Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam

Đồng bào điền chủ nông gia!

Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.

Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã.

Hợp tác xã là gì ?

Nói tóm lại, hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh, thì khó nhọc ít mà ích lợi nhiều. Vì vậy:

Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức có lợi to cho nhà nông. Nó là một cách tranh đấu kinh tế có hiệu quả nhất, để giúp vào việc xây dựng nước nhà.

Hợp tác xã nông nghiệp là một cách làm cho nhà nông đoàn kết, làm cho nhà nông thịnh vượng.

Hợp tác xã nông nghiệp giúp cho nhà nông đạt đến mục đích, đã ích quốc lại lợi dân.

Hỡi đồng bào điền chủ nông gia!

Anh em ta ai chẳng mong được đầy đủ, giàu có, ai chẳng mong cho nước thịnh, dân cường. Vậy chúng ta hãy mau mau chung vốn góp sức, lập nên hợp tác xã nông nghiệp ở khắp nơi; từ làng mạc cho đến tỉnh thành đâu đâu cũng phải có hợp tác xã.

Tục ngữ có câu: “Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây chụm lại nên hòn núi cao”.

Đồng bào điền chủ nông gia hãy hǎng hái cùng nhau làm việc kiến quốc đó.

Hà Nội, ngày 11 tháng 4 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 229, ngày 1-5-1946.
cpv.org.vn

Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây Cu

Cùng các đồng bào dân tộc thiểu số,

Hôm nay đồng bào khai hội, sum họp một nhà thật là vui vẻ.

Tiếc vì đường sá xa xôi, tôi không đến dự hội được. Tôi tuy xa, nhưng lòng tôi và Chính phủ vẫn gần gũi đồng bào.

Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đǎng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau.

Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu giây liên lạc, hai là vì có kẻ xui giục để chia rẽ chúng ta.

Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “NHA DÂN TộC THIểU Số” để sǎn sóc cho tất cả các đồng bào.

Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta.

Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta.

Xin chúc Đại hội thành công.
Lời chào thân ái

Hà Nội, ngày 19 tháng 4 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958, t.1, tr.85-86
cpv.org.vn

Lời kêu gọi nhân ngày 1-5

Cùng toàn quốc đồng bào!

Cùng anh chị em lao động!

Ngày 1 tháng 5 37 là một ngày tết chung cho lao động cả các nước trên thế giới. Đó là một ý nghĩa đoàn kết rất sâu xa. ở nước ta lần này là lần đầu mà đồng bào ta, anh chị em lao động ta, được tự do đón tiếp ngày 1 tháng 5. Vậy nên nó có ý nghĩa đặc biệt sâu xa hơn nữa. Đối với chúng ta nó là một ngày để tỏ cho thế giới biết rằng ngày này chẳng những là ngày tết lao động, mà nó còn là ngày toàn dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới. Từ đây, tất cả đồng bào ta, tất cả anh chị em lao động ta (lao động bằng óc và lao động bằng chân tay), đều phải cần kiệm chịu khó, giữ gìn kỷ luật, tǎng gia sản xuất, hiệp sức đồng lòng để đưa nước nhà qua khỏi bước thiếu thốn khó khǎn mà tiến đến hoàn cảnh vẻ vang no đủ. Đó là ý nghĩa ngày 1 tháng 5 của chúng ta.

Nhân dịp này, chúng ta gửi lời chào mừng cho dân tộc và lao động Trung Hoa, cho dân tộc và lao động nước Pháp, để tỏ tình thân thiện quốc tế.

Toàn dân đoàn kết muôn nǎm!

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 229, ngày 1-5-1946.
cpv.org.vn

Thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ Hồng quân với Liên Xô

Anh chị em yêu quý,

Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có ǎn, có mặc, có học.

Vậy nên khẩu hiệu của chúng ta là:

1. Tǎng gia sản xuất.

2. Chống nạn mù chữ.

Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp số 2 đó. Anh chị em chịu cực khổ khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền vǎn hoá sơ bộ cho dân tộc.

Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tǎm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em.

Tôi mong rằng trong một thời kỳ rất ngắn, lòng hǎng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả rất vẻ vang, đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết. Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng.

Tôi lại mong rằng đồng bào các nơi ra sức giúp cho anh chị em bình dân học vụ trong công việc giáo dục đó.

Tôi gửi lời chào thân ái và chúc anh chị em thành công.

