Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Song thập nhật giải vãng Thiên Bảo – Tết Song thập bị giải đi Thiên Bảo

SONG THẬP NHẬT GIẢI VÃNG THIÊN BẢO

Gia gia kết thái dữ trương đǎng,
Quốc khánh hoan thanh cử quốc đằng;
Ngã khước kim thiên bị bang giải,
Nghịch phong hữu ý trở phi bằng.

TẾT SONG THẬP – BỊ GIẢI ĐI THIÊN BẢO)

Nhà nào nhà ấy kết hoa và treo đèn,
Cả nước reo vui, mừng ngày quốc khánh;
Thế mà hôm nay ta bị trói giải đi,
Ngọn gió ngược cố ý cản đôi cánh chim bằng.

————————

Nhà nhà hoa kết với đèn giǎng,
Quốc khánh vui reo cả nước mừng;
Lại đúng hôm nay ta bị giải,
Oái oǎm gió cản cánh chim bằng.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tẩu lộ – Đi đường

TẨU LỘ

Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan,
Trùng san chi ngoại hựu trùng san;
Trùng san đǎng đáo cao phong hậu,
Vạn lý dư đồ cố miện gian.

ĐI ĐƯỜNG

Có đi đường mới biết đường đi khó,
Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác;
Khi đã vượt các lớp núi lên đến đỉnh cao chót,
Thì muôn dặm nước non thu cả vào tầm mắt.

————————

Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám và bài học xây dựng nhà nước pháp quyền

(VOV) – Những kinh nghiệm trong buổi đầu đầu lập nước ấy đang được kế thừa và phát huy trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo đường lối của Đảng

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ rũ bùn đứng dậy làm chủ nhân đất nước. Dẫu buổi đầu đầy cam go thách thức nhưng người dân Việt Nam đã tự tay thực hiện quyền làm chủ, cầm lá phiếu bầu nên Quốc hội, chọn những người ưu tú nhất vào bộ máy nhà nước để lãnh đạo nhân dân chống thù trong giặc ngoài giữ vững nền độc lập.

Những kinh nghiệm trong buổi đầu đầu lập nước ấy đang được kế thừa và phát huy trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo đường lối của Đảng.

Năm nay đã vào tuổi 93, Giáo sư Lưu Văn Đạt, Chủ tịch Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam dường như gắn trọn đời mình với sự nghiệp cách mạng mà ông đã nhiệt tình tham gia từ những năm đầu của cuộc kháng chiến kiến quốc. Mấy mươi năm công tác, dù ở cương vị nào, Giáo sư Lưu Văn Đạt cũng thể hiện sự uyên bác của một chuyên gia về pháp luật. Việc ra đời một nhà nước dân chủ ngay sau khi lật đổ ách thống trị thực dân phong kiến là một thành công vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị người cầm lái con thuyền cách mạng. Chính Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền khi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc. Bằng mục tiêu trong sáng, bằng uy tín, tài năng, đạo đức và tinh thần quyết tâm “dù có đốt cháy cả dải Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản quí giá về tình thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc trong quá trình xây dựng nhà nước cách mạng.

Giáo sư Lưu Văn Đạt chia sẻ: “Điều mà tôi tâm đắc nhất là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, trọng nhân tài của Hồ Chủ tịch. Bác nói là ai có tâm huyết thì Bác sẵn sàng tiếp nhận để làm việc cho đất nước. Lúc bấy giờ Đảng viên có bao nhiêu đâu, những người ngoài Đảng thì rất đông. Nhưng những người ngoài Đảng đều là những người ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Đảng và Hồ Chủ tịch. Hầu hết trí thức lúc bấy giờ đều đứng dưới lá cờ của Hồ Chủ tịch, sẵn sàng làm mọi việc giúp ích cho đất nước”.

Nhờ vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được một chính phủ đủ sức lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc thành công. Những trí thức phong kiến như Phạm Khắc Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn… rồi những trí thức mới như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài cũng trở về góp sức xây dựng đất nước.

Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc – nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng – Học viện Chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phân tích: Thắng lợi lớn nhất, triệt để nhất của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là đánh đổ chế độ nô lệ, xây dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước do dân và vì dân. Cuộc bầu cử Quốc hội tháng 1/1946 và sau đó là thành lập chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu là một bước đi có tính chiến lược, thể hiện sự tài ba của Bác. Bài học lớn trong xây dựng nhà nước của cuộc Cách mạng tháng Tám là sự thay đổi bản chất nhà nước. Nói như Bác Hồ là: “Nhà nước ấy không phải để đè đầu cưỡi cổ dân như chế độ thực dân phong kiến, mà bộ máy chính phủ từ trung ương đến địa phương phải là công bộc của dân, phục vụ nhân dân”.

