Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cước áp – Cái cùm

CƯỚC ÁP

I

Tranh ninh ngã khẩu tự hung thần,
Vãn vãn trương khai bả cước thôn;
Các nhân bị thôn liễu hữu cước,
Chỉ thặng tả cước nǎng khuất thân.

II

Thế gian cánh hữu ly kỳ sự,
Nhân mẫn tranh tiên thượng cước kiềm;
Nhân vị hữu kiềm tài đắc thụy,
Vô kiềm một xứ khả an miên.

CÁI CÙM

I

Miệng đói dữ tợn như một hung thần,
Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
Người nào cũng bị nuốt chân phải,
Chỉ còn chân trái co duỗi được thôi.

II

Trên đời lại có chuyện thật là kỳ,
Mọi người tranh nhau đến trước để cùm chân;
Vì có cùm chân mới được ngủ,
Không cùm chân thì không chỗ ngủ yên.

————————

I

Dữ tựa hung thần miệng chực nhai,
Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
Mọi người bị nuốt chân bên phải,
Co duỗi còn chân bên trái thôi.

II

Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật,
Cùm chân sau trước cũng tranh nhau
Được cùm chân mới yên bề ngủ,
Không được cùm chân biết ngủ đâu ?

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Học dịch kỳ – Học đánh cờ

HỌC DỊCH KỲ

I

Bế toạ vô liêu học dịch kỳ,
Thiên binh vạn mã cộng khu trì;
Tấn công thoái thủ ưng thần tốc,
Cao tài tật túc tiên đắc chi.

II

Nhãn quang ưng đại tâm ưng tế,
Kiên quyết thì thì yếu tấn công;
Thác lộ, song xa dã một dụng,
Phùng thời, nhất tốt khả thành công.

III

Song phương thế lực bản bình quân,
Thắng lợi chung tu thuộc nhất nhân;
Công thủ vận trù vô lậu toán,
Tài xưng anh dũng đại tướng quân.

HỌC ĐÁNH CỜ

I

Ngồi trong giam cấm buồn tênh, học đánh cờ,
Nghìn quân muôn ngựa cùng rong ruổi;
Tấn công, lui giữ đều phải thần tốc,
Tài cao, chân nhanh mới được nước trước.

II

Tầm nhìn phải rộng, suy nghĩ phải sâu,
Phải kiên quyết, luôn luôn tấn công;
Lạc nước, hai xe cũng thành vô dụng,
Gặp thời, một tốt có thể thành công.

III

Thế lực hai bên vốn ngang nhau,
Kết cục thắng lợi thuộc về một người;
Tính kế đánh hay giữ không sơ hở,
Mới xứng là bậc đại tướng anh dũng.

—————————

I

Tù túng đem cờ học đánh chơi,
Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài;
Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.

II

Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ,
Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
Gặp thời, một tốt cũng thành công.

III

Vốn trước hai bên ngang thế lực,
Mà sau thắng lợi một bên giành;
Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
Đại tướng anh hùng mới xứng danh.

VǍN TRỰC – VĂN PHỤNG dịch
cpv.org.vn

Vọng nguyệt – Ngắm trǎng

VỌNG NGUYỆT

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

NGẮM TRǍNG

Trong tù không rượu cũng không hoa,
Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?
Người hướng ra trước song ngắm trǎng sáng,
Từ ngoài khe cửa, trǎng ngắm nhà thơ.

————————-

Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ;
Người ngắm trǎng soi ngoài cửa sổ,
Trǎng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Phân thuỷ – Chia nước

PHÂN THỦY

Mỗi nhân phân đắc thuỷ bán bồn,
Tẩy diện, phanh trà các tuỳ tiện;
Thuỳ yếu tẩy diện, vật phanh trà,
Thuỳ yếu phanh trà, vật tẩy diện.

CHIA NƯỚC

Mỗi người được chia nửa chậu nước,
Rửa mặt hoặc đun trà, tuỳ ý mình;
Ai muốn rửa mặt, đừng đun trà,
Ai muốn đun trà, thôi rửa mặt.

———————-

Mỗi người phần nước vừa lưng chậu,
Rửa mặt đun trà tự ý ta;
Ai muốn đun trà, đừng rửa mặt,
Ai cần rửa mặt, chớ đun trà.