Hồ Chí Minh

Bút tích lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Thư gửi Liên đoàn Công giáo và Nhà Dục anh Công giáo Thái Bình

Ngày 28 tháng 4 nǎm 1946 tôi về dự lễ lạc thành đê Hưng Nhân, đồng bào Thái Bình tặng cho tôi nhiều vật kỷ niệm quý báu như:

– Củ khoai, trái bí to nhất trong tỉnh,

– Vở học của một em bé trong bình dân học vụ,

– Nước mắm làm bằng tôm,

– Chiếu và vải tự tay chị em phụ nữ dệt,

– Khǎn tay của thiếu nữ Tiền phong thêu,

– Quyển sổ vàng của anh em công chức Thái Bình,

– Bài thơ của Vǎn hoá Công giáo Thái Bình.

Trong các vật kỷ niệm, cái khung ảnh bằng lụa, do Nhà Dục anh Công giáo thêu, và Liên đoàn Công giáo biếu tôi, làm cho tôi đặc biệt cảm động.

Các bà phước ngày đêm chǎm nuôi các trẻ em đã rất khó nhọc, thế mà còn bớt thì giờ để thêu cái khung ảnh rất đẹp. Tôi trông thấy trong mỗi đường kim, trong mỗi mối chỉ, đã thấm thía bao nhiêu cái tinh thần yêu mến giữa đồng bào công giáo với tôi. Do đó, chúng ta đủ thấy rằng: Đồng bào ta không chia lương giáo, ai cũng tương ái, tương thân, đoàn kết chặt chẽ thành một khối.

Tôi cảm ơn và xin chúc toàn thể đồng bào công giáo luôn luôn mạnh khoẻ, để phụng sự Tổ quốc, phụng sự Chúa Trời.

Lời chào thân ái
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 236, ngày 10-5-1946
cpv.org.vn

Điện vǎn gửi Đô đốc Đácgiǎngliơ

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kính gửi Thượng sứ,

Quốc hội Việt Nam cùng Chính phủ Việt Nam rất lấy làm cảm động về sự đón tiếp niềm nở phái đoàn Quốc hội Việt Nam. Xin ngài chuyển lời cảm ơn trên này về Chính phủ Pháp và ao ước rằng những cuộc thương thuyết sau này tại Pari cũng sẽ thân mật như thế để mưu sự thịnh vượng chung cho cả hai dân tộc.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 239, ngày 14-5-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử: Sức khỏe và thể dục

Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ.

Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi một người yêu nước. Việc đó không tốn kém, khó khǎn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi ngày lúc ngủ dậy, tập một ít thể dục. Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khoẻ.

Bộ Giáo dục có Nha Thể dục, mục đích là để khuyên và dạy cho đồng bào tập thể dục, đặng giữ gìn và bồi đắp sức khoẻ.

Dân cường thì quốc thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập.

Báo Cứu quốc, số 199, ngày 27-3-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử – Phương pháp tác chiến

Phép dụng binh.

Phép dụng binh, mỗi thời mỗi khác. Về thời cổ, theo Tôn Tử phải huy động “Nghìn chiến xa chạy thật nhanh dùng vào việc đánh phá. Phụ vào những chiến xa đó, phải có nghìn chiến xa bọc da dùng vào việc phòng ngự. Lại thêm mười vạn quân mặc áo giáp, đội mũ sơn và có đủ vũ khí”.

Đã động viên một số quân đội lớn như thế, còn phải lo tính việc chở lương thực và các chiến phí khác, nên Tôn Tử nói:

“Muốn điều động đại đội binh mã đi đánh phương xa, phải lo tính làm sao chở được lương thực ra ngoài chiến trường cách xa nghìn dặm, phải trù liệu mọi thứ chiến phí khác để chi về việc chiến tranh ở trong nước cũng như ở ngoài nước; về việc tiếp đãi ngoại giao, đại sứ, về việc thuê các gián điệp, về việc sắm các vật liệu, chế tạo vũ khí, chiến xa… Tính ra mỗi ngày phải tiêu đến hàng vạn triệu”.

Đời xưa bài binh bố trận cũng dùng chiến xa làm động lực chính. Những chiến xa đó có thể coi như đội cơ giới lớn ngày nay. Trong hồi chiến tranh trước và mới rồi, không nước nào không cố sức tổ chức đội cơ giới hoá có đủ các thứ chiến xa như xe tǎng, xe bọc sắt, xe hơi, xe tải, súng đại bác, v.v. để tǎng gia lực lượng đánh phá, chuyển vận, phòng giữ cho có hiệu quả.