Theo Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến khi Người gửi bảng yêu sách 8 điều đến Hội nghị Versaill xây năm 1919. “Tám điểm yêu sách, đầu tiên Cụ chú ý vấn đề pháp luật, trong đó có một câu là “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Trong tác phẩm Đường Cách Mệnh thì Cụ lại nói là cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều. Đấy chính là quyền làm chủ, quyền lợi, quyền lực. Cuộc bầu cử tháng Giêng năm 46 để khẳng định cơ sở pháp lý của nhà nước. Nhà nước này là Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, do dân cử, xác định không những cơ sở thực tế mà còn là cơ sở pháp lý của Nhà nước trong đối nội và đối ngoại” – Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc nói.

Phó Giáo sư Sử học Lê Mậu Hãn cho rằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tư thế của một dân tộc khát khao tự do, một quốc gia khát khao độc lập. Cả đời bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh đạo cách mạng thành công đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ là để thực hiện cho được hoài bão xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng ấy là bài học rất quí. Phó Giáo sư Lê Mậu Hãn cho rằng: “Thắng lợi đó là thắng lợi của tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh mà Đảng tổ chức lãnh đạo. Và trong cuộc bầu cử đó toàn dân có quyền ứng cử và bầu cử. Cho nên đó là thắng lợi của tư tưởng dân tộc bình đẳng, dân chủ và đại đoàn kết. Đó là một bài học kinh nghiệm có giá trị đặc biệt khi hiện nay đặt vấn đề phải tích cực phát huy quyền dân chủ tự do cho nhân dân để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đang tiến lên trong điều kiện khó khăn”.

Theo Giáo sư Lưu Văn Đạt, để xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh, không phải ở luật pháp – tức pháp trị, mà cái chính là đạo đức của người cán bộ cách mạng – tức đức trị. Tính vì dân của nhà nước phải được thể hiện bằng những việc hết sức cụ thể: “Có một phương châm Hồ Chủ tịch đề ra là cái gì có lợi cho dân thì hết sức làm, cái gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Điều này Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong kỳ nhậm chức cũng đã nhắc lại. Tôi nghĩ rằng nếu như tất cả công chức viên chức của nhà nước, các nhà lãnh đạo luôn suy nghĩ đến phương châm đó chắc chắn là nhà nước pháp quyền của chúng ta sẽ thực sự là của dân, do dân và vì dân. Bởi vì cuối cùng là vì dân, vì dân là vì lợi ích của nhân dân, cái gì có lợi cho nhân dân thì làm”.

Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ XI xác định: Không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Việc nhanh chóng tổ chức bầu cử Quốc hội khóa XIII và hoàn thiện bộ máy nhà nước vừa qua đã thể hiện quyết tâm ấy của toàn Đảng toàn dân ta.

Đất nước đang kỳ vọng ở đường lối đổi mới của Đảng, vào quyết tâm của Chính phủ nói không với nạn quan liêu tham nhũng, quyết tâm xây dựng bộ máy công quyền hết lòng phục vụ dân, để nhà nước ta thực sự là nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ./.

Vân Thiêng
vov.vn

Những ngày Cách mạng tháng Tám ở Hải Phòng

(VOV) – Nhân dân thành phố cảng nhất tề đứng lên khởi nghĩa, đánh đuổi cường hào ác bá, xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến.

67 năm trước, cùng với cả nước, nhân dân Hải Phòng đã nhất tề đứng lên khởi nghĩa, đánh đổ cường hào ác bá, xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, lập ra nhà nước công nông. Thành công của Hải Phòng đã góp phần làm tan rã nhanh chóng hệ chống chính quyền thực dân phong kiến ở vùng đông bắc Tổ quốc, cùng cả nước vui trọn niềm vui trong ngày độc lập.

Sau khi cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ngày 19/8 tại thủ đô Hà Nội thành công, không khí cách mạng lan xuống Hải Phòng.

Phong trào cách mạng ủng hộ Đệ tứ chiến khu Đông Triều của tướng Nguyễn Bình ở Thủy Nguyên, phong trào Việt Minh ở An Lão, phong trào đánh Nhật ở Kiến Thuỵ… đều phát triển mạnh, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia. Riêng ở Đồ Sơn, nhân dân tràn lên phá kho thóc nhà Cửu Yên, quản lý đồn điền ấp An Cố của Hoàng Trọng Thu (con trai của tên Việt gian Hoàng Cao Khải), tịch thu lương thực chia cho dân nghèo. Tại khu vực nội thị Đồ Sơn vẫn bị Nhật cai quản, trong làng còn rất đông đội ngũ Chánh tổng, Lý trưởng nhưng khí thế cách mạng rất sôi sục.