NAM TRÂN – TRẦN ĐẮC THỌ dịch
cpv.org.vn

Trung thu – Trung thu

TRUNG THU

I

Trung thu thu nguyệt viên như kính,
Chiếu diệu nhân gian bạch tự ngân;
Gia lý đoàn viên ngật thu tiết,
Bất vong ngục lý ngật sầu nhân.

II

Ngục trung nhân dã thưởng trùng thu,
Thu nguyệt thu phong đới điểm sầu;
Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt,
Tâm tuỳ thu nguyệt cộng du du!

TRUNG THU

I

Trǎng trung thu tròn như gương,
Chiếu rọi cõi đời, ánh trǎng trắng như bạc;
Nhà ai sum họp ǎn tết trung thu,
Chẳng quên người trong ngục nuốt sầu.

II

Người trong ngục cũng thưởng thức trung thu,
Trǎng thu, gió thu đều vương sầu;
Không được tự do ngắm trǎng thu,
Lòng theo cùng trǎng thu vời vợi.

————————–

I

Trung thu vành vạnh mảnh gương thu,
Sáng khắp nhân gian bạc một màu;
Sum họp nhà ai ǎn tết đó,
Chẳng quên trong ngục kẻ ǎn sầu.

II

Trung thu ta cũng tết trong tù,
Trǎng gió đêm thu gợn vẻ sầu;
Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,
Lòng theo vời vợi mảnh trǎng thu.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Đổ – Đánh bạc

ĐỔ

Dân gian đổ bác bị quan lạp,
Ngục lý đổ bác khả công khai;
Bị lạp đổ phạm thường ta hối:
Hà bất tiên đáo giá lý lai!?

ĐÁNH BẠC

Ngoài dân đánh bạc thì bị quan bắt,
Trong tù đánh bạc có thể công khai;
Con bạc bị tù thường hối tiếc:
Sao không sớm vào quách chốn này!?

————————

Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội,
Trong tù đánh bạc được công khai;
Bị tù, con bạc ǎn nǎn mãi:
Sao trước không vô quách chốn này!?

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tân Trào (Tuyên Quang) – Địa chỉ đỏ của cách mạng Việt Nam

Khu di tích lịch sử Tân Trào – Sơn Dương – Tuyên Quang nơi ghi dấu ấn lịch sử cách mạng Việt Nam: Có đình Hồng Thái, lán Là Nừa, đình Tân Trào, An toàn khu kháng chiến (ATK)….. một địa chỉ đỏ của cách mạng Việt Nam mới được nhận Bằng xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt.

Sau đây Báo Tin Tức xin giới thiệu đến độc giả hình ảnh những dấu tích lịch sử nơi đây:

Đình Hồng Thái nơi dừng chân đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Tân Trào (ngày 21/5/1945).

Đình Tân Trào – nơi trước Quốc dân đại hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời thề quyết tâm giành độc lập dân tộc.

Cây đa Tân Trào, ngày 16/8/1945 đơn vị giải phóng quân Việt Nam làm lễ xuất quân tiến về Hà Nội.

Có dòng suối Lê dẫn nguồn nước với sông Phó Đáy đang được tu sửa bờ kè.

Sân bay Lũng Cò – sân bay Quốc tế đầu tiên của Việt Nam.

Du khách tham quan đình Hồng Thái.

Trẻ em Tân Trào ngày nay tới trường.

Người dân Tân Trào hăng say lao động trên các đồi nương.

Tượng đài Vì an ninh Tổ Quốc tại xã Minh Thanh

Chùm ảnh: Duy Tường
baotintuc.vn

Bác Hồ một thiên tài dự báo

Bác Hồ là một vĩ nhân có tầm nhìn xa, trông rộng, có sự mẫn cảm chính trị hiếm có trong lịch sử đất nước ta, dân tộc ta. Với tầm nhìn chiến lược và khả năng tiên tri tuyệt vời, Bác đã đưa ra những dự báo lịch sử tiên đoán về cách mạng, chứng tỏ Bác là một thiên tài dự báo.