Các chiến phí rất quan hệ đến sự thắng bại của chiến tranh. Quân đội với chiến phí bao giờ cũng đi đôi với nhau. Quân đội tinh nhuệ, nhưng thiếu chiến phí cũng thành quân đội hèn yếu. Chiến phí không biết thế nào gọi là đủ được. Phải do chiến tranh lâu hay chóng, quân đội nhiều hay ít, chiến trường xa hay gần mới có thể tạm thời quyết định được chiến phí.

Chiến phí ấy lấy ở đâu? Phải lấy ở dân chúng bằng cách đánh thuế, trưng thu, tịch thu… Có khi chiến tranh kéo dài, dân chúng phải tiết kiệm ǎn, mặc, phải nộp cả khí cụ bằng kim khí để đúc súng, chế đạn. Vậy trước khi tham dự chiến tranh, phải lo cung cấp chiến phí cho đầy đủ mới mong chiến thắng được quân thù.

Phải đánh thật nhanh để thắng nhanh.

Về vấn đề này, Tôn Tử nói: “Chiến tranh cần phải giải quyết thật nhanh chóng, sớm ngày nào hay ngày ấy. Kéo dài ra chỉ làm hao binh, tổn tướng, mất nhuệ khí chiến đấu, làm tài nguyên của quốc gia bị kiệt quệ, nhân dân điêu đứng”.

Thật vậy, chiến tranh càng kéo dài, càng bất lợi chẳng những quốc gia bị hãm vào vòng suy nhược, các nước khác lại nhân cơ hội dòm ngó hoặc gây chiến để cướp đất đai hoặc uy hiếp bắt phải nhượng bộ về phương diện này hay phương diện khác.

Vì vậy Tôn Tử khuyên: “Đã dự chiến tranh, phải tập trung hết thảy lực lượng, bày hết mưu kế thắng nhanh được quân thù mới có lợi. Trái lại, không xét tương lai, không xem tình thế để đến nỗi chiến tranh kéo dài sẽ xảy ra vạn sự không hay”.

Bất đắc dĩ mới phải gây ra chiến tranh. Vậy một khi đã dự chiến tranh không sao tránh khỏi được sự hao tổn. Muốn giảm sự hao tổn đó, phải giải quyết chiến tranh một cách thật mau chóng. Trong chiến lược của Nã Phá Luân 1 có nói: “Rút một ngày (mười hai giờ) thành mười giờ để mà tiến quân và tác chiến rồi sau sẽ nghỉ ngơi”. Chiến lược này cũng giống như chiến lược của Tôn Tử nghĩa là phải đánh mạnh như vũ bão, nhanh như chớp nhoáng. Một nhà danh tướng về hải quân là Nensông (Nelson) cũng có nói: “Giờ phút là đồng chí yêu quý của ta. Ta nên quý trọng người đồng chí ấy hơn những đồng chí khác”. Trong chiến tranh, giờ phút có quan hệ lắm, chỉ sai nhau 5 phút có thể quyết định được thắng bại. Các nhà danh tướng đời trước một khi ra trận, đều đánh thật nhanh, cướp được phút nào hay phút ấy. Thừa được lúc quân địch nhọc mệt, trễ nải không đề phòng, hay bỏ ngỏ một mặt nào, phải quyết đoán, phải dũng cảm tiến đánh cho thật nhanh. Nếu trù trừ, do dự, sẽ mất cơ hội tốt.

Nhưng đánh thật nhanh không phải là hấp tấp vội vàng mà quên cả cơ mưu. Phải vừa nhanh vừa có mưu cơ mới quyết định được thắng lợi.

Vậy về binh pháp: bất luận một động tác gì cũng phải nhanh. Hành quân nhanh, đánh trận nhanh, súng bắn nhanh, càng nhanh càng có lợi. Trong tất cả các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà đều có thể tuỳ lúc, tuỳ nơi mà lợi dụng, nhưng điều kiện thời gian, điều kiện nhanh chóng vẫn là quan trọng hơn hết.

Tôn Tử rất chú ý đến điều kiện này, nên thường nhắc đi nhắc lại luôn. Để kết luận, Tôn Tử nói:

“Tự xưa đến nay, không thấy chiến tranh kéo dài mà có lợi cho quốc gia bao giờ”.

Như thế là có ý nói chỉ đánh thật nhanh để quyết thắng mau chóng mới có lợi mà thôi. Về lợi hại cho quốc gia, Tôn Tử nói:

“Người nào không hiểu rõ chỗ hại của phép dùng binh, không thể hiểu rõ được chỗ lợi của phép đó được”.

Cho nên người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy.

Q.Th. thuật

Báo Cứu quốc, số 242, ngày 17-5-1946.
cpv.org.vn

Nói chuyện với phóng viên hãng A.F.P sau Hội nghị trù bị Đà Lạt

Một cách trung thực, thành thực và đôi khi tàn bạo, đại biểu của hai nước đã nói rõ lập trường của mình, đó là một phương pháp hay vì như vậy, bây giờ chúng ta hiểu nhau hơn trước. Về một vài điểm, hai bên đã thoả thuận. Vẫn còn có những sự bất đồng ý kiến. Nhưng cuộc hội nghị này chỉ là một cuộc hội nghị trù bị. Nhiệm vụ của cuộc hội nghị Ba Lê là chuẩn y sự thoả hiệp thực hiện ở Đà Lạt và dung hoà các quan điểm xung đột nhau. Các cuộc xung đột ý kiến không đến nỗi không giải quyết được. Hai dân tộc phải thoả thuận với nhau để thực hiện một cuộc hợp tác thân thiện. Chúng ta đã đặt một nền tảng chắc chắn cho các cuộc đàm phán sau này.

Nói ngày 19-5-1946.

Báo Cứu quốc, số 245, ngày 21-5-1946.
cpv.org.vn

Lời cǎn dặn anh chị em giáo viên bình dân học vụ(1)

Anh chị em giáo viên bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết.

Thế là làm tròn một nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc.

Ngày 20 tháng 5 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t.I, tr.90.
cpv.org.vn

—————————–

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Binh pháp Tôn Tử – Muốn biết người phải thế nào?

Biết mình, biết người đánh trǎm trận được trǎm trận. Biết mình như kỳ trước đã nói là phải xem mình đã có đủ những điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà, v.v. còn biết người nghĩa là biết tình hình bên địch thì không gì hơn là dùng gián điệp.

a- Sự quan trọng của gián điệp – Tôn Tử nói: “Chi phí hàng vạn hàng triệu về việc quân để chống nhau với địch trong một thời gian lâu dài, mong có ngày được thắng lợi, thế mà tiếc một vài trǎm để chi về việc gián điệp, đến nỗi không biết rõ tình hình bên địch, đành phải chịu thua. Người làm tướng như thế không đủ tư cách làm tướng, không đủ tài giúp chính phủ, không đủ trí thắng được quân địch”.

Thật vậy, không biết rõ quân địch, không thể cướp được thắng lợi một cách chóng vánh. Khi chiến tranh càng kéo dài, dân chúng càng khổ sở, thì thắng trận cũng chẳng thu hoạch được gì mà thua trận thì tai hoạ không sao kể xiết. Không biết rõ tình hình bên địch mà dám khai chiến thời có khác gì đánh bạc với chiến tranh.

Cho nên tướng giỏi, một khi đã dùng binh là cầm chắc được thắng lợi chỉ vì lúc chưa khai chiến đã biết trước được tình hình bên địch.

b- Các thứ gián điệp – Tôn Tử chia ra 5 thứ gián điệp.

1- Hương gián – Hương gián nghĩa là lợi dụng dân chúng bên địch làm gián điệp, rồi theo ngôn ngữ hành động của họ để phán đoán, có thể, lấy cả những bản ráp của những báo chí, thư từ, điện báo đem so sánh với những bản đã chép lại hoặc in ra để xét tình hình bên địch. Những sổ sách, giấy má trong công sở, nhà bưu điện, hãng thông tin… cũng có thể dùng làm tài liệu phán đoán được. Những tin tức đǎng lên báo hay nói miệng nhiều khi có ảnh hưởng rất lớn về quân sự, không thể không chú ý.

2- Nội gián – Mua chuộc bọn quan lại, tướng tá, binh sĩ cùng những người có nǎng lực như học giả, ký giả, các nhà tu hành, các nhà thực nghiệm… để họ báo cáo tình hình bí mật trong nội bộ của bên địch hoặc nhân ngôn ngữ và hành động của họ để phán đoán tình hình.