Phát lệnh Tổng khởi nghĩa năm 1945 (Ảnh: TL)

 

Từng chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền ở Kiến An, Trung tướng Đặng Kinh – nguyên Tư lệnh Quân khu 3 nhớ lại: “Tôi chỉ huy một đại đội giành chính quyền ở Kiến An. Phát động biểu tình toàn huyện, có tất cả chính quyền, thu triện của lý trưởng, chánh tổng và không đóng thuế cho Pháp. Sau đó đưa đại đội thứ 2 sang phối hợp giải phóng Hải Phòng. Lúc đầu tôi định đưa 100 người đi, nhưng rồi thanh niên theo đông lắm, cả ngàn thanh niên, mỗi người cầm một cây mã tấu đi theo. Rồi phụ nữ, thiếu niên… sục sôi như thế…”.

Dù đã bước sang tuổi 86, nhưng đại tá Hoàng Xuân Lâm – Chủ nhiệm Câu lạc bộ hưu trí Công an Hải Phòng vẫn nhớ như in những ngày còn là anh thanh niên 19 tuổi đi theo Cách mạng, được giao làm chính trị viên lực lượng tự vệ cứu quốc tại Đồ Sơn tháng 8/1945.

Ông kể: “Hồi đó Việt Minh vũ khí rất thô sơ nhưng ai cũng hăng hái đứng lên làm Cách mạng. Đến ngày 23/8 thì Đệ tứ chiến khu ở Thủy Nguyên mới kéo quân vào, ở Kiến An sang, các huyện ngoại thành mới tiến vào. Cứ đi đến đâu thì dân đổ ra chào mừng đến đó. 23/8 thì giành được chính quyền ở Hải Phòng, ra mắt chính quyền Cách mạng. Nghe tin Việt Minh đánh đổ Pháp, Nhật, đem lại quyền lợi, đem lại no ấm cho dân là theo thôi. Cách mạng sôi sục đến mức là toàn dân người ta cứ đổ ra đường, hoan nghênh”.

Sau khi Cách mạng thành công, chính quyền non trẻ phải đối đầu với các thế lực phản động thân Nhật và Quốc dân đảng. Thành phố thành lập Ty Cảnh sát để bảo vệ cách mạng, đồng thời lo xây dựng chính quyền, khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống nhân dân, diệt giặc đói giặc dốt. Cùng với đó là phong trào “hũ gạo kháng chiến”, “tuần lễ vàng”, được mọi tầng lớp nhân dân ủng hộ tích cực.

Ở Hải Phòng khi đó xuất hiện những tấm gương nhà tư sản yêu nước như ông Nguyễn Sơn Hà, không chỉ đóng góp hàng trăm cây vàng mà còn đứng ra lập trường Dục Anh tại số nhà 46 Lạch Tray để nuôi dạy trẻ mồ côi. Từ ngôi trường này, nhiều người đã trưởng thành, tham gia cách mạng và trở thành những sĩ quan quân đội, cán bộ các ngành nghề, đóng góp vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước sau này.

Cách mạng tháng Tám thành công, người dân từ thân phận nô lệ đã rũ bùn đứng dậy làm chủ nhân đất nước. Khí thế ấy đã thu hút được sự đồng lòng của toàn thể nhân dân, tạo sức mạnh đoàn kết vô cùng to lớn để chính quyền cách mạng non trẻ từng bước phá vỡ thế “ngàn cân treo sợi tóc”, giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân ta vừa giành được.

Thời gian đã đi qua, đối với những người từng tham gia khởi nghĩa giành chính quyền 67 mùa thu trước, ký ức hào hùng của cuộc cách mạng tháng Tám vĩ đại vẫn không hề phai. Ngọn lửa Cách mạng tháng Tám vẫn mãi mãi là niềm tự hào để thế hệ hôm nay vươn về phía trước, xây dựng thành phố cảng giàu đẹp, anh hùng./.

Vân Thiêng/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Hào khí cách mạng tháng Tám trong bộ phim “Sao tháng Tám”

(Dân trí)- Khắc họa cuộc kháng chiến lừng lẫy trong lịch sử, cho đến hôm nay, sau 36 năm “Sao Tháng Tám”(cố Đạo diễn – NSND Trần Đắc) vẫn giữ trong mình hơi thở thời đại cách mạng tháng Tám hào hùng. Bộ phim xứng đáng mang sứ mệnh ghi dấu lịch sử dân tộc bằng điện ảnh.

Lấy bối cành những ngày sôi sục trước cách mạng tháng Tám (1945), thời điểm nạn đói Ất Dậu khủng khiếp lan tràn khắp mọi nơi. “Năm 1940, phát xít Nhật chiếm đóng các thuộc địa Pháp trên bán đảo Đông Dương…”- ý tưởng chủ đề của bộ phim đã phần nào khái quát lại hoàn cảnh lịch sử để người xem có thể hình dung lại.