Đầu thế kỷ XX, dân tộc ta đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Lớp lớp sĩ phu, văn thân, hào kiệt đứng lên chống giặc ngoại xâm nhưng đều thất bại. Cách mạng Việt Nam chưa có đường ra. Xã hội Việt Nam lâm vào khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc. Vượt lên hạn chế của các nhà yêu nước tiền bối, Bác Hồ đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản. Bác cho rằng “cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đó thực sự là tiên tri lịch sử của Bác và tiên tri đó đã được lịch sử cách mạng nước ta và nước khác trên thế giới trong thế kỷ XX chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Năm 1942, khi đang hoạt động cách mạng ở Cao Bằng, viết cuốn sách “Lịch sử nước ta”, Bác Hồ đã tiên đoán: “1945 Việt Nam độc lập”. Ba năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước ta giành được độc lập, lịch sử cách mạng Việt Nam một lần nữa chứng minh tiên tri cách mạng của Bác Hồ là hoàn toàn chính xác.

Bh la thien taiHồ Chủ tịch trong phòng làm việc của Người ở căn cứ Việt Bắc – Ảnh: Tư liệu

Trước Cách mạng Tháng Tám, những năm chiến tranh thế giới lần thứ hai đã nổ ra, lan rộng nhiều nước, ở Việt Nam, dân tộc ta trong tình cảm “Một cổ đôi tròng”, Bác Hồ đã nhận định: “Nay cơ hội giải phóng đã đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng không thể cứu bọn thống trị Pháp ở ta. Đế quốc Nhật đã bị sa lầy ở Trung Hoa, lại đương gay go với Anh, Mỹ” và “nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc chiến tranh đế quốc lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”. Đó là tiên tri lịch sử của Bác và tiên tri đó thành hiện thực lịch sử những năm giữa thế kỷ XX. Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, những ngày đầu, tháng đầu lập nước, nước ta trong tình thế gieo neo “nghìn cân treo sợi tóc”. Với tầm trí tuệ và sự mẫn cảm chính trị của vị lãnh tụ vĩ đại, Bác Hồ nhìn thấu những khó khăn phức tạp đe dọa vận mệnh đất nước và Bác dự báo dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhờ dự báo của Bác, nước ta chủ động kéo dài thời gian hòa hoãn, chuẩn bị nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi đã kéo dài 9 năm ròng rã.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta, mùa xuân năm 1947, Bác Hồ đã chỉ thị cho bộ đội phải anh dũng, kiên trì chiến đấu và gây cơ sở trong đồng bào các dân tộc Tây Bắc, phải “đem được lá cờ đỏ sao vàng cắm trên đất Điện Biên Phủ”. Tháng 6 năm 1949, viết tác phẩm “Giấc ngủ 10 năm”, lấy bút danh Trần Lực, Bác Hồ đã dự đoán chiến thắng Điện Biên Phủ” trận cuối cùng kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân pháp” và trận ấy “hơn một vạn giặc chết và bị thương”. 5 năm sau, ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, quân dân ta chiến thắng, dự báo của Bác, thêm một lần nữa, lại đúng.

Trong thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam nước ta, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền, trong “Bản thảo diễn văn nhân kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 15 nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2/9/1960”, Bác Hồ đã viết: “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”. Mười lăm năm sau, với đại thắng mùa xuân năm 1975 của quân dân ta, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, tiên tri của Bác trở thành một hiện thực lịch sử.

Là một thiên tài dự báo, một lãnh tụ vũ đại của dân tộc ta, người chiến sỹ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế, Bác Hồ được vinh danh trên đất nước ta và trên thế giới. Tại Hội thảo quốc tế “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn” tổ chức tại Hà Nội năm 1990, tiến sĩ M.Át-Mét, Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đại diện đặc biệt của Tổng giám đốc UNESCO đã phát biểu: “Trong lịch sử thế giới chỉ có ít nhân vật trở thành huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người luôn được thế giới ghi nhớ không phải chỉ là người có công giải pháp cho đất nước mình và các dân tộc bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết thông thái, một tấm gương trong sáng thanh cao về cuộc sống, để lại một tư tưởng với viễn cảnh hy vọng mới cho những người đấu tranh loại bỏ bất công, bất bình đẳng khởi mặt đất này”.

Theo Trung Thành/ Báo Lạng Sơn online
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Cách mạng Tháng Tám và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945

Một trong những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc: kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy của dân tộc ta trong suốt 15 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, với cao trào Xô viết Nghệ – Tĩnh, cuộc vận động dân chủ 1936-1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, theo Hồ Chủ tịch, là “vì chính sách của Đảng đúng và thi hành chính sách ấy kịp thời và linh động”, “do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh”(1).

Viết về ý nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: “Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(2). Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây dựng nền tảng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. “Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử nước ta”(3).

