân dân ta không quản gian lao khó nhọc, ra sức chiến đấu hy sinh để mau mau giải phóng đồng bào ra khỏi chỗ nước sôi lửa nóng.

Còn về phần các đồng bào trong vùng địch chiếm thì nên như thế nào?

Nên luôn luôn nhớ rằng:

1. Dù địch có thể cướp bóc của cải ta, hành hạ thân thể ta, nhưng chúng không bao giờ ngǎn trở được lòng yêu nước, chí dũng cảm của ta.

2. Địch quyết không đủ người để canh gác tất cả các phố, các làng, các nhà, vậy ta nên tìm đủ mọi cách giúp đỡ quân du kích của ta trong công việc trừ gian sát địch.

3. Chớ tin những lời chia rẽ, những tin nhảm nhí, do bọn địch và bọn Việt gian phao đồn.

4. Phải luôn luôn giữ vững tinh thần, luôn luôn tin tưởng vào lực lượng của Chính phủ, bộ đội và nhân dân ta, luôn chắc rằng thắng lợi cuối cùng sẽ về ta.

Trong lúc viết thư này, một mặt tôi rất đau lòng vì tôi tài hèn đức mọn, chưa đuổi được giặc ngay để đồng bào chịu khổ cực. Song một mặt tôi rất phấn phát, vì tôi chắc rằng trải qua bước cực khổ, thì chúng ta nhất định thành công, cũng như qua khỏi mùa đông, thì chắc chắn mùa xuân sẽ đến.

Đồng bào hãy bền chí, ngày giải phóng sẽ đến!

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!

Thống nhất, độc lập nhất định thành công!

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 16 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.5-6.
cpv.org.vn

 

 

 

Thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức “Ngày thương binh toàn quốc” (17-7-1947) (16)

Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe doạ. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh.

Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt.

Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy.

Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ǎn một bữa để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ǎn một bữa để giúp đỡ chiến sĩ bị thương.

Ngày 27 tháng 7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, là tỏ ý yêu mến thương binh. Nhưng tôi e trong lúc thi hành, hǎng hái thái quá, vậy tôi xin đề nghị:

1) Hôm đó các cụ già thượng thọ, các cháu bé sơ sinh, các bộ đội các mặt trận, những đồng bào đang đau yếu, thì không nên nhịn. Còn các cơ quan, các bộ đội, các trường học, các đoàn thể và toàn thể đồng bào cả nước đều nhịn ǎn một bữa.

2) Đó là một việc nghĩa, mọi người tự động làm, tuyệt đối không cưỡng bức.

3) Các làng, huyện, tỉnh, khu phải thiết thực báo cáo kết quả lên Ban thường trực toàn quốc. Nơi nào 100 phần trǎm nhân dân tham gia thì Ban thường trực sẽ đǎng báo khen. Kết quả cũng phải tính sổ tập trung về Ban thường trực toàn quốc để phân phối cho khắp.

4) Hôm đó tuy các giới, các tổ chức đều hǎng hái tham gia, đặc biệt là đoàn thể phụ nữ, thanh niên và nhi đồng cần phải ra sức tuyên truyền, giải thích và giúp việc.

Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm, sẻ áo của đồng bào ta, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn.

Tôi xin xung phong gửi 1 chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi, 1 tháng lương của tôi, 1 bữa ǎn của tôi, và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trǎm hai mươi bảy đồng (1.127đ.00).

Ngày 17 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.11-12.
cpv.org.vn

———————————

(16) Ngày thương binh liệt sĩ 27-7: Tháng 6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong nǎm làm Ngày thương binh để nhân dân ta có dịp tỏ lòng biết ơn, yêu mến thương binh. Thực hiện chỉ thị của Người, một Hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở trung ương, khối và tỉnh đã họp ở Phú Minh (Đại Từ, Thái Nguyên) bàn bạc và nhất trí đề nghị lấy ngày 27-7-1947 làm “Ngày thương binh liệt sĩ” đầu tiên trong cả nước.

Từ đó, ngày 27-7 hàng nǎm trở thành “Ngày thương binh liệt sĩ”. Tr.175.

 

 

 

Thư khen bà Bá Huy (27-7-1947)

Thưa bà,

Tôi nhận được báo cáo rằng bà đã hǎng hái giúp đất ruộng, trâu bò, thóc lúa và tiền bạc để lập một an dưỡng đường cho thương binh.

Tôi rất lấy làm vui lòng.

Anh em thương binh đã hy sinh xương máu, để giữ gìn Tổ quốc, bà đã hy sinh tiền của để giúp đỡ anh em thương binh. Như thế là bà đã giúp sức vào công việc giữ gìn Tổ quốc.

Như thế là bà đã làm kiểu mẫu cho đồng bào thực hành cái khẩu hiệu:

“Có tiền giúp tiền, có sức giúp sức,
Đồng tâm hiệp lực, kháng chiến thành công”.

Tôi thay mặt Chính phủ và anh em thương binh cảm ơn bà, và ngợi khen bà.

Đồng thời tôi cũng cảm ơn các phụ lão, các vị thân hào và toàn thể nam nữ đồng bào ở vùng đó, đã giúp công, giúp của với bà, để lập nên an dưỡng đường “Bà Bá HUY”.

Tôi mong bà cùng toàn thể đồng bào vùng đó sẽ luôn luôn chǎm nom giúp đỡ các thương binh.

Ngày 27 tháng 7 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.13.
cpv.org.vn