Bộ phim “Sao tháng Tám” đưa đến cho khán giả bức tranh về cuộc sống lầm than của dân ta mà không trang viết nào tái hiện chân thực bằng. Người đói vật vờ như những cái bóng khắp các hang cùng, ngõ hẻm, với tiếng khóc, tiếng rên, tiếng kêu ai oán. Hẳn ai đã từng xem qua bộ phim này, không thể quên được những tấm hình về nạn đói của Nguyễn An Ninh, cảnh quay ông cụ già thều thào khi bị mang đi “Tôi chưa chết đừng chôn tôi” và tiếng đáp trả của hai thanh niên “Đằng nào cụ chả chết, cụ đi sớm cho mát mẻ” hay cảnh cháu bé khóc thảm thiết “Các bác ơi! Cứu bà cháu với” đầy bi thương… Những công nhân lao động sống cảnh cơ cực trong các hầm lò, nhà máy với đồng lương rẻ mạt, ngày ngày bị đánh đập. Tội ác của Nhật, Pháp chất cao như núi.

Hào khí cách mạng tháng Tám trong bộ phim “Sao tháng Tám”

Giữa cảnh lầm than ấy, cuộc đối đầu giữa một dân tộc với những kẻ xâm lược đang chực chờ bùng nổ. Tập trung thể hiện một khía cạnh của tình hình xã hội có liên quan tới các nhân vật trong phim. “Sao tháng Tám” là cuộc đấu tranh từng giờ, từng phút của những chiến sĩ trong phạm vi nhỏ ở nội và ngoại thành Hà Nội từ tháng 2 đến tháng 8 năm 1945 – thời kì căng thẳng nhất của cuộc kháng chiến. Mỗi nhân vật là biểu trưng cho một tầng lớp tham gia kháng chiến từ lôi kéo vận động quần chúng rải truyền đơn, huy động công nhân đình công ở các nhà máy, xí nghiệp đến trực tiếp liên lạc, chống lại việt gian. Từ người phụ nữ bụng mang dạ chửa như chị Nhu (NSUT Thanh Tú) một cán bộ Việt Minh cốt cán, những thanh niên trí thức như Kiên (NS Dũng Nhi), người phụ nữ nông dân như cô Mến (NSUT Thanh Hiền), đến những cụ già đói rách, cùng cực, những đứa trẻ ngây thơ… đều tham gia cách mạng. Họ kiên cường chống chọi với những tên chỉ điểm như Kiều Trinh (Cố NS Đức Hoàn), gã mật thám cáo già như Công. Với diễn xuất tài tình của dàn diễn viên trẻ, bộ phim đã khắc họa lại thời khắc căng thẳng trong cuộc đấu trí giữa những nhân vật đưa bộ phim đến tầm kinh điển có hơi hướng hành động của điện ảnh Việt Nam.

Có thể nói, “Sao tháng Tám” không chỉ là bộ phim mang giá trị lịch sử mà còn là mảnh đất để nhiều diễn viên tỏa sáng. Nhu là vai diễn để đời của NSUT Thanh Tú, trước đó, chị đã từng đóng nhiều phim như “Biển lửa”, “Tiền tuyến gọi” nhưng khi vào vai Nhu chị mới thực sự để lại dấu ấn trong lòng khán giả. Vai diễn chị Nhu một cán bộ Việt Minh can trường xuất thân từ bần cố nông là hình ảnh trung tâm của “Sao tháng Tám” khi giả dạng một công nhân lao động, lúc là một nữ tu hành khi lại là một phụ nữ khâu thuê. Ánh mắt chị khi cương quyết giao nhiện vụ cho đồng đội, lúc tràn đầy xót xa khi chứng kiến đồng bào lầm than, lúc bi thương khi nghe tin chồng bị bắt. Vai diễn đã mang lại cho diễn viên Thanh Tú giải thưởng nữ diễn viên xuất sắc nhất ở liên hoan phim Việt Nam lần thứ IV (1977).

NSƯT Thanh Tú trong vai Nhu- phim Sao tháng TámNSƯT Thanh Tú trong vai Nhu- phim Sao tháng Tám

Dũng Nhi sắm vai thứ chính trong phim, Kiên – chiến sĩ Việt Minh trẻ nhưng có người chị gái theo Pháp, sau đó theo Nhật, chuyên lùng bắt cộng sản. Dũng Nhi lúc đó chừng 24 tuổi, nghiệp dư, song vào vai khá sâu sắc. Anh đã thể hiện chân thực hình ảnh của một người thanh niên trí thức đến với cách mạng song vẫn đau đớn, xót xa cho chị gái của mình. Cảnh quay anh khóc nhìn chị gái mình trước khi ngã xuống đã ám ảnh người xem và ẩn chứa nhiều thông điệp sâu sắc về sự day dứt giữa tình yêu nước và tình cảm ruột thịt.