Thành quả lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám là xây dựng Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, với đặc trưng nổi bật: Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong bài “Chính phủ là công bộc của dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(4).

Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn dân xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân. Về chính quyền nhân dân ở các địa phương, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui lọt vào các Ủy ban đó”(5).

Những ngày tháng sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh giành nhiều thời gian viết về xây dựng các Ủy ban nhân dân. Bài “Cách thức tổ chức các Ủy ban nhân dân, ngày 11-9-1945”. Người nhấn mạnh: “Ủy ban nhân dân làng trái với các hội đồng kỳ mục cũ thối nát, sẽ làm những việc có lợi cho dân, không phạm vào công lý, vào tự do của dân chúng. Nó hết sức tránh những cuộc bắt bớ đánh đập độc đoán, những cuộc tịch thu tài sản không đúng lý. Ủy ban nhân dân thận trọng hết sức trong chỗ chi dùng công quỹ, không dám tùy ý tiêu tiền vào những việc xa phí như ăn uống”(6). “Những nhân viên Ủy ban sẽ không lợi dụng danh nghĩa Ủy ban để gây bè tìm cánh, đưa người “trong nhà trong họ” vào làm việc với mình”(7). “Ủy ban nhân dân là Ủy ban có nhiệm vụ thực hiện tự do, dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do, dân chủ đó”(8).

Chính quyền ở địa phương ở cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi dân chủ trực tiếp với nhân dân. Trong bài “Sao cho được lòng dân?, ngày 12-10-1945”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu cũng mặc lòng, những vấn đề quan hệ đến đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý” “muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”(9).

Trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, ngày 17-10-1945”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(10). Điều này cho thấy, bản chất cách mạng và dân chủ của chính quyền nhân dân, nguồn gốc sức mạnh của chính quyền là ở sự gắn bó với nhân dân, hết lòng, hết sức mưu cầu tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Hồ Chí Minh rất coi trọng việc phát huy dân chủ của người dân để lựa chọn ra người đại biểu vào cơ quan chính quyền nhà nước. Do đó, ngày 3-9-1945, phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Theo Người, “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”(11). Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, giàu nghèo, dòng giống, v.v. “Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”(12).

Để bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân được thực thi, Hồ Chí Minh yêu cầu phải quản lý đất nước, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”(13). Người nhấn mạnh “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Do đó, ngày 9-11-1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được thông qua tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I. Trong hoàn cảnh cách mạng nước nhà ngàn cân treo sợi tóc, “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, việc thông qua Hiến pháp càng có ý nghĩa quan trọng về thực tiễn và pháp lý. Đây còn là thành quả to lớn của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiến pháp là thành quả vẻ vang của cách mạng và được xây dựng trên các nguyên tắc: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo; Bảo đảm các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Bản chất cách mạng và nhân dân, tính chất dân chủ và pháp quyền hòa quyện thống nhất với nhau thể hiện trong bản Hiến pháp 1946 “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”. Có tới 11 điều của Hiến Pháp quy định về quyền lợi của công dân (từ điều 6 đến điều 16). Hiến pháp xác định mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa. Công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (…). Người tàn tật, già cả được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng. Thực hiện chế độ phổ cập giáo dục bắt buộc v.v. Đó là những nội dung dân chủ mang tính cách mạng sâu sắc. Từ đó đến nay, những nội dung đó vẫn được tiếp tục được bổ sung, phát triển trong các bản Hiến pháp tiếp theo, đã và đang được thực hiện một cách sinh động trên đất nước ta.

Những quy định trong Hiến pháp thể hiện sâu sắc bản chất của Nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước của dân và do dân nghĩa là nhân dân xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền nhà nước. Nhà nước vì dân nghĩa là nhà nước mưu cầu quyền lợi, hạnh phúc cho nhân dân. “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”; “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(14). Như vậy, vì dân không chỉ là mục tiêu hoạt động và tồn tại của chính quyền mà còn là phương thức, phong cách và phương pháp hành động của chính quyền.