3- Phản gián – Mua chuộc bọn gián điệp của bên địch biến họ làm gián điệp của mình. Bắt được gián điệp của bên địch, lợi dụng nó báo cáo tình hình thực tế của nước nó cho mình. Hoặc giả vờ không biết nó là gián điệp, hoặc giả bày đặt bằng những mưu kế của mình cho nó biết rồi thả nó ra. Khi về nước, nó sẽ báo cáo những mưu kế ấy với người nước nó làm cho người nước nó tưởng là mưu kế thực.

4- Tử gián – Để cho gián điệp biết chuyện của mình nhưng mà chỉ là chuyện bịa đặt thôi. Rồi phái người gián điệp ấy ngầm sang bên địch hoạt động, một mặt lại bày mưu làm cho bên địch biết người gián điệp đó là của bên mình, tất nhiên người gián điệp đó bị quân địch bắt. Không chịu được tra khảo, gián điệp phải cung xưng cho địch tình hình của bên mình mà hắn đã biết lúc ra đi. Nhưng thực ra tình hình hắn báo cáo đó chỉ là giả dối. Theo lời cung khai này để mưu kế đánh mình, quân địch nhất định bị thua. Ngoài cách ấy lại có thể bảo gián điệp mình làm hướng đạo cho địch để đưa địch vào cạm bẫy. Trong khi chiến đấu, sai sứ sang trá hàng. Địch thấy hàng rồi không phòng bị nữa, mình liền thừa cơ tiến công.

Tất cả những hành động kể trên, quân thù sẽ tự biết bị lừa sau khi chúng đã thất bại. Cách làm gián điệp không có hy vọng sống như thế gọi là tử gián.

5- Sinh gián – Phái người sang bên địch dò xét tình hình để về báo cáo gọi là sinh gián. Tuy gọi là sinh gián nhưng cũng phải coi cái chết như thường mới có thể làm nổi. Phải là người can đảm, nhanh nhẹn, trầm tĩnh, kiên quyết và tinh thông phong tục, tập quán, ngôn ngữ của bên địch. Ngoài ra, còn phải có đủ tri thức về quân sự, về khoa học. Nhất là người nào khéo giả hình giả dạng được càng tốt. Hơn nữa, lợi dụng kế mỹ nhân lại càng đắc lực lắm. Những tay gián điệp này có khi hoạt động ở bên nước địch, có khi hoạt động ở một nước trung lập hay ở ngay chiến trường.

Vậy muốn biết rõ được tình hình bên địch cần phải chǎng lưới gián điệp khắp các ngành hoạt động của nước địch. Chiến tranh ngày nay biến hoá vô cùng. Chiến tranh về quân sự, kinh tế, ngoại giao, khoa học, chính trị và cân não. Mọi sự đều phiền phức, nên công việc gián điệp cũng rất là phiền phức. Lúc bình thời, gián điệp phải xem xét tình hình chính trị, quân sự của nước địch và xúi giục dân chúng nước địch phản đối chính phủ, hoặc nếu có thể, nổi dậy bạo động đánh đổ chính phủ, làm cho nội bộ địch bị phá vỡ. Về mặt chiến thuật, lúc bình thời, phải xem xét quân bị, binh sĩ, khí giới, địa hình của nước địch như thế nào; lúc chiến tranh phải tìm cách phá hoại đường sá, cầu cống, pháo đài hoặc chuẩn bị mọi công tác có lợi cho chiến thuật của nước mình.

Nhiệm vụ của gián điệp thực nặng nề. Làm được nhiệm vụ đó, thắng trận rất dễ dàng.

Q.Th

Báo Cứu quốc, số 248, ngày 24-5-1946
cpv.org.vn

Thư cảm ơn

Tôi trân trọng cảm ơn:

Quốc hội, Chính phủ, các đảng, các đoàn thể, đồng bào Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, đồng bào Công giáo, Phật giáo, Tin lành, các cháu thanh niên và nhi đồng.

Cảm ơn các bạn hữu Tàu, Pháp, Mỹ, Anh đã tỏ lòng quá yêu tôi và chúc mừng ngày sinh nhật tôi.

Nhân dịp này, tôi xin hứa với đồng bào rằng từ đây về sau, cũng như từ đây về trước, tôi sẽ ra sức phấn đấu để giữ gìn quyền tự chủ của nước nhà, quyền tự do của dân tộc, quyền dân chủ của đồng bào.

Tôi xin hứa với bạn hữu các nước rằng tôi sẽ dùng tinh thần lực lượng nhỏ mọn của tôi để giúp vào xây đắp mối thân thiện giữa các dân tộc.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 249, ngày 25-5-1946.
cpv.org.vn