Bộ phim sử dụng những khúc tráng ca cách mạng của nhạc sĩ Văn Cao, Nguyễn Đình Thi cùng giai điệu “Quốc tế ca” làm sống dậy một thời kì hào hùng của đất nước. Những đoàn người cầm cờ đỏ sao vàng, giơ cao khẩu hiệu chiến thắng trên đường phố thủ đô, những khuôn mặt chị Nhu, Mến hân hoan trong niềm vui chiến thắng đã khép lại bộ phim.

“Sao tháng Tám” được đánh giá là bộ phim thành công nhất về cách mạng tháng Tám (1945) tính đến thời điểm hiện tại. “Sao tháng Tám” cũng là một trong những bộ phim về chiến tranh có sức sống mãnh liệt nhất của điện ảnh Việt Nam.

Nha Trang
dantri.com.vn

Bài học Cách mạng Tháng Tám: Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội

Qua 65 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt hơn 20 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc ta lên vị thế mới trong cộng đồng quốc tế.

Trong những ngày mùa thu lịch sử này, toàn Đảng, toàn dân ta đang tưng bừng kỷ niệm 65 năm ngày thắng lợi huy hoàng của cách mạng Tháng Tám và ngày tết độc lập của dân tộc.

Nhìn lại chặng đường lịch sử 65 năm qua chúng ta càng thấm đậm một trong những bài học sâu sắc nhất, lớn lao nhất – bài học về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Như chúng ta đã biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế quốc hung hãn, làm nên các chiến thắng lẫy lừng.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên tiếp nổ ra các cuộc nổi dậy ở khắp nơi của đất nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào chống thực dân Pháp đều có trí dũng, không thiếu quyết tâm, nhưng cả họ, cả giai cấp phong kiến và đại diện cho thế lực tư sản khi đó đều không giải quyết được vấn đề dân tộc ở nước ta vì không tập hợp được lực lượng toàn dân tộc và quan trọng hơn là không bắt kịp nhịp sống của thời đại…

Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc trở nên là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam – xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong “tình hình đen tối như không có đường ra”. Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại là tập hợp được lực lượng toàn dân để giải phóng dân tộc?

Nhưng rồi chính lịch sử đã có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tất yếu từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định phải bị thay thế bằng chế độ tốt đẹp hơn – chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người. Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị, sau khi nó đã chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến và đã bành trướng ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển khi ấy đang là “trung tâm vũ trụ”, chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống xã hội loài người.

Chính vào thời điểm mà chủ nghĩa tư bản như đang cực thịnh ấy thì Cách mạng Tháng Mười nổ ra. Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới. Cách mạng Tháng Mười “rung chuyển thế giới” đã làm cho tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò lãnh đạo cách mạng cũng thay đổi; và vì vậy con đường để giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng thay đổi.

Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu trong mảnh đất Việt Nam – nơi mà “chính sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm các việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Hơn ai hết, chính Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cho Cách mạng Việt Nam. Với kỳ công và thiên tài của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hoá thành một tất yếu đưa tới một sự kiện trọng đại: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là một mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng.

Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính lôgic phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam; 76 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, điều đó đã làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trên thế giới.

Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, Đảng ta từng lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, một điển hình trong các dân tộc thuộc địa, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến mà tưởng như hoàn toàn không cân sức với “hai đế quốc to”, mở ra thời kỳ phi thực dân sau Việt Nam cho cả hệ thống thuộc địa và các nước phụ thuộc trên toàn thế giới.

Qua 61 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt hơn 20 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc ta lên vị thế mới trong cộng đồng quốc tế.

Trong cương lĩnh chính trị và Nghị quyết của Đại hội của mình, đặc biệt trong Nghị quyết Đại hội X vừa qua, Đảng ta luôn khẳng định giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bài học sâu sắc nhất của Cách mạng Tháng Tám, đó không chỉ là mục tiêu, nhu cầu, cương lĩnh hoạt động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sâu sắc của dân tộc Việt Nam ta, Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức mạnh mới, là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau./.

Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Hiền
(Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài TNVN)

qdnd.vn

Phát huy sức mạnh của lòng yêu nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

QĐND – Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, mở ra thời kỳ mới-thời kỳ dân ta từ nô lệ trở thành người chủ thực sự của đất nước.

Bài học sâu sắc nhất của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là bài học về sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ kính yêu đã phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, kết tinh thành khối thống nhất đánh đuổi bè lũ bán nước và cướp nước giành lại chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa-nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đó là sức mạnh của lòng yêu nước, của văn hóa, của con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, quyết không chịu làm nô lệ. Đảng thấu hiểu nỗi đau của dân tộc bị đế quốc, phong kiến giày xéo; thấu hiểu nỗi đau của người dân sống kiếp lầm than, đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lê-nin chớp thời cơ phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành lại chính quyền. Đảng không có quyền lợi gì khác ngoài quyền lợi của dân tộc, của nhân dân. Chính vì thế mà lập tức, hiệu lệnh của Đảng trở thành hiệu lệnh của lòng dân.

Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc càng thấy rõ một chân lý: Lòng yêu nước chỉ có thể trở thành sức mạnh dân tộc khi được tập hợp, quy tụ thông qua khối đại đoàn kết toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

66 năm qua, bài học thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tiếp tục phát huy, khơi dậy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhất là qua hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã thu được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử, chính là nhờ Đảng ta đã phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc bằng những chính sách hợp lòng dân. Một đất nước tuy còn nhiều khó khăn, thu nhập của nhân dân còn thấp, nhưng mọi người, mọi nhà đều được hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới, nhất là đồng bào ở vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm giúp đỡ.

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, bên cạnh những thành tựu lớn lao đã đạt được, vẫn còn đây đó những thói hư tật xấu, tệ nạn quan liêu, tham nhũng làm cản trở công cuộc đổi mới, giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ tốt đẹp của chúng ta, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, Chính phủ phải có những biện pháp kiên quyết để khắc phục.

Năm nay, chúng ta kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và thực hiện Chỉ thị của 03 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Những bài học quý báu trong Cách mạng Tháng Tám sẽ được vận dụng sáng tạo vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy nguồn lực đất nước với tinh thần “lấy sức ta mà giải phóng cho ta” nhằm xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu, như mong muốn của Bác Hồ.

Quân đội ta được thành lập ngay từ trong trứng nước của cách mạng, được Đảng và Bác Hồ kính yêu lãnh đạo, dìu dắt, được sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ hết lòng của nhân dân, với lòng yêu nước nồng nàn, với chí căm thù giặc sâu sắc đã luôn luôn phát huy truyền thống, lập nhiều thành tích vẻ vang, không chỉ trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc mà cả trong hòa bình, xây dựng đất nước, luôn sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì khi được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, toàn quân ra sức thi đua, tích cực rèn luyện, học tập, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, tích cực và chủ động phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất, xứng đáng là lực lượng chính trị trung thành, chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

QĐND
qdnd.vn

Cách mạng tháng Tám – những bài học lịch sử

QĐND – Như Đại hội toàn quốc lần thứ III (năm 1960) của Đảng đã kết luận, thắng lợi nhanh gọn của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám “căn bản là do lực lượng chính trị của nhân dân đã kịp thời nắm lấy thời cơ thuận tiện nhất, khởi nghĩa giành chính quyền Nhà nước. Nhưng nếu Đảng ta trước đó không xây dựng LLVT và thành lập các khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị và khi điều kiện đã chín muồi, không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng cũng không thể mau chóng giành được thắng lợi”.

Kết luận trên đây của Đại hội nói lên mấy bài học chủ yếu của Cách mạng Tháng Tám.

Thứ nhất là kiên trì xây dựng lực lượng và kịp thời phát huy sức mạnh của toàn dân theo phương châm “đem sức ta giải phóng cho ta”.

Đảng ta đánh giá cao mối quan hệ giữa cách mạng Đông Dương với cuộc chiến tranh chống phát xít của Đồng minh và đã từng có dự kiến khả năng quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương đánh quân Nhật. Tuy nhiên, Đảng ta vừa coi trọng cả hai yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng vẫn luôn khẳng định sức mạnh đoàn kết và đấu tranh của dân tộc Việt Nam có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng. Điều đó giải thích vì sao một nội dung quan trọng của Hội nghị Trung ương 8 là chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, từng bước giác ngộ các giai cấp trong cộng đồng dân tộc và tập hợp các tầng lớp nhân dân vào các đoàn thể cứu quốc, tạo thành một sức mạnh chính trị rộng lớn và vững chắc.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (Ảnh tư liệu)

Trải qua 4 năm kiên trì giác ngộ các tầng lớp nhân dân về mục tiêu đánh Pháp-đuổi Nhật và không ngừng mở rộng các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, đến giữa năm 1945, cách mạng Việt Nam đã đứng vững trên nền tảng chính trị của toàn dân từ thành thị đến nông thôn. Từ trung tuần tháng 8-1945, sức mạnh chính trị đó không những đã quyết định thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa mà còn là lực lượng hậu thuẫn vững chắc, có ý nghĩa quyết định sự tồn tại của chế độ dân chủ cộng hòa non trẻ trước sự uy hiếp từ nhiều phía của các loại kẻ thù sau khi chính quyền về tay nhân dân.

Thứ hai là khẩn trương, nhưng thận trọng chuẩn bị chu đáo, toàn diện.

Phương châm chỉ đạo xuyên suốt cả quá trình chuẩn bị tiến tới vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền là người trước-súng sau, thể hiện tính biện chứng trong mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa con người và vũ khí, giữa tinh thần giác ngộ của quần chúng và binh khí kỹ thuật, thể hiện sự coi trọng sức mạnh chính trị của quần chúng trong khởi nghĩa vũ trang. Với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, Đảng chủ trương trước hết phải gây cơ sở chính trị vững chắc và rộng khắp làm chỗ đứng chân cho các lực lượng chính trị quần chúng; LLVT chỉ ra đời trên nền tảng vững chắc của cơ sở chính trị và lực lượng chính trị; mọi hoạt động trong thời kỳ đầu của các đội vũ trang trước hết phải nhằm gây thanh thế cho lực lượng chính trị, cũng tức là tạo thêm điều kiện cho cả lực lượng chính trị và LLVT cùng phát triển theo định hướng “khơi thêm nước cho cá vẫy vùng”.

Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng rút ra được những kết luận đầu tiên về khả năng tổ chức Mặt trận Việt Minh trên một vùng rừng núi được chọn làm nơi đứng chân của cách mạng những ngày trứng nước. Tiếp đó, trải qua hơn ba năm kiên trì vận động, từ vùng rẻo cao đến “vùng thấp” thuộc các châu huyện trên vùng rừng núi Cao Bằng, ta dần dần gây dựng được những thôn bản hoàn toàn, rồi tiến lên những tổng và châu hoàn toàn. Trên cơ sở chính trị vững chắc đó mà các đội vũ trang ra đời ở từng thôn bản, rồi từng châu và cuối cùng là việc thành lập đội vũ trang tập trung đầu tiên của cách mạng-Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.

Trải qua bốn năm (tháng 5-1941 đến tháng 5-1945) hoạt động tách biệt, hoàn toàn không có liên lạc giữa hai bộ phận Trung ương (Hồ Chí Minh ở Cao Bằng và Thường vụ Trung ương ở miền xuôi), việc ra đời của căn cứ địa Tân Trào (Tuyên Quang) mùa Hè năm 1945 là điều kiện thuận lợi để tập thể Ban Chấp hành Trung ương thống nhất nhận định tình hình trong và ngoài nước trong giai đoạn cuối của Thế chiến 2 và quyết định những bước đi tiếp theo, nhằm gấp rút chuyển cách mạng từ giai đoạn tiền khởi nghĩa (cách gọi thời đó) sang Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc: Thống nhất LLVT cách mạng (Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu Quốc quân) thành Quân giải phóng; đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền trong các địa phương có điều kiện; lập Khu giải phóng để thống nhất chỉ đạo, chỉ huy phong trào toàn quốc; mở Trường Quân chính kháng Nhật nhằm gấp rút đào tạo cán bộ phục vụ cho Tổng khởi nghĩa…

Theo đồng chí Trường Chinh, “chuẩn bị chu đáo và đúng nguyên tắc, đó là một ưu điểm lớn của Cách mạng Tháng Tám”.

Thứ ba là nhạy bén đánh giá tình hình, nắm bắt trúng thời cơ, hành động kịp thời, đúng lúc.

Mùa Thu năm 1944, Thường vụ Trung ương dự kiến cuộc xung đột Nhật-Pháp trước sau sẽ nổ ra. Cuộc đảo chính Nhật-Pháp đêm 9-3-1945 đã chứng minh dự kiến đúng đắn của Đảng, chứng minh sự nhạy bén trong việc “bắt mạch” tình hình để kịp thời đề ra chủ trương thúc đẩy phong trào tiến tới.

Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng họp giữa lúc tiếng súng đảo chính đang nổ và bản Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (đề ngày 12-3-1945) ra đời, định hướng lãnh đạo rất đúng đắn và kịp thời. Bản chỉ thị đã tạo nên một bước ngoặt lịch sử. Phong trào cách mạng chuyển từ thời kỳ vận động chính trị là chủ yếu sang thời kỳ phát động đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở các địa phương cơ sở.

Thực tế cho thấy, nghệ thuật nắm bắt tình hình và nghệ thuật chỉ đạo chớp thời cơ cách mạng của Đảng thể hiện trong hai bối cảnh khác nhau: Khi nhận thấy điều kiện chưa chín muồi thì kiên quyết phản đối mọi chủ trương manh động để bảo toàn lực lượng cách mạng; nhưng khi phát hiện “tình thế trực tiếp cách mạng” đã xuất hiện thì kịp thời động viên quần chúng nhân dân quyết tâm vượt mọi khó khăn để đánh đòn quyết định, giành thắng lợi cho cách mạng.

Nét đặc sắc của nghệ thuật đánh giá tình hình và chớp thời cơ của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám là ở chỗ: Cuộc Tổng khởi nghĩa không nổ ra trước ngày Nhật Bản đầu hàng, để quân đội Thiên hoàng không còn vị thế để can thiệp vào nội tình Việt Nam. Cuộc Tổng khởi nghĩa cũng không nổ ra sau ngày quân Tưởng đã vào miền Bắc, buộc tướng lĩnh Quốc dân đảng Trung Hoa phải “nói chuyện” với Chính phủ lâm thời, đại diện cho nước Việt Nam đã có chủ sau Tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Nhận xét về thời cơ của Cách mạng Tháng Tám, Tổng Bí thư Trường Chinh nói: “Mau lẹ, kịp thời, nổ ra đúng lúc phải nổ, đó là một ưu điểm nữa của Cách mạng Tháng Tám”.

Ba bài học trên đây liên quan hữu cơ với nhau, tạo thành một thể thống nhất, nói lên bản lĩnh và nghệ thuật lãnh đạo của Đảng những năm 1941-1945 (từ Nghị quyết Trung ương 8 đến Quân lệnh Tổng khởi nghĩa). Đó là quá trình kiên trì giáo dục giác ngộ và tổ chức quần chúng, dựa vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân đã được giác ngộ để không ngừng chủ động chuẩn bị, nhằm tạo thế mới và lực mới cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thúc đẩy điều kiện chủ quan chín muồi, làm cơ sở để khi điều kiện khách quan thuận lợi xuất hiện thì kịp thời chớp thời cơ động viên toàn dân nổi dậy giành chính quyền trong cả nước.

Điều đó giải thích vì sao chỉ trong vòng hai tuần (từ trung tuần đến cuối tháng 8-1945), Tổng khởi nghĩa đã nổ ra dồn dập và giành thắng lợi nhanh gọn từ địa phương này đến địa phương khác, từ thành thị đến nông thôn, trong cả nước.

* Trần Trọng Trung
qdnd.vn

Mộ – Chiều tối

MỘ

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.

CHIỀU TỐI

Chim mỏi về rừng tìm cây ngủ,
Chòm mây lẻ trôi lững lờ trên tầng không;
Thiếu nữ xóm núi xay ngô,
Ngô xay vừa xong, lò than đã đỏ.

—————————

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Dạ túc Long Tuyền – Đêm ngủ ở Long Tuyền

DẠ TÚC LONG TUYỀN

Bạch thiên “song mã” bất đình đề,
Dạ vãn thường thường “ngũ vị kê”;
Sắt lãnh thừa cơ lai giáp kích,
Cách lân hân thính hiểu oanh đề.

ĐÊM NGỦ Ở LONG TUYỀN)

Suốt ngày “đôi ngựa” không ngừng vó,
Đêm đến, lại từng nếm món “gà nǎm vị” ;
Rệp và rét thừa cơ xông vào tập kích,
Mừng nghe xóm bên, chim oanh hót báo sáng.

—————————

“Đôi ngựa” ngày đi chẳng nghỉ chân,
Món “gà nǎm vị”, tối thường ǎn;
Thừa cơ rét, rệp xông vào đánh,
Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần.

NAM TRÂN – HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Điền Đông – Điền Đông

ĐIỀN ĐÔNG

Mỗi xan nhất uyển công gia chúc,
Đỗ tử thì thì tại thán hu;
Bạch phạn tam nguyên bất câu bão,
Tân như quế dã mễ như châu.

ĐIỀN ĐÔNG)

Mỗi bữa được một bát cháo của nhà nước,
Cái bụng luôn luôn than phiền;
Cơm không ba đồng chẳng đủ no,
Củi đắt như quế, gạo như châu.

—————————

Cháo tù mỗi bữa chia lưng bát,
Cái bụng luôn luôn rên rỉ sầu;
Cơm nhạt ba đồng ǎn chẳng đủ,
Củi thì như quế, gạo như châu.

NAM TRÂN
HOÀNG TRUNG THÔNG DỊCH dịch
cpv.org.vn

Sơ đáo Thiên Bảo ngục – Mới đến nhà lao Thiên Bảo

SƠ ĐÁO THIÊN BẢO NGỤC

Nhật hành ngũ thập tam công lý,
Thấp tận y quan, phá tận hài;
Triệt dạ hựu vô an thụy xứ,
Xí khanh thượng toạ đãi triêu lai.

MỚI ĐẾN NHÀ LAO THIÊN BẢO1)

Ngày đi nǎm mươi ba cây số,
Ướt hết mũ áo, rách hết giày;
Suốt đêm lại không có chỗ ngủ yên,
Ngồi trên hố xí đợi trời sáng.

————————————

Nǎm mươi ba dặm, một ngày trời,
áo mũ ướt đầm, dép tả tơi;
Lại khổ thâu đêm không chốn ngủ,
Ngồi trên hố xí đợi ban mai.

HUỆ CHI dịch

Bản dịch khác:

Ngày cuốc nǎm mươi ba cột số,
Ướt đầm mũ áo, rách bươm giày;
Thâu đêm lại chẳng nơi yên giấc,
Ngồi trấn cầu tiêu, đợi sáng ngày.

KHƯƠNG HỮU DỤNG – NGUYỄN SĨ LÂM dịch
cpv.org.vn