Trong xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Hồ Chí Minh rất chú trọng rèn luyện đội ngũ cán bộ chính quyền. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện như: “ngang tàng, phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”, đời sống nhân dân khốn khổ mà cán bộ “Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra? Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức”(15). Thái độ đó làm mất lòng tin của nhân dân và uy tín của Chính phủ. Do đó, Người mong muốn mọi người sửa chữa để chính quyền ngày càng hoàn thiện và làm việc tốt hơn “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”(16).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặt ra yêu cầu mọi cán bộ phải thường xuyên tự phê bình, tự giáo dục, tự chỉ trích để khắc phục khuyết điểm và cái hư hỏng trong mỗi người và trong bộ máy. Những khuyết điểm nhỏ của cán bộ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì ảnh hưởng đến khối đoàn kết toàn dân. Vì vậy, chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm mà chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta mong muốn và đã làm hết sức mình để xây dựng, củng cố vững chắc Nhà nước kiểu mới – Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về phương diện xây dựng nhà nước kiểu mới mãi mãi là bài học lớn, là định hướng để xây dựng và không ngừng hoàn thiện Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra những quan điểm và biện pháp cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân” (17). Đó là sự tiếp tục phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân trong thời kỳ mới.

ThS. Nguyễn Khánh Ly
Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Nghệ An
xaydungdang.org.vn

……………………………………

(1), (2) và (3). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.6, tr.160 và 159. (4) và (5), (6), (7), (8). Sđd. t.4, tr.22 và 23. (9), (10) và (11), (12). Sđd., t.4, tr.48, 56 và 133. (13) và (14), (15), (16). Sđd., t.4, tr.8 và 56-58. (17) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.52.

Đổ phạm – Tù cờ bạc

ĐỔ PHẠM

Công gia bất cấp đổ phạm phạn,
Dục linh tha mẫn hối tiền phi;
“Ngạch” phạm hào soạn thiên thiên hữu,
Cùng phạm cơ diên cộng lệ thuỳ.

TÙ CỜ BẠC

Nhà nước không phát cơm cho tù cờ bạc,
Muốn cho họ hối cải lỗi trước;
Nhưng bọn tù sừng sỏ ngày nào cũng có cơm thịt,
Còn tù nghèo, đói chảy dãi cùng với nước mắt.

—————————

Quan không cấp bữa cho tù bạc,
Để họ mau chừa tội cũ hơn;
Tù “cứng” ngày ngày no rượu thịt,
Tù nghèo, dãi với lệ cùng tuôn.

NAM TRÂN – HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Nạn hữu Mạc mỗ – Bạn tù họ Mạc

NẠN HỮU MẠC MỖ

Phú gia tử đệ, bần gia giáo,
Đổ đảm như thiên, đảm tự châm;
“Xa đại pháo tài”, chân vĩ đại,
Tại tù nhưng tưởng ngật nhân sâm.

BẠN TÙ HỌ MẠC

Con cái nhà giàu mà nghèo giáo dục,
Gan đánh bạc to như trời mà mật thì nhỏ như cái kim;
Cái tài huênh hoang khoác lác thật là vĩ đại,
ở tù nhưng vẫn tơ tưởng ǎn nhân sâm.

————————–

Con nhà giàu có, nghèo gia giáo,
Đánh bạc gan trời, mật tựa kim;
“Một tấc lên mây”, ghê gớm thật,
Ngồi tù mà vẫn ước nhân sâm.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Con nhà giàu, giáo dục nghèo,
To “gan đánh bạc”, bé teo “gan người”;
Ba hoa khoác lác thật tài,
ở tù mà lại cứ đòi ǎn sâm.

KHƯƠNG HỮU DỤNG dịch
cpv.org.vn

Nạn hữu nguyên chủ nhiệm L.- Bạn tù L nguyên là chủ nhiệm

NẠN HỮU NGUYÊN CHỦ NHIỆM L.

Quốc gia trọng thác trấn biên thuỳ,
Hồ nãi vong công chỉ cố ti (tư)?
Thế khoáng thường tòng biên giới khứ,
Kim tiền lô lý chú tù thi.

BẠN TÙ L. NGUYÊN LÀ CHỦ NHIỆM

Nhà nước giao cho trọng trách coi giữ biên thuỳ,
Sao lại quên việc công, chỉ lo việc tư?
Quặng “ǎngtimoan” thường tuồn qua biên giới,
Bởi thế, lò đúc tiền mới đúc ra bài thơ tù.

—————————

Quốc gia phó thác giữ biên khu,
Sao nhãng việc công, mải việc tư?
Quặng thiếc tuồn qua biên giới sạch,
Nên lò đúc bạc… đúc thơ tù.

NAM TRÂN – HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn